1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNGTHƯƠNG MẠI CO PHẦN BẢO VIỆT

139 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 431,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan Để thực hiện luận văn này, tác giả đã nghiên cứu và tham khảo một sốluận văn, luận án với đề tài tuơng tự, cụ thể nhu sau: + Duơng Ngọc H

Trang 2

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

VŨ THỊ VIỆT CHINH

QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI CO PHẦN BẢO VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2016

Trang 3

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

VŨ THỊ VIỆT CHINH

QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI CO PHẦN BẢO VIỆT

Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ THANH TÂM

HÀ NỘI - 2016

Ì1 íf

Trang 4

Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu độc lậpcủa bản thân với sự giúp đỡ của giáo viên huớng dẫn Các số liệu đua ra trongLuận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Vũ Thị Việt Chinh

Trang 5

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7

1.1 RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7

1.1.1 Hoạt động tín dụng trong hoạt động Ngân hàng thương mại 7

1.1.2 Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng thương mại 9

1.2 QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 13

1.2.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng 13

1.2.2 Các nguyên tắc quản trị rủi ro theo Basel II 14

1.2.3 Mô hình quản trị rủi ro tín dụng 16

1.2.4 Nội dung quản trị rủi ro tín dụng 18

1.2.5 Các chỉ tiêu đánh giá công tác quản trị rủi ro tín dụng 23

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 27

1.3.1 Nhân tố chủ quan 27

1.3.2 Nhân tố khách quan 31

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢO VIỆT 35

2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢO VIỆT 35

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 35 2.1.2 Cơ cấu tổ chức 36 2.1.3 Một số kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2012-2015 37 2.2 THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢO VIỆT 39

2.2.1 Hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Bảo Việt 39

Trang 6

THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢO VIỆT 50

2.3.1 Mô hình quản trị rủi ro tín dụng 50 2.3.2 Mức độ áp dụng các nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng theo Basel II 51

2.3.3 Việc thực hiện các nội dung quản trị rủi ro tín dụng 54

2.4.ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢO VIỆT 62

2.4.1 Những kết quả đạt được 62 2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong công tác quản trị rủi ro tín dụng 66

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 72

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẨN BẢO VIỆT 73

3.1 ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢO VIỆT 73

3.1.1 Bối cảnh thị trường tài chính trong nước 73

3.1.2 Định hướng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Bảo Việt 74

3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢO VIỆT 75

3.2.1 Nâng cao mức độ áp dụng các nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng theo chuẩn mực Basel II 75

3.2.2 Xác định khẩu vị rủi ro tín dụng phù hợp 76

3.2.3 Thay đổi chính sách tín dụng phù hợp 77

3.2.4 Nâng cao chất lượng nhân sự 81

3.2.5 Nâng cấp và hoàn thiện hệ thống côngnghệ thông tin 82

3.2.6 Bán nợ cho VAMC để giảm thiểu rủi ro tín dụng 83

3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 85

Trang 7

STT Viết tắt Nguyên nghĩa

4 CIC Trung tâm Thông tin Tín dụng Quôc gia Việt Nam(Credit Information Center)

24 VAMC Công ty quản lý tài sản của các tô chức tín dụng Việt Nam(Vietnam asset management company)

quan chức năng có thẩm quyền 86

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 90 KẾT LUẬN 91

Trang 9

Bảng 2.2: Cơ cấu tín dụng theo kỳ hạn 45

Bảng 2.3: Cơ cấu tín dụng theo nhóm nợ 45

Bảng 2.4: Phân bố nợ xấu theo nhóm nợ 47

Biểu đồ 2.1: Dư nợ tín dụng 43

Biều đồ 2.2: Tỷ lệ nợ xấu 46

Biểu đồ 2.3: Dự phòng rủi ro tín dụng 49

Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức 37

Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức bộ phận quản trị rủi ro 50

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Rủi ro trong hoạt động ngân hàng hết sức đa dạng và phức tạp, tiềm ẩntrong mọi nghiệp vụ từ thẻ, tiền gửi, tài trợ thương mại đến đầu tư, kinhdoanh ngoại hối với nhiều mức độ khác nhau Nhưng có ảnh hưởng sâurộng và trọng yếu nhất là rủi ro tín dụng, bởi tín dụng là hoạt động căn bản vàchủ yếu tạo ra quy mô lợi nhuận lớn nhất, cũng như tổn thất cao nhất củangân hàng Điều này không chỉ đúng trên phương diện lý thuyết mà còn đượcchứng minh bằng thực tiễn kinh doanh của ngành ngân hàng Trong năm

2015, Ngân hàng nhà nước đã buộc phải mua lại ba ngân hàng với giá 0 đồnggồm: Ngân hàng Xây Dựng, Ngân hàng Đại Dương, Ngân hàng Dầu KhíToàn Cầu Một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới việc các ngân hàngtrên rơi vào hoàn cảnh bị mua lại với giá 0 đồng là do nợ xấu rất cao, nguy cơmất vốn lớn Như vậy, ta có thể thấy vai trò của công tác quản trị rủi ro tíndụng đối với một ngân hàng là hết sức quan trọng

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bảo Việt là một trong những ngânhàng trẻ nhất ngành, nhưng Baoviet Bank đã đạt được những thành tựuđáng khích lệ qua 7 năm hình thành và phát triển Thừa kế những bài họckinh nghiệm của những ngân hàng lớn và có bề dày lịch sử, cùng vớinhững biến động khó lường về kinh tế vĩ mô nói chung và ngành ngân hàngnói riêng, trong những năm vừa qua, Baoviet Bank đã nhận thức được nguy

cơ tiềm ẩn rủi ro và sụt giảm chất lượng tín dụng luôn hiện hữu, có khảnăng đe dọa lớn tới sự phát triển bền vững của ngân hàng mình Từ đó việcnâng cao toàn diện chất lượng công tác quản trị rủi ro tín dụng theo tiêuchuẩn quốc tế, nhanh chóng đạt được mục tiêu phát triển bền vững, hòanhập vào nền tài chính trong nước cũng như khu vực và thế giới trở thànhvấn đề mang tính cốt yếu trong chiến lược hoạt động của Baoviet Bank

Trang 11

Trong những năm qua, Baoviet Bank đã đạt được những thành tựu nhấtđịnh trong công tác quản trị rủi ro tín dụng như: xây dựng tách biệt bộ phậnquản lý rủi ro với khối kinh doanh hoạt động và khối hỗ trợ, xây dựng được

hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, có quy trình đầy đủ các văn bản hướngdẫn cấp tín dụng, có định hướng rõ ràng về công tác quản trị rủi ro tíndụng Tuy vậy, công tác này vẫn còn một số tồn tại như việc áp dụng cácchuẩn mực quốc tế trong quản trị rủi ro tín dụng chưa đầy đủ và rõ ràng,việc thực hiện quy trình quản trị rủi ro tín dụng chưa đồng nhất, năng lực,trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ liên quan tới công tác quản trị rủ i

ro tín dụng còn hạn chế, mức độ rủi ro tín dụng tiềm ẩn cao

Xuất phát từ thực tế trên, đề tài: "Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân

hàng Thương mại Cổ phần Bảo Việt" được lựa chọn cho luận văn thạc sỹ

kinh tế của em

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Luận văn với mục đích chung là phân tích, đánh giá công tác quản trịrủi ro tín dụng tại Baoviet Bank trong giai đoạn 2012-2015, từ đó đề xuất một

số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác này trong thời gian tới

Để đạt được mục đích chung trên, luận văn hướng tới các mục tiêu cụthể sau:

+ Hệ thống hóa những vấn đề lý thuyết cơ bản về quản trị rủi ro tíndụng của ngân hàng thương mại

+ Phân tích thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Baoviet Bank giaiđoạn 2012 - 2015

+ Đánh giá kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của côngtác quản trị rủi ro tín dụng tại Baoviet Bank

+ Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản trị rủi ro tạiBaoviet Bank

Trang 12

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàngthương mại

Phạm vi nghiên cứu:

+ về không gian: tại Ngân hàng thương mại cổ phần Bảo Việt

+ về thời gian: luận văn lựa chọn nghiên cứu trong giai đoạn

2012-2015, bởi đây là giai đoạn Ngân hàng nhà nước và hệ thống các ngân hàngthương mại phải đối mặt với tình hình nợ xấu diễn biến hết sức phức tạp Dovậy, trong giai đoạn này vai trò của công tác quản trị rủi ro tín dụng được thểhiện rõ ràng hơn bao giờ hết

