Trong xu hướng chung, sự phát triển của các đơn vị cả về số lượng và quy mô, tại các đơn vị tự thiết lập một bộ phận chuyên môn chuyêntrách tổ chức thực hiện công việc kiểm tra, đánh giá
Trang 1NGUYỄN THỊ HOÀI VÂN
TỔ CHỨC KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN XĂNG DẦU PETROLIMEX
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Hà Nội - năm 2017
Trang 2NGUYỄN THỊ HOÀI VÂN
TỔ CHỨC KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN XĂNG DẦU PETROLIMEX
Chuyên ngành: KẾ TOÁN
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Quang Bính
Hà Nội - năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi.Các số liệu, tài liệu được thu thập, sử dụng là trung thực, đáng tin cậy và có nguồngốc rõ ràng Luận văn không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đãđược công bố
Hà Nội, ngày 1 tháng 09 năm 2017
Học viên
Nguyễn Thị Hoài Vân
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu của luận văn 2
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TỔ CHỨC KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1.1 TỔNG QUAN VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 3
1.1.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại ở Việt Nam 3
1.1.2 Khái niệm, chức năng và nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ 7
1.1.3 Kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng thương mại Việt Nam 13
1.2 TỔ CHỨC KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 20
1.2.1 Cơ chế tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam 21
1.2.2 Tổ chức hoạt động kiểm toán nội bộ tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam 25
1.3 KINH NGHIỆM VỀ TỔ CHỨC KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 33
1.3.1 Kinh nghiệm quốc tế về tổ chức kiểm toán nội bộ tại các Ngân hàng thương mại 33
1.3.2 Bài học kinh nghiệm quốc tế rút ra cho Ngân hàng thương mại cổ phần Xăng dầu Petrolimex 38
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 40
Trang 5CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN XĂNG DẦU PETROLIMEX 412.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG TMCP XĂNG DẦU PETROLIMEX 412.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Xăng dầu
Petrolimex 412.1.2 Một số kết quả hoạt động của Ngân hàng TMCP Xăng dầu
Petrolimex giai đoạn từ năm 2014, 2015, 2016 442.1.3 Hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng TMCP Xăng dầu
Petrolimex 472.2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG
TMCP XĂNG DẦU PETROLIMEX 522.2.1 Thực trạng tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng TMCP
Xăng dầu Petrolimex 532.2.2 Thực trạng tổ chức hoạt động kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng TMCPXăng dầu Petrolimex 592.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI
NGÂN HÀNG TMCP XĂNG DẦU PETROLIMEX 732.3.1 Những kết quả đạt đuợc của tổ chức kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng
TMCP Xăng dầu Petrolimex 732.3.2 Những hạn chế của tổ chức kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng TMCP
Xăng dầu Petrolimex 742.3.3 Nguyên nhân hạn chế của tổ chức kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng
TMCP Xăng dầu Petrolimex 78KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 81CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN TỔCHỨC KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG TMCP XĂNG DẦU
PETROLIMEX 823.1 SỰ CẦN THIẾT VÀ PHẢI HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KIỂM TOÁNNỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG TMCP XĂNG DẦU PETROLIMEX 82
Trang 63.2 NGUYÊN TẮC HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI
NGÂN HÀNG TMCP XĂNG DẦU PETROLIMEX 83
3.3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG TMCP XĂNG DẦU PETROLIMEX 84
3.3.1 Hoàn thiện việc ứng dụng công nghệ thông tin vào kiểm toán cùng với việc thực hiện kiểm toán công nghệ thông tin 86
3.3.2 Phát triển nguồn nhân lực kiểm toán nội bộ 91
3.3.3 Hoàn thiện cơ chế kiểm soát chất lượng kiểm toán nội bộ 92
3.3.4 Hoàn thiện quy chế, quy trình kiểm toán nội bộ 93
3.3.5 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ THỰC HIỆN GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG TMCP XĂNG DẦU PETROLIMEX 96
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 98
KẾT LUẬN 99 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7KTNB Kiếm toán nội bộ
KTVNB Kiếm toán viên nội
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu tài chính cơ bản tại PGBank giai đoạn 2014-2016 45
Bảng 2.2 Quy trình lập kế hoạch kiểm toán nội bộ 62
Bảng 2.3 Quy trình kiểm toán nội bộ theo đợt 64
Bảng 3.1 Quy trình kiểm toán trực tuyến 87
Bảng 3.2 Bảng mô tả ưu điểm chương trình kiểm toán trực tuyến 89
DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ tại PGBank 54
Sơ đồ 2.2 Quy trình kiểm toán nội bộ 61
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kiểm toán nội bộ được biết đến như là một trong những nền tảng quan trọngcủa quản trị doanh nghiệp với chức năng đánh giá độc lập, khách quan bên trongdoanh nghiệp Một doanh nghiệp có tổ chức kiểm toán nội bộ mạnh sẽ giúp giảmthiểu nguy cơ rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh cũng như đảm bảo tínhchính xác trong việc ra quyết định Đối với doanh nghiệp có quy mô lớn, phươngthức kinh doanh phức tạp thì hoạt động kiểm soát càng trở lên quan trọng và cầnthiết Điều này đòi hỏi các nhà quản trị doanh nghiệp phải có một bộ máy hỗ trợgiúp tăng cường hiệu quả của hoạt động quản lý đó chính là việc hình thành tổ chứckiểm toán nội bộ
Tổ chức kiểm toán nội bộ đã được thành lập ở nhiều doanh nghiệp Việt Namcó
quy mô lớn, trong đó có các Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là mộtloại hình doanh nghiệp quan trọng trong nền kinh tế với chức năng tạo tiền, trunggian tín dụng và thanh toán Đây là một lĩnh vực kinh doanh đặc biệt với khối lượnggiao dịch phức tạp, lớn cả về số lượng và giá trị nên tiềm ẩn nhiểu rủi ro trong hoạtđộng Vì vậy việc thành lập tổ chức kiểm toán nội bộ trong Ngân hàng thương mạitrở thành một yêu cầu tất yếu và cần thiết Tuy nhiên, trong những năm gần đây đãxảy ra rất nhiều đại án liên quan đến ngành Ngân hàng gây thất thoát hàng ngàn tỷđồng Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là hệ thống kiểm soátnội
bộ của các Ngân hàng hoạt động chưa hiệu quả trong đó có thể nói kiểm toán nội bộ-
một nhân tố quan trọng trong hệ thống kiểm tra kiểm soát nội bộ vẫn chưa thực sựđược chú trọng triển khai và vận hành hữu hiệu tại các ngân hàng Tổ chức bộ máy,
tổ chức hoạt động kiểm toán nội bộ chưa đầy đủ nên chưa đáp ứng được kỳ vọngcủa
các nhà quản trị Ngân hàng
Trang 10kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Xăng dầu Petrolimex” cho luậnvăn thạc sĩ của mình.
Thứ ba, đề xuất các giải pháp và kiến nghị để hoàn thiện tổ chức kiểm toán nội
bộ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Xăng dầu Petrolimex
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tổ chức kiểm toán nội bộ tại Ngân hàngTMCP Xăng dầu Petrolimex, trong đó tổ chức kiểm toán nội bộ được hiểu trên haikhía
cạnh là tổ chức hoạt động kiểm toán nội bộ và tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ.Phạm vi nghiên cứu của luận văn là tổ chức kiểm toán nội bộ của Ngân hàngTMCP Xăng dầu Petrolimex trong ba năm 2014, 2015, 2016
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, sử dụng kết hợpvới phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng
Các phương pháp kỹ thuật chủ yếu được sử dụng trong luận văn là phân tíchtổng hợp và phân tích thống kê, phương pháp so sánh
5 Ket cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệutham khảo, luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận của tổ chức kiểm toán nội bộ tại các Ngân hàngThương mại cổ phần
Chương 2 Thực trạng tổ chức kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng TMCP Xăngdầu Petrolimex
Chương 3 Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức kiểm toánnội bộ tại Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex
Trang 11CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TỔ CHỨC KIỂM TOÁN NỘI BỘ
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 TỔNG QUAN VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
1.1.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại ở Việt Nam
1.1.1.1 Khái niệm và chức năng của Ngân hàng thương mại
Vào những năm 80 của thế kỷ 20, hệ thống Ngân hàng kinh doanh ở các nước
đã phát triển mạnh Nhiều Ngân hàng quy mô lớn, xuyên quốc gia được thiết lập vớicác chi nhánh hoạt động trong nước và ở các nước ngoài Công nghệ kỹ thuật ngânhàng hiện đại được ứng dụng trong giao dịch nghiệp vụ và trong quản lý hệ thốngngân hàng Các tổ chức tài chính, ngân hàng quốc tế như: Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF),Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), được hình thành
đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc phối hợp xây dựng thực thi chính sách tài chính
- tiền tệ giữa các nước, khơi thông các dòng vốn, góp phần hữu hiệu vào sự pháttriển kinh tế của mỗi quốc gia và cộng đồng các quốc gia trên thế giới [5, tr.11].Trên thế giới đã có nhiều định nghĩa về Ngân hàng thương mại với nhữngcách nhìn nhận khác nhau, chẳng hạn:
* Ở Mỹ: NHTM là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ tài chính
và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính
* Ở Pháp: NHTM là những xí nghiệp thường xuyên nhận của công chúngdưới
hình thức tiền gửi hay hình thức khác và họ dùng vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụnghay dịch vụ tài chính
* Ở Ản Độ: NHTM là cơ sở xác nhận các khoản tiền gửi để cho vay, tài trợ vàđầu tư
Ở Việt Nam, theo Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng thìNgân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộhoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan
Trang 12Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng vớinội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng vàcung ứng dịch vụ thanh toán.
Tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ, làmdịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng
và cung ứng dịch vụ thanh toán
Từ đó, có thể hiểu Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp kinh doanhtiền tệ - tín dụng, với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứngcác dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế quốc dân
Chức năng của Ngân hàng thương mại:
- Chức năng trung gian tín dụng: Khi thực hiện chức năng này, ngân hàngđóng vai trò là “cầu nối” giữa người dư thừa vốn và người có nhu cầu vốn Thôngqua việc huy động các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế bằngnhiều hình thức, NHTM hình thành quỹ cho vay để cung cấp tín dụng cho nền kinh
tế Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng vai trò làngười cho vay Đây được xem là chức năng quan trọng nhất của Ngân hàng thươngmại quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng đồng thời cũng là cơ sở đểthực hiện các chức năng khác [5, tr.13]
- Chức năng trung gian thanh toán: NHTM làm trung gian thanh toán khi thựchiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửithanh toán của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiềngửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác NHTM đóng vai trò làngười “thủ quỹ” cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là người giữ tàikhoản của họ và thực hiện các lệnh chi của khách hàng Chức năng trung gian thanhtoán có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế - xã hội NHTM cung ứngcho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi tùy theo nhu cầu lựa chọn củakhách hàng giúp khách hàng tiết kiệm được chi phí, thời gian và đảm bảo đượcthanh toán an toàn Chức năng này góp phần tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng
Trang 13thông qua việc thu phí thanh toán, tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng thể hiệntrên số du Có trong tài khoản tiền gửi của khách hàng [5, tr.14]
- Chức năng tạo tiền: Nguồn vốn của NHTM huy động đuợc thông qua hành
vi cho vay bằng chuyển khoản đối với khách hàng của mình để thanh toán chokhách hàng của ngân hàng khác tạo nên số tiền gửi (tức tiền tín dụng) Cứ nhu thế
số tiền này đuợc vận hành qua nhiều NHTM sẽ làm cho nó lớn lên gấp nhiều lần sốban đầu Mức mở rộng tiền gửi này phụ thuộc vào hệ số mở rộng tiền gửi Hệ sốnày chịu tác động bởi yếu tố tỷ lệ dự trữ bắt buộc Nhu vậy, quá trình tạo tiền trênchỉ có thể thực hiện đuợc khi có sự tham gia của cả hệ thống NHTM chứ bản thânmột NHTM không thể tạo ra đuợc Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làmtăng phuơng tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trảcủa xã hội Rõ ràng khái niệm về tiền hay tiền giao dịch không chỉ là tiền giấy doNHNN phát hành mà còn bao gồm một bộ phận quan trọng là luợng tiền ghi sổ docác NHTM tạo ra [5, tr.15]
Các chức năng của NHTM có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung, hỗ trợ cho nhau,trong đó chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản nhất, tạo cơ sở cho việcthực hiện các chức năng sau Đồng thời khi ngân hàng thực hiện tốt chức năng trunggian thanh toán và chức năng tạo tiền lại góp phần làm tăng nguồn vốn tín dụng, mởrộng hoạt động tín dụng
1.1.1.2 Phân loại Ngân hàng thương mại
Hệ thống NHTM có thể đuợc phân loại dựa theo một số tiêu chí sau đây:
- Dựa theo tính chất sở hữu
Theo tính chất sở hữu, hệ thống NHTM có thể đuợc phân chia nhu sau:
* Ngân hàng thuơng mại Nhà nuớc: Là những NHTM thuộc quyền sở hữu củaNhà nuớc, đuợc Nhà nuớc cấp vốn và chịu sự quản lý của Nhà nuớc Những ngânhàng loại này có thể là do Nhà nuớc lập mới hoặc có thể do Nhà nuớc quốc hữu hóa
từ các NHTM cổ phần
Trang 14* Ngân hàng thương mại thuộc các loại hình thức khác như: Ngân hàngthương mại cổ phần, các ngân hàng thương mại tư nhân hoặc các ngân hàngliên doanh
- Dựa theo lĩnh vực hoạt động: Ngân hàng thương mại kinh doanh thông
thường và Ngân hàng thương mại chính sách Trong đó, các ngân hàng kinh doanhthực hiện hoạt động kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận thông thường Hoạtđộng kinh doanh này có thể chỉ bao gồm các nghiệp vụ ngân hàng đơn thuần, bêncạnh đó cũng có những ngân hàng tổng hợp, thực hiện hoạt động kinh doanh trênnhiều lĩnh vực khác nhau, có thể là tự bản thân ngân hàng thực hiện, cũng có thể làthông qua các công ty do ngân hàng này lập ra [5, tr.18-19]
Vai trò của Ngân hàng thương mại:
- Góp phần nâng cao hiệu quả và phát triển kinh doanh
- Góp phần thực hiện chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý theohướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Vừa là nơi tạo môi trường, vừa là nơi thực thi chính sách tiền tệ quốc gia
- Là cầu nối giữa nền kinh tế quốc dân với kinh tế quốc tế
1.1.1.3 Các đặc trưng cơ bản của Ngân hàng thương mại ảnh hưởng đến tổ chức kiểm toán nội bộ
Thứ nhất, hoạt động kinh doanh của NHTM là một loại hình kinh doanh cónhiều rủi ro hơn các loại hình kinh doanh khác và thường có ảnh hưởng lớn đến cácngành khác và cả nền kinh tế Các rủi ro mà NHTM phải đối mặt là rủi ro tín dụng,rủi ro thanh toán, rủi ro lãi suất, Để tránh các rủi ro có thể xảy ra, nhằm kiểmsoát, làm nhẹ những tổn hại do các Ngân hàng gây ra, Chính phủ đã đặt ra nhữngđạo luật riêng, nhằm đảm bảo cho hoạt động này được vận hành an toàn, hiệu quảtrong nền kinh tế Đối với các NHTM thì việc quản trị rủi ro có vai trò vô cùng quantrọng Để quản trị được rủi ro, các NHTM phải thiết lập và duy trì thường xuyênmột hệ thống kiểm soát rủi ro, đồng thời các nhà quản lý phải có kiến thức, kỹ năngcần thiết để có thể giám sát và quản lý rủi ro Đối với KTNB, việc đánh giá, đolường, phân tích rủi ro là việc rất quan trọng để xác định đối tượng ưu tiên kiểm
Trang 15toán cũng như việc thực hiện các thủ tục kiểm toán phù hợp khi thực hiện kiểmtoán Hơn nữa, KTNB cũng cần phải lưu ý trong việc đảm bảo tuân thủ các quyđịnh của các cơ quan quản lý đối với hoạt động KTNB.
Thứ hai, các NHTM thường quản lý và thực hiện giao dịch với khối lượng tàisản lớn chủ yếu là các khoản mục tiền tệ bao gồm tiền mặt và giấy tờ có giá Cácloại tài sản này làm cho các NHTM dễ nảy sinh các vấn đề về gian lận, vượt thẩmquyền Do đó, các NHTM thường phải thiết lập một hệ thống kiểm soát nội bộnghiêm khắc với các quy trình nghiệp vụ chặt chẽ và rõ ràng KTNB đóng vai tròquan trọng trong việc phân tích, đánh giá, phát hiện các lỗ hổng trong các quy trìnhnghiệp vụ và đưa ra những đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy trình để đảm bảo antoàn trong hoạt động của NHTM
Thứ ba, các NHTM liên tục phát triển những sản phẩm mới, những công cụ tàichính mới do sức ép cạnh tranh của thị trường Những sản phẩm này thường có mức
độ rủi ro cao do thường đi trước những nguyên tắc kế toán, kiểm toán cũng như cácquy tắc giám sát khác Do đó, KTNB cần phải được hoàn thiện cả về phương pháp,
kỹ thuật và trình độ để đáp ứng được yêu cầu thực tế Những hạn chế trong kỹ thuậtkiểm toán và trọng tâm kiểm toán cần phải được liên tục khắc phục và cải tiến.Thứ tư, NHTM hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ, do vậy sản phẩmcủa
NHTM mang tính vô hình Do tính chất vô hình của sản phẩm dịch vụ nên việc dolường
đánh giá hoạt động của NHTM gặp nhiều khó khăn Việc này đòi hỏi các KTVNBkhông chỉ quan tâm đến kết quả đầu ra mà cần phải xem xét đánh giá mức độ rủi rotrong
quá trình cung cấp sản phẩm gắn liền với các khâu trong quy trình nghiệp vụ
Thứ năm, các NHTM thường có hệ thống các chi nhánh, phòng giao dịch rộngkhắp cả nước vì thế tổ chức bộ máy KTNB cần được thực hiện phù hợp để đảm bảotính hiệu quả của kiểm toán
1.1.2 Khái niệm, chức năng và nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ
1.1.2.1 Khái niệm kiểm toán nội bộ
Trang 16cho rằng KTNB sơ khai đã hình thành từ hàng nghìn năm trước Công nguyên Lúcnày, hoạt động kiểm tra được các vị vua giao cho một cận thần trung thực, tiến hànhkiểm tra toàn bộ các khoản thu, chi của ngân khố để báo cáo cho nhà Vua biết Đếnthế kỷ thứ 19, hoạt động KTNB trở nên khá phổ biến trong các đơn vị kinh doanhnhư ngân hàng, các công ty kinh doanh vận tải đường sắt Đến những năm 60 hoạtđộng KTNB đã phát triển mạnh trên thế giới đặc biệt là ở các nước có nền kinh tếthị trường phát triển KTNB hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau, ban đầu làlĩnh vực tài chính kế toán, sau đó mở rộng phát triển trên tất cả các hoạt động củadoanh nghiệp.
