Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm qua, Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào thế giới cả về nội dung và quy mô trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị,...T
Trang 2HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
CAO HOÀNG HẠNH
QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN THEO BASEL II TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CO PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIEN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2019
Ì1 [f
Trang 3HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
CAO HOÀNG HẠNH
QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN
THEO BASEL II TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CO PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Mạnh Thắng
HÀ NỘI - 2019
Trang 4Viết tắt Nguyên nghĩa
BIDV Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam
BKS Ban Kiểm soát
KSNB Kiểm soát nội bộ
LNTT Lợi nhuận trước thuế
NHNN Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
NHTM Ngân hàng thương mại
OMO Open Market Operations
QLRR Quản lý rủi ro
QTRR Quản trị rủi ro
Repo Repossess of property
ROA Return On total Assets
ROE Return On total Equity
RRLS Rủi ro lãi suất
Giáo viên hướng dẫn TS Phạm Mạnh Thắng Các nội dung nghiên cứu và kết quảtrong đề tài này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trìnhnào
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Cao Hoàng Hạnh
Trang 5TMCP Thương mại cổ phần
TTLNH Thị trường liên ngân hàngTTQL&HT Thông tin quản lý và hỗ trợ
Trang 7Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu kinh doanh chủ yếu tại BIDV giai đoạn 2011-2018 46
Bảng 2.2: Giới hạn tỷ lệ khe hở thanh khỏan tích lũy cho x ngày(tháng) tới/Tổng tài sản 59
Bảng 2.3: Giới hạn dư thừa tích lũy 59
Bảng 2.4: Giới hạn thâm hụt tích lũy 60
Bảng 2.5: Chỉ số trạng thái ngân quỹ 65
Bảng 2.6: Tỷ lệ dự trữ thanh khoản của BIDV 2012-2018 65
Bảng 2.7: Chỉ số nguồn vốn ngắn hạng sử dụng cho vay trung dài hạn của BIDV 2015-2018 66
Bảng 2.8: Tỷ lệ khả năng chi trả của BIDV 67
Bảng 2.9: Tỷ số dư nợ tín dụng/huy động vốn 67
Bảng 2.10: Chỉ số năng lực cho vay 68
Bảng 2.11: Tỷ lệ cơ cấu tiền gửi của BIDV 69
Hình 1.1: Mô hình quản trị rủi ro “3 lớp phòng vệ” 16
Hình 1.2: Mô hình quản lý rủi ro hiện đại trong NHTM 18
Sơ đồ 2.1: Bộ máy quản lý của BIDV 41
Sơ đồ 2.2: Bộ máy tổ chức quản lý rủi ro thanh khoản tại BIDV 54
Đồ thị 2.1: Huy động vốn tại BIDV giai đoạn 2011-2018 42
Đồ thị 2.2: Tốc độ tăng trưởng huy động vốn và tăng trưởng tín dụng BIDV 43
Đồ thị 2.3: Hoạt động tín dụng tại BIDV giai đoạn 2011-2018 44
Đồ thị 2.4: Tốc độ tăng trưởng thu dịch vụ của BIDV 2012-2018 45
Đồ thị 2.5: Chỉ số năng lực cho vay của BIDV, Vietinbank và Vietcombank 68
Đồ thị 2.6: Tốc độ tăng trưởng của tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn 70
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào thế giới cả
về nội dung và quy mô trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị, Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu những năm gần đây diễn biến khó lường vàphức tạp, chỉ một biến động xấu của nền kinh tế toàn cầu đã có khả năng ảnh hưởngkhông nhỏ đến nền kinh tế Việt Nam; ảnh hưởng tới mọi hoạt động sản xuất kinhdoanh khiến cho hệ thống tài chính ngân hàng phải đối mặt nhiều rủi ro tiềm ẩn.Các rủi ro này lại trở thành nguyên nhân dẫn đến một trong các rủi ro trọng yếu củacác ngân hàng thương mại (NHTM) đó chính là rủi ro thảnh khoản - đây là loại rủi
ro có tác động lớn đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng
Trước bối cảnh như vậy, Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại hệ thốngcác tổ chức tín dụng (TCTD) gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 - 2020” nhằmhướng tới một trong các mục tiêu chủ yếu là tăng cường năng lực quản trị của cácTCTD theo quy định của pháp luật và phù hợp với thông lệ quốc tế; đồng thờikhông ngừng hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, cơ chế, chính sách về tiền tệ và hoạtđộng ngân hàng nhằm đảm bảo hoạt động lành mạnh và ổn định của hệ thống ngânhàng Để thực hiện nhiệm vụ này, các NHTM sẽ phải cần phải đổi mới toàn diệnhoạt động điều hành, quản lý của mình; trong đó bao gồm cả công tác quản trị rủi rothanh khoản (RRTK) theo hướng phù hợp với chuẩn mực quốc tế Hiệp ước quốc tế
về giám sát hoạt động ngân hàng (Hiệp ước Basel) đang là điều ước quốc tế đượccác nhà quản trị ngân hàng đặc biệt quan tâm
Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) là một trong nhữngNHTM lớn nhất tại Việt Nam; luôn tiên phong áp dụng các phương pháp, mô hìnhquản trị tiên tiến Với 62 năm hình thành và phát triển, trải qua các cuộc khủnghoảng, BIDV nhận thức rõ được vai trò của việc duy trì khả năng thanh khoản vàcông tác quản trị RRTK tác động như thế nào đến hoạt động bình thường của mộtngân hàng Từ năm 2014, BIDV được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) lựa chọn làmột trong 10 NHTM được thực hiện triển khai thí điểm điểm Basel II Với những
Trang 9nỗ lực không ngừng trong việc đổi mới toàn bộ hoạt động quản trị rủi ro (QTRR),BIDV đã từng bước xây dựng dựng được khung quản trị Tài sản “Nợ” - “Có” vàquản trị rủi ro thanh khoản (RRTK) theo thông lệ, phấn đấu triển khai thành công lộtrình áp dụng Basel II Mặc dù vậy, nhưng hệ thống QTRR của BIDV vẫn còn cónhững tồn tại nhất đinh, chưa thực sự đáp ứng được các chuẩn mực quốc tế Thậmchí, khi đã thiết lập và vận hành tương đối hiệu quả công tác QTRR, thực trạngquản trị RRTK tại BIDV cho thấy vẫn còn những hạn chế, tồn tại nhất định.
Nhận thức được tính cấp thiết của vấn đề và với mong muốn công tác quản trịRRTK tại BIDV được cải thiện và phù hợp với các thông lệ quốc tế (cụ thể là chuẩnmực Basel II), tôi đã lựa chọn đề tài: “Quản trị rủi ro thanh khoản theo Basel II tạiNgân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam” làm luận văn thạc sĩcủa mình
2 Tổng quan nghiên cứu
2.1 Các nghiên cứu quốc tế
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về RRTK và quản trị RRTK ở NHTM.Trước đây các nghiên cứu RRTK thường tập trung vào các tỷ số thanh khoản, cácphương pháp phân tích định tính và định lượng đã xuất hiện gần đây
về nguyên tắc chung trong quản trị rủi ro thanh khoản: Năm 2008, Ủy ban
Basel đã ban hành các “Thông lệ tốt nhất về quản lý khả năng thanh khoản của cácngân hàng” Trong đó, đề cập đánh giá hoạt động quản lý thanh khoản của cácNHTM theo các nguyên tắc chung
về phân tích tỷ số thanh khoản: Các nghiên cứu trước đây thường sử dụng các
chỉ số thanh khoản sau đây: Tỷ số tài sản thanh khoản trên tổng tài sản (Aspachs vàcộng sự, 2005; Rytárik, 2009); tài sản thanh khoản trên tổng huy động ngắn hạn(Indriani, 2004); tài sản thanh khoản trên tiền gửi khách hàng và tiền gửi ngắn hạn(Kousmidou và cộng sự, 2005); tỷ số cho vay trên tổng tài sản (Lucchetta ,2007) Các tác giả này đều cho rằng những tỷ số thanh khoản này càng cao thì khảnăng thanh khoản của NHTM sẽ tốt hơn, RRTK càng thấp, từ đó, NHTM càng ítphải đối mặt với rủi ro phá sản [15], [16], [17], [18]
Trang 10Trong khi đó, Poorman và Blake (2005) lại cho rằng nếu như chỉ sử dụng các
tỷ số thanh khoản để đo lường RRTK là không đủ và đó không phải là giải pháp để
xử lý vấn đề RRTK trong hoạt động ngân hàng và nghiên cứu này đề xuất bên cạnh
sử dụng các tỷ số thanh khoản thì NHTM cũng phải tìm ra các cách khác để đolường RRTK [19] Có thể phân chia 2 phương pháp chính đó là:
- Về phân tích định lượng: Basel Committee on Banking Supervision (2000)
