1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phát triển đội ngũ công nhân ngành công nghiệp đóng tàu ở hải phòng hiện nay

92 325 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Đội Ngũ Công Nhân Ngành Công Nghiệp Đóng Tàu Ở Hải Phòng Hiện Nay
Trường học Trường Đại Học Hải Phòng
Chuyên ngành Công Nghiệp Đóng Tàu
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 368 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều đó là do, ngành công nghiệp đóng tàu Hải Phòng hiện còn tồn tạinhững hạn chế sau: về quy mô sản xuất còn nhỏ, cơ sở vật chất, kỹ thuật vàcông nghệ cha đợc đầu t đồng bộ, nguồn nhân

Trang 1

Mở ĐầU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, Đảng và Nhà nớc ta đang đề ra các mục tiêu, chiến lợc pháttriển mạnh các ngành kinh tế dựa trên những tiềm năng, lợi thế của đất nớc và

có khả năng tạo ra các sản phẩm kinh tế có giá trị cao, có sức cạnh tranh lớntrên thị trờng Kinh tế biển là một ngành nh vậy Với chiều dài bờ biển trên3.200 km, vùng biển, thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốcgia của Việt Nam rộng trên 1.000.000 km2, gấp 3 lần diện tích đất liền, ViệtNam có một vị trí hết sức thuận lợi trong việc phát triển các ngành côngnghiệp biển và đẩy mạnh sự giao lu kinh tế quốc tế qua đờng hàng hải, mởrộng sự liên kết, hợp tác trong khai thác và phát triển kinh tế biển có hiệu quả,

đồng thời góp phần củng cố quốc phòng và an ninh

Từ thực tế trên, Nghị quyết Trung ơng 4 Khoá X của Đảng ta đã khẳng

định vị trí, vai trò to lớn của kinh tế biển và vạch ra mục tiêu, chiến l ợc biển,tăng cờng tiềm lực mọi mặt để khai thác biển từ nay đến năm 2020 và định h-ớng đến năm 2030 với mục tiêu tổng quát sau: "phấn đấu đa nớc ta trở thànhquốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển"

Trong số các tỉnh, thành có biển của cả nớc hiện nay, Hải Phòng Thành phố Cảng, là nơi có nhiều tiềm năng to lớn để phát triển các ngànhcông nghiệp biển, trong đó ngành công nghiệp đóng tàu đợc xác định là ngànhcông nghiệp chủ lực Thực tế cho thấy ngành công nghiệp đóng tàu ở HảiPhòng những năm qua đợc sự quan tâm, đầu t của Đảng, Nhà nớc và Thành uỷHải Phòng nên đã đạt đợc nhiều thành tựu, đóng góp vào sự phát triển chungcủa toàn Thành phố, tạo đợc nhiều việc làm và thu nhập cao cho đội ngũ côngnhân viên công tác trong ngành này Dù vậy, theo đánh giá của nhiều chuyêngia và xuất phát từ tiềm năng sẵn có của thành phố thì hiệu quả của ngànhcông nghiệp đóng tàu trong thời gian qua là cha tơng xứng với tiềm năng sẵn

-có Điều đó là do, ngành công nghiệp đóng tàu Hải Phòng hiện còn tồn tạinhững hạn chế sau: về quy mô sản xuất còn nhỏ, cơ sở vật chất, kỹ thuật vàcông nghệ cha đợc đầu t đồng bộ, nguồn nhân lực có trình độ tay nghề kỹthuật cao đang thiếu hụt nghiêm trọng, sự liên kết trong sản xuất, kinh doanhgiữa các nhà máy và các ngành công nghiệp phụ trợ còn lỏng lẻo, năng lựccạnh tranh yếu… Ch Cha khai thác và phát huy hết tiềm năng lợi thế của Thànhphố

Trang 2

Hạn chế trên có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiệu quả thấp của ngànhcông nghiệp đóng tàu Hải Phòng song nổi lên là nguyên nhân về đội ngũ côngnhân cho ngành này còn thiếu về số lợng và yếu về chất lợng

Thực tế đó, đòi hỏi các cấp, các ngành cần quan tâm nhiều hơn nữa đếnviệc xây dựng đội ngũ công nhân ngành công nghiệp đóng tàu Đây cũng là lý

do cơ bản mà tác giả lựa chọn đề tài: Phát triển đội ngũ công nhân ngành“Phát triển đội ngũ công nhân ngành

công nghiệp đóng tàu ở Hải Phòng hiện nay” làm luận văn thạc sĩ của mình.

2 Tình hình nghiên cứu

- ở Việt Nam trong những năm gần đây, vấn đề giai cấp công nhân và sứmệnh lịch sử của nó đã thu hút đợc nhiều công trình khoa học nghiên cứu dới

nhiều góc độ khác nhau Đáng chủ ý là một số công trình nghiên cứu sau: Một

số vấn đề về giai cấp công nhân và công đoàn Việt Nam của GS Văn Tạo,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997 Xu hớng biến động giai cấp công nhân

Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI, Viện công nhân và công đoàn

-Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội, 2001 Các côngtrình nêu trên đã đề cập một cách khá phong phú, toàn diện nhiều khía cạnhcủa giai cấp công nhân cũng nh xu hớng biến động của nó trong thời kỳ quá

độ lên CNXH, mặt khác đã đa ra một số những giải pháp nhằm xây dựng độingũ công nhân không ngừng lớn mạnh cả số lợng và chất lợng đáp ứng yêucầu của quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH

Đặc biệt gần đây, đã có những công trình nghiên cứu trực tiếp đến mốiquan hệ giữa CNH, HĐH với sự phát triển của giai cấp công nhân cũng nh vaitrò của giai cấp công nhân trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nớc nh:

Giai cấp công nhân trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nớc của GS.TS Dơng

Xuân Ngọc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 Sự phát triển của giai cấp

công nhân Việt Nam và vai trò của nó trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nớc của

Trần Ngọc Sơn, Luận án tiến sỹ, 2001 Kỷ yếu hội thảo - Về giai cấp công nhân

và công đoàn Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH, Trờng Đại học công đoàn

Việt Nam, 2002.… Ch Các công trình trên đã đề cập về mối quan hệ biện chứnggiữa quá trình CNH, HĐH đất nớc với sự phát triển của giai cấp công nhân, đặt

ra những yêu cầu nhằm phát triển giai cấp công nhân cả về số lợng và chất lợng

đáp ứng yêu cầu của lao động sản xuất trong thời kỳ mới

Ngoài những công trình nêu trên còn có một số luận văn thạc sỹ; các

bài viết trong Tạp chí ngành công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam nh: Công nhân Hải

Phòng trong công cuộc đổi mới, những vấn đề đặt ra và những phơng hớng giải pháp của Nguyễn Văn Năm, Luận văn thạc sỹ, Viện chủ nghĩa xã hội khoa học,

Trang 3

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1995 Góp phần đào tạo nguồn nhân

lực kỹ thuật cao cho ngành công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam của Vũ Tiến Đạt, Tạp

chí Công nghiệp tàu thuỷ (7), 2004 Với công tác xây dựng đội ngũ công nhân

viên chức lao động ngành công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam của Tô Ngọc, Tạp chí

Công nghiệp tàu thuỷ (13), 2005 Các công trình trên đã đề cập tới thực trạngcông nhân của ngành công nghiệp tàu thuỷ và đa ra một số phơng hớng giải phápnhằm xây dựng củng cố và phát triển đội ngũ công nhân công nghiệp đóng tàu.Tuy nhiên cho đến nay cha có một công trình khoa học nào nghiên cứu chuyênsâu về phát triển giai cấp công nhân ngành công nghiệp đóng tàu trong sự nghiệp

đẩy mạnh CNH, HĐH đất nớc hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ của Luận văn

- Mục đích:

Làm rõ thực trạng, xu hớng phát triển đội ngũ công nhân ngành công

nghiệp đóng tàu ở Hải Phòng; từ đó nêu ra những giải pháp cơ bản nhằm xâydựng và phát triển đội ngũ này góp phần đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đẩymạnh CNH, HĐH, thực hiện mục tiêu, chiến lợc phát triển kinh tế biển của

Đảng và Nhà nớc ta hiện nay

- Nhiệm vụ:

Làm rõ đặc điểm, vai trò, các yếu tố quy định sự phát triển của công

nhân ngành CNĐT trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với nền kinh tếtri thức ở nớc ta hiện nay

Đánh giá thực trạng, chỉ ra các vấn đề, xu hớng vận động phát triển củacông nhân ngành công nghiệp đóng tàu ở Hải Phòng

Xác định phơng hớng và đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm xây dựng

và phát triển công nhân ngành công nghiệp đóng tàu hiện nay

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tợng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu đội ngũ công

nhân ngành công nghiệp đóng tàu ở Hải Phòng

- Phạm vi nghiên cứu: Địa bàn thành phố Hải Phòng, thời gian từ năm

1994 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Đề tài đợc nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ

nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sảnViệt Nam trong các Văn kiện Đại hội Đảng và Hội nghị Ban Chấp hành Trung

ơng các khoá xung quanh vấn đề này Bên cạnh đó, Đề tài kế thừa và sử dụng

Trang 4

có chọn lọc một số đề xuất và số liệu thống kê của một số công trình có liênquan của các tác giả trong và ngoài nớc.

- Phơng pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phơng pháp luận chung của

chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phơng pháp nghiên cứu đặcthù của CNXH khoa học tiếp cận và giải quyết vấn đề từ góc độ chính trị - xãhội, luận văn còn kết hợp sử dụng các phơng pháp khác nh: khảo sát, điều tra,thống kê, phân tích, tổng hợp để làm sáng tỏ vấn đề đặt ra

6 Những đóng góp khoa học và ý nghĩa của luận văn

- Góp phần phát triển nhận thức xã hội đối với việc phát triển công nhânngành công nghiệp đóng tàu có vai trò to lớn, quyết định trong việc đẩy mạnhquá trình CNH,HĐH và thực hiện chiến lợc phát triển kinh tế biển của Đảng

và Nhà nớc ta hiện nay

- Đề xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm từng bớc thúc đẩy quátrình xây dựng và phát triển đội ngũ công nhân ngành công nghiệp đóng tàuHải Phòng hiện nay

- Làm tài liệu tham khảo để các cơ quan có thẩm quyền vận dụng vàoviệc hoạch định các chủ trơng, chính sách phù hợp trong quản lý và phát triểncông nhân ngành công nghiệp đóng tàu hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 3 chơng, 6 tiết

Trang 5

Chơng 1

về phát triển công nhân ngành công nghiệp đóng tàu

1.1 Công nghiệp đóng tàu và công nhân ngành công nghiệp đóng tàu

1.1.1 Nhận thức chung về kinh tế biển và công nghiệp đóng tàu

Về kinh tế biển:

Biển có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và anninh của các nớc có biển nói riêng và của thế giới nói chung Các nớc có biển

luôn vơn ra biển, khai thác các nguồn lợi từ biển Nhng kinh tế biển trong t

duy của nhiều ngời mới chỉ đợc nhìn nhận một cách rời rạc; chủ yếu ngời tabàn nhiều về vấn đề đánh bắt, khai thác dầu khí và vận tải Các vấn đề khácthuộc kinh tế biển cũng cha có một nghiên cứu cụ thể chuyên sâu nào chotừng ngành công nghiệp biển Những vấn đề trên qua nhiều cuộc hội thảoquốc tế về kinh tế biển hiện nay vẫn còn nhiều mặt cần đợc tiếp tục làm sángtỏ

Hiện nay, kinh tế biển thờng đợc hiểu theo hai cách cơ bản sau:

Thứ nhất, theo nhận thức chung của thế giới hiện nay, kinh tế biển là

một nền kinh tế tổng thành của các ngành công nghiệp do môi trờng biển đemlại

Môi trờng biển là những vùng biển có chủ quyền và thuộc quyền tài

phán của một quốc gia nh: mặt nớc ven bờ, lãnh hải, vùng kinh tế đặc quyền

Nó là một tổ hợp nhiều chức năng kinh tế - xã hội - chính trị của một quốcgia; gồm cả chủ quyền, kinh tế biển, công nghiệp phục vụ kinh tế biển, giaothông vận tải biển, địa lý tài nguyên và môi trờng biển

Theo đó, các nền công nghiệp từ kinh tế biển Việt Nam bao gồm:khoáng sản biển khơi, đánh bắt và nuôi trồng; vận tải tàu biển; nhà nớc vàquốc phòng; du lịch và giải trí biển, các dịch vụ biển; nghiên cứu giáo dụcbiển; chế tạo - chế biến; xây dựng biển

Thứ hai, kinh tế biển đợc định nghĩa bằng cách nhận rõ sự phân biệt

giữa hoạt động biển và phi biển Một số hoạt động nh đánh bắt và vận chuyển

trên biển bằng tàu, phà là lệ thuộc vào biển; nhng có những hoạt động khác lạikhó phân loại chẳng hạn nh du lịch chỉ một phần lệ thuộc biển, có những hoạt

động mua sắm trên bờ hoàn toàn không lệ thuộc vào biển

Từ cách quan niệm trên chúng ta có thể nhận thức rõ hơn về từng ngànhkinh tế biển nh sau:

Trang 6

Khoáng sản biển khơi - bao gồm các tài nguyên khoáng sản nh dầukhí, muối, cát và các loại khoáng sản khai thác từ biển.

Đánh bắt và nuôi trồng - bao gồm bán cá trên tàu, chế biến hải sản,hoạt động bán buôn nuôi trồng và các dịch vụ về đánh bắt nuôi trồng

Vận tải tàu biển - bao gồm vận tải hàng hoá và hành khách, bến duthuyền và hoạt động bến cảng

Nhà nớc và quốc phòng - bao gồm các căn cứ hải quân, bến tàu, và cácchiến dịch tuần tra bảo vệ duyên hải và các hoạt động quản lý biển

Du lịch và giải trí biển - bao gồm du lịch các địa phơng duyên hải của

du khách trong nớc hoặc nớc ngoài

Các dịch vụ biển liên quan đến biển và kinh tế biển

Nghiên cứu và giáo dục - bao gồm nghiên cứu biển và giáo dục biển.Chế tạo các loại máy móc thiết bị phục vụ cho khai thác biển

Xây dựng biển bao gồm đóng tàu và xây dựng cơ sở hạ tầng, cảng biển Nếu kinh tế biển đợc nhận thức rộng nh trên thì nớc ta đang nắm trong taymột quyền sở hữu tài nguyên về biển to lớn, đầy tiềm năng để phát triển và cũnggồm cả những thách thức lớn cần đợc nhận rõ để chủ động khai thác tiềm năng

ấy Trên thực tế nó cha đợc khai thác và phát huy đầy đủ Xây dựng chiến lợcphát triển kinh tế biển Việt Nam một cách toàn diện và khoa học để góp phầnthúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội là việc làm cần thiết

Chính sự phát triển của lực lợng sản xuất mới quy định và làm rõ nétquan hệ sản xuất và các quan hệ xã hội khác có gắn bó với kinh tế Logic nàycũng phù hợp với quá trình phát triển kinh tế biển của Việt Nam Việc chuyểnhoá những tài nguyên và tiềm năng ấy thành hiện thực đợc hay không lại tuỳthuộc phần quan trọng vào yếu tố lực lợng sản xuất hàng đầu là đội ngũ côngnhân CNĐT

Về công nghiệp đóng tàu:

Trong thực tế, ngành CNĐT có lịch sử hình thành từ rất sớm, đặc biệt từnhững thế kỷ XVI - XIX nó đã có những bớc tiến vợt bậc ở các nớc Châu Âu

có nền công nghiệp phát triển nh: Anh, Đức, Pháp, Hà Lan, Ba Lan, Nauy,

Đan Mạch Vào những thế kỷ này, do nhiều phát kiến mới về địa lý, nhu cầuphát triển của CNTB cùng những cuộc tìm kiếm thị trờng trên thế giới đã lấy

đờng biển làm con đờng chính, phát triển công nghiệp đóng tàu và hải quânlàm phơng tiện thực dân chủ đạo để CNTB thoả mãn khát vọng xâm chiếmcủa nó Công nghiệp đóng tàu của những nớc đế quốc theo đó, đã khá phát

Trang 7

triển; lịch sử phát triển ngành đóng tàu ngay từ giai đoạn này đã mang dấu ấnchính trị - xã hội rõ nét; các đế quốc nh Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha lànhững nớc có hạm đội mạnh và ngành CNĐT phát triển sớm ít có lĩnh vựckinh tế - kỹ thuật nào mang rõ nét tính chất chính trị - xã hội nh ngành côngnghiệp này Và, cũng hiếm có quốc gia hiện đại nào có biển mà lại khôngquan tâm và có chính sách riêng với ngành công nghiệp đặc thù này

Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của lực lợng sản xuất hiện đại, xu thếhội nhập và giao thơng quốc tế đã làm tăng cờng tính chất chuyên môn hoá,xã hội hoá cao trong phân công lao động quốc tế và làm biến chuyển mạnh mẽngành CNĐT Ngành công nghiệp này đang có xu hớng phát triển, dịchchuyển từ các nớc vốn có truyền thống về nghề đóng tàu sang các nớc nh HànQuốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore Xu hớng này khiến cho CNĐTcùng với sự phát triển nhân lực, công nghệ, vốn, thị trờng cho nghề này đang

có xu hớng toàn cầu hoá

Công nghiệp đóng tàu là một ngành sản xuất vật chất trên cơ sở ngànhcông nghiệp cơ khí (thiết kế vật liệu, vỏ tàu, máy tàu, điện tàu, ) tích hợp vớinhiều chuyên ngành khác (nh hải dơng học, vận tải biển, khai thác biển và cảcông nghiệp quốc phòng, hải quân ) Đây là lĩnh vực lao động công nghiệphiện đại trong đó ngời công nhân sử dụng các t liệu lao động để trực tiếp biến

đổi đối tợng lao động thành sản phẩm phục vụ cho kinh tế biển Thông quaquá trình công nghệ nhất định ngời ta làm thay đổi hình dạng, kích thớc bênngoài, thay đổi tính chất cơ lý - hoá bên trong của các vật liệu để tạo ra các sảnphẩm đóng tàu Kết quả của hoạt động đóng tàu là tạo ra các tàu vận tải, tàu đẩy,tàu chuyên dụng và các thiết bị nổi hoạt động trên ao, hồ, sông biển

Để phát triển ngành CNĐT cần phải đáp ứng đủ những đặc thù cơ bản sau: Công nghiệp đóng tàu là một ngành cơ khí kỹ thuật cao, công nghệ luôn

đợc cải tiến, đổi mới nên công nhân cũng phải thờng xuyên bổ sung, cập nhật

những công nghệ mới trong quá trình lao động sản xuất các sản phẩm tàu đadạng Công nghiệp đóng tàu phát triển lại đòi hỏi phải có một nền côngnghiệp cơ khí phát triển đa ngành đủ mạnh có nhiều ngành cung ứng các loạinguyên nhiên vật liệu

Đây là một ngành đòi hỏi sự đầu t vốn ban đầu rất lớn trong xây dựngcơ sở vật chất kỹ thuật, thiết bị, bến bãi để tiến hành sản xuất Nếu chỉ tínhxây dựng một ụ nổi và hệ thống triền, đà đã lên tới hàng trăm tỷ đồng, riêngmột thiết bị cẩu nâng bình thờng loại 80 tấn đã mất khoảng 150 - 200 tỷ đồng,

Trang 8

các phơng tiện công cụ máy móc nguyên vật liệu để tiến hành thiết kế, chếtạo giá rất đắt và thờng chúng ta phải nhập khẩu Khả năng quay vòng vốnlại rất chậm, trong quá trình sản xuất thờng gặp rủi ro tơng đối cao so vớingành sản xuất khác vì bạn hàng cũng mang tính lựa chọn bởi không phảiquốc gia nào cũng có biển và có nhu cầu đóng mới hay sửa chữa tàu biển

CNĐT có tính tuỳ thuộc khá lớn vào các yếu tố của điều kiện tự nhiên

nh vị trí địa lý, thời tiết, diện tích bến bãi nhà xởng phải đủ rộng để bố trí phùhợp các xởng gia công thuận tiện cho sản xuất lắp ráp các phân đoạn và cáctổng đoạn Trong đó, đặc biệt là phải có hệ thống cảng sông, cảng biển pháttriển đạt tiêu chuẩn yêu cầu riêng của quá trình sản xuất đóng mới và sửa chữahạ thuỷ từng loại tàu

Tuy vậy ngành CNĐT cũng là một ngành công nghiệp có khả năng gây

ra ô nhiễm môi trờng lớn, do đó, trong quá trình đề ra mục tiêu chiến lợc pháttriển ngành, kinh nghiệm của các nớc đi trớc cho biết là cần phải gắn liền vớiviệc đề ra các chính sách giải pháp xử lý vấn đề môi trờng ngay từ đầu Theo

đó, ngành CNĐT có những yêu cầu đặc thù về kinh tế kỹ thuật

Đồng thời đây cũng là ngành kinh tế mà muốn phát triển cần phải thoảmãn nhiều yêu cầu kinh tế - chính trị - xã hội; chẳng hạn nó có tiền đề từ việc

đẩy mạnh quá trình hợp tác kinh tế quốc tế, phát triển đa ngành nghề, có tiềmlực kinh tế đủ khả năng xuất nhập khẩu lu thông hàng hoá với khối lợng lớn,

có quan hệ rộng tạo điều kiện thúc đẩy sự giao lu thơng mại dịch vụ, du lịchvới các nớc

Trong đó, vấn đề quan trọng hàng đầu là phải có một nền kinh tế biểnvới một trình độ khai thác biển phát triển mạnh mẽ tạo ra đợc nhu cầu lớn vềcác phơng tiện tàu trong thăm dò, khai thác, vận tải biển Chính sự phát triểnkinh tế biển nó là động lực trực tiếp cho sự phát triển ngành CNĐT thuỷ pháttriển Ngành CNĐT muốn phát triển vì thế, còn đòi hỏi các quốc gia phải có mộtchiến lợc phát triển toàn diện nền kinh tế, đặc biệt là phát triển kinh tế biển

Mối quan hệ giữa kinh tế biển với ngành công nghiệp đóng tàu:

Kinh tế biển và ngành CNĐT là hai ngành có mối quan hệ biện chứngtạo tiền đề, động lực thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển

Muốn phát triển kinh tế biển một cách thuận lợi tất yếu phải phát triểnngành CNĐT vì nó chính là hạ tầng cơ sở cho sự phát triển của kinh tế biển.Bởi lẽ, bất kỳ một hoạt động kinh tế nào có liên quan đến biển cũng nh quá

Trang 9

trình phát triển kinh tế biển đều phải sử dụng các sản phẩm của ngành CNĐT.

Từ hoạt động thăm dò biển, nghiên cứu biển đến nuôi trồng và khai thác cácnguồn tài nguyên biển cũng nh vận tải biển, du lịch biển, bảo vệ môi trờngbiển và bảo vệ an ninh quốc phòng biển của xã hội nhất thiết cần phải có cácphơng tiện, công cụ các loại tàu và các thiết bị nổi của ngành CNĐT làm cơ sởcho sự làm chủ đại dơng

Mặt khác, muốn phát triển ngành CNĐT trớc hết phải có hệ thống cảngsông, cảng biển mới tạo ra những điều kiện thích hợp cho xây dựng các cơ sởnhà máy đóng mới và sửa chữa tàu biển Ngành CNĐT thuỷ ra đời và pháttriển phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện tự nhiên đó là phải có biển Khôngnhững thế, ngành CNĐT chỉ có thể phát triển đợc khi và chỉ khi trình độ kinh

tế biển của các nớc phát triển tới một trình độ nhất định đa đến sự giao lu kinh

tế quốc tế hoá giữa các nền kinh tế và các ngành kinh tế mới tạo ra các nhucầu đa dạng về các loại phơng tiện, công cụ tàu lớn trên thực tế cho sự pháttriển ngành CNĐT

Trong lịch sử cũng nh hiện tại phát triển kinh tế biển vốn là một trongnhững nội dung kinh tế quan trọng mang tính chiến lợc của các quốc gia cóbiển Nếu nhìn rộng hơn sẽ thấy rõ lịch sử xã hội loài ngời trong quá trìnhphát triển luôn gắn liền với nguồn nớc, dòng sông, biển cả Các trung tâm vănminh cổ xa đều nằm bên cạnh các dòng sông lớn của khu vực và từ đó pháttriển tiến dần ra biển Đây chính là điều kiện cần và đủ làm cho ngành giaothông thuỷ và hàng hải ra đời, phát triển mạnh mẽ Trên thực tế, quyền lựctrên biển luôn thuộc về những quốc gia nào có “Phát triển đội ngũ công nhân ngànhcánh buồm lớn nhất” quốc gia

đó sẽ đi nhanh nhất và phát triển nhất về kinh tế biển Điển hình cho sự pháttriển hớng ra biển đó là các cờng quốc: Anh, Đức, Mỹ, Nga, Tây Ban Nha, BaLan, Hà Lan họ đã có mặt khắp các đại dơng và chính các quốc gia nàycũng đã khai thác đợc những nguồn tài nguyên từ biển lớn nhất cho sự pháttriển kinh tế - xã hội của quốc gia mình Trong những năm gần đây, các nớc ởkhu vực châu á, nh Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore có nhữngbớc phát triển nhanh chóng về kinh tế biển Họ đã có ý thức về kinh tế biển vàtận dụng và khai thác có hiệu quả những lợi thế kinh tế từ biển của mình

Việt Nam có một tiềm năng to lớn về biển và có điều kiện rất thích hợp

để có thể xây dựng phát triển các ngành công nghiệp biển, đặc biệt là ngànhcông nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu biển có tầm vóc và vị thế trong khu vực

và quốc tế Thực tế sự phát triển của các nớc cho thấy để khai thác đợc những

Trang 10

tiềm năng lợi thế từ biển phải có một ngành CNĐT phát triển cung cấp nhữngphơng tiện đảm bảo cho sự khám phá, chinh phục Đại dơng một cách chủ

động và khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên từ biển, môi trờng biển.Nhng mặt khác, để phát triển đợc ngành CNĐT, tất yếu cần phải có một mụctiêu chiến lợc phát triển kinh tế biển một cách toàn diện

ở nớc ta, biển chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng, việc xác định pháttriển kinh tế biển gắn liền với phát triển ngành CNĐT tiên tiến, hiện đại, phục

vụ đắc lực cho quá trình khai thác và phát triển kinh tế biển thúc đẩy sựchuyển hớng cơ cấu kinh tế theo hớng CNH, HĐH đất nớc và bảo vệ an ninh,quốc phòng phải là một mục tiêu của chiến lợc phát triển Nhận thức rõ tầmquan trọng của vấn đề này hiện Đảng và Nhà nớc ta đã đề ra chiến lợc pháttriển kinh tế biển và ngành CNĐT nh sau:

Mục tiêu, chiến lợc phát triển kinh tế biển:

Căn cứ vào xu thế phát triển của thế giới hiện đang trong thời kỳ hớng

ra biển nhằm khai thác những tiềm năng, lợi thế từ biển; đồng thời xuất phát

từ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ đất nớc ta trớc mắt và lâu dài;gần đây Bộ Chính trị đã có hẳn một nghị quyết về phát triển kinh tế biển, đảo.Hội nghị BCH TW lần thứ 4 khoá X ngày 26/1/2007 đã bàn và đa ra nghịquyết về 5 vấn đề trọng yếu của đất nớc, trong đó có vấn đề chiến lợc biểnViệt Nam với mục tiêu tổng quát nh sau: "Đến năm 2020 phấn đấu đa nớc tatrở thành quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, bảo đảm vững chắc chủquyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, làm cho đất nớc giàu mạnh" [2, tr.33]

Từ mục tiêu tổng quát trên Ban chấp hành Trung ơng Đảng đề ra 3 mụctiêu cụ thể nh sau:

Một là, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia biển, xây dựng một vùng

biển hoà bình, ổn định và hợp tác cùng phát triển với các nớc

Hai là, phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế - xã hội, khoa học, công

nghệ quốc phòng an ninh làm cho đất nớc giàu mạnh lên từ biển, bảo vệ môitrờng biển

Ba là, nâng cao chất lợng phát triển, phấn đấu đến năm 2020 kinh tế

biển và ven biển, đóng góp khoảng 53 – 55% giá trị GDP cả nớc

Từ những mục tiêu cơ bản trên Đảng ta cũng đã vạch ra định hớng utiên phát triển có trọng tâm, trọng điểm những ngành kinh tế có lợi thế so sánhsau: Thăm dò, khai thác và chế biến các sản phẩm dầu khí; phát triển hệ thống

Trang 11

các cảng biển, vận tải biển; kinh tế hàng hải và công nghiệp đóng tàu; khaithác đánh bắt thuỷ sản; phát triển du lịch và kinh tế biển, đảo Trong đó, pháttriển ngành CNĐT đợc xem là ngành chủ đạo làm đòn bẩy cho quá trình thựchiện thắng lợi mục tiêu chiến lợc kinh tế biển của Đảng, Nhà nớc ta

Hiện nay, Thủ tớng Chính phủ đã ký ban hành nhiều quyết định quantrọng cho sự phát triển ngành công nghiệp đóng tàu thuỷ Việt Nam Cụ thể làquyết định số 1420/QĐ.TTg về đề án phê duyệt phát triển Tổng Công ty Côngnghiệp tàu thuỷ Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 Hà Nội ngày 2/11/2001 Tiếptheo thủ tớng Chính phủ đã ký quyết định số 1106/QĐ.TTg về phê duyệt đề án

điều chỉnh phát triển Tổng công ty CNTT Việt Nam giai đoạn 2005 - 2010 và

định hớng 2015 Hà Nội ngày 18/10/2005

Quan điểm, mục tiêu phát triển ngành CNTT Việt Nam:

+ Quan điểm chỉ đạo cho việc phát triển CNTT Việt Nam

Thứ nhất, xây dựng phát triển Tổng Công ty CNTT Việt Nam trở thành

tập đoàn kinh tế mạnh hoạt động theo mô hình Công ty mẹ, Công ty con, kinhdoanh đa ngành, đa sở hữu (trong đó sở hữu Nhà nớc chiếm tỷ lệ chi phối), cótrình độ công nghệ tiên tiến, quản lý hiện đại làm nòng cốt cho ngành tàu thuỷViệt Nam Nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nớc trong điều kiện hộinhập và cạnh tranh quốc tế

Thứ hai, xây dựng Tổng Công ty CNTT Việt Nam phát triển theo hớng

đa ngành, lấy đóng mới và sửa chữa tàu thuỷ là chính, phát triển các ngànhnghề khác trên nguyên tắc là những ngành hỗ trợ cho ngành đóng tàu Theo

đó Tổng Công ty đợc hoạt động trong một số lĩnh vực hàng hải, phát triển vậntải biển, vận tải sông và các ngành phụ trợ; hoạt động trong một số lĩnh vực tàichính theo quy định của pháp luật và sự chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền

Tự thu xếp vốn, tự liên doanh, liên kết trong việc phát triển công nghiệp và cácdịch vụ khác để đảm bảo thực hiện sản xuất kinh doanh có hiệu quả

Thứ ba, Tổng Công ty thực hiện chiến lợc sản phẩm mẫu, sản phẩm

trọng điểm, sản phẩm mũi nhọn, làm chủ công nghệ tiên tiến để nâng cao chấtlợng sản phẩm nhằm mở rộng thị trờng, xuất khẩu ngày càng nhiều và đápứng nhu cầu về các loại phơng tiện trong nớc

+ Mục tiêu phát triển công nghiệp tàu thuỷ

Đóng mới đợc các loại tàu hàng có trọng tải tới 80.000 tấn riêng tàuchở dầu thô có trọng tải từ 100.000 tấn đến 300.000 tấn Tàu container có sứcchứa đến 3.000 TEU, các loại tàu khách, tàu công trình, tàu dịch vụ dầu khí,

Trang 12

tàu đánh cá xa bờ, tàu chế biến hải sản, tàu cứu hộ, tàu bảo đảm hàng hải, tàu

đẩy trên sông và ven biển, tàu LASH, tàu tuần tra và tàu thông dụng

Sửa chữa đợc tàu có trọng tải tới 400.000 tấn

Đầu t các ngành công nghiệp phụ trợ để hỗ trợ cho ngành công nghiệp

đóng tàu Đến năm 2010 phấn đấu thực hiện các mục tiêu sau:

Sản xuất thép tấm đóng tàu thông dụng

Lắp ráp và sản xuất động cơ diesel đến 22.000 sức ngựa

Sản xuất Container các loại

Sản xuất các thiết bị nh: điện tàu thuỷ, trang bị trên boong tàu thuỷ,

ph-ơng tiện cứu sinh, hộp số và chân vịt, nồi hơi tàu thuỷ, nội thất tàu thuỷ… ChVậntải biển và vận tải sông, từng bớc nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của

đội tàu vận tải biển, vận tải sông và các cơ sở dịch vụ hàng hải

Vấn đề cấp bách nhất đang đặt ra hiện nay là: muốn xây dựng phát triển

đợc ngành CNĐT đáp ứng yêu cầu của quá trình khai thác phát triển kinh tếbiển chúng ta phải xây dựng và phát triển nguồn nhân lực đủ mạnh cả về số l-ợng và chất lợng ngang tầm với sự nghiệp CNH, HĐH đất nớc và đảm bảonăng lực cạnh tranh trên trờng quốc tế

1.1.2 Đặc điểm của công nhân ngành công nghiệp đóng tàu

Công nhân CNĐT là những ngời sản xuất vật chất trong lĩnh vực thuộcngành công nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu thuỷ Họ gồm những ngời cóchuyên môn kỹ thuật - tay nghề cao, lao động trực tiếp hoặc gián tiếp tham giavận hành các công cụ lao động cơ khí chính xác có tính chất công nghiệpngày càng tiên tiến hiện đại hoá cao Họ đóng một vị trí vai trò đặc biệt quantrọng trong hệ thống dây chuyền công nghệ sản xuất đóng mới và sửa chữa đadạng các phơng tiện tàu thuỷ: vừa là một bộ phận cấu thành của lực lợng sảnxuất vừa là ngời làm chủ, vận hành nền sản xuất tiên tiến ấy

Giai cấp công nhân nói chung, đội ngũ công nhân ngành CNĐT nóiriêng đều là sản phẩm và là chủ thể của nền đại công nghiệp T tởng của C.Mác và Ph Ăngghen đang đợc chính thực tiễn sản xuất hiện đại khẳng định vàlàm tơi mới Công nhân CNĐT cũng mang trong mình những điểm chungthống nhất với đặc điểm của GCCN, song do tính đặc thù của ngành nên độingũ công nhân này còn có những đặc điểm khác biệt nh sau:

Hầu hết các ngành công nghiệp hiện đại đều tích hợp trong sản phẩm

tàu thuỷ, từ công nghiệp nặng, cơ khí chính xác, hoá công nghiệp đến công

Trang 13

nghệ thông tin, công nghệ hải dơng; gần đây các tàu thuyền đều định vị bằng

vệ tinh – ngành đóng tàu hiển nhiên phải tiếp hợp với công nghệ định vị –viễn thám từ vũ trụ Đặc trng nghề nghiệp ấy đòi hỏi hệ tri thức đa dạng vàchuyên sâu của công nhân CNĐT

Ngành CNĐT là ngành kỹ thuật có tính chính xác cao yêu cầu đội ngũcông nhân ngành CNĐT phải là ngời lao động đợc đào tạo một cách căn bảnchuyên sâu Hơn nữa, do sự phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ trongngành cơ khí thờng xuyên thay đổi và các sản phẩm tàu ngày càng đòi hỏichất lợng phục vụ cao theo nhu cầu của khách hàng Điều này đòi hỏi ngời lao

động trong ngành CNĐT phải có kinh nghiệm thực tế, thờng xuyên đợc đàotạo và đào tạo lại để cập nhật những công nghệ mới, ứng dụng vào trong quátrình sản xuất Hiện các sản phẩm đóng tàu mà họ tạo ra nó ngày càng đòi hỏitính năng kỹ thuật, công nghệ cao, trọng tải lớn, vận hành với tốc độ cao Phải

đáp ứng mọi tiêu chuẩn nghiêm ngặt của các cục đăng kiểm quốc tế, đảm bảocác sản phẩm tàu có độ bền thích nghi với mọi điều kiện thời tiết, khí hậu vànớc biển với mức độ an toàn cao trên mặt nớc và hoạt động dới nớc Do đó,

đây là một ngành kinh tế kỹ thuật có sự tích hợp nhiều nghề chuyên sâu trongquá trình sản xuất nh kỹ năng nghề cắt tôn, sơn, gò, hàn, thiết kế vỏ tàu, điệntàu, triền đà, ụ, lái tàu, lái cẩu giữa các công đoạn sản xuất nó đòi hỏi tínhnăng cơ số hoá trong từng chi tiết phải đạt độ chính xác cao theo mẫu thiết kế

và sử dụng các phơng tiện công cụ hiện đại bán tự động và tự động hoá caotrong sản xuất thi công

Tính chất xã hội hoá đợc thể hiện khá rõ trong lao động và trong sinh

hoạt của công nhân CNĐT Do tính chất đặc thù nghề nghiệp ngời lao độngtrong ngành công nghiệp cơ khí kỹ thuật này, đòi hỏi đội ngũ công nhân lao

động trong ngành phải có tính tổ chức, kỷ luật cao Kỷ luật công nghiệp vàyêu cầu bán quân sự đã rèn luyện cho công nhân CNĐT tác phong côngnghiệp Vì, đội ngũ công nhân này phải làm việc trong các môi trờng nhà x-ởng tách biệt, tạo ra các phân đoạn, tổng đoạn theo từng loại modul khác nhautrong một sản phẩm tàu điều đó yêu cầu tính chính xác rất cao giữa các công

đoạn ấy để tạo ra sản phẩm mới hoàn thiện Đòi hỏi những ngời công nhânphải có sự liên kết, phối hợp chặt chẽ với nhau trong quá trình thiết kế và thicông

Do điều kiện lao động sản xuất đặc thù của ngành, an toàn lao động chocông nhân CNĐT vì vậy cũng có những sắc thái riêng Phải lao động, làm việc

Trang 14

trong điều kiện hết sức nguy hiểm liên quan đến tính mạng, sức khoẻ Trêncác hệ thống thiết bị cơ khí nâng hạ hàng trăm, hàng nghìn tấn sắt thép, trongkhông gian chật hẹp, trên hệ thống triền đà rất phức tạp nên tai nạn lao động

dễ xảy ra Quá trình lao động của công nhân lại thờng diễn ra trên hệ thốngtriền đà, ụ ở trên cao hàng chục mét, có khi phải lao động ở dới nớc, tronghầm tàu với khoảng không gian chật hẹp, xoay xở khó khăn, phức tạp nên cókhá nhiều rủi ro trong lao động - cả cho ngời lao động và cả cho sản phẩm củacông nghiệp đóng tàu Quá trình sản xuất: sơn, hàn, gò ngời lao động phải

đối mặt trực tiếp với các loại bụi hoá chất, phóng xạ rất độc hại, ảnh hởngnguy hiểm đến trí tuệ và sức khoẻ Buộc ngời lao động trong ngành này phảinghiêm chỉnh chấp hành các nội quy, quy định của Luật lao động và Luật antoàn lao động khi tiến hành lao động, sản xuất

Công nhân CNĐT còn phải nắm đợc những yếu tố, điều kiện tự nhiên và

có kinh nghiệm, kỹ năng thực hành để có thể đa ra những giải pháp linh hoạt phù

hợp để tận dụng khai thác tốt nhất những điều kiện tự nhiên để đảm bảo nâng caochất lợng hiệu quả lao động Ví dụ, trong quá trình sản xuất phải lợi dụng thuỷtriều để có thể đa tàu vào âu, ụ, hay để hạ thuỷ một cách an toàn

Trên đây là những nét khác biệt cơ bản của đội ngũ công nhân ngànhcông nghiệp đóng tàu, nó luôn quy định đội ngũ công nhân ngành này phảiluôn cập nhật và tự rèn dũa, tích luỹ kinh nghiệm, kỹ năng tay nghề của mình,

đáp ứng yêu cầu sản xuất và phát triển của ngành

Từ thực tiễn và lý luận, chúng tôi quan niệm: Công nhân công nghiệp

đóng tàu là bộ phận cấu thành của giai cấp công nhân nói chung Họ là nhữngngời lao động trực tiếp và gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, tái sảnxuất ra các sản phẩm của ngành công nghiệp đóng tàu Họ là những ngời cótrình độ tay nghề chuyên môn kỹ thuật cao, là ngời đại diện tiêu biểu cho trình

độ phát triển của lực lợng sản xuất có tính chất chuyên môn hoá, xã hội hoácao trong ngành công nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu thuỷ Họ là ngời góp phầnquyết định vào năng lực và hiệu quả khai thác kinh tế biển của đất nớc

1.2 Những yếu tố quy định sự phát triển của công nhân ngành công nghiệp đóng tàu

1.2.1 Vai trò của công nhân ngành Công nghiệp đóng tàu

Trong bất kỳ một lĩnh vực lao động sản xuất nào ngời lao động luôn

đóng vai trò quan trọng, quyết định trực tiếp nhất tới sự phát triển sản xuất vàtăng năng suất lao động Ngày nay, khoa học kỹ thuật và công nghệ trên thế

Trang 15

giới không ngừng đợc phát triển, hàm lợng chất xám trong các sản phẩm hànghoá ngày càng tăng cao, vai trò của ngời lao động lại càng có vị trí quan trọnghơn bao giờ hết trong lực lợng sản xuất Vì con ngời chính là một bộ phậnquan trọng nhất cấu thành lực lợng sản xuất trong mọi thời kỳ, con ngời vừa là

điểm khởi đầu nhng cũng là đích đến trong mọi sáng kiến phát minh, ứngdụng sáng tạo các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ vào trong quátrình sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội V.I Lênin đã chỉ ra rằng: “Phát triển đội ngũ công nhân ngànhlực lợngsản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là ngời lao động” [18,tr.430]

Đội ngũ công nhân ngành CNĐT là yếu tố quan trọng hàng đầu cho sựphát triển của ngành công nghiệp đóng tàu Trong điều kiện kinh tế, kỹ thuậtphát triển ngày càng hiện đại với quá trình quốc tế hoá cạnh tranh gay gắt nhhiện nay cần phải có nguồn lực con ngời và chất lợng nguồn lực con ngời ngàycàng cao Họ là lực lợng lao động đông đảo bao gồm cả các kỹ s, kỹ thuậtviên và những ngời thợ lành nghề ở những cấp bậc khác nhau đang làm chủnhững tri thức khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, có kinh nghiệm và sự

am hiểu sâu sắc những nhân tố tự nhiên tác động đến các quy trình sản xuất

đóng mới và sửa chữa tàu thuỷ

Hiện nay, đội ngũ công nhân ngành CNĐT là những ngời tiền phongtrong nắm bắt và ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến ấyvào trong các quy trình sản xuất đóng mới và sửa chữa đa dạng các phơng tiệntàu thuỷ Hơn nữa họ còn là ngời tham gia trực tiếp vào việc đổi mới công tác

tổ chức sản xuất, cải thiện môi trờng lao động trong các nhà máy Họ là nhữngngời thờng xuyên đóng góp những ý kiến về chuyên môn còn bất cập trongquá trình lao động sản xuất của các nhà máy đóng tàu Từ đó giúp các doanhnghiệp đa ra những phơng hớng, giải pháp tối u nhằm đổi mới phơng thức sảnxuất, phơng thức lao động, cải tiến công cụ lao động và công nghệ phù hợpvới yêu cầu sản xuất, giảm thiểu chi phí sản xuất và rút ngắn thời gian thicông đóng mới và sửa chữa tàu, đem lại năng suất, chất lợng và hiệu quả kinh

tế cao

Mục tiêu chiến lợc phát triển kinh tế hớng ra biển của các quốc gia cóthực hiện một cách hiệu quả hay không tuỳ thuộc một phần quan trọng vào sựphát triển mọi mặt của đội ngũ công nhân ngành CNĐT Tất cả mọi hoạt độngkinh tế trên biển và liên quan đến biển, từ đánh bắt nuôi trồng thuỷ hải sản,thăm dò, khai thác các loại tài nguyên khoáng sản biển cho đến các hoạt động

Trang 16

thơng mại chu chuyển, dịch vụ, cứu hộ, cứu nạn trên biển hoàn toàn phụthuộc ở các phơng tiện, công cụ do đội ngũ công nhân ngành CNĐT tạo ra.

Họ là những ngời quyết định tạo ra các sản phẩm đó để thăm dò, khai thácmột cách có hiệu quả những lợi thế về nguồn tài nguyên biển

Ngoài những vị trí, vai trò nêu trên, đội ngũ công nhân ngành côngnghiệp đóng tàu còn đóng vai quan trọng trong việc tạo ra các phơng tiện,công cụ phục vụ cho các hoạt động tác chiến về an ninh quốc phòng trên biển:Chế tạo, đóng mới và sửa chữa những loại tàu đặc chủng chuyên dụng có tínhnăng hiện đại, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao cho các hoạt động tuần tiễu,khu trục các tàu xâm phạm lãnh hải quốc gia, giám sát việc buôn bán trênbiển góp phần bảo vệ vững chắc toàn vẹn chủ quyền biên giới quốc gia

1.2.2 Những nhu cầu thực tiễn cơ bản qui định sự phát triển của công nhân ngành công nghiệp đóng tàu

- Nhu cầu nội tại của ngành công nghiệp đóng tàu là tác động trực tiếp

Thế kỷ XXI, tàu biển thế giới phát triển theo 3 tiêu chí quan trọng sau:

An toàn, trọng tải lớn, giảm ô nhiễm môi trờng Đây thực sự là một cuộc cạnhtranh gay gắt trong lĩnh vực công nghệ đóng tàu tiên tiến; thời gian hoàn thành

đúng hạn; nhân công chất lợng kỹ thuật cao Đảm bảo sự rút ngắn thời giansản xuất, giảm chi phí sản xuất, sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, giá thànhsản phẩm phù hợp

Ngành CNĐT cũng không nằm ngoài quy luật khách quan của xu thế

ấy Trớc đây, ngành CNĐT chỉ đơn thuần đóng các phơng tiện phục vụ chongành giao thông đờng thuỷ đi lại và vận chuyển hàng hoá thông thờng là chủyếu Nhng cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các nền kinh tế biển, khai thácbiển của các nớc trên thế giới hiện nay, công nghiệp đóng mới và sửa chữa tàubiển trên thế giới những năm gần đây đã và đang có những bớc tiến vợt bậc vềchất để đáp ứng nhu cầu, trình độ phát triển kinh tế biển không ngừng gia tăngcủa các quốc gia Nhu cầu phát triển đó đòi hỏi ngành CNĐT và đội ngũ côngnhân ngành phải tạo ra các sản phẩm tàu có chất lợng và trọng tải lớn hoạt độngvới tốc độ cao, đảm bảo an toàn, thuận tiện cho việc bốc, xếp dỡ hàng hoá vàhành khách trên tàu với yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao

Chính nhu cầu đó làm cho ngành CNĐT phải không ngừng đổi mới, cảitiến kỹ thuật và công nghệ phù hợp với thực tiễn và hình thành hàng loạt xu h-ớng mới Hiện có ba xu hớng tiêu biểu: xu hớng cơ khí hoá - điện khí hoá - tự

Trang 17

động hoá trong công nghệ đóng tàu đáp ứng tính năng kỹ thuật công nghệ cao,

đạt các tiêu chuẩn đăng kiểm nghiêm ngặt trong nớc và quốc tế; Xu hớngnâng cao năng lực đóng tàu có tải trọng lớn - siêu trờng, siêu trọng với khối l-ợng khổng lồ; Xu hớng đa dạng hoá các chủng loại tàu (chở khách, tàu chởdầu, chở hoá chất, chở hàng rời, tàu chuyên dụng )

Hiện các nớc có ngành CNĐT phát triển đang ứng dụng một cách nhanhchóng các thành tựu công nghệ mới vào quá trình sản xuất làm thay đổi tínhchất từ một ngành công nghiệp cơ khí sử dụng nhân công là chính thì nay đã

và đang đợc chuyển dần sang trở thành một ngành cơ khí kỹ thuật cao Trong

đó, các phần mềm tự động hoá ứng dụng công nghệ thông tin đóng vai trò chủchốt trong các công đoạn sản xuất đóng mới và sửa chữa tàu thuỷ

Ngành CNĐT hiện nay ở các nớc phát triển nh: Anh, Đức, Pháp, Na Uy,Hàn Quốc, Nhật Bản đã ứng dụng ngày càng phổ biến công nghệ thông tinphần mềm Shipconstructor, Nupas, Cadmatic vào trong các công việc có hàmlợng chất xám cao nh khâu thiết kế, lập kế hoạch sản xuất, quản lý sản xuất,lắp ráp với những thiết bị dây chuyền máy móc ngày càng hiện đại

Hiện Trung Quốc đang đẩy mạnh các dự án đầu t, xây dựng các nhàmáy mới cũng nh các nhà máy hiện có lên gấp 2 lần đến năm 2008 và tăng lêngấp 3 lần đến năm 2015 Còn các nớc nh Hàn Quốc, Nhật Bản đang đi theo h-ớng hợp nhất các nhà máy để có những cơ sở sản xuất tàu biển lớn hơn và tậptrung đầu t những công nghệ tiên tiến nhất để đóng các sản phẩm tàu có tínhnăng kỹ thuật cao Dự kiến trong 10 năm tới ba cờng quốc đóng tàu châu á:Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản sẽ tiếp tục nắm giữ trên 80% lợng đơn đặthàng đóng tàu trên toàn thế giới

Các công nghệ đóng tàu theo kiểu sản xuất thủ công, đơn chiếc đã lần

l-ợt thay thế bằng các công nghệ sản xuất đóng mới tiên tiến theo kiểu Modulehiện đại Các hoạt động trong sản xuất đóng mới không ngừng chuyển dần từgia công cắt bằng tay sang các thiết bị gia công cơ khí dựa trên cơ sở cơ sốhoá bằng các máy cắt CNC, hàn tự động, bằng máy phay chơng trình, máytiện bán tự động và tự động cơ khí chính xác cao Sự chuyên môn hoá sảnxuất theo từng công đoạn có tính năng di động thuận tiện giữa các công đoạnsản xuất và quá trình lắp ráp tổng đoạn trên hệ thống dây chuyền hết sức hiện

đại có tính chính xác cao Thực tế đó đang đòi hỏi đội ngũ công nhân ngànhCNĐT phải không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt để có thể nắm bắt và

Trang 18

làm chủ đợc những phơng tiện công cụ tự động và bán tự động trong quá trìnhthiết kế và thi công chế tạo các phân đoạn, tổng đoạn, đến chế tạo máy và lắp

đặt các chi tiết kết cấu phụ đến đấu các modulle trên, đà tàu,

Ngành CNĐT Việt Nam trong những năm qua đợc Đảng và Chính phủtạo cho những hành lang pháp lý thuận lợi, xây dựng thành một ngành côngnghiệp mũi nhọn của đất nớc Hiện ngành đang tập trung mọi lực lợng đẩymạnh quá trình hợp tác quốc tế với các nớc có trình độ công nghệ đóng tàuphát triển của thế giới nh Ba lan, Hà Lan, Anh, Na Uy, Nhật Bản, Hàn Quốc,Trung Quốc,… Ch ớc đầu đã thu đợc nhiều hợp đồng trong chuyển giao công Bnghệ và các hợp đồng đóng mới và sửa chữa tàu với giá trị hợp đồng lên tớihàng tỷ USD: Chúng ta đã ký với Công ty thơng mại Đức MDC 8 tàucontainer loại 700TUE, dự án này sẽ mở đờng cho Vinashin tiến tới đạt 2 TỷUSD kim ngạch xuất khẩu đóng tàu vào năm 2010, cao hơn 17% so với kimngạch tổng thể đặt ra trong giai đoạn 2006 - 2010 Riêng năm 2005 - 2007 đã

ký thêm hơn chục cái hợp đồng đóng tàu có giá trị lớn cho các chủ tàu NhậtBản, Anh, Balan trong đó nổi bật nhất là hợp đồng đóng mới tàu hàng53.000ĐWT Với tổng giá trị hợp đồng khoảng trên 450 triệu USD và hợp

đồng đóng mới 9 tàu hàng loại 34.000ĐWT tổng giá trị là 238,5 triệu USDcho chủ tàu Vơng Quốc Anh Gần đây nhất Vinashin đã ký thêm 18 hợp đồngkinh tế khác với các đối tác nớc ngoài và trong nớc tại Triển lãm quốc tế vềcông nghệ tàu thuỷ, hàng hải và vận tải lần thứ 3 - Vietship 2/2006 Chỉ tínhriêng 2 hợp đồng cung cấp 3 tàu chở hàng, trọng tải mỗi tàu 8.700 ĐWT chohãng Kannenmat (Nhật Bản) và 10 tàu đa năng có trọng tải mỗi tàu 4.500 tấncho hãng tàu biển Clipper (Đan Mạch) đã mang về cho Vinashin khoảng 300triệu USD, trong khi đó nhiều chủ tàu khác từ các nớc tiên tiến trên thế giới

đang tiếp tục đến đề nghị ký hợp đồng với Vinashin, đóng các loại tàu hàng cótrọng tải từ 10.000ĐWT đến 56.000 ĐWT [3, tr.27]

Nh vậy, với số hợp đồng đã ký và đang tiếp tục đàm phán để ký, tổngtrị giá các hợp đồng đóng tàu xuất khẩu của Vinashin đã đạt trên 2 tỷ USD

đến hết năm 2010 và theo ớc tính các hợp đồng đã ký thì ngành CNĐT ViệtNam phải làm việc hết công suất đến năm 2015 mới thực hiện đủ các hợp

đồng Vấn đề đặt ra hiện nay là chúng ta làm nh thế nào để thực hiện nhữnghợp đồng trên theo đúng tiến độ bàn giao, giữ đợc uy tín cao với các bạn hàngquốc tế để chúng ta còn có cơ hội ký tiếp các hợp đồng đóng mới

Trang 19

Thực tế ấy đòi hỏi ngành CNĐT Việt Nam phải không ngừng đầu t, cảitiến, chuyển giao đợc những công nghệ mới tiên tiến của thế giới, áp dụngnhanh vào quá trình sản xuất Với chiến lợc đi tắt đón đầu về khoa học kỹthuật và công nghệ, các nhà máy đóng tàu Việt Nam đang tập trung đầu t cácloại trang thiết bị và dây chuyền công nghệ mới nh công nghệ cắt CNC, giacông cơ khí hàn tự động, thiết bị nâng hạ với sức nâng lớn, thiết bị đo lờng,siêu âm, kiểm định kết quả phục vụ tốt nhất cho gia công tôn, thép tấm hàn vàlắp ráp vỏ thân tàu thuỷ

Vấn đề quan trọng hàng đầu của các nhà máy là phải xây dựng pháttriển đợc một đội ngũ công nhân ngành CNĐT có trình độ tay nghề cao sớmthích ứng nhanh với quá trình sản xuất đóng mới và sửa chữa tàu biển hiện đạihiện nay Trên thực tế ngành CNĐT ở nớc ta hiện có nhiều nhà máy còn thiếunghiêm trọng đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề Vì vậy, các sự cố kỹthuật trong các loại trang thiết bị công nghệ mới nhập về thờng xẩy ra làmgián đoạn quá trình sản xuất và giảm hiệu suất sử dụng máy, nhiều thiết bị khicần sửa chữa thay phụ tùng phải chờ đợi và thuê chuyên gia nớc ngoài khá tốnkém và mất thời gian

Ngo i ra, trong xu thế to n cầu hoá kinh tế quốc tế hiện nay đang đặt racho mọi ngành, mọi nghề phải không ngừng nghiên cứu áp dụng các thành tựukhoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến vào việc đổi mới cải tiến phơng tiện,công cụ sản xuất của mình đáp ứng yêu cầu của quá trình sản xuất nhằm tạo racác sản phẩm có chất lợng và đủ sức cạnh tranh cao trên trờng quốc tế Mặt khác

xu thế hội nhập kinh tế trên cũng đang rất trọng phơng tiện vận tải biển - cho đếnnay, đây vẫn là ngành vận tải lớn nhất và có cớc chuyên chở thấp nhất Điều đólàm cho ngành giao thông đờng thuỷ ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong quátrình lu thông, vận chuyển hàng hoá xuất, nhập khẩu

- Cơ sở phát triển kinh tế biển cũng là một yếu tố quy định sự phát triển công nhân CNĐT

Việt Nam là một quốc gia có nền kinh tế biển đầy triển vọng Việt Nam

nằm ở ven bờ biển Đông với vùng biển đặc quyền kinh tế rộng khoảng 1 triệu

km2, có trên 3000 hòn đảo lớn nhỏ, phân bố tập trung ở ven bờ Tây Vịnh Bắc

Bộ (Quảng Ninh - Hải Phòng) và hai quần đảo ngoài khơi là Trờng sa vàHoàng sa Nhiều đảo có thể xây dựng thành các trung tâm kinh tế và dịch vụcho các hoạt động khai thác biển xa cũng nh các đảo, nhiều khu vực bờ biểnnớc ta có điều kiện về tự nhiên rất thuận lợi cho việc xây dựng các khu côngnghiệp ven biển, đặc biệt là phát triển ngành công nghiệp đóng mới và sửa

Trang 20

chữa tàu thuỷ Trên cơ sở đó góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội

và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng CNH, HĐH các ngành công nghiệp,

du lịch và an ninh quốc phòng biển, đảo

Các nguồn tài nguyên của biển Việt Nam đợc thể hiện nh sau:

Các nguồn tài nguyên biển hết sức phong phú có khả năng khai tháclớn đóng vai trò quan trọng cho sự tăng trởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.Trong đó trớc hết phải kể đến dầu khí là một nguồn tài nguyên mũi nhọn có uthế nổi trội của Việt Nam Ngoài ra biển Việt Nam còn có khả năng nguồn lợihải sản đợc đánh giá vào loại phong phú trong khu vực có nhiều loại đặc sảnkhác có giá trị kinh tế cao Riêng cá biển đã phát hiện hơn 2000 loài khácnhau, trong đó có trên 100 loài có giá trị kinh tế cao Dọc ven biển có trên 37vạn hecta mặt nớc có khả năng nuôi trồng thuỷ sản nớc mặn-lợ, nhất là nuôicác loại đặc sản xuất khẩu nh Tôm, Cua, Rong câu, Bên cạnh đó, biển nớc tacòn có các loại tài nguyên khoáng sản quan trọng có tiềm năng khác (ngoàidầu khí) nh: than, sắt, titan, cát thuỷ tinh và các loại vật liệu xây dựng khác đểphát triển nền kinh tế theo hớng công nghiệp hoa, hiện đại hoá

Biển nớc ta có vị trí hết sức quan trọng trong thực hiện chiến lợc pháttriển kinh tế hớng ra biển và hội nhập kinh tế với các nớc trong khu vực vàtrên thế giới Việt Nam nằm ở rìa biển Đông, án ngữ trên các tuyến hàng hải

và hàng không huyết mạch thông thờng giữa ấn Độ Dơng và Thái Bình Dơng,giữa Châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nớc trongkhu vực Biển Đông đóng vai trò là chiếc “Phát triển đội ngũ công nhân ngànhcầu nối” cực kỳ quan trọng; là điềukiện rất thuận lợi để Việt Nam giao lu kinh tế giữa nớc ta với các nớc trongkhu vực và trên thế giới Biển Việt Nam kéo dài với nhiều eo vịnh có khả năngphát triển hệ thống cảng biển và vận tải biển Hiện dọc bờ biển Việt Nam đã

có khoảng gần 90 cảng biển, trong đó nhiều khu vực có thể xây dựng các cảnglớn nớc sâu nh cảng Cái Lân và một số ở khu vực vịnh Hạ Long, Nghi Sơn,Hòn La-Vũng áng, Chân Mây, Đà Nẵng, Dung Quất, Văn Phong-Cam Ranh,Vũng Tàu Chúng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển các ngành côngnghiệp biển đặc biệt trong ngành công nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu thuỷ

Biển Việt Nam còn chứa đựng nhiều tiềm năng du lịch có u thế đặcbiệt, mở ra triển vọng khai thác tổng hợp để phát triển mạnh kinh tế biển Với3.000 hòn đảo lớn nhỏ đã xác định khoảng 125 bãi biển lớn và nhỏ thuận lợicho phát triển du lịch, có dung lợng chứa khách cùng một lúc đến vài trăm

Trang 21

ngàn ngời; trong đó có 20 bãi biển đạt quy mô và tiêu chuẩn quốc tế đã có

th-ơng hiệu trên thế giới Các bãi biển Việt Nam nhìn chung là bằng phẳng nớctrong sóng gió vừa phải, không có các ổ xoáy và cá dữ rất thích hợp cho tắmbiển và vui chơi giải trí trên biển Sự kết hợp hài hoà giữa cảnh quan tự nhiênvới cảnh quan văn hoá - xã hội của biển, vùng ven biển và các hải đảo đã tạocho du lịch biển Việt Nam có lợi thế phát triển mạnh mẽ Hiện trên 75%khách nớc ngoài đến Việt Nam là du lịch biển, cũng nh du lịch biển nội địa làrất lớn nhng ngành du lịch biển cha phát huy tơng xứng với tiềm năng củabiển