Để kiểm soát các hoạt động trong đơn vị, bản thân các nhà quản lý đơn vị cần
tổ chức công tác tự kiểm soát, trước hết là từ hệ thống kiểm soát nội bộ Việc kiểmtra, đánh giá hoạt động của đơn vị nói chung và hoạt động kiểm soát nội bộ nóiriêng có thể được thực hiện bởi bản thân các nhà quản lý hoặc do bộ phận chuyêntrách làm công việc này Trong xu hướng chung, sự phát triển của các đơn vị cả về
số lượng và quy mô, tại các đơn vị tự thiết lập một bộ phận chuyên môn chuyêntrách tổ chức thực hiện công việc kiểm tra, đánh giá hoạt động kinh doanh và côngtác quản lý của chính đơn vị là một nhu cầu khách quan Đó cũng là lý do ra đời vàphát triển của tổ chức kiểm toán nội bộ và hoạt động kiểm toán nội bộ
Theo Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC), “KTNB là một hoạt động đánh giáđược lập ra trong doanh nghiệp như là một loại dịch vụ cho doanh nghiệp đó, cóchức năng kiểm tra, đánh giá, giám sát thích hợp và hiệu quả của hệ thống kế toán
và kiểm soát nội bộ” Khái niệm này tương tự như giải thích thuật ngữ KTNB củaHiệp hội kế toán viên công chứng Anh (ACCA): “KTNB là hoạt động kiểm tra vàđánh giá được thiết lập trong một số tổ chức nhằm mục đích quản trị nội bộ đơn vị.KTNB có chức năng kiểm tra, đánh giá sự phù hợp và hiệu lực của hệ thống kế toán
và kiểm soát nội bộ”
Năm 1978, Hội kiểm toán viên nội bộ đưa ra khái niệm về KTNB như sau:
“KTNB là một chức năng thẩm định độc lập được thiết lập trong một tổ chức đểkiểm tra và đánh giá các hoạt động của tổ chức đó, với tư cách là một sự trợ giúp
Trang 17đối với tổ chức đó Đó là một loại hình kiểm soát được thực hiện bằng cách kiểm tra
và đánh giá sự đầy đủ và tính hiệu lực của các loại hình kiểm soát khác Mục tiêucủa KTNB là giúp đỡ các thành viên của tổ chức thực hiện một cách có hiệu quảnhiệm vụ Để đạt được mục tiêu này, KTNB cung cấp cho các thành viên của tổchức các phân tích, thẩm định, kiến nghị, tư vấn và các thông tin liên quan tới cáchoạt động đang được xem xét Mục tiêu kiểm toán bao gồm việc đề xuất khungkiểm soát hiệu quả ở mức chi phí hợp lý”
Cũng theo Hội kiểm toán viên nội bộ vào năm 1999, “KTNB là hoạt động đảmbảo và tư vấn mang tính độc lập và khách quan, được thiết kế để gia tăng giá trị vàcải tiến hoạt động của một tổ chức KTNB hỗ trợ cho tổ chức đạt được các mục tiêucủa mình thông qua phương pháp tiếp cận có hệ thống và có nguyên tắc nhằm đánhgiá và tăng cường tính hiệu quả của quy trình quản lý rủi ro, kiểm soát và quản trịđơn vị” Khái niệm này được Hội kiểm toán viên nội bộ đưa ra năm 1999 đã thểhiện đầy đủ nội dung, ý nghĩa của KTNB trong giai đoạn hiện nay Theo định nghĩanày, KTNB ngoài chức năng đánh giá còn có thêm chức năng đảm bảo và tư vấn.Không những thế, KTNB còn có vai trò quan trọng là làm gia tăng giá trị, cải tiếnhoạt động và được kỳ vọng hỗ trợ cho tổ chức đạt được mục tiêu của mình
* Phân biệt kiểm toán nội bộ với kiểm toán độc lập và kiểm toán nhà nước
- Kiểm toán độc lập:
+ Là hoạt động của kiểm toán viên chuyên nghiệp độc lập hành nghề trong cácCông ty kiểm toán, làm nhiệm vụ kiểm toán và xác nhận sự trung thực, hợp lý củacác tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo tài chính của doanh nghiệp, cơ quan, các tổchức kinh tế, xã hội có yêu cầu Mục đích nhằm tạo sự tin tưởng của người sử dụngcác thông tin tài chính đã được kiểm toán cũng như giúp doanh nghiệp phát hiện cácsai sót rủi ro và đề xuất các biện pháp giải quyết nhằm nâng cao hiệu quả kinhdoanh của doanh nghiệp, hiệu lực, hiệu quả quản lý của đơn vị
+ Kiểm toán viên độc lập phải là người có năng lực chuyên môn, đạo đức nghềnghiệp và được cấp chứng chỉ hành nghề Công ty kiểm toán độc lập hoạt động theoluật doanh nghiệp, hạch toán kinh doanh như một doanh nghiệp Đối tượng kiểm
Trang 18toán là các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế có nhu cầu kiểm toán đều cóthể là đối tuợng của kiểm toán độc lập Các đối tuợng bắt buộc kiểm toán là cácdoanh nghiệp có vốn đầu tu nuớc ngoài, các ngân hàng thuơng mại, các doanhnghiệp niêm yết trên thị truờng chứng khoán.
- Kiểm toán nhà nuớc:
+ Là công việc kiểm toán do các cơ quan chức năng của Nhà nuớc (tài chính,thuế, ) và cơ quan kiểm toán Nhà nuớc chuyên trách tiến hành Hệ thống kiểm toánnhà nuớc do Nhà nuớc lập, quản lý, là một công cụ quan trọng nhằm tăng cuờngchức năng kiểm tra giám sát việc chi tiêu, sử dụng tài nguyên, tài sản của quốc gia.+ Kiểm toán nhà nuớc thuờng tiến hành các cuộc kiểm toán tuân thủ xem xétviệc chấp hành các chính sách, luật lệ và các chế độ của Nhà nuớc tại các đơn vị sửdụng nguồn ngân sách của nhà nuớc Ngoài ra, kiểm toán nhà nuớc còn kiểm toánhoạt động để đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động của cơ quan đơn vịkiểm toán Ở Việt Nam, đây là một tổ chức kiểm toán thuộc Chính phủ làm nhiệm
vụ kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của tài liệu, số liệu kế toán, báo cáotài chính của cơ quan nhà nuớc, đơn vị hành chính sự nghiệp, đơn vị kinh tế nhànuớc, các đoàn thể xã hội có sử dụng kinh phí Nhà nuớc
+ Đặc điểm hoạt động: Hoạt động theo luật định, kế hoạch Kế hoạch kiểmtoán hàng năm do Thủ tuớng chính phủ phê duyệt Có thể kiểm toán đột xuất doTổng kiểm toán nhà nuớc trình Chính phủ Các đơn vị là đối tuợng bị kiểm toánkhông đuợc quyền từ chối Kiểm toán Nhà nuớc đuợc quyền đề nghị với cơ quanNhà nuớc có thẩm quyền xử lý các tổ chức và cá nhân vi phạm các chính sách kinh
tế, tài chính đuợc phát hiện qua kiểm toán
Sự khác biệt cơ bản giữa Kiểm toán nội bộ với Kiểm toán Nhà nuớc và kiểmtoán độc lập là: Kiểm toán nội bộ có chức năng kiểm tra, đánh giá và giám sát tínhhiệu lực và tính hiệu quả của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ Kiểmtoán nội bộ thuờng liên quan đến các hệ thống trong một đơn vị (ví dụ: hệ thốngtiền mặt, hệ thống kế toán, hệ thống công nghệ thông tin, hệ thống mạng luới)Trên thế giới, Kiểm toán nội bộ đã trở thành một nghề có tính chuyên nghiệp Hiệp
Trang 19hội các Viện kiểm toán viên nội bộ đã được thành lập năm 1941 đến nay đã có hơn
100 quốc gia tham dự với số lượng KTV nội bộ tương đối lớn
Như vậy, KTNB có thể được coi là một nhân tố quan trọng trong hệ thốngKSNB, hoạt động vì sự an toàn và hiệu quả của doanh nghiệp
1.1.2.2 Chức năng và nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ
Tổ chức kiểm toán nội bộ là một công cụ quản lý của các nhà quản lý, phục vụđắc lực cho quản lý hoạt động của chính đơn vị
Chức năng chủ yếu của tổ chức này là thông qua các hoạt động kiểm tra, đánhgiá và tư vấn, kiểm toán nội bộ đưa ra các đảm bảo mang tính độc lập và cáckhuyến nghị liên quan đến các nội dung sau đây:
- Các kiểm soát nội bộ của đơn vị đã được thiết lập và vận hành một cách phùhợp nhằm xử lý các rủi ro của đơn vị;
- Các quy trình quản trị và quy trình quản lý rủi ro của đơn vị mang tính hiệuquả và có hiệu suất cao;
- Đơn vị đạt được các mục tiêu hoạt động và các mục tiêu chiến lược, kếhoạch và nhiệm vụ công tác
Phạm vi kiểm tra, xác nhận và đánh giá của KTNB bao gồm:
- Độ tin cậy của thông tin tài chính kế toán do kế toán tổng hợp xử lý và trìnhbày
- Tính tuân thủ luật pháp và các quy chế, các quy định của Nhà nước, các quyđịnh riêng của Doanh nghiệp
- Tính hiệu lực của hệ thống KSNB
- Tính hiệu quả của các hoạt động kinh tế và việc sử dụng các nguồn lực, lựachọn các phương án, các quyết định kinh tế
Để làm đúng chức năng của mình, KTNB có nhiệm vụ sau:
- Kiểm toán tính phù hợp, hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộtrong đơn vị;
- Kiểm tra và xác nhận độ tin cậy của thông tin kinh tế, tài chính của báo cáotài chính, báo cáo kế toán quản trị doanh nghiệp trước khi ký duyệt;
Trang 20- Kiểm tra sự tuân thủ các nguyên tắc hoạt động, quản lý, việc tuân thủ phápluật, chế độ tài chính kế toán, chính sách, nghị quyết, quyết định của lãnh đạo đơn
vị kế toán;
- Phát hiện những sơ hở, yếu kém, gian lận trong quản lý, trong bảo vệ tài sảncủa đơn vị; đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện, hoàn thiện hệ thống quản lý, điềuhành hoạt động của đơn vị kế toán
Tuy nhiên, cũng cần thấy rõ rằng, nội dụng cụ thể của công việc kiểm tra,đánh giá còn tùy thuộc yêu cầu của các nhà quản lý đơn vị Về nguyên tắc, nhìnchung tổ chức KTNB chỉ chịu trách nhiệm về hoạt động của mình truớc các nhàquản lý đơn vị
1.1.2.3 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của kiểm toán nội bộ
Các nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động KTNB bao gồm:
Thứ hai, tuân thủ pháp luật và các quy định
Hoạt động của KTNB phải tuyệt đối tuân thủ Hiến pháp và Pháp luật của Nhànuớc Mặt khác, KTNB là một bộ phận trong một tổ chức, phục vụ cho hoạt độngcủa chính tổ chức đó Do vậy, KTNB phải tuân thủ các quy định trong tổ chức vàhoạt động theo quy định của bản thân tổ chức Việc tuân thủ pháp luật và những quyđịnh, một mặt là yêu cầu bắt buộc cho sự tồn tại và hoạt động của mỗi bộ phậnKTNB; mặt khác, pháp luật và những quy định của tổ chức lại chính là phuơng tiệncho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của KTNB
Thứ ba, trung thực, khách quan
Trang 21Nguyên tắc này thể hiện tổng thể mục đích của sự tồn tại KTNB Trên cơ sởnguyên tắc này, các quy định trong hoạt động KTNB phải đuợc tạo lập đầy đủ cácđiều kiện về địa vị, tính độc lập về chuyên môn của KTNB và KTVNB để đáp ứngđuợc yêu cầu của nguyên tắc trung thực, khách quan trong hoạt động KTNB.
