Từ ngày 24/09/2009, Bộ tài chính chính thức tổchức xây dựng thị trường giao dịch trái phiếu Chính phủ chuyên biệt tại Sởgiao dịch chứng khoán Hà Nội trên cơ sở chuyển các giao dịch trái
Trang 2VŨ THỊ HƯƠNG
THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ CHUYÊN BIỆT - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2014
Trang 3HỌC VlỆN NGÂN HÀNG
VŨ THỊ HƯƠNG THỊ TRƯỜNG TRAl PHlẾU CHÍNH PHỦ CHUYÊN BlỆT - THỰC TRẠNG VÀ GlẢl PHÁP TẠl SỞ GlAO DỊCH CHỨNG KHOÁN HÀ NỘl
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS - TS TÔ KIM NGỌC
HÀ NỘI - 2014
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thôngtin và số liệu nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, kết quả của luận văn làtrung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Người cam đoan
Vũ Thị Hương
Trang 5MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ VÀ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN CỦA MỘT
SỐ NƯỚC ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ 5
1.1 THị TRƯỜNG TRÁI PHIeU CHÍNH PHủ VÀ Sự CầN THIeT CủA THịTRƯỜNG TRÁI PHIeU CHÍNH PHủ 5
1.1.1 Thị trườngtrái phiếu Chính phủ 5
1.1.2 Sự cần thiếtcủa thị trường trái phiếu chính phủ 13
QUẢ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾUCHÍNH PHỦ 16
1.2.1 Các tiêu chíđánh giá thị trường trái phiếu chính phủ hiệu quả 16
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường trái phiếu Chính
phủ 21
1.3.KINH NGHIệM QUỐC Tế Về PHÁT TRIểN THị TRƯờNG TRÁI PHIếUCHÍNH PHủ 23
1.3.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản 23
1.3.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ CHUYÊN BIỆT TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN HÀ NỘI 35
Trang 62.2 THựC TRạNG HOạT ĐộNG HOạT ĐộNG THị TRƯỜNG TRÁIPHIếU
CHUYÊN BIệT TạI Sở GIAO DịCH CHứNG KHOÁN HÀ NộI 42
2.2.1 Thị trường sơcấp
422.2.2 Thị trườngthứ cấp 48
2.3 ĐÁNH GIÁHOạT ĐộNG THị TRƯỜNG TRÁI PHIếU CHÍNH PHủCHUYÊN BIệT TạI Sở GIAO DịCH CHứNG KHOÁN HÀ NộI 56
2.3.1 Những kếtquả đạt được 56
2.3.2 Một số hạnchế 58
2.3.3 Nguyên nhândẫn đến những hạn chế 62
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ CHUYÊN BIỆT TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
HÀ NỘI 66
3.1 ĐịNH HƯỚNG PHÁT TRIeN THị TRƯỜNG TRÁI PHIếU CHÍNH PHủ
CHUYÊN BIệT TạI Sở GIAO DịCH CHứNG KHOÁN HÀ NộI 66
3.1.1 Định hướng phát triển chung của thị trường trái phiếu Chính phủ
chuyên biệt ở Việt Nam 66
3.1.2 Định hướng phát triển thị trường Trái phiếu Chính phủ tại Sở giao dịch
chứng khoán Hà Nội 67
3.2 GIảI PHÁP PHÁT TRIeN THị TRƯờNG TRÁI PHIếU CHÍNH PHủ
CHUYÊN BIệT TạI Sở GIAO DịCH CHứNG KHOÁN HÀ NộI 70
3.2.1 Hoàn thiện cấu trúc thị trường trái phiếu chính phủ 70
3.2.2 Đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư 71
3.2.3 Nâng cấp hệ thống giao dịch, hệ thống giám sát, hệ thống công bố,
cung cấp thông tin và hệ thống đăng ký, lưu ký, bù trừ, thanh toán 72
Trang 7TT Viết tắt Nguyên nghĩa
3 TPCQĐP Trái phiếu chính quyền địa phương
3.2.5 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý thị trường Trái phiếuChính phủ chuyên biệt của Việt Nam 78
3.2.6 Các giải pháp đảm bảo ổn định, giảm rủi ro cho thị trường trái phiếuchính phủ 79
3.3 MộT SốKIếN NGHị VÀ XÂY DựNG Lộ TRÌNH PHÁT TRIeN THịTRƯỜNG TRÁI PHIếU CHÍNH PHủ 80
3.3.1 Kiến nghị 803.3.2 Lộ trình phát triển và hoàn thiện thị trường trái phiếu chính phủ 82
KẾT LUẬN 85
Trang 9Sơ đồ 2.1: Cơ chế giao dịch TPCP 41
Bảng Bảng 2.1: Tỷ lệ thanh khoản 50
Bảng 2.2: Quy mô thị trường trái phiếu tại một số quốc gia châu Á 60
Biểu đồ Biểu đồ 2.1: Quy mô phát hành 2010 - 2012 42
Biểu đồ 2.2: Quy mô phát hành theo kỳ hạn 43
Biểu đồ 2.3: Quy mô phát hành theo mã/năm 44
Biểu đồ 2.4: Quy mô phát hành/mã theo TCPH 44
Biểu đồ 2.5: Diễn biến lãi suất phát hành trong ba năm 45
Biểu đồ 2.6: Thành viên thị trường sơ cấp TPCP 47
Biểu đồ 2.7: Tỷ trọng tham gia của Thành viên 47
Biểu đồ 2.8: Quy mô niêm yết theo TCPH 49
Biểu đồ 2.9: Quy mô niêm yết theo KHCL (%) 49
Biểu đồ 2.10: Giá trị giao dịch TPCP 51
Biểu đồ 2.11: Tình hình giao dịch theo kỳ hạn - Outright 52
52
Biểu đồ 2.12: Diễn biến lợi suất giao dịchtừ 2010 tới 31/10/2012 52
Biểu đồ 2.13: Cơ cấu thành viên 54
Biểu đồ 2.14: Tỷ trọng GD Outright theo nghiệp vụ 55
Biểu đồ 2.15: GTGD Outright của NĐT NN 56
Trang 10MỞ ĐẦU
l Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
Việc triển khai xây dựng thị trường thứ cấp cho giao dịch trái phiếuChính phủ được thực hiện gắn liền với việc đưa vào hoạt động Trung tâmgiao dịch chứng khoán TP.HCM từ năm 2000 và Trung tâm giao dịch chứngkhoán Hà Nội năm 2005 Từ ngày 24/09/2009, Bộ tài chính chính thức tổchức xây dựng thị trường giao dịch trái phiếu Chính phủ chuyên biệt tại Sởgiao dịch chứng khoán Hà Nội trên cơ sở chuyển các giao dịch trái phiếuChính Phủ từ Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM ra giao dịch tại Sở giaodịch chứng khoán Hà Nội và tổ chức đấu thầu tập trung các trái phiếu chínhphủ, trái phiếu doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh (thị trường sơ cấp) và
tổ chức tập trung thống nhất các giao dịch thứ cấp tại Sở giao dịch chứngkhoán Hà Nội Sau 03 năm, thị trường trái phiếu chính phủ chuyên biệt đãchính thức được vận hành với mục tiêu chính là tổ chức thị trường trái phiếuchính phủ có sự quản lý của Nhà nước, song song, tách bạch với thị trườnggiao dịch cổ phiếu, làm một kênh huy động vốn cho Ngân sách nhà nướcphục vụ đầu tư phát triển, đa dạng hóa sản phẩm trên thị trường chứng khoáncho giới đầu tư trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướngXHCN Đến nay, có thể nói , thị trường trái phiếu chính phủ đã đóng vai tròquan trọng trên thị trường nợ công, trở thành kênh huy động và phân bổ vốnquan trọng cho phát triển kinh tế của đất nước, đóng góp tích cực trong việcphối hợp điều hành chính sách tài chính - tiền tệ thông qua các nghiệp vụmua bán trái phiếu chính phủ; lãi suất trên thị trường trái phiếu chính phủ còn
là kênh tham chiếu lãi suất trên thị trường nợ, phục vụ cho việc điều hànhkinh tế vĩ mô của Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Thị trường trái phiếu chính phủ Việt Nam đang trong giai đoạn đầu của
Trang 11sự phát triển, tiềm năng của thị trường còn rất lớn Để có thể tận dụng và pháthuy được những tiềm năng này, nhất là trong khung cảnh còn nhiều khó khăncủa nền kinh tế nói chung, nợ công nói riêng trong và ngoài nước, đối với cơquan quản lý, thành viên thị trường, các chủ thể đầu tư phía trước còn rấtnhiều thách thức, đòi hỏi sự nỗ lực, sáng tạo và linh hoạt không ngừng trong
tư duy và phương phát to chức, vận hành, quản lý thị trường hiệu quả
Dưới góc độ là một cán bộ đang công tác tại Sở giao dịch chứng khoán
Hà Nội, kết hợp với những kiến thức đã tiếp thu được trong quá trình học tập
tại Học viện Ngân hàng, tôi nhận thấy đề tài "Thị trường trái phiếu chính
phủ chuyên biệt - thực trạng và giải pháp tại Sở giao dịch chứng khoán
Hà Nội" là đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống hoá các lý luận chung về thị trường TPCP và kinh nghiệm củathế giới đối với thị trường TPCP Chỉ ra được thực trạng của thị trường TPCP
và đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện thị trường TPCP chuyên biệt tại SởGDCK Hà Nội
3 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được các mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, luậnvăn áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
3.1 Phương pháp luận chung
Đề tài lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm
cơ sở phương pháp luận Thừa nhận tính khách quan, tính phổ biến của cácquy luật Thừa nhận quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử cụ thể, luôn xemxét các sự vật, hiện tượng của đời sống xã hội trong những mối liên hệ, ràngbuộc lẫn nhau và đồng thời xem xét chúng trong những khoảng không gian,thời gian nhất định
Chủ nghĩa Mác - Lênin quan niệm vật chất có trước ý thức, vật chất
Trang 12quyết định ý thức, cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng Áp dụng lýluận này vào công trình nghiên cứu của mình, tác giả muốn tìm hiểu sự tácđộng của các điều kiện kinh tế xã hội tới các quy tắc xã hội, pháp luật tới thịtrường trái phiếu chính phủ chuyên biệt của Việt Nam Trên cơ sở vận dụngquan điểm Mác xít về mối quan hệ biện chứng, trong nghiên cứu của mình,tác giả nhìn nhận mọi vấn đề nghiên cứu trong mối quan hệ phụ thuộc và tácđộng qua lại lẫn nhau Mọi vấn đề không chỉ được nhìn nhận từ bên ngoài màcòn được xem xét cả từ những tác động và biến đoi từ bên trong.
