1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

1579 thực trạng đô la hóa ở VN và ảnh hưởng cuả nó tới hiệu quả chính sách tiền tệ luận văn thạc sĩ kinh tế (FILE WORD)

130 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 621,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm hiện tượng đô la hóa Hiện tượng đô la hoá cao trong nền kinh tế có thể xem như hậu quả của sự thiếulòng tin của các chủ thể kinh tế vào nội tệ trong việc thực hiện các chức năn

Trang 1

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO ĐẠO

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

LÊ THỊ HIỀN

HƯỞNG CỦA NÓ TỚI HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH TIỀN

TỆ

Chuyên ngành: Kinh tế tài chính - Ngân hàng

Mã số: 60.31.12

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn văn Tiến

HÀ NỘI 2011

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những kết quả và nội dung của Luận văn là trung thực, chưa được công bố ở những công trình nghiên cứu khác.

Hà Nội, ngày tháng năm 2011

Tác giả

Lê Thị Hiền

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆN TƯỢNG ĐÔ LA HÓA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐÔ LA HÓA TỚI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 5

1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÔ LA HÓA 5

1.1.1 Khái niệm hiện tượng đô la hóa 5

1.1.2 Phân loại đô la hóa 5

1.1.3 Tiêu chí đánh giá mức độ đô la hoá 7

1.1.4 Nguồn gốc của hiện tượng đô la hoá 7

1.1.5 Kinh nghiệm kiềm chế đô la hoá ở các quốc gia 19

1.2 ẢNH HƯỞNG CỦA ĐÔ LA HÓA TỚI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 27

1.2.1 Đô la hoá làm giảm hiệu quả kiểm soát tiền tệ của Ngân hàng trung ương 27

1.2.2 Đô la hóa làm giảm hiệu quả chính sách tiền tệ 29

Chương 2: THỰC TRẠNG ĐÔ LA HÓA Ở VIỆT NAM VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TỚI HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 36

2.1 THỰC TRẠNG ĐÔ LA HÓA Ở VIỆT NAM 36

2.1.1 Diễn biến đô la hóa ở Việt Nam từ 1988 đến tháng 6 năm 2011 36

2.1.2 Đô la hóa trong các khu vực tài chính 44

2.2 ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM 65

2.2.1 Chính sách tỷ giá Việt Nam qua các thời kỳ 65

2.2.2 Lạm phát, lãi suất và điều hành chính sách tiền tệ 68

2.3 NGUYÊN NHÂN CỦA HIỆN TƯỢNG ĐÔ LA HOÁ Ở VIỆT NAM 77

2.3.1 Đô la hóa do nhu cầu thanh toán quốc tế 77

2.3.2 Đô la hóa do ảnh hưởng của các dòng vốn quốc tế 78

Trang 4

2.3.3 Đô la hóa do chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường tự

do 81

2.3.4 Đô la hóa do biến động của lãi suất, tỷ giá 84

2.3.5 Mối quan hệ định lượng giữa đô la hóa và bất ổn của nền kinh tế 86

2.3.6 Đô la hóa do thiếu lòng tin vào đồng nội tệ và hoạt động kinh doanh bất hợp pháp 89 2.4 TÁC ĐỘNG CỦA ĐÔ LA HOÁ TỚI HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG THỜI GIAN QUA 90

2.4.1 Đô la hoá làm giảm hiệu quả kiểm soát tiền tệ của NHTW 91

2.4.2 Đô la hóa làm giảm hiệu quả chính sách tiền tệ 91

Chương 3 : GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA Ở VIỆT NAM NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 97

3.1 TÍNH TẤT YẾU NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 97

3.2 CÁC GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA Ở VIỆT NAM NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 99

3.2.1 Mục tiêu và định hướng biện pháp kiềm chế đô la hóa 99

3.2.2 Các biện pháp thúc đẩy tiến trình phi đô la hóa ở Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả chính sách tiền tệ 101

3.2.3 Điều kiện thực hiện giải pháp 111

3.3 KIẾN NGHỊ 113

KẾT LUẬN 114 TÀI LIỆU THAM KHẢO

CÁC PHỤ LỤC

Trang 5

CSTT Chính sách tiền tệ

ngoài

giới

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 6

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ

Bảng 2.1: Các chỉ số đánh giá mức độ đô la hoá ở Việt

Trang 7

Bảng 2.15: Tỷ giá, lãi suất, lợi tức và mức độ đô la hoá tiền

Trang 8

PHỤ LỤC

Phụ lục 1 : Lợi ích của Mỹ khi sở hữu đồng tiền tiêu chuẩn của thế giới

Suy cho cùng, đế chế toàn cầu phụ thuộc rất nhiều vào việc đồng đô la hiện đang làđồng

tiền tiêu chuẩn của thế giới và chỉ có cơ quan in tiền Mỹ có quyền in những đồng đô la nàymà

thôi Vì thế, chúng tôi cho những nước như Êcuado vay những khoản vay mà chúng tôi biếtchắc

rằng họ không bao giờ có thể chi trả được Trên thực tế, chúng tôi cũng không muốn họ thanhtoán các khoản nợ này đúng hạn vì có như thế chúng tôi mới có quyền và có cớ để thúc nợ.Thông thường, chúng tôi có thể gặp rủi ro vì nguồn vốn của chúng tôi sẽ dần hao kiệt khi làmnhư vậy, xét cho cùng, không chủ nợ nào có thể cầm cự được khi có nhiều khoản vay khôngthanh toán Tuy nhiên, trường hợp của chúng tôi lại khác Tiền nước Mỹ in ra không dựa trênkim bản vị Trên thực tế, sức mạnh của đồng đô la không dựa trên bất cứ thứ gì ngoài lòng tinnói chung của toàn thế giới đối với sức mạnh kinh tế Mỹ va đối với khả năng kiểm soát đượctất

cả các nguồn lực và thế lực của đế chế mà Mỹ đã tạo ra để hậu thuẫn cho mình

Việc sở hữu đồng ngoại tệ mạnh nhất thế giới đã đem lại cho nước Mỹ một sức mạnh

vô biên Mỹ có thể tiếp tục cung cấp những khoản vay không bao giờ hoàn lại, và có thể tíchlũy những khoản nợ khổng lồ Chừng nào cả thế giới còn công nhận đồng đô la là đồng tiềncủa thế giới, khoản nợ quá mức này sẽ chẳng gây ra cản trở nghiêm trọng nào đối với chế độtập đoàn trị Tuy nhiên, trong trường hợp có một đồng tiền khác mạnh lên đủ sức thay thế đô

la, và nếu các chủ nợ của Mỹ như Nhật Bản, Trung Quốc quyết định thu hồi các khoản nợcủa Mỹ, tình hình sẽ trở nên hết sức tồi tệ Khi đo nước Mỹ sẽ bất thình lình rơi vào tình thế

vô cùng nguy hiểm

Trên thực tế, sự tồn tại của một đồng tiền như vậy không chỉ là giả thiết Sau khi xuấthiện trên thị trường tài chính thế giới tháng 01/2002, sức mạnh và vị thế của đồng EUROkhông ngừng tăng lên Đồng EURO mang lại một cơ hội hiếm có cho các nước OPEC nếucác nước này quyết định trả đũa Mỹ cho cuộc tấn công vào Iraq, hoặc bất cứ lý do nào họmuốn đối đầu trực diện với Mỹ Quyết định của OPEC sử dụng đồng EURO thay cho đồng

đô la làm đồng tiền tiêu của tổ chức này sẽ làm rung chuyển đến tận gốc rễ đế chế toàn cầu

Trang 9

Quốc gia Tiền gửi ngoại tệ/Tổng

tiền gửi (TGNT/TG)

Tín dụng ngoạitệ/Tổng mức tín dụng

Trang 10

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong những năm gần đây, vấn đề đô la hoá ngày càng thu hút sự quan tâm củacác nhà hoạch định chính sách và các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính tiền tệ ngânhàng Đô la hoá là tình trạng phổ biến của các nước đang phát triển và các nước đangtrong quá trình chuyển đổi Ở những nước này, tình trạng lạm phát cao thường là trên 2con số, đồng tiền trong nước mất ổn định, mất giá tức là đồng tiền bị mất lòng tin, nêncác chức năng thuộc tính của tiền tệ bị thu hẹp, nhường chỗ cho ngoại tệ mạnh, chủ yếu

là đô la Mỹ, lấn lướt

Khi một nước bị lâm vào tình trạng đô la hoá, ngân hàng trung ương sẽ gặp nhiềukhó khăn trong việc điều hành chính sách tiền tệ cũng như việc thực hiện chức năng chovay cứu cánh cuối cùng do thị trường đồng nội tệ bị thu hẹp Vấn đề nghiên cứu và đánhgiá thực trạng mức độ đô la hoá của nền kinh tế đang được nhiều nhà phân tích và lậpchính sách quan tâm

Sau khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước từ năm

1986, nền kinh tế Việt Nam dần được khôi phục và đạt mức tăng trưởng ấn tượng từ năm

1991 - 2010 Các chính sách vĩ mô được áp dụng bước đầu đã cho thấy những kết quả trongviệc khống chế lạm phát, giảm sự biến động của tỷ giá Khuôn khổ luật pháp cũng dần đượchình thành tạo cơ sở cho các khu vực kinh tế phát triển năng động hơn Tuy nhiên, trong quátrình mở cửa, hội nhập Việt Nam cũng không thể tránh khỏi hiện tượng đồng ngoại tệ thâmnhập vào nền kinh tế, thực hiện các chức năng của đồng nội tệ ngay trên lãnh thổ Việt Nam

Số liệu thống kê cho thấy, mức đô la hóa luôn có khuynh hướng gia tăng khi nền kinh tế cónhững dấu hiệu bất ổn Chính vì vậy hiện tượng đô la hóa đang ngày càng được giới học giả

Tình hình nghiên cứu về đô la hóa: Hiện tượng đô la hóa được nhiều quốc gia

quan tâm, trên thế giới đã có nhiều học giả nghiên cứu về hiện tượng này, tuy nhiên

1

Trang 11

những nghiên cứu về đô la hóa ở Việt Nam chưa nhiều Năm 2002, khi nền kinh tế đốimặt với mức đô la hóa cao đã có một số bài tham luận trong cuộc hội thảo về đô la hóa

do NHNN tổ chức, tuy nhiên sau đó có rất ít nghiên cứu về hiện tượng này Các nghiêncứu về đô la hóa chủ yếu là những nghiên cứu với quy mô nhỏ, tập trung vào một vàikhía cạnh của hiện tượng đô la hóa:

Nguyễn Thị Hồng năm 2002 với tiêu đề “Đô la hóa tài sản nợ và tài sản có tài

chính của hộ gia đình, doanh nghiệp và các ngân hàng ở Việt Nam ” trong nghiên cứu

này bà Hồng đã đánh giá mức độ đô la hóa thông qua phân tích tiền gửi ngoại tệ tạiNHTM, với thời lượng vừa phải nghiên cứu này phân tích chuyên sâu về hiện tượng đô

la hóa ở khu vực dân cư, doanh nghiệp, tuy nhiên do quy mô nhỏ nên tác giả chỉ đi sâuphân tích diễn biến đô la hóa trong hai khu vực dân cư và doanh nghiệp, chưa nêu đầy đủcác nguyên nhân khác ảnh hưởng đến mức độ đô la hóa ở Việt Nam

Năm 2002 cũng xuất hiện có một số nghiên cứu của các tác giả như: Nghiên cứucủa Nguyễn Thị Nhung năm 2002 về lãi suất và đô la hóa, Nguyễn Thị Thu, 2002 về tìnhtrạng rủi ro tỷ giá vá các chính sách tỷ giá, nghiên cứu của Dương Hồng Phương vàNguyễn Thị Hương, 2002 về lợi ích và giá phải trả của đô la hóa Tuy nhiên các nghiêncứu này chỉ dừng ở quy mô các bài tham luận hội thảo, tạp chí với mức độ đánh giá mức

độ đô la hóa trên các khía cạnh nhỏ, riêng biệt

Cuối năm 2008, Chính phủ cũng đã giao cho NHNN chủ trì đề tài nghiên cứu về

đô la hóa dự kiến đến cuối quý 2 năm 2009 sẽ hoàn thành, tuy nhiên đến nay chưa thấy

đề tài này được công bố

Ngoài ra, trên các tờ báo ngày như vneconomy, vnexpress cũng có một số bàibáo mang tính chất tin tức khi nền kinh tế có biểu hiện đầu cơ ngoại hối, các bài báo nàychủ yếu mang tính chất đưa tin với phạm vi rất hẹp, chưa thể đánh giá là các nghiên cứukhoa học

Hiện tượng đô la hóa gây nhiều ảnh hưởng đến nền kinh tế tuy nhiên, ở Việt namchưa có các công trình nghiên cứu mang tính quy mô, đánh giá đầy đủ diễn biến, mức độảnh hưởng của hiện tượng đô la hóa tới hiệu quả CSTT Chính vì vậy, một đề tài nghiêncứu về đô la hóa là một nghiên cứu mới là cần thiết nhằm phân tích hiện tượng đô la hóamột cách tổng thể, đầy đủ, chỉ ra nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng của hiện tượng nàyqua đó đề xuất các giải pháp kiềm chế hiện tượng đô la hóa ở Việt Nam Chính vì vậy

2

Trang 12

tác giả lựa chọn đề tài: “Thực trạng đô la hóa ở Việt Nam và ảnh hưởng của nó tới

hiệu quả chính sách tiền tệ” làm đề tài nghiên cứu.

