1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

so sánh khả năng tái sinh và năng suất của 9 giốngdòng cao lương trồng trong chậu

66 1,3K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So Sánh Khả Năng Tái Sinh Và Năng Suất Của 9 GiốngDòng Cao Lương Trồng Trong Chậu
Tác giả Nguyễn Thị Bích Ngọc
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Thanh Xuân
Trường học Trường Đại Học An Giang
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2005
Thành phố Long Xuyên
Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 447,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM LƯỢC Cao lương là loại cây có thể dùng thân, lá, hạt làm thức ăn cho gia súc, để phục vụ cho việc thiếu cỏ đồng thời đa dạng nguồn thức ăn, chúng tôi thực hiện đề tài “So sánh khả nă

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP - TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC MSSV: DPN010735

SO SÁNH KHẢ NĂNG TÁI SINH VÀ NĂNG SUẤT

CỦA 9 GIỐNG/DÒNG CAO LƯƠNG

TRỒNG TRONG CHẬU

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NGÀNH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

ThS Nguyễn Thị Thanh Xuân

Trang 2

Tháng 6 2005

SO SÁNH KHẢ NĂNG TÁI SINH VÀ NĂNG SUẤT

CỦA 9 GIỐNG/DÒNG CAO LƯƠNG

TRỒNG TRONG CHẬU

Do sinh viên: NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC thực hiện và đệ nạp

Kính trình Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xét duyệt

Long xuyên, ngày……tháng….năm 200…

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

ThS Nguyễn Thị Thanh Xuân

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP - TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP - TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn đính kèmvới tên đề tài: SO SÁNH KHẢ NĂNG TÁI SINH VÀ NĂNG SUẤT CỦA 9 GIỐNG/DÒNG CAO LƯƠNG TRỒNG TRONG CHẬU Do sinh viên: NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC Thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng ngày:………

Luận văn đã được Hội đồng đánh giá ở mức:………

Ý kiến của Hội đồng:………

………

………

………

………

Long xuyên, ngày… tháng… năm 2005 DUYỆT Chủ Tịch Hội đồng BAN CHỦ NHIỆM KHOA NN-TNTN (Ký tên)

Trang 4

TIỂU SỬ CÁ NHÂN

Họ và tên: NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC

Ngày tháng năm sinh: 28/8/1983

Nơi sinh: Chợ Mới – An Giang

Con Ông: NGUYỄN VĂN THẢO

và Bà: TRẦN THỊ HOÀNG

Địa chỉ: ấp Long Hòa I, xã Long Điền A, huyện Chợ Mới, An Giang

Đã tốt nghiệp phổ thông năm: 2001

Vào Trường Đại học An Giang năm: 2001 học lớp: DH2PN2 khoá: 2001 –

2005 thuộc Khoa Nông Nghiệp và Tài Nguyên Thiên Nhiên và đã tốt nghiệp kỹ sư ngành Phát Triển Nông Thôn năm: 2005

Trang 5

LỜI CẢM TẠ

Tôi xin chân thành cảm ơn

Thầy Hiệu Trưởng VÕ TÒNG XUÂN đã tạo điều kiện cho tôi làm đề tài

Sự hướng dẫn nhiệt tình của Cô NGUYỄN THỊ THANH XUÂN

Các Thầy, Cô Bộ môn cây trồng và vật nuôi

Các Thầy, Cô phòng thí nghiệm

Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn An Giang

Đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong việc thực hiện công trình tốt nghiệp Đại học

Quí Thầy, Cô đã giảng dạy tôi suốt học trình

Gởi đến các bạn đã giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện công trình tốt nghiệp lời cảm ơn chân thành

Trang 6

TÓM LƯỢC

Cao lương là loại cây có thể dùng thân, lá, hạt làm thức ăn cho gia súc, để phục vụ cho việc thiếu cỏ đồng thời đa dạng nguồn thức ăn, chúng tôi thực hiện đề tài “So sánh khả năng tái sinh và năng suất của 9 giống/dòng cao lương trồng trong chậu”

Thí nghiệm thực hiện tại ĐHAG, trồng trong chậu từ tháng 04.2004 đến 02.2005 Bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên: 7 lần lập lại với 9 nghiệm thức là 9 giống Tái sinh 2 thời điểm 70 NSKG (ngày sau khi gieo) và thu hoạch Thí nghiệm còn so sánh năng suất hạt, vật chất khô và hàm lượng protêin của các giống

Các giống Green leaf sudan grass, Purdue 81112-1 và giống Purdue

81220 có thân ốm, cứng, khô, rỗng, lóng dài, lá nhỏ, bông hơi xòe, hạt nhỏ, hạt

có màu tím đỏ và dễ bị đỗ ngả khi có mưa Các giống EC 21349, Kep 389, Kawanda, Kraspje, A 157 có thân to, có nhiều dịch, hơi ngọt, ruột đặc, lá to, lóng ngắn, bông túm, hạt to, màu hạt biến đổi từ màu trắng đến màu đỏ, ít bị đỗ ngả Đặc biệt giống EC 21349 và giống Kraspje lá có màu xanh thẫm và thẳng đứng

Tái sinh: ở thời điểm 70 NSKG cho kết quả tốt hơn tái sinh ở thời điểm thu hoạch

Tái sinh thời điểm 70 NSKG: hầu hết năng suất tươi (thân và lá) cao ở vụ tơ và tái sinh 1 Riêng giống Purdue 81220 và A 157 năng suất chỉ cao ở vụ tơ

Tái sinh thời điểm thu hoạch: năng suất vụ tơ cao hơn vụ tái sinh 1, giống EC

21349, Kep 389 năng suất cao ở vụ tơ

Trung bình hàm lượng vật chất khô của lá 27%, cao nhất 30,7% (Purdue 81112-1) Trung bình hàm lượng vật chất khô của thân 20,5%, cao nhất 29,3% (purdue 81112-1) Protêin: trung bình trong lá 7,4% Giống Green leaf sudan grass, có hàm lượng protein trong lá cao nhất (8,8%)

Trang 7

Giống Purdue 81112-1 và giống Purdue 81220 nảy chồi mạnh, phát triển chiều cao tốt ở giai đoạn sinh trưởng, hàm lượng protêin và vật chất khô trong lá cao, thân nhỏ rất thích hợp để chăn thả gia súc

2.1 Sơ lược hiện trạng chăn nuôi bò ĐBSCL và tỉnh An Giang 3

2.3.1 Nguồn gốc và tình hình sản xuất cao lương trong và ngoài nước 42.3.2 Đặc điểm sinh học và khả năng tái sinh của cao lương 5