+ về nội dung: Với một ngân hàng trẻ, thời gian hoạt động chưa lâu,các hoạt động tín dụng khác như: Bảo lãnh, tài trợ thương mại, có quy môrất nhỏ, chủ yếu là hoạt động cho vay chiếm khoảng hơn 70% do vậy, luậnvăn tập trung vào nghiên cứu công tác QTRR trong hoạt động cho vay, vì đây

là hoạt động tín dụng trọng yếu mang lại phần lớn thu nhập của ngân hàng

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Dữ liệu sử dụng cho luận văn

Luận văn sử dụng dữ liệu thứ cấp về rủi ro tín dụng và quản trị rủi rotín dụng:

+ Lý thuyết: các giáo trình chính thống, các trang web chính thống+Thực trạng:

Sử dụng báo cáo tài chính của ngân hàng qua các năm

Dữ liệu vĩ mô từ Tổng cục thống kê, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhànước, các trang Web chính thống

+ Tổng quan nghiên cứu: sử dụng dữ liệu từ các công trình nghiên cứu

về các vấn đề tương tự

Luận văn không sử dụng dữ liệu sơ cấp vì:

Trang 13

+ Công tác quản trị rủi ro tín dụng mang tính chất chuyên biệt, có tínhbảo

mật cao, rất khó để tiếp cận đuợc nguồn thông tin chính xác về dữ liệu sơ cấp

+ Nguồn thông tin từ khách hàng không có độ tin cậy cao vì tính nhạycảm của đề tài nghiên cứu và nó liên quan trực tiếp tới việc vay vốn củakhách hàng

4.2 Phương pháp luận

Luận văn sử dụng phuơng pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịchsử: Xem xét một sự vật hay một hiện tuợng trong trạng thái luôn phát triển vàxem xét nó trong mối quan hệ với các sự vật và hiện tuợng khác Trên cơ sởnày, một số phuơng pháp sau đuợc ứng dụng cho luận văn:

+ Phuơng pháp thống kê so sánh theo giai đoạn và so sánh với chuẩnmực

chung: Luận văn sử dụng số liệu qua các báo cáo, thống kê của Ngân hàngThuơng mại Cổ phần Bảo Việt, cho phép phân tích đua ra các nhận xét và đềxuất những phuơng án phù hợp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng

+ Phuơng pháp sử dụng truờng hợp nghiên cứu cụ thể: Dựa trên kết quảphỏng vấn các cán bộ làm công tác quản trị rủi ro tín dụng trực tiếp tại ngânhàng, và một số truờng hợp rủi ro đã xảy ra tại ngân hàng, một số truờng hợpnghiên cứu cụ thể đuợc phân tích để minh họa cho phần phân tích, đánh giá

5 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan

Để thực hiện luận văn này, tác giả đã nghiên cứu và tham khảo một sốluận văn, luận án với đề tài tuơng tự, cụ thể nhu sau:

+ Duơng Ngọc Hào (2015) với đề tài nghiên cứu “Giải pháp cơ bảnnhằm hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thuơng mại ViệtNam” Luận án tập trung nghiên cứu thực trạng quản trị rủi ro tín dụng và đềxuất các giải pháp tăng cuờng quản trị rủi ro tín dụng của hệ thống các ngânhàng thuơng mại Việt Nam

Trang 14

NHTM CP Công thương Việt Nam” đã chỉ ra những điểm hạn chế cần khắcphục và hướng sửa đổi cụ thể nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tíndụng tại Vietinbank.

+ Lê Thị Quyên (2010) trong luận văn về đề tài “Nâng cao chất lượngquản lý rủi ro tín dụng tại NHTM CP Hàng Hải Hà Nội” đã đưa ra những giảipháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng công tác quản trị rủi ro tín dụng tạiMaritime Bank Hà Nội dựa trên những phân tích từ thực trạng công tác nàytại NHTM CP Hàng Hải Hà Nội

+ Lê Nguyễn Phương Ngọc (2007) trong đề tài “Quản lý rủi ro tín dụngtrong hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại

cổ phần Kỹ thương Việt Nam Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh” đã nghiêncứu về công tác quản trị rủi ro tín dụng cho riêng hoạt động tín dụng Doanhnghiệp vừa và nhỏ tại Techcombank Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh

Các luận văn, luận án trên đã cung cấp những khái niệm cơ bản nhất vềrủi ro tín dụng cũng như quản trị rủi ro tín dụng trong các Ngân hàng thươngmại, từ đó giúp người đọc hiểu được một cách cơ bản về rủi ro tín dụng Nêuđược cơ bản thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng, chinhánh ngân hàng nằm trong phạm vi nghiên cứu, từ đó chỉ ra được những kếtquả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân trong công tác quản trị rủi ro tíndụng tại ngân hàng, chi nhánh ngân hàng thương mại đó

Tuy nhiên, các đề tài trên đều nghiên cứu tại các ngân hàng lớn và lâunăm, các phương án đề ra đều dựa trên hoàn thiện và định hướng lại hệ thốngquản trị rủi ro đã được hình thành và duy trì thời gian dài Phạm vi nghiên cứucủa luận văn này có sự khác biệt so với các luận văn và luận án trên vìBaoviet Bank là một ngân hàng còn rất trẻ, vẫn đang trong quá trình xây dựng

và hoàn thiện hệ thống quản trị rủi ro tín dụng theo định hướng Basel II vàcác chuẩn mực quốc tế Hiện tại chưa có công trình nào nghiên cứu về công

Trang 15

tác Quản trị rủi ro tại Baoviet Bank giai đoạn 2012 - 2015 Đây chính làkhoảng trống nghiên cứu, và Luận văn dự định sẽ tập trung xử lý khoảngtrống này.

6 Kết cấu của luận văn

Về cấu trúc, ngoài phần mở đầu, kết luận và các phụ lục kèm theo,Luận văn được chia ra thành 03 chương:

Chương //Những vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng của ngân

hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương

mại Cổ phần Bảo Việt

Chương 3: Giải pháp tăng cường công tác quản trị rủi ro tín dụng tại

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bảo Việt

Trang 16

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG

CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1 Hoạt động tín dụng trong hoạt động Ngân hàng thương mại

1.1.1.1 Khái niệm

Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động truyền thống vàmang lại doanh thu không nhỏ cho hoạt động của các ngân hàng thương mại.Thuật ngữ “Tín dụng - Credit” xuất phát từ tiếng La tinh “Creditum” tạmdịch là sự tin tưởng, tín nhiệm Trong thực tiễn, thuật ngữ tín dụng được hiểutheo nhiều nghĩa khác nhau, tùy theo từng bối cảnh cụ thể mà nó có một nộidung riêng Do đó, tùy theo góc độ nghiên cứu mà ta xác định nội dung củathuật ngữ “Tín dụng” [5]

Theo khoản 14 điều 4, Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 thì

“Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền

hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác’”

Ngoài ra,Tín dụng cũng được hiểu là một giao dịch về tài sản (tiền hoặchàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên

đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vaychuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theothỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện khoản gốc và lãicho bên cho vay khi đến hạn thanh toán [5]

Như đã đề cập ở mục phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ tập trungnghiên cứu hoạt động cho vay của ngân hàng Theo khoản 16 điều 4, luật các

Trang 17

tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 thì ii Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền

để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.