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Luận văn nghiên cứu mức độ đô la hoá ở thị trường Việt Nam thông qua việcphân tích và đánh giá:

- Nâng cao nhận thức và góp phần hoàn thiện những vấn đề lý luận về hiện tượng

đô la hóa ở Việt Nam

- Đánh giá thực trạng để tìm ra những ảnh hưởng, nguyên nhân của hiện tượng

đô la hóa ở Việt Nam

-Tìm ra những ảnh huởng của đô la hoá tới hiệu quả chính sách tiền tệ

- Nghiên cứu kinh nghiệm kiềm chế đô la hóa ở một số quốc gia nhằm rút ra bàihọc cho Việt Nam

- Đề xuất các giải pháp nhằm kiềm chế hiện tượng đô la hóa ở Việt Nam

3 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hiện tượng đô la hóa ở Việt Nam và những ảnhhưởng của nó tới hiệu quả CSTT

4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Thời gian nghiên cứu được thực hiện từ giai đoạn giai đoạn 1991 - 2010 Luậnvăn chủ yếu tập trung nghiên cứu hiện tượng đô la hóa trong hệ thống tài chính như khuvực dân cư, khu vực doanh nghiệp, ngân hàng, đô la hóa ở khu vực thị trường tự do cũngđược tác giả tính toán tuy nhiên do giới hạn của số liệu thống kê nên tác giả chưa ướctính được lượng ngoại tệ chuyển bất hợp pháp ra, vào nền kinh tế

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Luận văn đã thực hiện nghiên cứu hiện tượng đô la hóa nền kinh tế Việt Nam mộtcách tổng thể, luận văn cũng đi sâu vào nghiên cứu mức độ đô la hóa trên từng khu vựccủa hệ thống tài chính Những nội dung chính của luận văn không trùng lặp với cácnghiên cứu nào về hiện tượng đô la hóa trước đây

Đưa ra những ảnh hưởng của đô la hoá tới hiệu quả chính sách tiền tệ từ đó có đềxuất giải pháp nhằm kiềm chế đô la hoá và điều hành CSTT một cách hiệu quả Luậnvăn đã phân tích rõ thực trạng, mức độ hiện tượng đô la hóa ở Việt Nam, chỉ ra nguyênnhân và ảnh hưởng của hiện tượng đô la hóa tới nền kinh tế, luận văn cũng ước tính

3

Trang 13

những thiệt hại về tài chính mà nền kinh tế phải trả do hiện tượng thuế lạm phát của cácnước phát hành.

Các phân tích trong luận văn cũng chỉ rõ kiềm chế đô la hóa ở khu vực dân cư làkhó khăn nhất, khu vực dân cư thường có tốc độ đô la hóa cao khi nền kinh tế có bất ổn

vĩ mô, do vậy cần chú trọng các giải pháp kiềm chế đô la hóa vào khu vực này

Luận văn cũng đã đưa ra một hệ thống các giải pháp nhằm hạn chế hiện tượng đô lahóa ở Việt Nam dựa trên những nghiên cứu thực tế ở Việt Nam và bài học kinh nghiệm đúcrút từ chính sách kiềm chế đô la hóa của một số quốc gia

6 Ket cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục đi kèm thì luận văn được kết cấu bởi 3 chương:

- Chương 1: Lý luận chung về đô la hóa và ảnh hưởng của nó tới chính sách tiền tệ

- Chương 2: Thực trạng đô la hóa ở Việt Nam và tác động của nó đến hiệu quả

chính sách tiền tệ

- Chương 3: Giải pháp hạn chế tình trạng đô la hóa ở Việt Nam nhằm nâng caohiệu quả chính sách tiền tệ

4

Trang 14

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÔ LA HOÁ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TỚI CHÍNH

SÁCH TIỀN TỆ

1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÔ LA HÓA

1.1.1 Khái niệm hiện tượng đô la hóa

Hiện tượng đô la hoá cao trong nền kinh tế có thể xem như hậu quả của sự thiếulòng tin của các chủ thể kinh tế vào nội tệ trong việc thực hiện các chức năng của tiền tệ.Hầu hết sự mất lòng tin này bắt nguồn từ những bất ổn, biến động của các chỉ số lãi suất,làm phát, tỷ giá điều này ảnh hưởng đến tài sản, lợi ích của các chủ thể kinh tế Do vậy,

họ lựa chọn sử dụng ngoại tệ như một phương án thay thế các chức năng đồng nội tệ bịmất lòng tin Hiện tượng đô la hóa tăng lên khi các chủ thể kinh tế gia tăng sử dụngngoại tệ thay thế các chức năng của đồng nội tệ trong các hoạt động giao dịch, cất trữ tài

sản Khái niệm đô la hoá được định nghĩa như sau: Đô la hoá là hiện t—ợng kinh tế, trong

đổ đồng USD hoặc các ngoại tệ mạnh khác đạc sử dụng rộng rãi trong các hoạt động kinh tế của một nền kinh tế thay cho đồng bản tệ trong một số hay toàn bộ chức năng tiền tệ.

Nền kinh tế sử dụng ngoại tệ thay thế một cách rộng rãi chức năng của đồng nội

tệ thì gọi là nền kinh tế bị đô la hoá cao, theo IMF các nền kinh tế có tỷ lệ tiền gửi ngoạitệ/M2 lớn hơn 30% được xem là nền kinh tế bị đô la hóa cao NHNN định nghĩa nền

kinh tế bị đô la hóa như sau: “Tiền tệ có 3 chức năng là: Dự trữ giá trị; phương tiện

thanh toán và đơn vị tính toán Nền kinh tế bị “đô la hoá” là nền kinh tế có các đồng ngoại tệ được sử dụng rộng rãi thay thế cho một hay nhiều chức năng của đồng nội tệ”

[18]

Khái niệm đô la hoá trong nghiên cứu này được sử dụng thay cho thuật ngữ ngoại

tệ hoá Thuật ngữ “đô la hoá” thường được sử dụng phổ biến ở trên thế giới có ý nghĩa tương đương thuật ngữ “ngoại tệ hoá” do đồng đô la là đồng tiền xuất hiện phổ biến với

số lượng lớn trong hầu hết các nền kinh tế bị ngoại tệ hoá

5

Trang 15

1.1.2 Phân loại đô la hóa

Đô la hoá được phân loại theo nhiều tiêu thức: Trên phương diện luật pháp đô lahoá được phân chia thành đô la hoá chính thức, đô la hoá không chính thức ngoài ra một

số quốc gia cho phép tình trạng đô la hóa bán chính thức trong nền kinh tế

Đô la hoá chính thức: Thường gọi là “đô la hoá toàn phần” xuất hiện khi đồng

ngoại tệ là đồng tiền chính thức, hợp pháp được lưu hành Đồng ngoại tệ không chỉ sửdụng hợp pháp trong các giao dịch tư nhân mà còn hợp pháp trong cả các thanh toán củaChính phủ Còn đồng nội tệ tồn tại chỉ đóng vai trò thứ yếu và chỉ có các đồng tiền xuhay đồng tiền có mệnh giá nhỏ

Các quốc gia áp dụng hiện tượng đô la hóa chính thức thường là các quốc gia nhỏ,các quốc gia phụ thuộc kinh tế, chính trị, văn hóa với các nước phát hành tiền Danh sáchcác quốc gia sử dụng ngoại tệ là đồng tiền chính thức năm 2002 được liệt kê trong phụlục số 1 của luận văn

Đô la hoá không chính thức xuất hiện khi người cư trú nắm giữ ngoại tệ hoặc tài

sản tài chính dưới dạng tài sản ở nước ngoài không được sự thừa nhận của pháp luật.Thuật ngữ đô la hoá không chính thức bao hàm cả trường hợp nắm giữ tài sản nướcngoài hợp pháp và bất hợp pháp Đô la hoá không chính thức bao gồm việc nắm giữ cáctài sản sau:

- Chứng khoán ngoại tệ và các tài sản phi tiền tệ ở nước ngoài

- Tiền gửi ở nước ngoài

- Các khoản tiền gửi ngoại tệ tại các ngân hàng trong nước

- Ngoại tệ, giấy tờ có giá trị bằng ngoại tệ nắm giữ

- Ngoại tệ trong lưu thông

Theo Conies Mack [34, tr.2] phân chia đô la hoá không chính thức thành 3 cấp độdựa trên chức năng chính của tiền tệ bao gồm: Cất trữ giá trị, phương tiện thanh toán,đơn vị kế toán

Cấp độ 1: Ở cấp độ này, người dân giữ trái phiếu ngoại tệ và các khoản tiền gửi ở

nước ngoài với mục đích cất giữ tài sản Động cơ cất trữ này đề phòng những rủi ro vềgiảm giá trị do lạm phát trong nước hoặc quốc hữu hoá tài sản

Cấp độ 2: Người dân nắm giữ số lượng lớn ngoại tệ tại các tài khoản tiền gửi (nếu

được cho phép), giấy tờ có giá bằng ngoại tệ sử dụng cả với mục đích thanh toán và

6

Trang 16

cất trữ giá trị Lương và các khoản thu nhập vẫn được thanh toán bằng nội tệ nhưng cáchàng hoá đắt tiền như ô tô, nhà cửa thường được thanh toán bằng ngoại tệ.

Cấp độ 3: Ở cấp độ này, giá cả hàng hoá được tính bằng nội tệ tuy nhiên mọi

người đều tính giá ngoại tệ thông qua tỷ giá hối đoái Lúc này giá cả bằng nội tệ chỉ đóngvai trò như chỉ số chuyển đổi ra ngoại tệ cùng với tỷ giá hối đoái

Đô la hoá không chính thức phổ biến ở nhiều nước đang phát triển, theo thống kêcủa IMF có khoảng 52 quốc gia có mức độ đô la hoá không chính thức cao năm 2000trong đó có Việt Nam

Đô la hoá bán chính thức: Diễn ra ở các quốc gia cho phép lưu hành chính thức

hai hay nhiều đồng tiền, ở các nước này đồng ngoại tệ là đồng tiền lưu hành hợp pháp vàthậm chí có thể chiếm ưu thế trong các khoản tiền gửi ngân hàng, nhưng đóng vai tròthấp hơn trong việc thanh toán lương, thuế và chi tiêu hàng ngày của dân cư Khônggiống các nước có đô la hoá chính thức, các nước đô la hoá bán chính thức vẫn duy trìNHTƯ hoặc các cơ quan tương đương để điều hành chính sách tiền tệ

1.1.3 Tiêu chí đánh giá mức độ đô la hóa

Các học giả, các tổ chức tài chính quốc tế như : Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), ngân

hàng thế giới (WB) thường sử dụng tỷ số tiền gửi ngoại tệ/M2 (TGNT/M2) để đánh giá

mức độ đô la hóa của nền kinh tế Theo IMF khi nền kinh tế có tỷ lệ TGNT/M2 lớn hơn30% thì nền kinh tế có hiện tượng đô la hóa cao Trên 19% là nền kinh tế có mức độ đô

la hóa vừa phải và dưới 19% là nền kinh tế có mức độ đô la hóa thấp

Theo IMF năm 1998 có 19 quốc gia có tỷ lệ đô la hóa tài khoản tiền gửi ởmức cao trên 30% M2 và 35 quốc gia có mức độ đô la hóa vừa phải với tỷ lệ tiềngửi ngoại tệ bình quân khoảng 16.4% M2

Ngoài tiêu chí TGNT/M2, một số tác giả còn sử dụng tỷ số tiền gửi ngoại tệ/tổng

tiền gửi (TGNT/TTG) để đánh giá hành vi cơ cấu danh mục tiền gửi của các chủ thể

kinh tế Nếu tỷ trọng này gia tăng qua các năm có nghĩa các chủ thể kinh tế đang tăngcường nắm giữ ngoại tệ và ngược lại Khi nền kinh tế có tốc độ cơ cấu danh mục tiền gửisang ngoại tệ nhanh, mạnh làm chỉ tiêu TGNT/TTG tăng nhanh chứng tỏ sự tin tưởng, vịthế của đồng nội tệ bị suy giảm và ngược lại

