Khái niệm tổ chức công tác kế toán tại ngân hàng thương mại “Tổ chức công tác kế toán” là một khái niệm có nội hàm rộng, gồm nhiều hoạt động chuyên ngành được thực hiện tại các đơn vị, b
Trang 2C HANTHIDA C HANTHAVONG
TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI NGÂN HÀNG
NGOẠI THƯƠNG LÀO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - NĂM 2020
Trang 3HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
CHANTHIDA CHANTHAVONG
TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI NGÂN HÀNG
NGOẠI THƯƠNG LÀO
Chuyên ngành : Kế toán
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS PHAN THỊ ANH ĐÀO
HÀ NỘI - NĂM 2020
Ì1 [f
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nào khác Các bảng biểu, số liệu được thu thập và phân tích dựa trên nguồn số liệu của các văn bản quy phạm nhà nước Lào, Ngân hàng Nhà nước Lào, Ngân hàng Ngoại thương Lào Các nguồn tài liệu tham khảo được trích dẫn đầy đủ và trung thực.
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Chanthida C HANTHAVONG
Trang 5Để hoàn thành Luận văn với đề tài “Tổ chức công tác kế toán tại Ngân hàng Ngoại thương Lào'’”, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả
các cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong học tập và nghiên cứu.
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn tới Ban Giám hiệu Học viện Ngân hàng cùng các thầy, cô giáo trong Học viện ngân hàng đã giúp đỡ và hỗ trợ trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS PHAN THỊ ANH ĐÀO , cô
đã gợi mở những ý tưởng đầu tiên của luận văn và tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn đúng với mục tiêu đề ra.
Qua đây, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo Ngân hàng Ngoại thương Lào; các anh chị giao dịch viên tại bộ phận kế toán đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài này tại đơn vị.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Chanthida CHANTHA VONG
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 8
1.1 Khái quát về tổ chức công tác kế toán tại ngân hàng thương mại 8
1.1.1 Khái niệm tổ chức công tác kế toán tại ngân hàng thương mại 8
1.1.2 Các nguyên tắc và yêu cầu cơ bản của tổ chức công tác kế toán tại ngân hàng thương mại 10
1.1.3 Ý nghĩa tổ chức công tác kế toán trong quản lý ngân hàng thương mại 11
1.2 Nội dung tổ chức công tác kế toán tại ngân hàng thương mại 12
1.2.1 chức bộ máy kế toánTổ 12
1.2.2 chức chứng từ kế toánTổ 17
1.2.3 chức vận dụng tài khoản kế toán và hình thức kế toánTổ 21
1.2.4 chức báo cáo kế toánTổ 26
1.2.5 chức kiểm tra kế toánTổ 29
1.2.6 chức ứng dụng công nghệ thông tin vào tổ chức kế toánTổ 31
1.2.7 Kinh nghiệm về tổ chức công tác kế toán của một số ngân hàng thương mại và bài học kinh nghiệm cho Ngân hàng Ngoại thương Lào 33 thương mại ở một số nước trên thế giới 33
1.3.1 Bài học kinh nghiệm cho Ngân hàng Ngoại thương Lào 37
kết luận Chương 1 39
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG LÀO 40
1.1 Đặc điểm hoạt động và quản lý của Ngân hàng Ngoại thương chi phối tổ chức công tác kế toàn 40
Trang 71.1.2 Đặc điểm hoạt động và cơ chế quản lý của Ngân hàng Ngoạithương Lào 421.1.3 Đặc điểm chi phối đến tổ chức công tác kế toán của Ngân hàngNgoại thương Lào 46
1.2 Thực trạng tổ chức công tác kế toán tại Ngân hàng Ngoại thương Lào 52
1.2.1 Thực trạng tổ chức bộ máy kế toán 521.2.2 Thực trạng tổ chức hệ thốngchứng từ kế toán và ghi chép ban đầu 521.2.3 Thực trạng tổ chức hệ thống tài khoản kế toán 541.2.4 Thự
c trạng tổ chức lựa chọn hình thức kế toán và hệ thống sổ kế toán 561.2.5 Thực trạng tổ chức báo cáo kế toán và công khai tài chính 581.2.6 Tổ chức ứng dụng công nghệ thông tin vào tổ chức kế toán 61
1.3 Đánh giá thực trạng hệ thống tổ chức công tác kế toán tại Ngân hàng
Ngoại thương Lào 63
1.3.1 Những kết quả đạt được 631.3.2 Một số hạn chế và nguyên nhân 66
kết luận chương 2 71 CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ
Trang 8Chữ viết tắt Cụm từ đầy đủ
Agribank Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt
Nam
BCEL Ngân hàng Ngoại thương Lào (Banque Pour Le
Commerce Exterieur Lao Public)
BoL Ngân hàng Nhà nước Lào (Bank of the Lao PDR)
CPA Chứng chỉ kế toán công (Certified Public Accountant)
IAS Chuẩn mực kế toán quốc tế (International Accounting
Standards)
ICBC Ngân hàng Công thương Trung Quốc (Industrial and
Commercial Bank of China)
IESBA code Bộ luật đạo đức (Code of Ethics)
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý đối với tổ chức công tác kế
toán tại Ngân hàng Ngoại thương Lào 74
3.2.2 Giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại Ngân hàng Ngoại thương Lào 79
kết luận Chương 3 88
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 1 Công cụ tài chính tại Ngân hàng Ngoại thương Lào 94
PHỤ LỤC 2 Bảng cân đối kế toán Ngân hàng Ngoại thương Lào 96
PHỤ LỤC 4 Quyết định về việc ban hành quy định mẫu chứng từ kế toán áp dụng trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam 98
PHỤ LỤC 5 Quyết định về việc Ban hành hệ thống tài khoản kế toán Ngân hàng Nhà nước & Phát triển Nông thôn Việt Nam 99
Trang 9Committee and its successor International Financial Reporting Interpretation Committee)
IFRS Chuẩn mực lập Báo cáo tài chính quốc tế (International
Financial Reporting Standard)
LAS Chuẩn mực kế toán Lào (Laos Accounting Standards)
LCPAA Tổ chức kế toán viên và kiểm toán viên chuyên nghiệp
Lào (Lao Chamber of Professional Accountants and
Auditors)
PIEs Tổ chức có lợi ích đại chúng (Public Interest Entities)
Trang 11Hình 2.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức Ngân hàng Ngoại thương Lào 41
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Lào đang từng bước phát triển
và hội nhập với nền kinh tế thế giới Đi liền với đó là sự phát triển và đổi mớikhông ngừng của công tác kế toán, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản
lý kinh tế tài chính thông qua công cụ hữu hiệu này Kinh tế càng phát triển,
kế toán càng trở nên quan trọng trong việc cung cấp thông tin về kinh tế tàichính phục vụ cho công tác điều hành quá trình kinh doanh tại các tổ chức tàichính nói chung và các Ngân hàng nói riêng Do vậy, khuyến khích phát triển
và hoàn thiện hệ thống kế toán tài chính là một trong những chủ trương lớncủa Đảng và nhà nước Lào để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội,đồng thời đảm bảo sự phát triển bền vững nền kinh tế trong điều kiện hộinhập ngày càng sâu rộng với thế giới và khu vực
Là một công cụ thu thập, xử lý và cung cấp thông tin về các hoạt độngkinh tế cho các đối tượng khác nhau một cách thường xuyên và nhanh nhạy,
kế toán là một trong những nội dung quan trọng trong quản lý kinh tế Ngàynay, vai trò của kế toán không đơn giản chỉ là người ghi chép, lập báo cáo tàichính mà vai trò của kế toán đã được mở rộng và nâng cao hơn đó là phântích, thiết kế, đánh giá một hệ thống thông tin kế toán, tham gia tư vấn về tàichính cho nhà quản trị Đặc biệt, bộ máy kế toán trong các ngân hàng được tổchức khoa học, hợp lý sẽ giúp cho thông tin kế toán được cung cấp nhanhchóng, kịp thời, chính xác
Là một du học sinh người Lào tại Việt Nam, nhận thấy tầm quan trọngcủa công tác kế toán trong các ngân hàng, để hoàn thiện tổ chức công tác kế
toán tại một ngân hàng ở Lào, tác giả lựa chọn đề tài: “Tổ chức công tác kế
toán tại Ngân hàng Ngoại thương Lào'’” làm đề tài luận văn thạc sĩ của
mình
Trang 132 Tổng quan nghiên cứu
Tổ chức kế toán là công việc tổ chức bộ máy kế toán, vận dụng cácphương pháp kế toán để thu thập, xử lý, và cung cấp thông tin trên cơ sở chấphành nghiêm chỉnh các chính sách, chế độ tài chính hiện hành nhằm phát huyhết vai trò của hạch toán kế toán góp phần quản lý, điều hành đơn vị có hiệuquả Chính vì vậy trong những năm qua, đã có nhiều tác giả quan tâm nghiêncứu các giác độ, lĩnh vực, khía cạnh nghiên cứu khác nhau, trong đó, tổ chứccông tác kế toán tại ngân hàng cũng được quan tâm Qua tìm hiểu hệ thống tàiliệu nghiên cứu, tác giả nhận thấy có khá nhiều công trình nghiên cứu đến chủ
đề của luận văn như:
- Các vấn đề chung liên quan đến kế toán ngân hàng đã được đề cập
đến trong các giáo trình như Giáo trình “Giáo trình kế toán ngân hàng
thương mại” của Học viện Tài chính (2007, Nxb Tài Chính); “Giáo
toán” của Học viện Ngân hàng do Nhà giáo ưu tú Vũ Thiện Thập và TS.