2.4 Một số loại cao lương được trồng phổ biến hiện nay 9

2.5 Thành phần hoá học và giá trị sử dụng của cao lương 11

2.5.3 Một vài khuyết điểm khi sử dụng cao lương làm thức ăn gia súc 15

4.2.1 Động thái tăng trưởng chiều cao của các giống ở các vụ 28

Trang 8

4.2.2 Động thái tăng trưởng chồi của các giống ở các vụ tái sinh 34

4.2.4 Hàm lượng vật chất khô thân và lá của các giống ở thời điểm 70

NSKG

38

4.2.5 Hàm lượng protêin trong lá và thân của các giống ở thời điểm 70

4.3.1 Động thái tăng trưởng chiều cao của các giống qua các vụ 404.3.2 Động thái tăng trưởng số chồi của các giống qua các vụ 424.3.3 Năng suất thân, lá, hạt của các giống tại thời điểm thu hoạch 43

Trang 10

DANH SÁCH BẢNG

Bảng

1 Thông tin nông học của một số loại cỏ thích hợp điều kiện khí hậu ấm áp 8

2 Năng suất chất khô và chất lượng cỏ của các loại cỏ hằng năm ủ ở Rosemount, Minnesota 10

3 Thành phần dinh dưỡng của các loại cao lương 13

4 Chất lượng thức ăn ủ từ sudan lai (sorghum-sudangrass) so với

5 Sức sản xuất của bò đực tơ và bò cái tơ khi cho ăn thức ăn từ 4 loại cỏ ủ và cỏ khô. 18

6 Danh sách giống cao lương nhập nội trong thí ngiệm 19

8 Tinh hinh khi tương tai TP Long Xuyên trong thơi gian lam thi

10 Sự tăng trưởng chiều cao giữa các giống theo các vụ tái sinh

11 Sự tăng trưởng chiều cao giữa các giống trong các vụ tái sinh ở thời điểm 30 ngày 29

12 So sánh chiều cao giữa các vụ tái sinh của các giống lúc 30 ngày 30

13 Sự tăng trưởng chiều cao giữa các giống trong các vụ tái sinh

14 So sánh chiều cao giữa các vụ tái sinh của các giống lúc 45 ngày 31

15 Sự tăng trưởng chiều cao giữa các giống trong các vụ tái sinh

16 So sánh chiều cao giữa các vụ tái sinh của các giống lúc 60 ngày 33

17 Động thái tăng trưởng chồi giữa các giống trong các vụ tái sinh ở các thời điểm 30, 45, 60 ngày 34

18 So sánh số chồi giữa các vụ tái sinh của các giống lúc 30, 45,

19 Năng suất thân, lá của các giống trong các vụ tái sinh 36

20 Tổng năng suất thân lá của các giống trong các vụ tái sinh 37

21 So sánh tổng năng suất thân và lá của các giống ở cả 3 vụ 38

Trang 11

so với cuối năm 2003 Hiện nay, tốc độ phát triển trang trại, HTX chăn nuôi bò ở tỉnh An Giang rất nhanh Tổng các trang trại này không chỉ tập trung ở khu vực vùng núi Tri Tôn và Tịnh Biên, là nơi có nhiều cỏ cây xanh làm thức ăn cho bò,

mà ngay cả các huyện thị đồng bằng như Thoại Sơn, Châu Thành cũng đang

24 Động thái tăng trưởng chiều cao các giống ở vụ tơ từ giai đoạn

25 Động thái tăng trưởng chiều cao của các giống ở vụ tái sinh 1H 42

26 Động thái tăng trưởng số chồi của các giống ở vụ tái sinh 1H 43

27 Năng suất thân, lá, hạt của các giống vụ tơ H 44

28 Năng suất thân và lá của các giống ở vụ tái sinh 1H 45

29 so sánh tổng năng suất thân và lá của các giống ở vụ tái sinh 1H (tái sinh thời điểm thu hoạch) với vụ tơ H 46

30 So sánh tổng năng suất thân và lá của các giống ở vụ tái sinh

1H với vụ tái sinh 1 (tái sinh thời điểm 70 NSKG) 47

Trang 12

phát triển nhanh diện tích trồng cỏ để phục vụ chăn nuôi Đến nay, toàn tỉnh đã trồng được 166 ha cỏ Nông dân các huyện đầu nguồn, cù lao Chợ Mới, Tân Châu, An Phú, Châu Phú còn phát triển trang trại chăn nuôi gắn với vùng nguyên liệu sản xuất ngô lai, ngô thu trái non lấy phụ phế phẩm làm thức ăn chăn nuôi Ngoài những trang trại nuôi bò có qui mô lớn, tỉnh An Giang còn có gần 100 trang trại tư nhân, góp phần nâng tổng số đàn bò trong tỉnh lên 57.296 con, tăng 9,1% so với cuối năm 2003 nuôi Tổng đàn bò toàn tỉnh từ 39.781 con (năm 2001) tăng lên xấp xỉ gần 57.000 con (năm 2004) và thực hiện kế hoạch đạt tổng đàn 62.600 con vào năm 2005; trong đó, bò sữa từ 161 con vào năm

2001 tăng lên 700 con trong năm 2004 và 730 con theo kế hoạch vào năm 2005 (Phạm Thị Hòa)

Với tốc độ gia tăng đàn bò như vậy thì nhu cầu thức ăn đồng cỏ và các phế phẩm nông nghiệp hiện có không thể đáp ứng đủ nhu cầu cho đàn bò, từ đó

sẽ dẫn đến việc chăn nuôi không đạt hiệu quả

Mặt khác, trong điều kiện nước ta hiện nay nói chung, tỉnh An Giang nói riêng, nguồn thức ăn cho gia súc nhai lại ngày càng cạn kiệt, đồng bãi chăn thả, diện tích cỏ tự nhiên có thể thu cắt được ngày càng hạn hẹp và cạnh tranh gay gắt với việc thâm canh, tăng vụ, mở rộng diện tích canh tác, trồng rừng, trồng cây công nghiệp (Phùng Quốc Quảng, 2002)…trong điều kiện như vậy cần phải có các biện pháp hữu hiệu để giải quyết thức ăn cho gia súc nhai lại, đặc biệt là bò

Qua những kết quả nghiên cứu trước đây và khảo sát thực tế cho thấy cao lương là một loại cây dễ trồng thích hợp với nhiều loại đất kể cả những vùng đất nghèo dinh dưỡng như đất sét, đất sét thịt, đất cát thịt và có khả năng chịu hạn cao; cũng như các loại cây trồng khác, nó phát triển mạnh ở vùng đất phì nhiêu thoát nước tốt, rất thích hợp với điều kiện khí hậu và đất đai của tỉnh An Giang Cao lương có thể sử dụng cả thân, lá, hạt làm thức ăn cho gia súc Hơn