1.1.4 Nguồn gốc của hiện tượng đô la hoá

Hiện tượng đô la hoá thường xuất hiện mọi quốc gia trên toàn cầu, tuy nhiên

7

Trang 17

đô la hoá ở mức độ cao chỉ diễn ra ở các nước đang phát triển, các nước châu Mỹ La tinh

và các nước có nền kinh tế chuyển đổi Tại các quốc gia này, đồng nội tệ yếu lòng tincủa dân chúng vào đồng nội tệ thấp, tỷ giá hối đoái bất ổn và tỷ lệ lạm phát cao Trongnền kinh tế có mức độ đô la hoá cao, hiện tượng đô la hoá diễn ra với mọi chủ thể của hệthống tài chính do các nguyên nhân chủ yếu sau:

1.1.4.1 Khác biệt giữa lý thuyết thị trường hoàn hảo và thực tiễn

Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo lý thuyết, ngang giá lãi suất được duy trì thìviệc đầu tư, vay vốn, tích trữ bằng bất kỳ đồng tiền nào cũng mang lại lợi ích như nhau

và quá trình đô la hoá không xảy ra Trong thực tế, sự lựa chọn đồng tiền gửi ngân hàng,đầu tư, cho vay phụ thuộc vào dòng tiền dự kiến (kỳ vọng) trọng tương lai, mỗi chủ thểkinh tế sẽ không đồng nhất trong tiếp cận thông tin và có những dự báo các chỉ số về tỷgiá, lạm phát tương lai khác nhau, điều này dẫn đến hành vi lựa chọn đồng tiền đầu tư,tiền gửi ngân hàng, cho vay nhằm tối đa hoá lợi ích dự tính trong tương lai Do vậy, ởnhiều quốc gia có sự bất ổn về lạm phát, tỷ giá, lãi suất, quá trình đô la hoá diễn ra rấtmạnh mẽ, về mặt học thuật điều này có thể giải thích về do:

Thứ nhất, những hạn chế về thị trường tài chính

Trong thực tế do các nhân tố thị trường không phản ứng nhanh như trên lý thuyết,cân bằng Fisher ít khi xẩy ra một cách chuẩn xác Do vậy, tạo ra sự kỳ vọng về chênhlệch lãi suất khi đầu tư vào các đồng tiền khác nhau, đây là nguyên nhân quan trọng dẫnđến quá trình đô la hoá bùng nổ ở nhiều quốc gia Tại các quốc gia này, sự yếu kém củađồng nội tệ, của hệ thống tài chính và thị trường tài chính cùng với nguyên nhân lạmphát tăng cao dẫn đến sự mất lòng tin vào đồng nội tệ

Thông tin trên thị trường tài chính cũng không hoàn hảo như thông tin trên thịtrường cạnh tranh hoàn hảo do vậy, kỳ vọng trong tương lai của những nhà đầu tư và chovay vào lợi nhuận của đồng ngoại tệ là khác nhau dẫn đến hành vi đầu tư khác nhau

Đặc biệt đối với các quốc gia có tỷ lệ lạm phát cao, thị trường tài chính kém pháttriển, càng khó tạo ra sự cân bằng trong hiệu ứng Fisher

Thứ hai, xuất hiện chi phí giao dịch

Có hai loại chi phí giao dịch cơ bản, chi phí giao dịch trên thị trường ngoại hối(chi phí giao ngay và kỳ hạn) và chi phí giao dịch trên thị trường chứng khoán bao gồmcác giao dịch liên quan đến hoạt động:

8

Trang 18

- Mua ngoại tệ giao ngay trên thị trường

- Mua chứng khoán nước ngoài trên thị trường chứng khoán

- Bán ngoại tệ kỳ hạn trên thị trường ngoại hối

- Bán chứng khoán trước khi đến hạn

- Những giao dịch trên đều giảm thu nhập đầu tư từ nước ngoài

Ngoài ra khách hàng có khả năng phải chịu chi phí môi giới, chi phí dịch vụ khimua ngoại tệ tại các NHTM

Thứ ba, chi phí thu thập và xử lý thông tin, thông tin không hoàn hảo

Trong thực tế người sử dụng thông tin phải mua hoặc sử dụng nguồn lực để tìmkiếm thông tin, như vậy chi phí thu thập, xử lý thông tin cũng như chi phí giao dịch kháclàm ngang giá lãi suất không cân bằng

Thứ tư, can thiệp của Chính phủ

Trong thực tế Chính phủ có thể can thiệp vào thị trường ngoại hối, áp dụng các chính

vĩ mô như sách tiền tệ, chính sách tỷ giá, tài chính, can thiệp vào lãi suất tiền gửi, tiền vaynội, ngoại tệ làm thay đổi cân bằng lãi suất trên thị trường tài chính Điều này làm cho hiệuứng Fisher không được cân bằng

Thứ năm, tính không đồng nhất giữa các loại tài sản

Trong lý thuyết tài sản có mức độ đồng nhất về rủi ro, độ thanh khoản, kỳ hạn.Tuy nhiên trong thực tế các loại tài sản khác nhau có tính thanh khoản khác nhau và có

độ rủi ro khác nhau như rủi ro vỡ nợ, rủi ro chính trị Người đầu tư thường có khuynhhướng chọn những loại tài sản có mức rủi ro thấp hơn nếu có cùng mức lãi suất Do vậy,nhiều hành vi đầu tư tài sản bằng ngoại tệ xảy ra khi đồng nội tệ bị đánh giá là có tính rủi

ro cao, không hiệu quả trong việc thực hiện chức năng tích trữ tài sản so với đồng ngoạitệ

Sự khác biệt giữa lý thuyết và thực tiễn phần nào giải thích nguyên nhân tại sao các chủthể kinh tế nắm giữ các loại tiền tệ khác nhau với kỳ vọng tối đa hóa thu nhập trongtương lai

1.1.4.2 Một số nguyên nhân nội tại của nền kinh tế

* Tỷ lệ lạm phát cao và duy trì lãi suất bất lợi cho đồng nội tệ

Tài sản, tiền gửi bằng nội tệ bị thay thế bởi ngoại tệ một cách mạnh mẽ đối vớicác quốc gia hiện đang áp dụng lãi suất thực thấp hơn lãi suất thực của đồng ngoại

9

Trang 19

tệ Do vậy, lãi suất kỳ vọng trong tương lai của đồng nội tệ tiếp tục được dự báo thấphơn so với đồng ngoại tệ Sự mất cân bằng trong hiệu ứng Fisher làm cho RUSD - ΔPuse

Nếu một quốc gia có tỷ lệ lạm phát cao tuy nhiên áp dụng chính sách lãi suất chủđộng để lãi suất thực của đồng nội tệ cao hơn lãi suất thực của đồng ngoại tệ thì quá trình

đô la hoá sẽ bị hạn chế do lợi ích của việc nắm giữ ngoại tệ thấp hơn so với lợi ích nắmgiữ nội tệ Tuy nhiên các quốc gia đang phát triển thường hay gặp tình trạng tiến thoáilưỡng nan, nếu nâng cao lãi suất danh nghĩa để lãi suất thực dương chống đô la hoá thìnảy sinh hiện tượng lãi suất cao, giảm cầu đầu tư và tăng trưởng Nếu hạ lãi suất bị dễ bịdẫn đến hiện tượng đô la hoá

* Tỷ giá hối đoái thường xuyên bị thay đổi đột biến, khó dự báo

Một nguyên nhân khác của hiện tượng bùng nổ đô la hoá là sự thay đổi đột ngộtcủa tỷ giá tại các quốc gia Sự thay đổi đột ngột này làm cho

RVND - RUSD < (Et - E)/E

Trong đó:

E tỷ giá giao ngay hiện tại

Et chính là tỷ giá giao ngay dự kiến sau thời hạn t (tỷ giá kỳ vọng)Chênh lệch lãi suất danh nghĩa của đồng nội tệ so với ngoại tế nhỏ hơn mức tănggiá kỳ vọng của tỷ giá giao ngay Điều này có nghĩa các chủ thể tài chính sẽ có lợi íchhơn khi chuyển đổi sang đồng ngoại tệ

Tại các quốc gia có đồng tiền yếu, cán cân thanh toán thường xuyên bị thâm hụtdẫn đến tỷ giá thường xuyên biến động bất thường, các chủ thể kinh tế có khuynh hướng

1 -Chính sách lãi suất bị động là chính sách lãi suất điều chỉnh phản ánh sự gia tăng của tỷ lệ phạm phát, chính sách lãi suất chủ động là chính sách lãi suất điều chỉnh làm thay đổi mức lãi suất thực gọi là chính sách lãi suất chủ động (Nguyến Văn Tiến, 2003,trang 482) 10

Trang 20

chuyển sang đồng ngoại tệ đặc biệt sau các cú sốc về tỷ giá hoặc trước hoặc sau khi dựbáo có sự phá giá đồng nội tệ.

Neu đồng tiền có lịch sử bất ổn trong nhiều năm, quá trình đô la hoá sẽ diễn ra cảtrong

thanh toán và đô la hoá tài sản khi các doanh nghiệp, hộ gia đình có nhu cầu sử dụng ngoại tệthực hiện các chức năng tiền tệ để tránh rủi ro và đầu cơ Nhu cầu tích trữ tài sản cũng cókhuynh hướng dịch chuyển sang ngoại tệ do kỳ vọng thu nhập cao hơn và độ rủi ro thấp hơntrong tương lai

* Đô la hoá do yếu tố tâm lý

Đô la hóa thường diễn biến mạnh ở các quốc gia có đồng tiền yếu, thâm hụtthương mại, có tỷ lệ lạm phát cao Tuy nhiên, một số nền kinh tế đã ổn định, sau mộtthời gian lạm phát cao, lãi suất giảm thì tỷ lệ đô la hoá vẫn cao, thậm chí kể cả khi lãisuất thực của đồng nội tệ cao hơn so với lãi suất thực của đồng ngoại tệ Giải thích hiệntượng này có một số nguyên nhân sau:

+ Sau thời gian nền kinh tế bị bất ổn, tâm lý người dân chưa tin tưởng vào nội tệ

và luôn lo ngại rủi ro về tỷ giá nên vẫn duy trì nắm giữ tài sản bằng đồng ngoại tệ Vị thếđồng nội tệ chỉ được nâng lên nếu trong thời gian dài nền kinh tế có sự ổn định vĩ mô vàlợi ích gửi ngoại tệ cao hơn so với lợi ích gửi nội tệ Việc lấy lại lòng tin vào đồng nội tệkhá khó khăn và thường đòi hỏi thời gian dài

+ Nhiều người dân không tiếp cận được thông tin để xác định lợi tức tiền gửi kỳvọng trong khi đó giới lãnh đạo quốc gia chưa coi trọng vấn đề đô la hóa, chưa tận dụngcác phương tiện tuyên truyền để chuyển tải thông tin rộng rãi tới các thành phần kinh tế

* Sự yếu kém của hệ thống tài chính

Thị trường chính thức yếu kém cùng với sự khó khăn trong chính sách quản lýngoại hối (thanh toán, gửi tiền, rút ngoại tệ ) của một số quốc gia cũng làm gia tăng tỷ

lệ đô la hoá Trong các quốc gia này người dân khó có thể mua ngoại tệ ở thị trườngchính thức nên sẽ thúc đẩy hình thành thị trường ngoại hối phi chính thức tồn tại songsong với thị trường chính thức

Thị trường đô la không chính thức tạo thanh khoản cho hoạt động nắm giữ ngoại

tệ nên sẽ làm gia tăng hiện tượng đô la hóa đặc biệt nguy hiểm thị trường này cũng tạotiền đề phát triển hiện tượng đô la hóa trong thanh toán Khi lượng đô la bị chảy ra thịtrường chợ đen Chính phủ các nước sẽ gặp khó khăn khi áp dụng chính sách ngoại hối11

Trang 21

mang tính hành chính để khống chế lượng ngoại tệ trong khu vực dân cư và ngoài lưuthông Hiện tượng đô la hóa trong lưu thông càng có quy mô cao càng kéo theo nhiều hệlụy khó kiểm soát như tham nhũng, buôn lậu, rửa tiền làm bất ổn xã hội.

