Vậy muốn duy trì được bản sắc riêng của dân tộc mình thì các nước phải có những biện pháp chiến lược để bảo vệ bản sắc dân tộc của riêng mình, phải sử dụng nhiều loại hình, công cụ thích
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thế kỷ 21 dân tộc và văn hoá ngày càng trở thành 2 vấn đề vừachiến lược vừa thời sự trên phạm vi toàn thế giới cũng như trong mỗi người.Ngày nay, do sự phát triển của khoa học kỹ thuật thế giới ngày càng gần lại vànhỏ bé hơn Nhận thức được sâu sắc vấn đề trên nên hầu trong xây dựng vàphát triển kinh tế xã hội các ngành quản lý văn hoá,các nhà lãnh đạo, đội ngũcác nhà khoa học xã hội nhân văn ngày càng ý thức được rõ nét hơn vai trò củabản sắc văn hoá dân tộc trong phát triển chung của thời đại
Vậy muốn duy trì được bản sắc riêng của dân tộc mình thì các nước phải
có những biện pháp chiến lược để bảo vệ bản sắc dân tộc của riêng mình, phải
sử dụng nhiều loại hình, công cụ thích hợp để tuyên truyền quảng bá và giáodục làm cho các tầng lớp dân cư trong và ngoài nước hiểu và biết trân trọngbản sắc văn hoá của đất nước Việt Nam.Trong bối cảnh đó Bảo tàng với tưcách là một loại hình thiết chế văn hoá đặc thù đã trở thành một trong nhữngcông cụ hữu hiệu để thể hiện mục tiêu nói trên
Giống như nhiều điểm du lịch thú vị của Việt Nam, Bảo tàng DTH ngàycàng thu hút đông đảo khách du lịch đến thăm quan và nghiên cứu Sự gia tăng
về số lượng khách giúp cho doanh thu của Bảo tàng ngày một tăng Do đó đòihỏi về chất lương phục vụ khách tham quan của Bảo tàng Dân tộc học ViệtNam ngày một tốt hơn
Vì vậy, vấn đề chất lượng phục vụ khách tham quan ra sao, phải làm thếnào để có những điều kiện tốt nhất đáp ứng được những yêu cầu của du khách,
đó là những công việc cần có sự nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo đòi hỏi đội ngũcán bộ nhân viên bảo tàng nói chung và cán bộ các ngôi nhà tại khu trưng bàyngoài trời nói riêng cần quan tâm và tìm hiểu
Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn bằng những kiến thức cơ bản vềchuyên ngành quản lý văn hoá đã được trang bị từ nhà trường, bước đầu nghiên
Trang 2cứu qua những công việc thực tế tại khu trưng bày ngoài trời của Bảo tàng Dân
tộc học Việt Nam.Tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: "Sự thu hút khách tham quan tại ngôi nhà Dao Họ - Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam".
2 Đối tượng nghiên cứu
Ngôi nhà của người Dao họ trong việc thu hút thăm quan tại BTNT củaBảo tàng dân tộc học Việt Nam
3 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu về vấn đề thu hút khách tham quan tại ngôi nhà Dao họ - Bảotàng Dân tộc học Việt Nam để thấy được thực trạng của vấn đề này tại BTngoài trời của Bảo tàng, để từ đó thấy được tình hình khách thăm quan và cónhững biện pháp nhằm tăng thêm nữa số lượng du khách cũng như nâng caochất lượng phục vụ khách tham quan
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp như so sánh
- Phân tích tổng hợp thống kê tài liệu
- Phương pháp nghiên cứu khảo sát và phỏng vấn lấy ý kiến của kháchtham quan…
5 Đóng góp của đề tài
Nội dung trình bày trong đề tài nhằm cung cấp những thông tin về Bảotàng những thông tin về sự thu hút khách liên quan đến ngôi nhà của ngườiDao họ để từ đó thấy được tình hình khách thăm quan cũng như những đòi hỏiđặt ra đối với ngôi nhà trong việc thu hút khách