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1. Phương pháp thu thập thông tin
Dựa trên những nghiên cứu đi trước, tác giả sử dụng nguồn thông tin đãđược nghiên cứu để làm sáng tỏ cho vấn đề mình nghiên cứu Mặt khác,những thông tin thu được không chỉ cung cấp một bức tranh chung về thựctrạng thị trường TPCP ở Việt Nam mà còn giúp tác giả tìm ra những nét mới,những khía cạnh cần khai thác sâu cho đề tài về thị trường TPCP chuyên biệtkhi được vận hành và quản lý tập trung tại Sở GDCK Hà Nội Tác giả đã sửdụng một số dạng tài liệu sau: tài liệu nghiên cứu và xuất bản của các nhàkhoa học trong và ngoài nước; những công trình nghiên cứu khoa học, luận ántốt nghiệp; tài liệu dịch từ tiếng nước ngoài; các tạp chí: chứng khoán, kinh tếv.v ; các báo cáo của Bộ Tài chính, Uy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở Giaodịch chứng khoán, của doanh nghiệp
3.2.2. Phương pháp xử lý thông tin
Các thông tin bao gồm cả thông tin thứ cấp và thông tin sơ cấp sau khiđược thu thập sẽ được phân loại và sàng lọc, lựa chọn các thông tin cần thiết
để đưa vào phân tích Các số liệu thu thập được sẽ được so sánh qua các giaiđoạn khác nhau và so sánh với một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới
Từ đó, đưa ra các kết luận
Trang 133.2.3. Các phương pháp khác
- Phương pháp đặt vấn đề, đặt câu hỏi nghiên cứu, từ đó tìm các câu trảlời, giải pháp để giải quyết được câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng thị trường TPCP chuyên
bi ệt tại Sở GDCK Hà Nội
Đối với đề tài này, phạm vi nghiên cứu là thực trạng thị trường TPCPchuyên biệt trên thị trường tập trung bao gồm thị trường sơ cấp và thứ cấpđược vận hành và quản lý tại Sở GDCK Hà Nội, tức là giao dịch qua sàn giaodịch trong giai đoạn 2009 - 2013 Không nghiên cứu đối với thị trường giaodịch không qua sàn giao dịch Các giải pháp được nghiên cứu đối với giaiđoạn 2015-2020
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Ý nghĩa khoa học của đề tài: hệ thống và hoàn thiện lý luận cơ bản vềtrái phiếu, thị trường TPCP đối với hoạt động của thị trường TPCP
Ý nghĩa thực tiễn: nghiên cứu hoạt động thị trường TPCP của Việt Namtrong giai đoạn 2009 - 2013; Từ đó, tìm ra một số giải pháp để phát triển thịtrường TPCP chuyên biệt hiệu quả hơn
6 Ket cấu của luận văn
Luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thị trường TPCP và kinh nghiệmphát triển của một số nước đối với thị trường TPCP
Chương 2: Thực trạng thị trường TPCP chuyên biệt tại Sở GDCK Hà Nội
Chương 3: Giải pháp phát triển thị trường TPCP chuyên biệt tại Sở
GDCK Hà Nội.
Trang 14CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ VÀ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ NƯỚC
ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ
1.1 THị TRƯỜNG TRÁI PHIeU CHÍNH PHủ VÀ Sự CầN THIeT CủA THị TRƯỜNG TRÁI PHIeU CHÍNH PHủ
1.1.1 Thị trường trái phiếu Chính phủ
1.1.1.1. Khái niệm thị trường trái phiếu Chính phủ
Thị trường TPCP là một bộ phận của thị trường tài chính, là nơi diễn racác hoạt động nơi diễn ra các hoạt động trao đoi, mua bán, chuyển nhượngcác loại TPCP; qua đó thay đổi chủ thể nắm giữ TPCP
TPCP là một loại chứng khoán nợ do Chính phủ phát hành, có thời hạn,mệnh giá, lãi suất và xác nhận nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ đối với người sởhữu trái phiếu, TPCP là tên gọi chung của các loại trái phiếu do Kho bạc Nhànước phát hành và trái phiếu chính quyền địa phương, các cơ quan đượcChính phủ cho phép phát hành và được Chính phủ đảm bảo thanh toán Do
đó, hàng hóa của thị trường TPCP bao gồm trái phiếu do Chính phủ pháthành, trái phi ếu được Chính phủ bảo lãnh phát hành và trái phiếu chính quyềnđịa phương
Mục đích của việc phát hành trái phiếu Chính phủ là nhằm huy động vốn
để bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước, đầu tư xây dựng các công trình, dự
án trọng điểm hoặc để xây dựng, thực hiện các chương trình mục tiêu củaChính phủ Nguồn thanh toán TPCP chủ yếu lấy từ hoặc nguồn vốn thu hồitrực tiếp từ các công trình được đầu tư từ nguồn vốn phát hành TPCP manglại Do vậy, TPCP có tính an toàn cao, tính rủi ro thấp bởi vì nó được đảm bảotrả nợ bằng nguồn vốn của ngân sách nhà nước
Trang 151.1.1.2. Các chủ thể tham gia thị trường trái phiếu Chính phủ
Chủ thể phát hành : Chủ thể phát hành trái phiếu là to chức đứng ra huyđộng vốn bằng cách phát hành trái phiếu cho các nhà đầu tư Chủ thể pháthành của TPCP là Bộ Tài chính Chủ thể phát hành trái phiếu được Chính phủbảo lãnh là doanh nghiệp, ngân hàng chính sách của Nhà nước và tổ chức tíndụng thuộc đối tượng được cấp bảo lãnh Chính phủ theo quy định Chủ thểphát hành TPCQĐP là Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh
Đối với Chính phủ, việc phát hành trái phiếu nhằm bù đắp thiếu hụt ngânsách nhà nước hoặc dự trữ để bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước hoặc đểđầu tư cho các chương trình lớn của quốc gia được Chính phủ phê duyệt
Đối với địa phương, TPCQĐP được phát hành để huy động vốn phục vụcác dự án, chương trình trọng tâm nhằm phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá,giáo dục của địa phương đó
Nhà đầu tư: là những người tham gia mua các loại TPCP Theo Nghị
định hướng dẫn của Chính phủ về việc phát hành trái phiếu thì đối tượngđược mua trái phiếu là các tổ chức, cá nhân Việt Nam, người Việt Nam định
cư ở nước ngoài làm việc và sinh sống hợp pháp tại Việt Nam Đối với các tổchức của Việt Nam không được dùng nguồn kinh phí do Ngân sách Nhà nướccấp để mua TPCP Ngoài ra, đối với mỗi loại TPCP khác nhau thì có quy định
cụ thể với đối tượng được mua trái phiếu khác nhau
Theo đó, có thể chia các nhà đầu tư trái phiếu thành 02 nhóm: các nhà đầu
tư cá nhân bao gồm các cá nhân, hộ gia đình có tiền nhàn rỗi để mua TPCP vàcác tổ chức như các công ty kinh doanh chứng khoán, các tổ chức tài chính họ
là những người tổ chức có quy mô, chuyên hoạt động kinh doanh trong lĩnh vựcchứng khoán và sử dụng nguồn vốn của mình để đầu tư vào trái phiếu
Đối với các nhà đầu tư, việc mua trái phiếu vừa là tiết kiệm, vừa làphương pháp đầu tư khá an toàn và cũng là một cách thức để đóng góp vào sự
Trang 16phát triển chung của thị trường tài chính và của đất nước.