Nguyễn Thị Thanh Hương biên soạn; “Giáo trình nguyên lý kế toán” do
PGS.TS Lê Văn Luyện chủ biên (2014, Nxb Lao động xã hội) Cáccông
trình này đã trình bày về những vấn đề cơ bản tổ chức công tác kế toántrong
hệ thống ngân hàng thương mại, kế toán nguồn vốn của ngân hàngthương
mại, kế toán tài sản phục vụ kinh doanh, kế toán nghiệp vụ kinh doanh,kế
toán nghiệp vụ thanh toán qua ngân hàng của khách hàng, kế toán thanhtoán
liên ngân hàng, kế toán thu nhập, chi phí và xác định kết quả kinh doanhbáo
Trang 14+ Vũ Thị Bích Ngọc (2009), “Hoàn thiện tổ chức kế toán nghiệp vụ
huy động và sử dụng vốn kinh doanh tại ngân hàng thương mại Việt Nam ”,
Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Côngtrình này tập trung nghiên cứu công tác tổ chức kế toán theo nghiệp vụ củangân hàng, đó là tổ chức kế toán nghiệp vụ huy động, sử dụng vốn kinh doanhtại các ngân hàng thương mại Trên cơ sở nghiên cứu lý luận tổ chức kế toánnghiệp vụ huy động, sử dụng vốn kinh doanh tại các ngân hàng thương mại,tác giả đã nghiên cứu mô hình tổ chức kế toán nghiệp vụ chủ yếu ở ngân hàngthương mại Việt Nam hiện nay để làm rõ và đánh giá thực trạng tổ chức kếtoán từng loại nghiệp vụ huy động và sử dụng vốn kinh doanh của ngân hàngthương mại Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện tổchức kế toán nghiệp vụ huy động và sử dụng vốn ở ngân hàng thương mạiViệt Nam
+ Nguyễn Thị Bích Ngọc (2009), “Hoàn thiện tổ chức hạch toán kế
toán với việc tăng cường kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam ”, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà
Nội Cũng nghiên cứu về công tác kế toán ngân hàng, nhưng đề tài này tậptrung vào nghiệp vụ tổ chức hạch toán kế toán (một phần của tổ chức công tác
kế toán) gắn với việc tăng cường kiểm soát nội bộ Mặc dù vậy, các vấn đềnghiên cứu về tăng cường kiểm soát nội bộ trong công tác kế toán của đề nàycũng là tài liệu tham khảo quan trọng cho tác giả trong việc đề xuất giải pháphoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại luận văn này
+ Các công trình Luận văn thạc sĩ tại Học viện Ngân hàng như:
Nghiêm Thị Hân (2018), “Tổ chức công tác kế toán tại Ngân hàng Thương
mại cổ phần An Bình ”, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Học viện Ngân hàng, Hà
Nội; Bùi Thế Hưng (2018), “ Tổ chức công tác kế toán tại Ngân hàng Thương
mại cổ phần Đông Nam Á thực trạng và giải pháp ”, Luận văn Thạc sĩ Kinh
Trang 15tế, Học viện Ngân hàng, Hà Nội; Trần Thị Hà (2019), “Tổ chức công tác kế
toán tại Ngân hàng Thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam ”, Luận văn
Thạc sĩ Kinh tế, Học viện Ngân hàng, Hà Nội; Nguyễn Hồng Hạnh (2019), Tổ
chức công tác kế toán tại Ngân hàng Thương mại trách nhiệm hữu hạn một thành viên Đại Dương, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Học viện Ngân hàng, Hà
Nội Nội dung các công trình này đã hệ thống hóa được các kiến thức, lý luận
về tổ chức công tác kế toán tại các ngân hàng thương mại cũng như mô hình
tổ chức bộ máy kế toán tại từng ngân hàng; thực trạng tổ chức công tác kếtoán tại ngân hàng cụ thể, những kết quả đạt được, những hạn chế còn tồn tại
từ đó để xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tổ chức kế toán ngânhàng Tuy nhiên, các giải pháp này được xây dựng phù hợp với những đặc thù
và chiến lược kinh doanh của từng ngân hàng cụ thể tại Việt Nam, không phùhợp với một Ngân hàng lớn tại Lào mà công trình đang nghiên cứu
Trên đây là tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài tại các
cơ sở đào tạo tại Việt Nam Qua tìm hiểu các tài liệu thực tế, tác giả nhận thấynội dung nghiên cứu của các công trình này đã giúp tác giả hệ thống lại cáckiến thức, lý luận về tổ chức công tác kế toán tại ngân hàng thương mại cũngnhư thực trạng tổ chức công tác kế toán tại một số ngân hàng Việt Nam hiệnnay, đây là tài liệu quan trọng để đánh giá và rút ra bài học kinh nghiệm choNgân hàng Ngoại thương Lào Tuy nhiên, mỗi công trình nghiên cứu này cómục tiêu, phương pháp cũng như phạm vi, đối tượng nghiên cứu khác nhau,hầu như gắn liền với một ngân hàng thương mại cụ thể tại Việt Nam Trong
số các du học sinh người Lào tại Việt Nam, thì chưa có tác giả nào tiến hànhnghiên cứu một cách cụ thể, toàn diện về tổ chức công tác kế toán tại ngânhàng Lào cụ thể Xuất phát từ khoảng trống trong các công trình nghiên cứu
đã phân tích ở trên, trong bối cảnh hệ thống ngân hàng thương mại của Làođang chuyển mình cùng với sự phát triển kinh tế đất nước, việc tác giả lựa
Trang 16chọn nghiên cứu về tổ chức công tác kế toán tại Ngân hàng Ngoại thương Lào
có giá trị cả về lý luận và thực tiễn và mang tính ứng dụng cao
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu, hệ thống hóa và góp ph ần làm rõ hơnnhững vấn đề lý luận về tổ chức công tác k ế toán tại các ngân hàngngoại
thương
- Qua khảo sát thực trạng tổ chức công tác kế toán tại ngân hàng Ngoạithương Lào những năm qua, đề tài phân tích, đánh giá thực trạng và rútra
những ưu điểm hạn chế của tổ chức công tác kế toán tại ngân hàng này
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề lýluận và thực trạng tổ chức công tác kế toán tại Ngân hàng Ngoại thươngLào
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu trong phạm vi Ngân hàngNgoại thương Lào, bao gồm những vấn đề có liên quan trong tổ chức
kế toán trong các năm từ 2016 - 2020
5 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu trên đây, nội dung đề tài phải trảlời các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Tổ chức công tác kế toán là gì, bao gồm những nội dung nào? Cácnguyên tắc, yêu cầu cơ bản và ý nghĩa của việc tổ chức công tác kế toántrong
Trang 17- Tại sao cần hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại Ngân hàng Ngoạithương Lào và những yêu cầu cơ bản của công tác này là gì?
