Bùi Bích Loan, “Các vấn đề quản trị tài chính doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội ”, Luận án tiến sỹ, Học viện Quốc Gia Tác giả đã đưa ra các nội dung quản trị tài chính doanh nghiệp trong
Trang 2NGUYỄN THÁI HÀ
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
KHẢ NĂNG THANH TOÁN TẠI CÔNG TY TNHH
GIÁO DỤC VÀ THƯƠNG MẠI TRÍ TUỆ VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Hà Nội - 2017
ìl if :
Trang 3NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
NGUYỄN THÁI HÀ
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ
NĂNG THANH TOÁN TẠI CÔNG TY TNHH GIÁO
DỤC VÀ THƯƠNG MẠI TRÍ TUỆ VIỆT
• • • •
Chuyên ngành: Tài chính - ngân hàng
Mã số: 60.34.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Giảng viên hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thanh Hương
Hà Nội - 2017
ìl if :
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa họcđộc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và cónguồn gốc rõ ràng
Hà nội, ngày 10 tháng 09 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáoKhoa Sau đại học, Học viện Ngân hàng đã tạo điều kiện trang bị kiến thức, kỹnăng cho tôi trong suốt quá trình học tập Tôi cũng xin cảm ơn tập thể BanLãnh đạo, cán bộ công nhân viên tại Công ty TNHH Giáo dục và thương mạiTrí Tuệ Việt đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi tìm hiểu, thu thập tài liệu, số liệu báocáo phục vụ cho nghiên cứu Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâusắc tới TS Nguyễn Thị Thanh Hương đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN I
LỜI CẢM ƠN II MỤC LỤC III DANH MỤC CHỮ VIẾTTẮT VI DANH MỤC BẢNG BIỂU VII LỜI MỞ ĐẦU VII CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHẢ NĂNG THANH TOÁN CỦA
DOANH NGHIỆP 5
1.1 Doanh nghiệp và tài chính doanhnghiệp 5
1.1.1 Doanh nghiệp 5
1.1.2 Tài chính doanh nghiệp 9
1.2 Khả năng thanh toán của doanhnghiệp 14
1.2.1 Khái niệm 14
1.2.2 Sự cần thiết của phân tích khả năng thanh toán đối với doanh nghiệp 15
1.2.3 Nội dung phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp 16
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp 24
1.3 Quản trị khả năng thanh toán của doanh nghiệp 32
1.3.1 Quản trị hàng tồn kho 33
1.3.2 Quản trị khoản phải thu 35
1.3.3 Quản trị tiền mặt 39
1.3.3 Quản trị khoản phải trả 40
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG THANH TOÁN VÀ QUẢN TRỊ KHẢ NĂNG THANH TOÁN TẠI CÔNG TY TNHH GIÁO DỤC VÀ THƯƠNG MẠI TRÍ TUỆ VIỆT TRONG THỜI GIAN QUA 42
Trang 72.1 Tổng quan về Công ty TNHH Giáo dục và Thương mại Trí tuệ Việt 42
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 42
2.1.2 Cơ cấu tổ chức 43
2.1.3 Ket quả hoạt động kinh doanh những năm gần đây 45
2.2 Khả năng thanh toán và quản trị khả năng thanh toán của Công ty TNHH giáo dục và thương mại Trí Tuệ Việt giai đoạn 2014 - 2016 50
2.2.1 Phân tích khả năng thanh toán của Công ty thời gian qua 50
2.2.2 Phân tích các hệ số khả năng thanh toán của Công ty 64
2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của Công ty 71
2.2.4 Công tác quản trị khả năng thanh toán trong doanh nghiệp 76
2.3 Đánh giá việc quản trị khả năng thanh toán của Công ty 78
2.3.1 Những thành tựu đạt được 78
2.3.2 Những hạn chế 79
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 80
CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG THANH TOÁN TẠI CÔNG TY TNHH GIÁO DỤC VÀ THƯƠNG MẠI TRÍ TUỆ VIỆT 83
3.1 Định hướng phát triển của Công ty 83
3.1.1 Thuận lợi 83
3.1.2 Khó khăn 83
3.1.3 Định hướng phát triển của Công ty thời gian tới 84
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng thanh toán của Công ty TNHH Giáo dục và thương mại trí tuệ Việt 85
3.2.1 Nâng cao công tác quản lý nợ phải thu 86
3.2.2 Tăng cường quản lý tiền và các khoản tương đương tiền 88
3.2.3 Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn 91
3.2.4 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 92
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT
TẮT
HĐK
3.2.5 Các giải pháp hỗ trợ 94
3.3 Kiến nghị 102
3.3.1 Kiến nghị với Công ty 102
3.3.2 Kiến nghị với Chính phủ 103
Trang 10DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2 1: Tình hình kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty 46
Bảng 2 2: Biến động tài sản của Công ty TNHH giáo dục và thương mại Trí Tuệ Việt 51
Bảng 2 3: Bảng cơ cấu vốn và tài sản 54
Bảng 2 4: So sánh cơ cấu tài sản của Công ty với trung bình ngành 55
Bảng 2 5: Biến động nguồn vốn của Công ty TNHH giáo dục và thương mại Trí Tuệ Việt 58
Bảng 2 6: Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động 60
Bảng 2 7: So sánh hiệu suất hoạt động của Công ty với trung bình ngành 61
Bảng 2 8: So sánh một số chỉ tiêu về tiền mặt thanh khoản và nợ phải thu, phải trả của Công ty 63
Bảng 2 9: Chỉ tiêu hệ số nợ, hệ số vốn chủ sở hữu 65
Bảng 2 10: Các chỉ tiêu phản ảnh khả năng thanh toán của Công ty 65
Hình 2 1 : Cơ cấu bộ máy tổ chức của Công ty TNHH giáo dục và thương mại Trí Tuệ Việt 44
Hình 2 2: Tình hình thực hiện lợi nhuận của Công ty 49
Hình 2 3: Biểu đồ về số dư bình quân tiền và tương đương tiền, số dư bình quân phải thu, phải trả 62
Hình 2 4: Hệ số thanh toán tổng quát của Công ty 66
Hình 2 5: Hệ số thanh toán nợ dài hạn của Công ty 67
Hình 2 6: Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn của Công ty 68
Hình 2 7: Hệ số thanh toán nhanh của Công ty 69
Hình 2 8: Hệ số thanh toán tức thời của Công ty 70
Hình 2 9: Hệ số thanh toán lãi vay của Công ty 70
Trang 11VIII
Trang 12LỜI MỞ ĐẦU
l Tính cấp thiết của đề tài:
Đối với các nhà đầu tư, kinh doanh, iệc quản lý tài chính không có hiệuquả là nguyên nhân lớn nhất dẫn đến sự thất bại của các công ty, không kểcông ty vừa và nhỏ hay các tập đoàn công ty lớn Tình hình tài chính doanhnghiệp ổn định và minh bạch là một trong những điều kiện tiên quyết cho hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách nhịp nhàng, đồng bộ, đạthiệu quả cao Sự ổn định đó có được hay không phụ thuộc phần lớn vào khảnăng quản trị tài chính của doanh nghiệp
Trong thời gian qua, tình hình kinh tế trong nước và thế giới gặp nhiềukhó khăn, các doanh nghiệp phải đương đầu với các thử thách lớn để vượt quanhững biến động của nền kinh tế Nhiều doanh nghiệp không có những biệnpháp thích ứng kịp thời nên đã bị thất bại và dẫn đến phá sản mà nguyên nhânchủ yếu là mất khả năng thanh toán, không đủ khả năng thanh toán các khoản
nợ Điều này cho thấy việc đảm bảo khả năng thanh toán có ý nghĩa quan trọngcho sự tồn tại của doanh nghiệp
Cũng giống như các doanh nghiệp khác trên thị trường, Công ty TNHHGiáo dục và thương mại Trí Tuệ Việt luôn phải cố gắng để có thể tồn tại vàphát triển, công tác quản lý tài chính luôn được chủ doanh nghiệp quan tâmhàng đầu, trong đó, Công ty luôn cố gắng duy trì khả năng thanh toán củamình Tuy nhiên, thời gian qua, khả năng thanh toán của Công ty chưa thực sựtốt, cụ thể, có nhiều khoản nợ Công ty phải đi vay để thanh toán các khoản nợđến hạn, đây là tình trạng đảo nợ mà Công ty buộc phải thực hiện để thanh toáncác khoản nợ phải trả
Xuất phát từ lý do đó, tác giả đã chọn đề tài: "Thực trạng và giải phápnâng cao khả năng thanh toán tại Công ty TNHH Giáo dục và thương mại TríTuệ Việt” làm luận văn thạc sỹ của mình, với mong muốn đưa ra các giải pháp
Trang 13góp phần nâng cao khả năng thanh toán của Công ty trong thời gian tới
2 Tổng quan đề tài nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài, tác giả đã nghiên cứu vàtham khảo một số đề tài có liên quan tới khả năng thanh toán của doanhnghiệp:
Lê Hoài Phương, bài viết: “Mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp
- nguyên nhân do đâu? ” - Tạp chí tài chính, số 5 năm 2012.