Như vậy, trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận văn này ta có thểhiểu tín dụng là hoạt động cho vay bằng tiền, để sử dụng vào mục đích xácđịnh, trong một khoảng thời gian nhất định và có hoàn trả cả gốc và lãi, trong

đó, chủ thể cho vay là các tổ chức tín dụng, người đi vay là các chủ thể cónăng lực pháp lý trong nền kinh tế

1.1.1.2 Đặc trưng của tín dụng

Là một hoạt động mang tính chất đặc thù của ngành tài chính ngânhàng, tín dụng với bản chất là giao dịch tài sản có sự hoàn trả, tín dụng ngânhàng có những đặc trưng riêng của nó [5] Để thuận tiện cho nghiên cứu,trong luận văn này sẽ nêu một vài đặc trưng cơ bản của tín dụng như sau:

Thứ nhất, tín dụng ngân hàng có sự chuyển giao tài sản từ bên cho vay(ngân hàng hoặc các định chế tài chính khác) cho bên đi vay dựa trên sự tintưởng với người đi vay Do vậy, yếu tố cơ bản nhất trong hoạt động tín dụng

là mức độ tín nhiệm về khách hàng Quan điểm về đánh giá mức độ tín nhiệmcủa khách hàng khi cho vay của ngân hàng ảnh hưởng rất lớn tới chất lượngtín dụng của ngân hàng

Thứ hai, giá trị hoàn trả trong quan hệ tín dụng ngân hàng thường phảilớn hơn giá trị ban đầu, người đi vay ngoài phần vốn phải trả thêm một khoảnlãi cho ngân hàng Ngân hàng kinh doanh tiền để kiếm lời, do vậy, hoạt độngtín dụng phải mang lại lợi ích cho ngân hàng

Thứ ba, trong tín dụng ngân hàng, giá trị cho vay đươc cam kết hoàn trả

vô điều kiện Tín dụng là cho vay, nên bên đi vay phải có trách nhiệm hoàntrả lại giá trị đi vay và lãi một cách vô điều kiện

Trang 18

Thứ tư, tín dụng ngân hàng có tình thời hạn, là sự chuyển giao tạm thờimột

lượng giá trị trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi sau một kỳ hạn nhấtđịnh

1.1.1.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, tín dụng ngân hàng ra đời nhưmột tất yếu, nó là cầu nối giữa những chủ thể thừa vốn và chủ thể thiếu vốntrong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu về vốn để đầu tư và phát triển cho các chủthể trong nền kinh tế

Một nền kinh tế, luôn tồn tại một bộ phận vốn nhàn rỗi cần đầu tư vàmột bộ phận thiếu hụt vốn kinh doanh cần đi vay Ngân hàng đóng vai tròtrung gian tài chính, điều hòa vốn trong toàn bộ nền kinh tế, điều chuyển dòngvốn từ nơi thừa sang nơi thiếu hụt Với vai trò này, tín dụng ngân hàng đãđóng góp rất lớn trong vấn đề đáp ứng nguồn vốn kịp thời cho quá trình sảnxuất kinh doanh được diễn ra liên tục, góp phần thúc đẩy quá trình tái sảnxuất và mở rộng kinh doanh Tín dụng ngân hàng thực hiện chuyển rời nguồnlực từ khu vực dư thừa sang khu vực kinh doanh có hiệu quả, mang lại lợi íchcho tất cả các bên tham gia, từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển [5]

Bên cạnh đó, tín dụng ngân hàng đóng vai trò như một đòn bẩy tàichính, kích thích các chủ thể đi vay phải sử dụng nguồn vốn này một cáchhiệu quả, mang lại lợi nhuận cao Điều này đòi hỏi người đi vay phải cânnhắc, lựa chọn kỹ càng phương án đầu tư để có thể đảm bảo hoàn trả gốc vàlãi cho ngân hàng đồng thời mang lại lợi ích cho bản thân họ Do đó, nó tạođộng lực nâng cao năng suất lao động, ứng dụng công nghệ kỹ thuật hiện đại,nâng cao hiệu quả kinh doanh thúc đẩy kinh tế phát triển

1.1.2 Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng thương mại

1.1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng

Tín dụng ngân hàng có hai đặc tính cơ bản nhất: (i) Sự tin tưởng, tín

Trang 19

khả năng xảy ra rủi ro tín dụng là rất lớn, rủi ro xảy ra khi khách hàng khônghoàn trả được gốc và lãi cho ngân hàng đúng thời hạn đã thỏa thuận ban đầu.

Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về rủi ro tín dụng ThomasP.Fitch trong cuốn Dictionary of banking systems (1997) cho rằng rủi ro tíndụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏathuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ

Trong khi đó, cuốn Risk Management in Banking (2001) củaJoel Bessis cho rằng rủi ro tín dụng được hiểu là những tổn thất do kháchhàng không trả đuợc nợ hoặc đó là sự giảm sút chất lượng tín dụng của nhữngkhoản vay

Ngoài các khái niệm trên, theo Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng thìrủi ro tín dụng lại được hiểu là rủi ro thất thoát tài sản có thể phát sinh khi mộtbên đối tác không thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồngđối với một ngân hàng, bao gồm cả việc không thực hiện thanh toán nợ cho

dù đấy là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn

Theo Khoản 1 Điều 3 TT 02/2013/TT-NHNN, Quy định về phân loạitài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng

dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng

nước ngoài thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả

năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết’”.

Theo các quan điểm này, rủi ro tín dụng được đánh giá dựa trên việcthực hiện nghĩa vụ tài chính của khách hàng bao gồm việc trả gốc và thanhtoán lãi

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, rủi ro tín dụng được hiểu làviệc ngân hàng không thu hồi được giá trị vốn đã cho vay và lãi dự kiến

Trang 20

RRTD sẽ phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ gốclẫn lãi của khoản cho vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng

kỳ hạn Luận văn cũng chỉ đề cập tới rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay

1.1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng (RRTD) rất đa dạng, có rất nhiều cách phân loại rủi rotín dụng tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, phân tích Đối với hệ thốngNHTM thì việc phân loại RRTD có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việcthiết lập chính sách, quy trình, thủ tục và cả mô hình tổ chức quản trị điềuhành nhằm bảo đảm nhận biết đầy đủ các yếu tố gây ra rủi ro và phân biệttrách nhiệm rõ ràng giữa các bộ phận, các khâu trong toàn bộ quá trình tácnghiệp thẩm định, cấp tín dụng, giám sát thu hồi nợ và xử lý khoản nợ nếu códấu hiệu bất thường Thực tế cho thấy, sự phân chia trách nhiệm càng rõ ràng,càng cụ thể, càng giúp cho quá trình quản trị RRTD có hiệu quả

Rủi ro tín dụng bao gồm: (i) Rủi ro giao dịch và (ii) Rủi ro danh mục[1]

Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro

nghiệp vụ

+ Rủi ro lựa chọn là rủi ro liên quan đến quá trình thẩm định, phân tíchtín dụng của ngân hàng để lựa chọn khách hàng cấp tín dụng Trong quá trìnhnày, ngân hàng rất dễ mắc phải sự lựa chọn sai lầm do hiện tượng “thông tinbất cân xứng”

+ Rủi ro bảo đảm là rủi ro do không đảm bảo được các tiêu chuẩn bảođảm cho giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng được diễn ra một cách suôn

sẻ và an toàn cho ngân hàng

+ Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến các thao tác trong quá trìnhthực hiện khoản tín dụng Ở đây, những sai sót của nhân viên cấp tín dụngtrong quá trình giải ngân, giám sát theo dõi khoản vay có thể là xuất phátđiểm cho các rủi ro từ đạo đức của khách hàng phát sinh

Trang 21

Rủi ro danh mục bao gồm: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.

+ Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố mang tính riêng biệt của mỗichủ thể đi vay hoặc ngành kinh tế Chẳng hạn như biến cố rủi ro từ thiên tai,mất mùa đặc trưng trong ngành nông nghiệp, hoặc yếu tố tồn kho ứ đọngtrong ngành công nghiệp, xây dựng, Vì gắn liền với chủ thể/đối tượng đượccấp tín dụng nên rủi ro nội tại là yếu tố không thể triệt tiêu được

+ Rủi ro tập trung xuất phát từ việc dồn vốn cho một số ít khách hàng,một số ngành kinh tế hẹp, một số loại hình cho vay hoặc một khu vực địa lý

đi ngược lại với nguyên tắc đa dạng hóa để phân tán rủi ro Cũng vì sự xuấthiện của rủi ro nội tại và đặc tính không thể triệt tiêu của rủi ro nội tại nênviệc đa dạng hóa danh mục tín dụng để hạn chế và kiểm soát rủi ro tập trung

là vấn đề cần thiết đối với các ngân hàng trong quá trình cấp tín dụng

1.1.2.3 Tác động của rủi ro tín dụng tới ngân hàng thương mại

Vì hoạt động tín dụng là hoạt động truyền thống và mang lại thu nhậplớn cho ngân hàng thương mại nên khi rủi ro tín dụng xảy ra sẽ có những ảnhhưởng không nhỏ tới các ngân hàng Trong giới hạn nghiên cứu, luận văn nêumột số các tác động cơ bản như sau:

Thứ nhất, tác động tới lợi nhuận và doanh thu của ngân hàng Việckhông thu hồi được nợ (gốc, lãi và các khoản phí) trực tiếp làm giảm doanhthu thuần từ lãi vay nói riêng và tổng doanh thu nói chung, làm cho nguồnvốn của các NHTM bị thất thoát, trong khi đó, các ngân hàng này vẫn phải chitrả tiền lãi cho nguồn vốn huy động, các chi phí khác liên quan tới khoản tíndụng đó làm cho lợi nhuận bị giảm sút

Thứ hai, tác động tới khả năng thanh khoản của ngân hàng Nhữngkhoản vay đến hạn sẽ là nguồn thanh toán cho các khoản huy động đến hạncần thanh toán Do đó, khi rủi ro tín dụng xảy ra, việc thu hồi vốn cho vaykhông đúng theo dự kiến, vậy nguồn để thanh toán cho các khoản huy động

Trang 22

đến hạn phải thanh toán sẽ bị thiếu hụt, giảm khả năng thanh khoản của ngânhàng, nhất là đối với các ngân hàng có quy mô nhỏ.