Các định chế trung gian và cung cấp dịch vụ trên thị trường: Các định
chế này là bên thứ ba đứng ra kết nối hoạt động mua bán, trao đoi giữa chủ thểphát hành và nhà đầu tư và làm cho các hoạt động của thị trường TPCP diễn rasuôn sẻ hơn Các tổ chức trung gian trên thị trường TPCP bao gồm:
+ Tổ chức bảo lãnh phát hành: Tổ chức bảo lãnh phát hành là tổ chức camkết với chủ thể phát hành thực hiện các thủ tục về phát hành trái phiếu, nhận muamột phần hay toàn bộ trái phiếu của chủ thể phát hành để bán lại, phân phối tráiphiếu cho các nhà đầu tư hoặc mua số trái phiếu còn lại chưa được phân phốihết Bảo lãnh phát hành trái phiếu là phương thức phát hành trái phiếu mà chủthể phát hành trái phiếu thông qua các tổ chức bảo lãnh phát hành Bảo lãnh pháthành bao gồm tư vấn tài chính và phân phối chứng khoán Tổ chức phát hànhđược hưởng một khoản tiền theo tỷ lệ nhất định nhưng không quá 0.15% số tiềnthu được từ đợt phát hành Các phương thức bảo lãnh phát hành gồm bảo lãnhvới cam kết chắc chắn, bảo lãnh theo phương thức dự phòng, bảo lãnh theophương thức cố gắng cao nhất, bảo lãnh theo phương thức bán tất cả hoặc không
và bảo lãnh theo phương thức tối thiểu - tối đa
+ Tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm: Hệ số tín nhiệm là hệ số để đánh giácác quốc gia hoặc các doanh nghiệp về mức độ tin cậy, mức độ rủi ro đầu tư vàkhả năng hoàn trả các khoản vay Tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm là tổ chức cóchức năng đánh giá và xếp hạng hệ số tín nhiệm quốc gia, doanh nghiệp về phíachủ thể phát hành, nếu có hệ số tín nhiệm cao thì việc phát hành thuận lợi, dễdàng, giảm được chi phí huy động vốn và có thể phát hành trái phiếu với mức lãisuất thấp hơn mà vẫn có thể thu hút được các nhà đầu tư và ngược lại Đối vớinhà đầu tư, hệ số này sẽ cung cấp những thông tin cần thiết cho các nhà đầu tư
về tình trạng của người phát hành, khả năng thu hồi vốn và sinh lời nếu đầu tư,tính rủi ro của trái phiếu được phát hành với hoạt động của các tổ chức này, chi
Trang 17phí thông tin cho việc mua, bán trái phiếu được giảm bớt, đồng thời nâng caotrách nhiệm của người phát hành đối với nhà đầu tư trong việc thanh toán gốc,lãi và tăng cường tính minh bạch về thông tin cho thị trường.
+ Đại lý phân phối: Để phân phối trái phiếu ra thị trường được thuận lợi,
to chức phát hành thường thuê một hoặc một nhóm các công ty đứng ra làmđại lý phân phối trái phiếu Các đại lý này thường có mạng lưới chi nhánhrộng, tạo điều kiện để các nhà đầu tư dễ dàng tiếp cận được thông tin cần thiết
để đưa ra quyết định đầu tư và thuận tiện trong việc tiến hành các giao dịch.Các đại lý này được nhận một khoản phí do tổ chức phát hành trả dựa trênkhối lượng và giá trị của đợt phát hành
+ Tổ chức môi giới: Là tổ chức có chức năng tư vấn, giúp đỡ các nhà đầu
tư trong việc đưa ra các quyết định đầu tư và thực hiện các quyết định đầu tư đó
Hiệp hội các Nhà Kinh doanh Trái phiếu: là tổ chức của các công tychứng khoán và một số thành viên khác hoạt động trong lĩnh vực trái phiếu,mục đích là để bảo vệ lợi ích của các thành viên và của thị trường trái phiếu.Đây là một tổ chức tự điều hành với vai trò là cầu nối giữa các nhà kinhdoanh trái phiếu với các cơ quan QLNN và công chúng đầu tư
Sở Giao dịch Chứng khoán: là pháp nhân do Thủ tướng Chính phủ thành
lập với chức năng thiết lập thị trường giao dịch chứng khoán có tổ chức, vậnhành liên tục với các chứng khoán Hoạt động của Sở Giao dịch chứng khoánkhông mang lại vốn trực tiếp cho tổ chức phát hành, nhưng thông qua nó, cácchứng khoán phát hành được giao dịch liên tục, làm tăng tính thanh khoản vàkhả mại cho các chứng khoán Chính phủ có thể phát hành tăng vốn cho Ngânsách Nhà nước, các nhà đầu tư có thể dễ dàng mua hoặc bán trái phiếu qua SởGiao dịch Chứng khoán Bên cạnh đó, Sở Giao dịch chứng khoán cũng là nơicung cấp các báo cáo một cách chính xác và liên tục về các loại hàng hoá,thông tin về đơn vị phát hành, đại lý phát hành, đơn vị môi giới
Trang 18Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ: lưu ký chứng khoán là việc nhận ký
gửi, bảo quản, chuyển giao chứng khoán cho khách hàng, giúp khách hàngthực hiện các quyền liên quan đến sở hữu chứng khoán To chức lưu ký vàthanh toán bù trừ nhận lưu giữ, bảo quản trái phiếu của khách hàng và tiếnhành các nghiệp vụ thanh thoán bù trừ cho các giao dịch TPCP
Cơ quan QLNN đối với Thị trường TPCP: là cơ quan quản lý các cấp từ
trung ương đến địa phương, thực hiện nhiệm vụ QLNN đối với hoạt động củathị trường và các thành viên tham gia thị trường TPCP
1.1.1.3. Phân loại thị trường trái phiếu Chính phủ
Thị trường sơ cấp trước hết đóng vai trò huy động vốn trong nền kinh tếbằng cách tạo ra nhiều cơ hội đầu tư cho những người có tiền nhàn rỗi và là mộtkênh phân bổ vốn hiệu quả Đối với Chính phủ, thị trường sơ cấp giúp Chính phủgiải quyết được các vấn đề thiếu hụt ngân sách, có thêm vốn để thực hiện các dự
án xây dựng cơ sở hạ tầng mà không phải phát hành thêm tiền tạo ra sức ép vềlạm phát Các doanh nghiệp và các nhà đầu tư đều có khả năng thu được lợi nhuận
từ thị trường này Do đó, có thể nói thị trường sơ cấp không chỉ đóng vai trò tậphợp có hiệu quả các nguồn vốn mà nó còn là một công cụ mà các nền kinh tế thịtrường đều sử dụng nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của nền kinh tế
Có 4 hình thức phát hành trái phiếu ra công chúng trên thị trường này: làbán lẻ trái phiếu, đại lý phát hành trái phiếu, bảo lãnh phát hành trái phiếu,
Trang 19đấu thầu trái phiếu.
+ Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các TPCP đã được phát hành trên thịtrường sơ cấp, đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành
Sau khi trái phiếu mới được phát hành trên thị trường sơ cấp, chúng sẽđược giao dịch trên thị trường thứ cấp Khác với thị trường sơ cấp, tiền bán tráiphiếu trên thị trường thứ cấp thuộc về các nhà đầu tư và nhà kinh doanh chứkhông thuộc về Chính phủ, các đơn vị được Chính phủ bảo lãnh và chính quyềnđịa phương Thị trường thứ cấp tạo ra khả năng chuyển đoi TPCP thành tiền mặt
dễ dàng, thuận tiện nhưng không tạo thêm vốn cho Ngân sách nhà nước
+ Thị trường sơ cấp và Thị trường thứ cấp có mối quan hệ nội tại, thịtrường sơ cấp là cơ sở, là tiền đề; Thị trường thứ cấp là động lực Không cóthị trường sơ cấp thì không có TPCP để lưu thông trên thị trường thứ cấp vàngược lại, nếu không có thị trường thứ cấp thì thị trường sơ cấp khó hoạtđộng thuận lợi Việc phân biệt Thị trường sơ cấp và Thị trường thứ cấp cótính chất tương đối
Theo mức độ tập trung của thị trường
Theo cách phân loại này, có thể phân thị trường trái phiếu thành thịtrường tập trung và thị trường phi tập trung
+Thị trường tập trung: là thị trường giao dịch qua Sở giao dịch chứngkhoán Trong đó việc giao dịch mua bán trái phiếu được thực hiện tại Sở giaodịch hoặc các đơn vị được Chính phủ quyết định Các trái phiếu được niêmyết tại Sở giao dịch là các loại trái phiếu được quy định theo Luật Phươngthức giao dịch tại Sở giao dịch là phương thức đấu giá, trong đó các lệnh mua,bán được ghép với nhau để hình thành giá cả cạnh tranh tốt nhất
+ Thị trường phi tập trung: là thị trường trong đó việc giao dịch mua bántrái phiếu không diễn ra tại một địa điểm tập trung mà thông qua hệ thốngmáy tính nối mạng giữa các thành viên của thị trường Phương thức giao dịch
Trang 20tại thị trường này là phương thức thoả thuận, giá cả trái phiếu được xác địnhtrên cơ sở thoả thuận giữa các thành viên của thị trường.
1.1.1.4. Vai trò của thị trường trái phiếu Chính phủ
Thứ nhất,thị trường trái phiếu Chính phủ là kênh huy động vốn cho đầu
tư phát triển
Sau khi chi cho tiêu dùng, phần thu nhập còn lại gọi là tiết kiệm Việc cómột hình thức để đầu tư mang lại lợi nhuận với rủi ro ít là một hình thứckhuyến khích người tiêu dùng tiết kiệm
Khi các nhà đầu tư mua trái phiếu, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vàohoạt động sản xuất, kinh doanh, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất,kinh doanh qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội
Với mục tiêu là đầu tư vào các công trình trọng điểm, xây dựng cơ sở vậtchất cho việc phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, do đó, khi dân chúng dùngkhoản tiết kiệm của mình đầu tư vào trái phiếu, việc này sẽ dẫn tới sự phânchia hợp lý hơn các nguồn tài nguyên, vì nguồn vốn có thể dùng để tiêu dùnghay gửi ngân hàng được huy động và chuyển giao đầu tư để thúc đẩy hoạtđộng kinh doanh mang lại lợi ích cho nhiều lĩnh vực của nền kinh tế như nôngnghiệp, thương mại, công nghiệp, dẫn tới một sự tăng trưởng kinh tế cao hơn
và tập trung vốn sản xuất ở mức độ lớn hơn
Thứ hai, thị trường trái phiếu Chính phủ là kênh dẫn vốn cho nền kinh
tế, cung cấp tính thanh khoản cho các nhà đầu tư
Thị trường trái phiếu là một kênh để đánh giá hoạt động quản lý dự áncủa Chính phủ, của chính quyền các địa phương Các hoạt động của chủ thểphát hành được phản ánh một cách công khai, minh bạch giúp cho các nhàđầu tư có thể đưa ra các so sánh, đánh giá một cách nhanh chóng, thuật tiện
Từ đó, tạo ra một môi trường lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụngvốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm Việc thông tin thị
Trang 21trường minh bạch sẽ góp phần khuyến khích các nhà đầu tư, góp phần dẫnvốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ nơi hoạt động kém hiệu quả sang các dự ánđầu tư có hiệu quả hơn một cách chủ động và tạo ra nhiều giá trị kinh tế nhất.Qua đó tăng cường hiệu quả hoạt động của nền kinh tế.
Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứngkhoán đối với người đầu tư Nó cho thấy tính linh hoạt, an toàn của nguồnvốn mà nhà đầu tư bỏ ra Nhờ có thị trường chứng khoán nói chung và thịtrường TPCP nói riêng mà các nhà đầu tư có thể chuyển đoi các trái phiếu họ
sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn Thịtrường trái phiếu hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì khả năng nângcao tính thanh khoản của các trái phiếu giao dịch trên thị trường càng cao
Thứ ba, thị trường trái phiếu Chính phủ góp phần đa dạng hóa các công
cụ đầu tư trên thị trường vốn
Thị trường trái phiếu cung cấp cho các nhà đầu tư một môi trường đầu tưlành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú Các loại trái phiếu trên thịtrường khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư
có thể lựa chọn cho loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thíchcủa mình Chính vì vậy, thị trường trái phiếu góp phần đáng kể làm tăng mứctiết kiệm quốc gia
Thứ tư,thị trường trái phiếu Chính phủ là nền tảng cơ bản cho sự phát
triển của thị trường chứng khoán và các thị trường trái phiếu khác
Thị trường TPCP là nền tảng cơ bản cho sự phát triển của thị trường tráiphiếu doanh nghiệp thông qua việc cung cấp cơ sở định giá chuẩn, đáng tincậy cho các công cụ khác Qua đó, thúc đẩy sự phát triển của thị trường tráiphiếu doanh nghiệp nói riêng và thị trường tài chính nói chung
Thứ năm,thị trường trái phiếu Chính phủ là công cụ trong điều hành thị trường tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước
Trang 22Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước không thể trực tiếp can thiệp vàoviệc vận hành của nền kinh tế thông qua các kế hoạch như trong giai đoạn baocấp Do đó, thị trường Trái phiếu là một công cụ góp phần quan trọng trongđiều hành thị trường tiền tệ.
Với nghiệp vụ thị trường mở, Ngân hàng Trung ương thực hiện việc điềutiết nguồn cung của thị trường tiền tệ Ngân hàng Trung ương thực hiệnnghiệp vụ thị trường mở khi mua hoặc bán TPCP cho công chúng Khi muaTPCP, Ngân hàng Trung ương phải trả cho những người bán trái phiếu mộtlượng tiền đúng bằng giá trị các TPCP mua vào làm cho cơ sở tiền tệ tăng lênmột lượng tương ứng Do đó, cung tiền cho nền kinh tế tăng Ngược lại, khiNgân hàng Trung ương bán TPCP, những người mua trái phiếu sẽ trả mộtkhoản tiền tương ứng cho Ngân hàng Trung ương Kết quả là một lượng tiềntương ứng bị rút ra khỏi lưu thông, làm cho cơ sở tiền tệ giảm Tức là lượngcung tiền trong nền kinh tế giảm
Mặt khác, các chỉ báo về thị trường trái phiếu nói riêng và thị trườngchứng khoán nói chung phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạybén và chính xác Giá của các TPCP tăng cho thấy đầu tư đang mở rộng, nềnkinh tế tăng trưởng; và ngược lại giá TPCP giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêucực của nền kinh tế Vì thế, thị trường TPCP góp phần làm cho thị trườngchứng khoán được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụquan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Chính phủ
có thể sử dụng một số biện pháp, chính sách tác động vào thị trường TPCPnhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế
1.1.2 Sự cần thiết của thị trường trái phiếu chính phủ
Trong điều kiện hội nhập và mở cửa nền kinh tế, cùng với việc phát triểnnền kinh tế, thị trường tài chính ngày càng được hoàn thiện và phát triển Thịtrường TPCP là một bộ phận của thị trường tài chính Sự hình thành và phát
Trang 23triển của thị trường TPCP là đòi hỏi tất yếu khách quan, xuất phát từ nhữngyêu cầu sau đây:
1.1.2.1. Yêu cầu thực thi chính sách tài khóa
Thị trường TPCP ra đời xuất phát từ yêu cầu huy động vốn cho NSNNbao gồm ngân sách cho trung ương và ngân sách cho chính quyền địa phương.Vay nợ của Chính phủ là biện pháp tài chính, tín dụng rất quan trọng nhằmhuy động vốn cho NSNN và cho đầu tư phát triển Nhu cầu vốn cho NSNN vàcho đầu tư phát triển là rất lớn; do vậy, dễ dẫn đến tình trạng mất cân đốitrong nền kinh tế mà điển hình là tình trạng mất cân đối NSNN Chính phủcác nước trên thế giới đã sử dụng TPCP như một công cụ nợ hữu hiệu trongviệc huy động vốn thông qua thị trường TPCP nhằm đáp ứng đủ và kịp thờinhu cầu về vốn trong quá trình thực thi chính sách tài khoá của mình, khắcphục tình trạng thiếu vốn và không bị lệ thuộc nhiều vào vay nợ từ bên ngoài,hạn chế những biến động bất lợi đối với nền kinh tế
Mặt khác, chính sách tài khoá tác động đến việc hình thành, phát triển thịtrường TPCP xuất phát từ nhu cầu huy động vốn để bù đắp thiếu hụt NSNN.Trong những điều kiện nhất định khi áp dụng chính sách tài khoá nới lỏng dướidạng bội chi chủ động thì nhu cầu huy động vốn thông qua TPCP tăng lên, làmcho hoạt động của thị trườngTPCP thêm sôi động; nếu thực hiện chính sách tàikhoá thắt chặt, giảm bội chi NSNN thì nhu cầu huy động vốn qua phát hànhTPCP sẽ giảm xuống, ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng trái phiếu phát hành,niêm yết và giao dịch trên thị trường Như vậy, chính sách tài khoá có mối quan
hệ chặt chẽ và tác động trực tiếp đến thị trường TPCP Một quốc gia có thịtrường TPCP phát triển ổn định là một điều kiện quan trọng để Chính phủ thựchiện thành công chính sách tài khoá của quốc gia
1.1.2.2. Yêu cầu thực thi chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ tác động đến việc hình thành và phát triển thị trường
Trang 24TPCP trên hai góc độ: Tạo môi trường để khuyến khích tiết kiệm và huy độngvốn cho đầu tư phát triển, đồng thời để góp phần thực hiện chính sách tiền tệChính phủ phải phát hành các loại Tín phiếu Kho bạc để cung cấp hàng hoácho hoạt động của thị trường mở Bên cạnh những công cụ chính sách tiền tệtrực tiếp như cho vay chiết khấu; tỷ lệ dự trữ bắt buộc NHNN còn sử dụngcác chính sách tiền tệ khác như tỷ giá hối đoái, hoạt động nghiệp vụ của thịtrường mở để điều hành chính sách tiền tệ mục đích là tạo môi trường kinh tế
vĩ mô ổn định, phát triển sản xuất, khuyến khích tiêu dùng và đầu tư Cùngvới việc phát triển thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, thị trường nội tệ, nghiệp
vụ hoạt động của thị trường mở đã hình thành và từng bước phát triển Công
cụ hoạt động của thị trường mở gồm Tín phiếu Kho bạc, các loại giấy tờ có
giá ngắn hạn khác.Việc thực hiện chính sách tiền tệ trong quá trình thực hiệnchính tài khoá đã thúc đẩy sự ra đời và phát triển của thị trường TPCP; tiêubiểu là thị trường tín phiếu, mục đích đặt ra là ổn định môi trường vĩ mô,kiềm chế lạm phát, tạo điều kiện cho việc huy động vốn; mặt khác, việc pháthành Tín phiếu Kho bạc tạo điều kiện cho NHNN có công cụ để điều hànhchính sách tiền tệ của mình
1.1.2.3. Yêu cầu phát triển thị trường tài chính
Yêu cầu của thị trường tài chính là phải tạo ra những loại hàng hoá cóchất lượng cao, nếu thiếu vắng thị trường TPCP sẽ làm giảm khả năng huyđộng vốn dài hạn cho nền kinh tế, làm mất cơ hội đầu tư của công chúng Yêucầu của việc phát triển kinh tế, đòi hỏi phải thiết lập một thị trường tài chính,mục đích là huy động vốn dài hạn cho đầu tư phát triển; trong đó việc hìnhthành thị trường TPCP sẽ góp phần khắc phục những khiếm khuyết và đồng
bộ hoá thị trường tài chính Sự có mặt của thị trường TPCP nói riêng và thịtrường tài chính nói chung sẽ góp phần khơi thông được các nguồn vốn trong
xã hội, di chuyển các luồng vốn từ nơi có khả năng sinh lợi thấp đến nơi có
Trang 25khả năng sinh lợi cao hơn, thu hút và tập trung các nguồn vốn nhỏ, ngắn hạnthành các nguồn vốn lớn dài hạn đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
1.1.2.4. Yêu cầu tăng trưởng kinh tế và hội nhập quốc tế
Xuất phát từ yêu cầu bảo đảm nhu cầu về vốn cho NSNN và cho đầu tưphát triển, tạo hàng hoá cho thị trường tài chính, đáp ứng nhu cầu về vốn chocác chương trình trọng điểm của quốc gia, góp phần tích cực chuyển dịch cơcấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; tăng tỷ trọng cung ứngnguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế; góp phần liên kết, phát triển thịtrường tài chính trong nước với thị trường tài chính quốc tế trong thời kỳ mởcửa và hội nhập
Tăng cường sự liên kết giữa thị trường TPCP với thị trường trái phiếudoanh nghiệp và thị trường trái phiếu chính quyền địa phương; thị trườngTPCP phải là thị trường nợ chuẩn mực để các thị trường khác tham chiếu, đẩynhanh vòng quay, luân chuyển của các nguồn vốn trong xã hội; thông qua thịtrường TPCP khuyến khích tiết kiệm và đầu tư của các tầng lớp dân cư trong
xã hội; phát triển thị trường TPCP phải gắn với việc khắc phục những khiếmkhuyết và tiến tới đồng bộ hoá thị trường tài chính, góp phần thực hiện chủtrương đa phương hoá và đa dạng hoá các hình thức huy động vốn, huy độngtối đa các nguồn vốn, đáp ứng kịp thời nhu cầu chi cho NSNN và cho đầu tưphát triển kinh tế - xã hội của đất nước
1.2 TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ HIỆU QUẢ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ
1.2.1 Các tiêu chí đánh giá thị trường trái phiếu chính phủ hiệu quả
1.2.1.1. Cơ cấu nhà đầu tư
Do đặc thù của TPCP, các nhà đầu tư trên thị trường TPCP chủ yếu làcác to chức tài chính, các to chức đầu tư chuyên nghiệp Tại các quốc gia phát
Trang 26triển, cơ sở nhà đầu tư luôn được đa dạng hóa, có sự cân đối giữa các nhómnhà đầu tư nhằm duy trì lực cầu đều đặn trên thị trường Các nhà đầu tư chủchốt trên thị trường trái phiếu gồm các công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư, ngânhàng, công ty chứng khoán.