- Cần thực hiện những giải pháp nào nhằm hoàn thiện tổ chức công tác
kế toán tại Ngân hàng Ngoại thương Lào trong thời gian tới?
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Dữ liệu nghiên cứu:
- Đối với tài liệu thứ cấp: Tác giả sử dụng các báo cáo tài chính, báocáo tổ chức bộ máy của Ngân hàng, sách tham khảo, nghiên cứu về đề
thông tin về thực trạng tổ chức công tác kế toán tại đơn vị Từ đó đưa racác
giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại Ngân hàngNgoại
thương Lào
6.2 Phương pháp thu thập dữ liệu:
Tác giả đã sử dụng tổng hợp các phương pháp để đạt được mục tiêunghiên cứu như sau:
- Nghiên cứu và tổng hợp tài liệu từ các công trình đã nghiên cứu trướcđây, các giáo trình, bài báo khoa học liên quan đến tổ chức công tác kếtoán
được phát hành và công bố Đây là những cơ sở lý luận quan trọng mà
Trang 18đến email và tiến hành phân tích dữ liệu Tác giả phân loại các thông tin theonhóm đối tượng, tiến hành phân tích tổng hợp và thống kê kết quả.
7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa khoa học: Luận văn hệ thống hóa và làm rõ thêm những vấn
đề lý luận về tổ chức công tác kế toán tại ngân hàng: nhiệm vụ, nguyên
nội dung tổ chức công tác kế toán
- Ý nghĩa thực tiễn: Thông qua khảo sát thực trạng về tổ chức công tác
kế toán tại Ngân hàng Ngoại thương Lào, luận văn đánh giá thực trạngcông
tác tổ chức công tác kế toán, qua đó nêu những kết quả đạt được, nhữnghạn
chế còn tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế, làm cơ sở cho việc
các giải pháp hoàn thiện
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và các phụlục, Luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức công tác kế toán tại ngân hàng thương mại;
Chương 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán tại Ngân hàng Ngoại
Trang 19CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC
KẾ TOÁN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát về tổ chức công tác kế toán tại ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm tổ chức công tác kế toán tại ngân hàng thương mại
“Tổ chức công tác kế toán” là một khái niệm có nội hàm rộng, gồm
nhiều hoạt động chuyên ngành được thực hiện tại các đơn vị, bộ phận kế toáncủa các doanh nghiệp, tổ chức Hiện nay, vẫn chưa có một khái niệm thốngnhất về tổ chức công tác kế toán nói chung và tổ chức công tác kế toán tạingân hàng thương mại nói riêng Có thể điểm qua một số khái niệm về tổchức công tác kế toán tiêu biểu có thể kể tới như sau:
Ở mức độ khái quát nhất, “Tổ chức công tác kế toán là những mối quan
hệ có yếu tố cấu thành bản chất của hạch toán kế toán, chứng từ kế toán, đối ứng tài khoản, tính giá, tổng hợp - cân đối kế toán” [4, tr.16] Tuy nhiên, khái
niệm này giải thích khá chung chung, việc hiểu và áp dụng trên thực tế khiếncác tổ chức gặp nhiều khó khăn
Một số học giả, nhà nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm riêng cụ thể
hơn Trong luận án tiến sĩ “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các
doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm tăng cường quản trị doanh nghiệp”, tiến sĩ
Ngô Thị Hồng Nhung đã đưa ra khái niệm “Tổ chức công tác kế toán là tổ
chức việc sử dụng các phương pháp kế toán để thực hiện việc phân loại, ghi chép, tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh phù hợp với Luật kế toán, Luật Ngân sách nhà nước và các chính sách, chế độ hiện hành; phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị” [3, tr.24] Khái niệm
này tuy đã mô tả cụ thể hơn các công việc trong tổ chức công tác kế toán,nhưng vẫn chưa bao hàm tới các hoạt động đặc thù như tổ chức bộ máy kếtoán, kiểm tra kế toán Nên chưa thể nói đây là một khái niệm đầy đủ về tổ
Trang 20chức công tác kế toán Trong Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Viện năm 2013
về “Tổ chức công tác kế toán trong các ngân hàng thương mại - thực trạng
và giải pháp"” do TS Trần Văn Hợi làm chủ nhiệm đã đưa ra khái niệm khá
đầy đủ và bao quát: “Tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị kế toán là
việc tổ chức người làm kế toán theo các phần hành kế toán cụ thể, thực hiện các phương pháp kế toán phù hợp với yêu cầu thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính, phù hợp với đặc điểm cụ thể của đơn vị nhằm đáp ứng yêu cầu thông tin phục vụ việc quản lý đơn vị” [6, tr.9].
Có thể nói, khái niệm “tổ chức công tác kế toán ” mặc dù được diễn đạt
theo các cách khác nhau, nhưng đều có điểm chung là đề cập tới các yếu tốchính trong tổ chức kế toán đó là: Đối tượng thực hiện là người làm kế toán;công cụ thực hiện là các phương pháp kế toán; yêu cầu: Phù hợp với mục tiêu,yêu cầu thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin tài chính; đảm bảophù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp; mục đích: Đáp ứng kịp thời, trungthực yêu cầu thông tin phục vụ công tác điều hành, quản lý sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp
Từ phân tích trên, tác giả xin đưa ra khái niệm về tổ chức công tác kế
toán tại ngân hàng thương mại như sau: Tổ chức công tác kế toán tại ngân
hàng thương mại là việc tổ chức các bộ phận kế toán một cách hợp lý và khoa học, bao gồm những người làm kế toán sử dụng các phương pháp kế toán cụ thể, đảm bảo phù hợp với mục tiêu, yêu cầu thu thập, ghi chép kịp thời đầy
đủ, chính xác các nghiệp vụ kinh tế - tài chính phát sinh của ngân hàng theo đúng chuẩn mực và chế độ kế toán; phù hợp với đặc điểm của mỗi ngân hàng thương mại nhằm đáp ứng kịp thời, trung thực yêu cầu thông tin phục vụ công tác điều hành và quản lý hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại.