6 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài chia làm 3 chương
Chương I Giới thiệu chung về Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
Chương II Sự thu hút khách thăm quan tại ngôi nhà Dao họ - Bảo tàngngoài trời, Bảo tàng DTHVN
Chương III Hiện trạng và giải pháp cho ngôi nhà Dao họ - BTDTHVN
Trang 3Chương I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BẢO TÀNG
DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM 1.1 Vài nét về BTDTHVN
Nước ta có 54 dân tộc và hiện nay việc tổ chức nghiên cứu bảo vệ di sảnvăn hoá của từng dân tộc là nhiệm vụ quan trọng của nhiều ngành khoa học.Nghiên cứu, bảo vệ các di sản ấy không chỉ mang ý nghĩa kế thừa những tinhhoá văn hoá, phát huy sức mạnh của nó nhằm phục vụ cho sự phát triển đấtnước, củng cố tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc và giới thiệu bản sắc văn hoácủa Việt Nam trong nền văn hoá chung của nhân loại
54 dân tộc là 54 nền văn hóa riêng biệt Cái vốn quý giá ấy tạo cho dântộc Việt Nam một sắc thái riêng, đó là niềm tự hào và cũng là cơ sở để chốnglại nguy cơ đồng hoá văn hoá, bởi "Sự đồng hoá dân tộc bằng văn hoá là sựtiếp nối chế độ diệt chủng"…
Để giúp cho mọi người hiểu được những nét văn hoá độc đáo tiêu biểucủa các dân tộc trên đất nước ta bằng các hiện vật và hình ảnh sinh động, đểmọi người có thể đến thăm quan tìm hiểu được thì không một nơi nào hơn Bảotàng
Với những vấn đề trên Nhà nước đã cho xây dựng một bảo tàng về cácdân tộc ở Việt Nam và công văn số 1386/V4 ngày 20/4/1981 của hội đồng Bộtrưởng cho phép tiến hành chuẩn bị đầu tư xây dựng công trình Bảo tạo dân tộchọc Việt Nam Ngày 29/1/1985 Uỷ ban kế hoạch nhà nước ra công văn 78UB/VPTT thảo luận về luận chứng kinh tế kỹ thuật của Bảo tàng Dân tộc học ViệtNam, công văn số 1864 CVUB ngày 13/6/1985 của UBND thành phố Hà Nộithoả thuận đồng ý để viện dân tộc học xây dựng BTDTH tại xã Dịch Vọng,huyện Từ Liêm, Hà Nội, ngày 28/9/1985 công văn số 1298/VH-VP của Bộ vănhoá nêu rõ chủ trương giao cho uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam xây dựngBTDTH Việt Nam
Ngày 14/12/1987 chủ nhiệm uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam ra quyếtđịnh 333/KHXH phê duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật của Bảo tàng Dân tộc
Trang 4học Từ đây việc đầu tư cho công trình thực sự bắt đầu Sau đó Chủ tịch hộiđồng Bộ trưởng ra quyết định số 273/CT ngày 31/7/1990 về việc giao 3,27 ha
để xây dựng BTDTHVN Tuy công trình được xây dựng từ năm 1989, xong dođiều kiện kinh phí có hạn nên tiến độ xây dựng bảo tàng bị chậm
Ngày 24/10/1995 thủ tướng chính phủ ra quyết định số 689 TTTG vềviệc thành lập BTDTHVN trên cơ sở tách Bảo tàng dân tộc học ra khỏi việndân tộc học trực thuộc trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia Bảotàng này sẽ đặt trong hệ thống Bảo tàng quốc gia Việt Nam vào những thángđầu năm 1996 về cơ bản BTDTHVN đã hòan thành cơ sở nghiên cứu hệ thốngkho bảo quản hiện vật, xây xong phòng thô tầng một tại hai khu trưng bàytrong nhà và hội trường
Nhân dịp hội nghị cấp cao các nước nói tiếng Pháp họp tại Hà Nội trongkhông khí tưng bừng của lễ khánh thành ngày 12/11/1997 Bảo tàng dân tộc họcViệt Nam vinh dự được ngài tổng thống cộng hoà Pháp Jacques Rene Chirác