đã đề nghị sử dụng phương pháp khung thời gian đáo hạn cần quản lý [12] Trongkhi đó, Sauders và Cornett (2007) lại đề xuất sử dụng sự so sánh các tỷ số thanhkhoản cùng nhóm, khe hở tài trợ và nhu cầu tài trợ, dự trù thanh khoản để đo lườngRRTK [20] Matz và Neu (2007) lại cho rằng các NHTM có thể sử dụng bảng cânđối kế toán để phân tích thanh khoản, vị thế vốn góp bằng tiền mặt và độ lệch đáohạn để tiếp cận RRTK [21]
- Về phân tích định tính: Matz và Neu (2007) cho rằng việc tiếp cận RRTKtrong ngân hàng bằng“phương pháp phân tích định tính cũng quan trọng nhưphương pháp phân tích định lượng”và đã áp dụng đánh giá RRTK bằng một số cáchphân tích định tính trong các nghiên cứu của họ
về các nhân tố ảnh hưởng đến RRTK của NHTM: Decker (2000) cho rằng
các yếu tố vĩ mô như lạm phát, tăng trưởng kinh tế có tác động đến RRTK củaNHTM Trên cơ sở kế thừa nghiên cứu của Decker, Chung và cộng sự (2009) đãvận dụng mô hình nguyên nhân RRTK khi phân tích RRTK tại 12 nền kinh tế hàngđầu thế giới trong suốt giai đoạn 1994-2006 Đây là mô hình được đánh giá cao khiphân tích nguyên nhân gây RRTK cho NHTM [22], [23]
về nghiên cứu sức chịu đựng RRTK: Thông qua việc sử dụng mô hình “kiểm
tra sức chịu đựng” (mô hình stress test hay còn gọi là mô hình ST) kết hợp chặt chẽvới quy định của Basel về thanh khoản, Van và cộng sự (2009) đã tiến hành khảosát các NHTM của Hà Lan để tìm ra mối quan hệ giữa phản ứng hành vi củaNHTM và nguy cơ RRTK Kết quả chỉ ra rằng sự thiếu thiếu quan tâm và nới lỏngquy định QTRR của NHTM sẽ làm tăng nguy cơ đối với hệ thống ngân hàng của
Hà Lan [24]
Trang 112.2 Các nghiên cứu trong nước
Vấn đề rủi ro thanh khoản hệ thống ngân hàng đã được đề cập trong nhiềunghiên cứu khác nhau, như các sách chuyên khoa, các Hội thảo khoa học, các đề tàiNCKH, các luận án, luận văn đặc biệt, có một số công trình nghiên cứu nổi bậtsau đây:
- Tô Ngọc Hưng và các cộng sự (2010) trong “Tăng cường năng lực quản lý
RRTK tại NHTM Việt Nam” do TS Tô Ngọc Hưng làm chủ nhiệm (Đề tài
- Vũ Ngọc Duy và các cộng sự (2011) trong “Khủng hoảng tài chính - Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn đối với sự phát triển của hệ thống ngân hàng Việt
Nam” đã đề cập các cơ sở lý luận về khủng hoảng tài chính một cách có hệ
thống NHTM vẫn còn chung chung và chưa được làm rõ [26]
- Dương Quốc Anh và các cộng sự (2012) trong “Phương pháp luận đánh giá
Trang 12sử dụng mô hình kiểm tra “sức chịu đựng” đối với 10 NHTM tiêu biểu để đánh giáthực trạng RRTK của hệ thống NHTM Việt Nam Trên cơ sở đó, nghiên cứu đềxuất quản trị RRTK theo Basel theo một lộ trình cụ thể và gợi ý đánh giá rủi rothông qua việc sử dụng mô hình ST [8].
- Kiều Hữu Thiện và cộng sự (2015) trong “Mối liên hệ giữa cấu trúc sở hữu
và hiệu quả hoạt động của các NHTMNN và NHTM do Nhà nước giữ cổ
vây, nghiên cứu chưa phân tích chi tiết về vấn đề quản trị RRTK [27]
- Luận án tiến sỹ “Quản lý RRTK trong hệ thống NHTM Việt Nam” của Vũ
Quang Huy (2016) đã phân tích thực trạng quản trị RRTK trong hệ thốngNHTM
Việt Nam một cách khá sâu sắc Tuy nhiên, nghiên cứu mới mang tính baoquát
chung cho toàn hệ thống ngân hàng mà chưa đề cập đến hoạt động này tạimột
NHTM cụ thể nào đó [2]
Ngoài ra, còn có nhiều luận văn, luận án ở các trường Đại học/Học viện cũng
đã đề cập vấn đề quản lý RRTK tuy chưa thực sự sâu nhưng cũng đã phản ánh đượctình trạng RRTK và quản lý RRTK tại từng NHTM riêng lẻ hoặc trong toàn bộ hệthống ngân hàng
Trên cơ sở những khoảng trống của các công trình nghiên trước đây, tôi đãđược gợi ý thực hiện nghiên cứu của mình theo một hướng mới với các nội dung:
(i) Mức độ RRTK ở từng NHTM cụ thể ở Việt Nam như thế nào; (ii) Công tác quản
trị RRTK ở các NHTM đã đáp ứng các yêu cầu của các chuẩn mực quốc tế, trong
Trang 13gồm cả các yêu cầu của Basel II đối với công tác quản trị RRTK), đến thực trạng ápdụng Basel II trong quản trị RRTK tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển ViệtNam để từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị để nâng cao năng lực quản trị RRTKcủa BIDV.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực
trạng quản trị RRTK tại NHTM
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động quản trị
RRTK tại BIDV và đề xuất các biện pháp triển khai thành công Basel II trong côngtác quản trị RRTK tại BIDV
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vậtlịch sử làm phương pháp nghiên cứu Đồng thời, luận văn cũng kết hợp nhiềuphương pháp truyền thống khác như: phương pháp thu thập, tổng hợp thông tinquan việc nghiên cứu tài liệu; phương pháp phân tích thực nghiệm (Case study) kếthợp với việc đưa ra các giả thiết nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu định tính.Các thông tin được tiếp cận theo nhiều chiều như tiếp cận thực nghiệm, tiếp cận lịch
sử và logic, tiếp cận cá biệt và so sánh, Ngoài ra, luận văn cũng kế thừa, vậndụng một số kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan đến đề tàinghiên cứu để làm sâu sắc thêm các luận điểm trong luận văn
6 Ket cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục,nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba (03) chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro thanh khoản tại các ngân
hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản theo Basel II tại Ngân
hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV)
Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh và hoàn thiện quản trị rủi ro thanh khoản
theo Basel II tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam
Trang 14CHƯƠNGI NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN
TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Rủi ro thanh khoản trong hoạt động kinh doanh của NHTM
1.1.1 Thanh khoản
1.1.1.1 Khái niệm
a Dưới góc độ tài sản:
Thanh khoản được hiểu là khả năng tài sản chuyển đổi thành tiền
Một tài sản có tính lỏng cao khi thỏa mãn các tiêu chí sau: (1) sẵn sàng giaodịch; (2) thị trường giao dịch có sẵn; (3) Giao dịch đúng thời điểm; và (4) Giá cả(chi phí) giao dịch hợp lý
b Dưới góc độ quản trị ngân hàng:
Thanh khoản được hiểu là khả năng ngân hàng sử dụng, tìm kiếm các nguồntiền để đáp ứng đầy đủ và kịp thời các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trìnhhoạt động kinh doanh, như chi trả tiền gửi, cấp tín dụng, thanh toán và các giao dịchtài chính khác trong thời kỳ cụ thể
Như vậy, nếu tại thời điểm phát sinh nhu cầu mà ngân hàng tiếp cận đượcngay với các nguồn cung thanh khoản với chi phí hợp lý thì khả năng thanh khoảncủa ngân hàng được đánh giá là tốt
1.1.1.2 Cung, cầu và trạng thái thanh khoản
a Cung thanh khoản
Cung thanh khoản là số tiền có sẵn hoặc có thể có trong thời gian ngắn đểngân hàng có thể sử dụng
Cung thanh khoản bao gồm: Ngân quỹ; tiền gửi của khách hàng; tiền gửi tạiNHNN và các tổ chức tín dụng (TCTD) khác; Doanh thu; Các khoản hoàn trả gốc
và lãi vay; Bán các tài sản có; Vay thị trường liên ngân hàng (TTLNH); Các khoảnphải thu/ nợ khác Trong đó, tiền gửi của khách hàng, các khoản hoàn trả tín dụng
và doanh thu từ các dịch vụ là những nguồn cung thanh khoản quan trọng nhất
b Cầu thanh khoản
Trang 15Cầu thanh khoản (dòng tiền ra): Là số tiền ngân hàng có nhu cầu chi trả ngaylập tức hoặc trong một thời gian ngắn Các bộ phận tạo nên cầu thanh khoản baogồm: Hoàn trả tiền gửi cho khách hàng rút tiền gửi; Giải ngân các khoản tín dụngcho khách hàng; Hoàn trả các khoản đi vay; Chuyển tiền thanh toán theo yêu cầucủa khách hàng; Chi các khoản chi phí hoạt động; Chi trả các khoản nộp Ngân sáchNhà nước (Thuế, phí, lệ phí ); Chi trả cổ tức (đối với NHTM cổ phần); Chi trả cáckhoản nợ/ phải trả khác Trong đó, bộ phận cầu thanh khoản chủ yếu là khách hàngrút tiền gửi và ngân hàng giải ngân để cấp tín dụng cho khách hàng.
Cầu thanh khoản bao gồm: giải ngân cho khách hàng vay; hoàn trả tiền gửi/tiền vay; thanh toán, chi trả theo yêu cầu của khách hàng; chi cho hoạt động; chi trả
cổ tức; nộp ngân sách nhà nước và chi trả nợ/ các khoản phải trả khác Trong đó,giải ngân tín dụng và chi trả tiền gửi chiếm phần lớn trong cầu thanh khoản
c Trạng thái thanh khoản ròng (hay Khe hở thanh khoản)
Trạng thái thanh khoản ròng (Net Liquidity Position - NLP) của NHTM làphần chênh lệch giữa tổng cung và tổng cầu thanh khoản tại một thời điểm
Công thức tính:
Trạng thái thanh khoản ròng (NLP) = ∑Cung thanh khoản - ∑Cau thanh khoản
Có 3 trường hợp trạng thái thanh khoản thanh khoản có thể xảy ra:
- Nếu NLP > 0 (Cung vượt quá cầu): Thặng dư thanh khoản
- Nếu NLP < 0 (Cầu vượt quá cung): Thâm hụt thanh khoản
- Nếu NLP = 0 (Cân bằng cung cầu): Cân bằng thanh khoản
1.1.2 Rủi ro thanh khoản
1.1.2.1 Khái niệm rủi ro thanh khoản
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau định nghĩa về RRTK
Benton E.Gup - tác giả cuốn sách “Commercial Banking - The Management
of Risk” cho rằng: “Rủi ro thanh khoản là rủi ro về tổn thất phát sinh từ trạng tháithiếu hụt tiền mặt hoặc tài sản tương đương tiền, hay đặc biệt hơn là rủi ro về tổnthất phát sinh từ trạng thái thiếu khả năng thu xếp được nguồn tài trợ với mức độhợp lý về chi phí, bán hay thu xếp một tài sản với mức giá hợp lý, nhằm trang trải
Trang 16một nghĩa vụ đã được dự định hoặc bất định” [28].
Một tác giả nổi tiếng thế giới trong lĩnh vực tài chính ngân hàng - LeonardMatz đưa ra ý kiến “Rủi ro thanh khoản là rủi ro không có khả năng huy động đượcnguồn thanh khoản hoặc nếu huy động nguồn thanh khoản thì ở chi phí cao Rủi rothanh khoản được phát sinh từ Bảng cân đối kế toán khi có sự mất cân đối giữa quy
mô và thời gian đáo hạn của các tài sản có và tài sản nợ”
Basel Committee on Banking Supervision (2006): “Rủi ro thanh khoản là loạirủi ro xảy ra khi ngân hàng thiếu khả năng chi trả, không kịp thời chuyển đổi cácloại tài sản thành tiền hoặc không có khả năng vay mượn để đáp ứng yêu cầu củacác hợp đồng thanh toán.” [13]
Tại khoản 14, điều 3, Thông tư 13/2018/TT-NHNN ngày 18/05/2018 củaNHNN quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mại, chi nhánhngân hàng nước ngoài, có đưa ra khái niệm về rủi ro thanh khoản như sau:
“Rủi ro thanh khoản là rủi ro do:
a) Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không có khảnăng thực hiện các nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn; hoặc
b) Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có khả năng thựchiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn nhưng phải trả chi phí cao hơn mức chi phíbình
quân của thị trường theo quy định nội bộ của ngân hàng thương mại, chinhánh
ngân hàng nước ngoài.”
Như vậy, cách hiểu về RRTK của các nhà nghiên cứu tương đối giống nhau.Một cách chung nhất, ta có thể định nghĩa:
“Rủi ro thanh khoản là rủi ro phát sinh từ trạng thái mà NHTM không có được đủ vốn khả dụng - cung thanh khoản vào thời điểm mà NHTM cần để đáp ứng cầu thanh khoản, trạng thái này tác động xấu tới uy tín, thu nhập và khả năng thanh toán cuối cùng của NHTM”.
1.1.2.2 Nguyên nhân rủi ro thanh khoản
Mặc dù RRTK xuất phát từ nhiều phía khác nhau nhưng một cách chung nhất,
Trang 17a Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, tài sản “có” và tài sản “nợ” bất cân xứng về kỳ hạn Nhìn chung,
trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng, kỳ hạn của tài sản “có” thường dài hơn tàisản “nợ” do NHTM thực hiện chức năng huy động tiền gửi ngắn hạn để cấp tíndụng trung/ dài hạn Do vậy, thanh khoản của NHTM sẽ có vân đế khi đến hạn chitrả các tài sản “nợ” mà ngân hàng lại chưa có đủ nguồn tiền để đáp ứng Tuy nhiên,với đặc thù kinh doanh trên cơ sở rủi ro, các NHTM vẫn thường xuyên duy trì sựbất cân xứng này
Thứ hai, mất cân đối trong kết cấu tài sản Ngoài các khoản mục ngân quỹ,
các NHTM thường nắm giữa các loại chứng khoán có tính lỏng cao (như trái phiếuchính phủ, tín phiếu kho bạc) để đáp ứng thanh khoản khi cần thiết Tuy nhiên, cácloại chứng khoán này lại có tỷ suất sinh lời thấp Do vậy, với các ngân hàng chạytheo lợi nhuận quá mức, việc duy trì các chứng khoản thanh khoản này theo một tỷ
lệ nhất định nhiều khi bị coi nhẹ Mặt khác, các NHTM cũng gặp khó khăn khi cạnhtranh được với các NHTM lớn trong việc đầu thấu các chứng khoản này
Thứ ba, sự bất hợp lý trong cơ cấu khách hàng Nếu NHTM tập trung quá
mức vào một/ một nhóm khách hàng lớn hay địa phương, ngành trong huy độngvốn/ cấp tín dụng thì ngân hàng sẽ rất dễ gặp RRTK khi những khách hàng này rúttiền bất ngờ/ không trả nợ đúng hạn
Thứ tư, ngân hàng chạy theo lợi nhuận quá mức nên đưa ra những chính sách
cấp tín dụng quá dễ dàng, lựa chọn các khách hàng không đủ điều kiện để cho vay;
từ đó dẫn đến RRTD và sau cùng là RRTK
Thứ năm, hạn chế về năng lực tài chính Vốn điều lệ được coi là tấm đệm
chống đỡ rủi ro cho ngân hàng Nếu quy mô vốn điều lệ lớn, NHTM có thể dễ dàngtiếp cận các nguồn vốn hơn cũng như có khả năng chịu đựng tốt hơn trong trườnghợp thị trường căng thẳng về thanh khoản Ngược lại, nếu quy mô vốn điều lệ nhỏhoặc uy tín không cao, NHTM sẽ gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốnhoặc để có thể giải quyết khó khăn về thanh khoản bắt buộc NHTM phải chấp nhậnchi phí cao
Trang 18Thứ sáu, Hệ thống quản lý rủi ro (QLRR) và kiểm soát nội bộ (KSNB) kém.
Công tác QTRR không chỉ là hoạt động tác nghiệp thông thường mà nó đòi hỏi sựkết hợp hiệu quả của nhiều hoạt động như tăng cường năng lực phân tích, dự báo thịtrường; dự báo những xu hướng chu chuyển tiền tệ thời gian tới; từ đó đề xuất cácbiện pháp phù hợp Mặt khác, các ngân hàng cũng cần phải đề cao công tác kiểmtra, KSNB để kịp thời phát hiện nguy cơ RRTK và có các giải pháp xử lý chính xác
và kịp thời Nếu hệ thống QLRR kém, chỉ mang tính hình thức; công tác KSNB hạnchế thì nguy cơ xảy ra RRTK sẽ gia tăng
Thứ bảy, RRTK là hệ quả của các rủi ro khác Chẳng hạn như khi chất lượng
tín dụng giảm sút, ít hoặc không có khả năng thu hồi các khoản cho vay đến hạn thìNHTM sẽ không thể/ khó khăn đáp ứng các nhu cầu thanh toán, chi trả của kháchhàng Khi các nhu cầu thanh toán, chi trả bình thường không được đáp ứng, cáckhách hàng sẽ mất niềm tin vào ngân hàng và có xu hướng rút tiền ồ ạt ra khỏi ngânhàng do lo ngại nguy cơ phá sản ngân hàng Lúc này, RRTK sẽ xảy ra Như vậy, rủi
ro tín dụng (RRTD) và RRTK có liên hệ mật thiết với nhau
b Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, các tài sản tài chính nhạy cảm với thay đổi của lãi suất Người gửi
tiền thường có tâm lý rút tiền gửi từ nơi lãi suất thấp sang gửi ở nơi có lãi suất caotrong khi người đi vay lại hạn chế đi vay để giảm thiểu thua lỗ khi lãi suất tăng Cáckhách hàng này sẽ phản ứng ngược lại khi lãi suất giảm Như vậy, sự thay đổi lãisuất
sẽ ảnh hưởng đến cả dòng tiền vào và dòng tiền ra của ngân hàng; qua đó tác độngđến trạng thái thanh khoản của NHTM Bên cạnh đó, chi phí vay vốn trên thị trườngliên ngân hàng (TTLNH) và giá thị trường của tài sản tài chính cũng chịu ảnh hưởngcủa thay đổi lãi suất
Thứ hai, năng lực dự báo của các cơ quan quản lý tiền tệ còn yếu Nền kinh tế
nói chung cũng như hoạt động ngân hàng nói riêng chịu ảnh hưởng lớn bởi các vấn
đề kinh tế vĩ mô Do vậy, việc tăng cường năng lực phân tích, dữ báo những diễnbiến cũng như xu hướng vận động của nền kinh tế vi mô, thị trường và các luồngtiền để giúp công tác quản lý thanh khoản của các NHTM chủ động và đạt hiệu quả
Trang 19hơn là yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với các cơ quan quản lý tiền tệ cũng như chínhbản bân mỗi NHTM.
Thứ ba, chu kỳ kinh doanh của khách hàng. Ở Việt Nam vào những thángcuối năm, nhu cầu thanh toán, chi trả của các khách hàng thường tăng mạnh do lúcnày nhu cầu mua sắm chuẩn bị cho dịp lễ, tết tăng cao; các doanh nghiệp chi trảlương thưởng cho cán bộ nhân viên; quyết toán công nọ';
Thứ tư, nền kinh tế biến động bất thường Khủng hoảng kinh tế, tài chính làm
giảm sút niềm tin của khách hàng vào hệ thống tài chính, dẫn đến việc rút tiền ồ ạtkhỏi các ngân hàng gây ra áp lực về thanh khoản cho các NHTM Hệ quả là chi phíhuy động vốn tăng cao Mặt khác, hiệu quả hoạt động cho vay và đầu tư giảm sútkhiến ngân hàng khó thu hồi vốn đầu tư lại cũng tạo áp lực lớn đến thanh khoản
Thứ năm, tin đồn thất thiệt Tin đồn tiêu cực về hoạt động ngân hàng sẽ khiến
khách hàng mất lòng tin vào TCTD; từ đó làm cho việc huy động vốn của TCTDgặp nhiều khó khăn
1.1.2.3 Hậu quả của rủi ro thanh khoản
Bản thân NHTM nói riêng cũng như toàn bộ nền kinh tế nói chung đều chịutổn thất nặng nền khi RRTK xảy ra
a Đối với ngân hàng thương mại
Thứ nhất, ngân hàng gặp phải RRTK sẽ phải gánh chịu những hậu quả tùy
theo mức độ nghiêm trọng như: phải chịu chi phí cao khi chuyển hóa tài sản thànhtiền; khó khăn trong tiếp cận thị trường tiền tệ để tăng vốn; hoạt động kinh doanh bịđình trệ; mất uy tín dẫn đến mất khách hàng, đặc biệt là các khách hàng truyềnthống
Thứ hai, trường họp đặc biệt, nếu ngân hàng không xử lý rủi ro thanh khoản
kịp thời, ngân hàng có thể lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán dẫn đến phásản ngân hàng
b Đối với khách hàng
Thứ nhất, các khách hàng gửi tiền sẽ khó thu hồi đưọc số tiền đã gửi vào
NHTM trong trường họp ngân hàng này gặp khó khăn về thanh khoản, không có
Trang 20khả năng chi trả các khoản tiền gửi đến hạn.
Thứ hai, các khách hàng có nhu cầu tài trợ vốn sẽ rất khó đi vay các NHTM
đang gặp tình trạng khó khăn về thanh khoản do lúc này các ngân hàng đề hạn chếhoặc tạm dừng việc giải ngân mới; từ đó làm cho các khách hàng bỏ lỡ các cơ hộiđầu tư sinh lời Ngoài ra, các khách hàng đang được cấp tín dụng sẽ bị yêu cầu trả
nợ trước hạn trong trường hợp NHTM lâm vào tình trạng phá sản, bắt buộc phải thuhồi tất cả các khoản đầu tư, tài trợ để thanh toán cho các nghĩa vụ tài chính
c Đối với hệ thống tài chính và đời sống xã hội của một quốc gia
Khi một NHTM mất khả năng thanh toán và đứng trước bờ vực phá sản đồngnghĩa với việc rất nhiều các khoản nợ trong dân chúng không được thanh toán hết.Điều này gây ra tâm lý hoang mang và khiến công chúng sẽ nghi ngờ khả năngthanh toán của các NHTM khác; kéo theo sự hỗn loạn trong toàn hệ thống NHTM
Sự mất ổn định trong hệ thống ngân hàng sẽ nhanh chóng ảnh hưởng xấu tới kinh tếquốc gia do hoạt động ngân hàng liên quan đến hầu hết các chủ thể trong nền kinh
tế, và khi đó, nguy cơ bùng nổ một cuộc khủng hoảng về chính trị - kinh tế - xã hội
là điều khó tránh khỏi
1.2 Quản trị rủi ro thanh khoản
1.2.1 Khái niệm quản trị rủi ro thanh khoản
Quản trị RRTK là việc các NHTM sử dụng hệ thống các cơ chế quản lý, giảipháp nghiệp vụ với các công cụ kỹ thuật thích hợp nhằm đảm bảo trạng thái cânbằng thanh khoản được duy trì thường xuyên, xử lý những tình huống RRTK kịpthời, đồng thời vẫn đảm bảo mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng..
1.2.2 Sự cần thiết phải quản trị rủi ro thanh khoản
Quản trị RRTK là nhiệm vụ đặt ra thường trực đối với tất cả các ngân hàng.Quản trị RRTK đóng vai trò quan trọng không chỉ riêng đối với bản thân ngân hàng
mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế bởi các nguyên nhân sau đây:
Thứ nhất, trong hoạt động kinh doanh, NHTM thường phải lựa chọn giữa hai
mục tiêu lợi nhuận và thanh khoản Tỷ suất sinh lời sẽ giảm nếu NHTM tăng cường
dữ trữ thanh khoản; và ngược lại Tuy nhiên, cả 2 mục tiêu này đều quyết định đến
Trang 21sự sống còn và phát triển của NHTM Do vậy, việc cân đối hợp lý giữa hai mục tiêunày là vấn đề đặt ra đối với công tác quản trị RRTK.
Thứ hai, nếu RRTK xảy ra, ngân hàng có thể phải gánh chịu những hậu quả
vô cùng to lớn Cụ thể, khi RRTK xảy ra, các NHTM sẽ: (i) Chấp nhận chi phí cao
để thu hút các nguồn vốn bù đắp thanh khoản Điều này làm tăng chi phí vốn củaNHTM; (ii) Phải bán nhanh các tài sản với giá thấp, từ đó làm thu nhập giảm sút;(iii) Khi NHTM gặp khó khăn trong thanh toán sẽ gây ra không chỉ tổn thất về mặtvật chất mà nghiêm trọng hơn có thể tác động mạnh, làm giảm giá cổ phiếu, uy tínthương hiệu của NHTM sụt giảm mạnh, thậm chí dẫn đến nguy cơ phá sản ngay lậptức cho ngân hàng
Thứ ba, RRTK luôn mang tính hệ thống Do sự liên kết chặt chẽ giữa các
NHTM trên TTLNH nên khi một NHTM mất khả năng thanh khoản sẽ lan truyềnkhủng hoảng đến các ngân hàng khác Cung vốn giảm trong khi cầu vốn tăng mạnh
Để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, các NHTM phải tìm mọi cách đẩy mạnh nguồnvốn bổ sung, từ đó làm chi phí huy động vốn tăng cao Hệ quả là lãi suất tín dụngtăng cao làm giảm khả năng hấp thụ vốn của các doanh nghiệp; nghiêm trọng hơndân chung mất niềm tin vào hệ thống tài chính trong nước, đồng loạt rút tiền gửi; từ
đó dẫn đến sự mất ổn định đối với nền kinh tế vĩ mô
Như vậy, công tác quản trị RRTK là một trong các nhiệm vụ quan trọng hàngđầu của mỗi NHTM bởi nó không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh bìnhthường của các ngân hàng mà còn có ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế
1.2.3 Các mô hình quản trị rủi ro thanh khoản
Cùng với sự phát triển của hệ thống NHTM, cho đến nay, có 2 mô hình quảntrị thanh khoản được áp dụng Đó là mô hình quản trị RRTK phân tán và mô hìnhquản trị RRTK tập trung
a Mô hình quản trị RRTK phân tán
Đây là mô hình được áp dụng trong giai đoạn đầu khi việc quản trị RRTKđược thực hiện riêng biệt tại từng chi nhánh Theo mô hình này, từng chi nhánhphải tự chịu trách nhiệm trong giới hạn mà ngân hàng quy định đối với công tácquản trị RRTK Để đảm bảo quy định về thanh khoản, mỗi chi nhánh phải tự cân
Trang 22đối dòng tiền của mình và thanh khoản của toàn NHTM sẽ được đánh giá trên cơ sởtổng hợp thanh khoản của tất cả các chi nhánh Nhược điểm của mô hình này là bộmáy quản trị cồng kềnh, khó kiểm soát dòng tiền của toàn hệ thống, dễ xảy ra tìnhtrạng thiếu hụt/ dư thừa thanh khoản cục bộ tại một số chi nhánh, thêm vào đó cácchi nhánh khó tiếp cận các nguồn cung thanh khoản từ các khoản vốn vay.
b Mô hình quản trị RRTK tập trung
Đây là mô hình khắc phục được các nhược điểm của mô hình quản trị RRTKphân tán Theo đó, nhằm tối đa hóa lợi ích cho NHTM, quản trị RRTK được thựchiện tại Hội sở chính Mô hình này yêu cầu ngân hàng phải có một hệ thống dữ liệuthông suốt, tích hợp đầy đủ thông tin từ tất cả các chi nhánh, đơn vị có liên quan.Ngoài ra, mô hình này cũng yêu cầu ngân hàng phải xây dựng được hệ thống địnhgiá chuyển vốn nội bộ giữa Hội sở chính và các chi nhánh; cơ chế mua bán vốn nội
bộ giữa các đơn vị kinh doanh, bộ phần nguồn vốn và bộ vận tài chính Chi phí vốncho mỗi hoạt động kinh doanh cần được điều chỉnh theo mức độ rủi ro, từ đó giúpngân hàng thận trọng hơn trước mỗi quyết định tài trợ cho các hoạt động có nguy cơrủi ro cao
Với những ưu điểm nổi bật nêu trên, hầu hết các NHTM trên thế giới cũngnhư tại Việt Nam đang áp dụng mô hình quản trị RRTK tập trung
1.2.4 Nội dung quản trị rủi ro thanh khoản
1.2.4.1 Tổ chức quản trị RRTK trong hệ thống NHTM
Việc quản trị RRTK ở các NHTM nhằm hướng tới các mục tiêu: (i) Đáp ứngthanh khoản kịp thời với chi phí hợp lý; (ii) Dự báo các nguy cơ RRTK và nhữngtổn thất có thể có nếu rủi ro phát sinh Nhằm đạt được hai mục tiêu này, NHTM cầnphải thiết lập Bộ máy quản trị RRTK theo mô hình “3 lớp phòng vệ” (Hình 1.1) vớicác đặc điểm cơ bản như sau:
- HĐQT chịu trách nhiệm giám sát rủi ro độc lập với Ban điều hành.
- Lớp phòng vệ thứ 1: Các chi nhánh phụ trách QLRR trong phạm vi đơn vị
Trang 23thống, quy trình và công cụ
Q LR R.
- Đảm bảo thực hiện đầy
đủ các bước trong khung QLRR: xác định, đánh giá đo lường,
có giải pháp đối phó với rủi ro,
có các chốt kiểm soát/ các giới
Hình 1.1: Mô hình quản trị rủi ro “3 lớp phòng vệ”
Quản trị
ở cấp cao Uy ban QLRR
Hội đồng quản trị
Ban Kiêm soát
.Thiết lập mục tiêu, chiến lược, khẩu vị rủi ro và chịu trách nhiệm cuốicùng
Tổng giám đốc và Ban điều hành
Thực hiện
Gắn liềnvới QLRR
Trang 25Theo Ủy ban Basel, tất cả các cấp của TCTD đều phải thực hiện QTRR thìmới giúp đạt được các mục tiêu, đảm bảo khả năng tài chính và chi trả của tổ chức
đó Xét mô hình cơ cấu tổ chức QTRR hiện đại trong NHTM (Hình 1.3):
- Các Ủy ban chịu đóng vai trò quan trọng trong kiểm soát hoạt động và sửa
chữa
sai sót
- 5 phòng ban thuộc phần dưới cùng của sơ đồ có liên quan đến các hoạt động
có rủi ro (Phòng kinh doanh ngoại tệ, Phòng tín dụng) hoặc có khả năng thuthập
thông tin để đo lường rủi ro (Phòng kế toán, Phòng tin học); do đó, đây là nơiđầu
tiên cung cấp thông tin cho các Ủy ban quản lý rủi ro
Theo mô hình này, hệ thống QLRRT thực hiện quản trị các loại rủi ro; trong
đó có RRTK Các bộ phận sau phụ trách các khâu trong quản trị RRTK:
- Ủy ban quản lý rủi ro (RMC) chịu trách nhiệm giám sát và thiết lập khẩu vị
rủi ro, các chính sách, các hạn mức về RRTK
- Ủy ban quản lý tài sản và công nợ có vai trò chính trong quản trị RRTK; phụ
trách quản lý kết cấu bảng cân đối nhằm đảm bảo an toàn thanh khoản cũng
đa hóa lợi nhuận Ủy ban này bao gồm các bộ phận liên quan sau đây:
(i) Hội đồng quản lý tài sản - nợ (ALCO) chịu trách nhiệm chính trong bộ
máy quản lý tài sản “nợ” - “có” (ALM); được phân chia thành ALCO ở cấplãnh
đạo và ALCO ở cấp quản lý Đối với các NHTM có quy mô nhỏ hoặc phạm
Trang 26(iv) Bộ phận KSNB phụ trách kiểm tra, đánh giá chương trình, chính sách,
quy trình QLRR Bộ phận này hoạt động độc lập với hệ thống quản trịRRTK
Hình 1.2: Mô hình quản lý rủi ro hiện đại trong NHTM
1.2.4.2 Quy trình quản trị rủi ro thanh khoản
a Nhận diện rủi ro thanh khoản
Những dấu hiệu chính giúp các NHTM nhận biết nguy cơ tiềm ẩn RRTK:
Thứ nhất, sự gia tăng tập trung của tài sản Có hoặc tài sản Nợ.
Một NHTM hoạt động bình thường bao giờ cũng có sự cân xứng giữa tài sản
Nợ và tài sản Có, bởi bản chất của hoạt động ngân hàng là huy động vốn hoặc đivay tài trợ cho các hoạt động kinh doanh, đầu tư, do vậy, giữa Tài sản Nợ và Tàisản Có phải luôn có một sự kết hợp hài hoà Bất cứ một sự bất cân xứng nào xảy ra
và kéo dài thì đều tiềm ẩn nguy cơ RRTK
Thứ hai, tốc độ tăng của các khoản cấp tín dụng lớn hơn tốc độ tăng của các
khoản tiền gửi Nếu tăng trưởng dư nợ vượt tỷ lệ tăng trưởng huy động tiền gửi sẽtiềm ẩn nguy cơ RRTK Sở dĩ như vậy là vì hạng mục cho vay có tính lỏng rất thấp
Trang 27và vì thế, nếu ngân hàng phải xử lý nhu cầu thanh khoản cấp bách thì không thểtrông đợi từ hạng mục này được Hơn nữa, việc tăng trưởng trong cho vay vượt sovới tăng trưởng huy động vốn có nghĩa là NHTM không đáp ứng được yêu cầu về
dự trữ bắt buộc và thường phải trông đợi từ vốn vay trên thị trường liên ngân hàng.Điều này sẽ khiến các NHTM phải chấp nhận xử lý RRTK với chi phí cao
Thứ ba, chất lượng tín dụng giảm sút. Khi một bộ phận các khoản tín dụng đãcấp cho khách hàng nhưng khó có khả năng thu hồi sẽ khiến NHTM gặp khó khăntrong việc thực thi nghĩa vụ thanh toán của mình Một hệ quả khác là niềm tin củacác nhà đầu tư và khách hàng vào ngân hàng sẽ bị suy giảm; tác động bất lợi đếnviệc huy động vốn
Thứ tư, chi phí tài trợ vốn trên thị trường tăng Trong trường hợp thay cho
việc duy trì dự trữ thanh khoản ở mức độ hợp lý, NHTM lại tập trung vay vốn trênthị trường để đáp ứng các yêu cầu thanh khoản của mình Điều này sẽ giúp ngânhàng giảm thiểu chi phí dự trữ thanh khoản, tối đa hóa lợi nhuận và vẫn đảm bảokhả năng thanh khoản khi cần thiết Tuy nhiên, NHTM cũng bị lệ thuộc vào thịtrường tiền tệ; đặc biệt khi thị trường đang căng thẳng về thanh khoản, ngân hàngcũng rất khó hoặc phải chấp nhận huy động với chi phí rất cao Lúc này, ngân hàng
sẽ phải đối mặt với RRTK
Thứ năm, sự tập trung vào các nguồn tài trợ vốn trên thị trường bán buôn.
Nếu các ngân hàng tập trung vào nguồn vốn tài trợ trên thị trường bán buôn màkhông chú trọng vào thị trường bán lẻ thì nguồn tài trợ sẽ không ổn định và thực tế
đã chỉ ra rằng việc tài trợ từ thị trường bán buôn chi phí sẽ cao hơn so với việc tàitrợ vốn từ thị trường bán lẻ Nguyên nhân là do mặc dù việc huy động vốn từ thịtrường bán lẻ có vẻ chi phí huy động vốn là cao, song nguồn vốn này lại rất ổn định,
vì đa phần những người gửi tiền tiết kiệm thường không có nhu cầu rút ra trongngắn hạn, vì thế cho dù những người gửi tiền với kỳ hạn ngắn, song thực chất là dàihạn, chính vì thế, các ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn huy động từ thị trườngbán lẻ để cho vay dài hạn hơn, cho nên hiệu quả vẫn cao hơn
Ngoài ra, nguy cơ tiềm ẩn RRTK còn được nhận biết qua một số dấu hiệu
Trang 28khác như: sự suy giảm của nguồn tiền cung cấp cho ngân hàng trên thị trường bánbuôn; tiền gửi của dân cư bị rút ra nhiều hơn; tiền gửi có kỳ hạn bị rút trước hạn giatăng; lãi suất huy động vốn của các ngân hàng đã có những diễn biến bất thường; lãisuất trên thị trường liên ngân hàng tăng lên nhanh chóng
b Đo lường rủi ro thanh khoản
Theo Peter Rose - tác giả cuốn “Commercial Banking Management” (2004)thì có thể đo lường RRTK thông qua các phương pháp sau đây:
(1) Phương pháp tiếp cận nguồn vốn — sử dụng vốn:
Đây thực chất là phương pháp đo lường cung - cầu thanh khoản dựa trên giảđịnh cung thanh khoản chủ yếu là tiền gửi và cầu thanh khoản chủ yếu là cho vay
Do đó, phương pháp này chú trọng đo lường những thay đổi dự kiến trong tiền gửi
và cho vay để từ đó xác định khả năng thanh khoản của ngân hàng
Phương pháp tiếp cận nguồn vốn và sử dụng vốn bao gồm 3 bước cơ bản:
Bước 1: Thông qua việc thiết lập đường xu hướng hoặc mô hình dự báo, ước
lượng nhu cầu gửi tiền và vay vốn trong kỳ kế hoạch
- Trường hợp sử dụng mô hình dự báo: Sử dụng các mô hình kinh tế lượng để
xây dụng mô hình dự báo Trong đó, cần xác định được các yếu tố ảnh hưởngđến
nhu cầu gửi tiền và vay vốn trong kỳ kế hoạch; từ đó lập ra hàm tổng tiền gửivà
hàm tổng cho vay:
F(tiền gửi)=f(thu nhập dân cư, mức bán lẻ, cung tiền, lãi suất tiền gửi, lạm phát ) F(cho vay)=f(tăng trưởng, thu nhập DN, cung tiền, lãi suất cho vay, lạm phát )
- Trường hợp sử dụng đường xu hướng: Để xây dựng đường xu hướng, ta cần
phân chia tốc độ tăng của tiền gửi và cho vay thành 3 bộ phận chính như sau:
Phần xu hướng: là mức tăng trong dài hạn; được tính toán bằng cách sử dụng
mô hình tế lượng với các số liệu thực tế thu thập được trong nhiều năm để xác địnhhàm tăng trưởng trung bình hàng năm
Phần mùa vụ: là mức tăng do tác động của thời vụ tại những thời điểm nhất
định Mức tăng này được tính toán trên cơ sở số liệu trong quá khứ do dựa trên giả
Trang 29Phần chu kỳ: là chênh lệch giữa thực tế và dự tính Mức tăng này được tính
bằng chênh lệch giữa dự tính phần xu hướng, phần mùa vụ của kỳ trước với thực tếtiền gửi, cho vay của kỳ đó
Tổng tiền gửi, cho vay dự tính trong tháng (hoặc kỳ kế hoạch) = Tiền gửi, cho vay thực tế tháng trước (kì trước) + phần xu hướng + phần mùa vụ + phần chu kì.
Bước 2: Sử dụng một trong các phương pháp sau để dự tính các thay đổi trong
kỳ tới:
- Sử dụng mô hình dự báo:
Δ(cho vay) = f(% GDP, thu nhập doanh nghiệp, MS, i, π )
A(tiền gửi) = f(% GDP per capital, mức bán lẻ, MS, i, π.)
- Sử dụng đường xu hướng:
Δ(Tic'n gửi, Cho vay) = Tổng tiền gửi, cho vay dự tính trong tháng (hoặc kỳ
kế hoạch) - Tổng tiền gửi, cho vay trong tháng trước (hoặc kì trước)
Bước 3: Tính toán trạng thái thanh khoản ròng kỳ kế hoạch.
Trạng thái thanh khoản ròng kỳ kế hoạch = Tổng cung thanh khoản (1) Tổng cầu thanh khoản (2)
-Khi (1) > (2): Thặng dư thanh khoản Phần thanh khoản dư thừa này cần được
đầu tư sinh lời ngay lập tức
Khi (2) > (1): Thiếu hụt thanh khoản Phần thiếu hụt này cần được bù đắp
bằng việc tăng cường tìm kiếm, đa dạng hóa các nguồn tài trợ với chi phí thấp nhất
có thể
Khi (2) = (1): Cân bằng thanh khoản, hay còn gọi là “trạng thái thanh khoản
lý tưởng” Tuy nhiên, đây là trường hợp ít khi xảy ra trong thực tế
(2) Phương pháp tiếp cận cấu trúc vốn:
Phương pháp này chỉ chú trọng đến cầu thanh khoản Theo đó, dự trữ thanhkhoản sẽ được ước lượng cho 2 nhu cầu chính là hoàn trả nguồn vốn huy động vàgiải ngân Để làm được điều này, người ta dựa trên khả năng bị rút ra để chia cácnguồn vốn thành các nhóm có tỷ lệ dự trữ thanh khoản khác nhau Phương pháp nàybao gồm 5 bước như sau:
Trang 30Bước 1: Căn cứ vào khả năng bị rút ra khỏi ngân hàng trong kỳ tới, phân loại
các nguồn vốn huy động thành các nhóm: (i) Nguồn vốn nóng (khả năng cao sẽ bị rút ra hoặc rất nhạy cảm với lãi suất); (ii) Nguồn vốn kém ổn định (một phần đáng
kể (khoảng 25% - 30%) dự kiến sẽ bị rút ra); (iii) Nguồn vốn ổn định (được dự tính
không bị rút ra, ngoài một bộ phận không đáng kể)
Bước 2: Đối với mỗi nhóm ở bước 1, dự trữ thanh khoản được tính theo tỷ lệ
dự trữ thanh khoản của từng nhóm Tỷ lệ này và mức độ ổn định của nguồn vốn tỷ
lệ nghịch với nhau, cụ thể: khoảng 90% - 95% nguồn vốn nóng còn lại sau khi trích
dự trữ bắt buộc, 30% nguồn vốn kém ổn định sau khi trích dự trữ bắt buộc và 15%nguồn vốn ổn định sau khi trích dự trữ bắt buộc
Bước 3: Tính tổng dự trữ thanh khoản của các nhóm nguồn vốn nêu trên để
xác định cầu thanh khoản cho việc hoàn trả các khoản tiền gửi, tiền vay trong kỳtới
Bước 4: Ngoài việc đáp ứng thanh khoản cho việc hoàn trả các khoản tiền gửi,
tiền vay, việc cấp tín dụng tối đa cho các khách hàng đủ điều kiện cũng cần đượcđảm bảo nguồn tài trợ
Bước 5: Tổng dự trữ thanh khoản sẽ được tính bằng tổng của dự trữ thanh
(3) Phương pháp xác định xác suất mỗi tình huống:
Phương pháp này bao gồm 2 bước:
Bước 1: Dự báo xác suất xảy ra của mỗi trạng thái thanh khoản sau đây:
- Khả năng xấu nhất: xảy ra khi tiền gửi thấp dưới mức dự kiến hoặc tiền vay
Trang 31Trạng thái thanh khoản dự kiến = ∑ Pị.SDị
i=1
Trong đó: Pi: Xác suất xảy ra của mỗi khả năng;
SDi: Trạng thái thanh khoản theo mỗi khả năng.
(4) Phương pháp tiếp cận chỉ số thanh khoản.
Phương pháp này đo lường mức độ tổn thất của NHTM khi phải bán ngay cáctài sản để tài trợ cho các “nhu cầu thanh khoản.” Các NHTM thường sử dụng cácchỉ số thành khoản dựa trên các chỉ số trung bình của ngành và kinh nghiệm riêngcó
Sau đây là các chỉ số thanh khoản thường được sử dụng:
- Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR)
Vốn tự có
CAR = —F≡≡⅛7τc∑-—— x 100%
Tong tài san Co quy đối theo rủi roChỉ số này cho biết khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn và đối phóvới các rủi ro khác nhau trong NHTM Tỷ lệ này được ví như một “tấm đệm” chống
đỡ cho ngân hàng khỏi các cú sốc tài chính; bảo vệ khách hàng gửi tiền; và gópphần đảm bảo hệ thống tài chính hoạt động ổn định
- Hệ số tỷ lệ giữa vốn tự có so với tổng tài sản có (H 2 ):
Hệ số này giúp ngân hàng giới hạn mức độ suy giảm của tài sản không cao hơnmột tỷ lệ nhất định của vốn tự có; đồng thời đánh giá danh mục tài sản của NHTMcó
Trang 32Chỉ số này còn gọi là hệ số thanh khoản “âm”, bởi cho vay là hạng mục tài sản
có tính lỏng kém nhất Chỉ số này phản ánh khả năng cấp tín dụng của NHTM
- Chỉ số sử dụng tiền gửi để cho vay (H 5 )
- Chỉ số chứng khoán thanh khoản (H 6 ).
(Chứng khoán kinh doanh + Chứng khoán sẵn sàng để bán)
Tổng tài sản
Hệ số này thể hiện tỷ lệ chứng khoán có tỉnh lỏng cao so với tổng tài sản Hệ
số này càng cao phản ánh RRTK càng thấp
Trang 33Tiền gửi và cho vay TCTD
Tiền gửi và vay từ TCTD
Hệ số này càng cao phản ánh RRTK càng thấp
- Chỉ số H 8 :
Hệ số này càng cao thì khả năng thanh khoản càng tốt
Tiền mặt + Tiền gửi tại TCTD
Tiền gửi của khách hàng
(5) Phương pháp phân tích thanh khoản động
Căn cứ vào dự đoán cung cầu thanh khoản, khe hở thanh khoản, phương phápnày đánh giá rủi ro thanh khoản và đưa ra chính sách quản lý thanh khoản
Phương pháp này bao gồm các bước sau:
Bước 1: Xây dựng báo cáo cung - cầu thanh khoản
Báo cáo này được phân chia theo các kỳ hạn: Mọi luồng tiền vào và luồng tiền
ra đều phải được phân bổ theo các dải kỳ hạn: 1 ngày; 2-7 ngày; 8 ngày tới 1 tháng;1-3 tháng; 3-6 tháng
Đối với các luồng tiền không kỳ hạn, người phân tích cần kết hợp các giả thiết
và dữ liệu lịch sửa để phân chia các luồng tiền đó vào các dải kỳ hạn phù hợp
Bước 2: Phân tích mô phỏng thanh khoản
Dựa trên các giả định về sự thay đổi của lãi suất, môi trường kinh tế vĩ mô và
vi mô, ngân hàng cần định kỳ xây dựng các kịch bản thanh khoản
Đối với mỗi kịch bản, ta cần dự báo các yếu tố: (i) Kế hoạch cấp tín dụng mới;
(ii) Khả năng huy động tiền gửi mới; (iii) Khả năng phát hành các giấy tờ có giá để
huy động vốn mới; (iv) Khả năng được vay, cầm cố chiết khấu tại NHTW; (v) Khả năng huy động thêm tiền gửi, vay từ các TCTD khác; (vi) Khả năng thực hiện hợp đồng Repo (bán danh mục chứng khoán đầu tư có cam kết mua lại); (vii) Khả năng
chuyển các tài sản khác thành tiền mặt
Trang 34Bước 3: Đánh giá khả năng thanh khoản
Xây dựng lại báo cáo luồng tiền vào, luồng tiền ra theo từng kịch bản thanhkhoản; từ đó, xác định khe hở thanh khoản để dự bảo thanh khoản trong tương lai dưthừa hay thiếu hụt
(6) Phương pháp thang đáo hạn
BIS đề xuất phương pháp thang đáo hạn để đo lường RRTK Về bản chất,phương pháp này xác định trạng thái thanh khoản ròng mỗi ngày hoặc tích lũy chomột thời kỳ dựa trên việc so sánh các luồng tiền ra và luồng tiền vào mỗi ngày hoặctrong một khoảng thời gian nhất định Theo đó, ngân hàng cần sắp xếp các luồngtiền vào/ra theo thứ tự đến hạn của các tài sản Có/ Nợ; từ đó, xác định mức độchênh lệch giữa luồng tiền ra và luồng tiền vào trong mỗi thời kỳ Các kỳ hạnthường được sử dụng là 1 ngày; 1, 3, 6, 12 tháng;
Phương pháp này thường được sử dụng để dự đoán trạng thái thanh khoảntương ứng với các kịch bản kinh tế khác nhau (bình thương, ngân hàng khó khăn,nền kinh tế khó khăn) Trên cơ sở sử dụng kết hợp phương pháp này cùng với phântích, dự báo tình hình tổng quát của nền kinh tế, ngân hàng có thể đề ra những biệnpháp ứng phó kịp thời cho từng tình huống
c Lựa chọn chiến lược quản trị rủi ro thanh khoản
Trên cơ sở xác định được mức độ RRTK, các ngân hàng có thể lựa chọn mộttrong các chiến lược quản trị RRTK sau đây:
(1) Quản trị thanh khoản tài sản
Đây là chiến lược quản trị thanh khoản; trong đó ngân hàng sử dụng các tàisản để đáp ứng nhu cầu thanh khoản Các ngân hàng thường tích lũy cung thanhkhoản chủ yếu dưới dạng các tài sản có tính lỏng cao như tiền mặt, tiền gửi và chovay các TCTD, các giấy tờ có giá có khả năng dễ dàng chuyển đổi thành tiền Trongtrường hợp không đủ, ngân hàng có thể sử dụng các hạng mục tài sản như cáckhoản đầu tư tài chính, bán lại các khoản cho vay các TCTD khác Các ngân hàngnhỏ hoặc uy tín, thương hiệu chưa cao thường áp dụng chiến lược này trong QTRR
để đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh
Trang 35Chiến lược này có ưu điểm là giúp ngân hàng đáp ứng các yêu cầu thanhkhoản một cách nhanh chóng và kịp thời; chủ động đối phó với RRTK; RRTK thấp.Tuy nhiên, chiến lược này có một số nhược điểm: (i) Bán tài sản với mức giáthấp để đáp ứng yêu cầu thanh khoản tức thời sẽ làm ngân hàng mất đi thu nhập tạo
ra từ tài sản trong tương lai; (ii) Mất chi phí trả cho người môi giới khi bán tài sản;(iii) Việc bán các chứng khoán Chính phủ để đáp ứng thanh khoản sẽ làm suy yếuhình ảnh của ngân hàng trong mắt công chúng; (iv) Giảm thu nhập của ngân hàngkhi phải nắm giữ các tài sản thanh khoản cao, tỷ suất sinh lời thấp mà bỏ qua việcđầu tư vào các tài sản có khả năng thanh khoản cao
(2) Quản trị thanh khoản nợ
Đây là chiến lược quản trị thanh khoản; trong đó ngân hàng có thể đẩy mạnhviệc huy động vốn trên thị trường nhằm đáp ứng nhu cầu về thanh khoản
Ngân hàng có thể đa dạng hóa nguồn cùng thanh khoản bằng nhiều hình thứcnhu vay NHTW; vay các TCTD khác; phát hành các chứng khoán nợ ngắn hạn (nhưcác chứng chỉ tiền gửi); tăng lãi suất huy động; củng cố mối quan hệ với các kháchhàng truyền thống, đồng thời mở rộng thêm các khách hàng gửi tiền mới
Chiến lược này có các ưu điểm là nó cho phép các ngân hàng: (i) không cần phải dự trữ thanh khoản làm giảm khả năng sinh lời; (ii) duy trì quy mô và cấu trúc danh mục tài sản như mong muốn; (iii) quản lý nợ linh hoạt, có khả năng tự điều
chỉnh theo chi phí (khi cần vay thêm vốn, ngân hàng chỉ cần tăng lãi suất cho tới khihuy động đủ vốn)
Tuy vậy, chiến lược này cũng tồn tại các nhược điểm nhất định: (i) khả năng
xảy ra rủi ro cao do ngân hàng không chủ động được nguồn cung thanh khoản trong
những thời kỳ mà cả hệ thống ngân hàng căng thẳng thanh khoản; (ii) khó xác định chính xác chi phí vay vốn, do vậy mà làm giảm tính ổn định của thu nhập; (iii) ngân
hàng bị động trong quản trị thanh khoản do phù thuộc vào thị trường tiền tệ
(3) Quản trị thanh khoản kết hợp
Đây là chiến lược quản trị thanh khoản khắc phục được các hạn chế của 2chiến lược nêu trên Theo đó, các nhà phân tích sẽ tính toán khe hở thanh khoản
Trang 36theo từng ngày, từng tuần, từng tháng, của kỳ kế hoạch trên cơ sở dòng tiền vào,
ra và các nhân tố tác động (như thời vụ, chu kỳ kinh doanh, tâm lý, áp lực cạnhtranh, ) Nếu dòng tiền ra dự tính nhỏ hơn dòng tiền vào dự tính thì ngân quỹ sẽtăng lên Ngược lại, ngân quỹ sẽ giảm xuống Trong trường hợp ngân quỹ dự tínhsuy giảm, ngân hàng sẽ đáp ứng nhu cầu thanh khoản dự tính bằng kết hợp cả hìnhthức: (i) tăng cường dự trữ thanh khoản (chủ yếu là tiền gửi tại NHTW và cácTCTD khác; chứng khoán Chính phủ; tín phiếu Kho bạc); (ii) đi vay các tổ chức, cánhân hoặc sử dụng các hợp đồng hạn mức tín dụng do các TCTD khác cung cấp.Chiến lược này cho phép ngân hàng giảm đáng kể chi phí thanh khoản mà vẫn chophép giảm thiểu rủi ro khi dựa quá nhiều vào nguồn vốn vay
1.3 Nội dung cơ bản về Quản trị rủi ro thanh khoản theo Basel II 1.3.1 Giới thiệu chung về Ủy ban Basel
Ủy ban Basel được thành lập vào năm 1975 do một nhóm các Ngân hàngTrung ương (NHTW) và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển sáng lập Đượchình thành từ 10 thành viên ban đầu, đến nay Ủy ban đã có 27 thành viên CácNHTW hoặc cơ quan chịu trách nhiệm chính cho việc giám sát an toàn ngân hàng(đối với các nước không có NHTW) là đại diện cho mỗi nước tham gia vào Uỷ ban
Ủy ban được thành lập trong bối cảnh hệ thống NHTM trên thế giới phát triểnmạnh mẽ và đã xuất hiện tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngânhàng Chính vì vậy, Ủy ban ra đời với chức năng đưa ra các nguyên tắc chung nhằmquản lý hoạt động ngân hàng trên phạm vi toàn thế giới
Hoạt động của Ủy ban không chịu sự giám sát của bất cứ cơ quan quản lý nào
và những kết luận mà Ủy ban đưa ra không mang tính pháp lý bắt buộc đối với các
cơ quan giám sát ngân hàng Những tiêu chuẩn, hướng dẫn giám sát và các báo cáothực tiễn mà Ủy ban xây dựng và công bố rộng rãi nhằm khuyến khích các tổ chứctài chính áp dụng rồng rãi nhưng vẫn đảm bảo phù hợp với hệ thống tài chính củaquốc gia họ
Mục tiêu quan trọng mà Ủy ban Basel hướng tới là thu hẹp khoảng cách vềgiám sát quốc tế trên 2 nguyên tắc chung là: (1) ngân hàng nước ngoài nào hoạt
Trang 37động cũng phải chịu sự giám sát; và (2) việc giám sát cần phải tương xứng Để đạtđược mục tiêu này, Ủy ban đã ban hành nhiều văn bản, tài liêu hướng dẫn về giámsát ngân hàng.
Năm 1988, Hiệp ước về vốn của Basel I (Basel I) ra đời và có hiệu lực kể từnăm 1992 Basel I yêu cầu các NHTM phải nắm giữ một mức vốn tối thiếu đểchống đỡ với các rủi ro có thể xảy ra Tháng 6/1999, Ủy ban Basel đã đề xuất khung
đo lường rủi ro với 3 trụ cột chính: (i) yêu cầu vốn tối thiểu (dựa trên sự kế thừaBasel I); (ii) Đẩy mạnh giám sát quy trình đánh giá nội bộ và sự đủ vốn của các tổchức tài chính; và (iii) Công bố thông tin nhằm minh bạch hóa kỷ luật thị trường.Basel II ra đời vào năm 2001 và có hiệu lực vào năm 2006 nhằm khắc phụccác hạn chế của Basel I cũng như phù hợp với các thay đổi lớn trên thị trường
Trên cơ sở những bài học kinh nghiệm rút ra từ cuộc khủng hoàng tài chínhtoàn cầu năm 2008, Ủy ban Basel đã phát triển một chương trình cải cách; trong đó
đề xuất những tiêu chuẩn quốc tế mới nhằm xử lý cả các rủi ro riêng lẻ của mộtNHTM và rộng hơn là toàn bộ hệ thống ngân hàng Các tiêu chuẩn này được lấy têngọi là “Basel III”
1.3.2 Nội dung cơ bản về Quản trị rủi ro thanh khoản theo Basel
Từ khi ra đời cho đến nay, Ủy ban Basel đã tiến hành phối hợp chặt chẽ vớinhiều quốc gia trên thế giới (kể cả với các nước không phải là thành viên) để hoànthiện các văn bản hướng dẫn đảm bảo phù hợp với thực hiện Hiện nay đã có 3 Hiệpước Basel ra đời; trong đó đề xuất các nguyên tắc, tiêu chuẩn, quản trị trong hoạtđộng động ngân hàng
1.3.2.1 về chất lượng nguồn vốn của một ngân hàng
Từ Basel I đến III, Ủy ban Basel đã điều chỉnh tiêu chuẩn về tỷ lệ an toàn vốntối thiểu để tăng cường khả năng của hệ thống ngân hàng đối phó với các loại rủi rodiễn biến ngày càng phức tạp
a Hiệp ước Basel I
Basel I yêu cầu các NHTM phải duy trì một tỷ lệ nhất định vốn trên tổng tàisản có rủi ro quy đổi theo hệ số rủi ro (RWA) Tỷ lệ an toàn vốn mà Basel I khuyến
Trang 38nghị được gọi là CAR (Capital Adequacy Ratios) Công thức tính như sau:
CAR = Vốn tự có/ Tổng tài sản “Có rủi ro quy đổi x 100%
Theo Basel I, ngưỡng an toàn của CAR là 8% Cụ thể: khi CAR> 10% ngânhàng được đánh giá là có mức vốn tốt nhất; khi CAR>8% ngân hàng có mức vốnthích hợp; khi CAR<8%, lâm vào tình trạng thiếu hụt vốn; khi CAR<6% thiếu vốn
rõ rệt và khi CAR<2% ngân hàng thiếu vốn trầm trọng
Trong đó, Basel I đưa ra định nghĩa quốc tế về các loại vốn trong ngân hàng.Vốn của ngân hàng được Basel I phân chia thành 3 loại sau đây:
Vốn cấp 1: là vốn sẵn có chắc chắn và các khoản dự phòng được công bố
gồm: vốn chủ sở hữu vĩnh viễn (vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần phổ thông), vốn dựtrữ đã công bố (lợi nhuận không chia); lợi ích thiểu số (minority interest) tại cáccông ty con có hợp nhất báo cáo tài chính; lợi thế kinh doanh (Goodwill)
Vốn cấp 2: là nguồn vốn bổ sung có độ tin cậy thấp hơn như: vốn tăng do
đánh giá lại tài sản, các khoản dự phòng tổn thất chung, vốn bổ sung từ các công cụ
nợ hỗn hợp (trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu ưu đãi và một số công cụ nợ thứ cấp),đầu tư tài chính vào các công ty con và các tổ chức tài chính khác
Vốn cấp 3: là các khoản vay ngắn hạn.
Do khả năng chủ động trong việc sử dụng các nguồn vốn giảm dần từ vốn cấp
1 đến cấp 3, Basel I đặt ra quy định Vốn cấp 1 phải lớn hơn hoặc bằng Tổng vốncấp 2 và cấp 3 Thông thường khi xác định hệ số CAR, người ta chỉ xét đến vốn cấp
1 và 2, vốn cấp 3 thường không được xem xét bởi độ tin cậy thấp nhất khi sử dụng
để ứng phó với các loại rủi ro
Khi tính toán Tổng tài sản Có rủi ro quy đổi, Basel I cũng phân chia danhmục tài sản thành 4 nhóm với những mức độ rủi ro khác nhau và quy định hệ số rủi
ro của tài sản gồm 0, 20, 50, 100% tương ứng với cấp độ rủi ro của tài sản tăng dần.Nhìn chung, các quy định về quản lý rủi ro của Basel I còn khá sơ sài, chỉ tậptrung vào giải pháp duy nhất là yêu cầu vốn tối thiểu để QTRR mà chưa chú trọngđến các biên pháp khác Ngoài ra, hệ số rủi ro mà Basel I chưa đề cập đến mức độphụ thuộc của hệ số này vào hệ số tín nhiệm của khách hàng mà ngân hàng cấp tín
Trang 39dụng, quy mô vốn vay, cũng như chưa xem xét đến rủi ro tác nghiệp (rủi ro hoạtđộng).
b Basel II
Basel II được ban hành vào quý IV/2013 và có hiệu lực kể từ năm 2006 nằmkhắc phục những hạn chế của Basel I Bên cạnh các mục tiêu giống như Basel I,Basel II đẩy mạnh thiết lập các quy định nghiêm ngặt hơn trong quản lý rủi ro
Trong đó, Trụ cột thứ 1 yêu cầu các NHTM duy trì vốn bắt buộc như Basel I
Hệ số CAR và các định nghĩa về vốn vẫn không thay đổi Tuy nhiên, quy định về hệ
số rủi ro có sự thay đổi, Basel II đưa ra hệ số rủi ro từ 0% đến 150% và không còn
ưu đãi nào đối với các nước thuộc khối OECD Thêm vào đó, hệ số rủi ro được ápdụng linh hoạt hơn do được quy định chi tiết theo mức độ nhạy cảm với rủi ro củacác loại tài sản và hệ số này phụ thuộc vào mức độ tín nhiệm của khách hàng vayvốn Ngoài ra, trong công thức tính hệ số CAR, mẫu sỗ sẽ bao gồm tổng tài sản đãquy đổi theo hệ số RRTD cộng thêm với 12,5 lần tổng vốn quy định cho dự phòngrủi ro thị trường và rủi ro tác nghiệp Như vậy, để duy trì hệ số CAR không thấphơn 8%, ngân hàng sẽ cần nhiều vốn tự có hơn
Trụ cột thứ 2 là yêu cầu về hoạt động thanh tra, giám sát và Trụ cột 3 liênquan đến công bố thông tin Các quy định này các tác động gián tiếp đến việc phânloại tài sản, vốn, tỷ lệ rủi ro và đặc biệt là những chuẩn mực kế toán áp dụng đối vớicác khoản mục vốn và tài sản cả trong và ngoài bảng cân đối tài sản do những quyđịnh này đòi hỏi sự công khai, minh bạch, nhất quán và phù hợp với các thông lệquốc tế Từ đó, các quy định này có ảnh hưởng gián tiếp đến việc tuân thủ hệ số antoàn vốn tối thiểu của ngân hàng
c Basel III
Phiên bản thứ 3 (Basel III) được ra đời trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tàichính toàn cầu diễn biến phức tạp và để lại những hậu quả lâu dài đến hệ thống tàichính ngân hàng trên toàn thế giới Basel III đưa ra các tiêu chuẩn an toàn vốn tốithiểu như sau:
- Đặc điểm chính của Basel III là giúp các NHTM nâng cao chất lượng vốn
Trang 40Vốn đệm dự phòngmột cách đáng kể Theo BIS, cần phải định nghĩa đầy đủ về vốn trước khi xác định- - - 0,625 1,25 1,875 2,5
mức vốn phù hợp Ngân hàng có chất lượng vốn tốt sẽ có khả năng bù đắp cáckhoản lỗ tốt hơn cũng như chống đỡ trước các rủi ro tốt hơn trong những thời kỳkhó khăn
Theo đó, các tài sản có chất lượng kém sẽ phải được khấu trừ vào vốn cổ phầnphổ thông Ngoài ra, vốn cấp 1 cũng được định nghĩa chặt chẽ hơn; chỉ bao gồmvốn thường và những tài sản tài chính chất lượng cao, đáp ứng được các tiêu chuẩnchặt chẽ
- Yêu cầu các NHTM bổ sung thêm vốn để tăng khả năng chống đỡ với các loại
rủi ro diễn biến ngày càng phức tạp Theo Basel III, hệ số CAR tối thiểu vẫn ởmức
8%; tuy nhiên, tỷ lệ yêu cầu đối với các loại vốn có chất lượng được tăng lên, cụthể
như sau: tỷ lệ vốn cấp 1 tối thiểu tăng từ 4% lên 6%; tỷ lệ vốn chủ sở hữu (CSH)tối
thiểu tăng từ 2% lên 4,5%; bổ sung thêm vốn đệm dự phòng tài chính tối thiểubằng
- Rà soát lại các tiêu chuẩn về vốn cấp 1, cấp 2 và loại trừ dần khỏi vốn cấp 1
và vốn cấp 2 đối với những tài sản “Có” và các khoản vốn không đủ tiêu chuẩnkhi
tính toán hệ số CAR
- Ngoài ra, Basel III còn khuyến nghị các NHTW có các biện pháp giám sát
chặt chẽ các NHTM nhằm ngăn chặn việc lạm dụng chia thưởng, cổ tức cao trongkhi tình hình tài chính và tỷ lệ an toàn vốn không đáp ứng các quy định
từ năm 2013 đến hết năm 2018 và dự kiến thực hiện đầy đủ vào năm 2019 (Xembảng 1.1)
Bảng 1.1 - Lộ trình thực hiện Hiệp ước Basel III
Đơn vị: %