* Đô la hóa do chính sách quản lý ngoại hối

Chính sách quản lý ngoại hối quá lỏng lẻo ở nhiều quốc gia cũng góp phần thúcđẩy gia tăng hiện tượng đô la hóa Trong khi nhiều quốc gia có thị trường tài chính chínhthức phát triển, luật pháp nghiêm minh, thị trường tự do khó phát triển thì các hoạt độnggiao dịch, quảng cáo, thanh toán bằng ngoại tệ bị hạn chế

Tuy nhiên nhiều quốc gia đang phát triển không chú trọng đến việc bảo vệ lợi ichtiền tệ của quốc gia dẫn đến tạo thói quen sử dụng ngoại tệ trong các khu vực kinh tế làmthúc đẩy hiện tượng đô la hóa gia tăng

* Đô la hóa do chính sách của các quốc gia phát hành ngoại tệ

Đô la hóa mang lại quyền lực, lợi ích kinh tế cho các nước phát hành, do có tínhquan trọng trên cả linh vực kinh tế và chính trị nên nhiều quốc gia đặc biệt là Mỹ luôn cóchính sách, mục tiêu củng cố vị thế của đồng tiền của nước mình, đưa đồng tiền của họthành đồng tiền tiêu chuẩn để được hưởng lợi ích to lớn Theo Benjamin J.Cohen các

quốc gia phát hành tiền sẽ được hai lợi ích chính “quyền lực và vị thế” Khống chế

lượng tiền phát hành là quyền lợi cơ bản của quốc gia, việc điều tiết tiền tệ sẽ ảnh hưởngmạnh đến đầu tư, tăng trưởng, sản lượng và các thị trường tài chính của quốc gia Dovậy, trường hợp đô la hóa cao, đô la hóa toàn phần thì chính sách tiền tệ của quốc giaphát hành ngoại tệ sẽ gây ảnh hưởng đến nền kinh tế của quốc gia bị đô la hóa và nướcphát hành tiền có thể khống chế chu kỳ kinh tế của quốc gia bị đô la hóa Khi nền kinh tếcủa những quốc gia này bị phụ thuộc vào các quốc gia phát hành tiền tệ thì sự độc lập, vịthế chính trị của quốc gia cũng không còn vững mạnh

Quyền lực của quốc gia phát hành tiền với quốc gia bị đô la hóa còn thể hiện ởkhả năng điều hành nền kinh tế khi phát sinh tranh chấp lợi ích Trường hợp xẩy ra tranhchấp lợi ích, quốc gia phát hành tiền có thể dễ dàng gây áp lực với quốc gia sử dụngngoại tệ bằng cách phong tỏa các tài sản, tài khoản dự trữ bằng ngoại tệ tại ngân hàngnước ngoài rất dễ dàng, điều này sẽ làm rối loạn hoạt động của quốc gia sử dụng ngoại

tệ, khống chế sức mạnh kinh tế của Chính phủ quốc gia sử dụng ngoại tệ Trường hợpcủa Panama năm 1998 là một ví dụ điển hình trường hợp này đã phản ánh quyền

12

Trang 22

lực chính trị của Mỹ với Panama [32, Tr 2].

Ngoài ảnh hưởng về chính trị, kinh tế quốc gia phát hành tiền cũng được lợilớn từ khoản thuế lạm phát từ nền kinh tế bị đô la hóa Đối với quốc gia có NHTƯ độc lập

và ít bị đô la hóa “thuế lạm phát” sẽ được Chính phủ sử dụng cho các hoạt động chi tiêu

với mục đích tăng cường sự phát triển nhanh, bền vững về kinh tế, quân sự của quốcgia Tuy nhiên, khi nền kinh tế bị đô la hóa, thuế lạm phát lại làm tăng thu nhập của quốcgia phát hành tiền giầu có thậm chí đang có tranh chấp quyền lợi với quốc gia sử dụngngoại tệ

Chính vì những lợi ích to lớn của đô la hóa nên các quốc gia có nền kinh tế pháttriển, ảnh hưởng chính trị, quân sự luôn mong muốn đồng tiền của mình được sử dụngphổ biến tại các quốc gia đang phát triển, thậm chí nhiều học giả đã có những phân tíchủng hộ quan điểm đô la hóa [33, 34]

* Đô la hóa do yếu tố lịch sử

Việc sử dụng tiền tệ ở các quốc gia khác đã được hình thành từ lâu khi các nước

có mối quan hệ thương mại với nhau, quá trình này được đẩy mạnh trong những nămxâm chiếm thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc từ thế kỷ thứ 15 đến thế kỷ 19 Trong nhữngnăm hình thành và phát triển các đế quốc châu Âu đã chia nhau xâm chiếm nhiều thuộcđịa ở các Châu lục khác Các đế quốc đã sử dụng tiền tệ của mình tại các nước thuộc địahoặc in ấn tiền tệ tại thuộc địa nhằm tạo điều kiện cho hoạt động thương mại, quân sựcủa họ Ban đầu các quốc gia đế quốc cho phép sử dụng chung đồng tiền của họ vớinhiều đồng tiền khác, dần dần kiểm soát, thực hiện in ấn tiền tệ và quy định thuộc địa chỉđược sử dụng tiền của chính quốc trong lãnh thổ [40] Lịch sử đã cho thấy, hiện tượng đô

la hóa không những chịu sự ảnh hưởng của yếu tố kinh tế mà còn chịu ảnh hưởng củacác yếu tố khác như lịch sử, văn hóa và mối quan hệ chính trị giữa các quốc gia

Hiện nay, đô la hóa nền kinh tế là hiện tượng diễn ra trong nhiều nền kinh tế trênthế giới Thống kê năm 1998 của IMF chỉ ra đô la hóa tiền gửi (chủ yếu là đô la) năm

1998, trên 50% tổng thu nhập của 7 nước phát triển trong đó 30% đến 50% các quốc gia

có mức độ đô la hóa cao Các quốc gia có mức độ đô la hóa cao tập trung vào các nướcđang chuyển đổi, các nước châu Mỹ La Tinh, một số nền kinh tế nhỏ phụ thuộc vào cácquốc gia, đã từng là thuộc địa của các nước đế quốc Các quốc gia này có đặc điểmchung là hệ thống tài chính chưa mạnh hoặc đang trong giai đoạn điều chỉnh, các

13

Trang 23

chỉ số kinh tế vĩ mô khó dự báo, nền kinh tế có sự phụ thuộc kinh tế, chính trị với quốcgia phát hành ngoại tệ.

Sau những cuộc khủng hoảng tiền tệ diễn ra ở Mỹ La Tinh, ở châu Á, IMF vàocuộc yêu cầu các quốc gia vay nợ phải có những chính sách điều chỉnh vĩ mô, để tránhkhủng hoảng các quốc gia đang phát triển đã tăng cường dự trữ ngoại hối Trong thực tế,chỉ có những quốc gia có thặng dư cán cân thanh toán mới có thể tích lũy được dự trữ,với quốc gia thâm hụt cán cân thanh toán muốn tích lũy ngoại tệ sẽ phải giảm nhập khẩuhoặc bán tài nguyên, tài sản để tài trợ cho cán cân thanh toán điều này càng gây sự lệthuộc của các quốc gia đang phát triển vào quốc gia cấp tín dụng

* Các nguyên nhân khác

Thứ nhất, nạn tham nhũng, buôn lậu thúc đẩy sự phát triển của thị trường đô la hoá

phi chính thức và gia tăng hiện tượng đô la hoá trong nền kinh tế

Thứ hai, một số quốc gia có hệ thống tài chính kém phát triển, quy mô nền kinh tế

nhỏ hoặc phụ thuộc nặng vào nền kinh tế phát hành ngoại tệ, nội tệ yếu Với những quốc gia

có các đặc điểm trên, việc sử dụng đồng nội tệ trong thanh toán còn nhiều bất cập như giá trịthực của đồng tiền nhỏ bất tiện trong lưu thông, hệ thống ngân hàng kém phát triển chủ yếuthanh toán bằng tiền mặt

Thứ ba, nền kinh tế bị phụ thuộc về chính trị, nhiều quốc gia bị lệ thuộc vào các

nền kinh tế khác nên dẫn đến hiện tượng đô la hoá mạnh mẽ thậm chí đô la hoá toànphần, tuy nhiên hiện tượng này chủ yếu xảy ra với các quốc gia nhỏ, phụ thuộc vào nềnkinh tế lớn

1.1.4.3 Vị thế của một số đồng tiền mạnh trên thế giới

* Hệ thống Bretton Woods và sự lên ngôi của USD với vai trò đồng tiền tiêu

chuẩn của thế giới

Do lợi ích lớn của các quốc gia có đồng tiền được chấp nhận lưu hành, dự trữ trênthế giới hầu hết quốc gia có sức mạnh về quân sự, tài chính đều muốn đồng tiền của họ

là đồng tiền tiêu chuẩn của thế giới Do vậy, vị thế của các loại tiền tệ có khuynh hướngthay đổi phụ thuộc vào sức mạnh tài chính, tiền tệ của các quốc gia

Đại chiến thế giới thứ nhất nổ ra năm 1914, các quốc gia châu Âu phải tăngcường phát hành tiền tệ để tài trợ cho cuộc chiến, do vậy lạm phát xẩy ra và các quốc gianày không thể thực hiện chế độ tỷ giá cố định, chấm dứt việc hoán chuyển tiền tệ

14

Trang 24

với vàng Do không trực tiếp bị ảnh hưởng của cuộc chiến tăng trưởng thương mại của

Mỹ rất nhanh, Mỹ vẫn tiếp tục duy trì khả năng chuyển đổi đô la Mỹ với vàng nên tàisản ghi bằng đô la Mỹ được ưa chuộng, giao thương quốc tế chủ yếu tính bằng đô la Mỹ

và đô la dần trở thành đồng tiền có vị thế cao nhất trong giao dịch quốc tế

Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Mỹ đưa ra đề xuất nhóm họp một Hộinghị để thiết lập lại hoạt động thương mại, tài chính quốc tế 44 quốc gia đã cử đại diệntham dự và ký kết hiệp định Bretton Woods2 Hiệp định này quy định chế độ tỷ giá của cácquốc gia thành viên là chế độ tỷ giá cố định gắn với USD, các thành viên còn thống nhấtthành lập hai tổ chức tài chính quốc tế là WB và IMF Hệ thống tỷ giá cố định được áp dụng

từ tháng 3/1947 Năm 1948 Mỹ đã xây dựng trương trình tái thiết châu Âu mang tênMashall3 Từ năm 1948 đến 1952, Mỹ đã cung cấp 12,72 tỷ USD tín dụng cho châu Âu

Nền kinh tế Mỹ, quân sự trở nên hùng mạnh nhất thế giới, với lợi thế về năng lực sảnxuất, sự phát triển kinh tế sau thế chiến thế giới thứ 2 Với chương trình Marshall, Mỹ trởthành chủ nợ lớn nhất trên thế giới, hiệp ước Bretton Woods càng củng cố thêm vị thế đô la

Mỹ giúp đô la Mỹ chiếm ưu thế tuyệt đối và trở thành ngoại tệ dự trữ của hầu hết các quốcgia trên thế giới

Hệ thống Bretton Woods chấm dứt hoạt động vào năm 1960, sự sụp đổ của hệthống tỷ giá cố định do nhiều nguyên nhân nhưng một trong những nguyên nhân chínhthâm hụt thương mại của Mỹ làm tốc độ tăng nợ của Mỹ nhanh hơn tốc độ tăng dự trữvàng Theo học giả Thomas Gresham cũng đưa ra định luật giải nguyên nhân sự sụp đổ

của Bretton Woods, ông cho rằng “Khi tỷ lệ trao đổi của hai loại tài sản không nhất

quán trên thị trường chính thức và thị trường tự do thì loại tài sản bị định giá thấp trên thị trường chính thức sẽ bị loại ra khỏi lưu thông, tài sản bị định giá cao sẽ ở lại lưu thông” [23] Thực tiễn đã chứng minh điều đó khi tỷ lệ lạm phát và thâm hụt của Mỹ cao

trong những năm 50 - 60, kỳ vọng giá vàng tăng làm giá vàng tại thị trường tự do caohơn tỷ giá chính thức Các nhà đầu cơ thậm chí các NHTƯ giảm tăng cường chuyển đổiUSD ra vàng sau đó bán tại thị trường tự do làm giảm lượng dữ trữ vàng của Mỹ Áp lực

2 - Bretton Woods là tên một địa danh ở bang Newhamshire nơi ký kết thỏa thuận Bretton Woods.

3 - Chương trinh Marshall được lấy theo tên của Bộ trưởng ngoại giao Mỹ, người thời kỳ đó Chương trình này cấp tín dụng cho Châu Âu để tái thiết lục địa này sau chiến tranh.

Trang 25

này làm Tổng thống Mỹ phải đưa ra quyết định dừng chuyển đổi USD ra vàng chấm dứtchính sách tỷ giá cố định.

* Lợi ích của các quốc gia phát hành ngoại tệ Tại sao Mỹ cố gắng duy trì vị thế đồng đô la trên thị trường quốc tế

Lợi thế phát hành của Mỹ khi USD chiếm thế độc tôn được Tổng thống Pháp

Charles De Gaulle phát biểu “Hiệp ước Bretton Woods đã cho phép Mỹ được đặc quyền

quá mức để nước này có thể đoạt các tư liệu sản xuất có kỳ hạn dài thông qua hình thức đầu tư ở nước ngoài đơn thuần chỉ bằng cách đổi lấy các khoản nợ USD ngắn hạn Các khoản dự trữ USD của NHTƯ có lãi suất rất thấp, sức mua bị suy giảm bởi lạm phát Như vậy, thâm hụt cán cân thanh toán cho phép Mỹ có thể đi vay với mức lãi suất rất thấp” [23, tr 607] Lợi ích từ việc khống chế cung ứng tiền tệ thế giới cũng được tác giả

người Trung Quốc Tống Song Bình thể hiện qua cuốn “Chiến tranh tiền tệ” trong đó

ông mô tả nhiều tội ác thậm chí cuộc chiến tranh quân sự được xuất phát từ việc giành vịthế, ảnh hưởng quyền phát hành tiền tệ của quốc gia Jonh Perkin (xem phần trích trongphụ lục 1) cũng chỉ rõ lợi ích của Mỹ và các tập đoàn Mỹ khi đồng đô la giữ vai trò đồng

tiền tiêu chuẩn trong thanh toán quốc tế trong cuốn “Lời thú tội của một sát thủ kinh tế”.

Với những lợi thế lớn của quốc gia cung ứng ngoại tệ, nên mục tiêu đưa ngoại tệcủa quốc gia trở thành đồng tiền đóng vai trò quan trọng dự trữ, thanh toán quốc tế làmục tiêu hàng đầu của Mỹ và nhiều quốc gia kinh tế phát triển Lịch sử tiền tệ cũng chothấy, vai trò, vị thế của đồng tiền luôn gắn liền với vị thế kinh tế, chính trị, quân sự củaquốc gia Trong một số trường hợp, các quốc gia sẵn sàng sử dụng vị thế quân sự, sửdụng công cụ tiền tệ nhằm thu lợi ích kinh tế Lợi ích khổng lồ khi giữ vai trò là đồngtiền thế giới, Mỹ sẽ tìm mọi cách để bảo vệ vị thế của đô la Mỹ với tư cách là tiền tệ số 1của thế giới

* Sự hình thành liên minh tiền tệ châu Âu và sự lớn mạnh của đồng EURO

Sau khi Bretton Woods bị sụp đổ năm 1971 các nước châu Âu nhận thấy sự biếnđộng thường xuyên, bất thường của tỷ giá của các quốc gia ảnh hưởng đến sự ổn địnhtrong khu vực Mặt khác, khi đồng đô la Mỹ mất giá sẽ khiến tài sản dự trữ của các quốcgia châu Âu bị ảnh hưởng Do vậy năm 1979 các quốc gia châu Âu đã thành lập Hệthống tiền tệ châu Âu (European Monetory System viết tắt EMS) với mục tiêu giảm sựbiến động tỷ giá giữa các nước thành viên qua đó tạo sự ổn định tiền tệ, gia tăng việc

16

Trang 26

làm và giảm sự thiệt hại do chính sách phá giá của Mỹ Trong Hội nghị Bremen năm

1978 các học giả đã cho rằng: Các nước châu Âu cần có một khu vực đồng tiền chungnhằm ổn định tỷ giá, gia tăng vị thế của đồng tiền khu vực tạo sức cạnh tranh với USD

Vị thế độc tôn của USD mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế Mỹ nhưng tạo cơ chế gâytổn thất lớn cho các nước dự trữ USD4

Qua nhiều thăng trầm, EMS vẫn đứng vững và dần khẳng định hiệu quả của nó.Khó khăn lớn nhất mà EMS gặp phải khi nền kinh tế châu Âu rơi vào suy thoái trongnhững năm 1990s Năm 1992, giới đầu cơ tấn công đồng bảng anh và đồng lira của Italiasau khi Chính phủ Pháp công bố kết quả phân vân của dân Pháp về hiệp ướcMaasstrich5 Hiệp ước Maastricht quy định chỉ các quốc gia có đủ điều kiện nhất địnhmới được ra nhập Liên minh tiền tệ châu Âu (EMU) với tiêu chí:

- Chỉ số giá tiêu dùng hàng năm không vượt qua mức 1,5% so với mức trung bìnhcủa 3 quốc gia có tỷ lệ thấp nhất

- Thâm hụt ngân sách không vượt quá 3% GDP/năm

Giai đoạn 1: Từ tháng 5/1998 đến 01/01/1999: Giai đoạn này xác định tư cách thành

viên của EMU, thành lập NHTƯ châu Âu ECB

Giai đoạn 2: Từ 01/01/1999 đến 31/12/2001, giai đoạn này xác định tính hợp

pháp của đồng EURO, xác định tỷ giá tiền tệ của các thành viên với đồng EURO vàchuyển đổi đồng ECU thành đồng EURO với tỷ lệ 1:1 Hình thành NHTƯ châu Âu gồm

4 - Năm 1971 khi Tổng thống Mỹ công bố không duy trì chế độ chuyển đổi USD ra vàng, USD mất giá mạnh và

các NHTW Châu Âu bị tổn thất nặng nề.

5 - Hiệp ước Maasstricht được ký kết ngày 7/2/1992 ở Maastricht Hà lan có hiệu lực từ 1/11/1993, hiệp ước này là

cơ sở ra đời của đồng EURO và Liên minh Châu Âu (European Union).

Trang 27

ECB và các NHTƯ các quốc gia Đồng EURO dần được sử dụng rộng rãi trong hệ thốngthanh toán ngân hàng song song với các đồng tiền các quốc gia.

Giai đoạn 3: Từ 01/01/2002 NHTƯ châu Âu phát hành tiền giấy, tiền xu EURO

dần thay thế tiền các quốc gia thành viên Đến 30/6/2002 tiền các quốc gia hết hiệu lựcnhưng có thể đổi sang EURO tại các NHTM Đồng EURO chính thức trở thành đồngtiền hợp pháp duy nhất của các quốc gia thành viên EMU

Việc hình thành Liên minh tiền tệ châu Âu đã gia tăng sức mạnh, vị thế của đồngEURO, đồng EURO dần khẳng định vị thế và trở thành đồng tiền dự trữ của nhiều quốc giangoài EMU đe dọa sự độc tôn trong nhiều năm của USD

Việc hình thành Liên minh tiền tệ châu Âu cũng mở ra khuynh hướng hình thànhcác khu vực tiền tệ, khu vực kinh tế chung của các quốc gia nhằm tăng cường sự ổn địnhtiền tệ, giảm bớt sự lệ thuộc và thiệt hại khi nắm giữ USD với chức năng dự trữ quốc gia

Sự thành công của Liên minh châu Âu đã thúc đẩy phong trào thành lập các khu vực thị trường chung, đây cũng là một khuynh hướng phát triển có lợi cho những nước nhỏ, giúp các nền kinh tế nhỏ có thể trợ giúp lẫn nhau tạo sự ổn định chung cho khu vực và cho nền kinh tế đặc biệt chúng sẽ tăng sức mạnh của đồng tiền khu vực, giảm bớt mức

độ đô la hóa nền kinh tế.

* Vị thế hiện tại của các loại tiền tệ

Mặc dù có những thăng, trầm trong lịch sử, mặc dù có bị suy giảm vị thế nhưng

USD vẫn là tiền tệ được dự trữ nhiều nhất Số liệu thống kê năn 2007 cho thấy, USD vẫn

là tiền tệ dự trữ chủ yếu của các quốc gia với tỷ lệ 63,9%, tiếp theo là EURO với tỷ lệ 26,5%, bảng Anh và Yên nhật chiếm tỷ lệ tương ứng là 4,7% và 2,9% Các đồng tiền khác chiếm khoảng 2% tổng ngoại tệ dự trữ tại các quốc gia.

Những diễn biến mới trong cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ tại Mỹ có thể làmsuy giảm vị thế của USD, trong những năm đầu của thế kỷ 21 USD luôn có khuynhhướng xuống giá tương đối so với các tiền tệ khác đặc biệt là đồng EURO, nền kinh tế

Mỹ chứng kiến thâm hụt thương mại lớn, nợ chính phủ gia tăng mạnh và khủng hoảngtín dụng làm suy giảm mạnh lòng tin của giới tài chính vào nền kinh tế Mỹ

Cựu Chủ tịch FED Alan Greenspan6 năm 2007 cũng có cảnh báo trong những

năm tới “EURO có thể thay thế USD với tư cách là đồng tiền dự trữ hàng đầu” Bài học

6 - Theo từ điển Wikipedia 18

Trang 28

sau cuộc khủng hoảng tỷ giá của nhiều nước đang phát triển trong đó có Mexico năm

1982 và Thái Lan năm 1997 đòi hỏi các quốc gia đang phát triển tăng cường dự trữ ngoạihối, xây dựng các biện pháp chống nạn đầu cơ ngoại tệ Nên nghiên cứu, lựa chọn cẩntrọng cơ cấu ngoại tệ dự trữ, phương thức quản lý ngoại tệ để giảm thiểu tổn thất tàichính trong khi vẫn đảm bảo thực hiện mục tiêu ổn định tiền tệ, ổn định hoạt độngthương mại của quốc gia

1.1.5 Kinh nghiệm kiềm chế đô la hóa ở các quốc gia.

1.1.5.1 Thất bại trong chính sách phi đô la hoá ở Bolivia năm 1982

* Bối cảnh kinh tế

Đô la hoá ở Bolivia bắt đầu phát triển từ những năm 30 khi Chính phủ cấm các giaodịch bằng vàng ở Bôlivia Sau những nỗ lực kiểm soát lạm phát của Chính phủ trong nhữngnăm 50, tỷ lệ lạm phát đã dần ổn định trong những năm 60, nhưng mức độ đô la hoá vẫnduy trì ở mức cao Các giao dịch kinh tế trọng yếu như: Tín dụng, hợp đồng dài hạn đềuđược ký kết bằng đồng đô la Hoạt động tín dụng của các ngân hàng phát triển quốc tế, ảnhhưởng các dòng vốn quốc tế cũng góp phần thúc đẩy quá trình đô la hoá của nước này thôngqua quá trình kinh doanh, chuyển tiền về nước của các nhà đầu tư quốc tế

Trong những năm 70, bộ phận dân chúng giàu có ở Bôlivia không ngừng tích trữtài sản mua những tài sản lớn bằng đô la như: Nhà cửa, xe hơi và bắt đầu mở tài khoản ởnước ngoài Để hạn chế quá trình “tư bản bay”7, Chính phủ Bôlivia cho phép các ngânhàng được giao dịch các khoản tiền gửi có thời hạn bằng ngoại tệ Quyết định này tạomột làn sóng chuyển dịch tiền gửi bằng nội tệ sang ngoại tệ tại các NHTM của các chủthể kinh tế Vào những năm 70 tỷ lệ đô la hoá ở Bôlivia đạt mức cao

* Biện pháp chống đô la hoá sai lầm của Bôlivia

Năm 1982, sau khủng hoảng tiền tệ quốc tế xuất hiện, Chính phủ Bôlivia đã đưa

ra một quyết định hành chính sai lầm nhằm thúc đẩy quá trình phi đô la hoá một cách bắtbuộc Theo quyết định này, toàn bộ tài sản, ngoại tệ buộc phải chuyển đổi ra đồng nội tệvới mức tỷ giá thấp hơn mức tỷ giá trên thị trường phi chính thức đồng thời Chính phủ

áp đặt chế độ kiểm soát ngoại hối chặt chẽ

7 - Tư bản bay: là thuật ngữ chỉ quá trình chuyển dịch vốn 9à tài sản ra nước ngoài một cách nhanh chóng

Trang 29

Chính sách phi đô la hoá mang tính bắt buộc với mức tỷ giá thấp đã được coi lànguyên nhân gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế, nền kinh tế đã xuất hiện nhiềubất ổn lớn:

(4) Tiền gửi ở các tổ chức tín dụng bị suy giảm nhanh chóng còn lại rất thấp

(5) Kiểm soát ngoại hối dẫn đến xuất hiện thị trường chợ đen với mức tỷ giáchênh lệch cao hơn rất nhiều so với tỷ giá chính thức

(6) Các giao dịch bằng đô la vẫn tiếp tục tiến hành mặc dù có lệnh cấm

(7) Các ngân hàng tiếp tục mở các chi nhánh ở nước ngoài để tiếp tục kinh doanhbằng đô la

(8) Sự suy sụp của hệ thống tài chính đặc biệt là các NHTM dẫn đến sự đình đốn

về GDP thực tế và siêu lạm phát Trong giai đoạn 1976 - 1985 Bôlivia chỉ tăng trưởng1,2%/năm, lạm phát 1232.7%/năm

(9) Mặc dù lạm phát đã được kiềm chế vào cuối năm 1985 và loại bỏ hầu nhưtoàn bộ những quy định cấm sở hữu tài sản và ngoại tệ, Chính phủ không có bất kỳ mộtbiện pháp dù nhỏ để hạn chế đô la hoá Do vậy các giao dịch bằng đô la lại có xu hướngdần tăng trở lại sau những năm 1990 Hoạt động của hệ thống ngân hàng bị tái đô la hoátrở lại tình trạng bị đô la hoá gần như toàn phần8 Hoạt động của NHTƯ trong việc thựchiện chính sách tiền tệ hầu như mất tác dụng

* Bài học kinh nghiệm sau thất bại chống đô la hóa của Bolivia

(1) Việc tạo dựng lòng tin của dân chúng vào đồng nội tệ khó hơn so với việcđánh mất lòng tin

(2) Ngay cả khi lạm phát ổn định, công chúng vẫn thích giữ tài sản bằng ngoại tệ

Do vậy, nếu không có chính sách kìm chế đô la hoá phù hợp thì nền kinh tế vẫn có thể bị

đô la hoá cao

8 -Đến năm 1996, tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ/tổng tiền gửi là 87.6%; tỷ lệ tính dụng ngoại tệ/tổng tín dụng của nền kinh

Trang 30

(3) Không nên thực hiện các biện pháp phi đô la hoá mang tính hành chính, bắtbuộc, ảnh hưởng đến lòng tin của dân chúng Biện pháp phi đô la hoá phải thực thiệntrên cơ sở tự nguyện, phải tạo dựng lòng tin vào đồng nội tệ thông qua sự ổn định củalạm phát, tỷ giá.

(4) Các biện pháp phi đô la hoá một cách bắt buộc, trong khi đồng nội tệ không có

vị thế cao có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho hoạt động của hệ thống ngân hàng, lạmphát, tăng trưởng kinh tế đặc biệt ảnh hưởng lòng tin vào đồng nội tệ của người dântrong nhiều năm

(5) Với nền kinh tế mở, nền kinh tế hiện đại, khi thực hiện chính sách phi đô lahoá bằng biện pháp hành chính phải xem xét cẩn trọng ảnh hưởng đảo chiều của cácdòng vốn quốc tế đến nền kinh tế

1.1.5.2 Thành công của chính sách kiềm chế đô la hoá: bài học của Chi Lê giai đoạn 1982 -1987

Bài học kiềm chế đô la hoá và ngăn chặn khủng hoảng tài chính của Chi Lê vớinhiều chính sách kinh tế vĩ mô áp dụng đồng bộ là ví dụ điển hình của sự thành côngtrong việc phi đô la hoá Tuy các biện pháp của Chi Lê khó có thể áp dụng chính xác chocác nền kinh tế khác, nhưng bài học về sự thành công của Chi Lê có thể làm kinh nghiệmtốt cho các quốc gia đang phát triển trong quá trình thúc đẩy phi đô la hoá

* Bối cảnh kinh tế

Khá giống Việt Nam giai đoạn 1989 - 1996, Chi Lê giai đoạn 1982 - 1987 làquốc gia đang chuyển đổi Trước năm 1982, Chi Lê là quốc gia đang chuyển đổi từ quốcgia có nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung với sự sở hữu chủ yếu khu vực quốc doanh kể

cả trong lĩnh vực tài chính Giai đoạn 1977 - 1981, nền kinh tế trong thời kỳ suy thoái, tỷ

lệ lạm phát cao (siêu lạm phát), năm 1973 - 1974 lạm phát 300%, năm 1977 giảm xuống90%/năm Nền kinh tế bị đô la hoá cao và có khuynh hướng gia tăng trong giai đoạn

1977 - 1982 với mức độ tương ứng là 25% và 43% tổng tiền gửi Tài chính bị kiềm chếmạnh bằng công cụ trực tiếp của Nhà nước, hầu hết khu vực ngân hàng là sở hữu quốcdoanh

Tháng 10/1982 NHTW Chi Lê đã phải phá giá 40% giá trị đồng peso so với đồng

đô la, chấm dứt chế độ tỷ giá cố định (giao dịch tài chính được quản lý theo chỉ số điềuchỉnh do NHTƯ ban hành hàng tháng

21

Trang 31

Tỷ giá thực trong quý đầu năm 1983 cũng suy giảm 30% so với đồng đô la, cộngthêm sự suy thoái kinh tế nặng, lạm phát ở Chi Lê liên tục đạt mức cao, các giao dịchkinh tế có khuynh hướng dần bị đô la hoá Đến năm 1982 - 1983 những yếu tố này tạo

áp lực nặng nề lên hệ thống ngân hàng đe doạ một cuộc khủng hoảng tài chính ngânhàng ở Chi Lê, các khoản nợ xấu tăng từ 2,1% năm 1981 lên 10,8% năm 1983

* Các biện pháp chống đô la hoá và ổn định của Chi Lê

Trong bối cảnh khá nguy hiểm này, Chính phủ buộc phải có biện pháp quyết liệt

để tránh sự bùng nổ đô la hoá và khủng hoảng tài chính, ngân hàng Chính phủ Chi lê đãquyết định duy trì hệ thống kiểm soát tín dụng theo chỉ số để ổn định nền kinh tế đồngthời sử dụng quỹ cứu trợ khẩn cấp hỗ trợ những khu vực kinh tế then chốt của nền kinh

tế, ước tính chi phí và các khoản tín dụng cho cuộc ổn định này khoảng 35% GDP.Những chính sách được áp dụng trong giai đoạn này là:

Thứ nhất, hỗ trợ khả năng thanh toán cho 16 ngân hàng và tổ chức tài chính trong

giai đoạn 1982 - 1986, chi phí ước tính lên đến 10,5% GDP

Thứ hai, NHTƯ đưa ra chương trình hỗ trợ cho các khoản nợ bằng ngoại tệ trước

khi phá giá Theo ước tính, chi phí hỗ trợ lên đến 14,7% GDP giai đoạn 1982 - 1986.Người vay nợ bằng ngoại tệ phải thanh toán theo tỷ giá hỗ trợ của NHTƯ ban hành, sốchênh lệch giữa tỷ giá hỗ trợ và tỷ giá thị trường NHTƯ thanh toán cho ngân hàng chovay

Thứ ba, hỗ trợ cũng được áp dụng cho một số khoản vay nợ bằng đồng nội tệ như

khoanh nợ, giãn nợ và cấp tín dụng đặc biệt Ước tính tín dụng cho chương trình này là11% GDP trong giai đoạn 1983 - 1987, tín dụng chủ yếu được cấp cho khu vực sản suấtcông nghiệp, khu vực tiêu dùng và thương mại không được hỗ trợ

Thứ tư, NHTƯ mua nợ của các NHTM với sự cam kết của chính NHTM đó sẽ tái

mua các khoản nợ này trong tương lai

Thứ năm, thúc đẩy hoạt động hệ thống ngân hàng bằng cách cho phép các ngân

hàng khó khăn được phép huy động bổ sung vốn từ phía công chúng Ngoài ra các nhà đầu

tư vào hệ thống tài chính còn được giảm thuế thu nhập và hưởng chính sách thuế đặc biệtnếu ngân hàng sử dụng ít nhất 70% phần vốn huy động được thanh toán các khoản nợ vớiNHTƯ Các nhà đầu tư cũng có thể sử dụng tài sản thế chấp để thanh toán trả góp tiềnmua cổ phiếu trong vòng 10 năm với mức lãi suất điều chỉnh theo chỉ số là 5%

22

Trang 32

Thứ sáu, NHTƯ thực hiện một số cải cách tự do hoá hệ thống ngân hàng như

NHTM được phép phát mại tài sản thế chấp cho khoản nợ quá hạn và thưởng cho cáckhoản dự trữ tự nguyện

* Một số chính sách vĩ mô áp dụng

Các chính sách tiền tệ, tỷ giá, vay nợ của Chính phủ được sử dụng đồng bộ để ổnđịnh kinh tế và chống đô la hoá Lợi tức nắm giữ và gửi tiền nội tệ cao hơn nắm giữ vàgửi ngoại tệ, các khoản tín dụng được quy định điều chỉnh bằng nội tệ do vậy Chi Lê đãdần nâng cao vị thế của nội tệ

Chính sách tỷ giá

Từ năm 1982, NHTƯ Chi Lê áp dụng chính sách tỷ giá bò trườn đối với đồng đô

la Tỷ giá được công bố hàng ngày và điều chỉnh theo chỉ số và chỉ số giá tiêu dùng(CPI) của tháng trước Việc xác định lạm phát của ngoại tệ được thay đổi thường xuyêntrong hai năm đầu, nhưng từ năm thứ 3 lạm phát ngoại tệ được xác định là 3,6%/năm chođến năm 1991

Từ năm 1984 và 1985, chính sách tỷ giá được tự do hoá hơn thông qua điều tiết tỷgiá trên thị trường liên ngân hàng bằng cách nới dần biên độ giao dịch từ +/- 0,5% lên +/-2% năm 1985 và +/- 3% năm 1988, +/- 5% năm 1989

Chính sách tỷ giá được xác định như biện pháp quan trọng để khôi phục thươngmại quốc tế, tăng trưởng nhằm tạo công ăn việc làm và ổn định tài chính cho nền kinh tếChi Lê với mục tiêu điều tiết ổn định tỷ giá thực duy trì khả năng cạnh tranh cao, thúcđẩy tăng trưởng xuất khẩu và giảm mất cân đối bên ngoài của nền kinh tế

Hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng, để ổn định nền kinh tế cólạm phát cao, Chi Lê không nên khống chế tỷ giá danh nghĩa mà phải tập trung các biệnpháp khống chế lạm phát ảnh hưởng của kỳ vọng tăng giá của các chủ thể trong hệ thốngtài chính Với chính sách đó, Chi Lê tiếp tục phá giá 30% tỷ giá đồng Peso năm 1984 -1985

Chính sách tỷ giá là một trong những chính sách quan trọng trong gói chươngtrình điều chỉnh cơ cấu của Chi Lê bao gồm:

- Chính sách tài chính thắt chặt

- Giảm dần thuế nhập khẩu dần tự do hoá thương mại

23

Trang 33

- Khuyến khích và hỗ trợ việc tăng cường vốn hoá của các doanh nghiệp và ngânhàng, tư nhân hoá NHTM

-Giảm bớt lợi thế của các doanh nghiệp nhà nước tạo sự bình đẳng giữa cácdoanh nghiệp trong nền kinh tế

- Triển khai trương trình chuyển đổi từ huy động vốn bên ngoài sang huy độngvốn trong nước của khu vực nhà nước

Tuy nhiên, trương trình tái cơ cấu của Chi Lê chưa đặt trọng tâm vào kiềm chếlạm phát, điều này ảnh hưởng đến sự ổn định trong cạnh tranh của hàng xuất khẩu Tỷ lệ

độ lạm phát là 26% năm 1982; 17% năm 1985; 17% năm 1986; 22% năm 1987; 13%năm 1988; 21% năm 1989 và 27% năm 1990 Mức độ lạm phát này sẽ cao hơn nhiều nếunền kinh tế của Chi Lê không ở trong giai đoạn đình đốn và thất nghiệp cao

Chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ và tài chính hỗ trợ tích cực cho chính sách tỷ giá, NHTƯ trongnhững năm đầu đã can thiệp bằng công cụ lãi suất Việc sử dụng công cụ trực tiếp trongbối cảnh hệ thống tài chính suy thoái càng làm xấu hoạt động của hệ thống ngân hàngđang dựa vào trợ cấp của Chính phủ9

Chính do những hạn chế của công cụ trực tiếp trong điều hành chính sách tiền tệ,năm 1985, NHTƯ Chi Lê đã hướng tới chính sách tự do hoá lãi suất bằng cách sử dụngnhững công cụ gián tiếp như nghiệp vụ thị trường mở, cho phép sử dụng cấu trúc lãi suấtkhác nhau cho hoạt động tín dụng

Một điểm mới trong chính sách tiền tệ so với thời kỳ trước là NHTƯ tăng cườngthiết lập những chính sách ổn định lãi suất thực không phải lãi suất danh nghĩa Mặt khác nócũng phản ánh đúng chi phí sử dụng vốn, điều này đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế cólạm phát cao Chính sách ổn định lãi suất thực ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách tỷ giá,điều này rất quan trọng trong quá trình phi đô la hoá và gia tăng lòng tin đối với các chủ thểkinh tế Trong nền kinh tế có lạm phát cao, để ổn định lãi suất thực lãi suất danh nghĩa luônphải điều chỉnh theo tỷ lệ lạm phát và sự phá giá của đồng nội tệ

Chính sách tiền tệ cũng hướng tới nhu cầu tăng trưởng bên trong và gián tiếp tácđộng đến thâm hụt tài khoản vãng lai Nếu tỷ giá kéo cánh bị suy giảm, chính sách tiền tệ

sẽ được thắt chặt để giảm cầu tiêu dùng và đầu tư trong nước Trong ba năm từ 1982

-9 - Ngân hàng Trung ương Chi lê, 2004, Phi đô la hoá, cl2 4ố hoá và danh nghĩa hoá: Kinh nghiệm Chi lê trang 21

Trang 34

1985 lãi suất thực tế là 8,6% Trong hai năm 1986 - 1987 lãi suất thực tế giảm xuốngcòn 4,6%.

Chính sách tiền tệ chỉ số hoá với lãi suất thực dương tăng cường sự phát triển đadạng của thị trường tài chính và TTCK10 như thương phiếu ngắn hạn, kỳ phiếu NHTM

và thị trường trái phiếu Chính phủ do đó giảm bớt phần lớn nhu cầu tích trữ giá trị bằngđồng ngoại tệ và giảm mức độ đô la hoá trong nền kinh tế

* Kết quả đạt được

Trong giai đoạn này Chi Lê đã dùng công cụ chỉ số điều chỉnh kết hợp với cácchính sách cải cách mạnh theo hướng thị trường, đã ổn định được nền kinh tế kết quả đạtđược là đáng khích lệ:

- Tránh cuộc khủng hoảng tài chính ngân hàng luôn thường trực sẵn sàng xẩy ra

từ năm 1982

- Giảm đô la hoá bằng công cụ chỉ số, lãi suất huy động thực tế dương, thúc đẩy

sự phát triển của TTCK và một loạt chính sách thu hút vốn vào hệ thống ngân hàng

- Kết quả là mức độ đô la hoá của Chi Lê giảm từ 45% tổng mức tiền gửi vào đầunhững năm 1980 xuống khoảng 10% vào vào năm 1987 Tính đến năm 2003, chỉ số đô

la hoá và sự cân đối trong tiền gửi và tiền vay của Chi Lê thuộc dạng ổn định nhất tron g

các quốc gia châu Mỹ La Tinh (xem bảng phụ lục 2).

- Nền kinh tế dần điều chỉnh theo hướng thị trường và tài chính dần tự do hoá thểhiện qua chính sách tỷ giá (chuyển đổi sang tỷ giá thả nổi có điều tiết), chính sách tiền tệdần hạn chế sử dụng công cụ lãi suất chuyển sang sử dụng công cụ gián tiếp như nghiệp

vụ thị trường mở, huy động trái phiếu

- Khu vực ngân hàng được gia tăng vốn bằng sự tham gia mạnh mẽ của khu vực

tư nhân dần ổn định hoạt động và tăng cường sức mạnh và hiệu quả của khu vực thenchốt này

- Gia tăng hiệu quả sản xuất của nền kinh tế Khu vực kinh tế nhà nước dần được

tư nhân hoá, giảm bớt quy mô của khu vực nhà nước trong các lĩnh vực sản xuất của nềnkinh tế

10 - Từ năm 1982 - 1989 giá trị giao dịch của thị trường chứng khoán Santiago tăng gấp 5 lần Giá trị giao dịch của trái phiếu chính phủ, kỳ phiếu chính phủ có bảo đảm tăng hàng trăm lần(Luis Oscar Herera và Ro O.Valdés 2004,

Trang 35

-Không có sự dịch chuyển vốn ồ ạt ra khỏi quốc gia trước và sau khi phá giá mặc

dù có áp lực khủng hoảng lớn do chính sách lãi suất thực dương và quản lý ngoại hốiđược tuân thủ

Trong giai đoạn này kiềm chế lạm phát chưa phải là mục tiêu ưu tiên của Chi Lê docác nhà hoạch định cho rằng các chỉ số tiền lương, lãi suất, tỷ giá thực đều được điềuchỉnh theo lạm phát bằng chỉ số điều chỉnh Tỷ lệ lạm phát tuy đã giảm xuống 13% -26%/năm giai đoạn này Nền kinh tế trong giai đoạn này vẫn có tỷ lệ lạm phát cao có thểđược giải thích do nguồn lực điều tiết của Chính phủ bị cạn kiệt, thâm hụt ngân sách chốngkhủng hoảng, nợ Chính phủ tăng cao Đây là điều dễ hiểu đối với các nước sau khủng hoảngtài chính

* Bài học kinh nghiệm sau sự thành công của Chi Lê

Để có thể đạt kết quả trên, bài học chống đô la hoá và khủng hoảng tài chính củaChi Lê có thể đúc kết như sau:

- Áp dụng quyết đoán các nghiệp vụ hỗ trợ các ngành then chốt của nền kinh tếtrong giai đoạn khủng hoảng tránh sự đổ vỡ của hệ thống tài chính và khu vực doanhnghiệp

-Xây dựng và áp dụng chỉ số điều chỉnh cho các giao dịch tài chính Nó tạo dựnglòng tin của các chủ thể tài chính đặc biệt nó làm giảm bớt rủi ro tài chính đối với nhữnggiao dịch tài chính trên thị trường tài chính trong nước

- Chính sách điều tiết trực tiếp bằng công cụ lãi suất điều chỉnh cho thấy hiệu quảtrong thời kỳ chống khủng hoảng Tuy nhiên, Chính phủ không thể duy trì mãi chínhsách hỗ trợ lãi suất do sau khủng hoảng thâm hụt ngân sách lớn Giai đoạn 1989 - 2004Chính phủ đã duy trì lãi suất thấp và duy trì tỷ giá thực theo hướng thị trường để thúcđẩy xuất khẩu

- Duy trì lãi suất thực dương của đồng nội tệ và tạo sự khác biệt có lợi cho đồngnội tệ giữa lãi suất tiền gửi bằng nội tệ và ngoại tệ, kết hợp với sự ổn định tỷ giá, lạmphát đã được thực hiện sau năm 1992 đã phát huy tích cực trong việc hạn chế đô la hoá

-Chính sách quản lý ngoại hối dần không phát huy tác dụng sau giai đoạn 1987

do sự phát triển của thị trường không chính thức và hạn chế cải thiện cán cân thanh toán

do hạn chế luồng tiền từ nước ngoài Năm 1998 các chính sách quản lý ngoại hối đượccải cách, giảm tỷ lệ dự trữ đối với dòng tiền ngoại hối từ 30% - 15% Năm 2001,

26

Trang 36

hạn chế dòng tiền ra, vào quốc gia được bãi bỏ hoàn toàn.

- Phát huy tác dụng của công cụ gián tiếp, đa dạng hoá thị trường tài chính Đây lànhững chính sách quan trọng để dần tự do hoá tài chính và chống đô la hoá nền kinh tế

- Đối với hoạt động đầu tư, khuyến khích vay nợ trong nước, giảm cơ cấu nợnước ngoài thông qua sử dụng nghiệp vụ kỳ hạn (the forward operation) cho đồng Persotrong khi duy trì sự ổn định của thị trường giao ngay (spot operation)

Tóm lại: Trong nền kinh tế mở có hoạt động giao thương hàng hóa quốc tế, có

sự chuyển dịch luồng vốn giữa các quốc gia thì hiện tượng đồng ngoại tệ xuất hiện trong nền kinh tế là bình thường Tuy nhiên khi nền kinh tế bị đô la hóa cao, đồng ngoại tệ đóng vai trò quan trọng trong các giao dịch của nền kinh tế sẽ gây những tổn hại tài chính và những tác động tiêu cực cho nền kinh tế bị đô la hóa cao, do vậy các quốc gia phải có biện pháp phù hợp để kiềm chế hiện tượng đô la hóa cao.

Kinh nghiệm kiềm chế đô la hóa ở các quốc gia khá phong phú, tuy nhiên khi xem xét thành công trong việc kiềm chế đô la hóa ở Chi lê cho thấy kiềm chế đô la hóa có thể thành công bằng cách sử dụng các công cụ thị trường, khi áp dụng chính sách kiềm chế đô la hóa cần theo định hướng nâng cao vị thế đồng nội tệ, đảm bảo lợi ích kinh tế cho các chủ thể kinh tế khi nắm giữ nội tệ Bài học thất bại trong chính sách kiềm chế đô la hóa ở Bô li via cho thấy, khi áp dụng những chính sách cưỡng chế làm ảnh hưởng đến tài sản của các chủ thể kinh tế sẽ khó có thể thành công trong dài hạn Việc áp dụng chính sách hành chính cần cân nhắc kỹ những hậu quả lâu dài với nền kinh tế do người dân mất lòng tin vào đồng nội tệ và gây làn sóng chuyển dịch tài sản ra nước ngoài.

1.2 ẢNH HƯỞNG CỦA ĐÔ LA HÓA TỚI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

Do đô la hóa có những ảnh hưởng đến M2, đến vòng quay tiền tệ và hàm cầu tiềnnên ngoài những ảnh hưởng tích cực chính sách tiền tệ, như góp phần cải thiện tăng độsâu của trung gian tài chính, giảm chi phí in tiền, tạo điều kiện cho việc chu chuyển, lưuthông hàng hóa quốc tế, nó còn có ảnh hưởng tiêu cực đến thực thi chính sách tiền tệ cụthể là:

1.2.1 Đô la hoá làm giảm hiệu quả kiểm soát tiền tệ của Ngân hàng trung ương(NHTW).

27

Trang 37

*NHTW gặp khó khăn trong việc kiểm soát MB, M2: Khi nền kinh tế có tìnhtrạng đô la hoá, nghĩa là lọng tiền gửi ngoại tệ/M2 ở mức cao, theo đó khi có sự dịchchuyển giữa USD và VND, gây khó khăn trong việc kiểm soát và dự báo các cấu phầncủa M2 Cấu phần ngoại tệ trong M2 chủ yếu phụ thuộc vào tình trạng cán cân thanhtoán vốn là chỉ tiêu khó dự báo vì nó phụ thuộc rất nhiều vào diễn biến của môi tròngkinh tế, chính trị thế' giới Do dự báo những thay đổi M2 gặp khó khăn, nên việc điều tiếtlượng tiền cung ứng của Ngân hàng nhà nước kém chính xác và không kịp thời: Nhưchúng ta đã biết lượng tiền cung ứng M2, về cơ bản chịu tác động bởi các hoạt động củaNHTW sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ như nghiệp vụ thị trường mở, tái cấpvốn, dự trữ bắt buộc Tuy nhiên, lượng tiền cung ứng còn chịu ảnh hưởng của nhiềunhân tố khác không thuộc kiểm soát của NHTW, đó là các nhân tố ảnh hưởng đến kếtquả của cán cân thanh toán, vì tài sản có ngoại tệ ròng là kết quả của cán cân thanh toán,

và điều này hoàn toàn đúng với mọi nền kinh tế Riêng đối với nền kinh tế bị đô la hóa,lượng tiền cung ứng thay đổi do những nhân tố ngoài kiểm soát của NHTW là kết quảcủa cán cân thanh toán còn chịu tác động bởi những thay đổi về tiền gửi ngoại tệ huyđộng của các NHTM, mặc dù sự thay đổi về tiền gửi ngoại tệ cũng một phần chịu sự tácđộng bởi thay đổi cán cân thanh toán, nhưng những thay đổi về xuất nhập khẩu thì tácđộng trực tiếp đến tiền gửi ngoại tệ của doanh nghiệp tại NHTM, sự thay đổi tiền gửingoại tệ của doanh nghiệp NHTW có thể dự báo được, nhưng sự thay đổi tiền gửi tiếtkiệm của dân chúng thì khó dự báo Mà sự tăng thêm của tiền gửi ngoại tệ sẽ có tác độnglàm tăng M2 ngoài tầm kiểm soát của NHTW Khi các NHTM nhận tiền gửi ngoại tệ củacác khách hàng và cá nhân và tổ chức kinh tế, theo đó sẽ có l ọng ngoại tệ gửi tại NHTWtheo yêu cầu dự trữ bắt buộc Đây là một cấu phần của MB, do vậy mặc dù đây là lọngtiền có quyền lực NHTW cũng bị hạn chế khả năng kiểm soát khi cấu phần này chủ yếuđọc tạo bởi ngoại tệ của hệ thống NHTM gửi tại NHTW

* Vai trò điều tiết tiền tệ của NHTW thông qua các công cụ chính sách tiền tệ bịhạn chế: Nếu như không có hiện tượng đô la hóa thì cứ 1 đồng của NHTW đưa ra lưuthông thì tạo ra 2 đồng M2, còn nếu có tiền gửi ngoại tệ trong M2 (tức nền kinh tế bị đô

la hóa) thì sự tăng của M2 không phải là 2 mà lớn hơn 2 tùy thuộc vào tỷ trọng ngoại tệtrong M2 Thực tế cho thấy đô la hóa có tác động trực tiếp đến hệ số tạo tiền, đô la hóacàng cao thì hệ số tạo tiền càng lớn và mức độ chênh lệch giữa hệ số tạo tiền M2 với hệ

28

Trang 38

số tạo tiền M2-tiền gửi ngoại tệ khoảng cách càng xa và hệ số tạo tiền không ổn định Dovậy điều hành chính sách tiền tệ để đạt được mức tăng của M2 theo định hướng, thôngqua sự tăng giảm MB nhiều khi không đạt được kết quả như mong muốn.