và bà phó chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam Nguyễn Thị Bình cắt bằng khánhthành
* Bảo tàng dân tộc học Việt Nam hoàn thiện với 2 khu vực chính
- Khu trưng bày trong nhà: gồm hệ thống kho hiện vật gồm 2498m2 sửdụng
Mới 10 năm đến nay bảo tàng đã có được khoảng 20.000 hiện vật về vănhoá của tất cả 54 dân tộc ở Việt Nam, lượng tư liệu nghe nhìn tích luỹ đượccũng không rõ, khoảng 90.000 phim âm bản (và ảnh kèm theo) hơn 3000 phimdương bản, gần 4000 băng ghi âm, hơn 1000 phim video và trên 200 đĩa CD-ROM, chưa thấy ở đâu có tư liệu đầy đủ về tất cả các dân tộc ở nước ta nhưBTDTHVN Nguồn hiện vật và tư liệu vừa lớn vừa quý giá này không chỉ là cơ
sở quan trọng để phục vụ cho những hoạt động khác nhau của bảo tàng mà còngóp phần tích cực và thiết thực vào sự nghiệp bảo tồn và phát huy các di sảnvăn hoá của các dân tộc
+ Khu ngoài trời gồm 2,1 ha…
Trang 5Bảo tàng ngoài trời là một phần không thể thiếu được của BTDTHVNmột trong những thế mạnh của loại hình của Bảo tàng này là tạo cho côngchúng những không gian văn hoá tiệm cận với thực tế qua đó làm cho hiện vậttrưng bày có sức hấp dẫn hơn và công chúng cảm thụ sâu sắc hơn về nền vănhoá mà họ đang được tận mắt xem và tìm hiểu…
Phần bảo tàng ngoài trời thực sự bắt đầu năm 1998 với công trình đầutiên là ngôi nhà mồ người Gia Lai, trưng bày ngoài trời có thể có những mụcđích khác nhau với mục đích du lịch người ta thường mô phỏng các kiến trúctruyền thống Với mục tiêu bảo tồn di sản văn hoá, các công trình trưng bàyđược giữ nguyên mẫu Bảo tàng DTHVN đã chọn cách trưng bày này trongphạm vi không gian khá chật hẹp (3,30 ha), khoảng 2ha được dành cho phầntrưng bày ngoài trời để phản ánh sự đa dạng văn hoá của 3 vùng môi trườngsinh thái khác nhau: vùng đồng bằng và ven biển; vùng núi thấp và caonguyên,vùng cao Do hạn chế về không gian và diện tích, Bảo tàng chỉ có thểlựa chọn và giới thiệu một chục công trình kiến trúc của những dân tộc khácnhau ở Việt Nam Đó là nhà sàn (Tày), nhà nửa sàn nửa trệt (Dao), nhà sànthấp (Chăm), nhà trệt (Việt H'Mông), nhà trình trường (Hà Nhì), nhà dài củađại gia đình mẫu hệ (Êđê), nhà công cộng của làng nhà Rông (Bana), nhà mồ(Giarai, Cơtu), các ngôi nhà làm bằng chất liệu khác nhau, như gỗ, tre, nứa,hay đất nện Mái được làm bằng vật liệu khác như lá cọ, cỏ gianh nhưng mỗi tộngười lại có cách lợp riêng gắn với mỗi ngôi nhà có các hiện vật trưng bày,thông tin về ngôi nhà và chủ nhân của nó cũng như về văn hoá mà nó đại diện,tạo cho du khách sự hiểu biết về kiến thức văn hoá tiềm ẩn trong ngôi nhà vàqua từng hiện vật
Bên cạnh những công trình kiến trúc kể trên bảo tàng đã từng bước bổsung một số công trình khác như: xưởng sản xuất (lò rèn - đúc của ngườiH'Mông, lò rèn của người Nùng, người Việt, xưởng gốm của người Việt, cácloại thuyền đại diện cho phương tiện giao thông vận chuyển Công cụ sử dụngsức nước (cối giã gạo), Bên cạnh đó quần thể thực vật và cây bóng mát đượcphát triển ưu tiên giới thiệu những loại cây bản địa gắn liền với môi trường
Trang 6xung quanh ngôi nhà của từng dân tộc, đặc biệt Bảo tàng đang cố gắng xâydựng một vườn cây thuốc nam để truyền bá tri thức bản địa đối với việc sửdụng nguồn dược liệu thực vật.