Tác giả đã đề cập đến các chỉ tiêu thanh toán của doanh nghiệp, đưa raquan điểm cá nhân về chỉ tiêu thanh toán nào là quan trọng nhất, đồng thời,cũng đưa ra các nguyên nhân gây mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp,trong đó có thể kể đến như chính sách khoản phải thu, chính sách bán chịu
Bùi Bích Loan, “Các vấn đề quản trị tài chính doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội ”, Luận án tiến sỹ, Học viện Quốc Gia
Tác giả đã đưa ra các nội dung quản trị tài chính doanh nghiệp trong cácdoanh nghiệp đồng thời cũng phân tích sâu đến vấn đề quản trị khả năng thanhtoán tại doanh nghiệp, theo đó cũng phân tích các hệ số khả năng thanh toáncủa doanh nghiệp và công tác quản trị khả năng thanh toán của doanh nghiệp.Tác giả cũng đề xuất các giải pháp để có thể nâng cao khả năng thanh toán chocác doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay
Lê Thị Ngoan, “Tầm quan trọng của khả năng thanh toán trong doanh nghiệp ”, bài viết tập san nội bộ, học viện tài chính.
Tác giả đề cập đến hệ thống các chỉ tiêu thanh toán trong doanh nghiệp,các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thanh toán trong doanh nghiệp đồng thờicũng đưa ra các hạn chế chung trong quản trị khả năng thanh toán của doanhnghiệp hiện nay
Nguyên Tuấn Dương, “Nhận diện chu trình của một cuộc khủng hoảng khả năng thanh toán ”, bài viết tập san, học viện tài chính
Trang 14Tác giả đưa ra thực trạng các doanh nghiệp trong bối cảnh khủng hoảngkinh tế suy giảm tăng trưởng, hàng nghìn doanh nghiệp gặp khó khăn, thậm chílâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, thậm chí rút lui khỏi thị trường.Bài viết đề cập đến nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng khả năng thanhtoán, từ đó, xây dựng hệ thống cảnh báo và mô hình tổng thể về quản trị dòngtiền.
Bùi Văn Lâm, “Đo lường tính thanh khoản của doanh nghiệp ”, tạp chí
Kế toán và Kiểm toán, Khoa kế toán kiểm toán, Đại học kinh tế Tài chính
-Kế toán (Quảng Ngãi)
Tác giả đưa ra nhiều câu hỏi liên quan đến xu hướng tài trợ vốn thôngqua vay nợ ngắn hạn của các doanh nghiệp, đưa ra câu hỏi liệu các doanhnghiệp có khả năng thanh toán và thanh toán đúng hạn các khoản nợ, làm tiền
đề cho việc tập trung phân tích ưu nhược điểm các tỷ số đo lường khả năngthanh khoản hiện hành như tỷ số thanh toán hiện hành, tỷ số khả năng thanhtoán nhanh, tỷ số khả năng thanh toán tức thời,
Ngoài ra còn nhiều các nghiên cứu khác liên quan đến đề tài, các đề tàiđều có cùng mục tiêu nghiên cứu về khả năng thanh toán và tầm quan trọngcủa việc phân tích, đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp Tuy nhiên,đối tượng nghiên cứu được đề cập của mỗi đề tài, mỗi bài báo lại khác nhau,thậm chí loại hình doanh nghiệp được nghiên cứu cũng khác Tác giả nhận thấyvấn đề về khả năng thanh toán tại Công ty TNHH Giáo dục và thương mại TríTuệ Việt chưa có nghiên cứu nào đề cập tới, đồng thời, rút ra được một sốthành tựu và hạn chế của các đề tài luận văn trước đây Dựa trên những ưunhược điểm của các đề tài đó, đề tài của tác giả tiếp thu những điểm mạnh vốn
có và đi sâu vào nghiên cứu đặc thù của ngành nghề kinh doanh vật liệu xâydựng
3 Mục đích nghiên cứu:
Trang 15- Hệ thống hóa cơ sơ lý luận về khả năng thanh toán và quản trị khảnăng
thanh toán của doanh nghiệp
- Đánh giá thực trạng khả năng thanh toán và quản trị khả năng thanhtoán của Công ty TNHH Giáo dục và thương mại Trí Tuệ Việt thời gian qua
- Đưa ra những kiến nghị, giải pháp không chỉ với nội bộ hoạt động củacông ty mà còn với chính phủ nhằm nâng cao khả năng thanh toán tại Công tyTNHH Giáo dục và thương mại Trí Tuệ Việt thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: khả năng thanh toán
Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: thực trạng khả năng thanh toán thời gian qua
- Về phạm vi: Công ty TNHH Giáo dục và thương mại Trí Tuệ Việt
- Về thời gian: Từ năm 2014-2016, định hướng giải pháp đến năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiêncứu sau:
- Phương pháp thu thập dữ liệu;
- Phương pháp phân tích, tổng hợp;
- Phương pháp so sánh, đối chiếu;
- Phương pháp thống kê mô tả
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì luận văn gồm ba chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về khả năng thanh toán của doanh nghiệp;
Chương II: Thực trạng khả năng thanh toán tại Công ty TNHH Giáo dục
và thương mại Trí Tuệ Việt trong thời gian qua;
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng thanh toán tại
Công ty TNHH Giáo dục và thương mại Trí Tuệ Việt
Trang 16CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHẢ NĂNG THANH TOÁN CỦA
DOANH NGHIỆP 1.1 Doanh nghiệp và tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Doanh nghiệp
Có rất nhiều các quan điểm định nghĩa về doanh nghiệp, xét theo từngkhía cạnh khác nhau thì doanh nghiệp được định nghĩa theo những góc cạnhkhác nhau
Xét theo quan điểm luật pháp: Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, cótài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của phápluật nhằm mục đích kinh doanh [29, tr 1]
Xét theo quan điểm chức năng: Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sảnxuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả củacác yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ratrên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoảntiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy [3, tr23]
Xét theo quan điểm phát triển: Doanh nghiệp là một cộng đồng ngườisản xuất ra những của cải Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có nhữngthành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phảingừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượtqua được [24, tr 3]
Ngoài ra có thể liệt kê hàng loạt những định nghĩa khác nữa khi xemxét doanh nghiệp dưới những góc nhìn khác nhau Song giữa các định nghĩa
về doanh nghiệp đều có những điểm chung nhất, nếu tổng hợp chúng lại vớimột tầm nhìn bao quát trên phương diện tổ chức quản lý là xuyên suốt từ khâuhình thành tổ chức, phát triển đến các mối quan hệ với môi trường, các chức
Trang 17- Yếu tố sản xuất: các nguồn lực lao động, vốn, vật tư, thông tin.