Trang 211.1.2 Các nguyên tắc và yêu cầu cơ bản của tổ chức công tác kế toán tại
ngân hàng thương mại
Việc tuân theo các nguyên tắc và yêu cầu cơ bản của kế toán tại ngânhàng thương mại là yếu tố bắt buộc đảm bảo việc tổ chức công tác kế toánđược thực hiện một cách khoa học, hợp lý và hiệu quả Theo đó, có thể kể tớimột số nguyên tắc và yêu cầu cơ bản như sau:
Thứ nhất, tổ chức công tác kế toán tại ngân hàng thương mại phải đảm bảo tuân thủ các quy định trong hệ thống văn bản quy phạm hiện hành điều chỉnh công tác kế toán ngân hàng Pháp luật của mỗi quốc gia là công cụ để
quản lý và điều chỉnh các lĩnh vực, trong đó có kế toán Pháp luật kế toántrong hoạt động ngân hàng bao gồm tổng thể các quy định như Luật Kế toán,Luật Ngân hàng và hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành trong lĩnh vực
kế toán ngân hàng Đây là cơ sở pháp lý quan trọng có tính bắt buộc phải tuântheo, nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong lĩnh vực tổ chức công tác
kế toán trong ngân hàng
Thứ hai, tổ chức công tác kế toán tại ngân hàng thương mại phải tuân theo các nguyên tắc kế toán theo quy định của Luật Kế toán Luật Kế toán
Lào và Luật Kế toán Việt Nam đều quy định các nguyên tắc trong hoạt động
kế toán, nhằm đảm bảo cho hoạt động kế toán được thực hiện một cách đồng
Trang 22tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc ghi theo giá trị hợp lý của tài sản đóvào thời điểm tài sản được ghi nhận;
(iii) Phải đảm bảo nguyên tắc thống nhất và phù hợp giữa số liệu doanhthu và chi phí, cụ thể, chi phí tương ứng với doanh thu là chi phí của kỳ
thuộc hoạt động ngân hàng
Thứ ba, tổ chức công tác kế toán cần phù hợp với đặc điểm hoạt động,
tổ chức quản lý và trình độ nghiệp vụ của ngân hàng thương mại Nguyên tắc
này đảm bảo tính hợp lý khi mỗi ngân hàng thương mại có những đặc điểmriêng về mô hình tổ chức, trình độ quản lý cũng như quy mô hoạt động khácnhau Do đó, để xây dựng và thực hiện tổ chức công tác kế toán được hiệuquả cần phải bám sát với điều kiện thực tiễn tại các ngân hàng;
Thứ ba, tổ chức công tác kế toán phải đảm bảo tính tiết kiệm và khả thi Đây là yêu cầu chỉ đạo và thực hiện xuyên suốt ở bất kỳ doanh nghiệp, tổ
chức, đơn vị hay ngân hàng nào từ khâu tổ chức bộ máy phù hợp với điềukiện thực tiễn của mỗi ngân hàng, phương án tổ chức công việc theo nguyêntắc hạch toán kinh tế, giảm chi phí, có lãi và có tính khả thi
1.1.3 Ý nghĩa tổ chức công tác kế toán trong quản lý ngân hàng
Trang 23- Tổ chức công tác kế toán cung cấp các số liệu, phản ánh diễn biến cáchoạt động kinh tế của ngân hàng phục vụ cho công tác quản lý tài sản,khai
thác nguồn vốn; lập Báo cáo tài chính; Phân tích tài chính thông quahoạt
động thu nhận, xử lý, cung cấp và phân tích thông tin kinh tế Từ đó,người
quản trị có thể kiểm tra được tính hiệu quả từ tình hình hoạt động và
vốn của ngân hàng, có biện pháp xử lý kịp thời các rủi ro phát sinh và
kế hoạch phát triển tiếp theo trong từng kỳ kế toán
- Không chỉ dừng lại ở mức độ thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu, tổchức công tác kế toán tại ngân hàng còn phát triển ở mức cao hơn khikiểm
tra, giám sát chặt chẽ các khoản thu chi tài chính, quá trình sử dụng tàisản
của bản thân ngân hàng và của xã hội thông qua khâu kiểm soát của kếtoán,
góp phần tăng cường kỷ luật tài chính, củng cố cân đối hạch toán kinhtế
trong ngân hàng cũng như trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân
1.2 Nội dung tổ chức công tác kế toán tại ngân hàng thương mại
1.2.1 Tổ chức bộ máy kế toán
Bộ máy kế toán là khung xương vận hành toàn bộ công tác kế toán, baogồm những người làm công tác kế toán với các phương tiện ghi chép, tínhtoán thông tin phục vụ cho việc thu nhận, kiểm tra, xử lý và phân tích cácthông tin kinh tế, tài chính về hoạt động ngân hàng của mỗi ngân hàng Việc
Trang 24là, Tổng giám đốc/Giám đốc bố trí người làm kế toán, người chịu trách nhiệm
làm kế toán trưởng đảm bảo tiêu chuẩn, quyền hạn và nhiệm vụ theo đúngquy định của Luật Kế toán
Tổ chức bộ máy kế toán tại ngân hàng thương mại hiện nay được phânloại như sau:
(i) Ở cấp độ toàn bộ hệ thống ngân hàng, bộ máy kế toán có thể được tổchức theo:
- Mô hình kế toán tập trung
- Mô hình kế toán phân tán
- Mô hình kế toán tập trung kết hợp phân tán
(ii)Ở cấp độ một đơn vị/chi nhánh ngân hàng, bộ máy kế toán có thểđược tổ chức theo:
- Mô hình giao dịch nhiều cửa
- Mô hình giao dịch một cửa
1.2.1.1 Tổ chức bộ máy kế toán trong toàn hệ thống ngân hàng thương mại
a) Mô hình kế toán tập trung
Theo mô hình này, toàn hệ thống ngân hàng sẽ chỉ tổ chức một phòng
kế toán trung tâm ở trụ sở chính, các chi nhánh đều không tổ chức bộ máyriêng biệt Phòng kế toán trung tâm có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ công tác kếtoán của hệ thống ngân hàng, thu nhận, xử lý và hệ thống hóa toàn bộ thôngtin kế toán phục vụ cho quản trị kinh doanh ngân hàng và báo cáo ngân hàngnhà nước, cơ quan quản lý nhà nước khác
Tại các đơn vị/chi nhánh phụ thuộc hạch toán báo sổ, nhân viên kếtoán làm nhiệm vụ thu nhận, kiểm tra chứng từ ban đầu sẽ được bố trí đểđịnh kỳ hàng ngày chuyển chứng từ về phòng kế toán trung tâm hoặc trựctiếp thực hiện một số phần hành công việc kế toán cụ thể Nhân viên này
Trang 25định kỳ có trách nhiệm lập báo cáo nội bộ kèm theo chứng từ góc về phòng
kế toán trung tâm
Việc tổ chức bộ máy kế toán theo mô hình này có ưu điểm lớn nhất làgiúp việc quản lý khối lượng công việc và phân công công việc trong bộ máymột cách chặt chẽ; thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin phục vụđiều hành hoạt động ngay tại hội sở chính; Tập trung hóa tài khoản Tuynhiên, để áp dụng được mô hình này, đòi hỏi ngân hàng phải có kết nối mạngđiện tử nội bộ với trình độ công nghệ cao, đáp ứng các yêu cầu về luânchuyển chứng từ, tài liệu kế toán điện tử và việc thực hiện các phần hành kếtoán một cách nhanh chóng Do đó, mô hình này sẽ không phù hợp đối vớicác ngân hàng mà khả năng ứng dụng công nghệ thông tin kém
b) Mô hình kế toán phân tán
Đây là mô hình bổ sung so với mô hình kế toán trung tâm Theo đó,bên cạnh phòng kế toán trung tâm ở trụ sở chính, tất cả các đơn vị trực thuộcđều có phòng kế toán riêng Hay nói cách khác, việc tổ chức theo mô hình kếtoán phân tán đồng nghĩa với việc phân cấp quản lý hoạt động kinh doanh chocác đơn vị phụ thuộc Các đơn vị phụ thuộc có nguồn vốn riêng, được chủđộng trong việc hạch toán, thực hiện các động kinh doanh
Khi áp dụng mô hình kế toán phân tán, các bộ phận kế toán có nhiệm
vụ như sau:
- Phòng kế toán trung tâm tại trụ sở chính có trách nhiệm thực hiện cácphần hành công việc kế toán phát sinh tại trụ sở chính và công tác tài chínhcủa ngân hàng; Hướng dẫn, kiểm tra công tác kế toán ở các đơn vị kế toánphụ thuộc; Thu nhận, kiểm tra báo cáo kế toán của các đơn vị trực thuộc gửilên cùng với báo cáo kế toán ở trụ sở chính để lập báo cáo kế toán tổng hợpcủa toàn đơn vị pháp nhân ngân hàng
Trang 26- Phòng kế toán tại các đơn vị kế toán phụ thuộc có trách nhiệm thựchiện toàn bộ công tác kế toán phát sinh tại đơn vị mình; tổ chức thu nhận, xử