Trang 13

Để đa dạng hoá nguồn thức ăn cũng như bổ sung các nguồn thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao góp phần phát triển ngành chăn nuôi bò của tỉnh An Giang, chúng tôi thực hiện đề tài “So sánh khả năng tái sinh và năng suất của 9 dòng/giống cao lương trồng trong chậu” tại khoa Nông nghiệp – Tài nguyên Thiên nhiên, Đại học An Giang từ tháng 04.2004 - 02.2005

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Bước đầu tuyển chọn các dòng/giống cao lương có khả năng tái sinh cao, có năng suất thân cao và có giá trị dinh dưỡng cao nhằm góp phần phát triển đàn bò trong tỉnh An Giang

Chương 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1 Sơ lược hiện trạng chăn nuôi bò ĐBSCL và tỉnh An Giang

Trà Vinh là một trong những tỉnh thuộc ĐBSCL đang đối mặt với tình trạng thiếu cỏ cho bò Con bò vốn là vật nuôi chủ lực của nông dân ở Trà Vinh; nhất là bà con người Khmer Với các chính sách hỗ trợ thiết thực của tỉnh, đàn bò

ở Trà Vinh tăng nhanh cả về lượng và chất Bò lai Sind đã chiếm khoảng 35% tổng đàn Dự án lai tạo và phát triển đàn bò từ nay đến năm 2005 của tỉnh Trà Vinh đang triển khai có tổng nguồn vốn hỗ trợ người chăn nuôi lên đến 57 tỉ đồng

Người nhận đầu tư nuôi bò trong khuôn khổ dự án chỉ phải góp vốn 40% giá trị con bò; đồng thời được hưởng nhiều ưu đãi khác như: Hỗ trợ 50% lãi suất tiền vay ngân hàng để xây dựng chuồng trại, tập huấn kỹ thuật, gieo tinh, tiêm phòng miễn phí Thế nhưng mục tiêu phát triển đàn bò ở Trà Vinh và ĐBSCL có nguy cơ chậm lại nếu không giải quyết được tình trạng thiếu cỏ (Vô

danh, 29.09.2004)

Theo ngành NNPTNT Trà Vinh, với các giống cỏ cao sản (cỏ voi, cỏ ruzi, ) thì trồng cỏ có thể đạt mức thu nhập 40 - 50 triệu đồng/ha mà không tốn nhiều chi phí, công chăm sóc Khoảng 3 năm nay, tại nhiều huyện ở Trà Vinh, trên đất trồng lúa kém hiệu quả, nông dân bắt đầu chuyển sang trồng cỏ Tuy

Trang 14

có tập quán sử dụng cám gạo để bổ sung cho bò (Sở Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn Tỉnh An Giang, 2000).

2.2 Điệu kiện tự nhiên của tỉnh An Giang

An Giang là tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, với diện tích tự nhiên 3.406 km2; trong đó, diện tích đất nông nghiệp trên 258.000 ha Là tỉnh nằm ở đầu nguồn lưu vực sông Cửu Long, có nguồn nước ngọt quanh năm, đất đai màu mỡ được phù sa bồi đắp hàng năm rất phù hợp để phát triển nông nghiệp toàn diện

Về địa hình, An Giang có thể chia thành hai vùng: vùng đồng bằng và vùng đồi núi Vùng đồng bằng với diện tích đất nông nghiệp chiếm gần 125.000

ha, đàn bò vùng này có tầm vóc lớn và tỉ lệ bò lai Sind có điều kiện chuyển hướng sản xuất sữa – thịt Vùng núi thấp bao gồm chủ yếu ở hai huyện Tri Tôn

và Tịnh Biên, là nơi có điều kiện phát triển đồng cỏ với những bãi chăn rộng, quy

mô chăn nuôi/hộ nhiều (trên 10 con/hộ)

Về khí hậu, An giang có khí hậu nóng ẩm quanh năm, với nhiệt độ bình quân hàng năm 27,7oC, ẩm độ không khí trung bình năm cao hơn 80%, chế độ

Trang 15

1.418mm và ít biến động qua các năm, đặc điểm này rất thuận lợi cho việc sinh trưởng và phát triển của cây trồng (Sở Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn Tỉnh An Giang, 2000)

2.3 Giới thiệu về cao lương

2.3.1 Nguồn gốc và tình hình sản xuất cao lương ở trong và ngoài nước 1

Cây cao lương (sorgho, lúa miến, sorghum) có tên khoa học là

sorghum vulgare Pers., thuộc họ Panicoidae, họ phụ Andropogoneae Xuất thân

từ miền Trung Châu Phi cách đây 5-7 ngàn năm (Evelyn, 1951)1

Vào 1994, cao lương là một trong những cây ngũ cốc quan trọng trên thế giới đứng thứ sáu sau lúa mì, lúa, bắp, và lúa mạch cả về diện tích trồng và năng suất Sản xuất cao lương trên thế giới sắp xỉ 70 triệu tấn vào đầu những năm

1980 80% diện tích trồng cao lương ở Châu Phi và Châu Á, với năng suất trung bình 810 và 115 kg/ha; vào 1992, cao lương được trồng sắp sỉ 5,4 triệu ha ở Mỹ với năng suất 4.566 kg/ha và đạt giá trị về nông nghiệp hơn 1,7 triệu USD

Ở Việt Nam, cao lương đã được trồng từ lâu đời, nhưng ở miền Nam chỉ phát triển khi du nhập những giống mới từ năm 1962 Diện tích trồng năm

1978 là 50000 ha, nhiều nhất ở các tỉnh Thuận Hải, An Giang, Tiền Giang, Bến Tre (Hứa Minh Đức, 1988)

2.3.2 Đặc điểm sinh học và khả năng tái sinh của cao lương

cm, với bìa lá bằng phẳng hoặc hơi gợn sóng Gân chính của lá màu trắng hoặc màu vàng đối với giống có thân rỗng khô, hoặc màu xanh đối với giống thân có

Trang 16

dịch Bông có một trục ở giữa, với những nhánh gọi là gié cấp 1, cấp 2, và đôi khi cấp 3; dài ngắn khác nhau, trên những nhánh này sẽ mọc ra những bông nhỏ Hạt thường được bao bọc bởi một lớp màng Cao lương có hạt cứng có tính kháng được bệnh và những tác động gây hại, nhưng làm cho gia súc khó tiêu hóa hơn

Về đặc điểm sinh học thì cao lương có điểm khác với bắp, cả hoa đực và hoa cái ở trên cùng một bông Bông có thể xòe hoặc túm Khoảng 95 % hoa tự thụ Màu hạt của cao lương thay đổi từ màu trắng đến màu nâu tối, nội nhũ màu trắng, cao lương thiếu vitamin A (giống bắp) Kích cỡ hạt thay đổi tùy theo giống, nó thay đổi từ 1000 – 2000 hạt/aoxơ (aoxơ = 28g) Cao lương sudan (sudangrass) và cao lương hạt-cao lương sudan (sudan lai) (sorghum-sudangrass) nói chung trưởng thành sớm hơn cao lương cỏ (forage sorghum)