Thứ ba, tác động tới quy mô của ngân hàng Khi rủi ro tín dụng xảy ra,doanh thu thuần giảm dẫn tới giảm lợi nhuận của ngân hàng Trong truờnghợp rủi ro tín dụng không đuợc quản trị tốt, rủi ro xảy ra ở mức độ nghiêmtrọng, thậm chí dẫn tới việc ngân hàng bị thua lỗ, khi đó lợi nhuận không đủthì ngân hàng còn phải dùng chính vốn tự có của mình để bù đắp thiệt hại.Điều này có thể làm ảnh huởng đến quy mô hoạt động của các NHTM

Thứ tu, tác động tới uy tín của ngân hàng Trong truờng hợp ngân hàngquản trị rủi ro tín dụng không tốt, hệ lụy của nó là tỷ lệ nợ quá hạn cao làmcho uy tín, niềm tin vào tiềm lực tài chính của ngân hàng bị suy giảm, dẫn đếnlàm giảm khả năng huy động vốn và các hoạt động khác của ngân hàng

Tóm lại, hoạt động tín dụng của ngân hàng luôn tiềm ẩn rủi ro, nó cóảnh huởng rất lớn tới hoạt động kinh doanh và sự phát triển của ngân hàng.Tuy nhiên những rủi ro này hoàn toàn có thể kiểm soát đuợc bằng một cơ chếchính sách quản trị rủi ro thích hợp trong từng thời kỳ

1.2.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng

Đối với mọi hoạt động kinh doanh ngân hàng, khi rủi ro xảy ra đều dẫnđến những ảnh huởng khó luờng và hậu quả của chúng để lại cũng không dễdàng để khắc phục trong thời gian ngắn Chính vì thế, quản trị rủi ro đuợc coi

là hoạt động trọng tâm trong các tổ chức tài chính - ngân hàng Trong cáchoạt động của ngân hàng, tín dụng là một trong các hoạt động chủ yếu manglại phần lớn doanh thu và lợi nhuận cho ngân hàng Với đặc trung cơ bản làchấp nhận rủi ro, hoạt động tín dụng là hoạt động tiểm ẩn nhiều rủi ro vànhững rủi ro đó không thể bị triệt tiêu Do đó, quản trị rủi ro tín dụng có ýnghĩa sống còn đối với các ngân hàng thuơng mại, dù quy mô lớn hay nhỏ,

Trang 23

phạm vi hoạt động rộng hay hẹp Quản trị rủi ro tín dụng không có nghĩa là nétránh rủi ro, mà là xác định một mức rủi ro có thể chấp nhận được, trên cơ sở

đó đưa ra các biện pháp để bảo đảm rủi ro tín dụng của ngân hàng không vượtquá mức xác định trước đó Hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của ngân hànggắn chặt với hoạt động cấp tín dụng, nó thể hiện sự vận dụng các nguyên tắcquản trị nói chung vào hoạt động có tính đặc thù của quá trình cấp tín dụng[2], [10], [16] Xuất phát từ cách hiểu như vậy, trong luận văn này khái niệmquản trị rủi ro tín dụng có thể được trình bày như sau:

Quản trị rủi ro tín dụng là hoạt động của các nhà quản trị ngân hàng, trong đó bao gồm nhận diện, đánh giá mức độ rủi ro tiềm ẩn mà ngân hàng phải đối mặt trong hoạt động cấp tín dụng Từ đó lựa chọn và thực hiện những biện pháp thích hợp nhằm đối phó và khống chế rủi ro ở mức độ có thể chấp nhận được của ngân hàng.

Mục đích của quản trị rủi ro tín dụng là đảm bảo rủi ro tín dụng đượckiểm soát trong giới hạn cho phép của ngân hàng, đồng thời tối đa hóa lợinhuận mà ngân hàng kỳ vọng đạt được trong điều kiện biến động của môitrường kinh doanh

1.2.2 Các nguyên tắc quản trị rủi ro theo Basel II

Nhóm các nguyên tắc về xây dựng môi trường tín dụng thích hợp (gồm

3 nguyên tắc): Hội đồng quản trị phải thực hiện phê duyệt định kỳ chính sáchrủi ro tín dụng, xem xét rủi ro tín dụng và xây dựng một chiến lược xuyênsuốt trong hoạt động của ngân hàng (tỷ lệ nợ xấu, mức độ chấp nhận rủiro ) Ban giám đốc có trách nhiệm thực hiện các định hướng mà Hội đồngquản trị phê duyệt và phát triển các chính sách, thủ tục nhằm phát hiện, đolường, theo dõi và kiểm soát nợ xấu trong mọi hoạt động, ở cấp độ của từngkhoản tín dụng và cả danh mục đầu tư Các ngân hàng cần xác định và quản

lý rủi ro tín dụng trong mọi sản phẩm của mình

Trang 24

Nhóm nguyên tắc về thực hiện cấp tín dụng lành mạnh (gồm 4 nguyên

tắc): Các ngân hàng phải hoạt động trong phạm vi các tiêu chí cấp tín dụnglành

mạnh được xác định rõ ràng Ngân hàng cần xây dựng các hạn mức tín dụngcho

từng loại khách hàng vay vốn và nhóm khách hàng vay vốn Ngân hàng cần cóquy trình rõ ràng trong việc phê duyệt các khoản tín dụng mới cũng như sửađổi,

gia hạn, tái cơ cấu, tái tài trợ cho các khoản tín dụng hiện tại Việc cấp tíndụng

cần được thực hiện trên cơ sở giao dịch công bằng giữa các bên

Nhóm nguyên tắc về duy trì một quá trình quản lý, đo lường và theo dõi tín dụng phù hợp (10 nguyên tắc): Các ngân hàng cần có hệ thống quản lý

một cách Quản trị rủi ro tín dụng theo chuẩn mực quốc tế tạo điều kiện chocác NHTM tăng năng lực huy động nguồn vốn dư thừa trong nền kinh tế, tăngkhả năng cung cấp dịch vụ, tăng khả năng thu hút khách hàng, tạo ra một hìnhảnh tốt về biểu tượng và uy tín cho ngân hàng, làm cho khách hàng muốn gắn

bó lâu dài với ngân hàng Luận văn đề cập tới những nguyên tắc quản trị rủi

ro tín dụng theo hiệp ước Basel II vì đây là chuẩn mực mà các ngân hàngthương mại Việt Nam đang hướng tới.Trong hiệp ước Basel II, Ủy ban Baselxây dựng và công bố những tiêu chuẩn, những hướng dẫn giám sát mà theo

đó công tác quản trị rủi ro tín dụng sẽ đạt được hiệu quả cao nhất Ủy bankhuyến khích việc áp dụng cách tiếp cận và các tiêu chuẩn chung mà không

cố gắng can thiệp vào các kỹ thuật giám sát của các nước thành viên Ủy banBasel đã ban hành 17 nguyên tắc về quản lý nợ xấu mà thực chất là đưa ra cácnguyên tắc trong quản trị rủi ro tín dụng, đảm bảo tính hiệu quả và an toàntrong hoạt động cấp tín dụng [2] Các nguyên tắc này có thể chia thành cácnhóm cơ bản sau đây:

Trang 25

thống xếp hạng tín dụng nội bộ trong quản lý rủi ro tín dụng Ngân hàng cần

có hệ thống thông tin và các kỹ thuật phân tích để đo lường được rủi ro tíndụng trong mọi hoạt động nội và ngoại bảng; phải có hệ thống theo dõi cơ cấu

và chất lượng của toàn bộ danh mục đầu tư tín dụng; cần có hệ thống khắcphục sớm đối với các khoản tín dụng xấu, quản lý các khoản tín dụng có vấn

đề Các chính sách rủi ro tín dụng của ngân hàng cần chỉ rõ cách thức quản lýcác khoản tín dụng có vấn đề

