NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀOTẠO HỌC VIỆN NGÂN HÀNG ---^^--- Nguyên Thị Thanh Huyên QUẢN LÝ DANH MỤC TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP THEO MỨC Độ RỦI RO KHÁCH HÀNG TẠI NGÂN HÀNG TM
Trang 1NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG -^^ -
Nguyên Thị Thanh Huyên
QUẢN LÝ DANH MỤC TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP THEO MỨC ĐỌ RỦI RO KHÁCH HÀNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Hà Nội, năm 2010
Trang 2NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO
TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG -^^ -
Nguyên Thị Thanh Huyên
QUẢN LÝ DANH MỤC TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP THEO MỨC Độ RỦI RO KHÁCH HÀNG TẠI
NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế Tài chính- Ngân hàng
Mã số : 60 31 12
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Hồng Hạnh
Hà Nội,năm 2010
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu đãnêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, kết quả của luận văn là trung thực và chưađược ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Huyền
Trang 4Viet tắt Nội dung
NHNT Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
Trang 5Bảng Nội dung Trang
Tã So sánh phân bổ nguồn lực quản lý RRTD giữa NHTM Việt
Nam và thế giới
^23
Nội dung các văn bản của NHNN liên quan đến hoạt động
đánh giá khách hàng cũng như quản lý danh mục tín dụng tại
các NHTM
H
TT Bảng xếp hạng, phân loại nợ đối với doanh nghiệp thông
thường
18
TT Ngành nghề kinh doanh 20 khách hàng dư nợ lớn nhất
TT Tình hình quan hệ tín dụng theo loại hình doanh nghiệp 2009 lĩ
TT Ngành nghề kinh doanh của 20 KH DN có dư nợ xấu lớn nhất
31/12/2009
16
DANH MỤC BẢNG, BIEU ĐỒ, SƠ ĐỒ
1 Bảng
Trang 6Biểu Nội dung Trang
~ĩã Tỷ trọng dư nợ tín dụng DN theo ngành kinh tê 31/12/2009 lõ
H Tỷ trọng dư nợ theo loại hình doanh nghiệp từ 2004- 2008 12
H Tỷ trọng dư nợ và số lượng KH doanh nghiệp theo khu vực đầu
H Phân loại rủi ro tín dụng
2 Biểu đồ
3 Sơ đồ
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu của đề tài 2
Chương 1: CƠ SỞ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DANH MỤC TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP THEO MỨC ĐỘ RỦI RO KHÁCH HÀNG TẠI NHTM 3
1.1 Rủi ro tín dụng trong NHTM 3
1.1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng của NHTM 3
1.1.2 Phân loại rủi ro tín dụng 3
1.2 Danh mục tín dụng và quản lý danh mục tín dụng doanh nghiệp theo mức độ rủi ro khách hàng tại NHTM 5
1.2.1 Danh mục tín dụng 5
1.2.2 Đánh giá mức độ rủi ro tín dụng của khách hàng doanh nghiệp tại NHTM 6
1.2.3 Quản lý danh mục tín dụng doanh nghiệp theo mức độ rủi ro của khách hàng. 17 1.3 Bài học kinh nghiệm về quản lý danh mục tín dụng theo mức độ rủi ro khách hàng của một số NHTM và To chức trên thế giới 29
1.3.1 Kinh nghiệm của ngân hàng Nhật Bản 29
1.3.2 Kinh nghiệm của các ngân hàng Mỹ 30
1.3.3 Kinh nghiệm xếp hạng tín dụng doanhnghiệp của các tổchức xếp hạng 31
1.3.4 Bài học rút ra từ kinh nghiệm của cácngânhàng vàtổ chứctrênthế giới 33
KÉT LUẬN CHƯƠNG 1 35
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DANH MỤC TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP THEO MỨC ĐỘ RỦI RO KHÁCH HÀNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VN 36
2.1 Khái quát hoạt động tín dụng và quản lý hoạt động tín dụng của NHNT 36
2.1.1 Khái quát quá trình hình thành phát triển 36
2.1.2 Kết quả quản lý hoạt động tín dụng của NHNT từ 2004 đến 2009 37
2.2 Các quy định về quản lý DMTD theo mức độ rủi ro khách hàng doanh nghiệp tại NHNT 39
2.2.1 Các quy định về quản lý rủi ro tín dụng 39
2.2.2 Các quy định cụ thể liên quan đến quản lý danh mục tín dụng doanh nghiệp theo mức độ rủi ro khách hàng 47
Trang 82.3 Thực trạng quản lý danh mục tín dụng doanh nghiệp theo mức độ rủi ro khách
hàng của NHNT 50
2.3.1 Hoạt động đánh giá xếp hạng và phân loại nhóm rủi ro khách hàng doanh nghiệp tại NHNT 50
2.3.2 Tình hình danh mục tín dụng doanh nghiệp của NHNT từ 2004-2009 59
2.3.3 Hoạt động quản lý danh mục tín dụng doanh nghiệp theo độ rủi ro khách hàng tại NHNT 69
2.4 Đánh giá chung về hoạt động quản lý danh mục tín dụng doanh nghiệp theo mức độ rủi ro khách hàng tại NHNT 72
2.4.1 Kết quả đạt được 72
2.4.2 Hạn chế 73
2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 74
KÉT LUẬN CHƯƠNG 2 79
Chương 3: GIẢI PHÁP VỀ QUẢN LÝ DANH MỤC TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP THEO MỨC ĐỘ RỦI RO KHÁCH HÀNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 80
3.1 Định hướng hoạt động quản lý DMTD tại NHNT trong thời gian tới 80
3.1.1 Định hướng hoạt động tín dụng của ngành ngân hàng 80
3.1.2 Định hướng hoạt động tín dụng nói chung và quản lý danh mục tín dụng nói riêng của NHNT 80
3.2 Giải pháp về quản lý danh mục tín dụng doanh nghiệp theo mức độ rủi ro khách hàng tại NHTMCP ngoại thương Việt Nam 81
3.2.1 Coi quản lý danh mục đầu tư tín dụng là nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động tín dụng 81
3.2.2 Hoàn thiện hệ thống chính sách quy định về quản lýdanh mụctíndụng 82
3.2.3 Chuẩn hóa hệ thống đánh giá xếp hạng khách hàngdoanh nghiệpnội bộ 86
3.2.4 Phát triển các kỹ thuật, mô hình phân tích đánh giádanh mụctíndụng 88
3.2.5 Tăng cường công tác cung cấp thông tin 92
3.2.6 Tăng cường công tác kiểm tra kiểm soát định kỳ vớicác khoảnvay 95
3.2.7 Tăng cường công tác khách hàng 96
3.2.8 Đầu tư phát triển nguồn nhân lực 97
3.3 Kiến nghị 98
3.3.2 Đối với Ngân hàng nhà nước 98
3.3.3 Đối với chính phủ 104
KÉT LUẬN CHƯƠNG 3 106
KẾT LUẬN 107
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết đề tài
Với xu thế phát triển chung của thị trường tài chính và các Ngân hàng thươngmại (NHTM) nói riêng, nhiều sản phẩm tài chính và dịch vụ ngân hàng đã ra đời bêncạnh các sản phẩm truyền thống Tuy nhiên, dù sự xuất hiện của các sản phẩm dịch
vụ mới lớn đến đâu thì sản phẩm tín dụng vẫn là sản phẩm có tỷ trọng cao nhất và làđặc trưng của một NHTM Bên cạnh đó, với sự phát triển phức tạp của các loại hìnhdịch vụ tài chính, sự đa dạng hoá trong danh mục sản phẩm cho vay thì rủi ro tíndụng cũng từ đó tăng lên Rủi ro tín dụng tồn tại dưới nhiều hình thức do nhiềunguyên nhân khác nhau, trong đó, một nguyên nhân cơ bản là việc phân bổ tín dụngkhông hợp lý và đánh giá không đầy đủ rủi ro của khách hàng vay, đặc biệt là kháchhàng doanh nghiệp, dẫn đến khi rủi ro xảy ra, NHTM sẽ phải gánh chịu những tổnthất lớn Cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ việc tập trung tín dụng cho mộtnhóm đối tượng khách hàng rủi ro cao tại Mỹ từ năm 2007 là một minh chứng chotình trạng này đòi hỏi các NHTM cần đánh giá lại cơ cấu tín dụng của mình
Tại Việt Nam hiện nay, vấn đề rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanhnghiệp cũng đã được đề cập đến nhiều và đưa ra các giải pháp Bên cạnh đó, cácNHTM cũng đã bắt đầu tập trung vào việc xây dựng hệ thống chấm điểm tín dụng,phân loại rủi ro khách hàng Tuy nhiên, do mức độ phức tạp trong vấn đề đánh giátoàn diện khách hàng và công tác quản lý, để đưa ra một giải pháp toàn diện về quản
lý danh mục tín dụng trên cơ sở đo lường độ rủi ro của khách hàng vẫn còn là mộtvấn đề bỏ ngỏ
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (NHNT) là một trong nhữngNHTM hàng đầu tại Việt Nam với dịch vụ cung cấp cho khách hàng doanh nghiệp
là chủ yếu Trong hoàn cảnh mới tiến hành cổ phần hóa, để nâng cao chất lượng hoạtđộng thì việc tăng cường công tác đánh giá khách hàng, đánh giá danh mục tín dụngdoanh nghiệp với NHNT càng có ý nghĩa quan trọng