Thứ tư, tính chuyên nghiệp
Tính chuyên nghiệp của KTNB đuợc thể hiện trên một số khía cạnh: KTNBcần có chiến luợc, kế hoạch hoạt động rõ ràng trong từng giai đoạn cụ thể để có thể
hỗ trợ tốt nhất cho sự phát triển của cả tổ chức Để đảm bảo tính chuyên nghiệp,KTVNB cần tuân thủ các chuẩn mực nghề nghiệp đối với nguời hành nghề kế toán,kiểm toán nói chung và với các KTVNB nói riêng
Thứ năm, tính hiệu quả
Tính hiệu quả của KTNB đuợc xem xét trên hai góc độ: Thứ nhất, hiệu quả củahọat động đuợc thể hiện là sự tác động của nó đến hiệu quả của mọi hoạt động tổchức;
Thứ hai, hiệu quả trong bản thân hoạt động KTNB Yêu cầu này luôn đuợc các nhàquản
lý của mỗi tổ chức xem xét, tính toán khi đua ra các quyết định về việc thành lập,mở
rộng hay thu hẹp quy mô của bộ phận KTNB Tổ chức và hoạt động KTNB chỉ thậtsự
tồn tại và phát triển khi nó mang lại những lợi ích lớn hơn cho đơn vị
1.1.3 Kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng thương mại Việt Nam
Tổ chức tín dụng phải thành lập kiểm toán nội bộ chuyên trách thuộc Bankiểm soát thực hiện kiểm toán nội bộ Kiểm toán nội bộ là việc rà soát, đánh giá độclập, khách quan đối với hệ thống kiểm soát nội bộ; đánh giá độc lập về tính thíchhợp và tuân thủ quy định, chính sách nội bộ, thủ tục, quy trình đã đuợc thiết lậptrong tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nuớc ngoài; đua ra kiến nghị nhằmnâng cao hiệu quả của các hệ thống, quy trình, quy định, góp phần bảo đảm tổ chứctín dụng hoạt động an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật
Cùng với sự phát triển theo quy mô hoạt động của các Ngân hàng thuơng mại
Trang 22mở rộng ra và KTNB thực sự trở thành một công cụ kiểm soát sau không thể thiếucủa các nhà quản trị ngân hàng Đến một mức độ phát triển nhất định, ngoài các vaitrò truyền thống, KTNB có thể tu vấn cho quản trị rủi ro của Ban kiểm soát.
1.1.3.1 Nguyên tắc cơ bản của kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng thương mại Việt Nam
Tính độc lập: Tổ chức và hoạt động của kiểm toán nội bộ độc lập với đơn vị,
bộ phận điều hành, tác nghiệp của NHTM, cán bộ làm công tác kiểm toán nội bộkhông đuợc đồng thời đảm nhận các công việc thuộc đối tuợng của kiểm toán nộibộ; Truởng KTNB phải đảm bảo rằng kiểm toán nội bộ không chịu bất cứ sự canthiệp nào khi thực hiện việc báo cáo và đánh giá
Tính khách quan: Bộ phận kiểm toán nội bộ, kiểm toán viên nội bộ phải đảmbảo tính khách quan, trung thực, công bằng, không định kiến Tính khách quanđuợc thể hiện qua các nguyên tắc sau: Truởng kiểm toán nội bộ đảm bảo KTV nội
bộ đuợc bổ nhiệm không có mẫu thuẫn và thành kiến với các đối tuợng đuợc kiểmtoán; định kỳ phải luân chuyển KTV nội bộ để ngăn chặn sự lạm quyền; KTV nội
bộ không đuợc nhận trách nhiệm điều hành các hoạt động và không nên kiểm toánnhững đối tuợng mà truớc đây đã từng công tác, không đuợc tu lợi cá nhân để ảnhhuởng đến sự khách quan
Tính chuyên nghiệp: Kiểm toán viên nội bộ phải là nguời có kiến thức, trình
độ và kỹ năng kiểm toán nội bộ cần thiết, không kiêm nhiệm các cuơng vị, các côngviệc chuyên môn khác của NHTM; có đủ kiến thức để xác định đuợc các dấu hiệugian lận, có kiến thức về rủi ro trong hoạt động ngân hàng và các biện pháp kiểmsoát công nghệ thông tin để thực hiện công việc đuợc giao Bộ phận kiểm toán nội
bộ phải có ít nhất một kiểm toán viên đủ kiến thức, trình độ, kỹ năng thực hiện kiểmsoát công nghệ thông tin then chốt và kỹ thuật kiểm toán công nghệ cao
1.1.3.2 Các yêu cầu nhằm đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng thương mại Việt Nam
Trong công tác kiểm toán nội bộ phải thực hiện quy định duới đây nhằm đảmbảo tính độc lập và khách quan, ngăn ngừa sự thiếu công bằng, định kiến và xungđột lợi ích:
Trang 23- Kiểm toán viên nội bộ không thực hiện kiểm toán đối với quy định, chínhsách nội bộ, thủ tục, quy trình mà kiểm toán viên này là người chịu trách nhiệmchính trong việc xây dựng quy định, chính sách nội bộ, thủ tục, quy trình đó;
- Kiểm toán viên nội bộ không có những xung đột quyền lợi với đơn vị, bộphận được kiểm toán; kiểm toán viên nội bộ không được thực hiện kiểm toán đốivới đơn vị, bộ phận mà người điều hành đơn vị, bộ phận đó là người có liên quancủa kiểm toán viên nội bộ;
- Kiểm toán viên nội bộ không được tham gia kiểm toán các hoạt động, các bộphận mà kiểm toán viên đó chịu trách nhiệm thực hiện hoạt động hoặc quản lý bộphận đó trong thời hạn 03 năm kể từ khi có quyết định không thực hiện hoạt độnghoặc quản lý bộ phận đó;
- Phải có biện pháp kiểm tra nhằm đảm bảo tính độc lập và khách quan củacông tác kiểm toán nội bộ ngay trong quá t nh thực hiện kiểm toán tại đơn vị, bộphận được kiểm toán và trong giai đoạn lập, gửi báo cáo kiểm toán;
- Các ghi nhận kiểm toán trong báo cáo kiểm toán nội bộ phải được phân tíchcẩn trọng và dựa trên cơ sở các dữ liệu, thông tin thu thập được để đảm bảo tínhkhách quan;
- Kết quả thực hiện nhiệm vụ của Trưởng kiểm toán nội bộ phải được Bankiểm soát thường xuyên kiểm tra, rà soát, đánh giá;
- Kiểm toán nội bộ cần đảm bảo tính độc lập, khách quan khi kiểm toán cáchoạt động, các quy trình, bộ phận mà trước đây kiểm toán nội bộ đã có tư vấn.Trong trường hợp này, kiểm toán nội bộ có quyền và nghĩa vụ phân tích và đánh giáđầy đủ về các thủ tục, quy trình, hệ thống kiểm soát nội bộ Trách nhiệm đối với cáchoạt động, các quy trình, bộ phận đã được kiểm toán nội bộ tư vấn trước đây vẫnhoàn toàn thuộc về lãnh đạo đơn vị, bộ phận được kiểm toán
1.1.3.3 Nội dung hoạt động của kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng thương mại Việt Nam
Với nội dung chính của hoạt động kiểm toán nội bộ là đánh giá tính đầy đủ,hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ, KTNB phải thực hiện bốn nộidung công việc như sau:
Trang 24* Kiểm toán hoạt động
Kiểm toán hoạt động thực hiện xem xét lại tất cả các thủ tục và phương pháphoạt động của ngân hàng nhằm mục đích đánh giá tính hiệu quả và tính hiệu lực Ởgiai đoạn hoàn tất một cuộc kiểm toán hoạt động, KTV thường có những kiến nghịcải tiến hoạt động của ngân hàng Mục tiêu của kiểm toán hoạt động là xem xét tínhhiệu quả, hiệu lực hoạt động của ngân hàng và khảo sát đánh giá tính hiệu quả, hiệulực của quá trình kiểm soát nội bộ nhằm mục đích trợ giúp cho các đơn vị vận hànhcông việc kinh doanh hiệu quả hơn Nội dung công việc của kiểm toán hoạt độngđược cụ thể hóa như sau:
+ Kiểm toán hoạt động kiểm tra việc huy động, phân phối sử dụng một cáchtiết kiệm và có hiệu quả các nguồn lực (nhân lực, tài sản, nguồn vốn, lợi thế kinhdoanh ) của ngân hàng thương mại
+ Kiểm toán hoạt động kiểm tra tính hiệu quả của hoạt động kinh doanh, phânphối và sử dụng thu nhập; kết quả bảo toàn và phát triển vốn
+ Kiểm toán hoạt động kiểm tra và đánh giá tính hiệu quả hoạt động của các
bộ phận chức năng trong việc thực hiện các mục tiêu kinh doanh của ngân hàngthương mại
Nói một cách cụ thể hơn, kiểm toán hoạt động chính là quá trình đánh giá vềtính hiệu lực, tính hiệu quả và hiệu năng của các hoạt động trong đơn vị nhằm đưa
ra biện pháp để cải thiện những hoạt động được kiểm toán KTNB tại các NHTM cóthể thực hiện kiểm toán đánh giá tính hiệu quả của kiểm soát nội bộ trong các quytrình nghiệp vụ tại ngân hàng, tính hiệu quả và tính kinh tế của việc sử dụng cácnguồn lực tài chính, con người, các phương án đầu tư, và cao hơn là các mục tiêu,chính sách, chiến lược của ngân hàng Khi thực hiện kiểm toán hoạt động tạiNHTM, KTNB cần đánh giá kết quả đầu ra của các nghiệp vụ của ngân hàng trongmối quan hệ với các yếu tố đầu vào Để đánh giá hiệu quả của các nghiệp vụ,KTNB có thể so sánh kết quả hoạt động giữa các chi nhánh của Ngân hàng vớinhau [13, tr.27]
* Kiểm toán tuân thủ
Trang 25Kiểm toán tuân thủ thực hiện kiểm tra tính tuân thủ, chấp hành các chính sách,chế độ, các quy trình nghiệp vụ, thủ tục quản lý Mục đích của kiểm toán tuân thủ làxác định liệu ngân hàng có tuân thủ hay không và đến mức độ nào các yêu cầu cụthể của chính sách, các quy chế nội bộ và các quy định của Ngân hàng Nhà nuớchoặc luật pháp có liên quan Nội dung công việc của kiểm toán tuân thủ gồm:
+ Kiểm tra tính tuân thủ luật pháp, chính sách, chế độ tài chính, kế toán; chế
độ quản lý của Nhà nuớc và tình hình chấp hành các chính sách, nghị quyết, quyếtđịnh, quy chế của HĐQT, của Ban Giám đốc;
+ Kiểm tra tính tuân thủ các quy định về nguyên tắc, quy trình nghiệp vụ, thủtục quản lý của toàn bộ cũng nhu của từng khâu công việc, của từng biện pháp trong
hệ thống kiểm soát nội bộ;
+ Kiểm tra sự chấp hành các nguyên tắc, các chính sách, các chuẩn mực kếtoán từ khâu lập chứng từ, vận dụng hệ thống tài khoản, ghi sổ kế toán, tổng hợpthông tin và trình bày báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị, đến luu trữ tài liệu
kế toán;
* Kiểm toán thông tin báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị
Kiểm toán thông tin báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị đuợc tiếnhành để xác định liệu tất cả các báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị có phùhợp với các tiêu chuẩn đặc thù Nội dung công việc của kiểm toán báo cáo tài chính
và báo cáo kế toán quản trị gồm:
+ Kiểm tra và xác nhận tính kịp thời, đầy đủ, khách quan, tính tin cậy của báocáo
tài chính; báo cáo kế toán quản trị truớc khi (Tổng) Giám đốc ký duyệt và công bố;+ Kiểm tra và đánh giá các báo cáo tài chính, kế toán quản trị; đua ra nhữngkiến nghị và tu vấn cần thiết cho hoạt động kinh doanh nhằm đảm bảo sự hợp lý vàhiệu quả
Trong truờng hợp này, nhiệm vụ của KTNB là đua ra đảm bảo về tính trungthực, hợp lý và hợp pháp của các thông tin trên báo cáo tài chính và báo cáo kế toánquản trị Nhiệm vụ này đuợc triển khai trên các khía cạnh sau:
Trang 26- Tính trung thực: Thẩm định xem các thông tin và tài liệu kế toán có phản ánhđúng nội dung, bản chất và giá trị các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
- Tính hợp lý: sự phản ánh trung thực, cần thiết và phù hợp về không gian,thời gian, sự kiện của thông tin và tài liệu kế toán
- Tính hợp pháp: thông tin và tài liệu kế toán phải ánh sự tuân thủ đúng phápluật, đúng chuẩn mực và chế độ kế toán hiệu hành
* Kiểm toán công nghệ thông tin
Kiểm toán công nghệ thông tin (IT Audit) là quá trình thu thập và đánh giáchứng cứ xác định một hệ thống máy tính đã đuợc thiết kế để duy trì tính toàn vẹn
dữ liệu, bảo vệ tài sản, cho phép các mục tiêu của tổ chức đạt đuợc hiệu quả và sửdụng các nguồn lực một cách tối uu Tính toàn vẹn của dữ liệu có liên quan đến tínhchính xác và đầy đủ của thông tin cũng nhu giá trị của nó phù hợp với các chỉ tiêu.Một hệ thống thông tin hiệu quả sẽ huớng dẫn tổ chức đạt đuợc mục tiêu của mình
và một hệ thống thông tin hiệu quả sử dụng nguồn lực tối thiểu trong việc đạt đuợccác mục tiêu cần thiết Kiểm toán viên IT phải biết các đặc tính của nguời sử dụng
hệ thống thông tin và môi truờng ra quyết định trong việc tổ chức đuợc kiểm toánkhi đánh giá hiệu quả của hệ thống bất kỳ
Các mục tiêu trong việc sử dụng công nghệ để hỗ trợ quá trình quản lý kinhdoanh bao gồm:
Tính bảo mật: bảo mật liên quan đến việc bảo vệ những thông tin nhạy cảm.Những thông tin này cần đuợc xem xét, đánh giá để đua ra đuợc mức độ nhạy cảmvới các dữ liệu Điều này thực sự quan trọng vì từ đó sẽ giúp tổ chức xác định đuợccách thức kiểm soát nghiêm ngặt về việc tiếp cận loại thông tin này Quản lý cầnđảm bảo khả năng của tổ chức để duy trì thông tin bí mật, nhu thỏa hiệp trong bảomật có thể dẫn đến thiệt hại đáng kể đến uy tín của tổ chức, đặc biệt nếu là doanhnghiệp thì sẽ ảnh huớng đến danh tiếng
Tính toàn vẹn: nói đến tính toàn vẹn là nói đến tính chính xác và đầy đủ củathông tin cũng nhu giá trị của nó phù hợp với các giá trị kinh doanh hay kỳ vọngcủa tổ chức Đây là một mục tiêu kiểm toán quan trọng bởi nó cung cấp sự bảo đảm
Trang 27cho các tổ chức, từ sự tin cậy này các tổ chức có thể lựa chọn và đưa ra các quyếtđịnh đúng đắn.
Tính sẵn có: tính sẵn có liên quan đến thông tin đang có sẵn khi yêu cầu củaquá trình kinh doanh hiện tại và trong tương lai Nó cũng liên quan đến việc bảo vệcác nguồn tài nguyên cần thiết và các khả năng liên quan Do việc lưu trữ thông tinquan trọng trên hệ thống máy tính thường ẩn chứa những nguy cơ cao là bị mấthoặc bị virus, điều quan trọng là tổ chức luôn được đảm bảo rằng thông tin mà họcần để ra quyết định là có sẵn khi cần thiết Điều này đảm bảo rằng tổ chức luôn cóbiện pháp bảo vệ thông tin để bảo đảm việc bảo kinh doanh được liên tục và có thểphục hồi thông tin một cách nhanh chóng, kịp thời khi gặp sự cố
Sự đáng tin cậy: hay còn gọi là độ bền, được đề cập đến để thể hiện mức độnhất quán của một hệ thống hoặc khả năng của một hệ thống (hay thành phần) đểthực hiện các chức năng cần thiết của mình theo điều kiện quy định Độ bền là mộtmục tiêu kiểm toán quan trọng để cung cấp sự bảo đảm rằng hệ thống luôn hoạtđộng và thực hiện các chức năng đã đề ra như kỳ vọng của tổ chức
1.1.3.4 Các phương pháp thực hiện kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng thương mại Việt Nam
Phương pháp thực hiện kiểm toán nội bộ là phương pháp kiểm toán “địnhhướng theo rủi ro”, ưu tiên tập trung nguồn lực để kiểm toán các đơn vị, bộ phận,quy trình được đánh giá có mức độ rủi ro cao
Kiểm toán nội bộ phải xác định, phân tích, đánh giá những rủi ro và xây dựng
hồ sơ rủi ro cho từng hoạt động của NHTM Hồ sơ rủi ro bao gồm toàn bộ các rủi rotiềm tàng, tác động có thể có của các rủi ro đó đối với hoạt động NHTM và khảnăng xảy ra những rủi ro đó Dựa trên đánh giá về tác động, khả năng xảy ra của cácrủi ro; từng rủi ro được phân loại thành rủi ro cao, trung bình hoặc thấp Việc đánhgiá, phân loại rủi ro phải được thực hiện ít nhất một năm một lần
Kết quả đánh giá rủi ro sẽ là căn cứ để Trưởng kiểm toán nội bộ làm việc vớiBan
kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc) và Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viêntrong
Trang 28hạng theo thứ tự từ cao đến thấp, trong đó những hoạt động được coi là có rủi ro caosẽ
được ưu tiên tập trung nhiều nguồn lực, thời gian hơn để kiểm toán, được kiểm toántrước và được kiểm toán thường xuyên hơn các hoạt động có rủi ro thấp hơn
Kế hoạch kiểm toán nội bộ phải được xây dựng dựa trên kết quả đánh giá rủi
ro và phải được cập nhật, thay đổi, điều chỉnh phù hợp với các diễn biến, thay đổitrong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và sự thayđổi của các rủi ro đi kèm theo
Trên thực tế có hai phương pháp được sử dụng phổ biến:
* Phương pháp kiểm toán hệ thống: Phương pháp kiểm toán này là hệ thốngcác thủ tục, kỹ thuật kiểm toán được thiết kế và sử dụng để thu thập các bằng chứngkiểm toán có liên quan đến tính thích hợp và hiệu quả của hệ thống KSNB Đặctrưng của phương pháp này là mọi thử nghiệm phân tích, đánh giá và kiểm tra đềudựa vào quy chế KSNB Quy chế KSNB chỉ có hiệu lực và hiệu quả khi toàn bộ hệthống KSNB là mạnh, là hiệu quả
* Phương pháp kiểm toán cơ bản: Phương pháp này là phương pháp được thiết
kế, sử dụng để thu thập bằng chứng kiểm toán có liên quan đến số liệu do hệ thống
kế toán xử lý và cung cấp Đặc trưng cơ bản của phương pháp này là việc tiến hànhcác thử nghiệm, các đánh giá đều dựa vào số liệu, các thông tin trên báo cáo tàichính và hệ thống kế toán của Ngân hàng cung cấp Trong kiểm toán cơ bản thường
sử dụng phương pháp phân tích và kiểm tra chi tiết
Đây là hai phương pháp được vận dụng cho mọi cuộc kiểm toán, tuy nhiên,phạm vi và mức độ vận dụng lại tùy thuộc vào tính hiệu quả của hệ thống KSNBcủa từng Ngân hàng Khi hệ thống KSNB của Ngân hàng tốt, để cuộc kiểm toán đạthiệu quả thì KTV luôn phải kết hợp chặt chẽ giữa hai phương pháp
1.2 Tổ chức kiểm toán nội bộ tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Để hiểu nội dung tổ chức kiểm toán nội bộ tại các NHTM, trước tiên cần tìmhiểu thuật ngữ “tổ chức”
Trang 29Theo từ điển Bách khoa Việt Nam thì “Tổ chức là hình thức tập hợp, liên kếtcác thành viên trong xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng, lợi ích của cácthành viên; cùng nhau hành động vì mục tiêu chung” [6, tr.455].