*NHTW gặp khó khăn trong việc dự báo tiền tệ vì việc xác định vòng quay tiền tệ

và hàm cầu tiền không chính xác: Khi nền kinh tế ở tình trạng đô la hoá cao, các giaodịch thanh toán trong nền kinh tế, đặc biệt bao gồm thanh toán bằng ngoại tệ tiền mặtkhông thể kiểm soát, do vậy việc tính toán vòng quay tiền tệ theo công thức V=GDP∕M2

sẽ thiếu chính xác, từ đó gây khó khăn trong việc dự báo tiền tệ dựa trên học thuyết sốICbng về tiền tệ (MV=PQ) là phCbng pháp hiện nay Việt Nam đang sử dụng

*Điều hành CSTT nhằm mục tiêu kiểm soát lạm phát gặp khó khăn: Trong cơ cấuM2, ta có M2 bằng tổng phCơng tiện thanh toán bằng VND và bằng ngoại tệ TổngphCơng tiện thanh toán bằng ngoại tệ chịu tác động bởi tình trạng cán cân thanh toán củamột nó'c, mặt khác phụ thuộc vào sự dịch chuyển giữa VND và USD Khi NHTW lựachọn M2 là mục tiêu trung gian trong điều hành CSTT thì tình trạng đô la hoá cao sẽ làmgiảm hiệu quả điều hành

* Đô la hoá cao gắn liền vói rủi ro ngoại hối đối vói hệ thống ngân hàng cũng nh □đối vói các doanh nghiệp Mặt khác, khi các tổ chức kinh tế và cá nhân ồ ạt rứt ngoại tệ,đặt cho NHTW trong tình trạng khó khăn để ổn định thị trCừng ngoại hối và thị trừngtiền tệ, đặc biệt trong khi mức dự trữ quốc tế của Việt Nam còn quá mỏng so vói cácnóc trên thế giói và trong khu vực

* Do các doanh nghiệp vay bằng ngoại tệ nên gặp phải rủi ro hối đoái, đặc biệtkhi

tỷ giá không ổn định Do vậy, chừng nào tỷ giá không ổn định, nhiều khả năng đồng nội

tệ bị mất giá mạnh thì chiến l□bc đầu t□ của các NHTM sẽ theo hCóng hạn chế cho vaytrong n óc, tích cực đầu t□ vào các tài sản n óc ngoài hay duy trì dự trữ v□bt Trong bốicảnh có kỳ vọng giảm giá của VND, tất cả các ngân hàng đều mong muốn duy trì vị thếngoại hối trCừng Đặc biệt, khi lãi suất trên thị trCừng quốc tế ở mức cao hơn trong n óc,các NHTM tăng cCừng huy động ngoại tệ để kiếm chênh lệch giữa lãi suất đô la Mỹ ở thịtrCừng trong nóc và lãi suất Đô la Mỹ thu đCbc từ việc gửi ngoại tệ ở nóc ngoài

1.2.2 Đô la hóa làm giảm hiệu quả chính sách tiền tệ

Đô la hoá gia tăng đặt ra thách thức đối với việc xây dựng và điều hành chínhsách tiền tệ, từ khâu thống kê các tổng lượng tiền, xác định các mục tiêu cũng như

29

Trang 39

sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ Cung ứng tiền tệ đóng vai trò quan trọng trongđiều tiết nền kinht tế, với các công cụ tiền tệ chính phủ sẽ tăng giảm lượng cung ứng tiền

tệ với mục tiêu tạo sự tăng trưởng cao, ổn định tránh các cú sốc vĩ mô Tuy nhiên khi nềnkinh tế bị đô la hóa cao các công cụ chính sách tiền tệ dễ bị kém hiệu quả do:

Thứ nhất, khi còn tình trạng đô la hoá tiền mặt, việc đo lường tổng phương tiện

thanh toán (M2) nền kinh tế sẽ bị hạn chế bởi không thể tính toán được lượng ngoại tệtiền mặt tham gia vào lưu thông với chức năng phương tiện trung gian thanh toán nhưVND Cơ cấu của lượng tiền cung ứng ở VN (còn gọi là tổng phương tiện thanh toán)hiện nay chỉ thống kê ở mức độ M2, bao gồm: - M1gồm: lượng tiền mặt trong lưuthông+ tiền gửi không kỳ hạn bằng VND của các tổ chức kinh tế và dân cư tại các TCTD

- M2 gồm: M1+ tiền gửi có kỳ hạn VND+ tiền gửi ngoại tệ của các tổ chứckinh tế và dân cư tại các TCTD

Chúng ta có thể thấy M2 được thống kê trên bảng cân đối tiền tệ của toàn ngành,gồm tiền mặt trong lưu thông ký hiệu là C( tiền mặt VND ngoài hệ thống ngân hàng +tiền mặt tại quỹ của các ngân hàng thương mại) và tiền gửi Tiền mặt VND mặc dù nằmtrong lưu thông nhưng NHNN đo lường được bởi NHNN là người phát hành ra đồng tiềnnày cùng với những thống kê về lượng tiền mặt tồn quỹ, nhưng lượng tiền mặt ngoại tệtham gia lưu thông thì không thể Ngoại tệ tiền mặt được chu chuyển vào VN dướinhiều hình thức như chuyển tiền kiều hối , chi tiêu ngoại tệ tiền mặt của khách du lịch

Do vậy, việc tính toán lượng tiền cung ứng tăng thêm hàng năm, để kiểm soát M2 tăngtrưởng phù hợp với tăng trưởng kinh tế và lạm phát gặp khó khăn

Điều hành chính sách tiền tệ sẽ hướng tới những tác động vào M2, tuy nhiên việcrút tiền ra khỏi lưu thông của khu vực dân cư sẽ ảnh hưởng tới với lượng ngoại tệ tronglưu thông lớn sẽ làm mất ổn định cung tiền, do khó có thể dự báo hành vi, quy mô tổngtiền gửi ngoại tệ của hệ thống dân cư

Những hạn chế này dẫn đến việc điều hành chính sách tiền tệ bằng công cụ giántiếp bị hạn chế, nhiều khi mất tác dụng

Thứ hai, việc kiểm soát M2 thông qua việc điều hành lượng tiền cơ sở (MB) khó

khăn hơn vì : Tổng phương tiện thanh toán bao gồm cả VND và ngoại tệ nên số nhân

tiền tệ của hai đại lượng này biến động khác nhau tùy thuộc vào diễn biến lãi suất, tỷ giá,tâm lý găm giữ ngoại tệ Với tình trạng đô la hoá tồn tại, khối tiền MB sẽ kém

30

Trang 40

quyền lực hơn là trong điều kiện nền kinh tế không có tình trạng đô la hoá, do vậy khảnăng kiểm soát tiền tệ của NHNN gặp khó khăn ; luồng vốn vào dưới dạng tiền gửi củangười không cư trú về nguyên tắc sẽ không có số nhân tiền tệ, nhưng trường hợp cácNHTM được phép sử dụng để cấp tín dụng thì xuất hiện số nhân tiền tệ Bởi vậy khi quátrình tự do hoá luồng vốn càng nhanh, thì áp lực tăng tổng phương tiện thanh toán còn bịcộng hưởng bởi tình trạng đô la hoá, đặc biệt khi mục tiêu chính sách tập trung nhiều vàotăng trưởng kinh tế.

Thứ ba, đô la hoá làm mất ổn định cung tiền, giá cả, sản lượng

Công thức nổi tiếng của lý thuyết tiền tệ cổ điển cho thấy mối quan hệ giữa giá cả,sản lượng và lượng cung tiền:

P = V*M∕Y hay M = P*Y/V

Trong đó: V: tốc độ quay vòng của tiền tệ

Y: sản lượngP: mức giáM: lượng cung ứng tiềnTuy nhiên, khác với học thuyết tiền tệ cổ điển (lượng cung ứng tiền chỉ phụ thuộcvào cơ số tiền do NHTW phát hành (MB) và số nhân tiền của hệ thống NHTM (k).Trong nền kinh tế bị đô la hoá lượng cung tiền tệ bị phụ thuộc vào cơ cấu ngoại tệ tronglưu thông thay thế cho chức năng thanh toán của đồng nội tệ và lượng tiền gửi ngoại tệ

Do vậy, lượng đô la hoá trong nền kinh tế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lượng cung tiền tệ(M2)

Khi nền kinh tế bị đô la hoá cao, kết cấu tài khoản tiền gửi bằng ngoại tệ của cácNHTM càng sẽ càng bất ổn khi có hành vi cơ cấu tiền gửi từ nội tệ sang ngoại tệ (vàngược lại) một cách bất ngờ, mạnh mẽ Sự thay đổi này dễ dẫn đến hiện tượng mất ổnđịnh trong cung ứng tiền và ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả, sản lượng, mối quan hệ giữachúng trở lên méo mó Tuy nhiên đô la hoá tác động đến mối quan hệ này ở nhiều mức

độ khác nhau, tuỳ thuộc vào các NHTM sử dụng được nguồn ngoại tệ huy động đượcnhư thế nào Trên thực tế thông thường các NHTM sử dụng ngoại tệ huy động được vào

2 mục đích chính là đầu tư tín dụng trong nước và gửi ngoại tệ huy động được ra nướcngoài Các NHTM đầu tư vào 2 danh mục theo tỷ lệ nào là tuỳ thuộc điều kiện kinhdoanh từng thời kỳ Để thấy được mức độ tác động của đô la hoá đến sản lượng và

31

Ngày đăng: 23/04/2022, 13:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Trước tình hình đó chính phủ đã ban hành nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011   nhằm   đưa   ra   những   giải   pháp   kiềm   chế   lạm   phát,   ổn   định   kinh   tế   vĩ   mô,   bảo đảm an sinh xã hội , Ngân hàng Nhà nước đã phối hợp cùng các cơ quan - 1579 thực trạng đô la hóa ở VN và ảnh hưởng cuả nó tới hiệu quả chính sách tiền tệ   luận văn thạc sĩ kinh tế (FILE WORD)
r ước tình hình đó chính phủ đã ban hành nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 nhằm đưa ra những giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội , Ngân hàng Nhà nước đã phối hợp cùng các cơ quan (Trang 55)
Bảng 2.2: So sánh lãi suất, lợi 42 tức tiền gửi đồng Việt Nam và đôla - 1579 thực trạng đô la hóa ở VN và ảnh hưởng cuả nó tới hiệu quả chính sách tiền tệ   luận văn thạc sĩ kinh tế (FILE WORD)
Bảng 2.2 So sánh lãi suất, lợi 42 tức tiền gửi đồng Việt Nam và đôla (Trang 55)
Bảng 2.3: Một số chỉ tiêu đánh giá mức độ đôla hoá trong khu vực dân cư - 1579 thực trạng đô la hóa ở VN và ảnh hưởng cuả nó tới hiệu quả chính sách tiền tệ   luận văn thạc sĩ kinh tế (FILE WORD)
Bảng 2.3 Một số chỉ tiêu đánh giá mức độ đôla hoá trong khu vực dân cư (Trang 60)
Bảng 2.11: Thayđổi chính sách tiền tệ giai đoạn 2002-2008 - 1579 thực trạng đô la hóa ở VN và ảnh hưởng cuả nó tới hiệu quả chính sách tiền tệ   luận văn thạc sĩ kinh tế (FILE WORD)
Bảng 2.11 Thayđổi chính sách tiền tệ giai đoạn 2002-2008 (Trang 95)
Bảng 2.15: Tỷ giá, lãi suất, lợi tức và mức độ đôla hoá tiền gửi - 1579 thực trạng đô la hóa ở VN và ảnh hưởng cuả nó tới hiệu quả chính sách tiền tệ   luận văn thạc sĩ kinh tế (FILE WORD)
Bảng 2.15 Tỷ giá, lãi suất, lợi tức và mức độ đôla hoá tiền gửi (Trang 111)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w