- Yếu tố trao đổi: những dịch vụ thương mại - mua các yếu tố đầu vào,bán sản phẩm sao cho có lợi ở đầu ra
- Yếu tố phân phối: thanh toán cho các yếu tố sản xuất, làm nghĩa vụnhà nước, trích lập quỹ và tính cho hoạt động tương lai của doanh nghiệpbằng khoản lợi nhuận thu được
Từ cách nhìn nhận như trên có thể phát biểu về định nghĩa doanhnghiệp như sau: Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụcác phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạtđộng sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóalợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi của chủ sở hữu, đồngthời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội
Doanh nghiệp là một tổ chức sống trong một thể sống (nền kinh tế quốcdân) gắn liền với địa phương nơi nó tồn tại Doanh nghiệp là một tổ chứcsống vì lẽ nó có quá trình hình thành từ một ý chí và bản lĩnh của người sánglập (tư nhân, tập thể hay Nhà nước); quá trình phát triển thậm chí có khi tiêuvong, phá sản hoặc bị một doanh nghiệp khác thôn tính Vì vậy cuộc sống củadoanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào chất lượng quản lý của những người tạo
ra nó
Doanh nghiệp ra đời và tồn tại luôn luôn gắn liền với một vị trí của mộtđịa phương nhất định, sự phát triển cũng như suy giảm của nó ảnh hưởng đếnđịa phương đó
Trang 18Doanh nghiệp là một tổ chức có tên riêng, có tài sản riêng, có con dấuriêng, có trụ sở ổn định, tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứngsản phẩm cho người tiêu dung qua thị trường nhằm mục tiêu tìm kiếm lợinhuận.
Căn cứ vào hình thức sở hữu, mỗi quốc gia thường có những loại hìnhdoanh nghiệp khác nhau Tuy nhiên, về cơ bản, các loại hình doanh nghiệpbao gồm: doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty cổ phần và công
ty trách nhiệm hữu hạn
Hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến việc tổchức tài chính doanh nghiệp như phương thức hình thành và huy động vốn,chuyển nhượng vốn, phân phối lợi nhuận và trách nhiệm của chủ sở hữu đốivới khoản nợ của doanh nghiệp,
Như vậy, doanh nghiệp có thể được hiểu là một tổ chức kinh tế có tênriêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theoquy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện ổn định các hoạt động kinhdoanh
Trong kinh tế thị trường các loại hình doanh nghiệp phát triển một cách
đa dạng, phong phú Nếu dựa vào tính chất pháp lý thì doanh nghiệp đượcchia thành doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữuhạn, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài Nếu xét trên góc độ cung cầu vốn trong nền kinh tế thì doanhnghiệp được chia thành doanh nghiệp tài chính kinh doanh tiền tệ và doanhnghiệp phi tài chính kinh doanh hàng hoá dịch vụ thông thường Trongchương này chỉ đề cập đến doanh nghiệp phi tài chính
Để đạt được mức doanh lợi như mong muốn, doanh nghiệp phải cónhững quyết định về tổ chức hoạt động sản xuất và vận hành quá trình traođổi Mọi quyết định đều phải gắn kết với môi trường xung quanh Bao quanh
Trang 19doanh nghiệp là một môi trường kinh tế - xã hội phức tạp và luôn biến động
Có thể kể đến một số yếu tố khách quan tác động trực tiếp đến hoạt động củadoanh nghiệp
Doanh nghiệp luôn phải đối đầu với công nghệ Sự phát triển của côngnghệ là một yếu tố góp phần thay đổi phương thức sản xuất, tạo ra nhiều kỹthuật mới dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ trong quản lý tài chính doanhnghiệp
Doanh nghiệp là đối tượng quản lý của Nhà nước Sự thắt chặt hay nớilỏng hoạt động của doanh nghiệp được điều chỉnh bằng luật và các văn bảnquy phạm pháp luật, bằng cơ chế quản lý tài chính
Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường phải dự tính được khả năngxảy ra rủi ro, đặc biệt là rủi ro tài chính để có cách ứng phó kịp thời và đúngđắn Doanh nghiệp, với sức ép của thị trường cạnh tranh, phải chuyển dần từchiến lược trọng cung cổ điển sang chiến lược trọng cầu hiện đại Những đòihỏi về chất lượng, mẫu mã, giá cả hàng hoá, về chất lượng dịch vụ ngày càngcao hơn, tinh tế hơn của khách hàng buộc các doanh nghiệp phải thườngxuyên thay đổi chính sách sản phẩm, đảm bảo sản xuất - kinh doanh có hiệuquả và chất lượng cao
Doanh nghiệp thường phải đáp ứng được đòi hỏi của các đối tác vềmức vốn chủ sở hữu trong cơ cấu vốn Sự tăng, giảm của vốn chủ sở hữu cótác động đáng kể đến hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt trong các điềukiện kinh tế khác nhau
Muốn phát triển bền vững, các doanh nghiệp phải làm chủ và dự đoántrước được sự thay đổi của môi trường để sẵn sàng thích nghi với nó Trongmôi trường đó, quan hệ tài chính của doanh nghiệp được thể hiện rất phongphú và đa dạng
Trang 201.1.2 Tài chính doanh nghiệp
1.1.2.1 Khái niệm
Tài chính doanh nghiệp là một khâu của hệ thống tài chính quốc gia, làmột phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với sự ra đời của nền kinh tế hànghoá tiền tệ [4, tr 22]
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, bất cứ một doanh nghiệpnào cũng phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định, đó là một tiền đề cần thiết.Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình hìnhthành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp Trong quátrình đó, đã phát sinh các luồng tiền tệ gắn liền với hoạt động đầu tư và cáchoạt động kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp, các luồng tiền tệ đóbao hàm các luồng tiền tệ đi vào và các luồng tiền tệ đi ra khỏi doanh nghiệp,tạo thành sự vận động của các luồng tài chính của doanh nghiệp
Gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ củadoanh nghiệp là các quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thức giá trị tức là cácquan hệ tài chính trong doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp có các quan hệ tài chính sau:
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với hộ gia đình: Quan hệ này phát sinhkhi doanh nghiệp thu hút sức lao động, tiền vốn của các thành viên hộ giađình để phục vụ cho mục tiêu kinh doanh, đồng thời doanh nghiệp phải trảtiền lương, lãi suất cho họ
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với các đối tác nước ngoài: Quan hệ nàyphát sinh khi doanh nghiệp vay, cho vay, trả nợ và đầu tư với các tổ chức kinh
tế nước ngoài
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà nước, được thể hiện qua việc nhànước cấp vốn cho doanh nghiệp hoạt động (đối với các doanh nghiệp nhà