Một cách hiểu khác, tổ chức là “việc sắp xếp, bố trí thành các bộ phận để cùngthực hiện một nhiệm vụ hoặc cùng một chức năng chung hay tiến hành một côngviệc theo một cách thức, trình tự nào đó” hay “tập hợp nguời đuợc tổ chức theo cơcấu nhất định để hoạt động vì lợi ích chung” [7, tr.1662]
Liên hệ khái niệm tổ chức với các phân tích về bản chất của KTNB trong cácNHTM, có thể hiểu tổ chức KTNB là một hệ thống có chức năng đảm bảo và tu vấn
về các thông tin và quy trình kiểm soát, quản trị và quản lý rủi ro do các KTV cótrình độ tuơng xứng thực hiện dựa trên cơ sở pháp lý có hiệu lực tại các NHTM Đểthực hiện chức năng của mình, các KTVNB cũng cần đuợc tập hợp theo những cáchthức nhất định, với vị trí và các mối quan hệ đuợc xác định rõ ràng với các bộ phậnkhác trong các doanh nghiệp Các KTVNB cần vận dụng các phuơng pháp, kỹ thuậtkiểm toán khác nhau theo một trình tự phù hợp với đối tuợng và khách thể kiểmtoán trong từng thời kỳ Việc kết hợp các yếu tố này sẽ không giống nhau theo từngcuộc kiểm toán khác nhau và phụ thuộc rất nhiều vào quyết định của chủ thể kiểmtoán [13, tr 30]
Khi xem xét nội dung tổ chức KTNB, truớc tiên cần xác định vị trí của KTNBtrong doanh nghiệp Đây là một vấn đề có ảnh huởng bao trùm đến cả tổ chức bộmáy và tổ chức hoạt động KTNB
1.2.1 Cơ chế tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam
Theo Điều 41 của Luật các Tổ chức tín dụng đuợc Quốc hội nuớc Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm
2010 có quy định : “Tổ chức tín dụng phải thành lập kiểm toán nội bộ chuyên tráchthuộc Ban kiểm soát thực hiện kiểm toán nội bộ” Xét về nguyên tắc chung, bộ phậnKTNB phải trực thuộc một nguời đủ quyền lực (lãnh đạo cao cấp nhất trong đơn vị)
để đảm bảo sự độc lập của KTNB, sự bao quát của phạm vi kiểm toán, bảo đảm báo
Trang 30cáo kiểm toán được xem xét đầy đủ và có những biện pháp thích đáng trên cơ sởcác kiến nghị của KTV.
Tổ chức bộ máy KTNB “bao gồm con người và phương tiện chứa đựng cácyếu tố của kiểm toán để thực hiện chức năng kiểm toán “ [14, tr.210] Xét về cơ cấu
tổ chức, bộ phận KTNB trong Ngân hàng thương mại có thể được tổ chức thànhmột phòng hoặc ban KTNB Tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ có thể xem xét trênhai khía cạnh chính là mô hình tổ chức và tổ chức nhân sự KTNB
1.2.1.1 Mô hình tổ chức kiểm toán nội bộ
Trên thực tế, các NHTM có thể có quy mô, cơ cấu tổ chức khác nhau, có thể
có quy mô lớn, hoạt động rộng khắp với nhiều chi nhánh, tới các NHTM có quy mônhỏ hơn, hoạt động tập trung tại trụ sở chính
Các mô hình tổ chức kiểm toán nội bộ hiện đang được áp dụng ở Ngân hàngthương mại tại Việt Nam bao gồm:
Thứ nhất, mô hình tổ chức KTNB tập trung
Theo mô hình này bộ phận KTNB chỉ được thành lập tại trụ sở chính, tại cácchi nhánh không thành lập bộ phận KTNB Bộ phận KTNB tại trụ sở chính sẽ thựchiện toàn bộ công tác KTNB tại Hội sở và các chi nhánh
Mô hình tổ chức này có ưu điểm là đảm bảo tính khách quan, độc lập của hoạtđộng kiểm toán đối với các đơn vị thành viên; tổ chức bộ máy KTNB gọn nhẹ vàchỉ chịu sự chỉ huy trực tiếp của người đứng đầu, điều này tạo điều kiện thuận lợicho việc nâng cao tính chuyên nghiệp của KTNB Do lực lượng KTVNB tập trungtại trụ sở chính nên có điều kiện chuyên môn hóa đội ngũ KTV và đào tạo nâng caotrình độ nghề nghiệp
Tuy nhiên, mô hình này có hạn chế là tại các đơn vị trực thuộc không phát huyđầy đủ vai trò của KTNB (những cuộc kiểm toán của cơ quan cấp trên thường mangtính thanh tra, kiểm tra hoặc chỉ kiểm toán những hoạt động chính được cơ quan cấptrên quan tâm; còn lại các hoạt động khác mà thủ trưởng đơn vị cần đánh giá thìphải tự thuê ngoài dịch vụ kiểm toán hoặc tự tổ chức kiểm tra) Mô hình tổ chức nàychỉ nên áp dụng đối với các doanh nghiệp xây dựng theo mô hình tổ chức độc lập
Trang 31hoặc số tổ chức thành viên và quy mô của tổ chức thành viên không lớn, tập trungtrên cùng một địa bàn Đây cũng là mô hình phù hợp với hoạt động mang tính tậptrung, bộ máy gọn nhẹ của các NHTM.
Thứ hai, mô hình tổ chức KTNB phân tán
Theo mô hình này bộ phận KTNB đuợc thành lập tại trụ sở chính, công ty mẹvà
tại tất cả các đơn vị trực thuộc Bộ phận KTNB tại trung tâm có trách nhiệm chỉ đạovà
kiểm tra toàn bộ hoạt động của tổ chức KTNB tại các đơn vị thành viên và thuờngthực
hiện những cuộc kiểm toán phức tạp hoặc có quy mô toàn doanh nghiệp
Mô hình tổ chức này có uu điểm là KTNB phát huy đầy đủ vai trò ở các đơn
vị của doanh nghiệp; bộ phận KTNB tại các đơn vị thành viên có thể trực tiếp vàchủ động kiểm tra và giám sát hoạt động của đơn vị mình, giảm bớt gánh nặng cho
bộ phận KTNB trung tâm
Tuy nhiên, mô hình này có hạn chế là lực luợng KTVNB bị bố trí phân tán ởnhiều đơn vị và thuờng với số luợng ít, do vậy, khó có điều kiện chuyên môn hóađội ngũ KTV và đào tạo nâng cao trình độ nghề nghiệp Mặt khác, nếu không tổchức một cách hợp lý có thể dẫn đến bộ máy KTNB tổ chức cồng kềnh, lãng phí
Mô hình này đòi hỏi sự kiểm soát của bộ phận KTNB Hội sở đối với các bộ phậnKTNB tại các chi nhánh phải đuợc tiến hành thuờng xuyên và chặt chẽ
Thứ ba, mô hình kết hợp
Mô hình kết hợp là mô hình tổ chức bộ phận KTNB dựa trên sự kết hợp củahai mô hình trên Theo mô hình này, ngoài bộ phận KTNB ở trụ sở chính, thì tại cácchi nhánh có quy mô lớn có thể thành lập bộ phận KTNB; các chi nhánh còn lại cóthể đuợc thực hiện kiểm toán bởi bộ phận KTNB của trụ sở chính hoặc bởi bộ phậnKTNB khu vực đuợc thành lập
Mô hình tổ chức này có uu điểm là đảm bảo tính năng động, có thể phát huyđuợc các uu điểm và khắc phục đuợc hạn chế của mỗi mô hình tổ chức trên
Mô hình tổ chức KTNB này thuờng đuợc áp dụng với các NHTM đuợc tổ
Trang 321.2.1.2 Tổ chức nhân sự kiểm toán nội bộ
Đứng đầu bộ phận KTNB là Trưởng bộ phận KTNB, người chịu trách nhiệmchính trong điều hành hoạt động của KTNB Sau đó tới phó bộ phận KTNB và cácKTVNB Các nhiệm vụ chính Trưởng bộ phận KTNB bao gồm: xây dựng kế hoạchkiểm toán hàng năm; tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm toán đã được phê duyệt; lậpcác báo cáo kiểm toán định kỳ; xây dựng, bổ sung, sửa đổi quy trình kiểm toán Trưởng bộ phận KTNB do HĐQT bổ nhiệm Số lượng KTVNB phụ thuộc vào quy
mô kinh doanh, địa bàn hoạt động, số lượng các đơn vị thành viên tính chất phứctạp của công việc, yêu cầu quản lý kinh doanh và trình độ, năng lực nghề nghiệpcủa KTV
Để đáp ứng yêu cầu công việc, các KTVNB phải đạt được một số tiêu chuẩn,điều kiện nhất định Một trong những tiêu chuẩn hàng đầu đối với KTVNB là trình
độ chuyên môn nghiệp vụ KTVNB phải đảm bảo có đủ kiến thức cả lý thuyết lẫnthực tiễn cũng như am hiểu về luật pháp để thực hiện việc kiểm toán Do KTNB làmột bộ phận thuộc tổ chức, nên các tiêu chí cụ thể đối với các KTVNB sẽ do banlãnh đạo mỗi đơn vị quyết định Nhìn chung, các tổ chức đều đưa ra những yêu cầu
về trình độ chuyên môn, ví dụ các hiểu biết về kế toán tài chính và về các quy trìnhnghiệp vụ của NHTM Năng lực chuyên môn có thể được duy trì thông qua đàotạo liên tục và có hệ thống đối với mỗi nhân viên KTNB Tất cả các nhân viên của
bộ phận KTNB đều cần có những kiến thức cập nhật ở một mức độ nhất định về kỹthuật kiểm toán và các hoạt động của doanh nghiệp Ngoài kiến thức về kiểm toán,
sự hiểu biết về các quy trình nghiệp vụ là rất quan trọng với các KTVNB tạiNHTM, vì các quy trình trong hoạt động ngân hàng thường phức tạp, đòi hỏi KTVphải có hiểu biết sâu sắc Một số NHTM có thể yêu cầu KTVNB làm việc thực tếtại quy trình nghiệp vụ trước khi làm việc tại bộ phận KTNB
Một tiêu chuẩn quan trọng nữa của KTVNB là phải có đạo đức nghề nghiệp.KTVNB phải là người trung thực, liêm chính, có lương tâm nghề nghiệp; đồng thờiphải có đức tính thận trọng, đúng mực, không được phép đưa ra các kết luận hoặcquyết định thiếu căn cứ KTNB là một nghề đòi hỏi tính tuân thủ luật pháp rất cao
Trang 33Trong khi hành nghề, KTVNB phải luôn coi trọng và chấp hành đúng chế độ, thể lệ,nguyên tắc, luật pháp của nhà nuớc và các chuẩn mực nghề nghiệp KTVNB phảituyệt đối tôn trọng bí mật thông tin thu thập đuợc trong quá trình kiểm toán.KTVNB chỉ đuợc phép tiết lộ thông tin khi đã có sự ủy quyền đặc biệt hoặc tráchnhiệm pháp lý, trách nhiệm nghề nghiệp đuợc công bố.
