Đến ngày 10 tháng 01 năm 2012 Bộ Tài chính đã phải ban hành Quyết định số 62/QĐ-BTC về việc phê duyệt Đề án tái cấu trúc các công ty chứng khoán thểhiện sự cần thiết phải cơ cấu lại hệ t
Trang 2HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
• •
LÊ THU HẰNG
RỦI RO TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN THÀNH VIÊN
CỦA SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN HÀ NỘI
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2016
Trang 3HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
• _• _
LÊ THU HẰNG
RỦI RO TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN THÀNH VIÊN
CỦA SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN HÀ NỘI
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Đào Lê Minh
HÀ NỘI - 2016
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ là công trình nghiên cứu độc lập của tôl.Các số llệu, kết quả trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Hà Nộl, ngày 22 tháng 3 năm 2016Học vlên
Lê Thu Hằng
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu luận văn 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÀI CHÍNH VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 4
1.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 4
1.1.1 Khái niệm công ty chứng khoán 4
1.1.2 Vai trò của công ty chứng khoán 4
1.1.3 Hoạt động nghiệp vụ của công ty chứng khoán 5
1.2 RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 9
1.2.1 Quan niệm về rủi ro tài chính 9
1.2.2 Các chỉ tiêu cảnh báo dấu hiệu rủi ro tài chính 10
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng rủi ro tài chính của công ty chứng khoán 15
1.3 QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 21
1.3.1 Nguyên tắc quản trị rủi ro 22
1.3.2 Hệ thống quản trị rủi ro 23
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG RỦI RO TÀI CHÍNH VÀ QUẢN TRỊ RỦI
RO TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN THÀNH VIÊN
Trang 6CỦA SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN HÀ NỘI 31
2.1 KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN THÀNH VIÊN 31
2.1.1 Khung pháp lý đối với công ty chứng khoán 31
2.1.2 Tình hình hoạt động chung của các công ty chứng khoán thành viên 35
2.2 THỰC TRẠNG RỦI RO TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN THÀNH VIÊN 46
2.3 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN THÀNH VIÊN 59
2.4 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG RỦI RO TÀI CHÍNH VÀ NĂNG LựC QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN THÀNH VIÊN 68
2.4.1 Kết quả đạt được 68
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 71
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 77
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LựC QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN THÀNH VIÊN CỦA SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN HÀ NỘI 78
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 78
3.1.1 Mục tiêu phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam 78
3.1.2 Mục tiêu phát triển công ty chứng khoán 80
3.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN THÀNH VIÊN 81
3.2.1 Tăng cường tiềm lực vốn chủ sở hữu 81
3.2.2 Hoàn thiện mô hình tổ chức và củng cố hoạt động của công ty chứng khoán theo thông lệ quốc tế 84
3.2.3 Hoàn thiện hệ thống quản trị rủi ro 84
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ACBS Công ty TNHH chứng khoán ACB
Agresco CTCP chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Việt Nam BCTC Báo cáo tài chính
HNX Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội
HSC CTCP Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
IOSCO Tổ chức quốc tế của các ủy ban chứng khoán
NĐTNN Nhà đầu tư nước ngoài
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
QTRR Quản trị rủi ro
SBS CTCP chứng khoán Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín
SGDCK Sở Giao dịch Chứng khoán
SSI Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn
TLATTC Tỷ lệ an toàn tài chính
TTCK Thị trường chứng khoán
3.2.4 Sử dụng các công cụ đo lường rủi ro hiệu quả 89
3.2.5 Thực hiện chiến lược đa dạng hóa trong kinh doanh 94
3.2.6 Sử dụng công cụ tài chính phái sinh trong quản trị rủi ro 97
3.2.7 Nâng cao năng lực công nghệ 100
3.2.8 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 101
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ GIÁM SÁT THỊ TRƯỜNG 105
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 108
KẾT LUẬN 110
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Trang 8UBCKNN Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1 Yêu cầu về vốn pháp định cho các nghiệp vụ kinh doanh của công ty
chứng khoán 34
Bảng 2.2 Chỉ số HNXindex cao nhất, thấp nhất năm 2006 - 2014 43
Bảng 2.3 Cơ cấu doanh thu của các CTCK thành viên 2012 - 2014 46
Bảng 2.4 Cơ cấu tài sản của các CTCK thành viên 50
Bảng 2.5 Thị phần môi giới và thị phần tự doanh của HSC, VND năm 2013, 2014 tại SGDCK Hà Nội (theo giá trị giao dịch) 53
Bảng 2.6 Các chỉ tiêu tài chính theo CAMEL của HSC 54
Bảng 2.7 Các chỉ tiêu tài chính theo CAMEL của VND 54
Bảng 2.8 Khả năng sinh lời của công ty chứng khoán HSC, VND 54
Bảng 2.9 Cơ cấu doanh thu của HSC, VND năm 2012 - 2014 55
Bảng 2.10 Tình hình tài chính của một số CTCK thành viên có quy mô vốn điều lệ dưới 100 tỷ đồng tại 31/12/2014 57
Bảng 2.11 Tình hình tài chính của một số CTCK thành viên có quy mô vốn điều lệ từ 100 đến 500 tỷ đồng tại 31/12/2014 58
Trang 11DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ Blểu đồ 2.1 Số lượng công ty chứng khoán thành vlên của Sở Glao dịch Chứng
khoán Hà Nộl 2005 - 2014 37
Blểu đồ 2.2 Dlễn blến chỉ số HNXindex năm 2006 - 2015 42
Blểu đồ 2.3 Quy mô vốn điều lệ của các CTCK thành vlên tạl 31/12/2014 45
Blểu đồ 2.4 Tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu của các CTCK thành vlên 48
Blểu đồ 2.5 Phân chla các CTCK thành vlên theo tỷ lệ vốn khả dụngtạl thờl điểm 31/12/2014 49
Blểu đồ 2.6 Khả năng thanh khoản của các CTCK thành vlên 51
Blểu đồ 2.7 Mức slnh lờl của các CTCK thành vlên 52
Blểu đồ 2.8 Tỷ lệ an toàn tàl chính của HSC, VND 30/6/2012 - 30/6/2015 55
Blểu đồ 2.9 Mức lỗ lũy kế trên vốn điều lệ của các CTCK thành vlên 59
Sơ đồ 2.1 Cấu trúc thị trường tạl Sở Glao dịch Chứng khoán Hà Nộl 36
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trên thị trường chứng khoán có rất nhiều chủ thể tham gia hoạt động vớicác mục đích khác nhau: tổ chức phát hành, nhà đầu tư, tổ chức kinh doanhchứng khoán, tổ chức hỗ trợ thị trường, tổ chức quản lý giám sát thị trường.Trong đó, công ty chứng khoán là tổ chức tài chính trung gian đóng vai trò quantrọng trong quá trình hình thành và phát triển của TTCK
Trải qua khoảng thời gian diễn biến thăng trầm của thị trường chứng khoánViệt Nam, các công ty chứng khoán đã bộc lộ những rủi ro trong quá trình hoạtđộng kinh doanh đặc biệt trong những giai đoạn sụt giảm của thị trường chứngkhoán Hậu quả là vào giai đoạn thị trường chứng khoán có những biến động khólường do bất ổn của nền kinh tế trong nước và trên thế giới thì các công ty chứngkhoán đã phải chịu thua lỗ dẫn đến suy giảm vốn, gây mất an toàn cho hệ thốngtài chính Vì vậy mà vấn đề an toàn tài chính tại công ty chứng khoán cần đượcxem xét lại cùng với đó là việc quản trị rủi ro ngày càng trở nên cấp thiết đối vớitình trạng diễn biến thị trường chứng khoán Việt Nam và để đáp ứng yêu cầu xuthế hội nhập kinh tế quốc tế
Đến ngày 10 tháng 01 năm 2012 Bộ Tài chính đã phải ban hành Quyết định
số 62/QĐ-BTC về việc phê duyệt Đề án tái cấu trúc các công ty chứng khoán thểhiện sự cần thiết phải cơ cấu lại hệ thống các công ty chứng khoán Việt Nam.Mục đích tái cấu trúc công ty chứng khoán là (i) Nhằm nâng cao chất lượng hoạtđộng, năng lực tài chính, quản trị doanh nghiệp và khả năng kiểm soát rủi ro củacông ty chứng khoán; (ii) Tăng cường khả năng, hiệu quả quản lý, giám sát đốivới hoạt động công ty chứng khoán; (iii) Mở cửa thị trường dịch vụ tài chínhtheo lộ trình hội nhập đã cam kết
Với mong muốn đánh giá thực trạng rủi ro tài chính tại các công ty chứngkhoán thành viên của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội và đưa ra được giảipháp quản trị rủi ro tài chính giúp công ty chứng khoán hoạt động an toàn, hiệu
Trang 13quả tôi đã quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Rủi ro tài chính tại các công
ty chứng khoán thành viên của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội - Thực trạng
và Giải pháp'’”.
2 Mục đích nghiên cứu
Thứ nhất, làm rõ các vấn đề về mặt lý luận liên quan đến rủi ro tài chínhtrong hoạt động kinh doanh và quản trị rủi ro tài chính của công ty chứng khoán.Thứ hai, nhận diện và phân tích thực trạng rủi ro tài chính dựa trên nghiêncứu thực trạng chung của các công ty chứng khoán thành viên của Sở Giao dịchChứng khoán Hà Nội và cụ thể của một số công ty chứng khoán thành viên theocác chỉ tiêu tài chính Đồng thời tiến hành nghiên cứu thực trạng quản trị rủi rotài chính tại công ty chứng khoán thành viên hiện nay
Trên cơ sở đó, đánh giá mức độ rủi ro tài chính và tình hình thực hiện quảntrị rủi ro tài chính tại các công ty chứng khoán thành viên của Sở Giao dịchChứng khoán Hà Nội
Thứ ba, dựa trên định hướng phát triển của thị trường chứng khoán ViệtNam và công ty chứng khoán trong giai đoạn tiếp theo, kết hợp với những đánhgiá về thực trạng rủi ro tài chính và quản trị rủi ro tài chính tại các CTCK thànhviên của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội, để đề xuất các giải pháp nhằm nângcao năng lực quản trị rủi ro tài chính trong hoạt động kinh doanh của các CTCKthành viên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: những vấn đề lý luận và thực tiễn về rủi ro tài chính
và quản trị rủi ro tài chính của công ty chứng khoán
Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu thực tiễn rủi ro tài chính và quản trị rủi rotài chính tại các công ty chứng khoán là thành viên giao dịch thị trường cổ phiếuniêm yết của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội chủ yếu trong giai đoạn từ năm
2012 đến năm 2014 và định hướng đến năm 2020
Trang 144 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét,đánh giá và làm sáng tỏ các vấn đề thực tiễn, rút ra những điểm chủ yếu cầnđược giải quyết để đề xuất giải pháp, kiến nghị phù hợp với thực tiễn
Thực hiện thu thập số liệu từ các nguồn thông tin công bố của Uỷ banChứng khoán Nhà nước, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội và các công tychứng khoán thành viên
Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu so sánh,quy nạp vấn đề kết hợp sử dụng các bảng số liệu, sơ đồ và đồ thị để trình bày cácnội dung lý luận và thực tiễn
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận vănđược kết cấu gồm ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về rủi ro tài chính và quản trị rủi ro tài chính củacông ty chứng khoán
Chương 2: Thực trạng rủi ro tài chính và quản trị rủi ro tài chính tại cáccông ty chứng khoán thành viên của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội
Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro tài chính tại cáccông ty chứng khoán thành viên của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÀI CHÍNH
VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1.1 Khái niệm công ty chứng khoán
Mục tiêu của hình thành thị trường chứng khoán là thu hút vốn đầu tư dàihạn cho việc phát triển kinh tế và tạo tính thanh khoản cho các loại chứng khoán
Để hình thành và phát triển thị trường chứng khoán hiệu quả, một yếu tố khôngthể thiếu được là các chủ thể tham gia kinh doanh trên thị trường chứng khoán
Do vậy, để thúc đẩy thị trường chứng khoán hoạt động một cách có hiệu quả cầnphải có sự ra đời và hoạt động của công ty chứng khoán Công ty chứng khoán là
tổ chức tài chính trung gian hoạt động trên thị trường chứng khoán - một thịtrường có mức độ nhạy cảm cao và có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế
Công ty chứng khoán là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chứng khoán,
thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các nghiệp vụ: môi giới chứng khoán, tựdoanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứngkhoán [11]
Công ty chứng khoán thuộc loại hình kinh doanh có điều kiện, để thành lậpyêu cầu công ty chứng khoán phải đáp ứng các điều kiện do luật pháp quy định
và khi triển khai hoạt động, công ty chứng khoán phải tuân theo những nguyêntắc nhất định trong lĩnh vực chứng khoán Để được thành lập và hoạt động tạiViệt Nam, theo quy định thì công ty chứng khoán phải đáp ứng các điều kiện cơbản về cơ sở vật chất, yêu cầu về vốn điều lệ, người quản lý điều hành, ngườihành nghề chứng khoán và cơ cấu cổ đông, thành viên góp vốn sở hữu công tychứng khoán
1.1.2 Vai trò của công ty chứng khoán
Giữ vai trò là một tổ chức trung gian tài chính hoạt động trên thị trườngchứng khoán, công ty chứng khoán có đóng góp tích cực vào sự phát triển của
Trang 16thị trường.
Thứ nhất, trên thị trường sơ cấp, các công ty chứng khoán phát huy vai trò
là tổ chức trung gian giúp cho việc dẫn vốn và luân chuyển vốn trong nền kinh
tế, thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài Đồng thời công ty chứng khoáncòn thực hiện các hoạt động tư vấn, hỗ trợ phát hành và bảo lãnh phát hành chocác tổ chức phát hành chứng khoán
Thứ hai, trên thị trường thứ cấp, công ty chứng khoán thực hiện vai trò tưvấn, môi giới cho nhà đầu tư trong việc ra quyết định đầu tư chứng khoán Trên
cơ sở đầu tư về hệ thống công nghệ thông tin, mạng lưới cung cấp dịch vụ vàđưa ra các sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ, công ty chứng khoán thu hút được ngàycàng tăng số lượng nhà đầu tư tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán Bêncạnh đó, thông qua nghiệp vụ tự doanh chứng khoán, công ty chứng khoán tạotính thanh khoản cho chứng khoán giao dịch trên thị trường
1.1.3 Hoạt động nghiệp vụ của công ty chứng khoán
1.1.3.1 Môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là việc công ty chứng khoán làm trung gian thựchiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng [36]
Nghiệp vụ môi giới chứng khoán là nghiệp vụ căn bản của công ty chứngkhoán, giúp khách hàng thực hiện giao dịch chứng khoán theo yêu cầu và vì lợiích của khách hàng Trong hoạt động môi giới chứng khoán, công ty chứngkhoán tiến hành giao dịch cho khách hàng và khách hàng sẽ phải chịu tráchnhiệm đối với kết quả giao dịch đó Công ty chứng khoán thực hiện giao dịchtheo lệnh của khách hàng nhằm mục đích để hưởng phí môi giới Hơn nữa, hoạtđộng môi giới chứng khoán còn tạo một cơ sở khách hàng quan trọng cho công
ty chứng khoán từ đó công ty có khả năng mở rộng cung cấp các dịch vụ hỗ trợcho khách hàng
1.1.3.2 Tự doanh chứng khoán
Tự doanh chứng khoán là việc công ty chứng khoán mua hoặc bán chứng
Trang 17khoán cho chính mình [35].
Mục đích của hoạt động tự doanh:
- Dự trữ đảm bảo khả năng thanh toán: công ty chứng khoán khi thực hiệnhoạt động tự doanh sẽ tạo cho công ty một nguồn dự trữ chứng khoán
- Là một hoạt động kinh doanh đầu tư: hoạt động tự doanh đem lại chocông ty chứng khoán các khoản lợi tức đến từ các khoản đầu tư (cổ tức, trái tức)
và phần chênh lệch giá
Đối với hoạt động tự doanh, công ty phải tự chịu trách nhiệm với quyếtđịnh mua bán chứng khoán, được hưởng lợi nhuận cũng như gánh chịu rủi ro từquyết định đầu tư
1.1.3.3 Bảo lãnh phát hành chứng khoán
Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc tổ chức bảo lãnh phát hành (công
ty chứng khoán) cam kết với tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khichào bán chứng khoán, nhận mua một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổchức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phốihết của tổ chức phát hành hoặc hỗ trợ tổ chức phát hành phân phối chứng khoán
ra công chúng [16]
Thông qua hoạt động bảo lãnh phát hành, tổ chức bảo lãnh sẽ giúp nâng caokhả năng thành công của đợt phát hành chứng khoán hơn so với việc tổ chứcphát hành tự thực hiện phát hành thì sẽ chịu rủi ro không phát hành được lượng
cổ phiếu cần thiết dẫn đến đợt phát hành có thể bị hủy bỏ và rủi ro sẽ không có
sự chia sẻ giữa tổ chức phát hành và tổ chức bảo lãnh phát hành
Bảo lãnh phát hành được thực hiện theo các hình thức sau:
- Bảo lãnh theo phương thức cam kết chắc chắn: là hình thức mà tổ chứcbảo lãnh phát hành nhận mua toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bánlại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết Trường hợp này
tổ chức bảo lãnh sẽ chịu rủi ro không phân phối hết chứng khoán trên thị trường
- Bảo lãnh với cố gắng tối đa: là hình thức mà tổ chức bảo lãnh phát hành
Trang 18hỗ trợ tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán racông chúng và hỗ trợ tổ chức phát hành trong việc phân phối chứng khoán racông chúng Tổ chức bảo lãnh phát hành chỉ đóng vai trò phân phối và không cótrách nhiệm với phần chứng khoán không bán hết.
- Ngoài ra, còn có các hình thức khác trên cơ sở hợp đồng giữa tổ chức pháthành và tổ chức bảo lãnh phát hành Do xuất phát từ những nhu cầu thực tế phátsinh trong các đợt phát hành của các doanh nghiệp nên đã hình thành thêmnhững phương thức phát hành khác
1.1.3.4 Tư vấn đầu tư chứng khoán
Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc công ty chứng khoán cung cấp cho nhàđầu tư kết quả phân tích, công bố báo cáo phân tích và khuyến nghị liên quanđến chứng khoán [36]
Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán giúp các nhà đầu tư cá nhân, tổ chức
có được những thông tin phân tích đáng tin cậy nhằm đưa ra quyết định đầu tưtrên thị trường chứng khoán Với việc cung cấp các sản phẩm nghiên cứu chuyênnghiệp, độc lập và đa dạng mang lại cho công ty chứng khoán nguồn thu nhập từhoạt động tư vấn
1.1.3.5 Hoạt động tư vấn tài chính
Công ty chứng khoán được thực hiện tư vấn tài chính, bao gồm [11]:
- Tư vấn tái cơ cấu, sáp nhập, hợp nhất, tổ chức lại, mua bán doanh nghiệp
- Tư vấn quản trị, tư vấn chiến lược doanh nghiệp
- Tư vấn chào bán, niêm yết chứng khoán
- Tư vấn cổ phần hóa, xác định giá trị doanh nghiệp
- Tư vấn tài chính khác phù hợp với quy định pháp luật
Hoạt động tư vấn tài chính nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc thựchiện cổ phần hóa doanh nghiệp, niêm yết chứng khoán trên Sở Giao dịch Chứngkhoán, cơ cấu lại hoạt động của doanh nghiệp, tư vấn về nâng cao hiệu quả hoạtđộng quản trị doanh nghiệp
Trang 191.1.3.6 Giao dịch ký quỹ chứng khoán
Giao dịch mua ký quỹ chứng khoán (margin) là giao dịch mua chứng khoáncủa khách hàng có sử dụng tiền vay của công ty chứng khoán và sử dụng cácchứng khoán khác có trong tài khoản và chứng khoán mua được bằng tiền vay đểcầm cố [9]
Nghiệp vụ ký quỹ chứng khoán là nghiệp vụ hỗ trợ vốn cho nhà đầu tư, mộttrong những đòn bẩy tài chính khá mạnh kích thích thị trường chứng khoán pháttriển Nhưng rủi ro lớn nhất của các công ty chứng khoán khi thực hiện nghiệp
vụ này là không có khả năng thu hồi số tiền gốc đã cho nhà đầu tư vay, tức phátsinh nợ xấu Tuy nhiên, nghiệp vụ này lại tạo ra một nguồn doanh thu không nhỏcho công ty chứng khoán (bao gồm cả doanh thu môi giới và lãi cho vay) Do đó,
để đạt được doanh thu như mong muốn mà vẫn đảm bảo an toàn tài chính chocông ty phụ thuộc rất lớn vào hệ thống quản lý rủi ro của công ty như cơ chế chovay, hệ thống giám sát các khoản vay
1.1.3.7 Lưu ký chứng khoán
Lưu ký chứng khoán là việc nhận ký gửi, bảo quản, chuyển giao chứngkhoán cho khách hàng, giúp khách hàng thực hiện các quyền liên quan đến sởhữu chứng khoán [35]
Nghiệp vụ lưu ký chứng khoán hỗ trợ khách hàng bằng việc tránh rủi rocho khách hàng khi tự lưu giữ chứng khoán, giúp khách hàng nhanh chóng nhậnđược mọi quyền lợi về chứng khoán
Công ty chứng khoán phối hợp với Trung tâm Lưu ký Chứng khoán cungcấp dịch vụ lưu giữ, bảo quản chứng khoán của khách hàng, làm thủ tục chuyểnchứng khoán vào tài khoản giao dịch chứng khoán, giúp khách hàng dễ dàngthực hiện giao dịch và nhận đầy đủ mọi quyền lợi liên quan của chứng khoán
1.1.3.8 Dịch vụ ủy thác quản lý tài khoản
Ủy thác quản lý tài khoản là việc công ty chứng khoán thực hiện việc quản
lý tài khoản giao dịch chứng khoán theo yêu cầu của khách hàng [35]
Trang 20Ủy thác quản lý tài khoản là một dịch vụ đem lại cho khách hàng những lợiích, đó là giúp các khách hàng không có thời gian bám sát thị trường mà vẫn cóthể đầu tư hiệu quả vào thị trường chứng khoán; được làm việc với nhữngchuyên gia tư vấn đầu tư được đào tạo chuyên sâu, có nhiều năm kinh nghiệmthực tế trên thị trường; đem đến cơ hội cho những nhà đầu tư chưa có nhiều kinhnghiệm.
Theo quy định thì công ty chứng khoán được cấp phép thực hiện đồng thờinghiệp vụ môi giới chứng khoán và tư vấn đầu tư chứng khoán được nhận ủythác quản lý tài khoản giao dịch chứng khoán trên cơ sở hợp đồng ủy thác quản
lý tài khoản giao dịch chứng khoán ký với khách hàng là cá nhân [11]
1.2 RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.2.1 Quan niệm về rủi ro tài chính
Rủi ro là các sự kiện không chắc chắn có thể xảy ra trong hoạt động kinh
doanh, gây ảnh hưởng bất lợi đến việc thực hiện mục tiêu kinh doanh của công
ty chứng khoán [48] Công ty chứng khoán dễ bị tổn thất do nhiều loại rủi ro,ảnh hưởng đến công ty về mặt tài chính và/hoặc phi tài chính
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, công ty chứng khoán phải đối mặtvới nhiều rủi ro dẫn đến thu nhập ròng và giá trị tài sản ròng của công ty chứngkhoán bị suy giảm, làm giảm năng lực tài chính của công ty chứng khoán
Rủi ro tài chính được hiểu là khả năng xảy ra tổn thất/thiệt hại về thu nhập
hoặc vốn của công ty chứng khoán, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình tài chính vàkhả năng hoạt động liên tục của CTCK Theo cách hiểu này thì rủi ro tài chínhbao gồm các rủi ro trọng yếu sau: rủi ro thị trường, rủi ro thanh toán, rủi ro thanhkhoản, rủi ro hoạt động và rủi ro pháp lý
- Rủi ro thị trường là rủi ro làm thay đổi các giá trị tài sản đang sở hữu theochiều hướng bất lợi
- Rủi ro thanh toán là rủi ro xảy ra khi đối tác không thể thanh toán đúnghạn hoặc không thể chuyển giao tài sản đúng hạn như cam kết
Trang 21- Rủi ro thanh khoản là rủi ro xảy ra khi công ty chứng khoán không thểthanh toán các nghĩa vụ tài chính đến hạn hoặc không thể chuyển đổi các công
cụ tài chính thành tiền mặt với giá trị hợp lý trong ngắn hạn do thiếu hụt thanhkhoản trong thị trường
- Rủi ro hoạt động là rủi ro xảy ra do lỗi kỹ thuật, lỗi hệ thống và quy trìnhnghiệp vụ, lỗi con người trong quá trình tác nghiệp, hoặc do thiếu vốn kinhdoanh phát sinh từ các khoản chi phí, lỗ từ hoạt động đầu tư, hoặc do các nguyênnhân khách quan khác
- Rủi ro pháp lý là rủi ro phát sinh từ việc không tuân thủ các quy định pháp
lý liên quan đến hoạt động kinh doanh, và từ việc hủy bỏ hợp đồng do hợp đồngbất hợp pháp, vượt quá quyền hạn, thiếu sót các điều khoản hoặc chưa hoànthiện các tiêu chuẩn, hoặc do các nguyên nhân khác
1.2.2 Các chỉ tiêu cảnh báo dấu hiệu rủi ro tài chính
Hệ thống chỉ tiêu CAMEL là cách thức đo lường tình hình hoạt động kinhdoanh tổng thể của một công ty chứng khoán bao gồm các nội dung: Mức độ đủvốn (C), Chất lượng tài sản (A), Chất lượng quản trị (M), Khả năng sinh lời (E)
và Chất lượng thanh khoản (L) Bộ chỉ tiêu CAMEL chia thành hai nhóm yếu tố:nhóm các chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu quản trị [47]
Nhằm nghiên cứu đánh giá được thực trạng rủi ro tài chính tại các công tychứng khoán thành viên của SGDCK Hà Nội, thì luận văn thông qua đánh giácác yếu tố thuộc về tài chính bao gồm: Mức độ đủ vốn (C), Chất lượng tài sản(A), Khả năng sinh lời (E) và Chất lượng thanh khoản (L)
1.2.2.1 Mức độ đủ vốn
Mức độ an toàn vốn được hiểu là công ty chứng khoán có đủ vốn tự có đểlàm nền tảng cho sự tăng trưởng, giúp CTCK chống lại rủi ro Công ty cần đánhgiá khả năng tự tài trợ vốn, mức độ nguồn vốn chủ sở hữu đáp ứng quy định vềvốn pháp định và khả năng dùng vốn chủ sở hữu để bù đắp rủi ro Những chỉ tiêuđược sử dụng để xác định mức độ đủ vốn của công ty:
Trang 22xảy ra do lỗi kỹ thuật, lỗi hệ thống và quy trình nghiệp vụ, lỗi con người trong
quá trình tác nghiệp, hoặc do thiếu vốn kinh doanh phát sinh từ các khoản chiphí, lỗ từ hoạt động đầu tư, hoặc do các nguyên nhân khách quan khác
(*): Không bao gồm tiền gửi giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư
Ý nghĩa: Chỉ tiêu cho biết trong tổng tài sản của công ty chứng khoán thìđược tài trợ bao nhiêu từ vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu càng lớn phản ánh mức độ độclập về mặt tài chính của công ty càng cao
Tổng giá trị rủi ro
Tỷ lệ vốn khả dụng là tỷ lệ phần trăm giữa giá trị vốn khả dụng và tổng giátrị rủi ro Tỷ lệ vốn khả dụng cho biết khả năng bù đắp các rủi ro của công ty từnguồn vốn khả dụng
+ Giá trị rủi ro thanh toán là giá trị tương ứng vứi mức độ tổn thất có thểxảy ra khi đối tác không thể thanh toán đúng hạn hoặc chuyển giao tài sản đúng
C4
Trang 23khoán, tỷ lệ càng cao cho thấy mức độ ăn mòn vốn điều lệ của công ty càng lớn.
1.2.2.1 Chất lượng tài sản
Đánh giá chất lượng tài sản tập trung vào việc đánh giá mức độ an toàn củatài sản thể hiện ở cơ cấu tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn, các khoản đầu tư vàphải thu trong tổng tài sản, tỷ trọng tài sản sau khi điều chỉnh rủi ro trên tổng tàisản, mức trích lập dự phòng cho các khoản đầu tư và phải thu của công ty Mụcđích xem xét chủ yếu tài sản của công ty chứng khoán nằm ở khoản mục nào, vàmức độ rủi ro của các tài sản mà công ty chứng khoán nắm giữ
> Chỉ tiêu thứ nhất:
Giá trị tổng tài sản sau khi điều chỉnh rủi ro (**)
Tổng tài sản (không bao gôm tài sản cố định)
Dự phòngĐầu tư ngắn hạn + Đầu tư dài hạn + Phải thu
Ý nghĩa: Phản ánh mức trích lập dự phòng rủi ro cho các khoản đầu tư ngắn
(**): Tài sản sau khi điều chỉnh rủi ro là Tổng tài sản (không bao gôm tàisản cố định) - Tổng giá trị rủi ro tiềm ẩn trong các hạng mục tài sản
Ý nghĩa: Phản ánh tỷ trọng tài sản an toàn trong tổng tài sản của công ty
Tỷ lệ cao cho thấy công ty nắm giữ chủ yếu là các tài sản có mức độ rủi ro thấp
> Chỉ tiêu thứ hai:
A1
A 2
Trang 25Lợi nhuận sau thuế
E2 (ROE) = w ⅜ , , , u ~ ʌ
Von chủ sở hữu bình quân
Ý nghĩa: phản ánh một đồng vốn chủ sở hữu đưa vào kinh doanh đem lạibao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế, chỉ tiêu cao phản ánh sức sinh lợi trên vốnchủ sở hữu cao
hạn, đầu tư dài hạn và phải thu Chất lượng tài sản thấp là hệ quả của việc giảmsút chất lượng các khoản tín dụng khách hàng hay giảm giá trị trong đầu tư, điềunày được biểu hiện thông qua khoản trích lập dự phòng thua lỗ Chỉ tiêu caophản ánh công ty phải trích lập lớn cho các khoản đầu tư và phải thu có mức độrủi ro cao
1.2.2.2 Khả năng sinh lời
Khả năng tạo lợi nhuận của công ty được đánh giá là chỉ tiêu quan trọngnhất, là chỉ tiêu phản ánh tổng hợp kết quả kinh doanh của công ty chứng khoán
Thu nhập chính của công ty chứng khoán đến từ các nguồn: doanh thu hoạt độngmôi giới chứng khoán, doanh thu hoạt động đầu tư chứng khoán, góp vốn, doanhthu bảo lãnh phát hành chứng khoán, doanh thu đại lý phát hành chứng khoán,doanh thu hoạt động tư vấn, doanh thu lưu ký chứng khoán và doanh thu khác
Sau khi trừ đi các khoản chi phí (chi phí hoạt động kinh doanh và chi phí quản lýdoanh nghiệp) sẽ hình thành nên lợi nhuận của công ty Các chỉ tiêu sinh lờicàng cao phản ánh khả năng sinh lãi của công ty càng lớn
> Chỉ tiêu thứ nhất:
Lợi nhuận sau thuế
Ý nghĩa: cho biết một đồng doanh thu từ hoạt động kinh doanh thì công ty
có được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu đánh giá mức lợi nhuận sauthuế đạt được chiếm bao nhiêu trong tổng doanh thu của công ty, chỉ tiêu cànglớn phản ánh sức sinh lợi của doanh thu càng cao
Trang 26E3 (ROA) = —rpʌ ɪ , , j , λ —
Tong tài sản bình quân
Ý nghĩa: phản ánh một đồng tài sản của công ty tạo ra bao nhiêu đồng lợinhuận sau thuế, chỉ tiêu cao phản ánh mức sinh lợi trên tong tài sản cao
1.2.2.2 Chất lượng thanh khoản
Chất lượng thanh khoản phản ánh khả năng của công ty trong việc đáp ứngcác nghĩa vụ tài chính của công ty Để đánh giá khả năng công ty chứng khoántrong việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bằng các tài sản có tính thanhkhoản cao thì công ty sử dụng hai chỉ tiêu:
(*): Không bao gồm tiền gửi giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư
Ý nghĩa: Mức độ thanh toán các khoản nợ ngắn hạn dựa trên các tài sảnngắn hạn của công ty Chỉ tiêu lớn hơn một cho thấy công ty có đủ khả năngthanh toán các khoản nợ ngắn hạn
Trang 27(*): Không bao gồm tiền gửi giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư.
Ý nghĩa: Mức độ thanh toán các khoản nợ ngắn hạn dựa trên tài sản có tính
L2
Trang 28lỏng cao nhất là các khoản tiền và tương đương tiền của công ty Chỉ tiêu caophản ánh công ty có thể dễ dàng đáp ứng được các nghĩa vụ tài chính của mình.
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng rủi ro tài chính của công ty chứng khoán
1.2.3.1 Yếu tố khách quan
- Quy định pháp luật trong lĩnh vực chứng khoán:
Khuôn khổ pháp lý đối với thị trường chứng khoán điều chỉnh hoạt động thịtrường theo yêu cầu quản lý và định hướng phát triển của Nhà nước tạo ra môitrường pháp lý chung cho hoạt động của các chủ thể tham gia thị trường Do vaitrò quan trọng trên thị trường chứng khoán cũng như mức độ rủi ro trong hoạtđộng kinh doanh nên công ty chứng khoán thuộc đối tượng chịu sự giám sát chặtchẽ bởi cơ quan quản lý nhà nước
Các quy định pháp lý đối với công ty chứng khoán bao gồm quy định vềthành lập và tổ chức của công ty chứng khoán, quản trị điều hành, giao dịchchứng khoán, quản lý tài chính, đáp ứng chỉ tiêu an toàn tài chính, quản trị rủiro Quy định về cung ứng các sản phẩm dịch vụ chứng khoán cho phép công tyđược phép thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh gì và điều kiện để được thực hiệnnghiệp vụ đó Quản lý theo hướng ngày càng hoàn thiện, chặt chẽ hơn sẽ tạo ramôi trường pháp lý an toàn cho hoạt động của công ty chứng khoán tránh chocông ty những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình hoạt động
- Mức độ phát triển của thị trường chứng khoán:
Môi trường hoạt động của công ty chứng khoán sẽ có tác động trực tiếp đếnhoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán Do là doanh nghiệp kinhdoanh trong lĩnh vực chứng khoán nên môi trường hoạt động của các công ty làthị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán là thị trường nhạy cảm bởi cácyếu tố kinh tế, chính trị, quân sự, từ đó ảnh hưởng đến giá các chứng khoángiao dịch trên thị trường, từ đó tác động đến danh mục tài sản cũng như khả nănghuy động vốn của công ty chứng khoán
Trang 29Môi trường kinh doanh luôn thay đổi, toàn cầu hóa và biến đổi của thịtrường là những thách thức lớn cho các công ty chứng khoán, tạo ra nhiều rủi rohơn cho hoạt động của các công ty chứng khoán.
- Quá trình cạnh tranh trên thị trường:
Trên thị trường chứng khoán có sự tham gia của nhiều tổ chức kinh doanhbao gồm công ty chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán, công ty quản lý quỹ,công ty quản lý tài sản Sự cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực chứng khoán đượcthể hiện ở số lượng tổ chức kinh doanh chứng khoán hoạt động trên thị trường,khả năng thu hút và mở rộng mạng lưới khách hàng, khả năng chiếm lĩnh thịphần của công ty chứng khoán so với các tổ chức kinh doanh chứng khoán kháchoặc cạnh tranh giữa các công ty chứng khoán
Quá trình cạnh tranh yêu cầu các công ty chứng khoán phải nâng cao chấtlượng dịch vụ chứng khoán để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đầu tư củanhà đầu tư cá nhân, nhà đầu tư tổ chức Nhưng có thể các công ty lại cạnh tranhtheo hướng tiêu cực nhằm tranh giành khách hàng sẽ dẫn đến rủi ro trong việccung cấp các dịch vụ tài chính cho khách hàng
1.2.3.2 Yếu tố chủ quan
- Mô hình hoạt động của công ty chứng khoán:
Hình thức pháp lý của công ty chứng khoán có ảnh hưởng đến khả nănghuy động vốn và quyết định sử dụng nguồn lực tài chính của công ty Tại ViệtNam, công ty chứng khoán được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệmhữu hạn hoặc công ty cổ phần Bên cạnh đó, mô hình công ty chứng khoán được
tổ chức chuyên doanh hay đa năng cũng tác động đến hoạt động của công ty TạiViệt Nam, mô hình tổ chức của công ty chứng khoán là theo mô hình chuyêndoanh hoặc đa năng một phần
Với mô hình công ty chuyên doanh chứng khoán: là mô hình mà chủ thểpháp nhân chỉ hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán, hoàn toàn độclập với các hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
Trang 30Với mô hình công ty đa năng kinh doanh tiền tệ và chứng khoán: công tychứng khoán được tổ chức dưới hình thức một tổ hợp dịch vụ tài chính tổng hợpbao gồm kinh doanh chứng khoán, kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ tài chính.Theo đó, các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là chủ thể kinh doanhchứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ Mô hình này được biểu hiện dướihai hình thức sau:
Loại đa năng một phần: theo mô hình này các ngân hàng muốn kinh doanh
chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm phải thành lập công ty con hạch toán độc lập
và hoạt động tách rời với hoạt động kinh doanh tiền tệ
Loại đa năng hoàn toàn: các ngân hàng được phép trực tiếp kinh doanh
chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ cũng như các dịch vụtài chính khác
Do tồn tại nhiều mô hình pháp lý công ty khác nhau tại Việt Nam bao gồm
có công ty TNHH trực thuộc các ngân hàng thương mại, tập đoàn, tổng công ty,
mô hình công ty cổ phần riêng lẻ, mô hình công ty đại chúng niêm yết và chưaniêm yết nên vấn đề tổ chức quản lý, mức độ quản trị khác nhau và từ đó ảnhhưởng đến mức độ rủi ro tài chính của công ty
- Các sản phẩm, dịch vụ của công ty chứng khoán:
Quy mô vốn sẽ quyết định đến mức độ thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh(đầy đủ hoặc chỉ thực hiện một số nghiệp vụ) Để thực hiện các nghiệp vụ: môigiới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán và tưvấn đầu tư chứng khoán công ty cần phải đảm bảo lượng vốn điều lệ nhất địnhtheo quy định của pháp luật do rủi ro của việc thực hiện nghiệp vụ đó mang lạicho công ty chứng khoán Đây là các nghiệp vụ kinh doanh trong lĩnh vực chứngkhoán, với mỗi nghiệp vụ lại chứa đựng những rủi ro nhất định
Công ty chứng khoán có xu hướng mở rộng sản phẩm, dịch vụ chứngkhoán nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng Việc mở rộng cáchoạt động kinh doanh có thể đem lại cho công ty chứng khoán nhiều nguồn thu
Trang 31nhập nhưng cũng gia tăng rủi ro khi thực hiện thêm các hoạt động kinh doanhmới Quy mô thực hiện các nghiệp vụ càng lớn, càng phức tạp thì rủi ro mà công
ty phải đối mặt càng cao
Đối với sản phẩm nhằm hỗ trợ nhà đầu tư kinh doanh chứng khoán nhưthực hiện các dịch vụ hỗ trợ tài chính: cho vay ký quỹ chứng khoán, ứng trướctiền bán chứng khoán, repo chứng khoán, là hoạt động mang tính rủi ro cao.Việc mở rộng sang các hoạt động ngân hàng đầu tư bao gồm dịch vụ tư vấn pháthành trái phiếu/trái phiếu chuyển đổi, tư vấn phát hành cổ phiếu riêng lẻ và pháthành ra công chúng, tư vấn cổ phần hóa, tư vấn niêm yết, tư vấn mua bán sápnhập cũng sẽ ảnh hưởng đến rủi ro trong hoạt động của công ty chứng khoán
- Mạng lưới hoạt động của công ty chứng khoán:
Bên cạnh trụ sở chính, công ty chứng khoán có xu hướng mở rộng chinhánh kinh doanh nhằm thu hút thêm số lượng nhà đầu tư Nhưng cùng với việcphạm vi hoạt động của công ty chứng khoán mở rộng và phân tán theo khu vựcđịa lý là việc khó kiểm soát được hoạt động của từng chi nhánh cũng như ảnhhưởng đến khả năng quản lý và kiểm soát rủi ro của toàn bộ công ty
- Nguồn vốn hoạt động của công ty:
Để thành lập và hoạt động, công ty chứng khoán cần có vốn phục vụ chohoạt động kinh doanh Công ty chứng khoán phải đảm bảo một lượng vốn điều
lệ nhất định được thực hiện bởi chủ sở hữu công ty Rủi ro tài chính đến từ việccông ty không có một cơ cấu vốn hợp lý:
+ Mức độ rủi ro của công ty chứng khoán phụ thuộc vào việc công ty chủyếu sử dụng nguồn vốn vay nợ hay nguồn vốn chủ sở hữu để đáp ứng nhu cầuhoạt động kinh doanh của công ty Mức độ đảm bảo vốn hoạt động của công tychủ yếu được tạo nên từ nguồn vốn chủ sở hữu sẽ tạo nền tảng vững chắc hơn sovới việc bị phụ thuộc vào các nguồn vốn vay nợ
+ Nguồn tài trợ vốn của công ty được đa dạng hóa hay tập trung vào một số
ít nhà cung cấp vốn có ảnh hưởng
Trang 32- Quyết định về cơ cấu danh mục tài sản:
Danh mục tài sản của công ty chứng khoán bao gồm các khoản mục chủyếu: tiền và các khoản tương đương tiền, đầu tư tài chính ngắn hạn, khoản phảithu ngắn hạn, tài sản cố định, các khoản phải thu dài hạn, đầu tư tài chính dàihạn Căn cứ vào thời hạn, tài sản của công ty chứng khoán có thể chia thành haidạng: tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn Căn cứ vào mức độ rủi ro, công ty nắmgiữ tài sản có rủi ro thấp giúp công ty chứng khoán có khả năng đáp ứng cácnghĩa vụ tài chính phát sinh và tài sản có rủi ro cao, kỳ vọng sinh lời cao nhưngkhả năng thanh khoản thấp Đặc biệt khi mà công ty chứng khoán nắm giữ mộtdanh mục đầu tư bao gồm các chứng khoán có rủi ro cao như chứng khoán chưađược niêm yết, của các tổ chức phát hành có năng lực tài chính kém
Chất lượng tài sản phản ánh hoạt động sử dụng vốn của công ty, trong đómục tiêu công ty là đảm bảo khả năng dự trữ thanh khoản, các khoản sinh lời(hoạt động đầu tư tài chính, hoạt động tín dụng của công ty) và đầu tư đảm bảo
cơ sở vật chất kỹ thuật
Vì vậy các quyết định về đầu tư của mỗi công ty ảnh hưởng đến mức độ rủi
ro của tài sản mà công ty nắm giữ
- Bất cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản và nợ:
Liên quan đến cơ cấu tài trợ của công ty được thể hiện ở việc công ty sửdụng chủ yếu nguồn vốn dài hạn hay ngắn hạn tài trợ cho hoạt động kinh doanh
sẽ gây ra rủi ro trong cơ cấu tài trợ của công ty chứng khoán Công ty chứngkhoán có thể rơi vào trạng thái thanh khoản thiếu hụt nếu công ty duy trì sự bấtcân xứng lớn về kỳ hạn giữa tài sản và nợ phải trả, thời hạn của tài sản dài hơn
so với các khoản nợ
Khả năng thanh toán của công ty được xem xét dựa trên khả năng công tydùng các tài sản ngắn hạn để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn, lượng tiền vàtương đương tiền của công ty chứng khoán đáp ứng được việc thanh toán cáckhoản nợ đến hạn
Trang 33- Năng lực quản trị điều hành của Ban lãnh đạo:
Người điều hành là người định hướng hoạt động cho công ty, xác địnhchiến lược kinh doanh Có thể khẳng định hướng đi của mỗi công ty chứngkhoán phụ thuộc vào định hướng điều hành của ban lãnh đạo Một công ty chứngkhoán được đặt dưới sự điều hành của ban lãnh đạo có trình độ, năng lực quản trịđiều hành cũng như có phẩm chất đạo đức sẽ tạo nên một doanh nghiệp hoạtđộng lành mạnh Nhưng sự mạo hiểm, thiếu hiểu biết về lĩnh vực chứng khoán
sẽ tạo nên các hoạt động đầu cơ ảnh hưởng xấu đến tình hình hoạt động kinhdoanh, gây mất an toàn tài chính
- Trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của nhân viên:
Một vấn đề quan trọng trong hoạt động kinh doanh đó là năng lực và đạođức nghề nghiệp của nhân viên trong công ty Nhân viên đóng vai trò là ngườithực hiện các hoạt động nghiệp vụ trong công ty chứng khoán Năng lực chuyênmôn cũng như đạo đức nghề nghiệp của nhân viên có ảnh hưởng đến khả năngcông ty hoàn thành mục tiêu kinh doanh hay phát sinh các rủi ro trong quá trìnhtác nghiệp Công ty cần có những đánh giá về trình độ chuyên môn đáp ứng theoyêu cầu, đạo đức nghề nghiệp có ảnh hưởng đến năng lực hoạt động của công ty,đảm bảo đáp ứng yêu cầu phát triển của công ty
- Yếu tố công nghệ:
Năng lực công nghệ của công ty chứng khoán được đánh giá thông quamức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản trị và kinh doanhcủa công ty nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, khả năng cung cấp cũng nhưchất lượng các sản phẩm, dịch vụ chứng khoán và từ đó gia tăng lợi nhuận chocông ty Nhưng việc công ty không đảm bảo duy trì được hạ tầng công nghệ đápứng được yêu cầu thì lại tạo ra rủi ro cho hoạt động của công ty chứng khoán
- Hệ thống quản trị rủi ro:
Kinh doanh chứng khoán là lĩnh vực hoạt động rất nhạy cảm với sự biếnđộng của thị trường chứng khoán và chứa đựng nhiều loại rủi ro Rủi ro trong
Trang 34hoạt động kinh doanh chứng khoán có thể dẫn đến những ảnh hưởng về mặt tàichính, danh tiếng (ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu thể hiện ở việc làm suygiảm lòng tin của khách hàng, sự tin cậy của các bên liên quan) đối với công ty.Quản trị rủi ro trong lĩnh vực chứng khoán có vai trò quan trọng để bảođảm cho các công ty chứng khoán hoạt động hiệu quả, hạn chế rủi ro tiềm tàngtrước những thay đổi của môi trường kinh doanh Công ty phải xây dựng một hệthống quản trị rủi ro phù hợp để kiểm soát rủi ro tài chính có thể xảy ra Bản chấtcủa hoạt động quản trị rủi ro tài chính là giúp công ty xác định và cảnh báo sớmcác loại rủi ro có thể xảy ra đối với thu nhập/vốn của công ty từ đó đưa ra cácbiện pháp phòng hộ và xử lý kịp thời nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cựcđến an toàn tài chính của công ty.
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước yêu cầu bắt buộc các công ty chứng khoánphải thiết lập và vận hành hệ thống quản trị rủi ro phù hợp với điều kiện hoạtđộng kinh doanh của công ty đảm bảo rủi ro phải được quản lý Công ty chứngkhoán cần thiết lập quy trình quản trị rủi ro ít nhất xử lý năm loại rủi ro trọngyếu có ảnh hưởng lớn đến an toàn tài chính: rủi ro thị trường, rủi ro thanh toán,rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động và rủi ro pháp lý
1.3 QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
Quản trị rủi ro là các hoạt động được thực hiện để định hướng và kiểm soátmột công ty về mặt rủi ro Quản trị rủi ro tài chính là việc công ty chứng khoánxem xét đánh giá toàn diện các hoạt động kinh doanh để nhận biết những nguy
cơ tiềm ẩn tác động xấu đến thu nhập hoặc vốn của công ty, trên cơ sở đó sẽ đưa
ra các giải pháp ứng phó, phòng ngừa phù hợp với từng nguy cơ
Đề tài tiếp cận việc quản trị rủi ro tài chính dựa trên khả năng công tychứng khoán quản trị được những rủi ro trọng yếu có ảnh hưởng lớn đến công ty
về mặt tài chính Mức độ trọng yếu của một rủi ro hoặc một hoạt động phụ thuộcvào mức độ tác động tại hiện tại hoặc tương lai của nó đối với thu nhập hoặc vốncủa công ty
Trang 35Sự cần thiết Quản trị rủi ro tài chính đối với CTCK:
Thứ nhất, quản trị rủi ro là yêu cầu mang tính bắt buộc được đặt ra đối vớicông ty chứng khoán theo quy định của pháp luật, cũng như yêu cầu quản trịdoanh nghiệp hiện đại và có vai trò trung tâm trong hoạt động quản trị công tychứng khoán
Thứ hai, việc thiết lập và duy trì hệ thống quản trị rủi ro tài chính nhằmđảm bảo ngăn ngừa các rủi ro một cách hiệu quả giúp công ty chứng khoán hạnchế những tổn thất về tài chính, đảm bảo an toàn tài chính
Thứ ba, do là một định chế tài chính trung gian quan trọng nên việc khôngkiểm soát được rủi ro, sẽ dẫn đến những tổn thất về vốn vượt quá khả năng chịuđựng của CTCK từ đó tác động tiêu cực đến hoạt động TTCK
1.3.1 Nguyên tắc quản trị rủi ro
Ngày 26 tháng 2 năm 2013, Chủ tịch UBCKNN ban hành Quyết định số105/QĐ-UBCK về Quy chế hướng dẫn thiết lập hệ thống và thực hiện quản trịrủi ro cho công ty chứng khoán Quy chế ra đời nhằm chuẩn hóa và phổ biến cácnguyên tắc chung mà tất cả các công ty chứng khoán phải tuân thủ Theo quyđịnh của Quy chế, các công ty chứng khoán phải triển khai: (i) tổ chức bộ máyquản trị rủi ro, (ii) ban hành chính sách rủi ro, (iii) phát triển và thực hiện cácquy trình nội bộ liên quan đến hoạt động quản trị rủi ro tối thiểu đáp ứng cácnguyên tắc sau:
- Công ty phải ban hành và triển khai đầy đủ chính sách, quy trình quản trịrủi ro và các hạn mức rủi ro, thiết lập hoạt động thông tin quản trị rủi ro phù hợp
- Hệ thống quản trị rủi ro được thiết lập phải đảm bảo công ty chứng khoán
có khả năng xác định rủi ro, đo lường rủi ro, theo dõi rủi ro, báo cáo rủi ro, và xử
lý một cách hiệu quả các rủi ro trọng yếu đồng thời đáp ứng đầy đủ các nghĩa vụtuân thủ của mình tại mọi thời điểm Theo hướng dẫn của Ủy ban Chứng khoánNhà nước thì công ty chứng khoán cần quản trị được những rủi ro sau: rủi ro thịtrường, rủi ro thanh toán, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động và rủi ro pháp lý
Trang 36- Công ty chứng khoán phải đảm bảo công tác quản trị rủi ro được thựchiện độc lập, khách quan, trung thực, thống nhất và phải được thể hiện bằng vănbản.
- Công ty chứng khoán phải đảm bảo các bộ phận tác nghiệp và bộ phậnquản trị rủi ro được tổ chức tách biệt và độc lập với nhau, và người phụ trách bộphận tác nghiệp không đồng thời phụ trách bộ phận quản trị rủi ro và ngược lại
1.3.2 Hệ thống quản trị rủi ro
• Cơ cấu quản trị rủi ro:
Theo hướng dẫn của Quyết định số 105/QĐ-UBCK thì công ty chứngkhoán phải thiết lập một cơ cấu tổ chức quản trị rủi ro hoàn chỉnh
Thứ nhất, hệ thống quản trị rủi ro phải có sự giám sát của Ban Kiểm soát.Thứ hai, Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc chủ sở hữu công
ty tiến hành rà soát và phê duyệt định kỳ hàng năm các chính sách, hạn mức rủiro; chỉ đạo xử lý kịp thời các tồn tại trong công tác quản trị rủi ro trên cơ sở cácbáo cáo của Tổng Giám đốc (Giám đốc), bộ phận quản trị rủi ro và các bộ phậnkhác có liên quan đến hoạt động quản trị rủi ro; kiểm tra, đánh giá đầy đủ tínhhiệu quả và hiệu lực của bộ phận quản trị rủi ro
Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc chủ sở hữu công ty chứngkhoán phải thành lập Tiểu ban Quản trị rủi ro hoặc cử thành viên phụ trách để hỗtrợ HĐQT hoặc Hội đồng thành viên hoặc chủ sở hữu công ty trong hoạt độngquản trị rủi ro
Thứ ba, Tổng Giám đốc (Giám đốc) chịu trách nhiệm trước Hội đồng quảntrị hoặc Hội đồng thành viên hoặc chủ sở hữu công ty trong việc triển khai chínhsách rủi ro và hạn mức rủi ro đã được Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thànhviên hoặc chủ sở hữu công ty phê duyệt
Tổng Giám đốc (Giám đốc) thực hiện nhiệm vụ xây dựng chính sách rủi ro
và hạn mức rủi ro trình Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc chủ sởhữu công ty chứng khoán phê duyệt; xây dựng các tiêu chuẩn quản trị rủi ro;
Trang 37định kỳ hàng quý phải báo cáo Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặcchủ sở hữu công ty việc triển khai thực hiện quản trị rủi ro, đánh giá tính phùhợp của chính sách rủi ro, hạn mức rủi ro, quy trình quản trị rủi ro; đảm bảo hệthống quản trị rủi ro được hiểu và vận hành thống nhất từ trên xuống dưới trongcông ty phù hợp với chính sách rủi ro và hạn mức rủi ro; xây dựng và triển khaicác quy trình xử lý rủi ro phù hợp với chính sách rủi ro và hạn mức rủi ro, sứcchịu đựng rủi ro của công ty; đảm bảo các quy trình quản trị rủi ro và bộ phậnquản trị rủi ro được thiết lập và tổ chức đầy đủ, rõ ràng, đủ nhân sự và nguồn lựctài chính; báo cáo Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc chủ sở hữucông ty về trạng thái rủi ro trọng yếu.
Tổng Giám đốc (Giám đốc) phải thành lập Bộ phận Quản trị rủi ro hoạtđộng độc lập với các bộ phận chuyên môn nghiệp vụ khác
Thứ tư, Bộ phận Quản trị rủi ro có trách nhiệm thường xuyên theo dõi,đánh giá và đo lường các rủi ro của công ty; rà soát, điều chỉnh các mô hình địnhgiá và hệ thống đánh giá các công cụ tài chính được sử dụng bởi các bộ phậnnghiệp vụ kinh doanh; đề xuất các chính sách quản trị rủi ro cho Tổng Giám đốc(Giám đốc); đề xuất hạn mức rủi ro cho các bộ phận nghiệp vụ; đánh giá mức độrủi ro và trạng thái tập trung rủi ro, thiệt hại thực tế phát sinh và thiệt hại được
dự báo bởi bộ phận quản trị rủi ro; theo dõi để đảm bảo việc thực hiện trên thực
tế các chính sách quản trị rủi ro, hạn mức rủi ro, quy trình xử lý rủi ro mà Hộiđồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc chủ sở hữu công ty phê duyệt; lậpbáo cáo định kỳ hàng tháng về quản trị rủi ro thuộc phạm vi chức năng, nhiệm
vụ để báo cáo Tổng Giám đốc (Giám đốc) Trưởng Bộ phận Quản trị rủi ro thựchiện theo dõi, đánh giá hàng ngày trạng thái rủi ro của công ty chứng khoán
Thứ năm, Các trưởng bộ phận nghiệp vụ trong công ty phải tuân thủ vàthực hiện quản trị rủi ro hàng ngày
• Chính sách, cơ chế quản trị rủi ro:
Chính sách rủi ro:
Trang 38Chiến lược quản trị rủi ro rõ ràng, minh bạch thể hiện qua chính sách rủi rotrong dài hạn và trong từng giai đoạn cụ thể.
Hàng năm, công ty chứng khoán xây dựng chính sách rủi ro làm cơ sở chohoạt động quản trị rủi ro thường xuyên Chính sách rủi ro phải đảm bảo các rủi
ro trọng yếu được phát hiện sớm và được kiểm soát đầy đủ và được báo cáo kịpthời cho Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở hữu công ty.Chính sách rủi ro được xây dựng trên cơ sở các yếu tố: chiến lược hoạtđộng của công ty, khả năng chấp nhận rủi ro, các công cụ tài chính chịu rủi ro,chất lượng của các thủ tục kiểm soát nội bộ, khả năng giám sát rủi ro và tínhhoàn thiện của hệ thống quản trị rủi ro và các thủ tục liên quan, mức độ chuyênnghiệp về quản trị rủi ro, hoạt động quản trị rủi ro trong quá khứ, quy định pháp
lý, và các vấn đề khác liên quan đến quản trị rủi ro
Trong chính sách rủi ro của công ty phải bao gồm tối thiểu các nội dung: cơcấu tổ chức của hệ thống quản trị rủi ro trong công ty, nhiệm vụ và trách nhiệmcủa các bộ phận, cá nhân trong hệ thống quản trị rủi ro đảm bảo yêu cầu phântách chức năng và nhiệm vụ; các phương pháp xác định và đo lường rủi ro; cácphương pháp xác định hạn mức rủi ro; cơ chế xử lý vi phạm về hạn mức rủi ro
và các ngoại lệ đối với chính sách rủi ro và quy trình quản trị rủi ro; hệ thốngthông tin quản lý, các mẫu báo cáo và quy trình, cơ chế báo cáo phục vụ vậnhành hệ thống quản trị rủi ro; cơ chế phân cấp phê duyệt hạn mức rủi ro
Quy định về hạn mức rủi ro và quản lý hạn mức rủi ro:
- Tùy thuộc vào bản chất của loại rủi ro, công ty xác định hạn mức rủi rocho các hoạt động kinh doanh của mình, hạn mức rủi ro cho các bộ phận nghiệp
vụ kinh doanh, cá nhân tham gia vào các giao dịch chịu rủi ro
- Công ty phân bổ vốn đáp ứng nhu cầu hoạt động của công ty và từng bộphận nghiệp vụ kinh doanh dựa trên các mục tiêu chiến lược của hoạt động kinhdoanh Đồng thời, việc phân bổ vốn phải trong hạn mức rủi ro trên cơ sở cácnguyên tắc sau:
Trang 39+ Việc phân bổ vốn được Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặcChủ sở hữu công ty chứng khoán thông qua trên cơ sở đề xuất của Tổng Giámđốc (Giám đốc).
+ Tổng Giám đốc (Giám đốc) phải giám sát và kiểm soát các hạn mức rủi
ro để đảm bảo rằng các hoạt động kinh doanh của công ty không vượt quá mức
độ rủi ro chấp nhận được
+ Bộ phận quản trị rủi ro chịu trách nhiệm chính và phối hợp với các bộphận nghiệp vụ kinh doanh trong việc tính toán hạn mức rủi ro, lên kế hoạchphân bổ vốn, báo cáo Tổng Giám đốc (Giám đốc)
- Công ty đảm bảo nguyên tắc không có hoạt động kinh doanh nào đượcthực hiện khi hạn mức rủi ro chưa được xác định trước
- Công ty đảm bảo các bộ phận và các cá nhân có liên quan hiểu rõ các hạnmức rủi ro, quy trình quản lý hạn mức rủi ro phải tuân thủ và các hoạt động màcác bộ phận, cá nhân đó được phép thực hiện
- Công ty phải xây dựng quy trình quản lý hạn mức rủi ro Quy trình quản
lý hạn mức rủi ro phải bao gồm các phương pháp tính toán, phương pháp phân
bổ và thực hiện giám sát
+ Hạn mức rủi ro được xác định bằng phương pháp định tính và phươngpháp định lượng Trong đó, ưu tiên sử dụng phương pháp định lượng Mối tươngquan giữa các rủi ro cũng phải được xác định
+ Việc xác định và phân bổ hạn mức rủi ro có thể được thực hiện trên cơ sởcác bộ phận nghiệp vụ kinh doanh, hoặc trên cơ sở các loại sản phẩm, độ dài của
kỳ hạn, mức độ tập trung của một vị thế nắm giữ, hoặc sự khác biệt về nhân tốrủi ro hoặc nhu cầu của công ty
+ Sau khi xác định được hạn mức rủi ro, công ty phải đánh giá về tính hợp
lý để thực hiện các điều chỉnh cần thiết Việc điều chỉnh hạn mức rủi ro phảiđược Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở hữu công tythông qua
Trang 40• Quy trình quản trị rủi ro:
Quy trình quản trị rủi ro phải ít nhất xử lý được năm loại rủi ro trọng yếusau: rủi ro thị trường, rủi ro thanh toán, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động vàrủi ro pháp lý mà có ảnh hưởng lớn đến tình hình tài chính của công ty chứngkhoán Quy trình quản trị rủi ro của công ty bao gồm các nội dung: xác định rủi
ro, đánh giá rủi ro, theo dõi rủi ro, báo cáo rủi ro và xử lý rủi ro
* Xác định rủi ro:
Xác định rủi ro là quá trình tìm kiếm, nhận biết và mô tả rủi ro Việc xácđịnh rủi ro đòi hỏi phải xác định các nguồn rủi ro, lĩnh vực chịu tác động, sự kiện(bao gồm cả những thay đổi về hoàn cảnh), nguyên nhân và hệ quả tiềm ẩn của
sự kiện
Công ty chứng khoán phải xác định được các loại rủi ro và đặc tính củatừng loại rủi ro mà công ty có thể phải đối mặt Việc xác định rủi ro một cáchtoàn diện rất quan trọng, bởi vì những rủi ro không được xác định trong giaiđoạn này thì sẽ không có trong các bước phân tích sau đó Công ty cần áp dụngcác phương pháp nhận diện rủi ro phù hợp đặc điểm hoạt động để có thể nhậndiện đầy đủ, chính xác nhất các rủi ro có ảnh hưởng đến vốn và thu nhập củacông ty
Nhận diện rủi ro được xác định trên cơ sở phân tích dữ liệu bên trong vàbên ngoài ảnh hưởng đến công ty chứng khoán Thu thập dữ liệu từ một sốnguồn thông tin đầu vào như:
- Các tài liệu về chiến lược phát triển và mục tiêu của công ty: căn cứ vàochiến lược hoạt động của công ty trung và dài hạn, các nhà quản lý có thể xácđịnh được quá trình hoạt động của công ty, qua đó xác định được những rủi ro cóthể gặp phải
- Văn bản pháp luật, quy chế hoạt động, quy trình nghiệp vụ Các văn bảnnày là một phần tiêu chuẩn hoạt động của công ty, căn cứ vào đó có thể xác địnhđược mức độ phù hợp, tính chính xác và tuân thủ của các hoạt động trong công