Đề tài “Quản lý danh mục tín dụng doanh nghiệp theo mức độ rủi ro của
khách hàng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam ” xuất phát từ những vấn
đề nêu trên
Trang 102 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu các nội dung lý luận liên quan đến quản lý danh mục tín dụngtrên cơ sở đánh giá độ rủi ro của khách hàng; Tìm hiểu kinh nghiệm của một sốngân hàng trên thế giới và rút ra bài học kinh nghiệm
- Nghiên cứu thực trạng quản lý danh mục tín dụng, đánh giá rủi ro khách hàngdoanh nghiệp tại NH TMCP Ngoại thương Việt Nam
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý danh mục tín dụngtheo khách hàng tại NHNT
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Các vấn đề lý luận về: Đánh giá rủi ro của khách hàng, Quản lý danh mục tíndụng Nghiên cứu kinh nghiệm của các ngân hàng và tổ chức trên thế giới
- Hoạt động quản lý danh mục tín dụng theo đối tượng khách hàng doanhnghiệp tại NH TMCP Ngoại thương Việt Nam từ năm 2003 đến 2010, tập trungvào phân tích chính sách và tổ chức hoạt động quản lý tại ngân hàng
4 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩaMác - Lênin để nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn
- Kết hợp các phương pháp điều tra, khảo sát, phân tích tổng hợp, thống kê đểđánh giá tình hình thực tế
- Sử dụng các số liệu, bảng, biểu, sơ đồ, mô hình để minh hoạ, chứng minh vàrút ra các kết luận quan trọng
- Dựa vào lý luận, thực tiễn hoạt động để đề xuất những gợi ý khả thi
5 Ket cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, đề tài được kết cấu thành ba chương
Chương 1: Cơ sở luận về quản lý danh mục tín dụng tín dụng theo mức
độ rủi ro của khách hàng
Chương 2: Thực trạng quản lý danh mục tín dụng doanh nghiệp tại NH
TMCP Ngoại thương VN
Chương 3: Giải pháp về quản lý danh mục tín dụng doanh nghiệp tại NH
TMCP Ngoại thương Việt Nam
Trang 11Chương 1: CƠ SỞ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DANH MỤC TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP THEO
MỨC Độ RỦI RO KHÁCH HÀNG TẠI NHTM
1.1 Rủi ro tín dụng trong NHTM
Hoạt động ngân hàng trong giai đoạn hiện nay ngày càng phát triển theochiều sâu và rộng, thể hiện ở việc mở rộng số lượng và quy mô ngân hàng, đồng thờimức độ đa dạng hóa của các nghiệp vụ và sản phẩm ngày càng tăng lên Tuy vậy,xét một cách tổng quan, nghiệp vụ tín dụng vẫn đang là hoạt động chính mang lạinguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng và cũng là nghiệp vụ có nhiều khả năng phátsinh rủi ro cho ngân hàng Rủi ro tín dụng (RRTD) gắn liền với sự mất mát về mặttài chính, xuất phát từ nhiều nguyên nhân, tạo ra nhiều ảnh hưởng nên vẫn là vấn đềđòi hỏi sự quan tâm của các NHTM
1.1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng của NHTM
Rủi ro tín dụng (RRTD) là rủi ro về sự tổn thất tài chính (trực tiếp hoặc giántiếp) xuất phát từ người đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo camkết với ngân hàng hoặc mất khả năng thanh toán
1.1.2 Phân loại rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng có thể tồn tại dưới nhiều hình thức, xuất phát từ nhiều nguyênnhân và gây ra những tổn thất khác nhau Căn cứ theo các tiêu thức có thể xác địnhrủi ro tín dụng bao gồm các loại rủi ro như sau:
Sơ đồ 1.1: Phân loại rủi ro tín dụng
Trang 12- Rủi ro giao dịch : Là một hình thức RRTD phát sinh là do những hạn chế
trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng Rủi ro giaodịch gồm ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ
J Rủi ro lựa chọn :Là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín
dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn kém hiệu quả để raquyết định cho vay dẫn đến khả năng thu hồi nợ của các khoản vay này thấp
J Rủi ro bảo đảm: Phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản
trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể bảo đảm, cách thứcđảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo
J Rủi ro nghiệp vụ: Là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt
động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật
xử lý các khoản cho vay có vấn đề
- Rủi ro danh mục : Là một hình thức rủi ro tín dụng phát sinh do những hạn
chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng Rủi ro danh mục cũng đượcphân chia thành hai loại căn cứ trên nguồn gốc phát sinh rủi ro bao gồm: rủi ro nộitại và rủi ro tập trung
J Rủi ro nội tại: Là rủi ro xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang
tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế.Rủi ro này xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn củakhách hàng vay vốn Rủi ro sẽ xảy đến với ngân hàng khi có những diễn biếnbất lợi ảnh hưởng đến ngành, lĩnh vực kinh tế đó kéo theo khả năng trả nợcủa các khách hàng liên quan bị hạn chế
J Rủi ro tập trung: Là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều
đối với một số khách hàng, cho vay số lượng lớn doanh nghiệp hoạt độngtrong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhấtđịnh; hoặc cùng một loại hình/ đối tượng cho vay có rủi ro cao Việc tậptrung cho vay như vậy dẫn đến khi có một biến cố tiêu cực xảy ra đối vớinhóm khách hàng mà ngân hàng tập trung cho vay, số lượng các khách hàngkhông có khả năng trả nợ cũng như giá trị nợ không được thanh toán sẽ rấtlớn và trong trường hợp có ảnh hưởng nghiêm trọng sẽ có thể dẫn đến sự sụp
đổ của ngân hàng Nguồn gốc của rủi ro này là do ngân hàng đã không đánhgiá được mức độ hợp lý của cơ cấu dư nợ cho vay đối với khách hàng
Trang 13Trong các loại rủi ro trên, rủi ro giao dịch phát sinh do sự không chặt chẽtrong quy trình và do nguyên nhân chủ quan về mặt đạo đức, năng lực cán bộ Tuynhiên, đối với rủi ro danh mục, nguồn gốc của rủi ro là từ các yếu tố đặc điểm thuộc
về bản thân ngành nghề, khu vực mà ngân hàng đang đầu tư bên cạnh chính sáchquản lý, phân bổ tín dụng của ngân hàng hay nói cách khác, nó phát sinh từ chínhnội tại ngân hàng và cả những yếu tố khách quan bên ngoài Do vậy, việc kiểm soátrủi ro danh mục đòi hỏi ngân hàng phải quan tâm đến nhiều vấn đề hơn, liên quanđến cả công việc thực hiện đánh giá khách hàng và kiểm soát trong quá trình chovay Hơn nữa, để kiểm soát tốt rủi ro danh mục, ngân hàng cần chú trọng đến cảyếu tố chủ quan lẫn yếu tố khách quan từ môi trường
1.2 Danh mục tín dụng và quản lý danh mục tín dụng doanh nghiệp theo
Danh mục tín dụng được định nghĩa là một tập hợp các rủi ro tín dụng phátsinh từ các công cụ tài chính (bao gồm các khoản cấp tín dụng và tài sản tài chínhkhác)
1.2.1.2 Kết cấu của danh mục tín dụng
Một danh mục tín dụng, tuỳ theo tính chất quản lý có thể được kết cấu theomột trong các tiêu chí sau hoặc có sự kết hợp giữa nhiều tiêu chí:
- Theo kỳ hạn cho vay: Các NHTM quản lý các khoản vay theo kỳ hạn, theo
dõi tỷ trọng dư nợ ngắn hạn/ dư nợ trung dài hạn Trong quản lý danh mục tín dụng,ngoài việc quan tâm đánh giá khách hàng thì các quyết định cấp tín dụng theo từng
kỳ hạn cũng rất quan trọng và phụ thuộc vào cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng.Đồng thời, những biến động khó lường của lãi suất thị trường cũng đòi hỏi ngânhàng phải thường xuyên đánh giá cơ cấu để có những điều chính thích hợp nhằmhạn chế rủi ro lãi suất và rủi ro thanh khoản
- Theo loại tiền cho vay: thể hiện ở cơ cấu dư nợ VND/ ngoại tệ Danh mục dư
Trang 14nợ theo lọai tiền chịu ảnh hưởng của cơ cấu ngoại tệ tài sản có- tài sản nợ của ngânhàng, chính sách ngoại hối của ngân hàng nhà nước (NHNN) và bản thân NHTM.