1.2.3 Mô hình quản trị rủi ro tín dụng

Mô hình quản trị rủi ro tín dụng chính là hệ thống các mô hình bao gồm

mô hình tổ chức quản lý rủi ro, mô hình đo lường rủi ro và mô hình kiểm soátrủi ro được xây dựng một cách đầy đủ, toàn diện và liên tục trong hoạt độngquản lý tín dụng của ngân hàng

Mô hình quản trị rủi ro tín dụng phản ánh một cách hệ thống các vấn đề

về cơ chế, chính sách, quy trình nghiệp vụ nhằm thiết lập các giới hạn hoạtđộng an toàn và các chốt kiểm soát rủi ro trong một quy trình thực hiệnnghiệp vụ, các công cụ đo lường phát hiện rủi ro, các hoạt động giám sát sựtuân thủ và nhận diện kịp thời các loại rủi ro mới phát sinh và các phương án,biện pháp chủ động phòng ngừa, đối phó một khi rủi ro xảy ra

Hiện nay ở Việt Nam đang có 2 mô hình phổ biến được áp dụng là: Môhình quản trị rủi ro tập trung và Mô hình quản trị rủi ro phân tán:

Mô hình quản trị rủi ro tập trung

Mô hình quản trị rủi ro tín dụng có sự tách biệt một cách độc lập giữa 3chức năng: quản lý rủi ro, kinh doanh và tác nghiệp Bộ phận quản lý rủi rođược đặt tại Hội sở chính của ngân hàng, thực hiện quản lý rủi ro tín dụngmột cách hệ thống trên quy mô toàn ngân hàng

Ưu điểm:

Quản lý rủi ro một cách hệ thống trên quy mô toàn ngân hàng, tạo sự

Trang 26

nhất quán đồng bộ, thống nhất trên toàn hệ thống.

Sự tách giữa 3 chức năng tạo sự khách quan tương đối trong công tácquản trị rủi ro tín dụng, không bị ràng buộc về áp lực doanh số

Nhược điểm:

Việc xây dựng và triển khai mô hình quản lý tập trung này đòi hỏi phảiđầu tư về cơ sở hạ tầng như: tiền bạc, chất lượng nguồn nhân sự, sự hỗ trợ từcông nghệ thông tin hiện đại

Khó khăn trong quản lý rủi ro đối với các Chi nhánh, Đơn vị kinhdoanh ở địa bàn xa với Hội sở chính

Mô hình quản trị rủi ro phân tán

Mô hình quản trị rủi ro phân tán trong đó Các chi nhánh, Đơn vị kinhdoanh tự thực hiện công tác quản trị rủi ro của mình trong phạm vi được phânquyền, phòng tín dụng thực hiện đầy đủ 3 chức năng quản lý rủi ro, kinhdoanh và tác nghiệp và chịu trách nhiệm đối với mọi khâu chuẩn bị cho mộtkhoản vay

Đòi hỏi cán bộ tín dụng có kiến thức toàn diện và tổng thể

Việc quản lý hoạt động đều theo phương thức từ xa dựa trên số liệu chinhánh báo cáo lên hoặc quản lý gián tiếp thông qua chính sách tín dụng

Theo khuyến cáo của ủy ban Basel và tuân thủ thông lệ quốc tế, căn cứvào các điều kiện chung về pháp lý, thị trường, công nghệ, con người, môhình các NHTM Việt Nam được khuyến nghị nên áp dụng mô hình quản lý

Trang 27

rủi ro tập trung.

Tại Hội sở chính thực hiện tách bạch chức năng phê duyệt tín dụng vớichức năng quản lý tín dụng trên cơ sở phân định trách nhiệm và chức năng rõràng giữa các bộ phận thẩm định, phê duyệt tín dụng, quản lý tín dụng, quản

Các nhà quản trị ngân hàng cần phải chấp nhận rủi ro ở mức cho phépnếu nhu mong muốn có đuợc thu nhập phù hợp từ những hoạt động nghiệp vụcủa mình Dĩ nhiên, mỗi nghiệp vụ cụ thể sau khi đánh giá mức độ rủi ro, cácngân hàng thuơng mại cần xây dựng các biện pháp phòng chống rủi ro Tuynhiên, loại bỏ hoàn toàn rủi ro trong hoạt động ngân hàng là không thể, bởi vìrủi ro ngân hàng - là sự hiện hữu khách quan vốn có trong các nghiệp vụ củangân hàng Do đó, việc đầu tiên trong quản trị rủi ro đối với các nhà quản trịngân hàng là phải nhận biết những “rủi ro cho phép” Việc chấp nhận mức độ,loại rủi ro nào chính là điều kiện quan trọng để điều tiết những tác động tiêucực của chúng trong quá trình quản lý rủi ro Mỗi ngân hàng cần phát triển

Trang 28

một chiến lược quản trị rủi ro tín dụng, trong đó sẵn sàng chấp nhận một tỷ lệ

nợ xấu phù hợp Chiến lược quản trị rủi ro tín dụng phản ánh mức độ chấpnhận rủi ro của ngân hàng với mức sinh lời nhất định mà ngân hàng kỳ vọng

Cụ thể, chiến lược quản trị rủi ro cần thể hiện tuyên bố của ngân hàng trongviệc sẵn sàng cấp tín dụng dựa trên loại hình rủi ro tiềm năng, ngành kinh tế,

vị trí địa lý, đồng tiền, kỳ hạn và mức sinh lời dự kiến

Các ngân hàng cần xác định và quản lý rủi ro tín dụng trong mọi sảnphẩm và hoạt động của mình Đối với các sản phẩm và hoạt động mới, ngânhàng cần xây dựng biện pháp quản trị rủi ro và kiểm soát phù hợp trước khiđược đưa vào sử dụng và phải được Hội đồng quản trị hoặc ủy ban của Hộiđồng quản trị phê duyệt

Các tiêu chí để cấp tín dụng lành mạnh phải được xác định rõ ràng.Những tiêu chí này cần chỉ rõ thị trường mục tiêu của ngân hàng và đồngthời, ngân hàng phải hiểu rõ về khách hàng vay vốn cũng như mục đích và cơcấu của khoản tín dụng Các ngân hàng cần nhận được đầy đủ thông tin đểcho phép đánh giá toàn diện về hồ sơ của khách hàng vay Thẩm định đánhgiá rủi ro đối với từng khoản giải ngân: Tình hình tài chính của đối tượng xinvay vốn, phân tích đặc trưng ngành của doanh nghiệp vay, phân tích khả năngcạnh tranh, khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp so với các đối thủcùng loại trên thị trường Phân tích các rủi ro hệ thống, rủi ro tình hình kinhtế Đánh giá năng lực lãnh đạo của các cán bộ doanh nghiệp

1.2.4.2 Đo lường rủi ro tín dụng

Đo lường rủi ro là bước tiếp theo sau khi nhận diện được nguy cơ rủi ro.Hiệp ước Basel II khuyến khích các ngân hàng sử dụng các cách tiếp cận vàmô

hình đo lường Rủi ro tín dụng để có thể lượng hóa giá trị tổn thất tín dụng tốiđa

dựa trên khung giá trị Var (Value at Risk) Một cách tổng quát Var được đo

Trang 29

mức xác suất cho trước (thường được gọi là độ tin cậy) Theo quy định củaBasel

II, tổn thất tín dụng của một danh mục tín dụng có thể phân chia thành 2 loại

Khoản tổn thất dự tính được (Tổn thất trong dự tính) - EL và (ii) Khoản tổnthất

không dự tính được (Tổn thất ngoài dự tính) - UL

Bên cạnh đó, một số chỉ tiêu đo lường hiện nay các ngân hàng thươngmại Việt Nam đang áp dụng gồm:

Hệ số tín nhiệm khách hàng Xếp hạng tín nhiệm được hiểu là việc đưa

ra nhận định về mức độ tín nhiệm đối với trách nhiệm tài chính; hoặc đánhgiá mức độ rủi ro tín dụng phụ thuộc các yếu tố bao gồm năng lực đáp ứngcác cam kết tài chính, khả năng dễ bị vỡ nợ khi các điều kiện kinh doanh thayđổi, ý thức và thiện chí trả nợ của người đi vay Như vậy, hệ số tín nhiệmkhách hàng càng cao thì khả năng xảy ra rủi ro càng thấp và ngược lại

Dự phòng rủi ro tín dụng:

Theo khoản 3 điều 3 thông tư số 02/2013/TT-NHNN thì “Dựphòng rủi

ro là số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”.