Ngoài ra còn có thuỷ đình được dựng từ năm 2002 nơi dành cho trênmột chục phường rối nước ở các làng quê đồng bằng Bắc Bộ đến biểu diễn.Khu trưng bày ngoài trời ở BTDTHVN được triển khai dần từng bước trong 8năm qua mỗi năm lại có thêm những công trình mới và những hoạt động mới,khu trưng bày này trở thành một điểm hấp dẫn đặc biệt của bảo tàng DTHVN
1.2 Vài nét khái quát về ngôi nhà người Dao họ tại khu trưng bày ngoài trời - BTDTHVN
* Vài nét về người Dao
Tộc người Dao thuộc hệ ngôn ngữ Hmong – Dao, theo điều tra dân sốnăm 1999 thì tộc người Dao ở Việt Nam có 620538 nnhân khẩu Họ sống rảirác ở 3 vùng khác nhau (vùng cao, vùng giữa, vùng núi thấp) nhưng tập trungđông nhất ở vùng giữa: người Dao họ có mặt ở nhiều tỉnh miền núi (Cao Bằng,Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Lai Châu, YênBái, Lào Cai, Hoà Bình đến một số tỉnh trung du (Phú Thọ, Vĩnh Phúc và cả ởmiền biển (Quảng Ninh)
Ở Việt Nam tộc người Dao bao gồm nhiều nhóm (Dao đỏ, Dao tiền, Daoquần chẹt, Dao quần trắng, Dao thanh y v.v…) Mỗi nhóm Dao có một số sắcthái văn hoá riêng nhất định bên cạnh những nét văn hoá truyền thống chungcủa cộng đồng Dao
Người Dao quan niệm cứ 3 nhà trở lên, cư trú trên cùng
một khu vực nhất định thì có thể gọi là một bản, dân bản thường gồmcác dòng họ khác nhau, mỗi bản có một người đứng đầu, đó là ông trưởng bản
do dân bản bầu chọn
Người Dao có 3 loại hình nhà ở khác nhau: nhà sàn ở vùng thấp, nhà nửasàn nửa đất ở vùng giữa, nhà trệt ở vùng cao
* Kết cấu và vật liệu để làm nhà
Trang 7Đây là ngôi nhà nửa sàn nửa đất của ông Bàn Văn Sấm ngươi Dao họ(thuộc nhóm Dao quần trắng, ở thôn Khe Mụ, xã Sơn Hà, huyện Bảo Thắng,tỉnh Lào Cai Người Dao họ ở vùng này vốn là cư dân có tập quán du canh du
cư và thường dựng nhà trên đất dốc Kiểu nhà nửa sàn nửa đất là hình ảnh vềcách xử lý để tạo mặt bằng cư trú trên địa hình dốc
Nhà người Dao họ đơn giản về cấu trúc cũng như hình thức, khi làm nhàchỉ cần cái rìu, con dao, ngày nay nếu làm nhà có mộng thì họ dùng thêm đục,cưa, bào Người Dao không có thợ làm nhà chuyên nghiệp mà mọi người trongbản đều biết làm
Nhà của người Dao họ thường 3 gian, nhiều thì 5 đến 7 gian có 2 hoặc 4mái và luôn có 2 chái, theo quan niệm của họ nhà có số gian lẻ là của ngườisống có số gian chẵn là dùng để nuôi gia súc, gia cầm
Bộ sườn nhà kết cầu đơn giản, thường thì mỗi vì kèo chỉ có hai hoặc bacột nhưng là cột ngoãm: cột, quá giang và kèo được buộc chặt vào nhau bằngdây rừng Vách nhà dựng bằng phên nứa đan theo kiểu lóng mốt hoặc lóng đôi,
do đó các mảng sáng tối được tạo ra bởi bề mặt những thanh nứa Mái nhàthường được lợp bằng những ống tre, nứa bổ đôi cứ 1 thanh sấp thì 1 thanhngửa úp vào nhau như kiểu lợp ngói âm dương Mái lợp thế có thể dùng được
từ 5 đến 6 năm và theo nếp cũ thì cú 2 lần thay mái (khoảng 10 đến 12 năm) họlại chuyển đi nơi khác ở Việc này phù hợp với khoảng thời gian du canh du cưcủa họ
Tre nứa dùng để làm nhà, nhất là dùng để lợp mái được chọn rất kỹ, tất