2.3.2.2 Khả năng tái sinh

Cao lương có sức tái sinh rất mạnh, trồng một vụ có thể thu hoạch liên tiếp 2-3 lần, có khi tới 4 lần, tùy vào mức độ thâm canh (Nguyễn Danh Đạt, 1977)2 Nếu chăm sóc tốt, năng suất vụ gốc không thua vụ tơ, thậm chí có thể cao hơn Mỗi mắt trên thân cao lương có những chồi mầm, khi đã thu hoạch, thân được chặt đi, những mầm ở phần gốc sẽ tiếp tục phát triển cho ra những cây mới của vụ sau, nên thu hoạch vụ tơ đúng lúc, khi hạt vừa cứng Nếu thu hoạch trễ, các chồi mầm sẽ già, yếu đi (Phan Hữu Trinh, 1980)3

Cao lương cỏ có thể thu hoạch được vào 60 – 65 ngày sau khi trồng, vụ cắt lần 2 sẽ thu hoạch vào 30 – 35 ngày sau đó Để cỏ tái sinh mọc lại nhanh, chừa lại phần gốc ít nhất 10 – 18 cm khi thu hoạch

2.3.2.3 Yêu cầu sinh thái

Là loại cây thức ăn quan trọng ở những vùng mà lượng mưa không đủ cho bắp phát triển vì nhu cầu nước của cao lương (270kg) thấp hơn so với bắp (350 kg/kg VCK) (Bùi Xuân An, 1997)

Trang 17

Các giống cao lương có hàm lượng tanin cao được trồng ở những nơi mà chim thường phá hại, nhưng ở Mỹ các giống cao lương có hàm lượng tanin thấp

đã được phát triển Nó cải thiện được 30% giá trị dinh dưỡng

Cao lư2ơng có đặc tính hình thái học và vật lý học góp phần tạo nên khả năng thích nghi được điều kiện khô, những vùng có lượng mưa khoảng 250 – 300 mm; chúng có rễ phụ nhiều gấp hai lần so với bắp, kích thước bề mặt lá chỉ bằng 1/2 của bắp Nhu cầu về nước giống như bắp nhưng chúng có khả năng ngừng phát triển trong suốt giai đoạn hạn hán kéo dài, và sẽ phát triển lại khi có mưa

Trên phiến lá hoặc bẹ lá của cao lương có một lớp sáp màu trắng nhạt bao phủ để bảo vệ chúng khỏi sự mất nước dưới điệu kiện nóng, khô, làm giảm sự mất nước Cao lương cũng có thể kháng điều kiện ẩm ướt, ngập nước, phát triển được trong những vùng có lượng mưa lớn 250 – 1250mm

Cao lương thuộc cây C-4 có khả năng sử dụng ánh sáng cao hơn các loại cây khác, dưới điều kiện ánh sáng cao và nhiệt độ nóng chúng có thể quang tổng hợp mạnh hơn (nhiều nghiên cứu cho thấy hơn 90% chất khô tích lũy được

là do quang hợp), và sản xuất nhiều sinh khối, nó có khả năng thích nghi và tiến hóa trong những vùng bị hạn chu kỳ (Trần Văn Hòa, 2003)

Cao lương có thể chịu được trong điều kiện pH đất từ 5 – 8,5 và có khả năng chịu mặn hơn bắp Cao lương trồng thích hợp trên vùng đất nghèo dinh dưỡng và có thể sản xuất hạt trên những loại đất mà nhiều cây trồng khác trồng không thành công Khác với bắp, năng suất cao lương không thay đổi dưới điều kiện trồng khác nhau Vì vậy trên vùng có điều kiện dinh dưỡng nghèo thì cao lương trồng cho năng suất có thể cao hơn bắp

Điều kiện sinh trưởng của cây cao lương: theo kỹ sư Nguyễn Danh Đạt,

1977, cao lương cần có các điều kiện ngoại cảnh như sau:

+ Nhiệt độ: cao lương có nguồn gốc nhiệt đới nên nhiệt độ thích hợp lúc nảy mầm là 20-30oC, từ nảy mầm đến giai đoạn làm đốt đến giai đoạn làm

22, 3 : Trích dẫn từ Hứa Minh Đức, 1982 Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Kỹ thuật Cây trồng Khoa Trồng Trọt, Đại học Cần Thơ.

Trang 18

đốt là 20-25oC, từ giai đoạn làm đốt đến giai đoạn trổ bông nhiệt độ tối thích là 25-30oC, sau khi ra hoa yêu cầu nhiệt độ thấp hơn để tích lũy chất dinh dưỡng vào hạt

+ Nước: bộ rễ cao lương rất phát triển, phân bố rộng và sâu có sức hút rất mạnh Cao lương có tính chịu hạn cao, nhưng trong các thời kỳ sinh trưởng cũng yêu cầu cung cấp một lượng nước nhất định, cần tối thiểu là 300 lít nước và tối hảo là 1000 lít nước trong suốt thời kỳ sinh trưởng

+ Ánh sáng: cao lương là cây ngắn ngày, trong suốt chu kỳ sinh trưởng cần có đủ ánh sáng, thời kỳ phát dục đầu có đủ ánh sáng sẽ giúp cây con phát triển khỏe, thời kỳ cuối cần có đủ ánh sáng để cây có thể tích lũy được nhiều chất khô làm hạt rắn chắc Thiếu ánh sáng vào thời kỳ này sản lượng và phẩm chất hạt bị giảm đi

Bảng 1: Thông tin nông học của một số loại cỏ thích hợp điều kiện khí hậu ấm áp

Bắp Cao lương hạt 1 Sudan lai-

Thời điểm thu hoạch chín sữa 1/2-3/4 giữa giai đoạn chín sáp giai đoạn làm đòng

Giá trị dinh dưỡng

Trang 19

Cao lương hạt và cao lương sudan thích hợp tốt ở vùng có lượng mưa thấp mà không thích hợp trồng bắp Nó cũng có thể phát triển tốt dưới điều kiện tưới tiêu

Đối với chăn thả, cao lương sudan và sudan lai thường có thể chăn thả sau 5-6 tuần sau khi trồng Ở những nơi mà điều kiện ẩm bị giới hạn, cao lương hạt và sudan lai nói chung sản xuất nhiều thức ăn xanh hơn bắp Cao lương hạt

và sudan lai trồng làm thức ăn cho gia súc thì thích hợp hơn so với bắp ủ về giá trị dinh dưỡng Cây sẽ phát triển mạnh nhất dưới diều kiện nóng, ẩm