Như vậy phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro đựơc hiểu là nhữngbiện pháp mà các ngân hàng áp dụng để phòng ngừa rủi ro rín dụng có thểxảy ra do khách hàng không thực hiện nghĩa vụ thanh toán như đã cam kết

Dự phòng rủi ro tín dụng được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạtđộng để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với các khoản tín dụng(nợ) của ngân hàng Dự phòng rủi ro đánh giá khả năng chi trả của ngân hàngkhi rủi ro xảy ra Mục đích của việc sử dụng Dự phòng rủi ro là nhằm bù đắptổn thất đối với những khoản nợ của ngân hàng xảy ra trong trường hợp khách

Trang 30

Tỷ lệ dự phòng Dự phòng rủi ro tín dụng được trích lập

Dự phòng rủi ro không phải trích lập cho các khoản tín dụng được phânloại vào nhóm nợ đủ tiêu chuẩn Do đó, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro phảnánh tình hình chất lượng tín dụng của ngân hàng đang tốt hay có nhiều nợxấu Là một trong các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng mà các ngân hàng ViệtNam đang sử dụng

1.2.4.3 Kiểm soát rủi ro tín dụng

Kiểm soát rủi ro tín dụng là bước thể hiện rõ ràng nhất chiến lược, tưtưởng của ngân hàng về quản trị rủi ro tín dụng Bằng cách xây dựng một hệthống các biện pháp kiểm soát rủi ro tín dụng bao gồm hạn chế rủi ro, khắcphục rủi ro với nội dung như sau:

Một, xây dựng chính sách tín dụng hợp lý, đây được coi là một trong

những biện pháp quan trọng để các khoản cấp tín dụng của ngân hàng đápứng được tiêu chuẩn pháp lý, đảm bảo an toàn Chính sách tín dụng của ngânhàng được xây dựng trên cơ sở khẩu vị rủi ro được các nhà quản trị ngân hànglựa chọn Chính sách tín dụng có thể được hiểu là toàn bộ cương lĩnh của mộtngân hàng, là một hướng dẫn chung cho cán bộ tín dụng và các nhân viênngân hàng trong việc thực hiện việc cho vay Chính sách tín dụng phản ánhđịnh hướng cơ bản cho hoạt động tín dụng, nó có ý nghĩa quyết định đến sựthành công hay thất bại của ngân hàng Để đảm bảo và nâng cao chất lượngtín dụng, ngân hàng cần phải có chính sách tín dụng phù hợp với đường lốiphát triển kinh tế, đồng thời kết hợp được lợi ích của người gửi tiền, của ngânhàng và người vay tiền Một chính sách tín dụng phù hợp, chặt chẽ là kim chỉnam cho các cán bộ tín dụng thực hiện triển khai các mục tiêu đề ra một cáchlành mạnh, an toàn, từ đó giảm thiểu rủi ro tín dụng ngoài ý muốn cho ngânhàng Ngược lại, một chính sách tín dụng không phù hợp, lỏng lẻo, sẽ dẫn tới

Trang 31

các cán bộ tín dụng mù mờ, không có định hướng rõ ràng, thậm chí là luồnlách để đạt được các mục tiêu mà họ theo đuổi Điều này ảnh hưởng rất lớntới công tác quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại.

Hai, thực hiện theo dõi và giám sát khoản vay thường xuyên, bao gồm

giám sát riêng lẻ và giám sát tổng thể danh mục tín dụng Giám sát riêng lẻđòi hỏi cán bộ tín dụng có kiến thức, thông tin cụ thể về lĩnh vực hoạt độngkinh doanh và điều kiện tài chính của khách hàng, để từ đó có thể hạn chếđược những rủi ro tín dụng đến từ phía khách hàng vay vốn Giám sát tổngthể danh mục tín dụng lại yêu cầu có kiến thức bao quát toàn diện và hệ thốngthông tin, giám sát hỗ trợ đầy đủ, từ đó có thể phân tích cơ cấu danh mục, xácđịnh và kiểm tra những xu hướng trong danh mục xem xét xem có hiện tượngtập trung trong danh mục tín dụng hay không, để có thể kiểm soát và đưa ranhững biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng một cách tốt nhất

Ba, chính sách phân loại nợ: là chính sách các Ngân hàng thương mại

xếp loại dư nợ hiện tại theo các tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể, theo nhóm cụ thể

từ đó thực hiện trích lập dự phòng RRTD bù đắp các rủi ro tín dụng xảy ra.Nguyên tắc phân loại nợ phải được thực hiện ngay từ khi cấp tín dụng và định

kỳ đánh giá lại theo quy định cụ thể

Bốn, thực hiện trích lập dự phòng rủi ro tín dụng nhằm mục đích giúp

các ngân hàng chủ động đối phó với các tổn thất dự kiến trên cơ sở phân loại

nợ của các ngân hàng thương mại Trên cơ sở đó, các NHTM thực hiện việctrích lập dự phòng rủi ro cho từng khoản vay theo nguyên tắc được phép địnhgiá giá trị tài sản đảm bảo để khấu trừ ra khỏi số tiền được trích lập với tỷ lệtrích lập tương ứng với các nhóm nợ [2], [16]

Trang 32

vẫn tồn tại những khoản tín dụng có vấn đề Khi xảy ra rủi ro tín dụng, cần xácđịnh tình trạng, mức độ và nguyên nhân của loại rủi ro xảy ra từ đó đưa ra cácgiải pháp cụ thể để có thể giảm thiểu tổn thất xuống một cách thấp nhất.

Đối với các rủi ro phát sinh do yếu tố đạo đức con người, hành vi lừađảo trái pháp luật, ngân hàng cần sử dụng các công cụ pháp luật một cáchmạnh mẽ, dứt khoát, nhanh chóng nhất có thể để thu hồi nợ

Đối với các rủi ro phát sinh từ các yếu tố khách quan mà không phải docon người cố ý gây ra, ngân hàng cần có sự tiếp xúc tìm hiểu khó khăn củakhách hàng Cùng khách hàng khắc phục khó khăn, tìm nguồn trả nợ khácthay thế để có thể duy trì quan hệ tín dụng lành mạnh

Đối với các rủi ro không thể khắc phục, ngân hàng có thể sử dụngnguồn thu nợ thứ hai từ phát mại tài sản thế chấp, cầm cố cho khoản vay đểthu hồi nợ

Trong trường hợp xấu nhất, không thể bù đắp được rủi ro tín dụng bằngtất cả các biện pháp trên, ngân hàng buộc phải dùng dự phòng rủi ro tín dụng

để xử lý đồng thời đưa khoản vay đó sang theo dõi ngoại bảng và ghi nhậnvào thu nhập bất thường khi thu hồi được khoản nợ đó

Đối với công tác xử lý nợ xấu, ngân hàng cần đặt mục tiêu: tận dụng tối

đa các cơ hội để thu hồi các khoản vay đã cấp

Để tránh tổn thất rủi ro tín dụng không đáng có, trách nhiệm xử lý nợxấu phải độc lập với chức năng cho vay

1.2.5 Các chỉ tiêu đánh giá công tác quản trị rủi ro tín dụng

1.2.5.1 Mức độ áp dụng các nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng theo Basel II

Để đáp ứng được các yêu cầu của Hiệp ước Basel II với các tiêu chuẩnquốc tế về an toàn vốn và thanh khoản, các ngân hàng sẽ hoạch định lại hoạtđộng kinh doanh và các chiến lược kinh doanh một cách tích cực hơn Trongkhuôn khổ Basel II, các công cụ và phương pháp quản lý rủi ro tiên tiến được

Trang 33

triển khai đảm bảo cho những ngân hàng có hệ thống quản trị rủi ro tốt, giảmthiểu chi phí, tập trung phát triển các mảng nghiệp vụ kinh doanh mới và hiệuquả hơn trong các quyết định phân bổ nguồn vốn kinh doanh.