- Theo ngành nghề kinh tế, khu vực địa lý Mỗi ngành nghề kinh tế có những
đặc điểm khác nhau, đồng thời chịu ảnh hưởng của các yếu tố khách quan khácnhau Mỗi biến động của tình hình kinh tế xã hội sẽ ảnh hưởng tích cực đến ngànhnày nhưng lại ảnh hưởng tiêu cực đến ngành khác, đồng thời mức độ ảnh hưởngcũng khác nhau giữa các ngành Ngoài ra, liên quan đến khu vực địa lý, mỗi khuvực sẽ có những đặc điểm kinh tế xã hội và các thế mạnh khác nhau Do đó ngânhàng cần phân bổ hợp lý cơ cấu tín dụng giữa các khu vực, ngành nghề nhằm pháthuy các thế mạnh và hạn chế điểm yếu của khu vực hoặc ngành nghề đó
- Theo mức độ rủi ro của khách hàng (KH): Mức độ rủi ro khách hàng được
đánh giá trên nhiều phương diện, theo từng đối tượng khách hàng khác nhau
K Đối với khách hàng cá nhân, món cho vay thường có giá trị nhỏ phục vụ cho
mục đích tiêu dùng Khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân xuất phát từthiện chí trả nợ- phụ thuộc trình độ, tư cách khách hàng và khả năng tàichính- phụ thuộc giá trị thu nhập và cơ quan công tác Do đó, cơ sở đánh giákhách hàng là các đặc điểm thuộc về độ tuổi, trình độ, nơi công tác của kháchhàng
K Đối với khách hàng doanh nghiệp, yêu cầu đánh giá phụ thuộc nhiều yếu tố
hơn, bao gồm đặc điểm ngành nghề kinh doanh, loại hình kinh doanh, đánhgiá tình hình hoạt động và tài chính của doanh nghiệp, đặc điểm về thịtrường, cạnh tranh cũng như các yếu tố về pháp lý, tình hình kinh tế xã hộiảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp Ngân hàng có thể quản lý danhmục tín dụng căn cứ trên mức độ rủi ro khách hàng trên cơ sở đánh giá nhữngyếu tố liên quan, từ đó đưa ra một cơ cấu danh mục cho vay phù hợp trong đó
có chính sách phân bổ tín dụng cho từng phân hạng khách hàng với mục tiêuhướng vào các khách hàng có xếp hạng tốt
1.2.2 Đánh giá mức độ rủi ro tín dụng của khách hàng doanh nghiệp tại NHTM
1.2.2.1 Đặc điểm của khách hàng doanh nghiệp và rủi ro liên quan
Doanh nghiệp (DN) là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giaodịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đíchthực hiện các hoạt động kinh doanh
Trang 15NHTM phục vụ nhiều đối tượng khách hàng bao gồm khách hàng tổ chức,khách hàng cá nhân nhưng trong đó, đối với hoạt động tín dụng, khách hàng doanhnghiệp là đối tượng khách hàng được quan tâm nhất do dư nợ của đối tượng kháchhàng này chiếm tỷ trọng lớn trong tỷ trọng dư nợ của ngân hàng, đồng thời việc cấptín dụng cho đối tượng khách hàng này cũng phức tạp và đòi hỏi việc đánh giá phêduyệt cẩn trọng hơn Do đó, yêu cầu quản lý rủi ro đối với các khách hàng là doanhnghiệp cũng trở nên cấp thiết hơn so với các đối tượng khách hàng khác Sở dĩ nhưvậy là do khách hàng doanh nghiệp có nhưng đặc trưng sau:
- Khách hàng doanh nghiệp hoạt động dưới hình thức tổ chức, có hoạt độngkinh doanh, có thu nhập chi phí và được điều chỉnh bởi luật doanh nghiệp quy địnhtrong từng giai đoạn
- Hoạt động của khách hàng doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiếu yếu tố: trình độquản lý và môi trường nội bộ của bản thân doanh nghiệp (bao gồm năng lực lãnhđạo, lý lịch tư pháp, kinh nghiệm ), tình hình lịch sử trả nợ và khả năng trả nợ củadoanh nghiệp, tình hình môi trường kinh tế xã hội, các yếu tố pháp lý, mối quan hệvới các đơn vị khác, đặc điểm của sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp.Việc đánh giá, đo lường và dự báo các yếu tố này đòi hỏi khả năng phân tích đánhgiá cao từ phía ngân hàng, chưa tính đến các yếu tố ngoại cảnh có thể biến động bấtthường mà ngân hàng không thể lường trước
- Khách hàng doanh nghiệp có quan hệ tín dụng với ngân hàng thường là giaodịch số tiền lớn, đồng thời khách hàng doanh nghiệp cũng sử dụng nhiều sản phẩmdịch vụ tại ngân hàng Do đó, nêu rủi ro phát sinh cho khách hàng sẽ dẫn đến hậuquả lớn cho ngân hàng
- Rủi ro có thể phát sinh từ bản thân khách hàng hoặc các điều kiện khách quankhác ngoài các yếu tố do nội tại ngân hàng Do đó việc đánh giá đặc điểm, các yếu
tố ảnh hưởng đến rủi ro khách hàng doanh nghiệp là đặc biệt quan trọng Các yếu tốảnh hưởng đến rủi ro đối với doanh nghiệp gồm:
V Trình độ, khả năng quản lý doanh nghiệp
V Trình độ lao động
V Kết quả, lịch sử hoạt động kinh doanh
V Hình thức kinh doanh, hình thức sở hữu
V Ngành nghề kinh doanh: liên quan đến khả năng bán hàng cung cấp dịch vụ,
Trang 16mức độ cạnh tranh
S Khả năng trả nợ của doanh nghiệp
S Lịch sử quan hệ trả nợ của doanh nghiệp với bản thân ngân hàng và các tổ
chức tín dụng khác
S Các yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh
S Quy định, chính sách pháp luật của nhà nước liên quan đến hoạt động kinhdoanh
- Mỗi ngành nghề kinh doanh, loại hình kinh doanh có những đặc điểm khácnhau, do đó ngân hàng cần có sự phân đoạn khách hàng cụ thể và có cơ chế chínhsách riêng cho từng ngành nghề cũng như từng phân đoạn khách hàng
1.2.2.2 Phân loại khách hàng doanh nghiệp được cấp tín dụng tại NHTM
Khách hàng doanh nghiệp tại NHTM được phân loại theo nhiều tiêu chí, chủyếu theo các nhóm sau
- Theo loại hình sở hữu:Loại hình sở hữu là một yếu tố tác động đến hình thức
hoạt động và điều kiện hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt tại Việt Nam, yếu tốnày có ảnh hưởng không nhỏ phụ thuộc vào hình thức sở hữu của doanh nghiệp.Theo tiêu chí này, doanh nghiệp tồn tại dưới các hình thức:
S Doanh nghiệp nhà nước: là doanh nghiệp trong đó nhà nước sở hữu trên 50%vốn điều lệ
S Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: là doanh nghiệp do nhà đầu tư nướcngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam hoặc doanhnghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại
S Doanh nghiệp khác: bao gồm các doanh nghiệp hoạt động dưới hình thứcCông ty cổ phần, Công ty Trách nhiệm hữu hạn, Công ty tư nhân khôngthuộc hai nhóm trên
- Theo ngành nghề kinh doanh: Tại mỗi NHTM, khi tiến hành cho vay cần xác
định được đúng lĩnh vực mà doanh nghiệp đang hoạt động để có các phân tíchchính xác do mỗi ngành nghề chứa đựng những đặc điểm riêng biệt Tùy theo mụctiêu quản lý của mỗi ngân hàng mà việc phân định này có độ cụ thể khác nhaunhưng chủ yếu được xác định theo các ngành cơ bản sau: Sản xuất, Thương mại,Dịch vụ, Xây dựng, Vận tải
- Theo quy mô: Đây cũng là một yếu tố phân loại khách hàng doanh nghiệp.
Trang 17Thông thường, ngân hàng sẽ quản lý khách hàng theo quy mô lớn và quy mô vừa
và nhỏ Quy mô doanh nghiệp ảnh hưởng đến mức độ phức tạp khi đánh giá kháchhàng, do đó với mỗi loại doanh nghiệp này ngân hàng sẽ có chính sách và quy trìnhcho vay riêng biệt
- Theo độ rủi ro: Đây là cách thức phân loại khách hàng có ý nghĩa nhất và
chính xác nhất để làm cơ sở cho việc quyết định tín dụng Ve bản chất, độ rủi rocủa khách hàng cũng đồng thời bao hàm nội dung thành phần kinh tế, quy mô vàngành nghe kinh doanh Tuy nhiên khi đánh giá theo rủi ro khách hàng, ngân hàng
sẽ phải thực hiện đánh giá một cách tổng thể theo nhiều tiêu chí và khi đó, mộtkhách hàng có độ rủi ro cao hay thấp không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố tổng quantheo ngành hay thành phần kinh tế mà phụ thuộc phần lớn vào năng lực và tình hìnhhoạt động của bản thân doanh nghiệp
1.2.2.3 Độ rủi ro của khách hàng doanh nghiệp và tiêu chí đo lường độ rủi ro
Mức độ rủi ro của khách hàng là khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toánkhoản vay của khách hàng Mức độ rủi ro của khách hàng có thể được xác định căn
cứ trên hai phương pháp là định lượng và định tính:
Phương pháp định lượng: Đánh giá rủi ro theo tình hình trả nợ của khách
hàng Theo phương pháp này, căn cứ thời gian quá hạn và số lần cơ cấu lại nợ,khoản vay của khách hàng sẽ được xếp vào nhiều nhóm nợ với mức độ rủi ro khácnhau Nhóm nợ là căn cứ để ngân hàng xác định mức độ rủi ro và là cơ sở tính toántrích lập dự phòng rủi ro tín dụng Phương pháp này đơn giản và được áp dụng vớihầu hết các ngân hàng không có hệ thống cơ sở dữ liệu khách hàng ổn định Tuynhiên phương pháp này chỉ có thể thực hiện sau khi đã thực hiện cho vay kháchhàng và không phục vụ yêu cầu dự báo rủi ro để đánh giá khách hàng trước khi cấptín dụng
Phương pháp định tính: Là phương pháp đánh giá rủi ro căn cứ trên tình hình
hoạt động thực tế của khách hàng, đánh giá dựa trên nhiều yếu tố và tiêu chí Đây làphương pháp đánh giá khách hàng tiên tiến, giúp ngân hàng nhận định và dự báođược rủi ro của khách hàng trước và trong khi cấp tín dụng Sử dụng phương phápnày, ngân hàng không chỉ quan tâm đến tình hình trả nợ thực tế của khách hàng vay
mà còn quan quan tâm đánh giá đền nhiều nội dung khác bao gồm tình hình hoạtđộng của khách hàng cũng như các yếu tố môi trường kinh tế xã hội ảnh hưởng đến
Trang 18hoạt động của khách hàng Việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theophương pháp này sẽ phản ánh chính xác hơn tình hình rủi ro tín dụng của ngânhàng Ngân hàng khi sử dụng phương pháp định tính để đánh giá khách hàng cầnquan tâm đánh giá đến các vấn đề sau:
a Các thông tin phân nhóm khách hàng
Thông tin phân nhóm khách hàng là những thông tin cơ bản nhất về kháchhàng làm căn cứ để nhóm loại khách hàng có những điểm tương đồng và đưa ra cáctiêu chí đánh giá khác nhau giữa các nhóm Các thông tin phân nhóm khách hànggồm:
- Quy mô khách hàng: Được xác định căn cứ trên giá trị tổng tài sản, doanhthu, vốn chủ sở hữu, số lượng lao động Quy mô khách hàng là cơ sở để ngân hàngxây dựng chính sách quan hệ khách hàng
- Loại hình kinh doanh của khách hàng: Thể hiện theo hình thức sở hữu, hìnhthức hoạt động của doanh nghiệp
- Ngành nghề kinh tế của khách hàng: Được xác định là lĩnh vực mà doanhnghiệp hoạt động chính, mang lại thu nhập chủ yếu cho doanh nghiệp
- Mối quan hệ của khách hàng đối với ngân hàng: Thông tin về việc kháchhàng đã từng thiết lập quan hệ tín dụng với ngân hàng hay chưa
b Các chỉ tiêu tài chính
Các chỉ tiêu tài chính nhằm đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp, được thể hiện qua các chỉ tiêu:
- Chỉ tiêu đánh giá cơ cấu vốn/ tài sản (nhóm chỉ tiêu đòn bẩy)
Nhóm chỉ tiêu này phản ánh quy mô nợ so với vốn cổ phần của doanhnghiệp, đồng thời là bằng chứng về khả năng hoàn trả các khoản nợ của doanhnghiệp trong dài hạn, thể hiện qua các chỉ tiêu
V Tỷ số nợ trên tổng tài sản: Tỷ số này càng cao thể hiện doanh nghiệp dựa vào
nguồn vốn đi vay lớn, do đó khả năng thu hồi nợ nếu ngân hàng tiếp tục chovay đối với các doanh nghiệp này càng khó khăn Ngược lại, nếu tỷ lệ nàyquá thấp lại cho thấy doanh nghiệp chưa biết tận dụng nguồn vốn bên ngoài
để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
V Khả năng trả lãi tiền vay: Đây là thước đo chính xác về khả năng thanh toán
lãi nợ vay và khả năng tránh được những khó khăn tài chính trong tương lai
Trang 19của doanh nghiệp.
- Chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán
Nhóm chỉ tiêu này được đánh giá qua các chỉ tiêu cụ thể gồm
S Chỉ tiêu khả năng thanh toán nhanh: Để đo lường khả năng thanh toán tức
thời của doanh nghiệp tức khả năng chuyển tài sản lưu động thành tiền mộtcách nhanh chóng Chỉ tiêu thanh toán tức thời càng cao thì doanh nghiệp cókhả năng trả nợ tức thời càng lớn
S Chỉ tiêu khả năng thanh toán ngắn hạn: Phản ánh khả năng doanh nghiệp
trong việc chuyển đổi tài sản lưu động thành tiền để thanh toán các khoản nợngắn hạn
S Chỉ tiêu vốn lưu động ròng (Tài sản lưu động ngắn hạn - Nợ ngắn hạn): Thểhiện phần tài sản lưu động được tài trợ bằng nguồn vốn có tính chất trung vàdài hạn
- Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động: Thể hiện qua các hệ số vòng quay
Nhóm chỉ tiêu hoạt động đo lường hiệu quả trong việc sử dụng tài sản củadoanh nghiệp Nhìn chung các chỉ tiêu này phản ánh mối tương quan giữa từngnhóm tài sản nhất định (hàng tồn kho, các khoản phải thu, tổng tài sản) với hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp (doanh thu, giá thành hàng hóa, lãi hoạt động).Các chỉ tiêu chi tiết gồm:
S Vòng quay hàng tồn kho: Thể hiện số vòng quay của doanh thu hàng nămtrên hàng tồn kho bình quân Nếu vòng quay hàng tồn kho quá cao có thể dogiá trị hàng tồn kho quá ít và doanh nghiệp có thể không đủ hàng hóa chohoạt động kinh doanh Tuy nhiên nếu chỉ tiêu này quá thấp thì doanh nghiệp
có thể rơi vào tình trạng ứ đọng hàng hóa
S Vòng quay các khoản phải thu: Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc
độ biến đổi các khoản phải thu thành tiền mặt Hệ số này là một thước đoquan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, được tính bằngcách lấy doanh thu trong kỳ chia cho số dư bình quân các khoản phải thutrong kỳ Hệ số vòng quay các khoản phải thu càng lớn chứng tỏ tốc độ thuhồi nợ của doanh nghiệp càng nhanh, khả năng chuyển đổi các khoản nợ phảithu sang tiền mặt cao, giúp cho doanh nghiệp nâng cao luồng tiền mặt, tạo ra
sự chủ động trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất Ngược lại,
Trang 20nếu hệ số này càng thấp thì số tiền của doanh nghiệp bị chiếm dụng ngàycàng nhiều, lượng tiền mặt giảm, làm giảm sự chủ động của doanh nghiệptrong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất.
V Vòng quay tổng tài sản: Là số vòng quay của doanh thu hàng năm trên tổng
tài sản bình quân của doanh nghiệp, phản ánh năng lực của doanh nghiệptrong việc sử dụng tổng tài sản để tạo ra doanh thu So với chỉ tiêu ngành, nếudoanh nghiệp có chỉ tiêu này càng cao thì càng có lợi thế so với các đối thủcạnh tranh khác và ngược lại
- Chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh: Thể hiện thông qua các chỉtiêu về doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận được mô tả trên báo cáo tài chínhcủa doanh nghiệp Mục đích phân tích các chỉ tiêu sinh lời để đánh giá tính hiệuquả trong việc sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để tạo ra lợi nhuận cho các
cổ đông Các chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá bao gồm:
V Tỷ lệ sinh lời trên doanh thu
V Tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu
V Tỷ lệ sinh lời trên tổng tài sản
Với các chỉ tiêu tài chính, không phải cứ chỉ tiêu có giá trị càng cao càng thểhiện doanh nghiệp hoạt động tốt và ngược lại Do vậy, khi đánh giá doanh nghiệp,các ngân hàng phải phân tích trên cơ sở so sánh giá trị chỉ tiêu của doanh nghiệpvới một giá trị chuẩn hợp lý Giá trị chuẩn này đã được các nhà phân tích đưa ratrên căn cứ trên tình hình thực tế của mỗi ngành nghề và tương ứng với mỗi ngànhnghề, chỉ tiêu đánh giá sẽ khác nhau
c Các chỉ tiêu phi tài chính
Chỉ tiêu phi tài chính là các chỉ tiêu liên quan đến tình hình và khả năng hoạtđộng kinh doanh nội tại của khách hàng, các chỉ tiêu có thể tính toán từ các thôngtin tài chính của khách hàng hay các yếu tố môi trường kinh tế xã hội có thể ảnhhưởng đến doanh nghiệp Có thể cụ thể hóa chỉ tiêu tài chính thành các nhóm cơbản sau:
- Nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng: Thông qua các sốliệu về doanh thu, giá trị các khoản nợ phải trả, giá trị khấu hao tài sản cố định đểđánh giá khả năng khách hàng có thể thanh toán các khoản nợ gốc, lãi khi đến hạn
- Nhóm chỉ tiêu đánh giá trình độ quản lý và môi trường nội bộ: Thể hiện ở
Trang 21trình độ đội ngũ quản lý, trình độ của cán bộ, chiến lược kinh doanh của doanhnghiệp
- Nhóm chỉ tiêu đánh giá Quan hệ với ngân hàng: Đánh giá dựa trên lịch sửquan hệ tín dụng với ngân hàng như tình trạng trả nợ, tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn,doanh số tiền thanh toán qua tài khoản tại ngân hàng, mức độ sử dụng dịch vụ tạingân hàng
- Môi trường kinh doanh ảnh hưởng đến ngành nghề hoạt động của doanhnghiệp và bản thân doanh nghiệp bao gồm: mức độ phụ thuộc vào nhà cung cấp, thịtrường đầu vào và đầu ra của sản phẩm, triển vọng của ngành tại thời điểm đánhgiá, các chính sách của nhà nước và diễn biến của tình hình kinh tế xã hội
1.2.2.4 Cách thức đo lường mức độ rủi ro của khách hàng DN
a Sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ
Để đánh giá khách hàng theo phương pháp định tính mang lại hiệu quả, mộtcách thức mà các NHTM lớn sử dụng là xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội
bộ cho mục tiêu chấm điểm đánh giá khách hàng, lưu giữ dữ liệu khách hàng phục
vụ công tác đánh giá, phân tích và quản trị rủi ro
Hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng nội bộ là một quytrình đánh giá khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính của một khách hàng đốivới một ngân hàng Mỗi NHTM tùy thuộc nhu cầu quản lý của mình sẽ xây dựngg
bộ chỉ tiêu chấm điểm riêng, sử dụng các chỉ tiêu đánh giá tài chính và phi tài chínhlàm căn cứ chấm điểm Mức độ rủi ro tín dụng thay đổi theo từng đối tượng kháchhàng và được xác định thông qua quá trình đánh giá bằng thang điểm, dựa vào cácthông tin tài chính và phi tài chính có sẵn của khách hàng tại thời điểm chấm điểmtín dụng và xếp hạng khách hàng Mỗi chỉ tiêu chấm điểm sẽ có các giá trị đánh giátương ứng với các mức điểm và tỷ trọng khác nhau Tổng điểm của khách hàng chotất cả các chỉ tiêu chính là cơ sở để ngân hàng xếp hạng khách hàng
Hệ thống XHTD của NHTM nhằm cung cấp những dự đoán khả năng xảy rarủi ro tín dụng có thể được hiểu là sự khác biệt về mặt kinh tế giữa những gì màngười đi vay hứa thanh toán với những gì mà NHTM thực sự nhận được Hệ thốngXHTD giúp NHTM quản trị rủi ro tín dụng bằng phương pháp tiên tiến, giúp kiểmsoát mức độ tín nhiệm khách hàng, thiết lập mức lãi suất cho vay phù hợp với dựbáo khả năng rủi ro của từng nhóm khách hàng NHTM có thể đánh giá hiệu quả
Trang 22danh mục cho vay thông qua giám sát sự thay đổi dư nợ và phân loại nợ trong từngnhóm khách hàng đã được xếp hạng, qua đó điều chỉnh danh mục theo hướng ưutiên nguồn lực vào những nhóm khách hàng có độ an toàn cao.