Trang 21Với thị trường vốn, thông qua các tổ chức tài chính trung gian khác.Các doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ khác để đáp ứng nhu cầu vốndài hạn bằng cách phát hành các chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu Ngượclại, doanh nghiệp cũng phải hoàn trả một khoản lãi cho các chủ thể tham giađầu tư vào doanh nghiệp bằng một khoản tiền cố định hay phụ thuộc vào khảnăng kinh doanh của doanh nghiệp,
Đồng thời, thông qua thị trường tài chính, các doanh nghiệp cũng cóthể đầu tư vốn tạm thời nhàn rỗi bằng cách ký gửi tại hệ thống ngân hàng hayđầu tư vào chứng khoán của các doanh nghiệp khác
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các thị trường khác
Bên cạnh thị trường tài chính trong nền kinh tế còn tồn tại các thịtrường khác như: thị trường hàng hoá, dịch vụ, sức lao động, Với tư cách
là một chủ thể hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải sử dụngvốn để mua sắm các yếu tố của sản xuất kinh doanh như: máy móc, thiết bị,vật tư, hàng hoá, chi trả các dịch vụ khác, trả công lao động,
Đồng thời, thông qua các thị trường doanh nghiệp xác định được nhucầu sản phẩm, dịch vụ mà mình cung ứng, để làm cơ sở hoạch định ngân sáchđầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị, Nhằm đảm bảo sản phẩm, hàng hoá,dịch vụ mà mình cung ứng luôn luôn thoả mãn nhu cầu thị trường
Trang 22- Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp, được thể hiện trong doanh nghiệpkhi thanh toán tiền lương, tiền công và thực hiện các khoản tiền thưởng, tiềnphạt với công nhân viên của doanh nghiệp; quan hệ thanh toán giữa các bộphận trong doanh nghiệp, trong việc phân phối lợi nhuận sau thuế của doanhnghiệp; việc phân chia lợi tức cho các cổ đông, việc hình thành các quỹ củadoanh nghiệp,
Thông qua các mối quan hệ trên cho thấy tài chính doanh nghiệp đãgóp phần hình thành nên nền kinh tế quốc dân Vì vây, các doanh nghiệp phải
sử dụng đúng đắn và có hiệu quả các công cụ tài chính nhằm thúc đẩy doanhnghiệp không ngừng hoàn thiện các phương thức kinh doanh để đạt hiệu quảcao hơn, nếu không sẽ kìm hãm sự phát triển của toàn bộ hệ thống tài chínhquốc gia
Qua các phân tích trên ta thấy:
Tài chính doanh nghiệp là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng cácquỹ tiền tệ phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm gópphần đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp
Các hoạt động có liên quan đến việc tạo lập, phân phối và sử dụng cácquỹ tiền tệ thuộc các hoạt động tài chính doanh nghiệp
Các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với việc tạo lập, phân phối và sửdụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp hợp thành các quan hệ tài chính củadoanh nghiệp
1.1.2.2 Nội dung của quản lý tài chính
- Tham gia đánh giá, lựa chọn các dự án đầu tư và kế hoạch kinh
doanh.
Trong hoạt động kinh doanh, đối với một doanh nghiệp phải làm saoquản lý tài sản, sử dụng các nguồn vốn sẵn có cho các dự án đầu tư kinhdoanh hiện có một cách hiệu quả nhất Như vậy, thông tin nào là cần thiết cho
Trang 23sở tham gia đánh giá, lựa chọn dự án đầu tư cần tìm ra định hướng đầu tư pháttriển doanh nghiệp Khi xem xét việc bỏ vốn thực hiện dự án đầu tư, cần chú
ý tới việc tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp để đảm bảo đạthiệu quả kinh tế trước mắt cũng như lâu dài [7, tr 45]
- Xác định nhu cầu vốn, tổ chức huy động các nguồn vốn để đáp ứng cho hoạt động của doanh nghiệp.
Để thực hiện sản xuất kinh doanh trong điều kiện của cơ chế thị trường
có hiệu quả đòi hỏi các doanh nghiệp phải có vốn và có phương án tạo lập,huy động vốn cụ thể, do đó, quản trị tài chính doanh nghiệp cần phải xác địnhcác nhu cầu vốn cần thiết cho các hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ Nhucầu về vốn phụ thuộc vào quy mô và và lĩnh vực hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Vốn kinh doanh gồm có vốn dài hạn, vốn ngắn hạn
và điều quan trọng là phải tổ chức huy động nguồn vốn đảm bảo kịp thời, đầy
đủ cho các hoạt động của doanh nghiệp Việc tổ chức huy động các nguồnvốn có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp Để
đi đến quyết định lựa chọn hình thức và phương pháp huy động vốn thíchhợp, sao cho chi phí doanh nghiệp phải trả là thấp nhất trong khoảng thời gianhợp lý, cần xem xét, cân nhắc trên nhiều mặt như: kết cấu nguồn vốn, chi phícho việc sử dụng các nguồn vốn, những điểm lợi và bất lợi của các hình thứchuy động vốn [11, tr 33]
Trang 24- Tổ chức sử dụng tốt số vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản
thu,
chi đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Quản trị tài chính doanh nghiệp phải tìm ra các biện pháp góp phần huyđộng tối đa các nguồn vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh, giải phóng cáckhoản vốn còn bị ứ đọng Theo dõi chặt chẽ và thực hiện tốt việc thu hồi tiềnbán hàng và các khoản phải thu khác, quản lý chặt chẽ các khoản chi tiêu phátsinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp Tìm các biện pháp lập lại sựcân bằng giữa thu và chi bằng tiền để đảm bảo cho doanh nghiệp luôn có khảnăng thanh toán Mặt khác, cũng cần phải xác định rõ các loại chi phí kinhdoanh của doanh nghiệp, các khoản thuế mà doanh nghiệp phải nộp, xác địnhcác khoản chi phí nào là chi phí cho hoạt động kinh doanh và những chi phíthuộc về các hoạt động khác Những chi phí vượt quá định mức quy định haynhững chi phí đã thuộc về các nguồn kinh phí khác tài trợ, không được tính làchi phí hoạt động kinh doanh [7, tr 47]
- Thực hiện tốt việc phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các
quỹ của doanh nghiệp.
Thực hiện việc phân phối hợp lý lợi nhuận sau thuế cũng như trích lập
và sử dụng tốt các quỹ của doanh nghiệp sẽ góp phần quan trọng vào sự pháttriển doanh nghiệp và cải thiện đời sống của người lao động Lợi nhuận làmục tiêu của hoạt động kinh doanh, là một chỉ tiêu mà doanh nghiệp phải đặcbiệt quan tâm và nó liên quan đến sự tồn tại, phát triển mở rộng của doanhnghiệp Không thể nói doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tốt hiệu quả caotrong khi lợi nhuận hoạt động lại giảm Doanh nghiệp cần có phương án tối
ưu trong việc phân chia lợi nhuận doanh nghiệp, trong việc định tỷ lệ và hìnhthành các quỹ của doanh nghiệp như: quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tàichính, quỹ trợ giúp cho người lao động không có việc làm, quỹ khen thưởng
và quỹ phúc lợi [11, tr 26]
Trang 25- Đảm bảo kiểm tra, kiểm soát thường xuyên đối với tình hình hoạt
động của doanh nghiệp và thực hiện tốt việc phân tích tài chính.
Thông qua tình hình thu chi tiền tệ hàng ngày, tình hình thực hiện cácchỉ tiêu tài chính cho phép thường xuyên kiểm tra, kiểm soát tình hình hoạtđộng của doanh nghiệp Mặt khác, định kỳ cần phải tiến hành phân tích tìnhhình tài chính doanh nghiệp Phân tích tài chính nhằm đánh giá những điểmmạnh và điểm yếu về tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp, qua đó có thể giúp cho lãnh đạo doanh nghiệp trong việc đánh giátổng quát tình hình hoạt động của doanh nghiệp, những mặt mạnh và nhữngđiểm hạn chế trong hoạt động kinh doanh như khả năng thanh toán, tình hìnhluân chuyển vật tư, tiền vốn, hiệu quả hoạt động kinh doanh Từ đó có thể đưa
ra những quyết định đúng đắn về sản xuất và tài chính, xây dựng được một kếhoạch tài chính khoa học, đảm bảo mọi tài sản, tiền vốn và mọi nguồn tàichính của doanh nghiệp được sử dụng một cách có hiệu quả nhất [11, tr 28]
- Thực hiện tốt việc kế hoạch hoá tài chính.
Các hoạt động tài chính của doanh nghiệp cần được dự kiến trướcthông qua việc lập kế hoạch tài chính Thực hiện tốt việc lập kế hoạch tàichính là công việc cần thiết giúp cho doanh nghiệp có thể chủ động đưa ra cácgiải pháp kịp thời khi có sự biến động của thị trường Quá trình thực hiện kếhoạch tài chính cũng là quá trình ra các quyết định tài chính thích hợp nhằmđạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp [8, tr 25]
1.2 Khả năng thanh toán của doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm
Khả năng thanh toán là một thuật ngữ dùng để chỉ khả năng thực hiệncác khoản phải thu, khoản phải trả của một tổ chức kinh tế, của ngân hàng,của ngân sách nhà nước trong một thời kì nhất định [5, tr 42] Với mỗi đốitượng cụ thể, nó lại có một cách định nghĩa khác nhau:
Trang 26lại, khả năng thanh toán của doanh nghiệp cao hay thấp đều có tác động thúcđẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh Vì thế, cần phảithường xuyên, kịp thời đánh giá, kiểm tra tình hình tài chính của doanhnghiệp, khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp: Khả năng thanh toán là khả năng của một doanhnghiệp có thể hoàn trả các khoản nợ đến hạn Khi một doanh nghiệp, công tymất khả năng thanh toán, toà án tuyên bố phá sản, vỡ nợ [2, tr 29]
Trong kinh tế thị trường, khả năng thanh toán là chỉ khả năng của nhữngngười tiêu thụ có đủ sức mua bằng tiền để mua hàng hoá trên thị trường
1.2.2 Sự cần thiết của phân tích khả năng thanh toán đối với doanh nghiệp
Phân tích tài chính là quá trình tìm hiểu các kết quả của sự quản lý vàđiều hành tài chính ở doanh nghiệp được phản ánh trên các báo cáo tài chínhđồng thời đánh giá những gì đã làm được, dự kiến những gì sẽ xảy ra, trên cơ
sở đó kiến nghị những biện pháp để tận dụng triệt để những điểm mạnh, khắcphục những điểm yếu
Phân tích khả năng thanh toán là việc đánh giá khả năng chuyển tài sảnthành tiền và khả năng tạo tiền nhằm thực hiện nghĩa vụ đối với các chủ nợkhi đến hạn chủ nợ của DN có thể là ngân hàng cho DN vay vốn, các tráichủ(mua trái phiếu do DN phát hành) hoặc các chủ nợ liên quan tới các hoạtđộng kinh doanh hàng ngày của DN(khách hàng, nhà cung cấp vật tư, ngườilao động, nhà nước ) chính vì lẽ đó, các chủ nợ là những đối tượng đầu tiênquan tâm tới khả năng thanh toán của DN
Phân tích tình hình, khả năng thanh toán giúp phản ánh tính hợp lý về
sự biến động các khoản phải thu và phải trả giúp ta có những nhận định chínhxác hơn về thực trạng tài chính của doanh nghiệp Từ đó tìm ra những nguyênnhân của mọi sự ngừng trệ trong các khoản thanh toán hoặc có thể khai thácđược khả năng tiềm tàng giúp doanh nghiệp làm chủ tình hình tài chính, nó cómột ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanhnghiệp
Hoạt động tài chính mà cụ thể ở đây là tình hình và khả năng thanhtoán của doanh nghiệp có mối liên hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh
Trang 27Qua việc phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp, mới gópphần đánh giá chính xác tình hình sử dụng vốn, nguồn vốn, vạch rõ khả năngtiềm tàng về vốn của doanh nghiệp Trên cơ sở đó đưa ra những quyết địnhquan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giúp doanh nghiệpcủng cố tốt hơn trong hoạt động tài chính của mình.
Phân tích khả năng thanh toán là một bộ phận trong phân tích tình hìnhtài chính của doanh nghiệp, nó là công cụ không thể thiếu, phục vụ cho côngtác quản lý của cơ quan cấp trên, cơ quan tài chính, ngân hàng như: đánh giátình hình thực hiện các chế độ, chính sách về tài chính của Nhà nước, xem xétviệc cho vay vốn (Nguyễn Thanh Liêm, 2014)
1.2.1 Nội dung phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp
1.2.3.1 Vòng quay khoản phải thu và kỳ thu tiền bình quân
- Vòng quay khoản phải thu
Doanh thuVòng quay khoản phải thu =
Khoản phải thu bình quânVòng quay khoản phải thu phản ánh khả năng quản lý các khoản công
nợ phải thu của công ty và khả năng thu hồi vốn trên các khoản công nợ đó,
Trang 28các khách hàng là tốt, và cho thấy công ty có những đối tác làm ăn chấtlượng, có khả năng trả nợ nhanh chóng Tuy nhiên, chỉ số cao cũng phản ánhchính sách bán hàng quá chặt chẽ, có thể gây ảnh hưởng xấu tới doanh số.
Chỉ số vòng quay phải thu thấp cho thấy khả năng thu hồi tiền từ kháchhàng khá kém, chính sách bán hàng lỏng lẻo, hoặc đối tác của công ty đanggặp khó khăn về tài chính
Nói chung, hệ số vòng quay các khoản phải thu càng lớn chứng tỏ tốc
độ thu hồi nợ của doanh nghiệp càng nhanh, khả năng chuyển đổi các khoản
nợ phải thu sang tiền mặt cao, điều này giúp cho doanh nghiệp nâng caoluồng tiền mặt, tạo ra sự chủ động trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trongsản xuất Ngược lại, nếu hệ số này càng thấp thì số tiền của doanh nghiệp bịchiếm dụng ngày càng nhiều, lượng tiền mặt sẽ ngày càng giảm, làm giảm sựchủ động của doanh nghiệp trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sảnxuất và có thể doanh nghiệp sẽ phải đi vay ngân hàng để tài trợ thêm chonguồn vốn lưu động này
- Kỳ thu tiền bình quân
Khoản phải thu x 365 ngày
Kỳ thu tiền bình quân =
Doanh thu bán chịu
Phát sinh nợ phải thu khách hàng cũng là điều không thể tránh khỏitrong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Doanh nghiệp bán hàng trảchậm là một trong các biện pháp để thu hút khách hàng, tăng cường doanh thucho doanh nghiệp Tuy nhiên, nếu khách hàng nợ nhiều trong thời gian dài sẽ
Trang 29chiếm dụng nhiều vốn của doanh nghiệp, vì vậy, ảnh hưởng không tốt tới
dòng tiền và suy giảm khả năng thanh toán của doanh nghiệp Kỳ thu tiềnbình quân cho thấy khoảng thời gian trung bình cần thiết để một công ty thuhồi các khoản nợ từ khách hàng
Xem xét xu hướng của kỳ thu tiền bình quân qua các thời kỳ của mộtcông ty là có hiệu quả nhất Nếu vòng quay các khoản phải thu tăng từ nămnày qua năm khác cho thấy khả năng yếu kém trong việc quản lý công nợ ởmột công ty
1.2.3.2 Số dư tiền mặt thanh khoản trong doanh nghiệp
Số dư thanh khoản = Tiền mặt và tương đương tiền - vay ngắn hạn và nợ
dài hạn đến hạn trả
Số dư này cho biết công ty có đủ tiền để chi trả cho các khoản vay ngắnhạn và nợ dài hạn khi đến hạn phải trả hay không Nếu con số này dương,công ty vẫn đang làm chủ về tiền Ngược lại, công ty đang mất kiểm soát vềtiền, nhiều khả năng dẫn đến không đủ tiền để chi trả nợ Số dư thanh khoảncàng lớn, thể hiện công ty làm chủ về mặt tài chính tốt
1.2.3.3 Vòng quay khoản phải trả
Giá vốn hàng bánVòng quay khoản phải trả =
Khoản phải trả bình quân
Chỉ số vòng quay các khoản phải trả phản ánh khả năng chiếm dụngvốn của doanh nghiệp đối với nhà cung cấp Chỉ số vòng quay các khoản phảitrả quá thấp có thể ảnh hưởng không tốt đến xếp hạng tín dụng của doanhnghiệp
18
Trang 31Chỉ số vòng quay các khoản phải trả năm nay nhỏ hơn năm trướcchứng tỏ doanh nghiệp chiếm dụng vốn và thanh toán chậm hơn năm trước.Ngược lại, nếu Chỉ số Vòng quay các khoản phải trả năm nay lớn hơn nămtrước chứng tỏ doanh nghiệp chiếm dụng vốn và thanh toán nhanh hơn nămtrước.
Nếu chỉ số Vòng quay các khoản phải trả quá nhỏ (các khoản phải trảlớn), sẽ tiềm ẩn rủi ro về khả năng thanh khoản Tuy nhiên, cũng cần lưu ýviệc chiếm dụng khoản vốn này có thể sẽ giúp doanh nghiệp giảm được chiphí về vốn, đồng thời thể hiện uy tín về quan hệ thanh toán đối với nhà cungcấp và chất lượng sản phẩm đối với khách hàng
1.2.3.4 Các hệ số phản ánh khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Hệ số nợ là một hệ số quan trọng trong phân tích doanh nghiệp Qua hệ
số này ta biết có nên quyết định đầu tư vào doanh nghiệp đó hay không khidoanh nghiệp phá sản thì tài sản có đủ để trả nợ hay không Hệ số cho biếtphần trăm tổng tài sản của công ty được tài trợ bằng các khoản nợ là baonhiêu Tổng số nợ ở đây bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn phải trả Thôngthường, chủ nợ thích các doanh nghiệp có hệ số nợ nhỏ, vì hệ số an toàn cao
Ngược lại, các nhà quản lý lại muốn có hệ số nợ cao, vì chỉ cần bỏ ramột lượng vốn nhỏ nhưng được sử dụng một lượng tài sản lớn Hệ số nàyđược các nhà quản lý doanh nghiệp sử dụng như một đòn bẩy để gia tăng lợi
Trang 32nhuận Khi hệ số nợ lớn, rủi ro tài chính sẽ cao, doanh nghiệp dễ lâm vào tìnhtrạng mất khả năng thanh toán.
Hệ số nợ phụ thuộc rất nhiều yếu tố như loại hình doanh nghiệp, quy
mô doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động, mục đích vay
- Hệ số vốn chủ sở hữu (tỷ suất tự tài trợ)
Xét về mặt thời gian thì doanh nghiệp có các khoản nợ sau: nợ ngắnhạn, nợ trung và dài hạn Vấn đề quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư, cácchủ nợ là liệu số vốn họ bỏ ra đầu tư có thu hồi lại được không và mức độ rủi
ro là bao nhiêu? Để trả lời các câu hỏi này nhà phân tích thường dùng các chỉtiêu sau:
- Hệ số khả năng thanh toán tổng quát
Trang 33Hệ số khả năng thanh toán tổng quát” là chỉ tiêu phản ánh khả năngthanh toán chung của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo Hệ số này là mối quan
hệ giữa tổng tài sản mà hiện nay doanh nghiệp đang quản lý sử dụng với tổng
số nợ phải trả (nợ dài hạn, nợ ngắn hạn), phản ánh 1 đồng vay nợ có mấyđồng tài sản đảm bảo
Khi hệ số này < 1 có nghĩa là tổng tài sản < tổng số nợ, như vậy, toàn
bộ số tài sản hiện có của doanh nghiệp không đủ để thanh toán các khoản nợ,chứng tỏ doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, gặp khó khăn trong tàichính, có nguy cơ phá sản
Ngược lại, nếu hệ số này > 1 cho thấy doanh nghiệp có khả năng thanhtoán, nhưng nếu hệ số này quá cao thì cần phải xem xét lại vì khi đó việc sửdụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp không có hiệu quả
- Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn là mối quan hệ giữa tài sảnngắn hạn và các khoản nợ ngắn hạn Hệ số này cho biết đảm bảo của tài sảnngắn hạn với nợ ngắn hạn Nợ ngắn hạn là các khoản nợ phải thanh toán trongnăm, do đó, doanh nghiệp phải dùng những tài sản có khả năng chuyển đổithành tiền để thanh toán Trong tổng số tài sản mà hiện doanh nghiệp đangquản lý, sử dụng thì chỉ có tài sản ngắn hạn là có tính hoán tệ trong vòng 1năm
Trang 34Khả năng thanh toán của doanh nghiệp sẽ là tốt nếu tài sản lưu động vàđầu tư ngắn hạn chuyển dịch theo xu hướng tăng lên và nợ ngắn hạn chuyểndịch theo xu hướng giảm xuống Hệ số này cao (lớn hơn 1) cho thấy doanhnghiệp có khả năng thanh toán hết các khoản nợ.
Nếu hệ số này < 1 thì doanh nghiệp rơi vào tình trạng mất khả năngthanh toán Tuy nhiên, không phải hệ số này càng lớn càng tốt Khi xem xét
hệ số này phải quan tâm tới tính chất ngành nghề kinh doanh Ví dụ, cácdoanh nghiệp thương mại TSNH thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản,
do đó, hệ số này lớn và ngược lại
- Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Hệ số khả năng thanh toán nhanh được loại trừ yếu tố hàng tồn kho tính thanh khoản thấp nên nó phản ánh chính xác hơn khả năng thanh toánhiện hành Hệ số này là thước đo về việc huy động các tài sản có khả năngchuyển đổi ngay thành tiền để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn mà các chủ
-nợ yêu cầu Trong tổng tài sản, TSNH có khả năng thanh khoản cao nhất,nhưng trong đó, khả năng hoán tệ của hàng tồn kho lại rất thấp, vì thế, hệ sốkhả năng thanh toán nhanh không dựa vào việc bán vật tư hàng hoá và đượcxác định như sau:
Hệ số thanh toán TSNH - Hàng tồn kho
Nhìn chung, nếu hệ số này quá nhỏ thì doanh nghiệp sẽ bị giảm uy tínvới bạn hàng, gặp khó khăn trong việc thanh toán công nợ và có thể doanhnghiệp phải bán tài sản với giá bất lợi để trả nợ Nếu hệ số này quá lớn lạiphản ánh lượng tiền tồn quỹ nhiều, giảm hiệu quả sử dụng vốn Giống như hệ
số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn, giá trị của hệ số này phụ thuộc vào
Trang 35ngành nghề kinh doanh, kỳ hạn thanh toán của món nợ phải thu, phải trả trongnăm
Tùy thuộc vào tính chất và chu kỳ kinh doanh của từng doanh nghiệp
mà chỉ tiêu “Hệ số khả năng thanh toán nhanh” có trị số khác nhau Tuynhiên, thực tế cho thấy, trị số của chỉ tiêu “Hệ số khả năng thanh toán nhanh”không nhất thiết phải bằng 1 doanh nghiệp mới bảo đảm khả năng thanh toánnhanh; bởi vì, trị số của tử số trong công thức xác định chỉ tiêu “Hệ số khảnăng thanh toán nhanh” được xác định trong khoảng thời gian tối đa 3 thángtrong khi trị số của mẫu số lại được xác định trong khoảng 1 năm hoặc mộtchu kỳ kinh doanh
Cũng cần thấy rằng: số tài sản dùng để thanh toán nhanh còn được xácđịnh là: tiền cộng với tiền tương đương Được gọi là tiền tương đương là cáckhoản có thể chuyển đổi thành một lượng tiền biết trước (thương phiếu, cácloại chứng khoán ngắn hạn)
- Hệ số khả năng thanh toán lãi vay
Để có thể thanh toán lãi vay cho các nhà cung cấp tín dụng, doanhnghiệp cần sử dụng vốn vay có hiệu quả, chính vì vậy chỉ tiêu thường được sửdụng để phân tích khả năng thanh toán lãi vay là hệ số khả năng thanh toán lãivay Chỉ tiêu này thể hiện mức độ lợi nhuận bảo đảm cho khả năng trả lãi vaycủa doang nghiệp: mỗi đồng chi phí lãi vay sẵn sàng được bù đắp bằng baonhiêu đồng lợi nhuận trước thuế là lãi vay Chỉ tiêu này càng cao thể hiện khảnăng bù đắp chi phí lãi vay càng tốt Nếu doanh nghiệp có khả năng thanhtoán lãi vay tốt và ổn định qua các kì, các nhà cung cấp tín dụng sẽ sẵn sàngtiếp tục cung cấp vốn cho doanh nghiệp khi số gốc vay nợ đến hạn thanh toán
Hệ số này phản ánh mối quan hệ tỷ lệ giữa nguồn dùng để trả lãi vay với sốlãi vay phải trả Nguồn dùng để trả lãi vay chính là lợi nhuận trước lãi vay vàthuế
Trang 36Hệ số thanh Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Hệ số này thể hiện hiệu quả sử dụng vốn vay như thế nào, đưa lại mộtkhoản lợi nhuận là bao nhiêu, có đủ bù đắp lãi vay phải trả không và mức độsẵn sàng trả lãi vay của doanh nghiệp ra sao Nếu hệ số > 1 cho thấy doanhnghiệp có khả năng thanh toán lãi vay, hoạt động kinh doanh có lãi, sử dụngvốn vay có hiệu quả và ngược lại, khả năng thanh toán lãi vay thấp cho thấymột tình trạng nguy hiểm, suy giảm trong hoạt động kinh tế có thể làmgiảm Lãi trước thuế và lãi vay xuống dưới mức nợ lãi mà công ty phải trả, do
đó dẫn tới mất khả năng thanh toán và vỡ nợ
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp 1.2.4.1 Nhân tố khách quan
- Chính sách kinh tế của Nhà nước trong việc phát triển kinh tế
Nhà nước là người hướng dẫn, kiểm soát và điều tiết hoạt động của cácdoanh nghiệp trong các thành phần kinh tế Thông qua chính sách kinh tế,pháp luật kinh tế và các biện pháp kinh tế Nhà nước tạo môi trường và hànhlang cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh và hướng dẫn cáchoạt động kinh tế của các doanh nghiệp đi theo quỹ đạo kế hoạch vĩ mô.Chính sách kinh tế của Nhà nước đối với các doanh nghiệp có ý nghĩa rấtquan trọng trong định hướng đầu tư phát triển kinh doanh, đòn bẩy kinh tế,Nhà nước khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, kinh doanh vào những ngànhnghề, lĩnh vực có lợi cho quốc kế dân sinh Các chính sách khuyến khích đầu
tư, chính sách thuế sẽ ảnh hưởng tới phương hướng và chính sách hoạt độngcủa doanh nghiệp, ảnh hưởng tới cơ cấu tài trợ tài sản cũng như huy động cácnguồn vốn vay nợ, do đó sẽ ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của doanhnghiệp
Trang 37Đây là những yếu tố mà doanh nghiệp buộc phải nắm rõ và tuân thủ vôđiều kiện vì yếu tố này thể hiện ý chí của Nhà nước Những quy định trongcác văn bản pháp luật của Nhà nước ảnh hưởng chặt chẽ đến mọi hoạt độngcủa doanh nghiệp, trong đó có khả năng thanh toán
- Lạm phát
Lạm phát là hiện tượng kinh tế phổ biến trên thế giới hiện nay, nó ảnhhưởng tới sản xuất và đời sống của tất cả các quốc gia nói chung và các doanhnghiệp nói riêng Lạm phát chính là sự tăng giá với tốc độ cao và kéo dài
Lạm phát vừa phải tạo nên một sự chênh lệch giá hàng hóa, dịch vụgiữa các vùng làm cho hoạt động thương mại năng động hơn khiến cho cácdoanh nghiệp gia tăng sản xuất, đẩy mạnh cạnh tranh, đưa ra thị trường cácsản phẩm chất lượng cao hơn Trong tình trạng này, các doanh nghiệp cần cócác phương hướng kinh doanh đúng đắn, đảm bảo hiệu quả, thu về lợi nhuận,
ổn định khả năng thanh toán Lạm phát cao (lạm phát phi mã) và siêu lạmphát có ảnh hưởng xấu và rất xấu tới tất cả các lĩnh vực trong nền kinh tếquốc dân Giá cả các loại hàng hóa tăng cao với tốc độ nhanh và liên tục làmcho chi phí tăng cao, lợi nhuận của các doanh nghiệp bị giảm thấp, khó đảmbảo cho khả năng thanh toán được ổn định Bên cạnh đó, lượng tiền dự trữcủa doanh nghiệp sẽ bị giảm giá trị, làm suy giảm khả năng thanh toán hiệnthời, khả năng thanh toán nhanh và tức thời của doanh nghiệp
- Tình trạng nền kinh tế
Doanh nghiệp là chủ thể tham gia vào hoạt động của nền kinh tế, do đócác doanh nghiệp luôn chịu ảnh hưởng từ tình trạng của nền kinh tế đất nước
và thế giới Trong thời kỳ nền kinh tế vĩ mô phát triển ổn định, doanh nghiệp
có khả năng nắm bắt được các cơ hội kinh doanh, thuận lợi trong tìm kiếm thịtrường và các nguồn tài nguyên tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất kinhdoanh có hiệu quả, từ đó đảm bảo nguồn tiền thu về, ổn định khả năng thanh
Trang 38toán Ngược lại, nền kinh tế suy thoái, khủng hoảng sẽ tạo ra không ít khókhăn cho doanh nghiệp: việc tìm kiếm thị trường đầu ra khó khăn, sự cạnhtranh gay gắt từ các doanh nghiệp khác, thị trường đầu vào biến động mạnh làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, khả năng thanh toán vìvậy cũng gặp phải những ảnh hưởng không tốt.
- Thị trường và sự cạnh tranh
Là một chủ thể kinh tế, khả năng thanh toán của doanh nghiệp gắn bóchặt chẽ với nhân tố thị trường.Trong sản xuất hàng hóa, thị trường tiêu thụsản phẩm là một căn cứ hết sức quan trọng để doanh nghiệp thực hiện cácquyết định tài chính Thị trường chính là môi trường hoạt động của doanhnghiệp Trong môi trường này, doanh nghiệp phải tự đổi mới, nâng cao chấtlượng sản phẩm, đồng thời phải cạnh tranh với nhiều doanh nghiệp khác đểchiếm lĩnh thị trường Một doanh nghiệp chiếm lĩnh được thị trường sẽ dễdàng trì hoãn được các khoản nợ đến hạn, đồng thời có khả năng chuyển hóahàng tồn kho thành tiền một cách nhanh chóng, từ đó đáp ứng được nhu cầuthanh toán một cách nhanh nhất Vấn đề đặt ra cho doanh nghiệp là phải đầu
tư sản xuất những loại sản phẩm mà người tiêu dùng cần, căn cứ vào nhu cầuthị trường hiện tại và tương lai để xem xét và đưa ra quyết định Việc phântích thị trường đòi hỏi phải được xem xét hết sức khoa học và chính xác Bêncạnh đó, không thể bỏ qua yếu tố cạnh tranh, nó đòi hỏi doanh nghiệp phảicăn cứ tình hình hiện tại của bản thân, tình hình cạnh tranh giữa các doanhnghiệp trên thị trường và dự đoán tình hình trong tương lai để lựa chọnphương thức đầu tư thích hợp tạo lợi thế riêng cho doanh nghiệp trên thịtrường, từ đó giúp doanh nghiệp thu về lợi nhuận và đảm bảo thanh toán cáckhoản nợ trong dài hạn, giảm thiểu rủi ro, lành mạnh hóa tình hình thanh toáncủa doanh nghiệp
- Lãi suất và thuế trong kinh doanh
Trang 39Lãi suất và thuế là các yếu tố ảnh hưởng tới chi phí đầu tư của doanhnghiệp Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp thựchiện vay để bổ sung nguồn vốn ngoài nguồn vốn tự có, và do đó phải trả lãivay Lãi suất huy động thấp, doanh nghiệp được ưu đãi huy động bằng nguồnvốn vay nợ nhiều hơn, lãi vay phải trả hàng năm thấp hơn Thuế là công cụhết sức quan trọng của Nhà nước để điều tiết và hướng dẫn các doanh nghiệpđầu tư kinh doanh Đối với doanh nghiệp, thuế trong kinh doanh thấp hoặccao sẽ ảnh hưởng rất lớn đến doanh thu tiêu thụ từ ảnh hưởng tới lượng lợinhuận dùng để thanh toán lãi vay hàng năm Do vậy, lãi suất và thuế sẽ ảnhhưởng trực tiếp tới khả năng thanh toán lãi vay của doanh nghiệp trong kỳ sảnxuất kinh doanh
- Rủi ro trong kinh doanh
Rủi ro là khả năng xảy ra những biến cố không chắc chắn, gây ảnhhưởng đến tài sản của các chủ thể trong xã hội Các biến cố ngẫu nhiên, bấtthường xảy ra như thiên tai, hỏa hoạn, có thể gây ra những hậu quả, thiệt hạilớn và khó có thể lường trước cho doanh nghiệp Rủi ro khiến cho các tài sảncủa doanh nghiệp bị hư hại, thất thoát ảnh hưởng không tốt tới tình hình kinhdoanh, doanh thu mất ổn định, từ đó ảnh hưởng không tốt tới khả năng thanhtoán
- Sự biến động của tỷ giá hối đoái
Đối với các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có các hoạt độngkinh doanh xuất nhập khẩu, tỷ giá hối đoái là một nhân tố có ảnh hưởngkhông nhỏ tới khả năng thanh toán Nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp phụthuộc vào sự biến động tỷ giá, tỷ giá biến đổi làm cho khả năng thanh toán bịảnh hưởng
- Sự phát triển của thị trường tài chính
Kinh tế, hàng hóa và thị trường là các khái niệm gắn bó mật thiết với
Trang 40nhau Những hàng hóa thông thường được mua bán trên thị trường hàng hóathông thường Những hàng hóa đặc biệt - tài sản tài chính lại được mua bántrên thị trường đặc biệt - thị trường tài chính.
Trong nền kinh tế, về phương diện tài chính luôn tồn tại hai nhómngười: nhóm người đi vay tiền và nhóm người cho vay tiền Thị trường tàichính là thị trường trong đó vốn được chuyển từ những người dư thừa vốn(người cho vay) sang những người cần vốn (người đi vay) Đối với doanhnghiệp, thị trường tài chính không chỉ là nơi để huy động vốn với các kỳ hạnkhác nhau mà còn là nơi giúp họ nâng cao khả năng thanh toán, đáp ứng cácnhu cầu thanh toán một cách kịp thời nhất
- Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành nghề kinh doanh
Tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế kỹ thuật và chu kỳ sản xuất kinh doanhkhác nhau mà các doanh nghiệp có sự lựa chọn trong chính sách huy động vàtài trợ khác nhau, điều này có ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của doanhnghiệp Doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất dài, vòng quay vốn chậm thì cơ cấunguồn vốn sẽ nghiêng vốn chủ sở hữu, ngược lại, những doanh nghiệp thuộcnhững ngành nghề có mức cầu về sản phẩm ít biến động, vòng quay vốnnhanh thì sử dụng nhiều nợ vay hơn Các doanh nghiệp có tài sản dễ dàngdùng làm tài sản thế chấp cho các khoản vay sẽ có xu hướng sử dùng nhiềuvốn nợ và đòn bẩy tài chính Việc huy động vốn vay sẽ tạo ra cho doanhnghiệp áp lực thanh toán các khoản nợ và lãi vay, từ đó ảnh hưởng tới khảnăng thanh toán của doanh nghiệp
1.2.4.2. Nhân tố chủ quan
- Chính sách huy động vốn
Các doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cần có vốn.Nguồn vốn có thể do doanh nghiệp tự có hoặc đi vay Dựa trên những yếu tốảnh hưởng bên trong và bên ngoài, cũng như chiến lược sản xuất kinh doanh