KTVNB phải độc lập, khách quan trong việc đua ra ý kiến mà không chịu bất
kỳ ảnh huởng nào tác động trái với những đánh giá chuyên nghiệp KTVNB khôngđuợc có các quan hệ thực tế và hoàn cảnh có ảnh huởng đáng kể làm cho bên thứ bahiểu là không độc lập, không khách quan, không đảm bảo tính trung thực, thậntrọng nghề nghiệp KTV không đuợc tham gia kiểm toán tại các đơn vị mà họ chịutrách nhiệm thực hiện hoặc quản lý truớc đây, hoặc có quan hệ gia đình với thànhviên ban lãnh đạo đơn vị đuợc kiểm toán
KTNB là hoạt động tu vấn và đảm bảo khách quan và độc lập đuợc thiết lậpnhằm tăng cuờng và cải thiện chất luợng hoạt động của các NHTM Để thực hiệnnhiệm vụ của mình, bộ phận KTNB tại các NHTM cần xây dựng chính sách KTNBchính thức để làm cơ sở cho việc tổ chức và thực hiện hoạt động kiểm toán Chínhsách
KTNB là hệ thống các quy định, chuẩn mực trong hoạt động KTNB, trong đó quyđịnh
rõ các vấn đề cơ bản về KTNB nhu mục đích, vị trí, vai tro của KTNB trong tổchức
Các chính sách kiểm toán cần đuợc xây dựng và phổ biến tới các KTVNBtrong NHTM để tăng cuờng tính độc lập, khách quan, chuyên nghiệp, chất luợng,hiệu quả và hiệu lực của công việc kiểm toán, đua ra huớng dẫn phù hợp cho tất cảcác KTVNB trong việc thực hiện và báo cáo công việc hàng ngày Các chính sáchkiểm toán cần đuợc cập nhật và điều chỉnh thuờng xuyên khi có sự thay đổi trongcác hoạt động của KTNB tại các NHTM
1.2.2 Tổ chức hoạt động kiểm toán nội bộ tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam
KTNB trong các tổ chức phải là công việc thuờng xuyên, mang tính chiến
Trang 341.2.2.1 Xác định phương pháp tiếp cận của KTNB
Trước khi tổ chức các hoạt động KTNB cụ thể, cần nghiên cứu phương pháptiếp cận của KTNB đối với các nội dung được kiểm toán, vì đây là yếu tố ảnhhưởng tổng quát đến cách thức tiến hành các hoạt động kiểm toán Việc xác địnhphương pháp tiếp cận phù hợp là điều kiện quan trọng để đảm bảo hiệu quả hoạtđộng của KTNB tại các NHTM
Phương pháp tiếp cận theo định hướng rủi ro là phương pháp tiếp cận đangđược KTNB trên thế giới sử dụng rộng rãi hiện nay Theo đó, KTNB xuất phát từviệc xác định, đánh giá các rủi ro của tổ chức để xây dựng kế hoạch kiểm toán vàlựa chọn các thủ tục kiểm toán nhằm đưa ra sự đảm bảo cho ban lãnh đạo về tínhhiệu quả và tính hiệu lực của các quy trình quản lý rủi ro của tổ chức
Đây là cách tiếp cận hiện đại với KTNB KTNB hiện đại được coi là có thểkiểm toán bất cứ một hoạt động nào trong tổ chức Phương pháp tiếp cận theo rủi rođược sử dụng, chú trọng vào các hoạt động quan trọng với tổ chức Phương pháptiếp cận theo định hướng rủi ro quan tâm tới các mục tiêu của tổ chức, và các rủi roảnh hưởng tới các mục tiêu đó, hơn là bản thân các thủ tục kiểm soát như trongphương pháp tiếp cận hệ thống Mối quan tâm bây giờ là toàn bộ kết cấu của tổchức chứ không phải là các hệ thống riêng biệt, với mục đích là xác định các lĩnhvực mà trách nhiệm không được xác định rõ ràng, ví dụ như nơi có sự đan xen,chồng chéo giữa các chức năng Đây là các vấn đề mà các bộ phận kiểm toán cầnhướng tới
Điểm khác biệt giữa phương pháp tiếp cận hệ thống và phương pháp tiếp cậntrên cơ sở đánh giá rủi ro là ở chỗ phương pháp tiếp cận rủi ro không xuất phát từcác thủ tục kiểm soát, mà xuất phát từ mục tiêu của tổ chức và các rủi ro ảnh hưởngtới mục tiêu đặt ra, từ đó đánh giá các hoạt động kiểm soát nhằm quản lý các rủi ro
đó, từ chỗ đánh giá “liệu các thủ tục kiểm soát có đầy đủ và hiệu lực hay không?”sang “rủi ro được kiểm soát tới mức độ nào?”
Có thể thấy đây là phương pháp tiếp cận phù hợp với hoạt động của cácNHTM Như đã phân tích ở trên, hoạt động của NHTM chứa đựng nhiều rủi ro, có
Trang 35thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến các ngành khác và cả nền kinh tế Đồng thời, điềukiện môi trường kinh tế, pháp lý thường xuyên thay đổi và các sản phẩm dịch vụmới trong hoạt động tài chính - tín dụng liên tục được phát triển Nếu KTNB chỉquan tâm tới bản thân các thủ tục kiểm soát mà không chú trọng đánh giá rủi rothường xuyên thì có thể sẽ không nhận biết được các thay đổi từ môi trường hoạtđộng và không kịp thời nhận biết sự lỗi thời của các hoạt động kiểm soát.
1.2.2.2 Lập kế hoạch kiểm toán năm
Lập kế hoạch kiểm toán năm là công việc đầu tiên bắt buộc, thường được thựchiện trước khi kết thúc năm tài chính Việc lập kế hoạch kiểm toán năm là rất quantrọng, bởi KTNB tại các NHTM luôn phải đối mặt với các giới hạn về thời gian, chiphí, nhân lực cho hoạt động kiểm toán, trong khi các đối tượng được kiểm toán rất
đa dạng, phức tạp, môi trường hoạt động thường xuyên thay đổi Việc lập kế hoạchhàng năm giúp KTNB bao quát được tất cả các đối tượng kiểm toán, tập trungnguồn lực cho các hoạt động rủi ro hơn, giúp cho các cuộc kiểm toán được thựchiện một cách hiệu quả, tiết kiệm thời gian chi phí và đạt được mục tiêu đề ra Việclập kế hoạch, xác định đối tượng ưu tiên kiểm toán là quan trọng để có thể đảm bảotính hiệu quả của kiểm toán
Kế hoạch kiểm toán năm bao gồm các định hướng cơ bản, nội dung trọng tâmvà
phương pháp tiếp cận chung của các cuộc KTNB trong năm Kế hoạch kiểm toánnăm
xác định đối tượng kiểm toán cũng như tần suất thực hiện kiểm toán tại các đốitượng
cụ thể Kế hoạch kiểm toán lập trên cơ sở đánh giá thông tin tổng quát về tình hìnhhoạt
động và môi trường kinh doanh của tất cả các bộ phận, đơn vị trong NHTM
Khi lập kế hoạch kiểm toán, KTNB thực hiện các công việc sau đây:
Thứ nhất: Thống nhất mục tiêu kiểm toán
Mục tiêu kiểm toán sẽ quyết định phương pháp và thủ tục kiểm toán cần tiếnhành, nhân lực và thời gian dự kiến cho cuộc kiểm toán Việc xác định mục tiêu
Trang 36nhau, và thay đổi trong từng trường hợp cụ thể Mục tiêu kiểm toán có thể là đánhgiá tính tuân thủ trong từng đơn vị, hoặc ở mức độ cao hơn là đề xuất giải pháp cảitiến các hoạt động cụ thể Khi xây dựng mục tiêu kiểm toán, cần quan tâm đến ngânsách cho hoạt động kiểm toán và nguồn nhân lực KTNB Nếu yêu cầu của các nhàquản lý vượt xa so với ngân sách và nguồn nhân lực hiện có của KTNB, thì trưởng
bộ phận KTNB cần trao đổi với các nhà quản lý để xác định mục tiêu phù hợp, đồngthời xây dựng kế hoạch phát triển nguồn lực KTNB về cả chất lượng cũng như sốlượng để có thể đáp ứng các yêu cầu quản lý
Thứ hai: Xác định cách thức tổ chức kiểm toán
Sau khi thống nhất mục tiêu, KTVNB xác định cách thức tổ chức kiểm toán.Những nội dung cần quan tâm khi xác định cách thức tổ chức kiểm toán là: bố trínhân sự, phạm vi các thủ tục kiểm toán, cách thức báo cáo phát hiện kiểm toán, mức
độ, phạm vi áp dụng các hoạt động kiểm toán và thời gian thực hiện
Thứ ba: Thu thập thông tin tổng quan về doanh nghiệp
Thu thập thông tin tổng quan về doanh nghiệp là cơ sở để lập kế hoạch kiểmtoán KTVNB cần thu thập các thông tin về môi trường kinh doanh tác động đếncác lĩnh vực hoạt động chủ yếu của NHTM như các biến động của môi trường kinh
tế vĩ mô, tỷ giá, lãi suất, các thay đổi trong môi trường pháp lý như các quy địnhcủa chính phủ, NHNN, thay đổi trong cơ cấu tổ chức cán bộ, kết quả hoạt động kinhdoanh của công ty, thông tin về chiến lược, hoạt động của các đối thủ cạnh tranh.Khi môi trường kinh tế, pháp lý có những biến động lớn, KTNB cần chú trọng đánhgiá ảnh hưởng của các yếu tố này tới hoạt động của NHTM
Thứ tư: Đánh giá rủi ro
Đánh giá rủi ro là một hoạt động có tính hệ thống nhằm phân tích, đánh giá,tổng hợp, xếp loại các rủi ro có thể ảnh hưởng đến việc đạt được mục tiêu củaNHTM Mục tiêu của việc đánh giá rủi ro là nhằm lập kế hoạch kiểm toán trên cơ
sở nhận thức và đánh giá các rủi ro lớn nhất Thông qua đánh giá rủi ro, thời giankiểm toán và phạm vi kiểm toán sẽ được ước tính cho từng đơn vị Các nguồn lựckiểm toán sẽ được tập trung trước tiên cho các lĩnh vực nhiều rủi ro
Trang 37Như đã trình bày ở trên, để xây dựng kế hoạch kiểm toán trên cơ sở địnhhướng rủi ro, KTNB tại các NHTM cần xây dựng mô hình đánh giá rủi ro phù hợp.KTNB có thể thực hiện đánh giá, chấm điểm rủi ro của các quy trình nghiệp vụ theocác tiêu chí về quy mô, mức độ phức tạp, trình độ kinh nghiệm của lãnh đạo cũngnhư nhân viên của các bộ phận , từ đó xếp hạng mức độ rủi ro của từng quy trình.