lý, hệ thống hóa toàn bộ thông tin kế toán ở đơn vị mình để lập báo cáo kếtoán, định kỳ cuối tháng gửi về phòng kế toán trung tâm, gửi Ngân hàng nhànước trên địa bàn Từng đơn vị trực thuộc phải căn cứ khối lượng công tác kếtoán ở đơn vị mình để xây dựng bộ máy kế toán cho phù hợp
Việc tổ chức bộ máy theo mô hình kế toán phân tán có ưu điểm là côngtác kế toán được thực hiện sâu sát ngay tại đơn vị trực thuộc, tạo điều kiệncho việc quản lý, kiểm tra công tác kế toán tại chỗ được kịp thời và cụ thể.Tuy nhiên, hạn chế của mô hình này là khá “kén” hệ thống ngân hàng thươngmại áp dụng do quy mô của các đơn vị này phải thực sự có nguồn lực và khảnăng để quản lý và hoạt động tốt Bên cạnh đó, việc kết nối thông tin với hội
sở chính rời rạc khiến việc đáp ứng yêu cầu thông tin phục vụ công tác lãnhđạo chung cho toàn hệ thống bị chậm trễ cũng là một hạn chế khi áp dụng môhình này
c) Mô hình kế toán vừa tập trung vừa phân tán
Mô hình này khá giống với mô hình kế toán phân tán khi vẫn giữphòng kế toán trung tâm tại trụ sở chính và hệ thống các tổ chức kế toán riêngtại các đơn vị kế toán phụ thuộc Tuy nhiên, điểm khác biệt là mô hình nàylinh hoạt hơn rất nhiều, ở chỗ các đơn vị kế toán phụ thuộc tùy thuộc vào quy
mô và trình độ cán bộ quản lý mà có thể có hoặc không thành lập tổ chức kếtoán riêng Đối với các đơn vị có tổ chức kế toán riêng, việc hoạt động vẫnđược thực hiện theo nguyên tắc như mô hình kế toán phân tán Thông thường
là các ngân hàng có quy mô tương đối lớn, trình độ quản lý và trình độ độingũ người làm kế toán tương đối tốt và ở xa trụ sở ngân hàng chính
Đối với các đơn vị mà không có tổ chức kế toán riêng thì sẽ bố trí nhânviên kế toán làm nhiệm vụ hạch toán ban đầu, thu nhận và kiểm tra chứng từ
Trang 27ban đầu để định kỳ gửi về phòng kế toán trung tâm Các ngân hàng trong hệthống không có tổ chức kế toán riêng thường là những ngân hàng có quy mônhỏ, trình độ quản lý và trình độ chuyên môn của người làm kế toán chưa cao,đơn vị ở gần trụ sở ngân hàng chính.
Việc áp dụng mô hình kế toán vừa tập trung vừa phân tán có ưu điểmlớn nhất trong việc linh hoạt giao quyền cho đơn vị phụ thuộc trong việc tổchức kế toán phù hợp với đặc điểm của đơn vị, đồng thời tạo điều kiện gắncông tác kế toán với các hoạt động trong đơn vị mình
1.2.1.2 Tổ chức bộ máy kế toán tại đơn vị/chi nhánh ngân hàng thương mại
a) Mô hình giao dịch nhiều cửa
Đây là mô hình tổ chức truyền thống của các ngân hàng, trong điềukiện trình độ ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức kế toán còn thấp.Theo mô hình này, người làm kế toán chỉ làm nhiệm vụ kiểm soát chứng từ
và hạch toán vào sổ sách kế toán theo quy định Tất cả các giao dịch liên quantới tiền mặt, khách hàng phải nộp/nhận từ quỹ chính của ngân hàng Hạn chếlớn nhất của mô hình này là buộc khách hàng phải thao tác qua nhiều giaiđoạn, nhiều cửa để hoàn thành giao dịch của mình, do đó, thủ tục rất rườm rà,nặng nề và tốn nhiều thời gian Khi nhân viên nhập liệu rất dễ xảy ra sai xót,kéo theo một chuỗi các khâu tiếp sau, gây thiệt hại tới quyền và lợi ích củakhách hàng cũng như ngân hàng Hơn nữa, công tác kiểm tra, giám sát kế toántrong mô hình này cũng gặp khó khăn do việc thực hiện dàn trải, qua nhiềugiai đoạn và nhiều bộ phận cùng tham gia
b) Mô hình giao dịch một cửa
Giao dịch một cửa là mô hình cải cách thành công của mô hình giaodịch nhiều cửa, có sự trợ giúp quan trọng của việc ứng dụng công nghệthông tin Theo đó, khách hàng khi tới giao dịch với ngân hàng chỉ cần giao
Trang 28dịch với một cán bộ ngân hàng hay còn gọi là giao dịch viên Giao dịch viênvừa có trách nhiệm làm nhiệm vụ kế toán, vừa là thủ quỹ thực hiện thu, chitiền có hạn mức, xử lý nghiệp vụ phù hợp với trình độ, kinh nghiệm làmviệc của mình.
Tại mô hình này, ưu điểm lớn nhất là rút ngắn được thời gian giao dịch,nâng cao chất lượng dịch vụ Đồng thời, việc thực hiện mô hình giao dịch mộtcửa giúp ngân hàng tăng cường khả năng quản lý điều hành công việc trênmọi phương diện như quản lý vay vốn, quản lý cho vay và khả năng thanhtoán Bên canh đó, việc kiểm tra, giám sát sẽ được thực hiện một cách tậptrung và thường xuyên theo nguyên tắc: Đối với các giao dịch trong hạn mức,giao dịch viên có quyền kiểm tra chứng từ, thực hiện giao dịch và thu/chi tiềncủa khách hàng ngay tại thời điểm làm việc Đối với các giao dịch trên hạnmức, giao dịch viên cần phải được kiểm soát viên phòng nghiệp vụ kiểm tra,đối chiếu và phê duyệt trên hệ thống máy tính cũng như trên chứng từ trướckhi thực hiện thu/chi tiền của khách hàng Ngoài ra, quy trình luân chuyển vàbảo quản chứng từ kế toán cũng được đơn giản hóa, tiết kiệm được chi phícho ngân hàng
1.2.2 Tổ chức chứng từ kế toán
Tổ chức chứng từ kế toán là giai đoạn đầu tiên trong quy trình kế toán
và có tác động trực tiếp tới tính khách quan, trung thực của số liệu kế toán vàbáo cáo kế toán Chứng từ kế toán trong ngân hàng thương mại là các căn cứchứng minh bằng giấy tờ hoặc điện tử các nghiệp vụ kinh tế tài chính đã phátsinh và hoàn thành theo mẫu quy định, phù hợp với thời điểm phát sinh và địađiểm thiết lập của chứng từ Chứng từ kế toán là cơ sở pháp lý để hạch toánghi sổ kế toán tại các ngân hàng thương mại Do đó, việc lập chứng từ kế toán
là để ghi nhận đơn vị, cá nhân chịu trách nhiệm trước pháp luật về nghiệp vụphát sinh
Trang 29Chứng từ kế toán ngân hàng rất đa dạng và khá phức tạp theo từng tiêuchí Theo tính chất pháp lý mà chứng từ kế toán được chia thành: (i) Chứng từgốc: là căn cứ pháp lý chứng minh cho một nghiệp vụ kinh tế tài chính phátsinh và đã hoàn thành; (ii) Chứng từ ghi sổ: là chứng từ phản ảnh các nghiệp
vụ kinh tế phát sinh vào sổ sách kế toán Đây là loại chứng từ phổ biến được
áp dụng tại các ngân hàng thương mại Theo mục đích sử dụng và nội dungnghiệp vụ kinh tế, chứng từ kế toán ngân hàng được phân loại thành: Chứng
từ tiền mặt; chứng từ chuyển khoản; bảng kê các loại; giấy báo liên hàng; lệnhchuyển tiền sử dụng trong chuyển tiền điện tử; các chứng từ hạch toán tài sản
và chứng từ ngoại bảng Theo nguồn gốc, chứng từ kế toán ngân hàng đượcchia thành chứng từ gốc do khách hàng lập, mang đến giao dịch với ngânhàng; chứng từ gốc do tổ chức tín dụng khác phát sinh trong quan hệ với tổchức tín dụng thực hiện; chứng từ góc phát sinh trên cơ sở các thông tin, dữliệu đầu vào trong hệ thống thông tin của tổ chức tín dụng và tạo ra các dữliệu kết quả; chứng từ gốc phát sinh phục vụ các giao dịch nội bộ của tổ chứctín dụng
Chứng từ kế toán ngân hàng mang những đặc thù riêng, khác với chứng
từ kế toán của nhà nước Điều này xuất phát từ việc chứng từ kế toán ngânhàng được ban hành bởi ngân hàng - chủ thể đóng vai trò là một tổ chức trunggian tài chính với hoạt động kinh doanh tài chính đặc thù Chứng từ kế toánngân hàng tại Việt Nam được Tổng cục thống kê và Bộ tài chính chấp thuận.Tại Lào, chứng từ kế toán ngân hàng do ngân hàng nhà nước ban hành và ápdụng trong lĩnh vực ngân hàng Bên cạnh đó, phần đa chứng từ kế toán ngânhàng do khách hàng lập và nộp vào ngân hàng để thực hiện các nghiệp vụ nênchất lượng của chứng từ phụ thuộc vào khách hàng cũng như chất lượng kiểmsoát chứng từ của khách hàng Bên cạnh đó, với khối lượng giao dịch lớnđược thực hiện mỗi ngày và sự đa dạng trong nghiệp vụ, chứng từ ngân hàng
Trang 30có nhiều chủng loại, hoạt động luân chuyển chứng từ cũng diễn ra với nhữngđặc thù riêng.