Đối với giai đoạn đầu phát triển của thị trường TPCP, việc phát triển cơ
sở nhà đầu tư dựa trên các to chức tài chính và đầu tư sau:
+ Ngân hàng thương mại: trước mắt các ngân hàng thương mại quốcdoanh sẽ đóng vai trò chủ chốt trên thị trường Các ngân hàng thương mại cổphần hiện tại nhìn chung có quy mô vốn nhỏ, năng lực tài chính thấp và khảnăng tham gia vào thị trường TPCP cả sơ cấp và thứ cấp còn hạn chế
+ Công ty bảo hiểm: Tận dụng cả công ty bảo hiểm trong nước và công
ty bảo hiểm nước ngoài Tuy nhiên, các tổ chức bảo hiểm thường đầu tư theo
xu hướng nắm giữ lâu dài nên có thể làm giảm tính thanh khoản cho thịtrường trái phiếu
+ Quỹ hưu trí (Bảo hiểm xã hội): Đây là nguồn vốn nhàn rỗi khá dồi dào
và chưa được sử dụng vào mục đích đầu tư an toàn: không mất vốn và có lãi,
có thế nói đây là một trong số các thành viên tham gia lớn và đầy tiềm năngtrên thị trường
Trong giai đoạn phát triển cao hơn của thị trường TPCP, các thành viêntham gia thị trường TPCP cần mở rộng bao gồm:
+ Ngân hàng thương mại cổ phần và chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Xu hướng chung là quy mô vốn và hoạt động của các ngân hàng thương mạitrong nước sẽ gia tăng mạnh trước thềm hội nhập và lộ trình mở cửa thịtrường tài chính Do vậy, các ngân hàng thương mại cổ phần và các chi nhánhngân hàng nước ngoài với tiềm lực tài chính khổng lồ cũng như bề dày kinhnghiệm hoạt động trên thị trường các công cụ thu nhập cố định trên thế giớisẽ
có vai trò ngày càng lớn hơn trên thị trường TPCP
Trang 27+ Quỹ đầu tư, đặc biệt các quỹ đầu tư nước ngoài, các quỹ đầu tư hảingoại (offshore fund), quỹ phòng ngừa rủi ro (hedge fund) và các hình thứcđầu tư tập thể khác.
+ Công ty quản lý tài sản: Cùng với sự thâm nhập của các ngân hàng nướcngoài thì các công ty quản lý tài sản của các tập đoàn ngân hàng tài chính lớntrên thế giới cũng sẽ tham gia đầu tư vào thị trường Các to chức này sẽ đa dạnghoá danh mục đầu tư cho các khách hàng vào TPCP để giảm bớt rủi ro
+ Công ty tài chính và công ty chứng khoán: Tham giakhông chỉ cácnghiệp vụ liên quan đến thị trường cổ phiếu mà còn tham gia thị trường tráiphiếu và đặc biệt là TPCP.
1.2.1.2. Cấu trúc thị trường
về hàng hóa, phải đa dạng các hàng hóa trên thị trường trái phiếu chính
phủ Hàng hóa trên thị trường TPCP hoạt động hiệu quả tối thiểu phải bao gồm:
+ Tín phiếu kho bạc: Là loại TPCP có kỳ hạn dưới 1 năm, mục đích củaviệc phát hành Tín phiếu Kho bạc là nhằm phát triển thị trường tiền tệ và huyđộng vốn để bù đắp thiếu hụt tạm thời của NSNN trong năm tài chính Tín phiếuKho bạc được phát hành theo phương thức đấu thầu qua Sở giao dịch và đượcgiao dịch trên thị trường Mở hoặc được chiết khấu tại Sở giao dịch của NHNN
+ Trái phiếu kho bạc: Là loại TPCP có kỳ hạn từ 01 năm trở lên, pháthành để huy động vốn bù đắp thiếu hụt của NSNN hàng năm Nguồn vốnthanh toán gốc và lãi Trái phiếu kho bạc được lấy từ nguồn vốn NSNN Lãisuất trái phiếu kho bạc do Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định trên cơ sở tìnhhình thực tế của thị trường tài chính tại thời điểm phát hành Trường hợp đấuthầu lãi suất thì lãi suất hình thành qua kết quả đấu thầu
+ Trái phiếu công trình TW: Là loại TPCP có kỳ hạn từ 01 năm trở lên,phát hành nhằm huy động vốn theo quyết định của Chính phủ để đầu tư cho các
dự án thuộc nguồn vốn đầu tư của ngân sách Trung ương đã ghi trong kế hoạch
Trang 28nhưng chưa được bố trí vốn ngân sách trong năm Các khoản thu từ phát hànhTrái phiếu công trình Trung ương được tập trung vào ngân sách TW để chi chocác công trình đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt NSTW đảm bảo việcthanh toán gốc, lãi và phí đối với trái phiếu công trình Trung ương.
+ Trái phiếu đầu tư: Là loại TPCP có kỳ hạn từ 01 năm trở lên do các tochức tài chính Nhà nước và các tổ chức tài chính, tín dụng được Chính phủchỉ định phát hành nhằm huy động vốn để đầu tư theo chính sách của Chínhphủ Tiền thu từ phát hành trái phiếu đầu tư phải được theo dõi riêng và chỉ
sử dụng cho mục tiêu kinh tế đã được Chính phủ phê duyệt Tổ chức pháthành có trách nhiệm thanh toán gốc, lãi các trái phiếu đầu tư đã phát hành đếnhạn thanh toán và các chi phí liên quan đến việc phát hành; NSNN đảm nhậnthanh toán một phần hay toàn bộ lãi trái phiếu hoặc cấp bù chênh lệch lãi suấtcho tổ chức phát hành theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ
+ Trái phiếu ngoại tệ: Là TPCP có kỳ hạn từ 01 năm trở lên do Bộ Tàichính phát hành, huy động vốn để đầu tư cho các mục tiêu theo chỉ định củaChính phủ Đồng tiền phát hành là ngoại tệ tự do chuyển đổi và được Bộtrưởng Bộ Tài chính quyết định cho từng đợt phát hành Trái phiếu ngoại tệđược bán lẻ qua hệ thống KBNN hoặc đấu thầu qua NHNN hoặc đấu thầuqua Sở Giao dịch Chứng khoán NSNN đảm bảo thanh toán gốc, lãi trái phiếungoại tệ khi đến hạn
+ Công trái xây dựng tổ quốc: Công trái xây dựng tổ quốc phát hànhnhằm huy động nguồn vốn trong nhân dân, các tầng lớp dân cư trong xã hội
để đầu tư xây dựng những công trình quan trọng quốc gia và các công trìnhthiết yếu khác phục vụ sản xuất, đời sống, tạo cơ sở vật chất, kỹ thuật cho đấtnước Việc mua công trái thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện Nhà nước đảmbảo giá trị công trái và bảo hộ quyền sở hữu, các quyền và lợi ích hợp phápkhác của người sở hữu công trái
Trang 29về cấu trúc thời hạn của TPCP phải đảm bảo thời hạn dài, tỷ trọng các
sản phẩm TPCP có kỳ hạn từ 10 năm đến 15 năm và kỳ hạn 30 năm chiếm tỷtrọng lớn Lý do kỳ hạn của TPCP phải dài xuất phát từ vai trò và nhiệm vụphân cấp của thị trường TPCP Vai trò của thị trường TPCP giúp cho Chínhphủ huy động các nguồn vốn phục vụ cho nhu cầu đầu tư phát triển dài hạntrong từng thời kỳ của chính quyền TW và chính quyền địa phương, do đónhu cầu dài hạn phải được tài trợ bởi nguồn dài hạn Mặt khác, cấu trúc thờihạn dài cho TPCP được thể hiện trong mối quan hệ với thị trường chứngkhoán, thị trường tiền tệ, cụ thể, thị trường chứng khoán tạo nguồn dài hạncho các doanh nghiêp, các NHTM tạo nguồn vốn ngắn hạn cho nền kinh tế,còn thị trường TPCP tạo nguồn dài hạn cho Chính phủ
về cơ sở hạ tầngýhị trường TPCP phải được đồng bộ, hiện đại đáp ứng
yêu cầu của nhà đầu tư, thúc đẩy quá trình đăng ký, lưu ký, giao dịch và niêmyết trái phiếu trên thị trường thứ cấp nhằm tăng tính thanh khoản của tráiphiếu, từ đó thúc đẩy thị trường sơ cấp phát triển
1.2.1.3. Quy mô thị trường
Thị trường TPCP có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, sự tồn tạicủa thị trường TPCP là tất yếu, khách quan Tuy nhiên, nếu thị trường TPCPphát triển mạnh quá, Chính phủ vay quá nhiều làm tăng mặt bằng lãi suất, dẫntới hiện tượng thoái lui đầu tư, ngược lại nếu thị trường TPCP không pháttriển sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của chính sách tiền tệ, các NHTM thực hiênvay NHTW, NHTW vừa đảm nhiệm chức năng của NHTW trong việc quản
lý lưu thông tiền tệ, vừa làm chức năng NHTM trong việc cấp vốn cho nềnkinh tế, cung tiền trong lưu thông tăng lên gây ra lạm phát Như vậy, quy môcủa thị trường TPCP hợp lý, phù hợp trong từng thời kỳ sẽ đảm bảo cho thịtrường TPCP phát triển bền vững Khối lượng TPCP huy động phải nằmtrong giới hạn nợ cho phép,phải xác định rõ tỷ lệ vay cho phù hợp với khả
Trang 30năng của nền kinh tế, trong đó số dư nợ nước ngoài không được vượt quá50% GDP và không cao hơn 150% kim ngạch xuất khẩu Chính phủ có tínhtoán và dự báo nhu cầu vay nợ và thanh toán cho kế hoạch huy động của cácnăm tiếp theo, qua đó đa dạng hoá cơ cấu kỳ hạn của TPCP.