cả phải là tre, nứa già, mọc trên núi cao, không bị cụt ngọn, không bị sâu, gõvào nghe tiếng kêu đanh, nhưng lại phải chặt vào những dịp đầu hoặc cuốitháng của những tháng mùa khô, tre gỗ dùng để làm nhà khi vận chuyển phảivác chứ không được kéo
Tập quán khi chuyển nhà đi nơi khác người Dao họ thường mang theo 8cây cột nhà - đó là những cây lõi gỗ thọ có độ bền cao không bị mối mọt, đểdùng làm cột cái và cột dầm sàn cho ngôi nhà mới; nhà người Dao họ thường
Trang 8dựa vào sườn núi, cửa mở ra 2 đầu hối, cửa chính nhìn lên hướng dòng chảycủa suối hoặc khe, cửa phụ hướng về phía đường mòn vào rừng.
* Mặt bằng sinh hoạt của ngôi nhà
Bên trong nhà chia làm 2 phần rõ rệt Phần sàn (chiếm 2/5 diện tích,phần trệt (phần nền đất, chiếm 3/5 diện tích của ngôi nhà) Tại gian đầu tiêncủa ngôi nhà có đặt chiếc khung cửi và đó cũng là nơi để gia đình tiếp đónkhách Người Dao họ vẫn giữ được nghề dệt vải cổ truyền những khi khôngdùng đến họ tháo khung cửi, và cất gọn vào góc nhà Khu vực sàn ở gian đầunhà dành cho vợ chồng, chủ nhà cũng ở gian này họ thường để chiếc nôi của
em bé và để xa quay sợi cạnh đó họ thường cất chiếc chài sau khi dùng đánhbắt cá trở về
Người Dao họ coi trọng thờ cúng tổ tiên Ma tổ trên được thờ riêng ởtừng gia đình tại nhà tộc trưởng, Bàn thờ đặt ở nền đất bao giờ cũng sát váchcủa gian giữa đó là nơi tôn nghiêm nhất trong nhà
Bếp là nơi đun nấu và để sưởi hàng ngày, người ta dựng 3 hòn đá để kênồi xoong Trên bếp là sàn (gác) bếp, dùng làm chỗ để lương thực thực phẩm
có tác dụng hong sấy và giữ khô vừa tránh sâu mọt Trên sàn giáp với váchthường để những chiếc hòm đựng quần áo, tư trang của từng thành viên tronggia đình Sàn còn là nơi để mời cơm khách quý trong dịp tổ chức lễ cũng chay
lễ cấp sắc… phần sàn cũng là chỗ nghỉ của nhiều thành phần trong gia đình
Còn ở góc gian cuối nhà có chạn bát dùng để cất bát đũa thực phẩm, và
có những con dao treo cạnh tường dùng để đi rừng Những chiếc giỏ, chiếc vợt
là dụng cụ để đánh bắt cá, cũng ở gần đó có một chiếc chõ đồ xôi được làm từmột thân cây gỗ khoét rỗng Dưới chân chạn thường để vài chiếc ống tre lấynước ngoài suối, dùng người ta buộc dây để cầm sách cho rễ
Phần sàn ở cuối thường quây lại thành buồng, đây là buồng cô dâu Vợchồng mới cưới chỉ ngủ trong này 3 tối đầu trên sau đó chuyển ra ngoài nhưmọi thành viên khác trong gia đình, nếu nhà đông người thì vợ chồng mới ngủhẳn trong buồng Buồng này cũng là nơi thay quần áo của mọi người trong giađình Và cũng chính ở cạnh buồng này có đặt một chiếc cối làm bằng một khúc
Trang 9gỗ khoét hình lòng thuyền chày cũng làm từ một đoàn gỗ dùng để giã nhữngcụm lúa cối để ở đây tiện cho việc dậy sớm của con dâu, con gái chuẩn bị bữasáng cho cả nhà, cũng ở đây còn có một số dụng cụ như cuốc, thuổng dùng đểnồi nấu rượu, rượu của người Dao họ nhẹ, 30 đến 350, hương thơm và đậm,rượu dùng cho nhu cầu hàng ngày đồng thời dùng cho các ghi lễ cúng theophong tục Ngoài ra người Dao họ có tục lệ làm kho lúa ở cạnh nhà ho làmtheo kiểu nhà sàn có 1 cửa nhỏ đủ cho 1 người chui vào, sàn, vách mái kho đềulàm từ nứa cây đập dập đan vào nhau.