Thứ năm: Lập kế hoạch kiểm toán năm
Dựa trên kết quả đánh giá rủi ro, KTNB lập kế hoạch kiểm toán, trong đó xácđịnh đối tượng, tần suất và nhân sự cho các cuộc kiểm toán Những quy trìnhnghiệp vụ được đánh giá là có mức rủi ro cao cần được kiểm toán thường xuyên, ví
dụ ít nhất một lần trong một năm Ngoài kết quả đánh giá rủi ro, KTNB có thể dựavào một số yếu tố khác để lập kế hoạch, chẳng hạn các vấn đề đã được phát hiệntrong lần kiểm toán trước, các yêu cầu cụ thể của cấp quản lý , hoặc của cơ quangiám sát hoạt động ngân hàng
1.2.2.3 Thực hiện kiểm toán
Tùy thuộc vào loại hình kiểm toán, đối tượng kiểm toán khác nhau, trình tựkiểm toán khác nhau nhưng các cuộc KTNB trong ngân hàng thương mại đều tuânthủ theo một quy trình chung với bốn bước cơ bản:
* Bước 1: Chuẩn bị cho đợt kiểm toán nội bộ
Các công việc cần chuẩn bị cho một đợt KTNB bao gồm:
Thứ nhất, Thiết lập các mục tiêu kiểm toán.
Mục tiêu cụ thể của từng đợt kiểm toán có thể chia thành ba nhóm:
Nhóm 1 - Khảo sát hệ thống KSNB: bao gồm việc mô tả hệ thống được kiểmtoán và các thủ tục kiểm soát của nó; qua đó đưa ra đánh giá các thủ tục kiểm soát
có được xây dựng tốt và phù hợp với hệ thống hoạt động của đơn vị không Mụcđích của việc này nhằm cung cấp thông tin cơ bản về đối tượng kiểm toán và cácthủ tục kiểm soát có liên quan
Nhóm 2: Kiểm tra việc tuân thủ: Được tiến hành để xác định các thủ tục kiểm
soát trong thực tế có tuân thủ với hệ thống KSNB đề ra hay không KTV so sánhhoạt
động thực tế với các chính sách, chuẩn mực, quy trình đã được thiết lập tại đơn vị
Trang 38Nhóm 3: Đánh giá sự đầy đủ của hệ thống KSNB: Bao gồm việc phân tích vàđánh giá đối tượng kiểm toán trên hai lĩnh vực: rủi ro trong hoạt động của đối tượngkiểm toán; tính đầy đủ và hiệu quả của hệ thống kiểm soát;
Thứ hai, xác định phạm vi công việc kiểm toán
Một số đợt kiểm toán nội bộ tập trung ở khía cạnh rất hẹp về các hoạt độngtrong khi các đợt kiểm toán khác thì trải rộng ra nhiều lĩnh vực Thí dụ, đợt kiểmtoán này có thể chỉ nhằm vào kiểm tra tính trung thực và đáng tin cậy của một sốthông tin; nhưng một đợt kiểm toán khác có thể vừa xem xét tính trung thực củathông tin vừa mở rộng ra đánh giá việc sử dụng các nguồn lực và việc chấp hành cácchính sách chế độ Một số đợt kiểm toán có thể đi thật sâu, kiểm tra hết sức chi tiếttrong khi một số đợt kiểm toán khác thì sơ lược, chỉ kiểm tra có tính chất phòngngừa
Như vậy việc xác định phạm vi cụ thể phụ thuộc vào mục tiêu của từng đợtkiểm
toán, KTV sẽ căn cứ vào mục đích, yêu cầu cụ thể của đợt kiểm toán để giới hạn vềnội
dung, số bộ phận cần tiến hành kiểm toán và giới hạn về thời gian kiểm toán
Thứ ba, lập kế hoạch về thời gian để kiểm toán nội bộ tại đơn vị
Thời gian cần thiết cho một đợt kiểm toán rất khác nhau Các yếu tố ảnh hưởngđến kế hoạch về thời hạn kiểm toán bao gồm: quá trình đào tạo và kinh nghiệm củaKTV, kiến thức về hoạt động đang kiểm toán, loại hình kiểm toán thực hiện
Thứ tư, xác định các nguồn lực cần thiết và phân công công việc để thực hiện đợt kiểm toán
Đội ngũ kiểm toán gồm: Trưởng nhóm, KTV chính và các KTV phụ Trưởngnhóm có thể là Trưởng/Phó ban KTNB hay KTV chính Điều này tùy thuộc vào quy
mô và tính chất phức tạp của đợt kiểm toán Sau khi đã xác định được đội ngũ kiểmtoán, Trưởng nhóm kiểm toán tiến hành phân công công việc cụ thể cho từng thànhviên trong đoàn
Chuẩn bị các phương tiện hỗ trợ: máy tính, máy ghi âm, các biểu mẫu phụ lục.
Ngoài ra, KTNB cũng xem xét sử dụng các nguồn lực bên ngoài trong trường hợp
Trang 39Mục đích của khảo sát là thu thập thêm thông tin về đối tượng được kiểm toán
và có được một số bằng chứng ban đầu cũng như tạo mối quan hệ với đối tượngđược kiểm toán Công tác thu thập thông tin được thực hiện như sau:
KTVNB nghiên cứu và tổng hợp thông tin từ các văn bản, tài liệu liên quanđến tình hình hoạt động kinh doanh của bộ phận, đối tượng được kiểm toán; xemxét sơ bộ các chính sách, biện pháp quy định của đơn vị trong kỳ kinh doanh, đánhgiá sơ bộ những thay đổi về điều kiện và môi trường hoạt động kinh doanh ảnhhưởng các mặt hoạt động của đơn vị
KTV nội bộ tìm hiểu chính sách, quy định mới và các chủ trương, biện phápphát sinh trong kiểm toán
KTV nội bộ xem xét các báo cáo, tài liệu, hồ sơ kiểm toán trước đó (nếu có),
kể cả các tài liệu bên ngoài ngân hàng có liên quan đến cuộc kiểm toán; tóm tắt cácthông tin cần phải kiểm tra trong quá trình kiểm toán sắp tới; thu thập và chuẩn bịcác mẫu, các chương trình, các chỉ dẫn cho cuộc kiểm toán sẽ được tiến hành
* Bước 2: Thực hiện kiểm toán nội bộ
KTV nội bộ ghi lại hệ thống KSNB tại đối tượng được kiểm toán
Các KTV mô tả hệ thống kiểm soát thông qua việc vẽ các lưu đồ, trả lời cáccâu
hỏi về hệ thống KSNB và các bảng tường thuật Việc ghi lại quy trình chỉ thực hiệnđối với các đối tượng được kiểm toán lần đầu, hoặc các đối tượng đã được kiểm toántrước đó nhưng có nhiều sự thay đổi lớn trong hệ thống KSNB Đối với các nghiệpvụ
đã lập quy trình trong những đợt kiểm toán trước, KTV không cần ghi nhận lại quytrình mà kiểm tra lại các chốt kiểm soát hay sự thay đổi trong hệ thống
KTV nội bộ tiến hành các thủ tục thử nghiệm hệ thống và thu thập bằng chứng kiểm toán
Sau khi ghi lại hệ thống kiểm soát tại đối tượng được kiểm toán, KTV tiếnhành thực nghiệm bằng cách kiểm tra trực tiếp hồ sơ, sổ sách và thu thập bằngchứng kiểm toán
Trên cơ sở những bằng chứng kiểm toán, KTV phải đánh giá tổng quát các kết
Trang 40quả thu đuợc và cân nhắc các cơ sở để đua ra ý kiến về báo cáo tài chính Để đạtđuợc mục đích này, KTV thuờng thực hiện nhu sau:
Thứ nhất, Phân tích: nhằm đánh giá tính đồng bộ và xác thực của các thông tin
thu thập đuợc Mọi diễn biến bất thuờng của các thông tin thu thập đuợc so với sốliệu của đơn vị, số liệu năm truớc, số liệu kế hoạch, đều cần đuợc giải thích Thủtục này giúp KTV xác định đuợc những bộ phận cần phải thu thập thêm bằng chứng
để làm vững chắc thêm ý kiến của mình
Thứ hai, đánh giá lại rủi ro của đối tượng được kiểm toán: Khi lựa chọn đối
tuợng kiểm toán, KTV căn cứ trên sự đánh giá rủi ro của các đối tuợng kiểm toán
để sắp xếp thứ tự uu tiên Các đối tuợng kiểm toán có mức rủi ro cao hơn sẽ đuợckiểm toán truớc Tuy nhiên, đó là mức rủi ro đánh giá trên những thông tin hạn chế
mà KTV có đuợc Do đó, sau khi tìm hiểu và thu thập bằng chứng, KTV phải đánhgiá lại mức độ rủi ro trong hệ thống KSNB tại đối tuợng đuợc kiểm toán
Thứ ba, đánh giá sự đầy đủ của bằng chứng: KTV cần kiểm tra lại chuơng
trình kiểm toán để đảm bảo rằng mọi công việc đã đuợc hoàn thành đúng đắn vàgiấy tờ làm việc đã đuợc lập đầy đủ
* Bước 3: Lập báo cáo kiểm toán nội bộ và đưa ra những kiến nghị
Các nguyên tắc lập một báo cáo kiểm toán:
- KTV thảo luận về các kết luận và kiến nghị với các cấp quản lý thích hợpcủa đối tuợng đuợc kiểm toán truớc khi phát hành báo cáo kiểm toán cuối cùngbằng văn bản
- Báo cáo kiểm toán cần khách quan, rõ ràng, súc tích, có tính xây dựng vàkịp thời
- Báo cáo phải trình bày mục đích, phạm vi và kết quả của đợt kiểm toán
- Báo cáo đua ra kiến nghị về các cải tiến có khả năng thực hiện và thừa nhậncác thành quả hoặc các sửa đổi thỏa đáng
- Quan điểm của các đối tuợng đuợc kiểm toán về các kết luận và kiến nghị cóthể đuợc đua vào báo cáo kiểm toán
- Truởng ban KTNB hoặc nguời đuợc ủy quyền phải rà soát lại và phê chuẩnbáo cáo kiểm toán truớc khi phát hành