Triển khai Basel II giúp các ngân hàng hoạt động an toàn hơn, lànhmạnh hơn do trình độ quản trị rủi ro đuợc tăng cuờng, các biện pháp quản trịrủi ro, đặc biệt là mô hình rủi ro và xếp hạng nội bộ đuợc chủ động áp dụng,đồng thời nguồn vốn đuợc quản lý một cách hiệu quả hơn Trong lĩnh vực tíndụng, các NHTM sẽ phải chuyển huớng tập trung vào đánh giá mức độ tínnhiệm của khách hàng, thay vì dựa chủ yếu vào tài sản đảm bảo

Basel II và các văn bản bổ sung của Basel yêu cầu các NHTM phải có

hệ thống quản lý rủi ro tiên tiến, trong đó bao gồm chính sách quản lý rủi ro,các phuơng pháp luận quản lý rủi ro Các yêu cầu của Basel II về hệ thốngquản lý rủi ro xoay quanh việc xây dựng, triển khai và ứng dụng các mô hình

đo luờng rủi ro Hiệp uớc Basel huớng tới việc xây dựng nền tảng vững chắccác quy định về bảo đảm an toàn vốn, giám sát ngân hàng phù hợp và các quytắc thị truờng Mục tiêu cao nhất là các ngân hàng tuân thủ Basel II sẽ tăngcuờng hơn nữa hoạt động quản lý rủi ro Nhu vậy, áp dụng Basel II thì ngânhàng phải nâng cao khả năng quản trị rủi ro để với một luợng vốn tuơngđuơng với ngân hàng khác thì ngân hàng có thể đem đi kinh doanh, đầu tu,cho vay nhiều hơn tạo ra nhiều lợi nhuận hơn Nguợc lại, nếu ngân hàng quảntrị rủi ro kém thì rủi ro tăng lên và kéo theo yêu cầu vốn cũng tăng lên, làmgiảm hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Vì vậy, có thể nói rằng, đây khôngchỉ đơn thuần là tuân thủ quy định của cơ quan quản lý, mà còn là nhu cầu nộitại của ngân hàng để thực sự thay đổi phuơng thức kinh doanh dựa trên nềntảng quản trị rủi ro, trên cơ sở đó nâng cao hiệu quả kinh doanh ngân hàng

Điều này cho thấy mức độ áp dụng các nguyên tắc QTRR TD theoBasel II có thể đánh giá công tác QTRR TD tại ngân hàng đang ở đâu so với

Trang 34

chuẩn mực thế giới, có tốt hay không, an toàn hay không.

1.2.5.2 Tính tuân thủ trong thực hiện các nguyên tắc quản trị rủi ro tín

dụng

Việc tuân thủ và thực hiện các nguyên tắc QTRR TD theo Basel II làmột trong những chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá công tác QTRR TD củangân hàng

Tất cả các nguyên tắc, quy trình, quy định chỉ là trên giấy tờ và lý luận,

ta chỉ thấy kết quả thực sự của nó khi triển khai trên thực tiễn Với mỗi nộidung trong 4 nội dung QTRR TD đều có ý nghĩa và vai trò riêng biệt khôngthể thay thế Cùng 4 nội dung trên, nhung với quy trình khác nhau, các chủthể thực hiện khác nhau cho ra những kết quả khác nhau, điều này xuất phát

từ công tác triển khai trên thực tế 4 nội dung đó nhu thế nào, tuân thủ đúngtrình tự và đúng nội dung yêu cầu hay không, do đó thông qua thực trạng thựchiện các nguyên tắc QTRR TD đã đề ra có thể trả lời câu hỏi việc QTRR TDcủa ngân hàng có tốt hay không, tuân thủ chặt chẽ hay không, hiệu quả nhuthế nào thông qua:

Thứ nhất: Tính tuân thủ các nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng Chỉ

tiêu này phản ánh việc các nguyên tắc trong quản trị rủi ro đua ra có đuợctuân thủ nghiêm túc hay không Tính tuân thủ thể hiện ở việc thực hiện đầy đủcác quy trình, quy tắc, yêu cầu trong chính sách quản lý rủi ro tín dụng tạingân hàng Tính tuân thủ càng cao càng thể hiện công tác quản trị rủi ro tíndụng tại ngân hàng đuợc thực hiện một cách chặt chẽ và có tính nguyên tắccao, khả năng hạn chế và kiểm soát rủi ro tốt hơn và nguợc lại

Thứ hai: Tính đầy đủ các nội dung trong nguyên tắc quản trị rủi ro tín

dụng Các nội dung trong nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng bao hàm toàn bộ

những yêu cầu, huớng dẫn công việc phải thực hiện trong một nguyên tắcquản

Trang 35

nghiêm túc càng phát huy được tác dụng của các nguyên tắc trong công tácquản

trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng Do đó, việc thực hiện đầy đủ các nội dung củanguyên tắc đã đưa ra trong quản trị rủi ro tín dụng có thể phản ánh chất lượngcông tác quản trị rủi ro tín dụng tại một ngân hàng là tốt và ngược lại

1.2.5.3 Kết quả đạt được trong công tác quản trị rủi ro tín dụng

Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại một ngân hàng tốt hay xấu đượcphản ánh trực tiếp qua các kết quả đạt được của công tác này tại ngân hàng.Kết quả này được thể hiện qua các chỉ tiêu về tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu,

tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng Các tỷ lệ này hợp lý, nằm trong giớihạn cho phép của ngân hàng và nó kiểm soát được phản ánh công tác quản trịRRTD tại ngân hàng là tốt, ngược lại, các tỷ lệ này quá cao, không phù hợpvới năng lực của ngân hàng sẽ phản ánh sự yếu kém trong công tác quản trịrủi ro tín dụng tại ngân hàng Kết quả công tác quản trị rủi ro tín dụng đượcphản ánh cụ thể qua các chỉ tiêu cụ thể như:

Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thể hiện chất lượng tín dụng của ngân hàng càngkém, và ngược lại

Trang 36

được quy định Tỷ ið nơ χΛu = Tông nợ xâu χι θθ tại điều 10 và

Bản chât của nợ xâu là một khoản tiền cho vay mà chủ nợ xác địnhkhông

thể thu hồi lại được và bị xóa sô khỏi danh sách các khoản nợ phải thu của chủ

nợ Đối với các ngân hàng, nợ xâu tức là các khoản tiền cho khách hàng vay

càng cao thể hiện chât lượng tín dụng của ngân hàng càng kém, và ngược lại.Tuy nhiên sử dụng tỷ lệ nợ xâu cũng có hạn chế, bởi đây là chỉ số của quákhứ,

mang tính thời điểm, thêm nữa là nó là tỷ lệ tương đối nên chưa phản ánh hếtđược mức độ rủi ro thực tế của ngân hàng

RO TÍN DỤNG

Trang 37

điều này tùy thuộc vào quy mô vốn tự có, năng lực quản trị, cơ sở vật chất kỹthuật và một số yếu tố nội lực khác nhau của ngân hàng Vì vậy, cùng với việchoạch định chiến luợc kinh doanh, các nhà quản trị ngân hàng quyết địnhkhẩu vị rủi ro dựa trên khả năng chịu đựng rủi ro của ngân hàng mình, để đảmbảo các chính sách sau đó sẽ đuợc thiết kế phù hợp với khả năng này [2] Quaphân tích trên ta có thể thấy, khẩu vị rủi ro của nhà quản trị ngân hàng có tácđộng vô cùng quan trọng đối với công tác quản trị rủi ro của ngân hàng Khẩu

vị rủi ro phù hợp với quy mô vốn và khả năng chấp nhận rủi ro của ngân hàng

sẽ giúp ngân hàng tránh đuợc tình trạng phát triển tín dụng vuợt quá khả năngkiểm soát của mình dẫn đến những rủi ro mất vốn nghiêm trọng, không chỉảnh huởng tới sự phát triển mà còn có khả năng làm sụp đổ cả một hệ thốngngân hàng

1.3.1.2 Chính sách quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng

Chính sách quản trị rủi ro tín dụng là một nội dung trong chính sách tíndụng chung của ngân hàng Những nội dung quản lý rủi ro tín dụng cơ bảntrong chính sách gồm có:

+ Chính sách giới hạn hoặc hạn chế cấp tín dụng Trong từng ngânhàng luôn có những quy định về giới hạn cấp tín dụng, những giới hạn này cóthể hình thành do quy định của pháp luật, hoặc của cơ quan giám sát ngânhàng từng nuớc, hoặc cũng có thể do chính ngân hàng đặt ra Mục đích lànhằm giảm thiểu sự tập trung trên danh mục cấp tín dụng, tránh dồn vốn chomột số ít đối tuợng, gây bất lợi cho ngân hàng

+ Chính sách phân tán rủi ro thông qua đa dạng hóa lĩnh vực, ngànhnghề kinh tế, khu vực địa lý Một mặt, chính sách đa dạng hóa là cụ thể hóanguyên tắc phân tán rủi ro theo đối tuợng đuợc cấp tín dụng, mặt khác thểhiện thị truờng mục tiêu mà ngân hàng đang muốn huớng tới, phù hợp vớinăng lực kiểm soát rủi ro của ngân hàng