* Tín ngưỡng liên quan đến nhà ở
- Người Dao họ quan niệm ngôi nhà không chỉ là nơi trú ngụ của ngườisống mà còn là nơi đi về của những linh hồn người chết hay các vị thần linhnhư thần đất, thần núi, các vị thánh trong tín ngưỡng mang màu sắc đạo giáonhư tam thanh, tam nguyên vì thế khi dùng nhà mới thường có các nghi lễ cầuxin thần linh, việc quan trọng đầu tiên là chọn đất và mời thầy cúng xem bói tạichỗ Thấy đốt 3 nén nhang cắm, 1 cây nứa xuống đất và cũng thổ công, ôngtam đại của gia chủ,nếu đêm đó trong bản không có ai sinh đẻ, trong rừngkhông có tiếng hoẵng kêu hoặc không ai nhìn thấy con dúi đào đất thì mảnh đất
đó ở được Thêm nữa, ông thầy làm nhẵn một chỗ, cắm vào đó một cây cọ nhỏ,rắc gạo thành vòng tròn xung quanh rồi lấy ống nứa chụp lại và lấy đất sét bịtkín các khe hở, sáng hôm sau mở ống ra, nếu các hạt gạo vẫn còn nguyên vẹn
đó là nơi đất tốt, có thể làm nhà
Người Dao họ không làm nhà vào tháng 3, tháng 9 Riêng tháng 9 kiêng
cả việc làm chuồng lợn, chuồng gà, cối nước Trong 2 tháng này thậm chí nhàđang ở bị tốc mái hoặc đổ người ta cũng chỉ che tạm để ở, không dám dựngnhà mới Họ tin rằng nếu bất chấp điều kiêng cữ đó, những người sống trongnhà sẽ bị ốm đau bệnh tật còn gia súc gia cầm chậm lớn và hay bị chế dịch
Dựng sàn xong đêm ấy nếu ông chủ trông nhà mơ thấy điều không lànhthì phải tìm chỗ khác để làm nhà "mơ thấy gặp hoẵng kêu hay gặp rắn trongrừng thì người ta cho rằng chỗ đất định ở không lành, sau này ở đó sẽ khôngyên (Bàn Văn Sang, 55 tuổi, Bản Khe Mụ)
Trang 10Khi lợp mái nhà chủ nhà phải là người phủ nóc, đối với ngôi nhà ở Bảotàng vì dựng theo nguyên mẫu ngôi nhà Bàn Văn Sấm nên ông được chọn làchủ nhà và chịu trách nhiệm phủ nóc Ông Sấm làm phép bằng cách đập 3 nhádao lên mái nhà và hỏi những người đứng phía dưới "Đã tối chưa?" Người bêndưới trả lời "Tối rồi" Nếu người bên dưới trả lời chưa tối thì chủ nhà phải làmphép lần nữa xin thần linh chấp nhận.
Sau khi ngôi nhà dựng xong chủ nhà và những người thợ làm nhà tổchức nghi thức dọn lên nhà mới, họ bầy bàn thờ tam đại Ông Sấm với cương
vị chủ nhà, bước vào và cầm thêm một bó đuốc một ống bương đựng nước,một bó lúa, một quả đu đủ xanh, một quả bí đặt nơi chạn bát, rồi ông làm lễcúng tổ tiên báo việc chuyển lên nhà mới, xin thổ công, thổ địa phù hộ cho mọingười được sống yên ổn, những lễ vật cúng theo ô Sấm "hai ý nước muối củagia đình về cuộc sống "ấm" trong nôi nhà mới
Theo tập tục người mẹ và đứa trẻ trong 45 ngày sau khi sinh không đượcvào nhà người khác thời gian Kiêng cữ là 15 ngày đối với chồng của sản phụvới 1 tuần đối với người nhà của sản phụ.Người vi phạm sẽ phải bồi thườngcho chủ nhà 1 con gà cùng vàng hương dể cúng tạ lỗi tổ tiên của gia đình này
* Cối giã gạo dùng sức nước
Trước đây các gia đình người Dao giã gạo bằng loại cối dùng sức nước,hai chiếc cối đặt ở gần nhà người Dao họ dựng Năm 1999 và 2002 ông TrầnVăn Trấn ở thôn Khe Mụ chủ nhân chiếc cối dựng năm 1999 kể lại "chiếc cốinày gia đình tôi đã sử dụng từ năm 1989 Từ năm 1994 khi trong bản có máysát gạo mọi người hầu như không sử dụng loại cối này nữa, nhiều gia đình phá
bỏ hoàn toàn
Cối làm bằng loại gỗ tốt không bị mối mọt hay dùng nhất là gỗ nghiếnnhưng nay do hiếm gõ nghiến nên người ta thay bằng gỗ thọ cũng như cối giãgạo bằng nước ở người Thái, tày, cối của người Dao đặt ở nơi có nước chảyhoặc phải dẫn nước từ chỗ khác về thường người ta tìm đoạn suối gần nhàngười ta cho thóc vào cối rồi sau đó chỉ việc đến xúc gạo về
Trang 11Chương II HOẠT ĐỘNG THU HÚT KHÁCH QUAN TẠI NGÔI NHÀ DAO
HỌ - BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM 2.1 Tình hình hoạt động của ngôi nhà Dao họ trong những năm gần đây.
Trong những năm gần đây do sự phát triển của khoa học ngày càng cao,
vì thế mà đời sống của con người có phần được cải thiện ngoài nhu cầu thưởngthức các giá trị vật chất ra, giá trị tính thần cũng góp phần không nhỏ làmphong phú thêm nhu cầu của họ Một trong những loại hình giải trí phổ biến vàthu hút được đông đảo công chúng tham gia đó là hoạt động thăm quan cácBảo tàng nói chung và bảo tàng dân tộc học nói riêng Bởi thông qua các hiệnvật trực quan và các hình ảnh sinh động và đặc biệt là trực tiếp được tham giacác hoạt động trình diễn, các hoạt động đó không chỉ có ý nghĩa giải trí và tìmhiểu bản sắc văn hoá của các dân tộc, mà nó còn có ý nghĩa giáo dục tuyêntruyền giới thiệu những tinh hoa văn hoá tốt đẹp tới đông đảo công chúng trong
và nước
Nhận thức đầy đủ ý nghĩa và vai trò của hoạt động trên ban lãnh đạo củaBTDTHVN nói chung và đặc biệt các cán bộ và nhân viên của khu trưng bàyngoài trời đã có rất nhiều cố gắng trong việc tạo mọi điều kiện thuận lợi và đápứng đầy đủ các nhu cầu nhằm thu hút khách tham quan tại các ngôi nhà đượcdựng ở ngoài trời, đặc biệt là ngôi nhà của người Dao họ
Một trong những hoạt động được khách tham quan chú ý và quan tâmnghiên cứu tìm hiểu nhất đó là hoạt động trình diễn, thấy rõ được vai trò củathực tế đặt ra ban giám đốc thường xuyên chỉ đạo thực hiện tốt các hoạt độngđó
Năm 2004 thường xuyên có hoạt động trình diễn nấu rượu tại ngôi nhàDao họ, đó là 1 trong những hoạt động được du khách quan tâm và hưởng ứng.Thông qua hoạt động này khách tham quan không chỉ có cơ hội hiểu biết kỹ