* Tổ chức lập chứng từ kế toán ngân hàng:
Lập chứng từ kế toán ngân hàng và việc phản ánh các nghiệp vụ kinh tếphát sinh theo những mẫu đã quy định làm cơ sở cho việc hạch toán, kiểmsoát, kiểm toán và thanh tra sau này
Thông thường, các chứng từ kế toán ngân hàng mặc dù có nhiều loại vàchủng loại nhưng đều phải thể hiện được các yếu tố cơ bản sau:
- Tên gọi và số hiệu
- Bên lập chứng từ: tên gọi, địa chỉ và số hiệu Tài khoản ngân hàng
- Bên nhận chứng từ: tên gọi, địa chỉ và số hiệu Tài khoản ngân hàng
- Nội dung phát sinh nghiệp vụ
- Số tiền (bằng số, bằng chữ)
- Thời gian: thời điểm lập, nhận chứng từ
- Dấu chữ ký của các bên có liên quan
* Kiểm soát chứng từ:
Kiểm soát chứng từ là hoạt động quan trọng trong việc đảm bảo tínhđúng đắn về nội dung và hợp lệ về hình thức theo các yêu cầu của ngân hàngđặt ra để thực hiện các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
Việc kiểm soát chứng từ sẽ được thực hiện qua 2 giai đoạn, kiểm tratrước và kiểm tra sau khi lập chứng từ Tại giai đoạn kiểm tra trước, nhữngchủ thể có quyền kiểm tra bao gồm kế toán viên, thanh toán viên, giao dịchviên, thủ quỹ Các nội dung kiểm tra sẽ bao gồm việc xem xét chứng từ đó lập
có đúng quy định không, nội dung nghiệp vụ phát sinh có phù hợp không, dấu
và chữ ký của khách hàng, các bên liên quan đã đầy đủ và đúng thẩm quyềnchưa (đối với khách hàng là doanh nghiệp)
* Luân chuyển chứng từ:
Trang 31Luân chuyển chứng từ là quy trình bao gồm các giao đoạn cho thấy
“đường đi ” của chứng từ kế toán ngân hàng từ khi có phát sinh tới lúc hoàn
thành ghi sổ kế toán và được đưa vào bảo quản lưu trữ Ý nghĩa của việc xâydựng quy trình luân chuyển chứng từ kế toán ngân hàng rất quan trọng, đảmbảo cho bộ phận kế toán có thể thực hiện kiểm tra nội dung nghiệp vụ kinh tếtài chính phản ánh trên chứng từ; Kịp thời ghi chép hạch toán và cung cấpthông tin cho các lãnh đạo, quản lý ngân hàng về hoạt động kinh doanh củangân hàng
Thông thường, các bước luân chuyển chứng từ bao gồm:
Bước 1: Thu nhận và lập chứng từ
Bước 2: Kế toán viên, kế toán trưởng kiểm tra và ký chứng từ kế toánhoặc trình Giám đốc ngân hàng duyệt Đây là bước quan trọng nhất trong giaiđoạn luân chuyển chứng từ nhằm đảm bảo tính chính xác cho việc ghi chép vàcung cấp thông tin cho các bước tiếp theo
Bước 3: Thực hiện lệnh thu chi
Bước 4: Kiểm tra cuối ngày và tổng hợp chứng từ phát sinh
Bước 5: Sắp xếp xử lý, tổ chức bảo quản lưu trữ chứng từ
* Bảo quản, lưu trữ các loại chứng từ:
Chứng từ kế toán được lưu tại phòng kế toán trong một năm Công tácbảo quản, lưu trữ chứng từ phải đảm bảo yêu cầu dễ tra cứu, không được thấtlạc và tuân theo đúng thời gian bảo quản
Bên cạnh chứng từ giấy, thì chứng từ điện tử cũng được áp dụng phổbiến tại ngân hàng thương mại Để sử dụng chứng từ điện tử thì các ngânhàng điện tử cần đảm bảo các điều kiện về: Có khả năng trang bị phần cứng,phần mềm và chất lượng đường truyền tốt, phù hợp với nhu cầu khai thác,kiểm soát việc xử lý, luân chuyển và lưu trữ chứng từ Bên cạnh đó, trình độcủa đội ngũ kế toán, giao dịch viên cũng phải tương xứng với yêu cầu kỹ
Trang 32thuật để thực hiện quy trình lập, xử lý, sử dụng, bảo quản lưu trữ chứng từđiện tử theo quy trình kế toán và thanh toán Tổ chức, cá nhân sử dụng chứng
từ điện tử để giao dịch, thanh toán qua ngân hàng bắt buộc phải có các điềukiện về chữ ký điện tử Chữ ký điện tử đóng vai trò là hình thức xác nhận vàbảo đảm các hoạt động diễn ra do chứng từ điện tử của mình lập theo đúngcác quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm với những thiệt hại xảy ra
1.2.3 Tổ chức vận dụng tài khoản kế toán và hình thức kế toán
a) Tổ chức vận dụng tài khoản kế toán
Ở góc độ khái quát nhất, tài khoản kế toán là công cụ kế toán quantrọng để ghi chép, phản ánh một cách thường xuyên, liên tục và có hệ thốngquá trình vận động của tài sản, nguồn vốn theo nghiệp vụ kinh tế phát sinh.Việc tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán trong ngân hàng thươngmại phải đảm bảo các nguyên tắc như:
- Phản ảnh đầy đủ, chi tiết và trung thực các loại vốn và nguồn củangân hàng;
- Đảm bảo sự tiện lợi cho quá trình ghi chép từ chi tiết tới tổng quát;
- Đáp ứng yêu cầu cơ giới hóa trong kế toán ngân hàng;
- Đảm bảo sự ổn định tương đối của hệ thống tài khoản, sử dụng đượctrong hiện tại và tương lai
- Đảm bảo sự thống nhất của tài khoản giữa hai cấp ngân hàng và trongtoàn hệ thống, tạo điều kiện cho việc điều hành toàn hệ thống ngân hàngcủa
ngân hàng nhà nước
Các tài khoản kế toán được tập hợp thành danh mục, trong đó mỗi tàikhoản có tên gọi phù hợp với nội dung kinh tế của đối tượng kế toán mà nóphản ánh, có số hiệu riêng và được sắp xếp theo trật tự khoa học nhất định.Thông thường tại các nước khu vực châu Á, Bộ Tài chính sẽ ban hành hệthống tài khoản được áp dụng chung cho tất cả các ngành Trên cơ sở đó và
Trang 33dựa vào đặc thù của lĩnh vực ngân hàng, ngân hàng nhà nước và các ngânhàng thương mại sẽ ban hành danh mục tài khoản kế toán để áp dụng phù hợpvới đặc điểm hoạt động của đơn vị mình.