Đối với các NHTM, bộ phận thực hiện công tác quản lý rủi ro cần thực hiệnxây dựng hệ thống chấm điểm và xếp hạng tín dụng nội bộ bởi hệ thống xếp hạngnày giúp cho NHTM nhận ra chất lượng tín dụng thực sự của mình và qua đó sẽ cónhững điều chỉnh thích hợp trong quản trị điều hành Hệ thống chấm điểm và xếphạng tín dụng nội bộ là cấu phần quan trọng trong hệ thống quản lý rủi ro đối vớibất kỳ hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng nào Mô hình xếp hạng tín dụng là mộtcông cụ tối ưu nhằm quản lý rủi ro trong quá trình thẩm định và quản lý tín dụng
b Tính toán xác suất không trả được nợ
Bên cạnh hình thức chấm điểm theo thang điểm trong hệ thống xếp hạng tíndụng, ngân hàng còn có thể sử dụng phương pháp tính xác suất không trả được nợ.xếp hạng người đi vay theo phương pháp này dự báo nguy cơ vỡ nợ theo ba cấp độ
cơ bản là nguy hiểm, cảnh báo và an toàn dựa trên xác suất không trả được nợ PD(Probability of Default) Cơ sở của xác suất này là dữ liệu về các khoản nợ quá khứtrong vòng 5 năm trước đó của khách hàng, gồm các khoản nợ đã trả, khoản nợtrong hạn và khoản nợ không thu hồi được
Theo Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng, một phương pháp để xác địnhmức độ rủi ro của khách hàng là các ngân hàng sử dụng mô hình dựa trên hệ thống
dữ liệu nội bộ để xác định khả năng tổn thất tín dụng Các ngân hàng sẽ xác địnhcác biến số gồm:
- PD - Probability of Default: xác suất khách hàng không trả được nợ;
- LGD: Loss Given Default - tỷ trọng tổn thất ước tính;
- EAD: Exposure at Default - tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm kháchhàng không trả được nợ
Thông qua các biến số trên, ngân hàng sẽ xác định được EL: Expected Loss tổn thất có thể ước tính của khoản vay Với mỗi kỳ hạn xác định, tổn thất có thể ướctính được tính toán dựa trên công thức:
-EL = PD x EAD x LGD
Các chỉ tiêu cấu thành trên được đánh giá như sau:
Thứ nhất, PD - xác suất không trả được nợ: Cơ sở của xác suất này là các số
Trang 23liệu về các khoản nợ trong quá khứ của khách hàng, gồm các khoản nợ đã trả, khoản
nợ trong hạn và khoản nợ không thu hồi được Theo yêu cầu của Basel II, để tínhtoán được nợ trong vòng một năm của khách hàng, ngân hàng phải căn cứ vào sốliệu dư nợ của khách hàng trong vòng ít nhất là 5 năm trước đó Những dữ liệu đượcphân theo 3 nhóm sau:
- Nhóm dữ liệu tài chính liên quan đến các hệ số tài chính của khách hàng cũngnhư các đánh giá của các tổ chức xếp hạng
- Nhóm dữ liệu định tính phi tài chính liên quan đến trình độ quản lý, khả năngnghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, các dữ liệu về khả năng tăng trưởng củangành,
- Những dữ liệu mang tính cảnh báo liên quan đến các hiện tượng báo hiệu khảnăng không trả được nợ cho ngân hàng như số dư tiền gửi, hạn mức thấu chi
Từ những dữ liệu trên, ngân hàng nhập vào một mô hình định sẵn, từ đó tínhđược xác xuất không trả được nợ của khách hàng
Thứ hai, EAD: Exposure at Default - tổng dư nợ của khách hàng tại thời
điểm khách hàng không trả được nợ
Thứ ba, LGD: tỷ trọng tổn thất ước tính - đây là tỷ trọng phần vốn bị tổn thất
trên tổng dư nợ tại thời điểm khách hàng không trả được nợ LGD không chỉ baogồm tổn thất về khoản vay mà còn bao gồm các tổn thất khác phát sinh khi kháchhàng không trả được nợ, đó là lãi suất đến hạn nhưng không được thanh toán và cácchi phí hành chính có thể phát sinh
Tỷ trọng tổng thất ước tính có thể tính toán theo công thức sau đây:
LGD = (EAD - Số tiền có thể thu hồi)/EAD.
Trong đó, số tiền có thể thu hồi bao gồm các khoản tiền mà khách hàng trả vàcác khoản tiền thu được từ xử lý tài sản thế chấp, cầm cố Theo nghiên cứu của ủyban Basel, hai yếu tố giữ vai trò quan trọng nhất quyết định khả năng thu hồi vốncủa ngân hàng khi khách hàng không trả được nợ là tài sản bảo đảm của khoản vay
và cơ cấu tài sản của khách hàng
Cơ cấu tài sản của khách hàng là thứ tự ưu tiên trả nợ khác nhau của cáckhoản phải trả trong trường hợp doanh nghiệp phải phá sản Trên thực tế, khi mộtdoanh nghiệp phá sản, tỷ lệ thu hồi vốn từ các khoản vay của ngân hàng thường caohơn tỷ lệ thu hồi vốn từ trái phiếu bởi ngân hàng có quyền được ưu tiên trả nợ trước
Trang 24các nhà đầu tư trái phiếu Bên cạnh đó, khi kinh tế trong tình trạng suy thoái, tỷ lệthu hồi vốn cũng sụt giảm Ngành nghề kinh doanh cũng ảnh hưởng nhất định đến tỷ
lệ thu hồi vốn: các khách hàng hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp nặng thườngcho tỷ lệ thu hồi vốn cao hơn các khách hàng kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ.Hiện nay, tồn tại ba phương pháp chính để tính LGD:
- Market LGD - tỷ trọng tổn thất căn cứ vào thị trường Phương pháp này được
sử dụng khi các khoản tín dụng có thể được mua bán trên thị trường Ngân hàng cóthể xác định tỷ trọng tổn thất của một khoản vay căn cứ vào giá của khoản vay đómột thời gian ngắn sau khi nó được xếp vào hạng không trả được nợ Giá này đượctính trên cơ sở ước tính của thị trường bằng phương pháp chiết khấu về giá trị hiệntại tất cả các dòng tiền có thể thu hồi được của khoản vay trong tương lai
- Workout LGD - tỷ trọng tổn thất căn cứ vào việc xử lý các khoản tín dụngkhông trả được nợ Ngân hàng sẽ ước tính các luồng tiền trong tương lai, khoảngthời gian dự kiến thu hồi được luồng tiền và chiết khấu các luồng tiền này
- Implied Market LGD - xác định tỷ trọng tổn thất căn cứ vào giá các trái phiếurủi ro trên thị trường
Thông qua các biến số LGD, PD và EAD, ngân hàng sẽ xác định được EL tổn thất ước tính của các khoản cho vay khách hàng
-1.2.2.5 Y nghĩa của việc đánh giá mức độ rủi ro tín dụng của khách hàng DN
Việc đánh giá đúng mức độ rủi ro khách hàng giúp cho NH lựa chọn đượckhách hàng tốt để cho vay nhờ đó giảm được rui ro khong thu được nợ, hệ số rủi rogiảm xuống, và tất yếu dẫn đến rủi ro tín dụng giảm Kết quả là hệ số an toàn vốntăng, điều này dẫn đến hình ảnh ngân hàng trở nên đẹp hơn đối với thị trường và các
cơ quan giám sát Với việc xác định mức độ rủi ro của khách hàng hay tổn thất ướctính của một khoản cho vay, ngân hàng sẽ thực hiện được thêm các mục tiêu sau:
- Việc chấm điểm xếp hạng và xác định được tổn thất ước tính, đặc biệt là xácđịnh được PD - xác suất khả năng vỡ nợ của khách hàng sẽ giúp ngân hàng nângcao được chất lượng việc giám sát và tái xếp hạng khách hàng sau khi cho vay
- Các phương pháp đo lường rủi ro khach hàng sẽ giúp ngân hàng xây dựnghiệu quả hơn Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng căn cứ vào mức độ rủi ro chính xác hơn
là sử dụng phương pháp trích lập dự phòng theo tính chất khoản vay (thời gian quáhạn và số lần cơ cấu nợ) Việc ngân hàng xác định được chính xác tổn thất ước tính
Trang 25thì việc trích lập trở nên đơn giản, hiệu quả và chính xác hơn rất nhiều.
- Việc xác định chính xác tổn thất có thể dự tính sẽ giúp ngân hàng xác địnhchính xác được giá trị khoản vay Điều này sẽ phục vụ hiệu quả cho việc thực hiệnquy trình hoán đổi rủi ro tín dụng, hay chứng khoán hóa các khoản vay của cácngân hàng thương mại sau này Đây là một xu thế tất yếu mà các NHTM sẽ hướngtới vì hoán đổi rủi ro tín dụng và chứng khoán hóa chính là những công cụ hiệu quảnhất để san sẻ rủi ro và tạo tính linh hoạt trong quản lý danh mục các khoản chovay của mỗi NHTM
- Giúp ngân hàng tăng cường khả năng quản trị nhân sự, cụ thể là quản trị độingũ cán bộ tín dụng Với cán bộ tín dụng, lương và thưởng thường được dựa vào số
dư nợ, số lượng khách hàng và chất lượng tín dụng Như vậy, việc xác định mứctổn thất ước tính với từng danh mục cho vay của từng cán bộ tín dụng sẽ định lượng
rõ chất lượng tín dụng của từng cán bộ Điều này buộc cán bộ tín dụng phải luôn nỗlực tránh rủi ro
Như vậy, việc xây dựng hệ thống ước tính tổn thất tín dụng dựa trên hệ thống
cơ sở dữ liệu đánh giá chấm điểm khách hàng nội bộ là xu thế tất yếu của các ngânhàng thương mại hiện nay Tuy nhiên, việc tính toán bất kỳ chỉ tiêu nào trong số cácchỉ tiêu đánh giá khách hàng luôn hết sức phức tạp, đòi hỏi ngân hàng phải có một
cơ sở dữ liệu đầy đủ, được lưu trữ khoa học với những chương trình phần mềm xử
lý dữ liệu hiện đại Tất cả những vấn đề trên đều đòi hỏi các ngân hàng thương mạiphải đầu tư nguồn lực về tài chính, con người, thời gian rất khổng lồ và đặc biệt phải
có lộ trình khoa học
1.2.3 Quản lý danh mục tín dụng doanh nghiệp theo mức độ rủi ro của khách
hàng
1.2.3.1 Khái niệm quản lý danh mục tín dụng DN theo mức độ rủi ro khách hàng
Rủi ro danh mục là rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạnchế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân thành rủi ro nội tại(xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn của khách hàng vay vốn, lĩnh vựckinh tế) và rủi ro tập trung (rủi ro do ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều vào một
số khách hàng, một ngành kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặccùng một loại hình cho vay có rủi ro cao)
Quản lý danh mục tín dụng doanh nghiệp là việc quản lý tình trạng rủi ro tín
Trang 26dụng doanh nghiệp bằng cách chủ động tìm ra mối tương quan về rủi ro và lợi nhuậnvốn có giữa các hợp đồng thông qua việc phòng ngừa rủi ro và đầu tư đối với từngđối tượng khách hàng là doanh nghiệp.
Quản lý danh mục tín dụng doanh nghiệp đề cập đến các hoạt động của các
DN nhằm đánh giá tình trạng rủi ro/ thu nhập của một danh mục tín dụng đầu tư cho
DN và tăng cường tính minh bạch cũng như khả năng sinh lời của danh mục đầu tưthông qua các giao dịch chuyển đổi rủi ro tín dụng dưới hình thức cơ sấu lại danhmục đầu tư Hoạt động quản lý danh mục tín dụng DNcó đặc điểm là không chỉđánh giá rủi ro và lợi nhuận của một khoản vay đơn lẻ mà còn kiểm soát rủi ro và lợinhuận tổng thể của danh mục tín dụng đầu tư cho các DN
Quản lý danh mục tín dụng DN theo mức độ rủi ro khách hàng bao hàm hainội dung cơ bản là đo lường mức độ rủi ro của khách hàng là DN và quản lý danhmục tín dụng DN căn cứ trên kết quả xếp hạng rủi ro các DN Ngân hàng đã đầu tưvốn Trên cơ sở đánh giá rủi ro của khách hàng là DN, việc quản lý danh mục TD
DN được thực hiện theo phương thức đa dạng hoá theo điạ bàn, ngành kinh tế và đốitượng khách hàng đơn lẻ
1.2.3.2 Mục tiêu của quản lý danh nục tín dụng DN theo mức độ rủi ro khách hàng
NHTM theo dõi, quản lý và điều chỉnh danh mục tín dụng doanh nghiệp vìhai mục tiêu cơ bản: Mục tiêu hạn chế rủi ro và mục tiêu lợi nhuận
- Hạn chế rủi ro tín dụng xảy ra đối với danh mục:
Để thực hiện được mục tiêu này, ngân hàng cần có quyết định cấp tín dụngcho những doanh nghiệp có độ tin cậy cao, khả năng vỡ nợ thấp
Quản lý danh mục tín dụng doanh nghiệp theo mục tiêu phòng ngừa rủi rohướng vào việc giảm rủi ro của danh mục tín dụng hơn là gia tăng thu nhập, cụ thể
là tạo ra nguồn vốn khả dụng thông qua điều chỉnh mức độ tập trung tín dụng
Vào nửa sau của thập kỷ 80, các NHTM Mỹ phải đối mặt với vấn đề giảm tỷ
lệ an toàn vốn và gia tăng chi phí vốn trong hoàn cảnh nợ quá hạn gia tăng Do đócác ngân hàng đã nhận thức ngày càng rõ hơn về việc phải thu hẹp bảng cân đối vàtăng lợi nhuận đồng thời bán bớt các khoản nợ quá hạn và tăng cường hệ thống quản
lý rủi ro tín dụng Sự thay đổi này đánh dấu sự phát triển của thị trường tín dụng tại
Mỹ Trong những năm 1990, các ngân hàng thương mại lớn đã có được kinh nghiệmtrong việc thành lập bộ phận quản lý danh mục tín dụng nằm trong bộ phận quản lý
Trang 27rủi ro và bắt đầu có các sáng kiến nhằm giảm rủi ro do tập trung danh mục tín dụngvào các khách hàng là tập đoàn lớn Hầu hết các hoạt động bước đầu của các NHTM
là hướng tới tập trung vào các khách hàng có xếp hạng tốt, kiểm soát quy trình tíndụng, doanh số cho vay và phòng ngừa rủi ro thông qua sử dụng công cụ hoán đổirủi ro tín dụng
- Tối đa hóa lợi nhuận có được từ danh mục:
Đối với mục tiêu này, ngân hàng lại phải hướng vào các khách hàng nóichung, doanh nghiệp nói riêng sẵn sàng thanh toán lãi suất cao cho khoản vay màđôi khi bỏ qua mức độ rủi ro của khách hàng
Quản lý danh mục tín dụng doanh nghiệp hướng vào mục tiêu lợi nhuận tậptrung vào việc tăng cường mối cân bang rủi ro/ lợi nhuận, không chỉ nham giảm rủi
ro mà còn nhằm gia tăng doanh thu Cụ thể hơn, mục tiêu chính của ngân hàng lúcnày là không chỉ tạo ra nguồn vốn có tính kinh tế mà còn sử dụng hiệu quả nguồnvốn đó Nó thường được sử dụng trên thị trường tín dụng nhằm cân bằng linh hoạtdanh mục tín dụng đầu tư
Mục tiêu của hoạt động quản lý danh mục tín dụng doanh nghiệp hướng vàocác nội dung như trên thể hiện vai trò của hoạt động này như sau:
- Đối với NHTM: Giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro và tối đa hoá lợi nhuận
kinh doanh nhờ vào việc quản trị được rủi ro, đảm bảo khả năng thu hồi nợ từkhách hàng, gia tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng
- Đối với doanh nghiệp: Sự đánh giá của ngân hàng đối với doanh nghiệp để ra
quyết định cuối cùng về việc chấp thuận cấp tín dụng cho doanh nghiệp haykhông giúp doanh nghiệp nhận thức được điểm mạnh điểm yếu để từ đó cógiải pháp phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu
- Đối với nền kinh tế: Khi các ngân hàng thương mại quản lý được danh mục
tín dụng của mình sẽ giúp phân bổ nguồn lực một cách hợp lý, đầu tư vào cácdoanh nghiệp, ngành nghề có tiềm năng phát triển tốt góp phần vào sự tăngtrưởng chung của nền kinh tế
1.2.3.3 Quy trình quản lý DMTD DN theo mức độ rủi ro khách hàng của NHTM
Khi hoạt động tín dụng ngày càng trở nên đa dạng thì yêu cầu đặt ra về mặtquản lý đối với các ngân hàng là quản lý và kiểm soát hoạt động đó một cách toàndiện thông qua đánh giá từng khoản vay, từng khách hàng nhưng hơn cả là đánh giá
Trang 28toàn bộ danh mục tín dụng của ngân hàng Chất lượng hoạt động tín dụng của ngânhàng tốt hay xấu phải được thể hiện ở chất lượng của toàn bộ danh mục chứ khôngphải có một số khách hàng hay ngành nghề đầu tư tốt Danh mục tín dụng doanhnghiệp của ngân hàng được đánh giá qua một số thước đo cơ bản sau:
- Đánh giá giá trị dư nợ của từng nhóm khách hàng DN theo nhiều tiêu chí baogồm: ngành nghề kinh tế, khu vực đầu tư để có kết luận về mức độ tập trung củadanh mục tín dụng Đối với công tác này, ngân hàng cần lưu ý đến những nhómkhách hàng/ ngành nghề tập trung giá trị dư nợ ở mức xấp xỉ đến cao hơn mức quyđịnh
- Đánh giá thu nhập có được từ danh mục tín dụng, phân tích trong trường hợpthay đổi cơ cấu tín dụng, lợi nhuận dự kiến sẽ có biến động theo hướng nào
- Đánh giá mức độ rủi ro hay khả năng mất vốn của danh mục tín dụng bằngcác thước đo định lượng
Các công việc ngân hàng cần thực hiện để quản lý danh mục tín dụng gồm:
a Xác định mục tiêu và phương pháp
- Xác định mục tiêu hoạt động trong từng thời kỳ theo đó xác định mục tiêu lợinhuận hay an toàn được đặt lên hàng đầu
- Xây dựng tiêu chí cho danh mục, phân loại các khoản cho vay
- Phân bổ hạn mức đối với từng ngành kinh tế, từng đối tượng khách hàng, cơcấu danh mục theo mục tiêu đề ra
b Nhận biết rủi ro danh mục tín dụng
Nhận biết rủi ro được xét trên 2 góc độ
(i) về phía NHTM, rủi ro tín dụng được thể hiện qua quy mô tín dụng, cơ cấu tíndụng, nợ quá hạn, nợ xấu và dự phòng rủi ro Khi các yếu tố này có xu hướngthiên lệch như quy mô tín dụng tăng quá nhanh, cơ cấu tín dụng tập trung quámức vào một ngành, một lĩnh vực rủi ro, các chỉ tiêu nợ quá hạn vượt quángưỡng cho phép, ngân hàng đứng trước nguy cơ rủi ro
(ii) về phía khách hàng: Khi khách hàng có những dấu hiệu khó có khả năng trả
nợ, tình hình tài chính xấu đi, nguy cơ rủi ro sẽ xảy ra Lúc đó ngân hàng cầnnhận biết được khả năng xảy ra rủi ro để ra quyết định kịp thời
Nhận biết rủi ro bao gồm các nội dung sau:
- Phân tích danh mục tín dụng của ngân hàng: Phân tích chung toàn bộ danh
Trang 29mục của khách hàng để nhận biết những rủi ro về quy mô tín dụng, cơ cấu tín dụng,
về ngành, loại tiền Cần kết hợp với dự báo kinh tế vĩ mô để đánh giá rủi ro chungcủa toàn bộ danh mục tín dụng
- Phân tích đánh giá khách hàng doanh nghiệp: Phân tích đánh giá khách hàngnhằm phát hiện các nguy cơ rủi ro trong từng khách hàng, khoản nợ cụ thể Để cóthể phân tích đánh giá khách hàng cần (i) thu thập thông tin về khách hàng (ii) Phântích khách hàng theo các chỉ tiêu định lượng và định tính để có thể kết luận chínhxác về tình trạng của khách hàng (iii) phân tích xử lý thông tin (iv) xác định nguy
cơ đối với khách hàng
c xếp hạng, đo lường rủi ro danh mục tín dụng
Đo lương rủi ro danh mục được thực hiện bằng phương pháp chủ quan hoặckhách quan Phương pháp chủ quan là việc dựa vào các giả thiết và hệ thống XHTD
để đưa ra đánh giá Phương pháp khách hàng quan là dựa vào tần suất xảy ra biến
cố để tính toán tổn thất dự tính của khoản vay, hay nói cách khác là tính toán mức
độ lỗ tối đa của danh mục
Mục đích của việc xếp hạng, đo lường rủi ro danh mục để:
- Cho phép ngân hàng có nhận định chung về danh mục cho vay trong bảngcân đối của ngân hàng
- Phát hiện sớm các khoản cho vay có khả năng bị tổn thất hay đi chệch hướngkhỏi chính sách tín dụng hiện tại của ngân hàng
- Đưa ra chính sách đánh giá tín dụng chính xác hơn căn cứ trên kết quả đánhgiá thực tế
- Xác định rõ khi nào cần tăng cường hay nới lỏng giám sát hoặc có các hoạtđộng điều chỉnh khoản vay
- Kết quả đánh giá được sử dụng làm cơ sở để xác định mức dự phòng rủi rotín dụng
d Quản lý rủi ro danh mục tín dụng
Trên cở sở đo lường rủi ro, NHTM chủ động thực hiện các biện pháp quản lýrủi ro gồm:
- Quản lý rủi ro bằng biện pháp tuân thủ những nguyên tắc tín dụng thận trọng
- Quản lý rủi ro bằng biện pháp đặt ra và điều chỉnh hạn mức cho vay chokhách hàng đơn lẻ và nhóm khách hàng
Trang 30- Phân tích phương ántín dụng và xác định
cơ cấu trả nợ
- Lập tờ trình tín dụng
- Xem xét hạn mứchàng năm
- Giám sát đánh giá khoảntín dụng
- Xử lý các dấu hiệu bấtthường
- Quản lý rủi ro bằng cách đưa định hướng cấp tín dụng và chính sách tín dụngđúng đắn, kịp thời khi có bất kỳ vấn đề nào nảy sinh đối với khoản vay
e Kiểm soát và xử lý rủi ro
- Kiểm soát rủi ro bao gồm kiểm soát trước và sau khi cho vay Kiểm soáttrước: gồm kiểm soát quá trình thiết lập chính sách, thủ tục, quy trình, kiểm tra quátrình lập hồ sơ, tính hợp pháp và đầy đủ của hồ sơ Kiểm soát trong và sau khi chovay là việc kiểm soát lại hợp đồng tín dụng, quá trình giải ngân, tình hình sử dụngvốn vay, đánh giá lại chính sách tín dụng
- Khi khoản vay hay khách hàng được xác định có vấn đề về rủi ro, ngân hàng
sẽ thực hiện bước xử lý rủi ro thông qua các hình thức cơ cấu nợ, trích lập dựphòng, thanh lý nợ để cơ cấu lại danh mục tín dụng của mình
Hiện nay các NHTM trên thế giới đều thực hiện quy trình quản lý rủi ro danhmục tín dụng theo các bước như trên Tuy nhiên việc phân bổ nguồn lực và đề cao
vị trí của các bước, hệ thống NHTM VN có những điểm khác với NHTM trên thếgiới Trong khi các NHTM thế giới tập trung vào các công việc liên quan đến danhmục tín dụng như lên kế hoạch và điều chỉnh danh mục thì nguồn lực mà cácNHTM Việt Nam sử dụng cho mục tiêu này còn khá hạn chế
Bảng 1.1 So sánh phân bổ nguồn lực quản lý RRTD giữa NHTM
Việt Nam và the giới
Trang 31NHTM ở các nước tiên tiến
Nhận biết đo lường (30%) Quản lý rủi ro (35%) Kiểm soát và xử lý (35%)
- Xác lập chiến lược kinh
- Phân tích phương ántín dụng và xác định
cơ cấu trả nợ
- Lập tờ trình tín dụng
- Xem xét hạn mứchàng năm
- Phân tích DMTD và cáckhoản tín dụng đặc biệt
- Điều chỉnh DMTD cho
an toàn và hiệu quả
- Giám sát đánh giá khoảntín dụng
- Xử lý các dấu hiệu bấtthường
1.2.3.4 Phương pháp quản lý danh mục tín dụng doanh nghiệp theo mức độ rủi ro
khách hàng
Danh mục tín dụng DN của ngân hàng có thể được hình thành một cách ngẫunhiên hoặc được tạo nên căn cứ trên những tiêu chí và kế hoạch cụ thể Theo đó,trong hoạt động của NHTM, có hai phương pháp tiếp cận cơ bản để quản lý danhmục cho vay là phương pháp tiếp cận ngẫu nhiên và phương pháp tiếp cận theo kếhoạch
a Phương pháp tiếp cận ngẫu nhiên
Trong phương pháp này, danh mục cho vay sẽ được tạo ra hoặc tập hợp mộtcách ngẫu nhiên Ngân hàng chấp nhận và phê duyệt từng khoản cho vay đơn lẻ, sau
đó những khoản cho vay này sẽ chịu tác động của các chu kỳ kinh tế không dự báotrước được Danh mục cho vay như vậy có thể có mức rủi ro rất cao, khả năng ngânhàng định giá và cơ cấu lại danh mục bị hạn chế và không mang ý nghĩa quản lý chotoàn bộ danh mục
Theo phương pháp này, từng khoản vay đơn lẻ sẽ được đánh giá rủi ro mộtcách độc lập, đảm bảo từng khoản vay ở mức rủi ro chấp nhận được Tuy nhiên, cácngân hàng áp dụng phương pháp này chủ yếu tập trung vào đánh giá các yếu tố nộitại của doanh nghiệp mà không quan tâm đến các yếu tố khách quan tác động đếnhoạt động kinh doanh của khách hàng Áp dụng phương pháp này, các NHTMkhông phải đầu tư quá nhiều vào việc xây dựng hệ thống công cụ hỗ trợ quản lýnhưng ngân hàng sẽ không chủ động được trong việc kiểm soát danh mục, đi cùng
Trang 32với đó ngân hàng không dự báo được khả năng lợi nhuận cũng như rủi ro đối vớihoạt động tín dụng của mình.