Một số tác giả (Thorne, 1963; Stey, 1963)4 cho rằng hệ số kinh tế cây chỉ phụ thuộc vào tính di truyền của thực vật Do vậy muốn nâng cao hệ số kinh

tế chủ yếu là chọn giống có hệ số kinh tế cao Nitsiporots (1956)5 lại thấy rằng ngoài việc chọn giống, có thể dùng các biện pháp kỹ thuật để tác động vào hệ số kinh tế Các nhân tố quyết định hệ số kinh tế là nhân tố bên trong Đối với Murata (1962)6 cho rằng có 3 điều kiện quyết định hệ số kinh tế của cây trồng:

+ Khả năng tích lũy tinh bột trong bẹ lá và thân cây

+ Khả năng vận chuyển các chất tích lũy trong bẹ và thân lên ống+ Khả năng tiếp thu các chất dinh dưỡng của bông và hạt

2.4 Một số loại cao lương được trồng phổ biến hiện nay

Hiện nay có 5 loại cao lương chủ yếu được trồng:

Cao lương hạt (Grain sorghum) còn được gọi là milo, được sử dụng để lấy hạt trên những vùng khô cằn, với đặc tính lùn, chiều cao từ 0,6 – 1,5 m (thay đổi tùy theo giống và điều kiện) dễ dàng cho việc trồng kết hợp với cây trồng khác, nó thường không dùng để sản xuất cỏ vì năng suất vật chất khô thấp Giá trị dinh dưỡng của cao lương hạt ủ gần như tương đương với bắp ủ

Cao lương cỏ (Forage sorghum) bao gồm sorgo, cao lương ngọt (sweetsorghum), giống trồng lấy hạt và thân, lá (dual purpose ) và cây lai Chiều cao từ 2 – 3,6 m, sản xuất nhiều chất khô hơn cao lương hạt, thân có dịch ngọt và

sử dụng làm thức ăn gia súc ủ là tốt nhất, giá trị dinh dưỡng (TDN) khoảng 90%

so với bắp Năng suất chất khô của cao lương cỏ có thể tương đương hoặc cao

Trang 20

Bảng 2: Năng suất chất khô và chất lượng cỏ của các loại cỏ hằng năm ủ ở

Rosemount, Minnesota

Loại Giống Năngsuất (T/acre) CP(%) Chất lượng cỏ DDM(%) NDF(%)

Bắp răng ngựa Pioneer

Nguồn thông tin từ:

Rohweder, D.A., J.M.Scholl, P.N.Drolsom and M.D Groskopp 1965 Sorghums for Forage in Wisconsin Circular 638, University of Wisconsin-Extension.

Hughes, H.D., and D.S Metcalfe 1972 Crop Production Third Ed The Macmillan Company, New York.

Cao lương sudan (sudangrass), cao 120 – 210cm, thân tốt, nhỏ có đường kính thân khoảng 0,635cm nên dể làm khô hơn so với các loại cao lương khác; cây rậm lá, lá rộng 1,27cm, tái sinh nhanh, đẻ nhánh nhiều, có thể trồng

Trang 21

ngắn ngày để chăn thả hoặc làm thức ăn xanh, nó cung cấp nhiều cỏ gặm từ giữa cho đến cuối mùa hè khi các loại cỏ quanh năm khác ngừng sinh trưởng như cỏ linh lăng (alfalfa), cỏ đuôi mèo (timothy), cỏ dứa (bromegrass) Cao lương sudan trồng để chăn thả, làm thức ăn xanh băm nhỏ, hoặc ủ, nhưng năng suất cao hơn các loại cao lương khác chỉ khi sử dụng chăn thả Năng suất đạt 7.620,48 – 10.160,6 kg/ha (3 – 4 T/acre) chất khô, và có thể đạt 25.401,6 – 30.481,92 kg/ha (10-12 T/acre) thức ăn xanh hoặc cỏ gặm Cao lương sudan có thể chăn thả hoặc cắt cỏ tươi cho gia súc ăn khoảng 5 – 6 tuần sau khi trồng, khi cây đạt chiều cao 45 – 50cm (3 đến 4 tuần dưới điều kiện thời tiết thích hợp) Ở Upper Midwest cao lương sudan có thể cắt 3 lần hoặc nhiều hơn trên một vụ trồng Cỏ khô cũng như thức ăn xanh băm nhỏ có thể thu hoạch trước giai đoạn làm đòng, khoảng 7 – 8 tuần sau khi trồng, nếu cắt thường xuyên thì chất lượng cỏ sẽ cao vì vậy hàm lượng chất sơ thấp Cao lương sudan chứa hàm lượng acid HCN ít hơn 1/2 so với các loại cao lương khác Piper sudangrass là giống có thời gian sinh trưởng ngắn thích hợp cho chăn thả, năng suất thường đạt cao hơn các giống khác (cỏ gặm hoặc chăn thả), có hàm lượng HCN thấp và

có khả năng kháng nhiều bệnh hơn các giống cao lương sudan khác

Sudan lai (sorghum-sudangrass) là cây lai giữa hai loại cỏ có năng suất trung bình Có thể sử dụng để chăn thả, làm cỏ khô, hay ủ, có năng suất cao với thân cung cấp hơn 50% Sudan lai có thân cao hơn, lớn hơn và cho năng suất cao hơn cao lương sudan, nhưng năng suất không cao hơn Piper sudangrass khi thu hoạch 3 lần ở giai đoạn cỏ xanh, so với bắp thì sudan lai cho năng suất thấp hơn nhưng chúng có thể thu hoạch 2 – 3 lần trong một vụ trồng, và thấp hơn cao lương cỏ Ở Rosemont, MN ‘Sudan’ (sudan lai) trung bình đạt khoảng 2.540,16 kg/ha (1 T/acre) nhiều hơn Piper sudangrass khi thu hoạch 2 lần Có thể dự trữ như băm nhỏ, ủ hoặc đóng thành kiện, thức ăn xanh băm nhỏ hoặc chăn thả Cao lương sudan và sudan lai nên chăn thả luân phiên sẽ cho kết quả tốt nhất với tỉ lệ gia súc chăn thả vừa đủ

Trang 22

Sorghum-almum, còn được gọi là columbusgrass, sorgho negro hoặc sudan negro Sorghum-almum không được khuyến cáo trồng bởi vì nó chứa hàm lượng acid HCN cao gấp 4-10 so với Piper sudangrass

2.5 Thành phần hoá học và giá trị sử dụng của cao lương

2.5.1 Thành phần hoá học và dinh dưỡng

Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của các loại cao lương rất gần với bắp, nhưng nhiều protein hơn (tương đương với lúa mì) và hơi ít béo Nếu được bổ sung thích hợp, cao lương rất tốt cho tất cả các loại vật nuôi Tuy nhiên, khi sử dụng cao lương để thay thế bắp cần lưu ý nó khiếm khuyết caroten, có thể khắc phục bằng cách dùng 3% bột cỏ (Nguyễn Thị Hồng Nhân, không ngày tháng)

Thành phần hóa học của cao lương hạt (grain sorghum) (%)

VCK: 87,0 – 88,6 P: 0,1 – 0,3

Đạm thô: 11,8 – 11,5 Lysin: 0,23

Béo thô: 3,0 – 2,4 Met + Cys: 0,27

Xơ thô: 0,4 – 2,5 Trytophan: 0,1

Ca: 0,04 – 0,12 Threonin: 0,33

Thời kỳ trưởng thành là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng cỏ Chất lượng cỏ giảm đột ngột sau khi trổ bông, Khi cây chín, hàm lượng protein giảm nhanh chóng, trong khi hàm lượng xơ gia tăng, dẫn đến giảm giá trị năng lượng thức ăn và khả năng tiêu hóa của dạ cỏ NDF cao làm tăng sự kềnh càng của thức ăn nhưng giảm lượng chất khô đưa vào

2.5.2 Giá trị sử dụng

Cao lương là một thành phần quan trọng trong khẩu phần ăn của nhiều người trên thế giới Là cây lương thực ở các vùng khô hạn của các nước đang phát triển Nó được sử dụng làm bánh mì, hoặc các món ăn đơn giản nấu với sữa hoặc nước; các loại thức uống bao gồm bia, đặc biệt là nước siro từ cao lương ngọt Ở Châu phi, các cao lương thân cao truyền thống được sử dụng làm

Trang 23

đông Châu phi Chất tinh bột của cao lương được chế biến bằng quy trình nghiền ướt ở Mỹ tương tự như đối với tinh bột bắp, sau đó làm thành đường dextroz (đường gluco) sử dụng trong thức ăn tinh bột Từ các giống cao lương hạt có sáp sử dụng làm keo dán giấy và vải ở Mỹ

Trang 24

Bảng 3: Thành phần dinh dưỡng của các loại cao lương

Cao lương hạt

Cao lương cỏ

Cao lương sudan

Tươi, đầu giai đoạn tăng trưởng 18 70 1,63 1,03 16,8 3,9 0,43 0,41 0,14 55 29

Trang 25

Cao lương được trồng để lấy hạt và thân làm thức ăn chủ yếu cho cả gia súc và gia cầm dưới các dạng cỏ ủ tươi, thức ăn xanh băm nhỏ, chăn thả, phơi khô…Hạt cao lương được nghiền nhỏ, làm vỡ, xử lý bằng hơi nước, hoặc rang làm gia tăng giá trị dinh dưỡng từ 12 – 14 %

Cao lương nói chung không khuyến cáo sử dụng làm phân xanh Nó không cung cấp đạm cho đất như các cây họ đậu Tuy nhiên, một vụ cao lương sudan hoặc sudan lai có thể cung cấp 1.270,08 kg/ha (5 T/acre), như là một nguồn hữu cơ Đôi khi cao lương hạt được trồng kết hợp với đậu nành để cải thiện hàm lượng protêin

Cao lương hạt thường phát triển cao và trưởng thành muộn, nó thường được sử dụng để ủ, có giá trị thức ăn tương đương 80 – 90 % thức ăn từ bắp

Mặc dù, các loại cỏ này nói chung tương tự bắp ủ tươi về giá trị thức ăn cho bò thịt và cừu, nhưng có một vài sự khác nhau Đối với cao lương sudan chăn thả vào đầu giai đoạn tăng trưởng chứa nhiều năng lượng như bắp ủ tươi

và nhiều protêin hơn Tuy nhiên, cao lương sudan chín thu hoạch và hầu hết cao lương hạt và cao lương sudan ủ tươi chỉ có 15 – 20% thấp hơn so với bắp ủ tươi

về năng lượng, bởi vì tỉ lệ hạt/cỏ của chúng thấp hơn và cũng vì vỏ hạt cứng hơn bắp, gia súc ăn khó tiêu hóa hơn Như vậy, nói chung, hàm lượng hạt thấp hơn, giá trị dinh dưỡng thấp hơn, hàm lượng protêin thô tương đương với bắp ủ, nhưng có thể thay đổi phụ thuộc một phần vào lượng phân đạm bón cho cây

Calcium và photpho đôi khi cũng cao hơn bắp ủ, tỉ lệ Ca/P thì tốt hơn Sudan lai chứa kali tương đối cao Những người nuôi cừu nên biết rằng các loại

cỏ này chứa hàm lượng đồng cao hơn bắp và thường chứa hơn 30%0 có thể gây hại cho cừu

Khi sử dụng làm cỏ khô, thu hoạch cao lương sudan và sudan lai khi cây đang ở đầu giai đoạn chín sáp sẽ cho năng suất cỏ cao nhất nhưng ở giai đoạn này rất khó phơi khô Nếu thu hoạch để ủ, cao lương sudan, sudan lai và cao lương hạt nên thu hoạch vào giữa giai đoạn chín sáp, độ ẩm của cây là 65 –

70 %, ở giai đoạn này, chất lượng cỏ vẫn tốt

Trang 26

Chất lượng cỏ sẽ giảm khi thu hoạch muộn, cũng có thể thu hoạch khi cây cao khoảng 76,2 cm (30 inch), phương pháp thu hoạch này, chất lượng cỏ khô sẽ tốt hơn (phơi khô dễ hơn) và có thể thu hoạch thêm 2 – 3 vụ tái sinh nữa

Cao lương hạt thu hoạch đầu giai đoạn chín sáp và đem ủ, chứa 52 – 65

% chất khô tiêu hoá được, 8 – 12 % protein thô, 60 – 75 % xơ trung tính, 34 – 40

% xơ acid Lượng hạt cao hơn, khả năng tiêu hoá cao hơn Hạt đem ủ, khả năng tiêu hoá khoảng 90 % Cao lương hạt ủ chứa ít hạt, nhưng hàm lượng xơ cao hơn

so với bắp Mặc dù hàm lượng protêin của cao lương ủ tương đương hoặc có thể cao hơn một ít so với bắp, nhưng khả năng tiêu hoá thấp hơn Gia súc nói chung

ăn cao lương ủ ít hơn ăn bắp Để đạt được tỉ lệ tăng trọng tối ưu cho gia súc khi cho ăn cao lương ủ phải bổ sung thêm protêin, khoáng và vitamin

Thật khó để đạt được yêu cầu dinh dưỡng đối với bò nuôi tăng sản hoặc

bò nuôi lấy sữa, nếu sudan lai chiếm phần lớn trong khẩu phần cho ăn Nó thích hợp hơn đối với bò khô sữa, bò cái tơ hậu bị hơn 12 tháng tuổi, và bò cái thịt,

bê Sự so sánh về giá trị dinh dưỡng của sudan lai với nhiều loại cỏ thông thường khác được thể hiện trong bảng 4 Sudan lai chứa nhiều protêin hơn so với cỏ alfalfa trưởng thành, nhưng chỉ thu hoạch ở giai đoạn sinh trưởng Ở giai đoạn này, nó có mức năng lượng tương đương với bắp và cao hơn cỏ alfalfa

2.5.3 Một vài khuyết điểm khi sử dụng cao lương làm thức ăn gia súc

Chất độc Cyanua

Cao lương hạt, cao lương cỏ hoặc sudan lai; những giống này chứa lượng cyanogenic glucosides Trong dạ cỏ, thành phần này chuyển đổi thành acid xyanhydric, chất này hấp thụ vào máu, mức độ acid xyanhydric trong máu cao, nó

sẽ làm ngăn cản hô hấp và không bao lâu gia súc sẽ chết do liệt bộ phận hô hấp (gây ngạt thở) Các nhánh mọc ra từ những nách lá của những cây bị tổn thương và những chồi mới mọc ra từ mắt dóng trên mặt đất chứa hàm lượng acid này nhiều gấp 2 lần những lá đã trưởng thành của những cây bình thường Hàm lượng HCN

Trang 27

Nếu cây sau khi cắt đem phơi khô hoặc ủ sau 2 – 3 tuần sẽ giảm nguy hiểm cho gia súc Cao lương hạt chứa hàm lượng HCN cao nhất, sudan lai trung bình và cao lương sudan là thấp nhất Hàm lượng HCN thay đổi tùy thuộc rất lớn vào giống Tùy thuộc vào từng loại gia súc mà có tính mẫn cảm khác nhau đối với sự gây độc của acid, gia súc dễ mẫn cảm hơn so với cừu.

Mcal/kg

NEm Mcal/kg

NEg Mcal/kg %TDN Alfalfa

17 8 8,5 8

29 37

29 42 30 28

40 50

55 68 53 51

1,42 1,23

1,6 1,3 1,4 1,6

1,41 1,14

1,63 1,18 1,38 1,63

0,83 0,58

1,03 0,62 0,8 1,03

3 5

0 6 2 0

Trang 28

 Ngộ độc nitrate

Nitrate có thể tích lũy trong thân cây khi cây bị stress do khô hạn Việc

ủ có thể làm giảm lượng Nitrate khoảng 25 – 50 % Đối với cỏ khô, hàm lượng nitrate sẽ không giảm trong suốt thời kỳ phơi khô Điều chỉnh tỉ lệ thức ăn khi cho ăn, thì cỏ khô sẽ không gây vấn đề cho gia súc Ngộ độc nitrate: mức độ nitrate cao so với bình thường trong cỏ có thể dẫn đến ngộ độc nitrate và làm cho gia súc chết đồng bộ Sự hình thành các khí ủ (CO2, NH3, ) nếu cây được ủ tùy theo các loại cỏ khác nhau, sudan lai và cây ngũ cốc có thể tích lũy mức độ cao nhất, các loại cỏ sử dụng làm cây thức ăn gia súc tích lũy ở mức độ trung bình Trong khi ở cây họ đậu tích lũy ở mức độ thấp ít gây vấn đề cho gia súc Ngộ độc nitrate cũng có thể quan tâm với bắp xanh băm nhỏ và bắp ủ Trong điều kiện khí hậu khô hạn, hoặc bị stress, cao lương có khuynh hướng tích tụ nitrate có thể gây độc cho gia súc Nếu mức độ nitrate trong cây cao, nên ủ hoặc kết hợp với các loại thức ăn khác để giảm lượng nitrate sử dụng

Bón đạm quá cao sẽ làm gia tăng khả năng gây độc của HCN nhiều hơn cũng như ngộ độc nitrate, cây có màu xanh đậm thường chứa mức độ acid cao

Một vài loại cao lương hạt, cao lương, hoặc sudan lai gây độc cho ngựa chưa rõ nguyên nhân

Trang 29

2.6 Nhu cầu thức ăn cho bò

Bảng 5: Sức sản xuất của bò đực tơ và bò cái tơ khi cho ăn thức ăn từ 4 loại cỏ

Lượng thức ăn trung bình cho ăn mỗi ngày (pound)*

Cấu tạo hàm răng bò chỉ cho phép gặm không dưới 22mm Bò gặm cỏ

có hiệu xuất cao nhất khi cỏ có độ cao 12-18cm (Craplet, 1963) Nhưng theo Voisin, đồng cỏ lâu năm bò gặm có hiệu suất nhất ở độ cao 18cm, còn đồng cỏ tạm thời độ cao thích hợp là 20cm Bò thường di chuyển nhiều, ăn đồng đều cả cỏ già lẫn cỏ non, nhưng ăn không sát Trung bình mỗi ngày có thể cho một con bò

ăn khoảng 30-35 kg cỏ (1/10 trọng lượng của con bò) (Phùng Quốc Quảng, 2002)

Trang 30

Chương 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Phương tiện thí nghiệm

- Chậu: 61 chậu, đường kính 32 cm

- Giống: 8 giống nhận từ trung tâm nghiên cứu ICRISAT (International Crops Research Institurte the semi-Arid Tropics) và 1 giống đối chứng đối chứng thu thập ở Phú tân

Bảng 6: Danh sách giống cao lương thí nghiệm

Thứ tự Số thứ tự trong danh sách gốc Nguồn gốc Ghi chú

Thước, kéo, bọc nilon, dao, …

- Tủ sấy, cốc sứ đựng mẫu, bình hút ẩm, cân điện tử, bộ Kjeldahl

3.1.1 Địa điểm và thời gian thí nghiệm

Thí nghiệm được thực hiện tại khoa nông nghiệp – TNTN, khu B trường đại học An giang từ tháng 04.2004-02.2005

3.1.2 Phương pháp canh tác

- Chuẩn bị đất: đất được băm nhỏ, trộn với phân hữu cơ theo tỉ lệ 3:1

- Gieo hạt: hạt gieo vào ngày 4.04.2004, dùng cọc soi lỗ sâu 2-3 cm bỏ

4 hạt/lỗ/chậu

- Phân bón: sử dụng phân theo công thức 120-60-60

Trang 31

- Thí nghiệm 2: bao gồm 4 lần lập lại: so sánh năng suất, khả năng tái sinh tại thời điểm thu hoạch, cắt cây, thu hạt và thân, đồng thời tiếp tục theo dõi tái sinh thời điểm thu hoạch.

- Vụ tơ: từ lúc gieo đến 70 ngày

- Vụ tái sinh 1: từ sau thu hoạch vụ tơ đến 70 ngày

- Vụ tái sinh 2: từ sau thu hoạch vụ tái sinh 1 đến 70 ngày

Trang 32

+ Tỷ lệ nẩy mầm: ghi nhận số cây mọc lúc 3-5 NSKG trên mỗi chậu+ Ngày trổ:

+ Ngày chín hoàn toàn

+ Chiều cao cây: 15 ngày đo 1 lần, từ 15 NSKG đến thu hoạch, đo từ mặt đất đến lá dài nhất lúc chưa trổ hoa và đo từ mặt đất đến chóp bông lúc trổ

+ Số chồi: 15 ngày đếm 1 lần, một chồi phải có từ 3 lá trở lên

+ Năng suất thân, lá: cân lúc 70 ngày và lúc thu hoạch

• Cân thân

• Cân lá

+ Năng suất hạt: tách hạt phơi khô, cân trọng lượng, đo độ ẩm hạt

Wcân x (100 - ẩm độ đo lúc cân)

Wẩm độ chuẩn 14% =

86

Wcân: trọng lượng hạt lúc cân

Trang 33

• Chuẩn bị mẫu: mẫu sau khi thu hoạch băm nhỏ, đem đi xay nhuyễn

• Xác định trọng lượng vật chứa: cốc sứ được đánh số, rửa sạch

và tráng bằng nước cất, đem sấy ở 105oC trong 2 giờ, đặt cốc vào bình hút ẩm và cân ngay có trọng lượng P1

• Cân mẫu: cân khoảng 3g mẫu (w) cho vào cốc, sấy ở 105oC ít nhất trong 4-5 giờ

• Đặt cốc mẫu trong bình hút ẩm, cân trọng lượng P2

• Sấy tiếp 30 phút ở 105oC

• Đặt cốc vào bình hút ẩm, cân trọng lượng P2’, nếu P2 – P2’ ≤0,0025g, ta có trọng lượng P2’ của cốc và mẫu ở trạng thái khô hoàn toàn

• Tính kết quả: hàm lượng nước còn lại

' 2

+ Hàm lượng protein thô lúc 70 NSKG: Phương pháp Kjeldahl là phương pháp tiêu chuẩn dùng để xác định hàm lượng nitrogen được phát hiện từ thế kỷ 18 Phương pháp gồm 3 bước:

1 Mẫu được vô cơ hóa bằng acid sulphuric đun nóng với sự có mặt của chất xúc tác nitrogen trong protein bị phân giải thành NH3

Ngày đăng: 19/02/2014, 14:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

DANH SÁCH BẢNG DANH SÁCH HÌNH - so sánh khả năng tái sinh và năng suất của 9 giốngdòng cao lương trồng trong chậu
DANH SÁCH BẢNG DANH SÁCH HÌNH (Trang 7)
2.3.1. Nguồn gốc và tình hình sản xuất cao lương trong và ngoài nước 4 2.3.2. Đặc điểm sinh học và khả năng tái sinh của cao lương5 - so sánh khả năng tái sinh và năng suất của 9 giốngdòng cao lương trồng trong chậu
2.3.1. Nguồn gốc và tình hình sản xuất cao lương trong và ngoài nước 4 2.3.2. Đặc điểm sinh học và khả năng tái sinh của cao lương5 (Trang 7)
DANH SÁCH BẢNG - so sánh khả năng tái sinh và năng suất của 9 giốngdòng cao lương trồng trong chậu
DANH SÁCH BẢNG (Trang 10)
DANH SÁCH HÌNH Hình - so sánh khả năng tái sinh và năng suất của 9 giốngdòng cao lương trồng trong chậu
nh (Trang 11)
Bảng 1: Thông tin nơng học của một số loại cỏ thích hợp điều kiện khí hậu ấm áp - so sánh khả năng tái sinh và năng suất của 9 giốngdòng cao lương trồng trong chậu
Bảng 1 Thông tin nơng học của một số loại cỏ thích hợp điều kiện khí hậu ấm áp (Trang 18)
Bảng 3: Thành phần dinh dưỡng của các loại cao lương - so sánh khả năng tái sinh và năng suất của 9 giốngdòng cao lương trồng trong chậu
Bảng 3 Thành phần dinh dưỡng của các loại cao lương (Trang 24)
Bảng 4: Chất lượng thức ăn ủ từ sudan lai (sorghum-sudangrass) so với Alfalfa - so sánh khả năng tái sinh và năng suất của 9 giốngdòng cao lương trồng trong chậu
Bảng 4 Chất lượng thức ăn ủ từ sudan lai (sorghum-sudangrass) so với Alfalfa (Trang 27)
Hình 1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm    3.2.2. Thu thập số liệu - so sánh khả năng tái sinh và năng suất của 9 giốngdòng cao lương trồng trong chậu
Hình 1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 3.2.2. Thu thập số liệu (Trang 32)
• Tình hình khí tượng thuỷ văn trong thời gian làm thí nghiệm - so sánh khả năng tái sinh và năng suất của 9 giốngdòng cao lương trồng trong chậu
nh hình khí tượng thuỷ văn trong thời gian làm thí nghiệm (Trang 37)
Bảng 10: Sự tăng trưởng chiều cao giữa các giống theo các vụ tái sin hở thời - so sánh khả năng tái sinh và năng suất của 9 giốngdòng cao lương trồng trong chậu
Bảng 10 Sự tăng trưởng chiều cao giữa các giống theo các vụ tái sin hở thời (Trang 38)
4.2. Tái sinh thời điểm 70NSKG - so sánh khả năng tái sinh và năng suất của 9 giốngdòng cao lương trồng trong chậu
4.2. Tái sinh thời điểm 70NSKG (Trang 38)
Bảng 11: Sự tăng trưởng chiều cao giữa các giống trong các vụ tái sin hở thời - so sánh khả năng tái sinh và năng suất của 9 giốngdòng cao lương trồng trong chậu
Bảng 11 Sự tăng trưởng chiều cao giữa các giống trong các vụ tái sin hở thời (Trang 39)
Bảng 12: So sánh chiều cao giữa các vụ tái sinh theo giống lúc 30 ngày - so sánh khả năng tái sinh và năng suất của 9 giốngdòng cao lương trồng trong chậu
Bảng 12 So sánh chiều cao giữa các vụ tái sinh theo giống lúc 30 ngày (Trang 40)
Bảng 18: So sánh số chồi giữa các vụ tái sinh của các giống lúc 30, 45, 60 ngày - so sánh khả năng tái sinh và năng suất của 9 giốngdòng cao lương trồng trong chậu
Bảng 18 So sánh số chồi giữa các vụ tái sinh của các giống lúc 30, 45, 60 ngày (Trang 44)
Bảng 19: Năngsuất thân, lá của các giống trong các vụ tái sinh - so sánh khả năng tái sinh và năng suất của 9 giốngdòng cao lương trồng trong chậu
Bảng 19 Năngsuất thân, lá của các giống trong các vụ tái sinh (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w