Trong danh mục tài khoản kế toán, tài khoản kế toán được bố trí theotrình tự: (1) Loại, (2) tài khoản tổng hợp, (3) tài khoản phân tích, (4) kí hiệutiền tệ, trong đó:
- Loại: Phân bổ tài khoản kế toán theo nội dung nghiệp vụ hay loại tàisản, bao gồm:
+ Loại 1 - 8: Tài khoản nội bảng
+ Loại 9: Tài khoản ngoại bảng
- Tài khoản tổng hợp: Tài khoản tổng hợp được bố trí thành 5 cấp:
• Tài khoản tổng hợp cấp 1: Tài khoản tổng hợp cấp 1: Chi tiết hóaloại
• Kí hiệu: 2 chữ số (chữ số thứ nhất: chỉ loại, chữ số thứ 2: thứ tự củaTài khoản tổng hợp trong Loại)
• Tài khoản tổng hợp cấp 2: Chi tiết hóa Tài khoản tổng hợp cấp 1
• Kí hiệu: 3 chữ số (2 chữ số đầu: Số hiệu Tài khoản tổng hợp cấp 1,chữ số thứ 3: thứ tự của Tài khoản tổng hợp cấp 2 trong Tài khoảntổng hợp cấp 1)
• Tài khoản tổng hợp cấp 3: Chi tiết hóa Tài khoản tổng hợp cấp 2
• Ký hiệu: 4 chữ số (3 chữ số đầu: Số hiệu Tài khoản tổng hợp cấp 2,chữ số thứ 4: thứ tự của Tài khoản tổng hợp cấp 3 trong Tài khoảntổng hợp cấp 2)
Sơ đồ:
Loại → Tài khoản tổng hợp cấp 1 → Tài khoản tổng hợp cấp 2 → Tàikhoản tổng hợp cấp 3 → → Tài khoản tổng hợp cấp 5
Trang 34Ngân hàng nhà nước quy định tính chất thống nhất của Tài khoản tổnghợp cấp 1, 2, 3 còn cấp 4, 5 do Tổng Giám đốc của ngân hàng thương mạiquyết định.
- Tài khoản chi tiết:
Số hiệu tài khoản chi tiết gồm 2 bộ phận: Số hiệu Tài khoản tổng hợp
và số hiệu tiểu khoản
- Hình thức kế toán trên máy vi tính
Việc áp dụng hình thức kế toán này hay hình thức kế toán khác là tuỳthuộc vào quy mô, đặc điểm sản xuất kinh doanh và trình độ quản lý của cácdoanh nghiệp và quy định về đối tượng mà đơn vị kế toán lựa chọn cho phùhợp Thông thường, các Ngân hàng thường áp dụng hình thức Nhật ký -chứng từ và Nhật ký - sổ cái [21, tr.34], cụ thể:
(i) Hình thức Nhật ký - chứng từ
Trang 35Thứ nhất, các loại sổ kế toán: Những sổ sách kế toán chủ yếu được sử
dụng trong hình thức kế toán Nhật ký - Chứng từ bao gồm:
- Nhật ký chứng từ: là sổ kế toán tổng hợp kết hợp hệ thống cácnghiệp vụ kinh tế phát sinh theo trình tự thời gian và phân loại theo nội dungkinh tế
- Bảng kê: Bảng kê được sử dụng trong trường hợp, khi các chỉ tiêuhạch toán chi tiết của một số tài khoản không thể kết hợp trực tiếp trênnhật
ký chứng từ được
- Sổ cái: là sổ kế toán tổng hợp mở cho cả năm, mỗi trang sổ dùng chomột tài khoản, trong đó phản ánh số phát sinh Nợ, số phát sinh Có và sốdư
cuối tháng
- Sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết
Căn cứ để ghi vào sổ sách kế toán chủ yếu trong hình thức nhật kýchứng từ là các chứng từ gốc Tuy nhiên, để đơn giản và hợp lý công việc ghichép kế toán hàng ngày còn sử dụng hai loại chứng từ tổng hợp phổ biến làbảng phân bổ và tờ khai chi tiết
Thứ hai, trình tự ghi sổ:
Hàng ngày căn cứ vào các chứng từ gốc đã được kiểm tra lấy số liệughi trực tiếp vào nhật ký chứng từ hoặc bảng kê có liên quan Trường hợp ghihàng ngày vào bảng kê thì cuối tháng phải chuyển số liệu tổng của bảng kêvào nhật ký chứng từ Cuối tháng, cộng các sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết, lậpcác bảng tổng hợp chi tiết theo từng tài khoản để đối chiếu với sổ cái
Sau khi đối chiếu khớp đúng, số liệu ở sổ cái và một số chỉ tiêu chi tiếttrong nhật ký chứng từ, bảng kê và các bảng tổng hợp chi tiết là cơ sở để lậpbảng cân đối kế toán và các báo cáo kế toán khác
Trang 36Thứ nhất, các loại sổ kế toán: Các loại sổ kế toán của hình thức Nhật
ký - Sổ cái bao gồm các loại sổ sách chủ yếu sau đây:
- Nhật ký - Sổ cái: là một quyển sổ kế toán tổng hợp duy nhất, có sựkết hợp chặt chẽ giữa phần Nhật ký để ghi chép các nghiệp vụ kinh tếtài
chính phát sinh theo trình tự thời gian, với phần Sổ cái để phân loại cácnghiệp vụ kinh tế đó theo các tài khoản kế toán
Nhật ký - Sổ cái gồm nhiều trang, mỗi trang có 2 phần: một phần dùnglàm sổ nhật ký gồm các cột: ngày tháng, số hiệu của chứng từ, trích yếu nộidung nghiệp vụ kinh tế và số tiền
- Các sổ và thẻ kế toán chi tiết: Sổ và thẻ kế toán chi tiết trong hìnhthức Nhật ký - Sổ cái lĩnh vực ngân hàng gồm:
+ Sổ thẻ kế toán chi tiết tài sản cố định, khấu hao tài sản cố định và vốnkinh doanh
+ Sổ kế toán chi tiết các loại vốn bằng tiền (như: sổ quỹ tiền mặt, tiềngìn ngân hàng và vốn bằng tiền khác)
+ Sổ chi tiết tiền vay (vay ngắn hạn ngân hàng, vay dài hạn ngân hang).+ Sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết các khoản khác tuỳ theo yêu cầu quản lý
từ, diễn giải nội dung và số tiền của nghiệp vụ trong phần nhật ký, sau đó ghi
số tiền của nghiệp vụ vào cột ghi Nợ và cột ghi Có của các tài khoản có liên
Trang 37quan trong phần sổ cái Cuối tháng, sau khi phản ánh toàn bộ các nghiệp vụkinh tế tài chính phát sinh trong tháng vào Nhật ký - Sổ cái.