Trang 38

+ Chính sách đảm bảo an toàn cho quá trình cấp tín dụng, thông quaquy định về lãi suất tiền vay, quy định tài sản bảo đảm nợ vay, quy định vềvốn đối ứng trong từng dự án, từng phuơng án vay vốn Những quy định này

có tính chất định huớng cho quá trình thực hiện cấp tín dụng tại ngân hàng

+ Chính sách trích lập quỹ dự phòng tổn thất trong kinh doanh tín dụng.Tổn thất tín dụng mà ngân hàng gặp phải có thể là loại uớc tính đuợc(ExpectedLoss) hoặc loại không uớc tính đuợc (Unexpected Loss) Để đối phóvới các loại tổn thất này, ngân hàng thuờng có hai cách: (i)Trích lập dự phòngcho tổn thất dự tính đuợc và (ii) Tính số vốn tự có cần thiết để trang trải chotổn

thất không dự tính đuợc Những nội dung liên quan đến dự phòng tổn thất phảiđuợc đề cập đến trong chính sách quản lý rủi ro tín dụng của các ngân hàng[2]

1.3.1.3 Nguồn nhân lực

Cho dù khoa học kỹ thuật hiện đại đã mở ra cơ hội tự động hóa trongnhiều lĩnh vực song nhân tố con nguời vẫn luôn giữ vai trò quyết định Đặcbiệt trong hoạt động tín dụng ngân hàng là hoạt động phức tạp, có liên quanđến nhiều vấn đề của đời sống xã hội thì vai trò của con nguời lại càng quantrọng Các phuơng tiện kỹ thuật hiện đại chỉ có thể trợ giúp chứ không thểthay thế đuợc sự nhạy cảm hay kinh nghiệm của nguời cán bộ tín dụng Do đóvấn đề nhân sự là vấn đề cực kỳ quan trọng đối với mỗi ngân hàng, trong đónổi bật lên hai vấn đề: chất luợng nhân sự và quản lý nhân sự Chất luợngnhân sự ở đây không chỉ đơn thuần đề cập đến trình độ chuyên môn mà cònbao gồm cả luơng tâm, đạo đức, tác phong, kỷ luật lao động của nguời cán bộngân hàng Chất luợng nhân sự tốt, biểu hiện ở sự năng động sáng tạo trongcông việc, tinh thần trách nhiệm và ý thức tổ chức kỷ luật cao của các cán bộ,trong một chừng mực nào đó có thể giúp ngân hàng bù đắp lại những hạn chế

về công nghệ, kỹ thuật, nhờ đó mà ngân hàng vẫn có thể tồn tại và phát triển

Trang 39

nghệ, trang thiết bị kỹ thuật Bên cạnh chất lượng nhân sự thì công tác quản lýnhân sự cũng cần đặc biệt chú ý, bởi lẽ không phải cứ có cán bộ tín dụng giỏi

là có chất lượng tín dụng cao Mỗi cán bộ đều có những điểm mạnh và điểmyếu riêng, điều quan trọng là phải bố trí, sắp xếp công việc của họ sao chophát huy hết thế mạnh và hạn chế điểm yếu của từng người, đồng thời có chế

độ đãi ngộ hợp lý nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm, tạo sự phối hợp nhịpnhàng hoạt động của từng thành viên trong một guồng máy thống nhất cùnghướng tới một mục tiêu chung là chất lượng tín dụng ngân hàng Cụ thể, nếucán bộ tín dụng non kém về trình độ, thiếu kiến thức, thiếu kinh nghiệm thì sẽkhông có khả năng thẩm định và xử lý thông tin khách hàng một cách chínhxác, dẫn đến chất lượng tín dụng thấp, rủi ro cao Chưa kể, nếu cán bộ tíndụng không tuân thủ theo đúng quy trình tín dụng thì việc mất vốn rất dễ xảy

ra Đặc biệt, cán bộ tín dụng có phẩm chất đạo đức kém, rất dễ bị cám dỗ, gâynên những thiệt hại lớn cho ngân hàng Trong khi công tác giám sát của cáccấp quản lý trong ngân hàng lỏng lẻo, dẫn đến không có những chỉ đạo kịpthời để ngăn ngừa và xử lý rủi ro xảy ra

Do vậy, một ngân hàng với đội ngũ cán bộ tín dụng có trình độ năng lựccao, tư cách đạo đức tốt sẽ góp phần nâng cao chất lượng tín dụng và giảm bớtgánh nặng tới công tác quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng và ngược lại

1.3.1.4 Công nghệ thông tin

Hiện nay, công nghệ thông tin là một trong những nhân tố có ảnh hưởngkhá nhiều đến công tác quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng Một ngân hàngmà

ứng dụng nhiều công nghệ, kỹ thuật hiện đại thì sẽ đạt tính chính xác, độnhanh

nhạy cao trong hoạt động tín dụng, giảm thiểu các sai sót Ví dụ như thông tinvề

khách hàng cập nhật hơn, đầy đủ hơn, đặc biệt là công tác chấm điểm khách

Trang 40

nhanh nhất, chính xác nhất Tóm lại, các ngân hàng nên đầu tư vào các trangthiết bị, công nghệ hiện đại để vừa mở rộng tín dụng lại vừa hạn chế được rủiro.

1.3.2.1 Môi trường chính trị - xã hội

Yếu tố chính trị và xã hội có tác động không nhỏ tới các hoạt động kinh

tế cũng như hoạt động tín dụng của ngân hàng Chúng ta đã từng chứng kiếncuộc khủng hoảng kinh tế của Thái Lan khi có đảo chính trong nội bộ chínhphủ vào năm 2006 Khi mà tình hình chính trị bất ổn làm xáo trộn mọi vấn đềtrong xã hội và cả các hoạt động tín dụng tại ngân hàng Tình trạng này làmcho các doanh nghiệp sản xuất bị gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanhnhư vậy khả năng thanh toán cho ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng Vìvậy rủi ro tín dụng khi mà tình hình chính trị bất ổn là rất cao Bên cạnh đó,nhiệm kỳ lãnh đạo của các cấp lãnh đạo tại chính phủ là có kỳ hạn và thườnglà

5 năm, đối với mỗi lần thay đổi người cầm quyền sẽ đi kèm với một loạt chínhsách, đường lối lãnh đạo phát triển đất nước nói chung và kinh tế nói riêng thểhiện quan điểm chính trị của nhà lãnh đạo Với mỗi sự thay đổi như vậy, cácchủ thể trong nền kinh tế cần phải điều chỉnh và thay đổi sách lược kinh doanh

để thích ứng với các chính sách mới Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới kếtquả hoạt động kinh doanh cũng như nguồn thu trả nợ cho ngân hàng

Một môi trường chính trị - xã hội ổn định là tiền đề để một nền kinh tếphát triển Hoạt động trong môi trường chính trị - xã hội ổn định, đường lốilãnh đạo rõ ràng, minh bạch sẽ giúp các doanh nghiệp kinh doanh thuận lợi,đảm bảo nguồn thu trả nợ cho ngân hàng Ngược lại, một môi trường chính trị

- xã hội bất ổn, đường lối lãnh đạo không đồng nhất, thay đổi liên tục, chồngchéo sẽ khiến các doanh nghiệp gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh củamình, thậm chí có thể phá sản do không thể thích ứng được với môi trường

Ngày đăng: 23/04/2022, 13:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức - QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNGTHƯƠNG MẠI CO PHẦN BẢO VIỆT
Sơ đồ 2.1 Mô hình tổ chức (Trang 46)
Bảng 2.3: Cơ cấu tín dụng theo nhóm nợ - QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNGTHƯƠNG MẠI CO PHẦN BẢO VIỆT
Bảng 2.3 Cơ cấu tín dụng theo nhóm nợ (Trang 54)
Bảng 2.4: Phân bố nợ xấu theo nhóm nợ - QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNGTHƯƠNG MẠI CO PHẦN BẢO VIỆT
Bảng 2.4 Phân bố nợ xấu theo nhóm nợ (Trang 56)
Baoviet Bank hiện đang áp dụng mô hình quảnlý rủi ro tín dụng tập trung - QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNGTHƯƠNG MẠI CO PHẦN BẢO VIỆT
aoviet Bank hiện đang áp dụng mô hình quảnlý rủi ro tín dụng tập trung (Trang 60)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w