Ngoài ra, quy mô của thị trường phải được phát triển cân đối giữa thịtrường sơ cấp và thị trường thứ cấp, giữa thị trường tập trung và thị trườngphi tập trung
1.2.1.4. Kết hợp bảo hiểm rủi ro đầu tư trái phiếu
Tất cả các khoản đầu tư đều mang lại một mức độ rủi ro, trái phiếukhông phải là ngoại lệ Mức độ rủi ro cao hay thấp của trái phiếu phụ thuộcvào tính chất, đặc thù của từng loại trái phiếu Đầu tư vào trái phiếu chịu rủi
ro khi nền kinh tế có những biến động tiêu cực như tỷ lệ lạm phát, lãi suất thịtrường cao, kinh tế khủng khoảng hoặc rủi ro thanh khoản khi việc chuyển đoitrái phiếu ra tiền mặt sẽ gặp nhiều khó khăn
Một thị trường TPCP hoạt động hiệu quả nhất thiết phải kết hợp bảohiểm rủi bởi thực chất phát hành trái phiếu là một dạng đi vay, người đi vay
có thể mất khả năng chi trả và như vậy người mua trái phiếu sẽ gặp rủi ro mấtvốn Do đó, nhu cầu của nhà đầu tư trái phiếu kết hợp bảo hiểm rủi ro là tấtyếu Một mô hình thị trường TPCP có kết hợp bảo hiểm rủi ro sẽ tăng tínhhấp dẫn của thị trường, thu hút được nguồn vốn đầu tư từ dài hạn các cá nhân
và tổ chức nước ngoài, thúc đẩy nền kinh tế phát triển
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường trái phiếu Chính phủ
1.2.2.1. Các nhân tố vĩ mô
Một là, nhân tố về sự On định chính trị và tăng trưởng kinh tế Đây là
nhân tố quan trọng nhất, quyết định tới sự phát triển của thị trường tài chínhnói chung và thị trường trái phiếu nói riêng của bất kỳ quốc gia nào Cùng với
Trang 31sự ổn định về chính trị, ổn định môi trường môi trường kinh tế vĩ mô là yếu tốquan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia Các chỉ tiêu: tốc độ tăngtrưởng GDP, chỉ số lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ giá hối đoái mang yếu tốquyết định khi tiến hành hoạch định chiến lược phát triển hệ thống tài chínhtrong đó có thị trường trái phiếu Chính phủ Một quốc gia có sự ổn định vềchính trị và tăng trưởng kinh tế sẽ làm cho đời sống, thu nhập của toàn xã hộiđược nâng cao, phần tích lũy ngày càng lớn, nhu cầu đầu tư cao, mặt khác sẽtạo tâm lý tốt cho nhà đầu tư khi đầu tư vào các trái phiếu Chính phủ trung,dài hạn góp phần thúc đấy thị trường phát hành và thị trường giao dịch TPCPphát triển Ngược lại, nếu một quốc gia có sự bất ổn về chính trị và kinh tế sẽkéo theo đời sống của người dân gặp khó khăn, điều này đồng nghĩa với việcChính phủ sẽ không huy động được vốn và thị trường TPCP sẽ không pháttriển được Như vậy, sự ổn định về chính trị và kinh tế là một yếu tố quantrọng cho sự phát triển của thị trường TPCP.
Hai là,nhân tố pháp lý: để thị trường TPCP có thể hoạt động và phát triển
được thì phải có hệ thống quy định về pháp luật đối với chính sách phát triển kinh
tế theo từng giai đoạn cụ thể Hoạt động thị trường hiệu quả khi có khung pháp lýđầy đủ, đồng bộ, thống nhất và sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan quản lý,
tổ chức phát hành, cơ quan vận hành Nhân tố pháp lý có thể kích thích thị trườngTPCP phát triển khi có những chính sách ưu đãi, bảo vệ tốt nhà đầu tư, ngược lạicũng có thể kìm hãm sự phát triển của thị trường nếu hệ thống pháp lý khôngđồng bộ, không khuyến khích các đối tượng tham gia thị trường
Ba là,nhân tố thuộc về mô hình tổ chức thị trường Mô hình tổ chức thị
trường TPCP có tác động rất quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động củacác nhà đầu tư tham gia vào thị trường, tạo cho thị trường TPCP luôn sôiđộng và hiệu quả Mô hình tổ chức thị trường TPCP nếu được xác lập phùhợp sẽ thúc đẩy sự phát triển của thị trường, đồng thời, tạo điều kiện cho cơ
Trang 32quan quản lý nhà nước và các tổ chức tự quản thực hiện tốt chức năng quản
lý, giám sát thị trường TPCP Ngược lại, nếu mô hình to chức thị trườngTPCP không được xác lập phù hợp sẽ kìm hãm sự phát triển của thị trường,làm cho thị trường hoạt động kém hiệu quả, không sôi động
Ngoài ba yếu tố cơ bản tác động trực tiếp đến thị trường TPCP, còn cácnhân tố vĩ mô khác như tỷ giá hối đoái tác động đến nguồn vốn nước ngoài,lạm phát sẽ làm thay đổi hành vi tiêu dùng, tiết kiệm của dân cư và lãi suấtbiến động ngược chiều với giá trái phiếu
1.2.2.2. Các nhân tố vi mô
Một là, các tổ chức tài chính trung gian bao gồm tổ chức bảo lãnh, đại lý
phát hành, tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm, đại lý phân phối trái phiếu, tổ chứcmôi giới, hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán Với sự tham gia của cáctrung gian tài chính đã tạo động lực cho thị trường TPCP phát triển mạnh mẽ
Hai là, nhân tố về công chúng đầu tư Để thị trường TPCP hoạt động
một cách hiệu quả, cần có những chính sách tạo dựng được lòng tin của cácnhà đầu tư, có như vậy mới khơi thông mọi nguồn lực trong xã hội Để duy trìlòng tin của các nhà đầu tư thì các trái phiếu Chính phủ được phát hành phảiđảm bảo chất lượng và cần được Chính phủ thực hiện một cách nghiêm chỉnhcác cam kết đối với nhà đầu tư Ngoài yếu tố từ bản thân nhà phát hành, các tổchức tài chính trung gian cũng có ý nghĩa quan trọng tác động đến quyết địnhcủa nhà đầu tư khi tham gia thị trường TPCP
1.3 KINH NGHIệM QUỐC Tế về PHÁT TRIeN THị TRƯỜNG TRÁI PHIeU CHÍNH PHủ
1.3.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản
1.3.1.1. Thị trường sơ cấp
về phát hành trái phiếu Chính phủ: Bộ Tài chính Nhật Bản chịu trách
nhiệm phát hành TPCP nhưng uỷ nhiệm cho ngân hàng Nhật Bản thực hiện
Trang 33các thủ tục hành chính liên quan đến phát hành, việc tập trung các công việchành chính đã đơn giản hoá quy trình thủ tục Ngân hàng Nhật Bản cũng là cơquan lưu ký và thanh toán cuối cùng đối với TPCP, điều này có nghĩa là cácnhà đầu tư có thể mua và bán trái phiếu tại SGDCK hoặc thông qua các giaodịch phi tập trung với các công ty chứng khoán và việc thanh toán có thể thựchiện tại ngân hàng Nhật Bản cho cả hai trường hợp.