Chứng từ gốc sau khi ghi Nhật ký - Sổ cái được chuyển ngay đến các
bộ phận kế toán chi tiết có liên quan để ghi vào sổ hoặc thẻ kế toán của từngtài khoản
Cuối tháng nhân viên các phần hành kế toán chi tiết cộng các sổ hoặcthẻ kế toán chi tiết và căn cứ vào số liệu của các sổ hoặc thẻ kế toán chi tiếtlập bảng tổng hợp chi tiết của từng tài khoản tổng hợp để đối chiếu với số liệutrên tài khoản tổng hợp trong Nhật ký - Sổ cái
1.2.4 Tổ chức báo cáo kế toán
Tổ chức báo cáo kế toán trong ngân hàng thương mại là giai đoạn quantrọng, nhằm tổng hợp các thông tin dữ liệu phục vụ cho hoạt động quản trị, từ
đó giúp người quản trị nắm được tổng quan tình hình phát triển của ngânhàng, từ đó có những biện pháp và hoạch định phát triển tiếp theo Trên cơ sởcác quy định hiện hành của pháp luật, tổ chức báo cáo kế toán trong ngânhàng thương mại cũng nằm trong phạm vi của các doanh nghiệp thuộc hoạtđộng kinh doanh, theo đó, tổ chức báo cáo kế toán bao gồm các bước sau:
a) Tổ chức công tác lập Báo cáo kế toán
Trong bước này, ngân hàng thương mại cần lập các báo cáo tài chínhvào cuối kỳ toán Lập Báo cáo kế toán là việc bắt buộc theo chuẩn mực kếtoán, chế độ kế toán và quy định cụ thể của mỗi ngân hàng theo các biểu mẫu
và phương pháp lập Theo đó, việc lập báo cáo kế toán của ngân hàng thươngmại bao gồm các 5 Báo cáo như sau:
- Bảng cân đối tài khoản, bao gồm: (i) Bảng cân đối tài khoản nội bảngcấp IV có vai trò kiểm tra độ chính xác của các tài khoản, tổng hợp số dư cuối
kỳ, số phát sinh tài khoản dùng để đối chiếu giữa các bảng chi tiết, bảng tổnghợp và làm căn cứ để lập các báo cáo tài chính tiếp theo; (ii) Bảng cân đối tài
Trang 38khoản ngoại bảng cấp V cũng có nội dung tương tự như Bảng cân đối tàikhoản nội bảng cấp IV nhưng ở mức độ chi tiết hơn.
- Bảng cân đối kế toán: Tài liệu này cho thấy thông tin tổng quát vềtình hình tài sản và nguồn vốn của ngân hàng dưới hình thức tiền tệ tạimột
thời điểm cụ thể, là phương tiện để người quản trị đánh giá được thực
trình độ quản lý, chất lượng kinh doanh cũng như dự đoán được việc cóthực
hiện được mục tiêu đã đề ra hay không
về nguyên tắc lập, Bảng cân đối kế toán phải thể hiện rõ ràng tài sản và
nguồn vốn trong ngân hàng về mặt giá trị; phản ánh tài sản theo hai mặt là cơcấu và nguồn hình thành nên tổng tài sản phải luôn bằng tổng nguồn vốn Khiđảm bảo các yếu tố này, Bảng cân đối kế toán là cơ sở chính xác và đáng tincậy để đánh giá tổng quan về hiệu quả sử dụng vốn, mức độ huy động vốncũng như kết quả hoạt động của ngân hàng
về kết cấu, Bảng cân đối được chia thành hai phần, bao gồm: Phần nội
bảng gồm có các nội dung về tài sản nợ (vốn huy động, vốn vay) và tài sản có(tiền dự trữ, các khoản đầu tư chứng khoản, các khoản mục tín dụng, tài sản
cố định) Như đã dẫn về nguyên tắc lập, thì tổng tài sản có phải luôn bằngtổng tài sản nợ; Phần ngoại bảng: Phần này ghi nhận và theo dõi các khoảnchưa đủ điều kiện để xem là tài sản nợ hay tài sản có, nhưng lại tác động trựctiếp tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: Đây là bản báo cáo tài chínhtổng hợp, thể hiện các con số cụ thể cho thấy tình hình doanh thu, chi
kết quả kinh doanh, đồng thời cũng phản ánh việc thực hiện nghĩa vụvới
Trang 39đánh giá được tình hình hoạt động của ngân hàng tại thời điểm báo cáo, từ đó
có những biện pháp và hướng đi phù hợp để đảm bảo thực hiện mục tiêu đã
đề ra
Nội dung Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được tổ chức gồm 2phần: Phần I ghi nhận lãi, lỗ theo hoạt động kinh doanh chính và các hoạtđộng khác, bao gồm các chỉ tiêu về: Thu nhập thuần từ lãi; Thu nhập thuần từhoạt động dịch vụ; Thu nhập thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối; Thunhập thuần từ hoạt động kinh doanh, đầu tư chứng khoản; Thu nhập thuần từcác hoạt động kinh doanh khác; Chi phí dự phòng; Lợi nhuận trước thuế;Thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp; Lợi nhuận sau thuế Phần II ghi nhậntình hình thực hiện nghĩa vụ Ngân sách nhà nước về thuế, phí, lệ phí
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: Đây là loại báo cáo tài chính tổng hợp, ghi
nhận việc hình thành và “đường đi ” của lượng tiền phát sinh trong kỳ
nguồn thu cho ngân hàng và khả năng sinh lợi trong tương lai
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ gồm các nội dung về: Lưu chuyển tiền từhoạt động kinh doanh; Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư và lưu chuyểntiền từ hoạt động tài chính
- Bản thuyết minh Báo cáo tài chính: Tài liệu này được lập nhằm giảithích và bổ sung thêm các thông tin về tình hình hoạt động kinh doanh
Trang 40giảm tài sản cố định; Báo cáo tình hình tăng, giảm nguồn vốn và sử dụng vốn;Báo cáo tài sản và công nợ của ngân hàng theo thời gian đáo hạn.
b) Tổ chức công tác phân tích báo cáo kế toán:
Đây là giai đoạn tiếp theo việc lập hệ thống báo cáo tài chính Tổ chứccông tác phân tích báo cáo tài chính là việc thiết lập các bước cần có trongquy trình phân tích Báo cáo Tại các ngân hàng thương mại, việc phân tíchbáo cáo kế toán thường được tiến hành qua 03 bước:
Bước 1: Tổ chức lập kế hoạch phân tích
Bước 2: Tổ chức thực hiện công tác phân tích
Bước 3: Tổ chức báo cáo kết quả phân tích
Việc phân tích báo cáo kế toán trong ngân hàng thương mại dựa trên hệthống các chỉ tiêu phân tích tốc độ tăng trưởng huy động vốn, tình trạng tàisản cố định, tỷ lệ tài sản có lời so với nguồn vốn phải trả, chỉ tiêu phản ánhtình hình và chất lượng tín dụng, tình hình dự trữ Trong đó, tốc độ tăngtrưởng huy động vốn là chỉ tiêu quan trọng nhất Tốc độ tăng trưởng huy độngvốn song hành với tốc độ phát triển của ngân hàng, cho thấy quy mô và cơcấu nguồn vốn của huy động Theo đúng khái niệm “nước nổi, bèo nổi”, tốc
độ tăng trưởng huy động vốn càng cao thì uy tín và quy mô của ngân hàngcàng được mở rộng
1.2.5 Tổ chức kiểm tra kế toán
Kiểm tra kế toán đóng vai trò là công tác hậu kiểm để đảm bảo công tác
kế toán được thực hiện nghiêm túc, theo đúng quy định của pháp luật của Nhànước; rà soát, phát hiện các sai sót, khiếm khuyết để kịp thời chỉnh lý đồngthời giảm thiểu các rủi ro có thể phát sinh
Theo đó, kiểm tra kế toán trong ngân hàng thương mại có những nộidung sau đây: