Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 05/01/2004 của Tỉnh uỷ Quảng Trị vềphát triển công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp đến năm 2010 đã nêu rõ hớng u tiên phát triển: “Tập trung phát triển công nghiệ
Trang 1Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quảng Trị thuộc miền Trung Việt Nam, phía đông giáp biển Đông, phíatây giáp nớc CHDCND Lào, phía nam giáp tỉnh Thừa Thiên-Huế và phía bắcgiáp tỉnh Quảng Bình; diện tích tự nhiên 4.745,77 km2, dân số tính đến31/12/2005 là 628.954 ngời
Quảng Trị từng là vùng đất bị tàn phá nặng nề trong 2 cuộc chiến tranhgiải phóng dân tộc Sau ngày đất nớc đợc giải phóng, Đảng bộ và nhân dânQuảng Trị đã nỗ lực phấn đấu, khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục vàphát triển kinh tế - xã hội, tái thiết quê hơng Dới sự lãnh đạo của Đảng bộtỉnh, kinh tế Quảng Trị đã có bớc phát triển khá Tốc độ tăng trởng GDP giai
đoạn 2000-2005 đạt bình quân 8,5%/năm, cao hơn tốc độ tăng trởng bìnhquân chung của cả nớc Kết cấu hạ tầng đợc đầu t, đời sống nhân dân đợc cảithiện đáng kể
Tuy vậy, Quảng Trị vẫn là tỉnh nghèo Nguy cơ tụt hậu về kinh tế đang làmột thách thức lớn đối với Đảng bộ và nhân dân Quảng Trị
Để khắc phục tình trạng kém phát triển, Đại hội Đại biểu tỉnh Đảng bộ
lần thứ XIV (nhiệm kỳ 2005-2010) đã đề ra mục tiêu tổng quát là: phấn đấu
tốc độ tăng trởng kinh tế bình quân đạt 11-12%/năm; đến năm 2010 cơ cấukinh tế của tỉnh: dịch vụ chiếm tỷ trọng 38-40%, công nghiệp-xây dựng 33-35%, nông-lâm-ng nghiệp 25-27%, thu nhập bình quân đầu ngời đạt trên 10triệu đồng (khoảng 620-650 USD), tăng gấp 2 lần năm 2005; Đại hội đề ra
mục tiờu phỏt triển cụng nghiệp-xõy dựng của tỉnh đến năm 2010 là: “Phỏt triển cụng nghiệp-xõy dựng là nhiệm vụ trọng tõm, ưu tiờn số một của quỏ trỡnh cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoỏ nhằm tạo động lực quan trọng và cơ bản cho chuyển dịch cơ cấu và phỏt triển kinh tế của tỉnh Phấn đấu tốc độ tăng giỏ trị sản xuất cụng nghiệp-xõy dựng đạt 25%/năm” [10].
Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 05/01/2004 của Tỉnh uỷ Quảng Trị vềphát triển công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp đến năm 2010 đã nêu rõ hớng u
tiên phát triển: “Tập trung phát triển công nghiệp để đẩy nhanh tăng trởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển nhanh các ngành nông nghiệp, dịch vụ-thơng mại theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [9].
Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra, việc xây dựng và tổ chức thực hiện
có hiệu quả các giải pháp phát triển kinh tế-xã hội nói chung và công nghiệp
Trang 2nói riêng đang là nỗi băn khoăn, trăn trở của Đảng bộ, chính quyền và nhân
dân trong tỉnh Đề tài “Phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Trị
-Thực trạng và giải pháp”, vì vậy, có ý nghĩa thực tiễn rất lớn, nhằm giải
quyết vấn đề bức thiết hiện nay của tỉnh
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Thời gian gần đây, ở những mức độ nhất định với những góc độ khácnhau, vấn đề phát triển công nghiệp đã đợc nhiều nhà khoa học quan tâm Đặcbiệt, khi đất nớc bớc vào thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH thì cácvấn đề về cơ chế chính sách, biện pháp và vai trò tác động của công nghiệp đã
đợc đặt ra trong nhiều công trình nghiên cứu
Giáo trình "Kinh tế học phát triển" của Viện Kinh tế và Phát triển thuộcHọc viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã đề cập khá sâu sắc và toàn diệnvai trò của công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc
Một số luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ bảo vệ tại Học viện Chính trịquốc gia Hồ Chí Minh trong thời gian qua đã bàn về những đề tài liên quan
đến phát triển công nghiệp, đó là các đề tài:
- Phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn tỉnh Đồng Nai
Đối với tỉnh Quảng Trị, từ trớc đến nay cha có công trình nào nghiên cứumột cách có hệ thống về vấn đề phát triển công nghiệp trên địa bàn, vì vậy tôi
Trang 3chọn đề tài này với mong muốn đóng góp tri thức của mình để thực hiện
ch-ơng trình phát triển công nghiệp của tỉnh nhà
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích: Vận dụng lý luận và kinh nghiệm thực tiễn của một số địa
phơng trong nớc về phát triển công nghiệp và xuất phát từ mục tiêu phát triểncông nghiệp của tỉnh, luận văn có mục đích xác định phơng hớng chủ yếu vàkiến nghị những giải pháp cơ bản để đẩy mạnh phát triển công nghiệp ở tỉnhQuảng Trị
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích làm rõ một số vấn đề chung về phát triển công nghiệp ở một tỉnhnông nghiệp
- Phân tích làm rõ thực trạng công nghiệp Quảng trị giai đoạn 1995-2005
- Đề ra phơng hớng và một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển côngnghiệp ở tỉnh Quảng Trị
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tợng nghiên cứu đợc giới hạn trong các ngành công nghiệp tỉnh
có u thế với quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn Quảng Trị Đề tàikhông đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu phát triển những cơ sở công nghiệp quy môlớn đợc đầu t theo quy hoạch và kế hoạch chung của Chính phủ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian nghiên cứu: địa bàn tỉnh Quảng Trị.
Về thời gian nghiên cứu: Trong phạm vi 25 năm, bao gồm phân tích,
đánh giá thực trạng giai đoạn 1995 - 2005, phơng hớng và giải pháp đến năm
2010, tầm nhìn đến năm 2020
5 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
-Vận dụng kiến thức kinh tế chính trị học Mác-Lênin, t tởng Hồ ChíMinh về kinh tế và những kiến thức về quản lý kinh tế trong nền kinh tế thị tr-ờng định hớng XHCN để phân tích, làm rõ những nội dung cơ bản về pháttriển công nghiệp ở một địa phơng nông nghiệp - tỉnh Quảng Trị
-Luận văn sử dụng số liệu thống kê, báo cáo của các ngành các cấp ở địaphơng, các Nghị quyết của Đảng, các văn bản quy phạm pháp luật hiện hànhcủa nhà nớc để phân tích, tổng hợp, khái quát hoá trong quá trình thực hiện
6 Đóng góp về lý luận và thực tiễn của luận văn
- Đề tài hệ thống, khái quát những xu hớng chủ yếu và làm rõ các nhân tố
Trang 4tác động đến phát triển công nghiệp ở một tỉnh nông nghiệp.
- Đề tài nghiên cứu đề xuất một hệ thống các giải pháp hỗ trợ phát triểncông nghiệp ở tỉnh Quảng Trị
- Những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể đợc sử dụng làm tài liệutham khảo để xây dựng các đề án và thực hiện các giải pháp phát triển côngnghiệp địa phơng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chơng, 8 tiết
Trang 51.1.1 Khái niệm công nghiệp
- Công nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của nền kinh tế quốc
dân, bao gồm ba hoạt động chủ yếu: một là, hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên tạo ra nguồn nguyên liệu nguyên thuỷ; hai là, hoạt động chế biến
nguyên liệu từ công nghiệp khai thác và sản phẩm nông nghiệp thành các loại
sản phẩm phục vụ nhu cầu xã hội; ba là, hoạt động sửa chữa, khôi phục giá trị
sử dụng của sản phẩm công nghiệp được tiêu dùng trong quá trình sản xuất vàsinh hoạt của đời sống xã hội
- Công nghiệp là một ngành kinh tế chủ lực thuộc lĩnh vực sản xuất vật
chất, là một hệ thống gồm nhiều ngành sản xuất chuyên môn hoá với các đặctrưng cơ bản:
+ Trong sản xuất công nghiệp, đối tượng lao động là toàn bộ các nguồntài nguyên thiên nhiên và sản phẩm của nông nghiệp, được khai thác và chếbiến chủ yếu bằng phương pháp tác động cơ lý hoá lên đối tượng lao động tạo
ra các sản phẩm khác về chất so với đặc tính ban đầu của chúng Trong sảnxuất nông nghiệp, phương pháp chủ yếu là áp dụng quy luật sinh học tác độngvào những cơ thể sống để sản xuất ra các sản phẩm nông nghiệp Công nghệsinh học cũng được sử dụng ở một số ngành công nghiệp nhất định nhưng chỉvới tác dụng là chất xúc tác cho quá trình sản xuất công nghiệp
+ Các sản phẩm của nông nghiệp về cơ bản vẫn giữ nguyên những đặctính tự nhiên của chúng Trong khi đó, dưới sự tác động của khoa học - công
Trang 6nghệ, sản phẩm công nghiệp ngày càng phong phú về phương pháp sản xuất
và cấu trúc sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, phong phú và đa dạngcủa đời sống xã hội
+ Công nghiệp là ngành chủ yếu tạo ra các công cụ sản xuất tiên tiếntrang bị cho các ngành kinh tế Đặc trưng này thể hiện vị trí chủ đạo củangành công nghiệp trong nền kinh tế Hơn nữa, trong công nghiệp, trình độkhoa học - công nghệ, tổ chức sản xuất ngày càng được nâng cao, một độingũ lao động có tính tổ chức kỹ luật, có tác phong lao động công nghiệp vànăng suất lao động ngày càng cao Vì vậy, công nghiệp ngày càng có vai tròquan trọng đối với sự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội
1.1.2 Những xu hướng phát triển công nghiệp chủ yếu ở một tỉnh nông nghiệp
Phát triển công nghiệp là tất yếu trong quá trình công nghiệp hoá, hiệnđại hoá với xu thế chung mang tính phổ biến là: khi giá lao động rẻ và tàinguyên phong phú thì các ngành sử dụng nhiều lao động và khai thác tàinguyên sẽ phát triển; khi trình độ công nghệ và lao động được nâng lên,các ngành có hàm lượng công nghệ và vốn cao sẽ phát triển Tuy vậy, đểthúc đẩy tiến trình phát triển đúng hướng và hiệu quả, cần xác định rõnhững xu hướng phát triển cụ thể trong từng giai đoạn phát triển của côngnghiệp Ở một tỉnh nông nghiệp còn nhiều hạn chế, xu hướng phát triểncông nghiệp chủ yếu là:
Thứ nhất, khôi phục và phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp,
trong đó có các ngành nghề thủ công truyền thống ở nông thôn, chủ yếu phục
vụ nhu cầu tại chổ và phục vụ chế biến sản phẩm của nông nghiệp Đây lànhững ngành nghề truyền thống vốn có, sản phẩm được sản xuất ra phục vụthiết thực cho sản xuất và đời sống của dân cư; chi phí đầu tư không lớn, kỹthuật chủ yếu là thủ công nên có khả năng thu hút nhiều lao động, giải quyếtviệc làm, sớm tăng thu nhập cho dân cư
Trang 7Khôi phục và phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp theo hướngtăng cường việc dạy nghề, truyền nghề, hình thành và mở rộng các làng nghề,
xã nghề, vùng nghề; đồng thời từng bước hiện đại hoá kỹ thuật thủ công, côngnghệ truyền thống theo hướng vừa tinh xảo, vừa hiện đại; duy trì và phát triểncác đặc sản truyền thống địa phương
Thứ hai, phát triển công nghiệp khai thác và chế biến các nguồn tài
nguyên sẵn có tại địa phương, bao gồm công nghiệp chế biến sản phẩm nông,lâm, ngư nghiệp và khai thác tài nguyên thiên nhiên
Các xí nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp chủ yếu có quy mô vừa vànhỏ, được đặt ngay tại vùng nguyên liệu, tận dụng nguồn nguyên liệu tại địaphương Các sản phẩm từ nông, lâm, ngư nghiệp được chế biến không chỉnhằm tiện ích trong bảo quản và vận chuyển, tiêu dùng mà còn làm tăng giátrị sản phẩm, qua đó kích thích phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá.Tài nguyên thiên nhiên là những nguồn lực sẵn có tại địa phương, đượcthiên nhiên ban tặng cho con người Việc khai thác, chế biến và sử dụng hợp
lý nguồn tài nguyên thiên nhiên tạo nguồn lực quan trọng cho phát triển, giảiquyết việc làm, tạo nguồn thu cho ngân sách
Thứ ba, phát triển các ngành công nghiệp trực tiếp phục vụ phát triển
nông nghiệp, nông thôn, bao gồm các ngành sản xuất các loại tư liệu sản xuấtthông thường và sửa chữa tư liệu sản xuất phục vụ nhu cầu địa phương
Cùng với quá trình cơ giới hoá nông nghiệp và công nghiệp hoá, hiện đạihoá nông nghiệp, nông thôn, nhu cầu trang bị các loại tư liệu sản xuất từ kimloại và sữa chữa máy móc, thiết bị tăng lên nhanh chóng Tuy không hìnhthành các trung tâm lớn nhưng ở quy mô toàn tỉnh, ngành công nghiệp sửachữa tư liệu sản xuất chiếm tỷ trọng khá lớn
Thứ tư, phát triển các ngành sản xuất vật liệu xây dựng trên cơ sở khai
thác nguồn nguyên liệu sẵn có, phục vụ nhu cầu xây dựng kết cấu hạ tầngkinh tế - xã hội và nhu cầu xây dựng của các tầng lớp nhân dân ở địa phương
Trang 8Thứ năm, hình thành và phát triển các cơ sở công nghiệp gia công hoặc
các cơ sở vệ tinh cho các doanh nghiệp, tập đoàn công nghiệp lớn ở trong vàngoài nước Đây là hướng phát triển nhằm giải quyết vấn đề lao động chưa cóviệc làm của địa phương; đồng thời tranh thủ vốn, kỹ thuật - công nghệ tiêntiến, kinh nghiệm tổ chức quản lý và đào tạo nghề cho người lao động, chuẩn
bị tiền đề cho việc hình thành và phát triển các ngành công nghiệp mới vàhiện đại trong tương lai
Thứ sáu, phát triển công nghiệp trên cơ sở huy động mọi nguồn lực của
toàn xã hội, bao gồm các cơ sở sản xuất thuộc mọi thành phần kinh tế, đượctriển khai theo nhiều quy mô, nhiều trình độ khác nhau, từ kỹ thuật thô sơ đếnhiện đại; vừa đi ngay vào hiện đại đồng thời vừa tận dụng những cơ sở hiện
có Vì vậy, sản phẩm của công nghiệp ở địa phương phong phú cả về mẫu mã,chủng loại và chất lượng
Thứ bảy, cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân nói chung, công
nghiệp ở địa phương luôn có sự vận động và chuyển hoá Trình độ pháttriển công nghiệp sẽ được nâng cao dần cùng với sự phát triển kinh tế - xãhội của địa phương Khi trình độ phát triển kinh tế - xã hội tăng lên, sẽ làmchuyển hoá các vùng kém phát triển thành các khu vực phát triển hơn Đếnlúc đó, các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ và vốn đầu tư cao
sẽ phát triển, làm thay đổi cơ cấu công nghiệp ở địa phương Như vậy, pháttriển công nghiệp địa phương với mục tiêu xa hơn là để chuyển biến cáckhu vực kém phát triển trở thành các khu vực có trình độ phát triển cao,cùng cả nước thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước
1.1.3 Vai trò của phát triển công nghiệp đối với một tỉnh nông nghiệp
Phát triển công nghiệp có vai trò to lớn đối với quá trình phát triển kinh
tế - xã hội của các tỉnh nông nghiệp trên các mặt sau đây:
Một là, công nghiệp phát triển thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát
triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Công nghiệp phát triển
Trang 9trước hết sẽ mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, vừa phục
vụ nhu cầu tiêu dùng cho dân cư hoạt động trong ngành công nghiệp, vừachế biến nâng cao giá trị của sản phẩm nông nghiệp, qua đó nâng cao khảnăng tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp không chỉ ở thị trường trong nước
mà còn mở rộng tiêu thụ ở thị trường nước ngoài Mặt khác, công nghiệpcung cấp các yếu tố “đầu vào” cần thiết để nâng cao trình độ công nghệ sảnxuất nông nghiệp, nhờ đó, nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành vànâng cao chất lượng sản phẩm nông nghiệp, tăng năng lực cạnh tranh củacác sản phẩm nông nghiệp
Hai là, công nghiệp phát triển góp phần quan trọng vào vấn đề giải quyết
việc làm, thực hiện xoá đói giảm nghèo Sự phát triển của công nghiệp là điềukiện để thu hút lao động dư thừa trong nông nghiệp vào các ngành côngnghiệp và gián tiếp tạo thêm việc làm mới ở các ngành có liên quan, thực hiện
tổ chức và phân công lại lao động ở khu vực nông nghiệp, nông thôn
Nông thôn nước ta hiện nay đang đứng trước những yêu cầu kinh tế - xãhội bức thiết cần giải quyết, đó là: đất đai canh tác hạn chế, năng suất câytrồng vật nuôi có giới hạn, giá cả nông sản thấp, lao động nông thôn thiếuviệc làm Để phát triển nông nghiệp, nông thôn cần có một chương trình vàgiải pháp đồng bộ: vừa phải duy trì tăng trưởng nông nghiệp trong điều kiệngiới hạn về đất đai, tài nguyên; đồng thời phải giảm bớt lao động nông nghiệp
để tạo điều kiện tăng năng suất lao động nông nghiệp Để giải quyết vấn đềnày, phát triển công nghiệp là giải pháp chủ đạo
Ba là, phát triển công nghiệp hợp lý trên mỗi vùng lãnh thổ, mỗi địa
phương sẽ tạo điều kiện khai thác có hiệu quả các nguồn lực, lợi thế của mỗivùng lãnh thổ, đảm bảo sự phát triển cân bằng, hợp lý giữa các vùng trongchiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần nâng cao chấtlượng cuộc sống của dân cư, làm giảm sự phát triển chênh lệch giữa các vùng,miền; qua đó hạn chế di dân đến các đô thị lớn gây nên tình trạng quá tải về
Trang 10dân số, về cơ sở hạ tầng, tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm môi trường, các tệnạn xã hội phát sinh không kiểm soát được gây mất ổn định xã hội
Bốn là, công nghiệp phát triển thúc đẩy mở rộng quy mô thị trường, đa
dạng hoá mặt hàng xuất nhập khẩu, mở rộng hợp tác và liên kết quốc tế
Song song với quá trình phát triển công nghiệp, đời sống kinh tế - xã hộingày càng phát triển, nhu cầu tiêu dùng trong sinh hoạt và sản xuất ngày càngphong phú, đa dạng Để đáp ứng nhu cầu của xã hội, ngoài việc tăng cườngphát triển sản xuất trong nước, cần phải đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu.Việc gia tăng xuất khẩu và nâng cao hiệu quả xuất khẩu đòi hỏi đa dạng hoámặt hàng xuất khẩu, đặc biệt là các sản phẩm công nghiệp chế biến, phát triểncác ngành có lợi thế cạnh tranh theo hướng chuyển dần từ các ngành có giá trịthấp sang các ngành có giá trị gia tăng cao; qua đó mở rộng hợp tác, liên kếtkinh tế khu vực và quốc tế
Năm là, công nghiệp phát triển đóng góp quan trọng và bền vững vào
tích luỹ của nền kinh tế trên các mặt: vốn, khoa học - công nghệ, nguồn nhânlực và những nhân tố cơ bản khác Công nghiệp là ngành có năng suất laođộng và giá trị gia tăng cao nên công nghiệp phát triển sẽ tăng nguồn thu chongân sách nhà nước, tăng tích luỹ cho các doanh nghiệp, tăng thu nhập chonhân dân, tạo điều kiện tăng đầu tư, đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh
tế Công nghiệp phát triển còn làm tăng năng lực khoa học - công nghệ củađất nước; đồng thời vừa là yêu cầu đòi hỏi, vừa tạo môi trường rèn luyện, đàotạo nâng cao chất lượng nguồn lực lao động của đất nước
Sáu là, phát triển công nghiệp trên các vùng, miền gắn liền với quá trình
phân bố lực lượng sản xuất, tăng cường tích tụ, tập trung sản xuất theo lãnhthổ, làm cơ sở cho quá trình hình thành các đô thị nhỏ và giảm sự khác biệt vềtrình độ phát triển, sự phân hoá xã hội và các tác động tiêu cực khác
Với lợi thế về đất đai, tài nguyên và chi phí lao động so với các thành phố,các tỉnh nông nghiệp có nhiều tiềm năng trở thành địa điểm lựa chọn của các nhàđầu tư trong và ngoài nước Vốn đầu tư từ nước ngoài và từ các thành phố trung
Trang 11tâm đổ đến, tạo ra quá trình công nghiệp hoá lan toả, hình thành các khu đô thịmới gắn với các khu công nghiệp tập trung, thúc đẩy tiến trình chuyển đổi cơ cấukinh tế từ sản xuất nông nghiệp là chủ yếu sang sản xuất công nghiệp
1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP Ở MỘT TỈNH NÔNG NGHIỆP
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến phát triển công nghiệp Việc xác địnhcác nhân tố ảnh hưởng có ý nghĩa rất lớn đến việc hoạch định đường lối, kếhoạch và chính sách phát triển công nghiệp của địa phương Sau đây là nhữngnhân tố cơ bản ảnh hưởng đến phát triển công nghiệp ở một tỉnh nông nghiệp:
1.2.1 Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên
- Về vị trí địa lý: Một quốc gia hay một địa phương bất kỳ nào cũng đều
được xác định bởi một tọa độ địa lý nhất định, có quan hệ về khoảng cách,đường ranh giới và các quan hệ về chính trị, kinh tế, xã hội với các vùng, các
quốc gia khác Theo tiến sĩ Lê Văn Trưởng,“Vị trí địa lý là quan hệ của một địa điểm hoặc một khu vực phân bố đối tượng với những cứ liệu nào đó, lấy ở bên ngoài địa điểm hoặc khu vực phân bố đó” [55, tr 355]
Vị trí địa lý là một nguồn lực quan trọng để định hướng phát triển cácngành, vùng kinh tế của từng địa phương cũng như của toàn bộ nền kinh tếcủa một quốc gia Nếu có vị trí địa lý thuận lợi như ở đầu mối giao thông, đầumối giao lưu kinh tế quốc tế, gần các trung tâm phát triển, sẽ là lợi thế tạo khảnăng cạnh tranh trong phát triển kinh tế, phát triển công nghiệp
Từ lợi thế vốn có, có thể xác định vùng kinh tế trọng điểm để phát triểncông nghiệp, dịch vụ, tạo điều kiện phát triển nhanh hơn các vùng khác và trởthành vùng động lực phát triển kinh tế của toàn vùng và của cả nước Có thểxác định các vùng kinh tế trọng điểm ở các cấp độ khác nhau, có quy mô quốcgia và có quy mô cấp tỉnh
Có thể dựa vào lợi thế nằm trên một tuyến trục giao thông huyết mạch đểtập trung xây dựng và phát triển các cơ sở công nghiệp, dịch vụ dọc hai bên
Trang 12tuyến trục đó Với lợi thế về giao thông vận tải nên các hoạt động kinh tế cóhiệu quả cao.
- Về tài nguyên thiên nhiên: Tài nguyên thiên nhiên là tất cả những gì
thuộc về thiên nhiên mà con người có thể khai thác, sử dụng để thoả mãn nhucầu tồn tại và phát triển của mình Giáo trình kinh tế học phát triển đã định
nghĩa: “Tài nguyên thiên nhiên là nguồn của cải vật chất nguyên khai, được hình thành và tồn tại trong tự nhiên” [63, tr.158]
Tài nguyên thiên nhiên là một trong các nguồn lực cơ bản của quá trìnhsản xuất, song chúng chỉ có thể trở thành yếu tố của sản xuất khi được khaithác và sử dụng có hiệu quả Các loại tài nguyên thiên nhiên cơ bản cho pháttriển công nghiệp bao gồm: đất đai, khoáng sản, tài nguyên sinh vật, tàinguyên nước
+ Khoáng sản là nguồn nguyên liệu chủ yếu cho sản xuất công nghiệp, là
loại tài nguyên không được phục hồi Khi đánh giá tài nguyên khoáng sảnphải chú ý tới chủng loại, công dụng, chất lượng, trữ lượng và khả năng khaithác, chế biến
+ Tài nguyên sinh vật dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến là
loại tài nguyên được phục hồi Tuy nhiên không được khai thác vượt quá khảnăng cho phép làm cạn kiệt nguồn tài nguyên này
+ Đất đai là một nguồn lực quan trọng của quá trình sản xuất Nó vừa là
đối tượng lao động vừa là tư liệu sản xuất chủ yếu của các ngành nông, lâm,ngư nghiệp Đất đai là yếu tố không thể thiếu vì nếu không có đất thì khôngthể có sản xuất nông nghiệp Trong ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ đất đai là nền móng để dựng nhà xưởng và các công trình thiết yếu khác mànếu không có nó thì mọi hoạt động không thể diễn ra
So với các nguồn lực khác, nguồn lực đất đai có giới hạn về mặt diện tích
và cố định về mặt địa lý Song cùng với thời gian sử dụng và sự phát triển củakhoa học - công nghệ, chúng không bị đào thải do hao mòn mà trái lại nếubiết sử dụng hợp lý thì sức sản xuất của nó không ngừng tăng lên
Trang 13+ Tài nguyên nước là một loại tài nguyên quan trọng, là yếu tố cơ bản
của sự sống Nước ngọt được sử dụng cho sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp vàphục vụ sản xuất công nghiệp Nguồn nước ngọt cạn kiệt sẽ là một nguy cơ đedoạ sự tồn tại và phát triển của con người Do vậy, việc sử dụng, bảo vệnguồn nước là đảm bảo sự phát triển bền vững của quốc gia
Nước còn là nguồn thuỷ năng quan trọng Cùng với các nguồn nănglượng hoá thạch (dầu mỏ, than đá) và năng lượng hạt nhân, thuỷ điện lànguồn năng lượng quan trọng của một quốc gia Trong điều kiện nguồn nănglượng hoá thạch ngày càng khan hiếm và giá thành ngày càng cao, việc pháttriển nguồn thuỷ điện là một trong những hướng chủ yếu để đảm bảo an ninhnăng lượng cho đất nước
1.2.2 Nguồn lực lao động
Nguồn lực lao động được xem xét dưới hai góc độ là số lượng và chấtlượng lao động Trong đó, yếu tố chất lượng lao động quyết định năng suấtlao động Người lao động có trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật, trình độquản lý, trình độ tay nghề cao và sức khoẻ tốt sẽ làm việc có năng suất cao,mang lại lợi ích kinh tế nhiều cho xã hội và cho bản thân họ Chất lượng laođộng có thể nâng cao bằng giáo dục, đào tạo và rèn luyện sức khoẻ
Vai trò của nguồn lực lao động thể hiện ở những khía cạnh chủ yếu sau:
- Nguồn lực lao động là nhân tố quyết định việc tổ chức sử dụng có hiệuquả các nguồn lực khác Nguồn lực lao động là nhân tố quyết định việc táitạo, sử dụng, phát triển các nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, vốn và khoa học
- công nghệ Trong nền kinh tế công nghiệp và nền kinh tế tri thức, nguồn lựclao động chất lượng cao là nhân tố quyết định
- Nguồn lực lao động là một bộ phận của các yếu tố “đầu vào” trong quátrình sản xuất Chi phí lao động, mức tiền công thể hiện sự cấu thành củanguồn lực lao động trong hàng hoá, dịch vụ Như vậy, chi phí nguồn lực laođộng trở thành nhân tố cấu thành mức tăng trưởng của nền kinh tế
Trang 14- Là bộ phận cấu thành của dân số, nguồn lực lao động tham gia tiêudùng các sản phẩm và dịch vụ xã hội, trở thành nhân tố tạo cầu của nền kinh
tế Như vậy, điểm khác biệt cơ bản giữa nguồn lực lao động với các nguồnlực khác là vừa tham gia tạo cung, tạo cầu của nền kinh tế, vừa trực tiếp điềutiết quan hệ đó gắn với các thể chế kinh tế - xã hội do con người tạo nên Nền kinh tế càng phát triển cao đòi hỏi chất lượng nguồn lực lao độngcàng phải cao, điều đó buộc người lao động phải tự hoàn thiện mình nếukhông muốn bị đào thải Mỗi bước phát triển của nền kinh tế, sẽ tạo điều kiệntốt hơn cho phát triển nguồn lực lao động, đồng thời cũng đòi hỏi mức độ caohơn của nguồn lực lao động trong việc tổ chức sử dụng các nguồn lực, tổ chức
và vận hành nền kinh tế
Như vậy, nguồn lực lao động không chỉ đơn thuần là một trong nhữngnguồn lực sản xuất, mà nó còn là nguồn lực có khả năng quyết định việc tổchức, sử dụng các nguồn lực khác, là chủ thể tích cực của tất cả các hoạt độngkinh tế Trong khi các nguồn lực tự nhiên chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng, nếukhông được con người khai thác thì sẽ trở thành vô dụng, thì nguồn lực laođộng có khả năng phát hiện và cải biến các nguồn lực tự nhiên và xã hội khác.Thực tế cho thấy, có nhiều quốc gia nghèo tài nguyên nhưng kinh tế rấtphát triển nhờ có đội ngũ lao động có học thức, có trình độ chuyên môn và taynghề cao, được tổ chức và khuyến khích, được tạo động lực đúng lúc Vì thế,
để phát huy nguồn lực con người, ngoài việc tăng cường giáo dục, đào tạo,chăm sóc sức khoẻ, cần phải có chính sách tạo động lực vật chất và tinh thầnlàm cho con người có tinh thần hăng say, phấn khởi, tự giác, sáng tạo và cótrách nhiệm, nhờ đó mà công việc được hoàn thành với năng suất, chất lượng
và hiệu quả cao Ngược lại, khi con người chán nản, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh bị đình trệ, nền kinh tế lâm vào khó khăn, trì trệ
-1.2.3 Vốn đầu tư
Trong nền kinh tế kém phát triển, sản xuất mang nặng tính tự nhiên, tựcấp tự túc, nguồn lực lao động với trình độ thủ công và nguồn lực đất đai giữ
Trang 15vai trò hàng đầu Trong nền kinh tế thị trường với sự phát triển mạnh củacông nghiệp và dịch vụ, vốn đầu tư trở thành nguồn lực cơ bản nhất, đặc biệtđối với sự phát triển của ngành công nghiệp, bởi vì:
- Có vốn, sẽ có điều kiện đầu tư mạnh mẽ cho việc đào tạo, bồi dưỡngnguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực trình độ cao, đáp ứng được nhữngđòi hỏi khắt khe của nền sản xuất có kỹ thuật và công nghệ hiện đại
- Có vốn, mới có điều kiện đầu tư cho việc nghiên cứu, tạo ra các kỹthuật - công nghệ mới hiện đại; hoặc là đầu tư để nhập khẩu các công nghệ đónhằm làm cho nền kinh tế phát triển nhanh, tạo ra nhiều sản phẩm tốt, có sứccạnh tranh cao trên thị trường
- Có vốn, mới có điều kiện để xây dựng và hiện đại hoá nhanh hệ thốngkết cấu hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng nhà xưởng, muasắm máy móc thiết bị cho sản xuất
- Có vốn, mới có điều kiện chuyển dịch cơ cấu các ngành, các lĩnh vựckinh doanh một cách nhanh chóng theo hướng hiệu quả và phù hợp với tiếntrình hội nhập kinh tế quốc tế
Để xem xét tác động của vốn đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế, có thể
sử dụng mô hình Harrod-Domar Theo mô hình này, vai trò của vốn đầu tưđối với tăng trưởng kinh tế được thể hiện bởi hàm sản xuất giản đơn:
g = s/k hoặc k = s/g
Trong đó, g: tỷ lệ tăng trưởng của sản lượng đầu ra.
s: tỷ lệ tiết kiệm so với sản lượng đầu ra
k: hệ số gia tăng vốn so với đầu ra (hệ số ICOR)
Quan hệ g = s/k diễn đạt mối quan hệ: tỷ lệ tăng trưởng của nền kinh tếđược quyết định bởi tỷ lệ tiết kiệm (s) và hệ số gia tăng vốn so với đầu ra (k)của nền kinh tế Do đó, để tăng trưởng, nền kinh tế phải tiết kiệm và đầu tưmột tỷ lệ nhất định so với GDP Nền kinh tế có khả năng tiết kiệm và đầu tưcàng cao sẽ tăng trưởng càng nhanh
Trang 16Nhưng tỷ lệ tăng trưởng thực tế còn phụ thuộc cả vào hiệu suất của đầu
tư, tức là mức sản lượng tăng thêm có được từ một đơn vị đầu tư tăng thêm,được tính bằng 1/k Trong thực tế, hệ số k không cố định mà có xu hướngngày càng tăng lên, nghĩa là xu hướng đầu tư ngày càng nhiều vốn hơn Vìvậy, để giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, cần đảm bảo sao cho hệ số ktăng chậm, trong khi vẫn gia tăng được tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư
Hệ số ICOR phụ thuộc vào nhiều yếu tố, thay đổi theo trình độ phát triểnkinh tế và cơ chế chính sách Kinh nghiệm cho thấy, hệ số ICOR phụ thuộcvào cơ cấu kinh tế, hiệu quả đầu tư trong các ngành, các vùng lãnh thổ và hiệuquả của các chính sách kinh tế của nhà nước nói chung Hệ số ICOR trongngành nông nghiệp thường cao hơn trong ngành công nghiệp và thương mại-dịch vụ, do khu vực nông nghiệp bị hạn chế về đất đai, khả năng sinh học Vìvậy, để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, tất yếu phải tăng cường đầu tưphát triển công nghiệp và dịch vụ
1.2.4 Chuyển giao, tiếp nhận và ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ
Khoa học-công nghệ phát triển với sự ra đời của các công nghệ mới đãlàm cho nền kinh tế chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theochiều sâu, tức là thực hiện tăng trưởng kinh tế dựa trên cơ sở nâng cao hiệuquả sử dụng các yếu tố đầu vào Vì vậy, khoa học - công nghệ là phương tiện
để chuyển nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp và nền kinh
tế tri thức, phát triển nhanh các ngành công nghệ cao và sử dụng nhiều laođộng trí tuệ
Việc áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất tạo ra nhiều loạisản phẩm mới, quy mô sản xuất được mở rộng, năng suất lao động và sứccạnh tranh của hàng hoá tăng lên, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Tác động của tiến bộ khoa học - công nghệ là vô cùng to lớn, có thể cónhững bước tiến có tính đột biến làm thay đổi toàn bộ nền sản xuất xã hội nóichung cũng như sản xuất công nghiệp nói riêng Đối với công nghiệp, khoa học -
Trang 17công nghệ tác động trên 2 góc độ: tiến bộ khoa học - công nghệ trong nội bộngành công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ trong các ngành khác.
- Tiến bộ khoa học - công nghệ trong nội bộ ngành công nghiệp tạo ra sựphát triển mới hiệu quả cao Tiến bộ của khoa học - công nghệ trong khai tháctài nguyên sẽ nâng cao khả năng khai thác và sử dụng có hiệu quả kinh tế caonhững nguồn tài nguyên của đất nước; tiến bộ trong ngành chế biến tạo điềukiện phát triển các ngành công nghiệp ở nhiều vùng lãnh thổ trước đây không
có điều kiện phát triển hoặc không tận dụng được nguồn tài nguyên
- Tiến bộ khoa học - công nghệ trong các ngành khác tạo tiền đề cho pháttriển và phân bố công nghiệp Có thể thấy rõ điều này trong những bước pháttriển vượt bậc về phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng và trong sản xuất nôngnghiệp Với công nghệ mới, hệ thống giao thông và phương tiện vận tải đã cóbước phát triển nhanh chóng, cùng với hệ thống thông tin liên lạc rộng khắp
và tiện dụng đã đem đến cơ hội đầu tư sản xuất kinh doanh cho nhiều nơitrước đây rất khó khăn Công nghệ sinh học, công nghệ mới trong nôngnghiệp đã tạo điều kiện phát triển những vùng nguyên liệu nông, lâm, thuỷsản mới đủ lớn cho khai thác và chế biến công nghiệp
Việc phát triển tiềm lực kỹ thuật - công nghệ được thông qua dưới nhiềuhình thức: nghiên cứu sáng tạo công nghệ và thực hiện tiếp nhận, ứng dụngcông nghệ Trong điều kiện địa phương năng lực hạn chế, không có các cơ sởnghiên cứu khoa học đủ sức thực hiện các sáng tạo công nghệ, thì thực hiệnchuyển giao, tiếp nhận và ứng dụng công nghệ là con đường chủ yếu để đổimới công nghệ Các kênh tiếp nhận kỹ thuật công nghệ mới gồm:
- Kỹ thuật - công nghệ được chuyển giao “trọn gói” dưới hình thức đầu
tư trực tiếp Loại chuyển giao này luôn đi kèm với với quá trình đầu tư củacác doanh nghiệp
- Kỹ thuật - công nghệ được chuyển giao dưới hình thức mua bán, traođổi trên thị trường Loại chuyển giao này mang tính chất bộ phận, hay từngnhóm công nghệ - kỹ thuật ở một khâu trong dây chuyền công nghệ
Trang 18- Kỹ thuật - công nghệ được chuyển giao dưới hình thức trao đổi thôngtin, đào tạo và huấn luyện cán bộ khoa học, nhân viên kỹ thuật, công nhânlành nghề
- Ngoài các kênh chuyển giao kỹ thuật - công nghệ trên, cần khuyếnkhích người lao động phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật - công nghệ, qua đólàm tăng giá trị công nghệ được chuyển giao và góp phần tăng năng lực pháttriển kỹ thuật - công nghệ của địa phương
Thực hiện chuyển giao và tiếp nhận công nghệ làm cho nền kinh tế vậnđộng theo xu hướng giảm dần các yếu tố lạc hậu cổ truyền và tăng dần cácyếu tố hiện đại, là con đường mở ra khả năng có thể đi nhanh vào hiện đạihoá Song để đạt được điều đó, cần phải có chiến lược chuẩn bị nền tảng kỹthuật để tiếp nhận kỹ thuật - công nghệ được chuyển giao, trong đó chú trọngnâng cao trình độ dân trí, đào tạo cán bộ kỹ thuật - công nghệ, công nhân lànhnghề đủ sức tiếp nhận và ứng dụng thành thạo kỹ thuật - công nghệ hiện đạiđược chuyển giao
1.2.5 Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội có vai trò to lớn đối với sự phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước, thể hiện ở hai nội dung: một là, kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội đảm bảo những điều kiện vật chất thuận lợi nhất để các cơ sởsản xuất và dịch vụ hoạt động có hiệu quả Một hệ thống kết cấu hạ tầng hiệnđại, đồng bộ sẽ tạo điều kiện rút ngắn chu kỳ sản xuất và lưu thông sản phẩm,giảm bớt chi phí sản xuất và góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, làm cho
các sản phẩm hàng hoá có sức cạnh tranh hơn; hai là, xét trong phạm vi toàn
bộ nền kinh tế quốc dân, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội như là hệ thống huyếtmạch của nền kinh tế, có nhiệm vụ thực hiện những mối liên hệ giữa các bộphận và các vùng của nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụngnhững tiềm năng của đất nước, mở rộng quan hệ quốc tế, tạo điều kiện pháttriển kinh tế - xã hội rộng khắp vùng lãnh thổ, giảm bớt sự khác biệt về dântrí, mức sống giữa các vùng
Trang 19Như vậy, sự phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội làđiều kiện tiền đề cho phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia cũng như củatừng địa phương, từng vùng lãnh thổ Xét trên bình diện tác động đến sự pháttriển công nghiệp, vai trò của một số ngành, lĩnh vực cơ bản trong hệ thốngkết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được thể hiện cụ thể:
+ Hệ thống giao thông vận tải là huyết mạch của nền kinh tế, khôngnhững trực tiếp tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, mà còn cótác dụng mở đường, là khâu đột phá để thực hiện phân bố lại lực lượng sảnxuất xã hội, là nhân tố quyết định mở mang giao lưu hàng hoá giữa các vùngtrong nước và với thị trường thế giới
+ Hệ thống năng lượng là yếu tố không thể thiếu được đối với bất cứngành kinh tế nào Đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia là yếu tố quan trọngđảm bảo cho nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững Vì vậy, phát triểnnăng lượng phải đi trước một bước
+ Hệ thống cấp nước rất cần thiết cho sinh hoạt và sản xuất công nghiệp,nhất là công nghiệp chế biến thực phẩm Nếu không có các giải pháp đồng bộ
để bảo vệ, khai thác hợp lý nguồn nước sẽ không thể đáp ứng nhu cầu nướcsạch cho các đô thị, khu dân cư và cho phát triển công nghiệp
+ Hệ thống các ngành dịch vụ đóng vai trò duy trì và hỗ trợ các ngànhsản xuất bằng cách cung cấp các dịch vụ đầu vào Sẽ không có một nền sảnxuất công nghiệp phát triển nếu hệ thống các dịch vụ yếu kém Mặt khác, cácngành dịch vụ phát triển tạo điều kiện cải thiện đời sống, nâng cao trình độdân trí qua đó tạo điều kiện thu hút nguồn nhân lực có chất lượng cho pháttriển Vì thế, hệ thống các ngành dịch vụ cần phải đi trước, trong đó cần chútrọng phát triển các ngành dịch vụ cơ bản, phục vụ nhu cầu thiết yếu cho pháttriển (thương nghiệp, khách sạn, thông tin liên lạc, kho bãi, tài chính, tíndụng, dịch vụ tư vấn, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, y tế, thểdục thể thao, hoạt động cứu trợ xã hội )
Trang 20Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của mỗi địa phương, vùng lãnhthổ là điều kiện không thể thiếu cho sự phát triển bền vững, có hiệu quả củacông nghiệp nói chung, tổ chức sản xuất công nghiệp trên vùng lãnh thổ nóiriêng Sự hình thành và phát triển công nghiệp của mỗi vùng lại thúc đẩy sự pháttriển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội Trong mối quan hệ này,kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phải đi trước một bước Vì vậy, việc nâng cấp vàphát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được coi là một trong nhữngnhiệm vụ hàng đầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Tuyvậy, do khả năng nguồn vốn đầu tư còn hạn chế, cần phải xây dựng kế hoạchphát triển có chọn lọc những kết cấu hạ tầng cơ bản, thiết yếu nhất.
1.2.6 Môi trường chính trị - xã hội, pháp lý, cơ chế chính sách kinh
tế và sự vận dụng sáng tạo của chính quyền địa phương
Khả năng thu hút vốn đầu tư phát triển của các địa phương đối với cácchủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trường chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tốkhác nhau Các yếu tố về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiênnhiên, kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực, tài chính có ý nghĩa là một lợi thế sosánh khi thu hút đầu tư Các yếu tố chính trị - xã hội, pháp lý, cơ chế chínhsách của nhà nước lại có tác động rất lớn đến khả năng thu hút vốn đầu tư củacác địa phương
- Môi trường chính trị - xã hội có ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh lợicủa nhà đầu tư Bất kỳ lý do nào có ảnh hưởng xấu đến mục tiêu sinh lợi hoặc
có khả năng gây rủi ro đều ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư.Các nhà đầu tư coi yếu tố ổn định về chính trị - xã hội là một trong những yếu
tố hàng đầu Do đó, đảm bảo sự ổn định chính trị - xã hội thì mới thu hútđược các nhà đầu tư, tăng vốn cho đầu tư phát triển, tạo điều kiện cho nềnkinh tế phát triển ổn định với tốc độ cao
- Môi trường pháp lý và cơ chế chính sách là những yếu tố ảnh hưởngtrực tiếp đến khả năng thu hút vốn đầu tư, vì thế nó được các nhà đầu tư quan
Trang 21tâm đặc biệt Hệ thống luật pháp bao gồm các văn bản pháp luật, các quyđịnh, các văn bản quản lý hoạt động đầu tư, khuyến khích đầu tư phản ánhmôi trường đầu tư của đất nước Hệ thống pháp luật có thể tạo thuận lợi hoặclàm hạn chế hoạt động đầu tư của các chủ thể kinh tế Vì vậy, để tăng cườngthu hút đầu tư, cần có một cơ chế pháp lý rõ ràng, mềm dẻo, tạo thuận lợi chođầu tư và sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp.
Thủ tục hành chính là tất cả những thủ tục cơ bản mà nhà đầu tư cần phảithực hiện để được quyền đầu tư, bao gồm các thủ tục xét duyệt cấp giấychứng nhận đầu tư, đăng ký kinh doanh, các thủ tục về đất đai, thẩm định dựán Những thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp cùng với bộ máy hành chínhquan liêu, cồng kềnh là trở ngại lớn, cản trở nhà đầu tư và làm tê liệt mọi lợithế về môi trường đầu tư Vì vậy, thủ tục hành chính là một vấn đề cần quantâm điều chỉnh cho phù hợp tình hình mới nhằm thu hút đầu tư
Trong giai đoạn hiện nay, mặc dù các quốc gia trên thế giới có những chế
độ chính trị khác nhau, nhưng hầu hết các nước đều có điểm chung là thựchiện nền kinh tế hàng hoá với cơ chế thị trường, đồng thời ngày càng coitrọng vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của nhà nước Mọi thành côngtrong phát triển kinh tế đều không thể thiếu được hoạt động trợ giúp của nhànước Do đó, nếu nhà nước thiếu thiện chí hoặc yếu kém trong quản lý kinh tế
sẽ kìm hãm sự phát triển
Ở nước ta hiện nay, khi cơ chế thị trường chưa hoàn thiện, nhiều loại thịtrường mới hình thành và vẫn còn sơ khai, thì nhà nước còn phải làm cáccông việc đáng ra là của thị trường, vẫn thực thi không ít các biện pháp hànhchính trong việc huy động và phân bổ các nguồn lực Để phát huy vai trò củamình trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay, nhà nước cầnphải làm thật tốt những công việc sau:
- Tạo lập môi trường chính trị - xã hội ổn định, hoạch định và thực hiện
có hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, tạo lập môi trường pháp
lý lành mạnh và ổn định cho phát triển kinh tế
Trang 22- Xây dựng thể chế hành chính hữu hiệu, đảm bảo cung ứng dịch vụ côngtốt nhất cho các hoạt động kinh tế - xã hội Muốn vậy, nhà nước phải thựchiện cải cách hành chính theo hướng tinh gọn, hoạt động có hiệu quả.
- Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực, đầu tư chogiáo dục và đào tạo, coi đây là quốc sách hàng đầu, thực hiện đào tạo đi liềnvới sử dụng nguồn nhân lực được đào tạo; xây dựng và thực hiện các chươngtrình phát triển khoa học - công nghệ, y tế, các chương trình khai thác và bảo
vệ tài nguyên, môi trường
- Huy động và phân bổ hợp lý các nguồn lực quốc gia Đầu tư xây dựngkết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, tạo điều kiện cho công nghiệp phát triển
- Thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát nhằm thiết lập kỷ cương,trật tự trong hoạt động kinh tế, phát hiện và ngăn ngừa các hiện tượng viphạm pháp luật, sai phạm chính sách, bảo vệ tài sản quốc gia và lợi íchnhân dân, góp phần tăng trưởng kinh tế và từng bước thực hiện công bằng
xã hội
Thực hiện sự phân cấp quản lý, nhà nước Trung ương thực hiện xâydựng hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách, đảm bảo ổn định môi trườngchính trị - xã hội, môi trường pháp lý trên phạm vi quốc gia; các cấp chínhquyền địa phương chịu trách nhiệm thực thi và vận dụng sáng tạo các chínhsách của nhà nước Trung ương bằng các cơ chế chính sách riêng trong khuônkhổ pháp luật cho phép ở phạm vi địa phương
Hoạt động của chính quyền địa phương có thể tác động tích cực đến pháttriển công nghiệp nếu có những chính sách hỗ trợ thực sự có hiệu quả Côngnghiệp trong điều kiện của một tỉnh nông nghiệp còn hạn chế về nhiều mặtmuốn phát triển được, nhất thiết phải có sự hỗ trợ thiết thực của nhà nước địaphương Do đó, sự năng động của chính quyền địa phương có tác động rất lớnđến sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung cũng như lĩnh vực thu hút đầu tư,phát triển công nghiệp nói riêng của địa phương
Trang 231.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ TỈNH VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
1.3.1 Tỉnh Phú Yên
Phú Yên là tỉnh nông nghiệp thuộc khu vực duyên hải miền Trung, điềukiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn nhưng đã có những giải pháp pháttriển công nghiệp hiệu quả, tốc độ tăng trưởng công nghiệp cao Sự thànhcông của Phú Yên là một mô hình cần quan tâm nghiên cứu áp dụng
Phú Yên nằm liền kề khu kinh tế trọng điểm miền Trung về phía nam,phía bắc giáp tỉnh Bình Định, phía nam giáp tỉnh Khánh Hoà, phía tây giáptỉnh Gia Lai và Đăk Lăk, phía đông giáp biển Đông; diện tích tự nhiên 5.045
km2 với hơn 70% diện tích là núi đồi; dân số đến cuối năm 2004 là 836.000người, trong đó nông thôn là 669.000 người, chiếm 80% dân số
Tuy là một tỉnh quy mô không lớn, nguồn lực hạn chế, điều kiện tự nhiên
- kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, nhưng Phú Yên đã có nhiều nỗ lực phấnđấu khai thác các tiềm năng, phát huy các nguồn lực và đã có bước phát triểnkhá cao: tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 1995-2005 đạt 10,47%/năm; giá trị sản xuất công nghiệp tăng liên tục với tốc độ cao, bình quân21,58%/năm Tỷ trọng công nghiệp trong cơ cấu GDP của tỉnh từ 8,51% năm
1995 tăng lên 24,87% năm 2005.[49]
Để đạt được thành quả này, Phú Yên đã thực hiện các giải pháp:
- Về định hướng phát triển công nghiệp: Theo xu hướng phát triển chungcủa một tỉnh nông nghiệp, Phú Yên chú trọng công nghiệp chế biến nông-lâm-thuỷ sản sử dụng nguyên liệu địa phương và các ngành sử dụng nhiều laođộng như dệt may, giày da, thủ công mỹ nghệ Các ngành khai khoáng phục
vụ sản xuất vật liệu xây dựng cho nhu cầu địa phương và phát triển thuỷ điệnnhỏ là những ngành có nhiều tiềm năng cũng được ưu tiên đầu tư
- Về đầu tư kết cấu hạ tầng: Phú Yên ưu tiên tập trung giải quyết giaothông phục vụ đầu ra cho khu công nghiệp, ngoài sân bay Tuy Hòa và cảngVũng Rô, tỉnh đang làm việc với ngành đường sắt để xây dựng ga hàng hóa
Trang 24Phú Hiệp, xây dựng cầu Đà Nông qua sông Bàn Thạch, đường Đông Vũng Rô để nối khu công nghiệp Hòa Hiệp với cảng nước sâu Vũng Rô.
Tác Về quy hoạch và đầu tư các khu công nghiệp: Phú yên đã thực hiện quyhoạch và đầu tư 03 khu công nghiệp tập trung tại các vị trí thuận lợi với quy
mô diện tích 985 ha (khu công nghiệp Hoà Hiệp ở phía nam tỉnh, gần cảngVũng Rô và sân bay Tuy Hoà, khu công nghiệp An Phú nằm phía bắc thị xãTuy Hoà và khu công nghiệp Đông Bắc Sông Cầu gần cảng Qui Nhơn); thựchiện quy hoạch xây dựng mạng lưới các cụm, điểm công nghiệp, đáp ứng nhucầu mặt bằng cho các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp và làng nghề, gópphần tổ chức, bố trí lại lực lượng sản xuất hợp lý và khai thác tiềm năng, thếmạnh của từng vùng
- Về đào tạo nguồn nhân lực: Phú Yên xây dựng một hệ thống các trườngcao đẳng, dạy nghề, mỗi năm có thể đào tạo 600 học viên, 1.400 kỹ thuật viên
và trên 800 công nhân kỹ thuật có tay nghề từ bậc 3/7 trở lên, đáp ứng nhucầu nguồn nhân lực cho phát triển công nghiệp của địa phương
-Về cơ chế chính sách thu hút đầu tư: Bên cạnh chính sách ưu đãi chungcủa cả nước, Phú Yên cũng đã ban hành một số chính sách khuyến khích thuhút đầu tư vào các lĩnh vực công nghiệp, bao gồm: áp dụng mức giá thuê đấtthấp nhất, thời gian miễn giảm thuế dài nhất; hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầngđến chân hàng rào công trình; hỗ trợ và hướng dẫn lập thủ tục đầu tư trongthời gian ngắn nhất; tạo điều kiện giải quyết việc cấp đất, đền bù giải phóngmặt bằng nhanh chóng, thuận lợi; hỗ trợ các nhà đầu tư giải quyết các khókhăn vướng mắc trong quá trình triển khai dự án sau khi được cấp giấy phéptheo hướng thuận lợi và trong thời gian nhanh nhất; trích thưởng cho các công
ty tư vấn, môi giới đầu tư tuỳ theo từng dự án
- Về phát triển tiểu thủ công nghiệp và làng nghề: Phú Yên đã ban hành
cơ chế chính sách khuyến khích phát triển với nhiều ưu đãi về thuê đất, hỗ trợđầu tư kết cấu hạ tầng làng nghề, cụm, điểm công nghiệp, hỗ trợ vay vốn tín
Trang 25dụng ưu đãi, đầu tư vùng nguyên liệu, đào tạo truyền nghề và du nhập nghềmới, hỗ trợ đầu tư chiều sâu và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, hỗ trợxây dựng thương hiệu và thông tin thị trường
- Về cải cách thủ tục hành chính: Phú Yên tiến hành cải cách thủ tục hànhchính theo mô hình “một cửa”, tập trung đầu mối xét và cấp phép đầu tư cho sở
Kế hoạch - Đầu tư với thủ tục nhanh, gọn; thực hiện công khai và minh bạch cácquy trình thủ tục trong các hoạt động liên quan đến đầu tư như cấp quyền sửdụng đất và thuê đất, các chính sách ưu đãi đầu tư dưới nhiều hình thức
- Ngoài các giải pháp trên, lãnh đạo chủ chốt của tỉnh còn thường xuyêntiếp xúc với các doanh nghiệp, tạo điều kiện dễ dàng cho các doanh nghiệptrình bày các khó khăn của mình và tháo gỡ kịp thời cho doanh nghiệp
Tuy đạt được nhiều thành tựu trong phát triển, nhưng Phú Yên cũng đangđối mặt với nhiều thách thức lớn Đó là, sức cạnh tranh của sản phẩm côngnghiệp còn thấp, chủ yếu tiêu thụ tại thị trường nội địa, sản phẩm xuất khẩuchủ yếu là hàng thủ công mỹ nghệ, may mặc, hạt điều, hải sản nhưng sảnlượng ít Nhiều dự án đã đăng ký nhưng chậm triển khai thực hiện Hệ thống
xử lý chất thải chưa được quan tâm dẫn đến ô nhiễm môi trường
Trong bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh do Phòng thương mạicông nghiệp Việt Nam và dự án Nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam(VNCI) hợp tác xây dựng năm 2006, Phú Yên được xếp thứ hạng khá với chỉ
số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) là 54,93, đứng thứ 21 trong tổng số 64tỉnh thành trong cả nước Chỉ số cạnh tranh khá cao trong điều kiện khó khăn
về vị trí địa lý, kết cấu hạ tầng, quy mô thị trường là một cố gắng lớn củachính quyền địa phương tỉnh Phú Yên
1.3.2 Tỉnh Thừa Thiên - Huế
Thừa Thiên - Huế là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền Trung,phía bắc giáp tỉnh Quảng Trị, phía nam giáp thành phố Đà Nẵng, phía tâygiáp nước CHDCND Lào, phía đông giáp biển Đông; tổng diện tích tự nhiên
Trang 26là 5.054 km2, dân số năm 2005 là 1,136 triệu người Thừa Thiên - Huế là tỉnhláng giềng có nhiều kinh nghiệm trong phát triển cần quan tâm nghiên cứu.
Kinh tế Thừa Thiên - Huế tăng trưởng nhanh và khá toàn diện, thời kỳ2001-2005 đạt bình quân 9,5%/năm; cơ cấu kinh tế chuyển đổi theo hướngcông nghiệp hoá, hiện đại hoá: tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng-dịchvụ- nông nghiệp năm 2000 là 30,9% - 45,0% - 24,1%; năm 2005 tương ứng
là 37,7% - 42,1% - 20,2%; đạt mức trung bình trong cả nước [Phụ lục 2].Được thiên nhiên ưu đãi và có một truyền thống văn hoá lâu đời, ngành
du lịch của Thừa Thiên - Huế có nhiều tiềm năng và thế mạnh với 2 di sảnvăn hoá thế giới và một hệ thống các khu du lịch nổi tiếng Thừa Thiên - Huế
có đầy đủ điều kiện để xây dựng thành một trung tâm du lịch lớn của ViệtNam Vì thế, du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn
Nhưng công nghiệp là ngành giữ vai trò động lực và có tốc độ tăngtrưởng cao Giá trị sản xuất công nghiệp từ 1.187 tỷ đồng năm 2000 tăng lên2.358 tỷ đồng năm 2005 (giá so sánh năm 1994), tăng bình quân hàng năm14,7% Thừa Thiên - Huế có điều kiện phát triển các ngành công nghiệp cólợi thế về nguyên liệu, nhân lực và thị trường như công nghiệp chế biến thủysản, khai khoáng, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp dệt, may, cơ khísửa chữa và chế tạo, thuỷ điện nhỏ, công nghiệp phần mềm
Để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế nói chung và công nghiệp nóiriêng, Thừa Thiên - Huế đã thực hiện các giải pháp chủ yếu sau:
- Ưu tiên đầu tư các công trình lớn về giao thông, đảm bảo giao thông
thông suốt giữa các vùng trong tỉnh, gắn với việc khai thác tuyến hành langkinh tế Đông - Tây; xây dựng cảng Chân Mây thành cảng trung tâm phânphối quốc tế; xây dựng sân bay Phú Bài thành sân bay du lịch quốc tế; xây mới
ga đường sắt tại Chân Mây, Lăng Cô và đường bộ cao tốc Huế Đà Nẵng Quảng Trị phục vụ vận chuyển hàng hoá, hành khách qua lại khu kinh tế thươngmại và khu du lịch quốc gia, phát triển mạng lưới giao thông nông thôn
Trang 27Đầu tư hoàn chỉnh kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp Phú Bài, Chân
Mây, Phong Điền và các cụm công nghiệp tạo thành các trung tâm thu hútđầu tư, chuyển giao công nghệ Khôi phục, phát triển nghề và làng nghề
- Ưu tiên phát triển hệ thống dịch vụ, đa dạng các loại hình dịch vụ chất
lượng cao như du lịch, vận tải, bưu chính viễn thông, giáo dục, y tế, khoa họccông nghệ, tư vấn, bảo hiểm, ngân hàng để dịch vụ trở thành ngành kinh tếmạnh thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và các ngành khác
- Tập trung đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH Thừa
Thiên - Huế là một trong những trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượngcao cho các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên, với hệ thống gồm 7 trường đạihọc thuộc đại học Huế, đại học dân lập Phú Xuân và các trường cao đẳng,trung học chuyên nghiệp Những ưu thế này cho phép Thừa Thiên - Huếnhanh chóng xây dựng được đội ngũ lao động có chất lượng
Ngoài ra, Thừa Thiên - Huế còn nỗ lực phát triển mạng lưới trườngtrung học chuyên nghiệp, cơ sở dạy nghề; thu hút thêm các trường trung họcchuyên nghiệp thuộc các Bộ, ngành Trung ương, chú trọng các ngành nghềmới đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực
- Cũng như nhiều tỉnh thành trên cả nước, Thừa Thiên - Huế đã ban
hành chính sách hỗ trợ đầu tư Khác với Phú Yên, ngoài chính sách ưu đãichung, Thừa Thiên - Huế quy định lĩnh vực ưu đãi đầu tư riêng của tỉnh rấthạn chế, tập trung vào các lĩnh vực dịch vụ cao cấp; trong công nghiệp, ưutiên các ngành công nghệ cao, hàng thủ công mỹ nghệ và chế biến nông, lâm,thuỷ sản, với các hỗ trợ về giá thuê đất ưu đãi, hỗ trợ đào tạo nghề
- Xác định cải cách hành chính là nhiệm vụ trọng tâm, là khâu đột phá,
tỉnh đã triển khai chương trình tổng thể cải cách hành chính đến năm 2010 vớinhiều nội dung thiết thực góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt độngquản lý nhà nước, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn địnhchính trị ở địa phương, thể hiện trên các mặt:
Trang 28Thực hiện đơn giản hoá và công khai hoá các thủ tục hành chính: đã
rà soát bãi bỏ nhiều văn bản có chứa đựng các thủ tục hành chính khôngcòn phù hợp; chủ động đổi mới qui trình, lề lối làm việc nhằm nâng caohiệu quả giải quyết công việc của cơ quan nhà nước; thiết lập trangWebsite và công khai 65 thủ tục liên quan đến các lĩnh vực kinh tế - xãhội Người dân được phản ánh ý kiến của mình và các ý kiến phản hồi, xử
lý của các cơ quan nhà nước được đăng tải công khai trên trang Websitecủa tỉnh
Nhằm tạo chuyển biến đồng bộ trong toàn bộ hệ thống chính trị từ tỉnh đếnhuyện, thành phố và các đơn vị cơ sở, tỉnh tăng cường công tác phân công, phâncấp, kiểm tra, giám sát, tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính ở các cấp,các ngành, định rõ nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm cá nhân của thủtrưởng các sở, ban, ngành, chủ tịch UBND các cấp; đồng thời xử lý nghiêmminh những cá nhân không làm đúng chức trách, vi phạm pháp luật, từ đó nêucao ý thức trách nhiệm, khả năng công tác
Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế "một cửa" được tăng cường
Đã có 26/27 sở, ban, ngành cấp tỉnh và 9/9 huyện thành phố, 111/150 phường,
xã, thị trấn thực hiện cơ chế “một cửa” Cơ chế này đã làm thay đổi theohướng tích cực cách thức, quy trình giải quyết các thủ tục hành chính, tạochuyển biến trong quan hệ giữa các cơ quan hành chính với công dân và tổchức, được nhân dân đồng tình ủng hộ
Ngoài ra, tỉnh còn đẩy mạnh việc đổi mới và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, cải cách tài chính công, giao quyền tự chủ tài chính ở
các đơn vị sự nghiệp có thu, thực hiện khoán biên chế và kinh phí quản lýhành chính ở đơn vị hành chính, tạo điều kiện cho đơn vị chủ động sắp xếp tổchức bộ máy, hợp đồng lao động phù hợp, xây dựng bộ máy tinh gọn, hiệuquả, tăng thu nhập cho cán bộ, công chức, viên chức
Trang 29Qua nghiên cứu thực tiễn của 2 tỉnh Phú Yên và Thừa Thiên-Huế, cóthể rút ra những kinh nghiệm bổ ích cần suy nghĩ để vận dụng vào điều kiệnthực tiễn của Quảng Trị Định hướng phát triển công nghiệp và các giải phápchủ yếu ở các tỉnh có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau sẽ khác nhau, tuynhiên, có những điểm chung cần quan tâm giải quyết là:
- Ưu tiên đầu tư kết cấu hạ tầng, trước hết là các công trình giaothông vận tải lớn và các khu, cụm công nghiệp, đảm bảo mặt bằng sảnxuất và giao thông thông suốt giữa các vùng trong tỉnh, các khu côngnghiệp với các tuyến giao thông huyết mạch quốc gia và thuận lợi chogiao lưu kinh tế quốc tế
- Tập trung đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH Vừachú trọng đào tạo nghề chính quy, vừa coi trọng các hình thức đào tạo thựchành nâng cao tay nghề, truyền nghề, du nhập nghề mới
- Thực hiện nhất quán chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần,vừa chú trọng thu hút vốn đầu tư các doanh nghiệp trong và ngoài nước, vừaquan tâm phát huy nội lực, khuyến khích phát triển các ngành nghề tiểu thủcông nghiệp, tạo thành một hệ thống các loại hình doanh nghiệp, mọi thànhphần kinh tế bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển
- Thực hiện cải cách hành chính theo hướng đơn giản hoá thủ tục hànhchính, công khai và minh bạch các quy trình thủ tục trong các hoạt động liênquan đến đầu tư, sản xuất kinh doanh; tiến hành phân công, phân cấp, kiểmtra, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước của chính quyền địa phương các cấp
- Vận dụng linh hoạt chính sách của nhà nước, xây dựng và ban hànhchính sách hỗ trợ đầu tư phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương trongnhững lĩnh vực Chính phủ cho phép, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tưtiếp cận dể dàng các yếu tố sản xuất và giải quyết các khó khăn vướng mắccho nhà đầu tư nhanh nhất
Trang 30Kết luận chương 1
Những nhân tố nêu trên tác động rất mạnh đến phát triển công nghiệpcủa một tỉnh nông nghiệp, tuy vậy chúng mới chỉ là yếu tố tiềm năng Để thuhút đầu tư, cần nắm vững các xu hướng vận động phát triển của công nghiệp
và xử lý tốt các vấn đề cụ thể sau đây:
+Các chính sách quản lý, phát triển nguồn lực của chính quyền địaphương trực tiếp ảnh hưởng đến sức thu hút đầu tư của tỉnh Khả năng tiếpcận các nguồn lực cơ bản như đất đai, tín dụng, kết cấu hạ tầng kinh tế - xãhội, nguồn nguyên liệu cùng với nguồn nhân lực có chất lượng sẽ ảnh hưởnglớn tới quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư của doanh nghiệp
+Các thủ tục hành chính phức tạp cùng với sự thiếu minh bạch vànhũng nhiễu khi thi hành công vụ của công chức nhà nước ảnh hưởng tới chiphí giao dịch của doanh nghiệp và làm giảm niềm tin của nhà đầu tư
+Tính năng động của chính quyền ở các địa phương có thể hỗ trợdoanh nghiệp phát triển Việc cán bộ thiếu năng lực, giải quyết không dứtđiểm và các cơ quan chính quyền địa phương thận trọng quá mức có thể làm
cho các doanh nghiệp nản lòng do phải tốn kém quá nhiều thời gian.
+Mặt trái của các chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt, “vượt rào” để cạnhtranh thu hút đầu tư là chúng thường không bền vững và thiếu nhất quán vớichính sách chung của nhà nước, hơn nữa, chúng còn ảnh hưởng tiêu cực tớinguồn thu ngân sách của địa phương Vì thế, ưu đãi đầu tư đặc biệt khôngphải là biện pháp tốt nhất để thu hút đầu tư
Để giải quyết vấn đề trên, nhà nước đóng vai trò quan trọng hàng đầu.Những cơ chế chính sách đúng đắn, phù hợp xu hướng phát triển trong điềukiện lịch sử cụ thể, cùng với sự điều hành kinh tế năng động, thích ứng vớitình hình và được sự ủng hộ của toàn xã hội thì chắc chắn quá trình phát triểnkinh tế-xã hội nói chung, phát triển công nghiệp nói riêng sẽ gặt hái đượcnhiều thành công
Trang 312.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý: Quảng Trị thuộc vùng Bắc Trung bộ, có tọa độ địa lý
16018’ –17010’ vĩ độ bắc, 106032’ – 107024’ độ kinh đông, cách Hà Nội 582
km về phía bắc và cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.121 km về phía nam; phíabắc giáp tỉnh Quảng Bình, phía nam giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế, phía đônggiáp biển Đông và phía tây giáp nước CHDC nhân dân Lào
Tỉnh Quảng Trị được tái lập vào ngày 01/7/1989 sau khi chia tách tỉnhBình - Trị - Thiên Sau nhiều lần điều chỉnh địa giới hành chính, hiện nay tỉnhQuảng Trị có 10 đơn vị hành chính (gồm hai thị xã Đông Hà, Quảng Trị và 8huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Triệu Phong, Hải Lăng, Cam Lộ, Đăkrông,Hướng Hoá và huyện đảo Cồn Cỏ); diện tích tự nhiên 4.745,77 km2, dân sốtính đến 31/12/2005 là 628.954 người (bằng 0,76 % dân số cả nước)
- Về địa hình: có độ cao giảm dần từ tây sang đông với những vùng đặc
trưng khác biệt: vùng núi, vùng gò đồi, vùng đồng bằng và vùng cát ven biển
Vùng địa hình đồi núi: phân bố chủ yếu phía tây và chiếm gần 78% diện
tích toàn tỉnh Gồm 2 tiểu địa hình:
Tiểu địa hình vùng núi Trường Sơn: có độ dốc lớn, bị chia cắt mạnh bởicác sông suối và thung lũng hẹp Tiểu vùng này thích hợp phát triển lâmnghiệp và nông lâm kết hợp Đáng chú ý khu vực đỉnh Trường Sơn tương đốibằng phẳng, đất đỏ Bazan rất thích hợp trồng cây công nghiệp như cà phê.Tiểu địa hình vùng gò đồi, núi thấp: bao gồm các đồi bát úp và các dãyđồi thoải có độ cao từ 20-700 mét, độ dốc từ 8o-300, thích hợp phát triển các
Trang 32loại cây công nghiệp lâu năm như cao su, hồ tiêu, cây ăn quả, trồng rừng kinh
tế và chăn nuôi gia súc Đây là vùng còn nhiều tiềm năng khai thác phát triển
Vùng đồng bằng ven biển: là vùng có mật độ dân cư tập trung cao, kinh
tế phát triển mạnh nhất tỉnh Ở đây có 2 tiểu địa hình:
Tiểu địa hình đồng bằng phù sa: phân bố ven các con sông, nằm kẹp giữavùng gò đồi phía tây và vùng cát ven biển Đây là vùng trồng cây lương thựcchủ yếu của tỉnh
Tiểu địa hình cồn cát: thường tạo thành giải song song với bờ biển Đây
là loại đất nghèo kiệt dinh dưỡng, phần lớn được trồng các loại cây lâm nghiệp,phòng hộ ven biển và lấy chất đốt Tuy vậy, cùng với sự phát triển của khoa học
- công nghệ, vùng đất này có tiềm năng phát triển trong tương lai
- Về khí hậu: Quảng Trị có khí hậu khá khắc nghiệt: mùa mưa thường
kèm theo gió bão, lượng mưa tập trung cao dễ gây ngập lụt cho các khu vựcthấp trũng; mùa khô có gió tây-nam khô nóng dẫn tới hạn hán gay gắt, ảnhhưởng đến sản xuất và đời sống Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố bất lợi,chế độ khí hậu Quảng Trị cũng có những thuận lợi khá cơ bản: nền nhiệttrung bình tương đối cao, đảm bảo cho phát triển sản xuất nhiều vụ cây trồngngắn ngày năng suất cao; có các tiểu vùng khí hậu theo độ cao địa hình, thíchhợp cho phát triển một cơ cấu nông nghiệp đa dạng
2.1.2.Tài nguyên thiên nhiên
- Về tài nguyên đất đai: Thổ nhưỡng rất đa dạng, thích hợp cho nhiều loại
cây trồng khác nhau Sau đây là những nhóm đất chủ yếu, chiếm diện tích lớn:
Đất phù sa: 40.492 ha, phân bố ven các sông Thạch Hãn, Bến Hải, Ô
Lâu và các sông suối khác, thích hợp với các loại cây lương thực
Đất đỏ vàng: chiếm phần lớn diện tích toàn tỉnh với tổng số 357.191 ha,
trong đó có 20.074 ha đất đỏ bazan có tầng dày tơi xốp thích hợp với các loạicây công nghiệp giá trị kinh tế cao như cà phê, hồ tiêu, cao su
Nhóm bãi cát, cồn cát và đất cát ven biển: tổng diện tích 34.732 ha,
chiếm 7,3% diện tích tự nhiên toàn tỉnh
Trang 33Đất nhiễm mặn: diện tích 1.339 ha, thích hợp cho nuôi trồng thuỷ sản.
Trong tổng số 474.415 ha diện tích đất tự nhiên, đất sử dụng cho mụcđích nông nghiệp 270.155 ha (chiếm 56,94%), đất phi nông nghiệp 40.696 ha(chiếm 8,64%) và đất chưa sử dụng 163.564 ha (chiếm 34,42%) Tài nguyênđất đai Quảng Trị tuy có hạn chế về độ màu mỡ, tầng dầy nhưng nếu đượcđầu tư, sử dụng hợp lý thì khả năng mở rộng diện tích cho phát triển nông,lâm, ngư nghiệp vẫn còn tiềm năng đáng kể
- Về tài nguyên rừng:
Toàn tỉnh hiện có 110.365 ha rừng tự nhiên, với tổng trữ lượng gỗ10,853 triệu m3 Tuy nhiên, do yêu cầu phòng hộ cao nên khối lượng gỗ khaithác từ rừng tự nhiên rất hạn chế, mỗi năm chỉ khai thác khoảng 2.000 m3 Xuhướng sắp tới sẽ đóng cửa rừng, cấm khai thác gỗ rừng tự nhiên
Toàn tỉnh hiện có 68.511 ha rừng trồng, trong đó rừng kinh doanh 58.480
ha, hàng năm khai thác khoảng 80.000-100.000 m3 gỗ nguyên liệu, chủ yếu là
gỗ keo, bạch đàn, tràm hoa vàng làm nguyên liệu giấy và ván ép
- Về tài nguyên thuỷ sản:
Quảng Trị có bờ biển dài 75 km, ngư trường rộng lớn, trữ lượng hải sảnkhoảng 60.000 tấn, trong đó đặc sản có giá trị kinh tế cao (tôm hùm, mựcnang, mực ống, cá chim, cá thu, cá ngừ, hải sâm ) chiếm 11% Tổng trữlượng cho phép khai thác hàng năm khoảng 13.000-18.000 tấn
Tiềm năng nuôi trồng thuỷ sản khá lớn Diện tích mặt nước, đất nhiễmmặn, ruộng lúa bạc màu, sông cụt, bãi bồi, vùng cát ven biển bãi ngang…cóthể đưa vào nuôi trồng thuỷ sản lên đến 14.000 ha
- Về tài nguyên khoáng sản:
Tài nguyên khoáng sản tương đối đa dạng Sau đây là một số khoáng sản
có trữ lượng đáp ứng được yêu cầu khai thác kinh tế:
Nhóm khoáng sản cho sản xuất vật liệu xây dựng: Đá vôi có trữ lượng
lớn, chất lượng tốt, phân bố chủ yếu ở Hướng Hoá (3 tỷ tấn), Cam Lộ (420
Trang 34triệu tấn); nguyên liệu phụ gia xi măng (puzolan, sét ximăng, laterit, phụ giacông nghệ…) phân bố nhiều ở Cam Lộ, Hướng Hoá, Hải Lăng, Gio Linh,Vĩnh Linh, rất thuận lợi cho khai thác Đá xây dựng rất phong phú với 12điểm mỏ với tổng trữ lượng khoảng 24 triệu m3 Đất sét tập trung nhiều ởVĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, Triệu Phong, Hải Lăng thuận lợi cho sản xuấtgạch ngói, gốm sứ xây dựng
Nhóm khoáng sản khác: Titan có trữ lượng khoảng 900.000 tấn, phân bố
chủ yếu ở vùng cát ven biển Vĩnh Linh, Gio Linh Cát công nghiệp có tổngtrữ lượng khoảng 124 triệu tấn, chất lượng tốt, có thể đầu tư khai thác để sửdụng trong nước và xuất khẩu Than bùn phân bố ở Hải Lăng, Gio Linh cótriển vọng trong việc sản xuất phân vi sinh Nước khoáng nóng tại Đăkrông
có khả năng khai thác sản xuất nước khoáng và phục vụ du lịch, nghỉ dưỡng
- Về tài nguyên nước và nguồn thuỷ năng:
Quảng Trị có 3 hệ thống sông chính: Thạch Hãn, Bến Hải và Ô Lâu vớitổng diện tích lưu vực khoảng 4.610 km2
Đặc điểm các sông ngòi Quảng Trị là ngắn và dốc Do đặc điểm trênnên vào mùa mưa lũ thường gây ngập lụt cục bộ ở vùng hạ du, khô hạn vàthiếu nước vào mùa hè Những năm gần đây, thực hiện chủ trương pháttriển nông nghiệp - nông thôn, nhiều công trình thuỷ lợi được xây dựngcùng với việc thực hiện trồng rừng có hiệu quả, độ che phủ rừng đạt trên37,69% diện tích toàn tỉnh nên đã hạn chế được tình trạng hạn hán, lũ lụtthường xuyên xảy ra
Do có nhiều sông suối độ dốc lớn, lượng mưa hàng năm cao nên tiềmnăng thuỷ điện khá phong phú Theo khảo sát đánh giá bước đầu, Quảng Trị
có 15 điểm thuỷ điện quy mô nhỏ công suất từ 1-15 MW với tổng công suất74,4 MW, cùng với công trình thuỷ điện Quảng Trị quy mô công suất 64 MWđang xây dựng, tiềm năng thuỷ điện có thể khai thác kinh tế đạt 138,4 MW,sản lượng điện hàng năm 522 triệu kwh (Phụ lục 6)
Trang 352.1.3 Nguồn nhân lực
Tính đến 31/12/2005 dân số tỉnh Quảng Trị là 628.954 người, trong đónông thôn là 474.698 người, chiếm 75,47% dân số Cộng đồng dân cư gồm có
ba dân tộc chính là Kinh, Vân Kiều và Pa Kô, trong đó người Vân Kiều và Pa
Kô chiếm khoảng 10% dân số
Thế mạnh cơ bản của nguồn nhân lực là số lượng khá lớn, tỷ lệ biết chữcao, cơ cấu nguồn nhân lực tương đối trẻ Tỷ lệ lao động trẻ cao, nhiều khátvọng, ham hiểu biết, dể dàng tiếp thu các kỹ năng và kiến thức mới là một lợithế cần phát huy để phục vụ các mục tiêu phát triển
Tuy vậy, chất lượng lao động còn nhiều hạn chế, nổi bật nhất là:
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề còn thấp, đội ngũ lao động chất xám còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng Đến năm 2005, tỷ lệ lao động qua
đào tạo nghề đạt thấp 16,8%, còn 83,2% lực lượng lao động chưa qua đào tạo;
tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị năm 2004 là 6,42%, tỷ lệ thời gian lao động được
sử dụng ở khu vực nông thôn mới đạt 75,24% [8]
- Tác phong và kỹ luật lao động công nghiệp thấp Đại bộ phận người lao
động xuất thân từ nông nghiệp nông thôn, mang nặng tác phong sản xuất nhỏ,tuỳ tiện về giờ giấc và hành vi, chưa có ý thức về kỹ luật lao động, chưa cókhả năng làm việc theo nhóm và khả năng hợp tác, ngại phát huy sáng kiến cánhân và chia sẽ kinh nghiệm
- Môi trường thu hút lao động còn nhiều hạn chế Một vấn đề cần quan
tâm là hiện tượng nguồn nhân lực được đào tạo cơ bản, có chất lượng caođang đổ về các thành phố lớn diễn ra rất trầm trọng, làm cho số lượng nguồnnhân lực có kỹ năng của tỉnh đã thiếu càng khó có điều kiện được bổ sung Những hạn chế về chất lượng nguồn lực lao động không dễ khắc phụctrong một thời gian ngắn Vì vậy, vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lựcngày càng trở nên cấp bách trong điều kiện tỉnh đang tập trung nỗ lực pháttriển kinh tế - xã hội, phấn đấu tiến kịp các vùng miền trong cả nước và thamgia hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 362.1.4 Vốn đầu tư và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
Vốn đầu tư toàn xã hội tăng nhanh, giai đoạn 1996-2005 đạt 7.530 tỷđồng (trong đó giai đoạn 1996-2000 đạt 1.930 tỷ đồng, giai đoạn 2001-2005đạt 5.600 tỷ đồng) Năm 1995, vốn đầu tư toàn xã hội là 229,7 tỷ đồng, đếnnăm 2005 đạt 1.600 tỷ đồng, tăng bình quân 21,4% /năm [Phụ lục 1]
Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhưng có xuhướng giảm dần, từ 65,4% năm 1996 giảm xuống 44,9% năm 2005; vốn đầu
tư của doanh nghiệp, dân cư và vốn tín dụng đầu tư tăng từ 27,5% lên 40,8%trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội Vốn đầu tư tăng nhanh, tạo khả năng đầu tưphát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
Hệ thống giao thông khá thuận lợi Các tuyến giao thông huyết mạch nhưquốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, quốc lộ 9, đường sắt bắc-nam nối Quảng Trịvới các vùng trong cả nước và với Lào, Thái Lan được hoàn thành, tạo điềukiện mở rộng giao lưu kinh tế đối ngoại; hệ thống giao thông nội tỉnh kháhoàn chỉnh, đến nay đã có 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã
Hệ thống thuỷ lợi đảm bảo tưới tiêu chủ động cho phần lớn diện tích đấttrồng lúa với 37.000 ha lúa đông xuân và hè thu, ngăn mặn và chống lũ tiểumãn cho 10.000 ha
Toàn tỉnh đã có 100% số xã, phường, thị trấn có điện lưới quốc gia, tỷ lệ
hộ dùng điện đạt trên 90% Hệ thống cung cấp nước sạch đã và đang đượcđầu tư xây dựng ở tất cả các thị xã, thị trấn; công suất các nhà máy nước đạt45.000 m3/ngày đêm, cơ bản đáp ứng nhu cầu nước sạch cho sinh hoạt củanhân dân các đô thị và sản xuất của các cơ sở công nghiệp
2.1.5 Những kết quả phát triển kinh tế qua 2 kế hoạch 5 năm
Bằng ý chí tự lực tự cường, được sự giúp đỡ to lớn của Trung ương, củabạn bè trong và ngoài nước, Quảng Trị đã từng bước khắc phục khó khăn, xâydựng lại quê hương, bộ mặt kinh tế - xã hội của tỉnh đã có nhiều khởi sắc Sauđây là những kết quả phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh qua hai kỳ thực hiện
kế hoạch 5 năm (1996-2000 và 2001-2005)
Trang 37Nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân thời kỳ 1996-2005 là 8,6 %/năm,
cao hơn trung bình của cả nước Trong đó, nhóm ngành công nghiệp-xâydựng có tốc độ tăng cao nhất (19,5%/năm), khu vực nông-lâm-ngư nghiệptăng 6,5%/năm và khu vực dịch vụ tăng 6,5%/năm Quy mô kinh tế của tỉnh
đã có bước phát triển khá, tổng sản phẩm quốc nội (theo giá so sánh năm1994) trong thời kỳ này tăng 2,3 lần, từ 792.802 triệu đồng năm 1995 tăng lên1.811.846 triệu đồng năm 2005 (Bảng 2.1)
Bảng 2.1: Tổng sản phẩm quốc nội phân theo khu vực kinh tế và tốc độ
tăng trưởng bình quân các ngành thời kỳ 1996-2005
Đơn vị tính: Triệu đồng ( theo giá cố định năm 1994)
Nông nghiệp Công nghiệp,
xây dựng Dịch vụ Giá trị
(tr.đ)
Tốc độ tăng (%)
Giá trị (tr.đ)
Tốc độ tăng (%)
Giá trị (tr.đ)
Tốc độ tăng (%)
Nguồn: Niên giám thống kê Quảng Trị các năm từ 1995-2005.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp
- xây dựng, giảm tỷ trọng nông nghiệp và ổn định tỷ trọng dịch vụ Năm 1996,
cơ cấu nông nghiệp - công nghiệp, xây dựng-dịch vụ là 50,4% - 11,1% - 38,5%;đến năm 2005 tỷ lệ tương ứng là 36,0% - 25,6% - 38,4% (Bảng 2.2)
Cơ cấu kinh tế tuy có sự chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiệnđại hoá nhưng nhìn chung tỷ lệ nông, lâm, ngư nghiệp còn lớn, thể hiện trình
Trang 38độ phát triển thấp và lạc hậu Tuy vậy, so với sự phát triển chung của cả vùngmiền Trung, ngành công nghiệp-xây dựng Quảng Trị có tốc độ tăng trưởngmạnh Năm 2000 tỷ trọng công nghiệp-xây dựng chiếm 15,1%, bằng 1/2 mứctrung bình của vùng Trung bộ (30,0%), thuộc tỉnh có tỷ trọng công nghiệp-xây dựng trong cơ cấu kinh tế thấp nhất khu vực miền Trung và Tây nguyên;đến năm 2005, tỷ trọng công nghiệp-xây dựng chiếm 25,6%, bằng 69,8% mứctrung bình toàn vùng (36,7%) (Phụ lục 2).
Bảng 2.2: Tổng sản phẩm phân theo khu vực kinh tế và tỷ trọng
(tr.đ)
Tỷ lệ (%)
Giá trị (tr.đ)
Tỷ lệ (%)
Giá trị (tr.đ)
Tỷ lệ (%)
Nguồn: Niên giám thống kê Quảng Trị các năm từ 1995-2005.
2.1.6 Đánh giá chung những thuận lợi và khó khăn chủ yếu về tự nhiên, kinh tế, xã hội đối với phát triển công nghiệp tỉnh Quảng Trị
- Quảng Trị là địa phương có nhiều tiềm năng phát triển trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực:
Quảng Trị nằm trên các tuyến giao thông huyết mạch Bắc - Nam, tuyếnhành lang kinh tế Đông - Tây; đồng thời tiếp giáp khu kinh tế trọng điểmmiền Trung, một khu vực phát triển nhanh, năng động Vị trí chiến lược này
Trang 39tạo thuận lợi giao lưu kinh tế với trong nước và quốc tế, đặc biệt là hợp táckinh tế khu vực ASEAN, nhất là với Thái Lan, Lào, thuận lợi cho phát triểncông nghiệp hướng về xuất khẩu và thu hút đầu tư
Quảng Trị có nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn nguyên liệu từnông, lâm, thuỷ sản khá phong phú, có thể khai thác để phát triển sản xuất vậtliệu xây dựng (xi măng, gạch ngói, đá, cát sỏi ) và phát triển công nghiệpchế biến nông, lâm, thuỷ sản; ngoài ra, tiềm năng thuỷ điện và các nguồn tàinguyên khoáng sản khác như nước khoáng nóng, titan, cát thủy tinh cũng làmột nguồn lực đáng kể cần tập trung khai thác phát triển
Nguồn lao động sẵn có với lợi thế về chi phí lao động rẻ là điều kiện để
mở rộng các ngành các ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động như maymặc xuất khẩu, giày da
- Mặt khác, Quảng Trị cũng gặp phải nhiều hạn chế, đó là:
Tài nguyên thiên nhiên nói chung là kém thuận lợi so với các vùng khác.Quảng Trị nằm trong vùng chịu nhiều gió bão, hạn hán, gây khó khăn cho sảnxuất nông nghiệp và đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản
Quy mô nền kinh tế còn nhỏ bé, trình độ phát triển thấp, tích luỹ từ nội
bộ nền kinh tế thấp; các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế tư nhân chưa pháttriển, sức cạnh tranh hàng hoá yếu; môi trường thu hút đầu tư còn kém hấpdẫn Cơ sở hạ tầng còn nhiều yếu kém
Nguồn vốn đầu tư chủ yếu dựa vào bên ngoài, nên có nhiều hạn chếtrong việc bố trí cơ cấu đầu tư, bị co kéo bởi nhiều nhu cầu bức bách
Trình độ nguồn nhân lực chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển cácngành kinh tế, đặc biệt là khu vực công nghiệp và dịch vụ
Bên cạnh hạn chế về điều kiện tự nhiên, xã hội, Quảng Trị còn có nhữnghạn chế về năng lực thể chế, về năng lực của chính quyền địa phương Quátrình triển khai các cơ chế chính sách chậm được đổi mới đang là những trởngại cho quá trình phát triển
Trang 402.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TỈNH QUẢNG TRỊ GIAI ĐOẠN 1995-2005
2.2.1.Quá trình hình thành và phát triển công nghiệp Quảng Trị
- Giai đoạn tỉnh Bình-Trị-Thiên (từ 30/4/1975 đến 30/6/1989):
Trước năm 1945, Quảng Trị đã có nhiều ngành nghề tiểu thủ côngnghiệp: chế biến bún, bánh, dệt vải, tơ tằm, giấy, muối, đồ mộc, đóng thuyền,dệt lưới, chế biến thuỷ sản, nón lá đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tại chổ
Cuộc chiến tranh tàn khốc kéo dài 30 năm đã để lại Quảng Trị một hậuquả vô cùng nặng nề: toàn bộ các thị xã, thị trấn và hơn 90% làng mạc bị sanphẳng, cơ sở vật chất kỹ thuật và hạ tầng kiến trúc bị huỷ hoại nghiêm trọng.Sau chiến tranh, người dân Quảng Trị phiêu bạt trên mọi miền Tổ quốc trở lạixây dựng quê hương trên đống tro tàn đổ nát, tài sản không có gì đáng kể, giatài chỉ vẻn vẹn đôi quang gánh trên vai, với mảnh đất trơ trụi và đầy bom đạn,dây thép gai Đời sống nhân dân vô cùng khó khăn, thiếu thốn nhiều mặt Sau ngày giải phóng, tỉnh Bình - Trị - Thiên được thành lập, mở đầu chothời kỳ mới, thời kỳ cải tạo XHCH và xây dựng chế độ mới Thời gian này,hầu hết các địa phương trong tỉnh đã tạo được bước chuyển mạnh mẽ trongviệc xây dựng cơ sở vật chất, thực hiện cải tạo quan hệ sản xuất cũ, củng cố
và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới XHCN
Ngành công nghiệp được chú ý khôi phục và phát triển, nhưng do điềukiện lúc đó Quảng Trị chỉ là đơn vị trực thuộc tỉnh Bình-Trị-Thiên, với quy
mô hành chính cấp huyện nên việc đầu tư cho phát triển bị hạn chế Mặt khác,công nghiệp Quảng Trị thời kỳ này nằm trong bối cảnh chung của cả nước,chịu tác động mạnh mẽ của cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung quan liêubao cấp, hiệu quả kinh tế thấp Các ngành nghề truyền thống tuy được chú ýphục hồi nhưng quy mô nhỏ bé, cơ sở vật chất nghèo nàn lạc hậu, manh mún.Đến ngày tái lập tỉnh (7/1989), cả tỉnh chỉ có 35 doanh nghiệp côngnghiệp quy mô nhỏ do địa phương quản lý với 2.677 lao động (8 cơ sở chế