Trái phiếu Chính phủ dài hạn được phát hành nhằm mục đích bù đắpthâm hụt ngân sách hoặc để đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng Tuy nhiên,không có sự khác biệt trong các đợt phát hành cho dù phục vụ mục đích tàitrợ thâm hụt hay tài trợ cho cơ sở hạ tầng, các nhà đầu tư có thể tự xét đoándựa trên kỳ hạn và danh mục đầu tư của mình Hệ thống “phát hành lại” bắtđầu áp dụng từ năm 2000, nó cho phép một đợt phát hành có thể được bántrong nhiều lần khác nhau, để có thể tăng khối lượng phát hành và tính thanhkhoản của TPCP Để việc phát hành được thuận lợi Chính phủ Nhật Bản đãphát hành các loại TPCP nhằm đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư có to chức và
cá nhân như TPCP cho các nhà đầu tư đơn lẻ, tín phiếu với lãi suất thả nổi,trái phiếu theo chỉ số lạm phát TPCP có nhiều loại kỳ hạn khác nhau, nhưng
kỳ hạn dài nhất là 30 năm, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác địnhđường cong lãi suất cho thị trường
về kỳ hạn của trái phiếu Chính phủ: TPCP Nhật Bản phát hành chủ yếu
tập trung vào các loại trái phiếu dài hạn và siêu dài hạn 15 năm, 20 năm và 30năm và giảm loại trái phiếu ngắn hạn; tuy nhiên, xuất phát từ đặc điểm nềnkinh tế và mức độ phát triển của thị trường tài chính ở Nhật, bên cạnh việcphát hành TPCP với kỳ hạn trung và dài hạn, Chính phủ vẫn phát hành tínphiếu với mục đích đảm bảo hàng hoá cho thị trường tiền tệ hoạt động và đểthực hiện chính sách tiền tệ; việc duy trì và đa dạng hoá các loại kỳ hạn TPCPgóp phần tạo lập đường cong lãi suất chuẩn để các công cụ nợ khác trên thị
Trang 34trường tham chiếu, tạo ra nhiều sự lựa chọn cho các nhà đầu tư TPCP đượcphát hành bằng đồng Yên của Nhật Bản và bằng USD Mặ dù tỷ lệ vay/GDPcủa Nhật cao nhưng hơn 95% khối lượng TPCP Nhật đã phát hành do các nhàđầu tư trong nước nắm giữ do đó, thị trường TPCP Nhật phát triển rất ổn định
và hoạt động có hiệu quả nhất trên thế giới Lãi suất TPCP khá ổn định vàthấp hơn so với lãi suất cùng kỳ hạn của các loại hình tín dụng khác trên thịtrường, ví dụ đối với loại TPCP kỳ hạn 10 năm, từ năm 1997 đến nay mức lãisuất chỉ dưới 2%/năm Các loại TPCP dài hạn phát hành nhằm mục đích bùđắp thiếu hụt NSNN hoặc đầu tư phát triển kinh tế - xã hội Ớ Nhật, bên cạnhviệc phát hành Tín phiếu Kho bạc, còn có các loại kỳ phiếu kho bạc cócoupon, kỳ phiếu kho bạc chiết khấu và trái phiếu dài hạn
về phương thức phát hành: Tại Nhật TPCP được phát hành theo hai
phương thức cơ bản đó là: Đấu thầu và bảo lãnh phát hành Đấu thầu TPCPđược ủy thác cho ngân hàng Nhật Bản Tổ hợp bảo lãnh trái phiếu bao gồmcác ngân hàng, các tổ chức tín dụng và tiết kiệm, các công ty tài chính và cácđịnh chế tài chính nước ngoài
về hệ thống đại lý cấp I: Hiện tại, Nhật bản đã thiết lập hệ thống đại lý
phân phối sơ cấp gồm 25 PDs đóng vai trò nhà tạo lập thị trường, trong đóhơn một nửa PDs là các tổ chức nước ngoài bao gồm một số ngân hàngthương mại, công ty chứng khoán uy tín có nhiệm vụ tham gia đấu thầu tráiphiếu Chính phủ Nhờ có hệ thống PDs mà Chính phủ tiết kiệm được các chiphi phí và cung cấp các loại trái phiếu phù hợp cho các nhà đầu tư Để có đủđiều kiện và trở thành một PDs phải được sự chấp thuận của Bộ tài chính vàdựa trên thành tích của các công ty chứng khoán, một trong những điều kiện
để trở thành PDs là phải mua ít nhất 1/3 khối lượng phát hành của một lô tráiphiếu; liên tục trong 02 tháng Bộ Tài chính sẽ căn cứ vào kết quả của các đại
lý để công nhận mới các PDs hoặc đình chỉ quyền làm PDs
Trang 35Chính phủ Nhật bản thực hiện việc công khai hoá lịch phát hành, đốithoại với thị trường thông qua hệ thống các nhà kinh doanh sơ cấp Nhà kinhdoanh sơ cấp là các công ty chứng khoán, tham gia vào việc đấu thầu TPCP
và chịu trách nhiệm duy trì tính thanh khoản trên thị trường
1.3.1.2. Thị trường thứ cấp
Hiện nay, có khoảng 250 loại TPCP được giao dịch trên các sàn GDCK
ở Nhật; sàn Tokyo chỉ thực hiện các giao dịch tương lai với mục đích nângcao tính thanh khoản của TPCP
Thị trường OTC: Hầu hết các giao dịch được tiến hành thông qua thị
trường OTC và chỉ có một số các giao dịch quy mô nhỏ của cá nhân là đượctiến hành tại SGDCK, xuất phát từ các lý do hầu hết các nhà đầu tư TPCP làcác nhà đầu tư lớn, các giao dịch của họ thường với khối lượng là hàng trăm
tỷ yên Để có thể tiến hành các giao dịch với khối lượng lớn như vậy, cáccông ty chứng khoán có chức năng như to chức tài chính trung gian phải hỗtrợ các đối tác như vai trò của nhà tạo lập thị trường, trong khi đó các giaodịch tại SGDCK chủ yếu là có quy mô nhỏ và không thể thực hiện các giaodịch có quy mô lớn Mặt khác, đối với các giao dịch có quy mô lớn nếu thựchiện giao dịch tại SGDCK sẽ bị cả thị trường biết đến và có tác động tiêu cựcđến thị trường, đây cũng chính là lý do các nhà đầu tư lựa chọn các giao dịchtrên OTC thay vì thực hiện tại SGDCK đối với giao dịch trái phiếu
Các giao dịch chủ yếu được thực hiện qua OTC, bởi lẽ một công ty có thểphát hành nhiều loại trái phiếu khác nhau và việc mua, bán được thực hiện thôngqua các tổ chức tài chính, ngân hàng Trong giao dịch nói chung, vai trò của cácPDs là rất quan trọng, nó giúp các đại lý giao dịch trực tiếp với nhà đầu tư
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán ở Nhật hiện có 21 thành viênchính thức và 300 nhân viên Hiệp hội có 02 chức năng chính là bảo vệ quyềnlợi của các nhà đầu tư tham gia thị trường trái phiếu và thực hiện chức năng
Trang 36kiểm tra, giám sát các hoạt động trên thị trường trái phiếu Hàng ngày, cácthành viên phải báo cáo trước 15 giờ và đến 18 giờ 30 phút cùng ngày, Hiệphội sẽ công bố công khai các thông tin liên quan đến thị trường như giá tráiphiếu, khối lượng giao dị ch đến các nhà kinh doanh trái phiếu và nhà đầu tư,qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch thông tin trên thị trường.
Một điểm đáng chú ý là Nhật Bản loại bỏ thuế giao dịch chứng khoán đốivới giao dịch TPCP Áp dụng hệ thống thuế đối với các nhà đầu tư không phải làđối tượng cư trú, các khoản đầu tư của họ được miễn thuế thu nhập khấu trừ tạinguồn khi sử dụng hệ thống lưu ký tập trung, chính vì vậy dư nợ và giao dịchTPCP đã tăng lên tạo điều kiện và kích thích thị trường TPCP phát triển
Thị trường Repo: Giao dịch Repo “thoả thuận mua lại” có sử dụng trái
phiếu làm tài sản thế chấp; là một giao dịch để kinh doanh hoặc huy động vốnbằng cách bán hoặc mua trái phiếu với điều kiện sẽ phải mua hoặc bán lại tráiphiếu sau một thời gian cố định Đi vay và cho vay chứng khoán được thựchiện rộng rãi bởi các nhà kinh doanh chứng khoán trong các công ty chứngkhoán và giao dịch Repo là một phương pháp giao dịch quan trọng, chiếmmột tỷ trọng lớn trong bảng cân đối kế toán của các công ty chứng khoán tạiNhật.Các giao dịch Repo có vai trò: Huy động vốn bằng trái phiếu do cáccông ty chứng khoán nắm giữ; tạo điều kiện cho các công ty chứng khoán bánkhống (vay trước chứng khoán); tránh rủi ro khi phát hành; điều chỉnh tìnhhình tài chính của NHTW,
Thông tin giá trái phiếu và thiết lập đường cong lãi suất: Tại Nhật giá
của trái phiếu được cập nhật liên tục thông qua các kênh dịch vụ thông tin củaBloomberg, Reuter và các nhà môi giới những người làm trung gian cho cácgiao dịch trái phiếu, tạo lập thị trường và thành viên của hiệp hội chứngkhoán Ngoài ra, Hiệp hội chứng khoán còn thu thập các thông tin về giá tráiphiếu từ các công ty thành viên hàng ngày và cung cấp rộng rãi ra công chúng
Trang 37thông qua Website của hiệp hội.
về hệ thống tạo lập thị trường: Có hai loại hình trung gian giao dịch trái
phiếu Một là nhà môi giới, người chuyển lệnh của một khách hàng tới mộtSGDCK hoặc một bên thứ ba và đứng ra làm trung gian cho giao dịch đó.Loại hình thứ hai là nhà tạo lập thị trường sẽ đáp ứng các lệnh bán hoặc mua
từ các bên và tự gánh chịu rủi ro đó
Các nhà tạo lập thị trường đóng vai trò rất quan trọng trong quá trìnhphát triển thị trường thứ cấp; các nhà tạo lập thị trường thường là các định chếtài chính, họ có thể cung cấp giá bán, giá mua và sẵn sàng mua, bán ở mức giá
đó khi các nhà đầu tư cần mua, bán loại trái phiếu đó Khi khách hàng muốnmua hoặc bán trái phiếu trên thị trường, nhà tạo lập thị trường có 3 khả nănglựa chọn sau: Thứ nhất, tìm kiếm một khách hàng sẵn sàng đáp ứng nhu cầuđó; thứ hai, mua hoặc bán trái phiếu nhưng để tránh rủi ro bằng cách mua,bán giao dịch v ới một nhà tạo lập thị trường khác; thứ ba, tiến hành giao dịch
đó và giữ lại số trái phiếu làm tài sản của mình và thực hiện nghiệp vụ nắmgiữ trái phiếu, gánh chịu rủi ro thông qua các phương thức khác nhau như mộtgiao dịch Repo
về hoạt động lưu ký: Thực hiện cả việc lưu ký các loại chứng khoán phát
hành trong và ngoài nước; hoạt động lưu ký được mở rộng quy mô và cónhững thay đoi quan trọng từ ngày 10/ 01/2006 mục đích của việc cải cách lànhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của thị trường Nhật với thị trường bênngoài Trung tâm Lưu ký Chứng khoán có nhiệm vụ đảm bảo quyền lợi chocác nhà đầu tư, đảm bảo việc thanh toán được chính xác, kịp thời Hiện tại,mỗi loại chứng khoán có các quy định và hệ thống thanh toán khác nhau Các
tổ chức đăng ký lưu ký được cấp mã hiệu riêng, hệ thống ghi sổ có liên quanđến việc quản lý số dư cho phép việc lưu ký và thanh toán dựa trên cán cânthanh toán, thao tác này đơn giản vì dựa trên mã chứng khoán
Trang 38Hiện tại việc lưu ký, thanh toán trái phiếu do JASDEC đảm nhiệm, riêngtrái phiếu Chính phủ do NHTW quản lý, ngày thanh toán là T+3; các thànhviên của JASDEC mở tài khoản tiền gửi tại NHTW và mở tài khoản chứngkhoán tại JASDEC qua đó tạo điệu kiện cho việc theo dõi và thông báo choNHTW biết để thanh toán.
1.3.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
1.3.2.1. Thị trường sơ cấp
Sự phát triển của thị trường TPCP Hàn Quốc sau cuộc khủng khoảng tàichính của nước này là một ví dụ điển hình cho các nước ChâuÁ nghiên cứu trongquá trình xây dựng và phát triển thị trường TPCP của mình Trước cuộc khủngkhoảng năm 1997, Hàn Quốc chưa có thị trường TPCP do thiếu nguồn cung tráiphiếu vì Chính phủ Hàn Quốc vẫn duy trì chính sách tài chính bảo thủ Sau năm
1997, thị trường này đã có những bước phát triển vượt bậc, cụ thể:
về loại TPCP: Hiện nay, trên thị trường TPCP của Hàn Quốc gồm có
TPCP thông thường và trái phiếu đặc biệt TPCP bao gồm trái phiếu bình ổn
tỷ giá hối đoái (FXSBs-Foreign Exchange Stabilization Fund Bond), tráiphiếu kho bạc (KTBs - Korea Treasury Bond) và trái phiếu an ninh lươngthực (FESBs) và nhà ở quốc gia (NHBs -National Housing Bond) đây là loạitrái phiếu bán cho những người mua nhà trả góp ở Hàn Quốc; lớn nhất làKTBs, huy động để hỗ trợ các hoạt động tài chính của Chính phủ và là loạitrái phiếu được giao dịch nhiều nhất Trái phiếu đặc biệt, giống như trái phiếutài chính, do cơ quan Nhà nước phát hành và được Chính phủ bảo lãnh, baogồm: Trái phiếu tài chính công nghiệp, trái phiếu do công ty Bảo hiểm Tiềngửi Hàn Quốc và công ty Quản lý Tài sản Hàn Quốc phát hành để tài trợ việctái vốn hoá của các ngân hàng được tái thiết do Chính phủ sở hữu Ngoài ra,ngân hàng Hàn Quốc còn phát hành trái phiếu bình ổn tiền tệ (MSB) để quản
lý tính thanh khoản, song những trái phiếu này không được tính là một phần
Trang 39nợ của quốc gia
KTBs được phát hành theo 4 loại kỳ hạn khác nhau: 3 năm, 5năm, 10năm và 20 năm Cho tới nay, lợi suất của KTBs thời hạn 3 năm đã được xemnhư là lợi suất chuẩn của thị trường Tuy nhiên, cùng với việc phát hành mớiKTBs 20 năm vào năm nay và trong thời gian tới có thể KTBs 5 năm sẽ trởthành loại trái phiếu chuẩn thay thế loại 3 năm Thiết lập KTBs làm trái phiếuchuẩn, việc cải cách hạ tầng theo hướng: Áp dụng hệ thống đấu giá Hà Lanthay cho bảo lãnh bắt buộc trên thị trường sơ cấp; một hệ thống giao dịch sơcấp; một hệ thống thanh toán và bù trừ DVP (Delivery Vesus Payment- Giaohàng khi chi trả) Cải cách đã làm tăng tính thanh khoản của TPCP và quy môthị trường, khối lượng KTBs đã tăng 11 lần từ năm 1998-2012 và gấp 16 lần
so với khối lượng trái phiếu công ty Thị trường TPCP Hàn Quốc trở thành thịtrường giao dịch tích cực nhất Châu Á
Phát hành KTBs: KTBs là các chứng khoán nợ của chính phủ Hàn Quốc trả
lãi cố định 2 lần một năm Đối với việc phát hành TPCP, Ngân hàng Hàn Quốcđóng vai trò đại lý của Bộ Tài chính KTBs được đấu thầu thông qua phươngthức đấu giá kiểu Hà Lan một giá với sự tham gia của các PDs.KTBs được pháthành theo lịch đấu thầu được thông báo từ trước, do đó nâng cao tính minh bạch
và khả năng dự đoán trong việc phát hành KTBs Tính minh bạch và khả năng
dự đoán được các chi phí mà Chính phủ phải chịu đối với tính bất định của thịtrường Khả năng dự đoán cũng cho phép các nhà đầu tư lập kế hoạch và đầu tư
có hiệu quả hơn, khi họ đã biết về ngày phát hành, ngày đấu thầu, loại trái phiếu
và thời gian đáo hạn của các trái phiếu được đấu thầu
Hệ thống đại lý cấp I (PDs): Tháng 7/1999, BTC triển khai hệ thống PDs.
Các to chức tài chính như ngân hàng và công ty chứng khoán, được FSC(Financial Supervisory Commission - Uỷ ban Giám quản Tài chính) cấp phépgiao dịch TPCP, đều được phép nộp đơn xin trở thành PDs.Các PDs được hưởng
Trang 40một số đặc quyền, bao gồm: Quyền tham gia đặc biệt vào các đợt đấu thầu TPCPtuy nhiên họ phải có nghĩa vụ như đặt giá 2 chiều mua/bán tại hệ thống giao dịchđiện tử của KRX dành cho TPCP trên cơ sở liên tục Các PDs này phải nộp báocáo về hoạt động thị trường của mình cho Bộ Tài chính định kỳ.
1.3.2.2. Thị trường thứ cấp
Thị trường trái phiếu thứ cấp của Hàn Quốc được chia thành thị trường(Korea Exchange - SGDCK Hàn Quốc) KRX và thị trường OTC, phần lớncác giao dịch trái phiếu được thực hiện trên thị trường OTC (chiếm 97%lượng giao dịch) và do Hội kinh doanh chứng khoán Hàn Quốc (KSDA) vậnhành Thị trường OTC có cả trái phiếu niêm yết và không niêm yết được giaodịch giữa các nhà đầu tư cá nhân và các hãng chứng khoán hoặc giữa các tochức tài chính Giao dịch qua OTC không cố định đơn vị yết giá và giaodịch;giao dịch thông qua môi giới: Chức năng của các nhà kinh doanh tráiphiếu tương đối mờ nhạt; thoả thuận qua điện thoại và tin nhắn qua Internet
KRX (Korea Exchange - SGDCK Hàn Quốc) niêm yết 8.400 loại TPCP,trái phiếu chính quyền địa phương và trái phiếu công ty, giá trị giao dịch tráiphiếu hàng năm vào khoảng 365 nghìn tỷ Won Mặc dù, hiện tại thị trườngtrái phiếu KRX chiếm khoảng 20% khối lượng giao dịch tại Hàn Quốc, nhưng
xu hướng gần đây cho thấy rằng giao dịch trái phiếu tại thị trường KRX đangtăng lên KRX cung cấp 4 nền giao dịch khác nhau cho trái phiếu, phụ thuộcvào loại trái phiếu, KRX cũng vận hành thị trường Repo Như vậy, nhà đầu tư
có thể tận dụng toàn bộ các dịch vụ của thị trường trái phiếu KRX, cho phép
họ thực hiện phòng ngừa rủi ro thuận tiện thông qua các thị trường trái phiếucủa KRX
Giao dịch trái phiếu Chính phủ qua Sở Giao dịch chứng khoán: - KTS (Hệ thống giao dịch điện tử đối với trái phiếu Chính phủ): Thị trường bán
buôn KTBs trên hệ thống điện tử; chỉ có các nhà kinh doanh TPCP mới được