Nguồn nhân lực dồi dào ven biển cũng là lợi thế rất quan trọng ViệtNam có 28 tỉnh thành phố có biển gồm 38 quận, huyện với dân số khoảng 42triệu ngời trên tổng số 81 triệu ngời trên cả nớc có 121 quận huyện ven biểnvới trên 17 triệu ngời sinh sống, lao động, đang trong độ tuổi sung sức khoảng12,8 triệu ngời chiếm 35,47% lao động cả nớc Tiềm năng lợi thế biển ở nớc ta

là hết sức to lớn, song hiện khả năng khai thác phát triển kinh tế biển đang còn

ở trình độ thấp, đánh bắt ven bờ theo kiểu truyền thống bằng chài, lới, câu,… Ch

là chủ yếu Các ngành nghề biển nh thăm dò tìm kiếm, khai thác vận chuyển chaphát triển Hầu hết các ngành nghề trên biển đang thiếu hụt các phơng tiện công

cụ tàu thuyền các loại có khả năng vơn ra xa làm chủ và khai thác biển khơi.Hiện nay chúng ta cha thể tiến xa ra và làm chủ đại dơng để phát triển kinh tếbiển và làm giàu lên từ biển với những phơng tiện công cụ thủ công Thực tiễn

đòi hỏi Việt Nam phải phát triển một nền công nghiệp biển, đặc biệt là ngànhCNĐT đủ mạnh để cung cấp những phơng tiện hiện đại có khả năng cao trongthăm dò và khai thác biển có hiệu quả

Thị trờng đóng tàu thế giới hiện đang mở ra nhiều cơ hội cho ngànhCNĐT nớc ta phát triển Nhu cầu vận tải đờng biển tại các nớc Đông Nam ákhông ngừng gia tăng đạt tới 143,3 triệu TEU vào năm 2007 nhng công suấtvận tải của tất cả các hãng vận tải biển trên thế giới mới chỉ đáp ứng đợc 129,5triệu TEU Số đơn đặt hàng đóng tàu dầu và tàu container trên thế giới đếnngày 01/07/2004 tăng đạt mức kỷ lục trong vòng 30 năm qua Trên toàn thếgiới có 3.388 tàu đợc đặt đóng mới với tổng trọng tải 183,8 triệu tấn tàu.Ngoài ra, các nớc đang có có nhu cầu tăng mạnh về mua sắm các loại tàu mới

đáp ứng yêu cầu khai thác vận chuyển đờng biển, phát triển ngành dịch vụ

Trang 22

hoạt động hậu cần thiết yếu nh các tàu chuyên dùng phục vụ an ninh quốcphòng đảm bảo hoạt động hàng hải thông suốt

Hiện số lợng đơn đặt hàng đóng tàu trên thế giới vẫn có xu hớng liêntục tăng đến năm 2007 đạt mức 315 triệu đồng cùng với nó là sự dịch chuyểnthị trờng đóng tàu từ Châu Âu sang châu á Hiện các nớc nh: Hàn Quốc,Nhật Bản, ấn Độ đang tích cực xây dựng đầu t nâng cấp và mở rộng các cơ

sở đóng tàu của mình ngày càng hiện đại, sản xuất các sản phẩm tàu có chất ợng giá trị cao với yêu cầu kỹ thuật và công nghệ tiên tiến đủ sức cạnh tranhcác thị phần đóng mới tàu trên thế giới Còn các nớc châu âu trên thế giới

l-đang dựa vào thế mạnh của mình về khoa học kỹ thuật, công nghệ đẩy mạnh

sự hợp tác xuất khẩu những thiết bị công nghệ cao trên cơ sở liên doanh liênkết sản xuất với các nớc châu á đang có ngành công nghiệp phát triển Qua đó

họ cũng có ý đồ lợi dụng nguồn tài nguyên và nhân công rẻ và nhằm giảm dầnsản xuất ngành công nghiệp này để hạn chế sự ô nhiễm môi trờng độc hại choquốc gia mình

ở Việt Nam hiện nay trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá, nhờ cácchính sách đổi mới của nền kinh tế mở thơng mại đã và đang phát triển nhanhchóng tạo ra nhu cầu vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu tăng cao trongnhững năm qua: theo số liệu thống kê cho thấy ngành thơng mại nớc ta có tốc

độ tăng năm trớc so với năm sau từ 15% đến 20% Tốc độ này còn tiếp tụctăng khi ngành dầu khí Việt Nam đang phát triển đạt tới mức độ tăng trởngvững chắc, các liên doanh nớc ngoài ngày càng mở rộng đầu t vào Việt Nam.Các mặt hàng xuất, nhập khẩu cũng tăng liên tục về số lợng và đa dạng vềchủng loại Thực tế đó đặt ra nhu cầu phải phát triển nhanh đội tàu vận tải,nhất là các loại tàu chở dầu, tàu container và loại tàu chở hàng rời

Song hiện nay, trình độ khai thác phát triển kinh tế biển ở nớc ta cònthấp kém và cha tơng xứng với tiềm năng Độ tuổi tàu trung bình của ViệtNam hiện là 19 tuổi, trong khi đó đối với ngành vận tải biển quốc tế đang yêucầu trẻ hoá và hiện đại hoá là cần thiết vì đây là yếu tố đánh giá mức độ hiện

đại và tính an toàn trong khai thác Với đội tàu cũ lạc hậu nh hiện nay chúng

ta khó có thể giành đợc các hợp đồng vận tải biển lớn có giá trị kinh tế caotrên thị trờng trong nớc và quốc tế

Hiện khả năng chuyên chở của đội tàu Việt Nam còn quá thấp, chỉ mớichiếm đợc khoảng 15% thị phần vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu hàng

Trang 23

năm của cả nớc Điều đó đang làm mất cân đối tốc độ tăng trởng của lợnghàng hoá vận chuyển Chúng ta không tận dụng đợc những lợi thế từ biển vàphát huy đợc nội lực về sức lao động, không tạo thêm đợc việc làm, thu nhậpcho ngời lao động Việt Nam Chỉ khi nào đội tàu Việt Nam có đủ số lợng,chất lợng, đáp ứng khả năng chuyên chở trên 40% tổng số lợng hàng hoá xuấtkhẩu thì ngành vận tải biển mới phát huy đợc tiềm năng to lớn của mình, đónggóp nhiều hơn cho ngân sách Nhà nớc và tự lực phát triển đội tàu của mình.

Để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển ngành kinh tế vận tải biển hiện nay,chúng ta phải đầu t khoảng 2 tỷ USD đến năm 2007 để có thêm 6 tàu dầutrọng tải 370.000 ĐWT và 25 tàu container với trọng tải 460.000 ĐWT, 28 tàuhàng với tổng trọng tải 350.000 ĐWT và đầu t thêm 5 tỷ USD đến năm 2010

để nâng tổng trọng trọng tải của đội tàu trong nớc lên 4,4 triệu ĐWT Vấn đề

đặt ra là phải đầu t cho sự phát triển ngành CNĐT và đội ngũ công nhânngành phát triển ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ sản xuất thực tế hiện nay

Nhận thức đợc cơ sở tiềm năng to lớn về biển của nớc ta và xuất phát từyêu cầu thực tế sự phát triển của các ngành kinh tế biển trong nớc và quốc tếhiện nay Đảng và Nhà nớc ta đã rất chú trọng quan tâm đến chính sách pháttriển kinh tế biển, đặc biệt là đầu t phát triển ngành CNĐT trở thành mộtngành công nghiệp “Phát triển đội ngũ công nhân ngànhđầu tàu” trong quá trình CNH, HĐH đất nớc lôi kéo cácngành kinh tế khác cùng phát triển Trớc sự quan tâm và đầu t mạnh củaChính phủ ta, cũng nh tạo mọi cơ sở pháp lý thuận lợi cho Tổng Công tyCNTT Việt Nam chủ động liên minh, liên kết với nhiều quốc gia và tổ chứcquốc tế nhằm huy động vốn, công nghệ cho sự phát triển tăng tốc của ngành.Riêng trong năm 2005 tổng vốn ngân sách Nhà nớc và vốn tín dụng u đãi thựchiện đối với Tổng Công ty CNTT Việt Nam là 638.454 triệu đồng, tổng vốnvay trái phiếu quốc tế là 750.000 USD Trong năm 2006 vốn do tập đoàn thựchiện đầu t xây dựng cơ bản nhằm cải tạo nâng cấp, mở rộng các nhà máy đóngmới và sửa chữa tàu thuỷ trên cả nớc là 474.083 triệu đồng

Ngành đóng tàu đang đẩy mạnh liên doanh, liên kết với các quốc gia cóngành CNĐT phát triển trên thế giới nh: Anh, Đức, Hà Lan, Hàn Quốc, Nhật,

Đan mạch nhằm xây dựng, nâng cấp, mở rộng các nhà máy trên cả 3 miềnBắc-Trung - Nam đủ sức sản xuất đa dạng các sản phẩm tàu đáp ứng nhu cầuvận tải trong nớc và hớng ra xuất khẩu Cụ thể ở khu vực phía Bắc là nhà máy

đóng tàu Bạch Đằng, Nam Triệu, Phà Rừng, Sông Cấm, và nhà máy đóng tàu

Trang 24

Hạ Long; ở miền Trung là nhà máy đóng tàu Đà Nẵng, nhà máy đóng tàu NhaTrang, nhà máy đóng tàu Dung Quất; ở phía Nam là Khu liên hiệp đóng tàu

Ba Son, Nhà sửa chữa tàu biển và dàn khoan - Shidlacon, nhà máy đóng mớitàu biển Sài Gòn, nhà máy liên doanh Hyundai-Vinashin, nhà máy sửa chữa

đóng tàu biển và dàn khoan Vũng Tàu, nhà máy đóng tàu Cần Thơ…

Sự phát triển mạnh mẽ đó của ngành CNĐT trên cả nớc hiện nay đang

đặt ra nhiệm vụ cấp thiết cho đội ngũ công nhân ngành này phải đợc đào tạo

và tự đào tạo lại, nâng cao cả về số lợng và chất lợng đáp ứng yêu cầu pháttriển của thực tiễn

- Nhu cầu về an ninh quốc phòng cũng thúc đẩy sự phát triển công nhân công nghiệp đóng tàu

Đất nớc ta có biển dài 3.260 km, vị trí địa lý không chỉ thuận lợi chocác hoạt động kinh tế thơng mại mà còn có vị trí đặc biệt quan trọng về mặtquân sự trong tấn công cũng nh phòng ngự cao trong khu vực cũng nh trên tr-ờng quốc tế Trong thực tế lịch sử phát triển của dân tộc ta thờng xuyên phải

đối mặt với các thế lực ngoại bang xâm lợc khác nhau Giao thông đờng thuỷ

là mạch máu quan trọng để chi viện sức ngời, sức của và các loại hàng hoáthiết yếu cho chiến lợc quốc phòng, an ninh đánh đuổi các thế lực bảo vệ toànvẹn lãnh thổ quốc gia Chính vì vậy, yêu cầu bảo vệ lãnh hải của tổ quốc trongthời kỳ mới đang là vấn đề cấp bách đợc đặt ra

Nhìn một cách khái quát nhu cầu về an ninh quốc phòng là một độnglực thúc đẩy sự ra đời phát triển của ngành đóng tàu và đội ngũ công nhânngành đóng tàu Việt Nam trong quá khứ cũng nh hiện tại

Nhờ đó, ngành đóng tàu trong nớc đã có sự ra đời khá sớm và chủ yếu

để làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh Trong lịch sử dựng nớc và giữ nớc của

dân tộc ta đã có những chiến thuyền của Hai Bà Trng, Lê Chân đã đánh bạinhững chiến thuyền của Mã Viện đến xâm lợc ở Hạ Long; năm 938 đội chiếnthuyền Ngô Quyền đã nhấn chìm cả hạm đội Nhà Hán xuống sông Bạch Điều

đó đã khẳng định kiến thức về thuỷ văn khí tợng, kinh nghiệm tác chiến bằngtàu thuỷ và khả năng chế tạo chiến thuyền của con ngời Việt Nam Tháng 7năm 980 Lê Hoàn lên ngôi đã cho đào kênh nhà Lê và tổ chức đóng thuyền.Năm 981 thuỷ quân Tống chia làm hai ngả tiến vào cửa công Bạch Đằng vàcửa sông Hồng đều bị thuỷ quân Lê Hoàn tiến công tháo chạy về nớc Đếnthời Lý, theo giáo s Hoàng Xuân Hãn thì triều đình Việt Nam đã có những x-

Trang 25

ởng lớn đóng thuyền và thuyền thời Lý có thể chở đợc tới 200 ngời và đầy đủlơng thực nớc uống để vợt biển với cự ly hàng ngàn hải lý Thuyền chiến thờiTây Sơn, vua Quang Trung đã cho đóng những chiếc tàu lớn, trang bị từ 50 -

60 khẩu súng, Ông còn cho đóng hàng loạt các thuyền lớn để chở voi sang

đánh nhà Thanh Qua đây, chúng ta thấy rõ ngành đóng tàu và đội ngũ côngnhân ngành đóng tàu ở nớc ta luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng trongchiến lợc quốc phòng, an ninh

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc, đội ngũ công nhân ngành

đóng tàu đã có nhiều đóng góp to lớn cho sự nghiệp chung Đế quốc Mỹ tiếnhành chiến tranh huỷ diệt miền Bắc, chúng muốn làm tê liệt sức chi viện củahậu phơng lớn cho tiền tuyến lớn Các mạch máu giao thông từ cửa sông, cửabiển của Việt Nam đều bị thuỷ lôi và các loại bom từ trờng của đế quốc Mỹgiăng bẫy Các nhà xởng đóng tàu của quân đội hay dân sự trên phạm vi cả n-

ớc và ở Hải Phòng đều chuyển sang làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh làchính Với tinh thần yêu nớc và lòng căm thù giặc sâu sắc, đội ngũ cán bộ vàcông nhân viên các nhà xởng đóng mới và sửa chữa tàu lúc bấy giờ đã lao

động quên mình, sáng tạo nhiều phơng tiện, công cụ để đánh thắng đế quốc

Mỹ xâm lợc Ngày 11/10/1962 hàng loạt “Phát triển đội ngũ công nhân ngànhtàu không số” xuất phát từ HảiPhòng thẳng tiến vào miền Nam làm nên những kỳ tích trên “Phát triển đội ngũ công nhân ngànhcon đờng Hồ ChíMinh trên biển” Nhiều tàu thuyền, máy móc phục vụ cho rà phá thuỷ lôi, mởthông luồng lạch đã đợc công nhân Hải Phòng sản xuất và mang lại hiệu quảcao, góp phần quan trọng vào thắng lợi của đất nớc

Ngày nay trong quá trình CNH, HĐH đất nớc nhằm thực hiện thắng lợimục tiêu chiến lợc kinh tế biển và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền thiêngliêng của Tổ Quốc đã và đang đặt ra cho ngành CNĐT và đội ngũ công nhânngành này những nhiệm vụ hết sức to lớn và nặng nề

Thế kỷ XXI là kỷ nguyên của chiến lợc biển của các quốc gia trên thếgiới Khu vực Châu á và các nớc Đông Nam á đang đẩy mạnh nền kinh tế h-ớng ra biển nhằm mở rộng sự khai thác đánh bắt trên biển đang làm gia tăngnhững mâu thuẫn và xung đột sâu sắc ở Biển Đông Bởi lẽ, đây là nơi cónguồn năng lợng dầu khí và các nguồn tài nguyên biển khác rất phong phú sovới biển Đông Hải Hiện có 6 quốc gia xung quanh đều đã chiếm một số đảohoặc một số khu vực ở vùng biển này, song sự phân định ranh giới đờng biênbiển giữa các nớc cha rõ ràng Nhng thực tế hiện nay các nớc đó đang cùng

Trang 26

với hàng chục công ty nớc ngoài hợp tác khai thác trên 1000 giếng dầu với sảnlợng dầu mỏ vào khoảng vài chục triệu tấn và khí đốt tự nhiên khoảng hàngtriệu mét khối Điều đó làm cho các mâu thuẫn, tranh chấp các vùng đặcquyền kinh tế ở các đảo và phân định biên giới biển; sự chiếm hữu không gianbiển và tranh chấp khai thác tài nguyên biển đang ngày càng có xu hớng giatăng phức tạp giữa Trung Quốc, Việt Nam, Philipin, Malaixia, Indolexia, TháiLan, Campuchia…

Để bảo vệ lợi ích về biển của mình đã có hoặc đang trong sự tranh chấp,các nớc này đều đang ra sức mở rộng thực lực quân sự Do vậy, trong thời giangần đây có nhiều d luận cho rằng biển Đông đang là “Phát triển đội ngũ công nhân ngànhvùng nóng” có nguy cơbất ổn về an ninh, chính trị, có khả năng trở thành vùng Trung Đông thứ hai

Gần đây, Trung Quốc đang nở rộ lên về phát triển sản xuất các loại tàungầm, tàu chiến, tàu sân bay hiện đại Theo kế hoạch của Chính Phủ TrungQuốc 2010 sẽ chế tạo con tàu sân bay đầu tiên và đến 2016 sẽ cho ra hàng loạtcon tàu sân bay Còn hiện nay Trung Quốc đã đặt mua Nga 50 máy bay chiến

đấu SU - 33 chuyên thiết kế phục vụ cho tàu sân bay và sử dụng huấn luyệncác tàu sân bay cũ và các hạm đội hải quân Trung Quốc Còn các nớc nh ấn

Độ cũng ngày càng xúc tiến hiện đại hoá lĩnh vực hải quân Sửa chữa cải tiếncác tàu sân bay, tàu chiến mua từ Anh năm 1961 và năm 1987; riêng năm

2004 ấn Độ ký với Nga mua thêm tàu sân bay và đẩy mạnh công nghệ đóngmới tàu sân bay

Tại khu vực Đông á, Nhật Bản trên danh nghĩa không có quân đội,

nh-ng đối với lực lợnh-ng hải quân nhằm tự vệ của mình cũnh-ng đã tranh-ng bị cho mìnhnhững loại tàu chiến hiện đại, tàu ngầm, tàu sân bay hộ tống hải quân đợc vũtrang hết sức hiện đại, nó không chỉ đợc trang bị máy bay trực thăng mà cònchở đợc nhiều máy bay trực thăng cỡ lớn chống tàu ngầm…

Hàn Quốc đã tích cực mua và tự trang bị cho mình những loại tàu chiến,tàu sân bay cỡ trung và hạng nhẹ 1,8 vạn tấn đợc đánh giá vào hạng các cờngquốc mạnh trên biển ở Châu á

Theo d luận chung cũng nh dự đoán của Công ty t vấn phân tích HảiQuân của Mỹ: “Phát triển đội ngũ công nhân ngànhChâu á đang bớc vào thời đại tàu sân bay để hiện đại hoá hảiquân và trong vài năm tới các nớc Đông Nam á và ấn Độ hàng năm chikhoảng 15 tỷ USD cho việc phát triển tàu sân bay chi phí này sẽ vợt mức 12 tỷUSD của Mỹ và 9 tỷ USD của Tây Âu" [4, tr.28]

Trang 27

Cùng lúc các nớc trong khu vực Đông Nam á cũng đã rất coi trọngcông tác xây dựng và phát triển hải quân với nhiều kế hoạch và biện pháp cụthể để hiện đại hoá hải quân nh sau: ra sức tăng cờng xây dựng hiện đại hoátrang bị vũ khí bằng cách nhập khẩu các loại vũ khí hiện đại từ bên ngoài vào

nh Thái Lan, Malaixia, Indonexia, Philipin, Xingapore đã mua hàng loạt tàusân bay, tàu ngầm, tàu hộ tống có trang bị tên lửa, xe lội nớc, tàu tuần tra vàmáy bay chiến đấu Cho đến nay các nớc đã hình thành một năng lực tác chiếntrên biển tơng đối mạnh Đồng thời cải tạo hiện đại hoá các vũ khí hải quânhiện có của mình bằng cách thay đổi các thiết bị điện tử và ng lôi Xingapore

đã tự chế tạo liên tục 6 tàu hộ tống lớn "Victory" đợc trang bị tên lửa; HảiQuân Indonesia đã đóng hàng loạt tàu tuần tra kiểu (PB - 57); Hải quânMalaixia đã đặt mua 27 tàu tuần tra Bên cạnh đó, các nớc đang tiến hành điềuchỉnh biên chế lực lợng hải quân để phù hợp với yêu cầu tác chiến hiện đạihoá hải quân đối với các hải đội tàu chiến, đại đội ngời nhái, đội cứu viện dớinớc Thực tế đó đã và đang đặt ra cho Việt Nam tất yếu phải đầu t trang bịhiện đại hoá hải quân, làm tốt nhiệm vụ an ninh quốc phòng trên biển và bảo

vệ vững chắc toàn vẹn chủ quyền quốc gia về biển và khai thác có hiệu quảcác nguồn tài nguyên biển

Trong cơ chế thị trờng hiện nay các hoạt động làm ăn phi pháp nh buônlậu, buôn ma tuý, các băng nhóm hải tặc cớp bóc trên biển ngày càng gia tăng.Chúng đợc trang bị những phơng tiện công cụ tàu và vũ khí rất tối tân và hiện

đại có thể tấn công chớp nhoáng Để tăng cờng lực lợng đảm bảo cho hoạt

động an ninh trên biển, năm 1998 lực lợng cảnh sát biển Việt Nam đợc thànhlập nhằm tăng cờng an ninh biển, tác chiến hỗ trợ hải quân ta trên biển và hải

đảo Song lực lợng này đang yêu cầu cần phải đợc trang bị các thiết bị tàuthuyền hiện đại hoá nh các tàu tuần tiễu khu trục có tính năng, sức chiến đấucao đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ an ninh quốc phòng trên biển, đảo Hơn nữa,Việt Nam là quốc gia thờng xuyên bị thiên tai bão lũ hàng năm rất lớn nênnhu cầu về tàu thuyền để đáp ứng kịp thời cho công tác cứu hộ, cứu trợ, cứunạn cho đồng bào trên cả nớc, đặc biệt là dân c các vùng ven biển và trên hải

đảo, góp phần hạn chế những hậu quả do thiên tai gây ra Đây là những vấn đềkhông thể thiếu của quốc gia Việt Nam trong sự phát triển

Trên đây là những yếu tố khách quan tác động trực tiếp đến sự xây dựng

và phát triển đội ngũ công nhân ngành CNĐT ở Hải Phòng cũng nh trên cả

n-ớc Sự phát triển của đội ngũ công nhân ngành CNĐT nó không chỉ góp phần

Trang 28

làm cho bản thân ngành này phát triển mà nó còn có ý nghĩa to lớn cho sựphát triển giai cấp công nhân Việt Nam lớn mạnh đủ sức lãnh đạo đất nớctrong thời kỳ mới Trong đó, đặc biệt là góp phần thục hiện thắng lợi mục tiêuchiến lợc phát triển kinh tế biển và đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ chính trị,quốc phòng, an ninh biển và an ninh quốc gia của dân tộc ta.

1.2.3 Những kinh nghiệm quốc tế trong phát triển đội ngũ công

Nó tạo điều kiện cho các đơn vị sản xuất đóng mới và sửa chữa tàu thuỷ

đợc tham gia tích cực vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với các nớc cónền công nghiệp phát triển hiện đại và đặc biệt là đẩy mạnh quá trình xúc tiếnhợp tác với các quốc gia có truyền thống phát triển các ngành công nghiệp

đóng tàu thuỷ tiên tiến trên thế giới

Đàng sau hoạt động kinh doanh của các tập đoàn kinh tế biển là chỉnhphủ Nhật Bản, Hàn Quốc với các tác động hỗ trợ tích cực, kịp thời và đa diện.Các doanh nghiệp đóng tàu trong nớc đề ra cho mình một chơng trình hành

động mang tính chiến lợc đẩy nhanh quá trình xúc tiến thơng mại mở rộnggiao lu liên minh, liên kết hợp tác đào tạo nguồn nhân lực và hợp tác trong tìmkiếm cơ hội liên kết sản xuất kinh doanh nhằm chuyển giao những công nghệtiên tiến và học hỏi những kỹ năng kinh nghiệm của nhau trong quá trình thiết

kế thi công đóng mới và sửa chữa các sản phẩm tàu thuỷ Bên cạnh đó là cáccuộc hội thảo tiếp xúc trao đổi kinh nghiệm với các bậc chuyên gia kỹ thuậthàng đầu của các nớc dới sự chủ trì của Nhà nớc và ngời lãnh đạo cao nhấttrong Chính phủ và các cơ quan liên đới Hớng các doanh nghiệp, cử cán bộ

kỹ thuật và công nhân sang học tập, tham quan trực tiếp các cơ sở sản xuất

đóng tàu tiên tiến của các nớc nhằm nâng cao trình độ quản lý và trình độ taynghề chuyên môn

Xây dựng phát triển Tổng Công ty công nghiệp tàu thuỷ Quốc gia hoạt

động theo mô hình “Phát triển đội ngũ công nhân ngànhcông ty mẹ, công ty con” tạo ra môi trờng cạnh tranh lành

Trang 29

mạnh trong quá trình sản xuất kinh doanh giữa các đơn vị Trong đó, lấy yếu

tố đổi mới cải tiến kỹ thuật, công nghệ và đào tạo sử dụng nguồn nhân lực cótrình độ kỹ thuật cao làm khâu đột phá cơ bản tạo động lực cho sự cạnh tranhphát triển

- Tạo điều kiện kinh tế kỹ thuật phát triển ngành công nghiệp đóng tàu

và kinh tế biển

Phải đặt ngành công nghiệp đóng tàu trong chiến lợc phát triển kinh tếbiển quốc gia Từ đó, Chính phủ cần đóng vai trò nòng cốt hậu thuẫn tạo mọi

điều kiện thúc đẩy sự phát triển ngành Bởi đây là ngành công nghiệp cơ khí

kỹ thuật cao cần vốn đầu t ban đầu rất lớn cho công tác thiết kế thi công mặtbằng và các công cụ máy móc thiết bị nhà xởng phục vụ quá trình sản xuất.Chính vì thế nếu để riêng các cá nhân nhà doanh nghiệp thì không thể pháttriển đợc Do đó, cần phải mua và đóng bảo hiểm cho con ngời và các sảnphẩm tàu trong quá trình đóng mới vì mức độ rủi ro trong sản xuất của ngành

là rất cao

Các nhà máy cơ sở sản xuất đóng mới và sửa chữa tàu không ngừng đầu

t nghiên cứu nhằm cải tiến kỹ thuật chuyển giao, áp dụng các thành tựu khoahọc kỹ thuật công nghệ tiên tiến vào trong quá trình sản xuất kinh doanh

Điều đó không chỉ góp phần nâng cao năng lực hiệu quả sản xuất của nhà máy

mà còn tiết kiệm nguồn nguyên vật liệu, giảm chi phí sản xuất, rút ngắn thờigian thiết kế và thi công tạo ra sản phẩm tàu có giá trị cạnh tranh cao Đồngthời, sự đổi mới công nghệ ấy còn đặt ra một cách trực tiếp yêu cầu cho độingũ công nhân lao động trong các nhà máy đóng tàu Họ phải đợc đào tạo và

tự đào tạo lại cập nhật các tri thức công nghệ mới, nâng mình lên về mọi mặttheo kịp thích ứng với điều kiện môi trờng lao động mới

Cần đầu t và phát triển các ngành công nghiệp biển một cách toàn diện

từ khâu điều tra thăm dò đến khai thác các tài nguyên lợi thế từ biển và bảo vệmôi trờng biển Đây cũng là động lực cơ bản tạo ra nhiều cơ hội cho phát triểnngành công nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu đa dạng các chủng loại tàu Trêncơ sở đó tạo ra nhiều công ăn việc làm ổn định và góp phần tăng thu nhập cảithiện đời sống mọi mặt cho ngời lao động trong ngành công nghiệp đóng tàu

- “Phát triển đội ngũ công nhân ngànhĐào tạo nghề để công nhân sống bằng nghề” là khâu hết sức quantrọng Vì có điều kiện sản xuất và công nghệ tiên tiến mà không có con ngờilao động làm chủ và sử dụng những công cụ phơng tiện đó một cách chủ

Trang 30

động, sáng tạo thì cũng không đa lại hiệu quả Kinh nghiệm cụ thể của vấn đềnày là:

Kinh nghiệm của Ba Lan, Nhật Bản là đẩy mạnh quá trình xã hội hoágiáo dục, thu hút toàn xã hội, đặc biệt là các chủ doanh nghiệp đóng mới vàsửa chữa tàu tham gia vào quá trình đào tạo đội ngũ ngời lao động đủ về số l-ợng và chất lợng đáp ứng yêu cầu thực tiễn của quá trình sản xuất trong cácnhà máy

Gắn kết chặt chẽ giữa nhà nghiên cứu, giáo dục - nhà doanh nghiệp-

ng-ời lao động đợc đào tạo thành một khối thống nhất nhằm khắc phục khoảngcách giữa học lý thuyết và thực hành, giữa cơ sở đào tạo và cơ sở sản xuất đápứng yêu cầu thực tế sử dụng nguồn lao động Làm cho các cơ sở sản xuất trởthành trờng học thực tế và là nơi để kiểm tra đánh giá chất lợng đào tạo, trình

độ tay nghề của ngời lao động

Nhà nớc có chính sách vốn hỗ trợ, kinh phí đào tạo trong nớc và quốc tếnhằm khuyến khích đội ngũ công nhân phấn đấu học tập nâng cao trình độ taynghề chuyên môn nghiệp vụ

Chơng 2

Thực trạng, Vấn đề đặt ra và xu hớng phát triển công nhân ngành công nghiệp đóng tàu ở Hải Phòng

2.1 Thực trạng phát triển đội ngũ công nhân ngành công nghiệp đóng tàu ở Hải Phòng

2.1.1 Vài nét về Hải Phòng Thành phố của ngành công nghiệp

đóng tàu

Hải Phòng, Thành phố Cảng là cửa ngõ giao lu thuận lợi trong nớc vàquốc tế, với hệ thống giao thông thuận tiện cả đờng bộ, đờng sắt, đờng hàngkhông và đờng thuỷ Hải Phòng có nhiều tiềm năng to lớn để phát triển cácngành công nghiệp biển, trong đó có ngành CNĐT trọng điểm quốc gia

Hải Phòng nằm ở phía Đông miền Duyên Hải Bắc Bộ là Thành phố loạimột cấp quốc gia, có diện tích tự nhiên là 152.318,40 ha chiếm 0,45% diệntích tự nhiên của cả nớc, với dân số trên 1,775 triệu ngời, gồm 5 quận, 9 huyện

Trang 31

Về đờng biển, Hải Phòng có bờ biển dài trên 125 km, bờ biển có hớng

đờng cong lõm uốn quanh bờ vịnh Bắc Bộ Những u thế về tự nhiên đã tạo choHải Phòng có một vị trí chiến lợc quan trọng về kinh tế, du lịch và an ninhquốc phòng

Hải Phòng là mục tiêu đánh chiếm đầu tiên khi thực dân Pháp đa quân

ra miền Bắc Chúng xây dựng nơi đây thành bến cảng trọng điểm phục vụ chomục tiêu xâm lợc Sau năm 1876 Hải Phòng thực sự đã trở thành một thơngcảng lớn nhất Miền Bắc, là đầu mối giao thông quan trọng, nối miền Bắc nớc

ta với miền Nam Trung Quốc và các cảng biển trên thế giới

Năm 1888 Tổng thống Pháp đã ra sắc lệnh thành lập thành phố HảiPhòng tạo điều kiện cho ngành công nghiệp phát triển, nơi đây lần đầu tiênxuất hiện cơ sở sửa chữa tàu thuyền của Công ty đờng sông Bắc kỳ Chiếntranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918), ngành sửa chữa và đóng tàu ngàycàng đợc phát triển phục vụ cho kế hoạch quân sự và khai thác thuộc địa củathực dân Pháp xâm lợc

Các cơ sở sửa chữa và đóng tàu lần lợt ra đời, nâng cấp nh : Xí nghiệpPonchét, Công ty Manty - Abbudic, Công ty đờng biển Hải Phòng đợc thànhlập ngày 29/4/1914 và Công ty Pannien đợc thành lập ngày 4/1/1919, Đây làmốc quan trọng để hình thành đội ngũ công nhân ngành công nghiệp đóng tàu

ở Hải Phòng Nguồn gốc xuất thân chủ yếu của họ là những ngời nông dân,thợ thủ công bị phá sản và học sinh học nghề cơ khí tại trờng Kỹ nghệ thựchành Hải Phòng Công nhân Hải Phòng nói chung và đội ngũ công nhânngành CNĐT nói riêng có tinh thần yêu nớc, sớm ý thức đợc nỗi nhục của ng-

ời dân bị mất nớc Khi đợc ĐCS VN giác ngộ họ đã nhận thấy rõ đợc vai trò

sứ mệnh lịch sử của mình và nhanh chóng hoà mình vào các phong trào đấutranh chống áp bức, bóc lột, chống kẻ thù chung dân tộc, góp phần tô thắmtruyền thống vẻ vang của GCCN Việt Nam

Sau ngày Hải Phòng hoàn toàn đợc giải phóng (13/5/1955) trớc yêu cầucủa nhiệm vụ mới, Hải Phòng đợc Đảng và Nhà nớc tập trung đầu t, xây dựng

và trở thành Thành phố công nghiệp lớn của miền Bắc Ngành công nghiệp

đóng mới và sửa chữa tàu thuỷ theo đó cũng phát triển nhằm phục vụ đắc lựccho sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc và giải phóng miền Nam thốngnhất đất nớc

Đợc sự giúp đỡ của Đảng và nhân dân Trung Quốc, tháng 3 năm 1959,Chính phủ, Bộ GTVT và Bu điện đã ra quyết định thành lập Công trờng xây

Trang 32

dựng nhà máy đóng tàu Hải Phòng gồm 32 ha tại xởng đóng tàu 4 (nay là nhàmáy đóng tàu Bạch Đằng - đứa con đầu lòng của ngành công nghiệp đóng tàumiền Bắc) Cùng lúc trên địa bàn thành phố Hải Phòng đã lần lợt ra đời các cơ

sở đóng mới và sửa chữa tàu khác nh: nhà máy đóng tàu Sông Cấm(28/5/1959) và Ban ca nô của Tổng cục hậu cần (nay là nhà máy đóng tàuHồng Hà) (30/10/1965); Nhà máy đóng tàu Nam Triệu (1/1/1966)

Quyết định trên của Chính phủ về xây dựng nhà máy đóng tàu ở HảiPhòng lúc bấy giờ thực sự phù hợp với mong muốn và ớc vọng của ngời dân

đất Cảng và đội ngũ công nhân ngành sửa chữa tàu lúc bấy giờ Dới sự chỉ đạochặt chẽ của Thành uỷ, Uỷ ban hành chính thành phố Hải Phòng và sự chi việnkịp thời nguồn nhân lực của Ty công trình thuỷ, Bộ quốc phòng, Trung ơng Đoànthanh niên đã làm cho đội ngũ công nhân ngành CNĐT Hải Phòng ngày càngphát triển lớn mạnh cả số lợng và chất lợng Để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng,ngày 16/2/1960 Ban thờng vụ Thành uỷ Hải Phòng ra quyết định thành lập Đảng

bộ công trờng xây lắp nhà máy đóng tàu Hải Phòng nhằm phát huy tính tích cực

đi đầu của lực lợng Đảng viên trong đội ngũ công nhân

Khi Đế quốc Mỹ thực hiện chiến tranh phá hoại miền Bắc với những

chiến dịch "Sấm rền", "Biển lửa" nhằm làm tê liệt sức chi viện của hậu phơng

lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam Chúng tìm cách phong toả cácmạch máu giao thông của nớc ta cả về đờng bộ, đờng sông, đờng biển Khuvực bị đánh phá dữ dội nhất là Hà Nội - Hải Phòng Trong bối cảnh đó đã làmcho các cơ sở sản xuất đóng mới và sửa chữa tàu phải sơ tán nhiều nơi, độingũ công nhân ngành công nghiệp đóng tàu phải lao động trong môi trờng di

động vừa chiến đấu vừa sản xuất hết sức khó khăn và thiếu thốn Phát huy tinhthần yêu nớc và lòng căm thù giặc sâu sắc cán bộ, công nhân các nhà máy

đóng tàu ở Hải Phòng đã phát động phong trào thi đua “Phát triển đội ngũ công nhân ngànhmỗi ngời làm việcbằng hai vì miền Nam ruột thịt” Các công xởng nhà máy vừa là cơ sở sảnxuất, vừa là pháo đài, công nhân chắc tay súng, vững tay búa quyết tâm đánhthắng giặc Mỹ xâm lợc

Những kết quả lao động của đội ngũ công nhân ngành công nghiệp

đóng tàu Hải Phòng không chỉ góp phần to lớn cho cuộc chiến tranh vĩ đại

" đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào" thống nhất đất nớc mà còn góp phần

làm nên những phong trào nh "Gió Đại phong", Sóng duyên Hải“Phát triển đội ngũ công nhân ngành ” trong thi

đua sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, đẩy mạnh lao động sản xuất và trở thành ngọnlửa sáng cho cả nớc noi theo

Trang 33

Dới sự lãnh đạo của ĐCSVN sau đại thắng mùa xuân năm 1975, vớimục tiêu đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, khắc phục và hàn gắn vết thơngchiến tranh, đa cả nớc đi lên CNXH Trong điều kiện khó khăn về cơ sở vậtchất, kỹ thuật, khan hiếm nguồn nguyên, nhiên, vật liệu Từ cơ sở vật chất đã

có, ngành Công nghiệp đóng tàu Hải Phòng đã vợt qua mọi khó khăn, trụvững, phát triển mở rộng thêm các cơ sở sản xuất mới nh nhà máy đóng tàuPhà Rừng (25/3/1984), Bến Kiền (1/4/1995), Các cơ sở sản xuất đóng mới vàsửa chữa tàu ở Hải Phòng đã góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh

tế - xã hội của đất nớc

Đất nớc ta đang bớc vào thế kỷ XXI với thế và lực mới trong phát triển

đa dạng ngành, nghề, dịch vụ công nghiệp có giá trị kinh tế cao, có khả năngthích ứng nhanh với những biến động của thị trờng thế giới Theo phơng châm

đó thành phố Hải Phòng chủ động phát triển các ngành, lĩnh vực, dịch vụtrọng yếu có nhiều tiềm năng nh vận tải (đặc biệt là vận tải biển và dịch vụbiển) Ngành công nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu đợc xem là ngành côngnghiệp chủ lực, có nhiều tiềm năng của thành phố Hải Phòng

Hải Phòng đang triển khai các dự án chiến lợc kinh tế biển và xây dựnghạ tầng kỹ thuật các khu công nghiệp nặng theo quy hoạch để thu hút đầu tphát triển các ngành công nghiệp cơ khí đóng mới và sửa chữa tàu để Thànhphố thực sự trở thành trung tâm đóng tàu mạnh của cả nớc

Hiện địa bàn thành phố Hải Phòng có trên 10 cơ sở đóng mới và sửa chữatàu với đội ngũ công nhân phát triển nhanh chóng cả số lợng, chất lợng vàphấn đấu đạt mục tiêu: “Phát triển đội ngũ công nhân ngànhđến năm 2010 đóng đợc tàu 50.000 - 100.000 ĐWT,tàu chở dầu 100.000 ĐWT, tàu chở dầu 100.000 ĐWT, tàu Lash mẹ 150.000

ĐWT, tàu Container 1.700 TEU, đáp ứng 40 - 50% nhu cầu đóng mới tàu củacả nớc và đáp ứng 80% nhu cầu sửa chữa tàu sông vùng Bắc Bộ, 30 - 40% đápứng nhu cầu cả nớc về sửa chữa tàu biển” [9, tr.152]

2.1.2 Hiện trạng đội ngũ công nhân ngành công nghiệp đóng tàu ở Hải Phòng hiện nay

2.1.2.1 Về số lợng và chất lợng đội ngũ công nhân ngành công nghiệp đóng tàu

- Về số lợng công nhân

Nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế biển, góp phần bảo vệ an ninhquốc phòng trong thời kỳ mới, đội ngũ công nhân ngành công nghiệp đóng tàu ở

Trang 34

Hải Phòng đã và đang phát triển nhanh chóng Tổng số đội ngũ công nhân củangành đóng tàu trên địa bàn Hải Phòng hiện chiếm 35,22% lợng CNĐT cả nớc

2000 nhà máy này chỉ có 512 công nhân đến đầu năm 2007 số công nhân tănglên tới 6.500 công nhân

Các nhà máy này đang tiếp tục đầu t nâng cấp mở rộng các cơ sở củamình và chuyển hớng sản xuất kinh doanh từ chỗ chỉ phục vụ công tác sửachữa và hoàn cải tàu thuyền sang đóng mới đa dạng các loại sản phẩm tàu phục

vụ đắc lực cho quá trình phát triển kinh tế biển, trong đó đóng mới tàu xuất khẩu

là chủ yếu Nhu cầu nhân lực mỗi năm cần tới khoảng 500-1.000 lao động có taynghề kỹ thuật cao và khoảng từ 2000 – 3000 lao động phổ thông

- Về trình độ học vấn và nghiệp vụ của công nhân

Trong những năm gần đây đội ngũ công nhân ngành CNĐT ở HảiPhòng không chỉ phát triển tăng nhanh về số lợng mà chất lợng đã có sựchuyển biến tích cực cả về trình độ học vấn và nghiệp vụ

Về trình độ học vấn:

Trang 35

Nhìn chung ngành CNĐT là một trong những ngành công nghiệp cơ khíchế tạo kỹ thuật cao, đã tồn tại phát triển từ lâu Đội ngũ công nhân đóng tàu

có trình độ học vấn cao hơn so với các ngành khác Hơn nữa, thành phố HảiPhòng là nơi có nhiều trờng đại học, cao đẳng, trung học dạy nghề nên việcnâng cao rình độ học vấn, tay nghề cho công nhân khá thuận tiện

Qua PTTH 80% (12694 CN) Qua PTCS 17% (2697 CN) Chưa qua PTCS 3% (476 CN)

Biểu số 1: Số liệu thống kêphòng Tổ chức cán bộ các Nhà máy đóng tàu

Hải Phòng năm 2007.

Khảo sát tại 6 nhà máy đóng tàu lớn nhất ở Hải Phòng nh Bạch Đằng,Nam Triệu, Phà Rừng cho thấy: Số công nhân qua tốt nghiệp phổ thôngtrung học đạt 80%, số công nhân tốt nghiệp phổ thông cơ sở chỉ chiếmkhoảng trên 17%, còn số công nhân cha qua PTCS chiếm tỉ lệ rất thấp là3% Đội ngũ công nhân ngành CNĐT ở Hải Phòng hiện có trình độ khá cao

và đang ngày càng đợc trẻ hoá; số công nhân từ độ tuổi 26 - 35 chiếm 80%

Đây là điều kiện hết sức thuận lợi để họ phát huy sức trẻ nhanh chóng tiếpthu khoa học kỹ thuật công nghệ mới và phấn đấu rèn luyện, trau dồi kỹnăng nghề nghiệp

Trình độ nghiệp vụ:

Hải Phòng là cái nôi của cả nớc về đào tạo các ngành, nghề cơ khí

đóng mới và sửa chữa tàu biển Bản thân ngành CNĐT đã có gần một thế kỷphát triển cho nên đội ngũ công nhân ngành này ở Hải Phòng không chỉ cótrình độ chuyên môn kỹ thuật mà còn là những ngời thợ giàu kinh nghiệm,

kỹ năng nghiệp vụ khá cao trong lĩnh vực đóng mới và sửa chữa tàu biển

Trang 36

Hiện trên địa bàn Thành phố có 15.867 công nhân đang lao động trựctiếp và gián tiếp trong các nhà máy đóng tàu Trong đó số công nhân lànhnghề, kỹ s chuyên ngành đóng tàu đợc đào tạo cơ bản tăng lên nhanh chóng.Tính từ năm 2004 - 2005 các nhà máy đóng tàu ở Hải Phòng mới chỉ cókhoảng 830 kỹ s thì đến năm 2006 tăng lên 1.149 kỹ s; đầu năm 2007 số kỹ strong các nhà máy đóng tàu là 1.753 kỹ s; công nhân lao động trực tiếp tăng

đầu năm 2004 có khoảng 6.933 công nhân đến cuối năm 2006 đầu năm 2007

đã tăng lên đến 14.114 công nhân

Trong đội ngũ công nhân ngành CNĐT trên địa bàn thành phố HảiPhòng hiện có 11,04% công nhân có trình độ là kỹ s, số công nhân có taynghề bậc 6-7 chiếm 14,06%, số công nhân bậc 4-5/7 chiếm 32,15%, số còn lại

là công nhân có trình độ tay nghề bậc 2-3/7 chiếm 43,2% (xem bảng)

đối với sự phát triển của ngành Song so với yêu cầu nhiệm vụ mới hiện naycủa ngành thì con số nêu trên vẫn cha đáp ứng đợc yêu cầu của thực tiễn đặtra

Các nhà máy đóng tàu đang đẩy mạnh quá trình sản xuất theo hớngCNH, HĐH với sự chuyển giao nhanh chóng những công nghệ mới hiện đạinh: hệ thống máy cắt, máy hàn, máy phay tự động và bán tự động… Ch Xuất xứcông nghệ từ nhiều nớc có ngành CNĐT tiên tiến trên thế giới cũng đòi hỏi đội

Trang 37

ngũ công nhân ngành đóng tàu Việt Nam phải có trình độ kỹ thuật cao và vốnngoại ngữ cơ bản mới có thể tiếp cận sử dụng các phơng tiện kỹ thuật này

Hiện nay công tác đào tạo của các trờng dạy nghề ở nớc ta hiện còn quálạc hậu, chậm đổi mới về nội dung chơng trình dạy học, quá trình học giờ thínghiệm và thực hành của học sinh, sinh viên còn quá ít, làm cho đội ngũ côngnhân rất bỡ ngỡ khi tiếp xúc với những phơng tiện, công cụ lao động hiện đại.Mặt khác, đội ngũ công nhân ngành công nghiệp đóng tàu hiện còn thiếu vàyếu về trình độ ngoại ngữ, tin học… Ch

Ngành CNĐT là ngành sử dụng đội ngũ nhân công lao động trực tiếprất cao trên 80% Đội ngũ kỹ s, công nhân lành nghề có trình độ kỹ thuật hiện

đang thiếu hụt một cách nghiêm trọng, gây ảnh hởng trực tiếp đến quá trìnhsản xuất đóng mới và sửa chữa tàu Nếu so với Hàn Quốc, Nhật Bản khả năng

đóng tàu 15.000 ĐWT chỉ mất 1 đến 2 tháng còn chúng ta phải mất ít nhất là

5 tháng; Còn đóng loại 53.000 ĐWT tấn ở Hàn Quốc chỉ kéo dài 3 tháng cònthời gian đóng mới ở Việt Nam loại tàu trên phải mất gần 2 năm Trong khi

đó, chi phí đóng một con tàu loại 22.000 ĐWT ngoài đầu t cơ sở hạ tầng ban

đầu ra chúng ta còn phải chi khoảng 160 tỷ đồng cho chi phí mua sắm bảnquyền thiết kế và nhập nguồn nguyên vật liệu, thiết bị cũng nh thuê cácchuyên gia nớc ngoài Nh vậy, do năng lực sản xuất thấp kém nh trên làm chokhả năng quay vòng vốn của các nhà máy đóng tàu ở nớc ta là rất chậm, giá cảvật liệu sắt, thép… Chtrên thị trờng có sự biến động thất thờng, giá cả tăng vọtlàm cho các nhà máy đóng tàu phải chịu lãi suất vay vốn các ngân hàng khácao

Sự phát triển “Phát triển đội ngũ công nhân ngànhnóng” của ngành CNĐT trong những năm gần đây đòihỏi rất cao về số lợng và chất lợng của đội ngũ công nhân Nhng thực tế ngànhCNĐT Việt Nam mới chỉ chú ý tập trung đầu t cho xây dựng cơ bản là chủyếu, các nhà máy cha thực sự quan tâm đúng mức trong đầu t xây dựng chiếnlợc đào tạo nguồn nhân lực chất lợng cao thích ứng với nền sản xuất hiện đại

- Trình độ lý luận chính trị và giác ngộ chính trị của công nhân ngành công nghiệp đóng tàu

Trong những năm vừa qua đợc sự quan tâm của Đảng, Nhà nớc vàThành uỷ Hải Phòng trình độ lý luận chính trị và giác ngộ chính trị, giác ngộgiai cấp của đội ngũ công nhân trong ngành CNĐT không ngừng đợc cảithiện Công tác tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, t tởng Hồ Chí

Trang 38

Minh, đờng lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nớc đợc các nhà máyquan tâm Hàng năm các nhà máy tổ chức đợc hai lớp học Bồi dỡng nhận thức

về Đảng, một lớp Bồi dỡng đảng viên mới, theo định kỳ hàng quý mời báo cáoviên của Thành uỷ Hải Phòng, Ban công tác chính trị của Tổng công ty về báocáo tình hình thời sự cho đội ngũ cán bộ công nhân viên Qua đó đội ngũ côngnhân các nhà máy đóng tàu ở Hải Phòng tin tởng vào sự lãnh đạo của Đảngtrong quá trình xây dựng CNXH

Tính đến đầu năm 2007 theo số liệu thống kê trong toàn bộ các nhàmáy, số lợng đảng viên có trình độ cao cấp lý luận chính trị có 14 đồng chí,trung cấp lý luận chính trị 45 đồng chí, sơ cấp lý luận chính trị 78 đồng chí

Song trong điều kiện phát triển kinh tế thị trờng hiện nay, trình độ lýluận chính trị và giác ngộ chính trị trong đội ngũ công nhân các nhà máy đóngtàu ở Hải Phòng nhìn chung cha đáp ứng đợc yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra

Nhận thức về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân của đội ngũ nàycòn nhiều hạn chế, nhất là ở những đơn vị sản xuất ngoài quốc doanh Trong

số gần 15.867 công nhân của ngành, số công nhân đợc đào tạo về lý luậnchính trị còn thấp, giáo dục, bồi dỡng chính trị thờng xuyên cho đội ngũ côngnhân cha nhiều Đây là điểm yếu về công tác giáo dục lý luận chính trị cho

đội ngũ công nhân ngành CNĐT, khiếm khuyết này là do cha đợc sự quan tâm

đúng mức của Đảng và Nhà nớc mà trực tiếp là các Chi bộ, Đảng bộ tại cácnhà máy, xí nghiệp

Những hạn chế về trình độ lý luận chính trị và giác ngộ giai cấp trong

đội ngũ công nhân ngành CNĐT chủ yếu do các nguyên nhân sau:

Một là, do công tác giáo dục, bồi dỡng lý luận chính trị của Đảng uỷ,

Ban Giám đốc, Công đoàn, Đoàn thanh niên các nhà máy đóng tàu Hải Phòngcha thực sự đợc chú trọng, lực lợng nòng cốt là Đảng viên cha gơng mẫu tronghọc tập lý luận, còn yếu trong công tác vận động quần chúng Tiếng nói của

Đảng viên trẻ cha đợc lãnh đạo quan tâm, số đảng viên trẻ nắm vị trí lãnh đạochủ chốt trong nhà máy chiếm tỷ lệ rất thấp khoảng 0,4%

Hai là, trong cơ chế cạnh tranh ngày càng gay gắt nh hiện nay, các nhà

máy phải đẩy nhanh tiến độ sản xuất, hoàn thành sản phẩm đúng thời hạn, đểgiữ uy tín và thơng hiệu của mình với các đối tác Cho nên, hiện tợng làm việctăng giờ, tăng ca, tăng cờng độ sản xuất hiện khá phổ biến, công nhân hầu nhkhông còn thời gian giành cho việc học tập, bồi dỡng lý luận chính trị (khi hỏi

Trang 39

trực tiếp 10 công nhân ở nhà máy đóng tàu Phà Rừng, Nam Triệu về lý dothích hay không thích việc đi học các lớp bồi dỡng về chính trị họ đều trả lời

là không có thời gian, thậm chí có những công nhân trả lời đi học lý luậnchính trị vừa mệt vừa không có tiền, thà đi chơi hay đi làm tăng ca còn cóthêm thu nhập )

Ba là, sự kiểm tra, giám sát của Đảng uỷ cấp trên đối với công tác bồi

dỡng lý luận chính trị cha thờng xuyên, đôi khi mang tính hình thức

Thực tế nêu trên tác động không nhỏ đến nhận thức chính trị, giác ngộgiai cấp của đội ngũ công nhân ngành CNĐT Hải Phòng Vấn đề đặt ra là cầnphải đổi mới công tác giáo dục chính trị, thúc đẩy phong trào học tập chủnghĩa Mác – Lênin và t tởng Hồ Chí Minh

- Về hoạt động của tổ chức Đảng và đoàn thể trong các nhà máy

đóng tàu

+ Về tổ chức Đảng: Trong những năm gần đây công tác xây dựng Đảngtrong tập đoàn công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam và các nhà máy đóng tàu ở HảiPhòng ngày càng có nhiều tiến bộ Các tổ chức cơ sở Đảng đã tập trung lãnh

đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng tại cơ quan, đơn

vị và triển khai việc chấp hành sự chỉ đạo của Đảng uỷ Tập đoàn về các nộidung nh sau: học tập quán triệt các Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, tuyêntruyền phổ biến quan điểm, chủ trơng đờng lối, chính sách của Đảng và Nhànớc ta Các tổ chức cơ sở đảng đã chấp hành tốt các chế độ báo cáo định kỳ,báo cáo đột xuất về các hoạt động của mình trong các nhà máy kịp thời lên

Đảng uỷ Tập đoàn nhằm đa ra những phơng hớng chỉ đạo cụ thể đảm bảo cho

sự phát triển

Công tác phát triển đảng viên mới trong các nhà máy đóng tàu ở trên

địa bàn thành phố Hải Phòng ngày càng đợc quan tâm Số lợng đảng viên mớitrung bình hàng năm kết nạp khoảng 90 - 110 đảng viên, đạt và vợt chỉ tiêu

Đại hội Đảng bộ đề ra

Nếu nh trớc năm 2000 hầu nh không có ngời chuyên trách làm côngtác Đảng mà do cán bộ chủ chốt trong các nhà máy kiêm nhiệm thì đến nayhầu nh các nhà máy đã có ngời chuyên trách đảm nhiệm, hoạt động có hiệuquả hơn Vai trò lãnh đạo của Đảng ngày càng đợc nâng cao, tinh thần, ý thứctrách nhiệm của đảng viên trong các nhà máy từng bớc đợc khẳng định, đã

Trang 40

góp phần trong việc nâng cao ý thức chính trị, ý thức tổ chức kỷ luật lao động,

đoàn kết của đội ngũ công nhân trong từng nhà máy, trong tập đoàn

Tuy nhiên, trong thời điểm hiện nay số đảng viên tại các nhà máy đóngtàu ở Hải Phòng còn chiếm tỷ lệ thấp, cụ thể: Tại nhà máy đóng tàu Bạch

Đằng có khoảng 400 Đảng viên /2.800 công nhân chiếm tỷ lệ 13,33% côngnhân; Nhà máy đóng tàu Phà Rừng có 218 Đảng viên /6.500 công nhân chiếm8,72% công nhân; Nhà máy đóng tàu Nam Triệu có 302 Đảng viên /6.500công nhân chiếm 4,64% công nhân; Nhà máy Sông Cấm có 42 đảng viên /403công nhân chiếm 10,42% công nhân…với tỷ lệ đảng viên có trong đội ngũcông nhân của các nhà máy đóng tàu ở Hải Phòng nh trên là rất mỏng lại đợcphân bố không đồng đều giữa các phân xởng, ảnh hởng đến vai trò lãnh đạotoàn diện của Đảng

+ Tổ chức công đoàn: Do tốc độ phát triển mạnh mẽ của ngành CNĐT

ở Hải Phòng làm cho đội ngũ công nhân của ngành tăng lên nhanh chóng và

đột biến Điều đó, nó cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết phải kiện toàn xây dựng hệthống các tổ chức công đoàn trong các nhà máy nhằm theo kịp tiến trình pháttriển thực tế, bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ chính đáng cho ngời lao động

Theo Báo cáo cuối năm 2006 của Tổng công ty CNTT VN thì Công

đoàn Tổng công ty có 62 công đoàn cơ sở với 36.000 đoàn viên trên tổng45.042 cán bộ, công nhân viên chức và ngời lao động Trong đó đoàn viêncông đoàn các nhà máy nh Bạch Đằng, Bến Kiền, Sông Cấm, Phà Rừng hiện

có khoảng 14.000 công đoàn viên công đoàn trên 15.867 công nhân Tuynhiên con số này hiện do yêu cầu của sản xuất của nhà máy đang còn thờngxuyên bổ sung

Các tổ chức công đoàn trong các nhà máy về cơ bản đã đợc thành lập,từng mặt hoạt động ngày càng đi vào chiều sâu hơn, cả về nội dung và phơngthức hoạt động Sự kết hợp giữa Ban chấp hành công đoàn và các cấp uỷ Đảngvới các Tổng giám đốc công ty đợc coi trọng nhằm đề ra các quy chế hoạt

động đảm bảo lợi ích chính đáng của ngời lao động Phát huy quyền làm chủcủa công nhân, hàng năm các cấp công đoàn đã kết hợp với chính quyền quacác Đại hội cán bộ, công nhân viên dân chủ bàn bạc, đánh giá, xây dựng đề racác biện pháp quản lý và tổ chức thực hiện chế độ chính sách đảm bảo lợi íchcủa ngời lao động, xây dựng thoả ớc lao động tập thể, nội quy lao động, quychế dân chủ và các quy định khác Ban chấp hành Công đoàn cùng với cấp

Ngày đăng: 19/02/2014, 14:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ban Chấp hành Trung ơng Đảng (2007), Các Nghị quyết Hội nghị lần thứ t khoá X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Nghị quyết Hội nghị lầnthứ t khoá X
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ơng Đảng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
3. Bùi Đình Bôn (1991), Giai cấp công nhân Việt Nam vai trò và xu hớng biến đổi về cơ cấu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Luậnán tiến sĩ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giai cấp công nhân Việt Nam vai trò và xu hớngbiến đổi về cơ cấu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Bùi Đình Bôn
Năm: 1991
5. Vũ Thế Chiến (2002), Giải pháp nâng cao hiệu quả của Công ty đóng tàu 189, Bộ Quốc phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao hiệu quả của Công ty đóngtàu 189
Tác giả: Vũ Thế Chiến
Năm: 2002
6. Trần Văn Chử (2002), "Xuất khẩu lao động và giải quyết việc làm ở Việt Nam", Tạp chí Kinh tế và phát triển, (57), tr.18, 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất khẩu lao động và giải quyết việc làm ở ViệtNam
Tác giả: Trần Văn Chử
Năm: 2002
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1991
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (01/2007), Nghị quyết Trung ơng 4 khoá X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Trung ơng 4 khoá X
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
15. Trơng Thị Hoàn (2003), Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Nhà máy đóng tàu Sông Cấm, Luận văn thạc sĩ Kinh tế biển, Đại học Hàng hải Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuấtkinh doanh của Nhà máy đóng tàu Sông Cấm
Tác giả: Trơng Thị Hoàn
Năm: 2003
17. V.I.Lênin (1977), Toàn tập, Tập 7, Nxb Tiến bộ, Mátxơcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1977
18. V.I.Lênin (1977), Toàn tập, Tập 38, Nxb Tiến bộ, Mátxơcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1977
19. V.I.Lênin (1978), Toàn tập, Tập 45, Nxb Tiến bộ, Mátxơcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1978
20. Lịch sử nhà máy đóng tàu Hải Phòng 1961-2004 (2004), Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử nhà máy đóng tàu Hải Phòng 1961-2004
Tác giả: Lịch sử nhà máy đóng tàu Hải Phòng 1961-2004
Nhà XB: Nxb Giao thôngvận tải
Năm: 2004
21. C.Mác -Ph.Ăngghen (1980), Toàn tập, Tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác -Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1980
22. Nguyễn Văn Năm (1995), Công nhân Hải Phòng trong công cuộc đổi mới, những vấn đề đặt ra và phơng hớng, giải pháp, Luận văn thạc sĩ CNXHKH, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nhân Hải Phòng trong công cuộc đổimới, những vấn đề đặt ra và phơng hớng, giải pháp
Tác giả: Nguyễn Văn Năm
Năm: 1995
24. Ngọc Phú (18/4/2007), "Đóng tàu xuất khẩu cơ hội và thách thức", Báo An ninh Hải Phòng, (số 1279) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đóng tàu xuất khẩu cơ hội và thách thức
25. Quân đội nhân dân Việt Nam (2005), Phà đen sóng dậy Hồng Hà, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phà đen sóng dậy Hồng Hà
Tác giả: Quân đội nhân dân Việt Nam
Nhà XB: NxbQuân đội nhân dân
Năm: 2005
26. Quốc hội nớc Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Bộ luật laođộng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bé luËt lao"động
Tác giả: Quốc hội nớc Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
28. Sổ tay kỹ thuật đóng tàu thủy (1982), tập 3, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay kỹ thuật đóng tàu thủy
Tác giả: Sổ tay kỹ thuật đóng tàu thủy
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1982

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng: Thống kê số lợng công nhân đóng tàu Hải Phịng từ 2004- 2007 Năm Công nhân2004-2005Công nhân2005-2006 Công nhân2006-2007 - phát triển đội ngũ công nhân ngành công nghiệp đóng tàu ở hải phòng hiện nay
ng Thống kê số lợng công nhân đóng tàu Hải Phịng từ 2004- 2007 Năm Công nhân2004-2005Công nhân2005-2006 Công nhân2006-2007 (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w