b Phương pháp tiếp cận theo kế hoạch
Đối với phương pháp tiếp cận theo kế hoạch, DMTD hình thành do:
- Ngân hàng tự xây dựng một phương thức (hệ thống) để tạo ra một danh mụccho vay theo một số tiêu chí nhất định và có kế hoạch với lợi nhuận và mức độ rủi
Một là: Đa dạng hóa danh mục
Lý thuyết quản lý danh mục tín dụng hiện đại cho rằng có thể hạn chế, giảmbớt rủi ro của danh mục đầu tư thông qua quá trình đa dạng hóa Lý thuyết này dựatrên giả định là chỉ có hai loại rủi ro cơ bản, đó là rủi ro hệ thống và rủi ro không
mang tính hệ thống Rủi ro mang tính hệ thống (hay rủi ro thị trường) thể hiện mức
độ biến động của những nhóm khách hàng, nhóm ngành nghề hay khu vực đầu tưtùy theo biến động chung của thị trường và nền kinh tế Yếu tố rủi ro hệ thống đolường mức độ biến động tương đối của một nhóm khách hàng so với thị trường nóichung Do vậy, mục tiêu của công tác phân tích là nhằm xác định xem việc cho vayđối với một đối tượng hay nhóm khách hàng sẽ có tính chất ổn định nhiều hơn, ít
hơn hay giống như thị trường Rủi ro không mang tính hệ thống thể hiện rủi ro xảy
ra biến cố ảnh hưởng đến một công ty đơn lẻ, ví dụ như thay đổi trong bộ máy quản
lý, đối thủ cạnh tranh mới hoặc công nghệ mới hoặc xảy ra hỏa hoạn tại một cơ sởsản xuất của công ty
Lý thuyết về đa dạng hóa đảm bảo rằng những rủi ro không mang tính hệthống như vậy sẽ được hạn chế rất nhiều bằng cách phân tán rủi ro đó trên một sốlượng đủ lớn các khách hàng không ràng buộc với nhau Lý thuyết này cũng khẳngđịnh không thể hạn chế được rủi ro hệ thống nếu chỉ thực hiện đa dạng hóa mà phảicăn cứ vào khả năng dự báo, phân tích thị trường Như vậy, thông qua việc đa dạng
Trang 33hóa, rủi ro của toàn bộ danh mục tín dụng sẽ ít hơn so với rủi ro của từng khoản chovay nhờ giảm bớt được rủi ro không mang tính hệ thống Việc đa dạng hóa đòi hỏiphải phân loại toàn bộ danh mục cho vay theo những tiêu chí khác nhau Quá trìnhnày buộc ngân hàng phải đưa ra được một bức tranh toàn cảnh về danh mục đầu tư
và về thị trường, đồng thời cũng khuyến khích việc phân tích đánh giá kỹ càng trướckhi đưa ra một quyết định cấp tín dụng Sau khi đã phân chia danh mục đầu tư thànhnhững nhóm thích hợp thì ngân hàng sẽ có thể đánh giá mức độ đa dạng thực sự củadanh mục đầu tư đó Quá trình này hỗ trợ cho việc xác định rủi ro hệ thống trongdanh mục đầu tư
Hai là: Thiết lập hệ thống phân loại khoản vay phù hợp
Việc phân loại bao gồm sắp xếp từng khoản cho vay đơn lẻ theo những tiêuchí xác định, ví dụ như phân ngành kinh tế, khu vực địa lý, hay loại hình sản phẩmcho vay Phân loại các khoản cho vay được coi là điều kiện tiên quyết để triển khaimột chiến lược đa dạng hóa Tiêu chí được rất nhiều ngân hàng sử dụng là sắp xếpphân loại các khoản vay theo một danh sách ngành được chuẩn hóa Bên cạnh tiêuchí về ngành, mỗi ngân hàng tùy thuộc vào mục tiêu quản lý sẽ sử dụng kết hợp cáctiêu thức khác nhau
Ba là: Quản lý rủi ro tập trung tín dụng
Tập trung tín dụng trong một danh mục đầu tư chính là điểm yếu của một ngânhàng khi thực hiện cho vay Việc tập trung quá mức vào một khoản tín dụng đơn lẻ,vào một ngành kinh tế hay một khu vực địa lý nhất định có thể phá hỏng nỗ lực củangân hàng trong quản lý rủi ro tín dung Mặc dù các ngân hàng luôn nhận thức và cốgắng đa dạng hóa danh mục cho vay của mình thì tập trung tín dụng vẫn có thể xảy
ra do nhiều lý do như (i) quy định pháp lý hạn chế phạm vi hoạt động của tổ chứccho vay, (ii) ngân hàng chỉ nhận thấy lợi ích trong ngắn hạn của một hoặc một vàikhu vực kinh tế, (iii) nhu cầu cho vay của khách hàng không phù hợp với mục đíchxây dựng danh mục ban đầu của ngân hàng
Tóm lại, mức độ rủi ro tín dụng có mối liên hệ trực tiếp với chất lượng danhmục cho vay của ngân hàng Một ngân hàng có số lượng các khoản cho vay khôngthu hồi được nhiều một cách không bình thường sẽ được coi như có danh mục chovay với mức độ rủi ro tín dụng cao Cách phòng ngừa rủi ro tín dụng tốt nhất là thựchiện tốt việc quản lý danh mục, bao gồm cả việc xây dựng các điều kiện tiêu chuẩncấp tín dụng và chính sách đa dạng hóa phù hợp
25
Trang 341.2.3.5 Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng quản lý DMTD doanh nghiệp theo mức
a Nhân tố từ bản thân ngân hàng
Chính sách, trình độ quản lý của bản thân ngân hàng là những yếu tố quantrọng quyết định đến hiệu quả quản lý danh mục tín dụng, thể hiện ở các mặt cụ thểsau:
- Khả năng, phương pháp thẩm định, đánh giá khoản vay Phương pháp khôngphù hợp hoặc sai sót trong đánh giá khoản vay của cán bộ dẫn đến việc ngân hàngcấp tín dụng cho các khách hàng có mức độ tín nhiệm thấp, khả năng trả nợ kém,
do đó khách hàng không có khả năng trả nợ Từng khoản vay, khách hàng đơn lẻ cókhả năng trả nợ thấp sẽ ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng chung của cả ngân hàng
- Chính sách phân bổ tín dụng giữa các khu vực, ngành nghề và khách hàng.Việc phân bổ tín dụng không đồng đều sẽ dẫn đến khi ngành nghề mà ngân hàngtập trung cấp tín dụng có diễn biến tiêu cực sẽ gây ra rủi ro lớn cho ngân hàng.Trong trường hợp ngân hàng tập trung tín dụng vào một số ít đối tượng khách hàng,khi khách hàng đó mất khả năng trả nợ, ngân hàng sẽ phải gánh chịu mất mát lớn
- Khả năng phân tích, đánh giá, nhìn nhận được các đặc trưng của từng ngành,lĩnh vực kinh tế mà ngân hàng cấp tín dụng và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạtđộng kinh doanh của các khách hàng đó Khả năng này thể hiện ở việc phân tíchtình trạng hiện tại cũng như dự báo biến động trong tương lai Khi một biến cốngoại cảnh liên quan đến tình hình kinh tế xã hội chung xảy ra, các khách hàng vaytrong ngành đó sẽ chịu ảnh hưởng của các biến cố đó và không thể thực hiện đượcnghĩa vụ trả nợ, khi đó danh mục tín dụng của ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng nghiêmtrọng Ngược lại, khi đánh giá được diễn biến của thị trường, ngân hàng sẽ cónhững điều chỉnh cơ cấu danh mục một cách hợp lý
- Trình độ quản lý, giám sát các khoản vay hiện hữu trong danh mục thể hiện ởcông tác kiểm soát sau vay, đánh giá tình hình khách hàng, nhìn nhận dự báo tìnhhình kinh tế và diễn biến của các khu vực đầu tư
Trang 35b Nhân tố phát sinh từ tình hình kinh tế - xã hội
- Mức độ ổn định của môi trường kinh tế xã hội: Môi trường kinh tế không ổnđịnh, có những biến cố bất thường xảy ra gây ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởngkinh tế và khả năng hoạt động kinh doanh nói chung của các khách hàng Khi điềukiện nền kinh tế có những biến cố tiêu cực, có thể là sự suy giảm chung của nềnkinh tế dẫn đến tổng cầu nền kinh tế giảm ảnh hưởng đến kế hoạch tiêu thụ sảnphẩm của doanh nghiệp, hoặc những yếu tố đặc trưng chỉ ảnh hưởng đến một hoặcmột vài ngành có liên quan như sự khan hiếm của yếu tố đầu vào, thị trường đầu ra
bị thu hẹp Tất cả những yếu tố đó đều có thể dẫn đến khả năng không trả được nợcủa một nhóm hoặc toàn bộ khách hàng của ngân hàng
- Mức độ đầy đủ, chặt chẽ của hệ thống chính sách, quy định pháp lý và côngtác kiểm tra giám sát: Khi hệ thống chính sách còn hạn chế, doanh nghiệp có điềukiện lách luật, sử dụng vốn sai mục đích, thiếu thiện chí trả nợ Ngoài ra, nếu côngtác kiểm tra giám sát nền kinh tế không thường xuyên và đầy đủ, các sai phạm haynguy cơ đổ vỡ không được các cơ quan chức năng nhận diện và cảnh báo sẽ khiếncho ngân hàng không lường trước được biến cố phát sinh và gặp rủi ro, ảnh hưởngđến khả năng theo dõi, quản lý danh mục của ngân hàng Ngược lại, khi các chínhsách, quy định pháp lý có những nội dung thắt chặt hoặc không khuyến khích sựtăng trưởng của ngành sẽ khiến cho doanh nghiệp hoạt động trong ngành đó gặpkhó khăn và ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh cũng như khả năng trả nợ
- Chất lượng hệ thống thông tin quản lý: Hệ thống thông tin quản lý là cơ sởcho các thành viên trong nền kinh tế tham chiếu để có các quyết định kinh doanhphù hợp Hệ thống thông tin tốt phải đảm bảo được các yêu cầu: cập nhật thườngxuyên, dễ dàng tiếp cận, nguồn gốc thông tin rõ ràng minh bạch Tuy nhiên, khôngphải quốc gia nào cũng có được hệ thống thông tin như vây do đó rủi ro tín dụng cóthể phát sinh từ nguyên nhân thông tin không cân xứng, NHTM gia tăng đầu tư tíndụng vào các lĩnh vực có xu hướng biến động xấu trước khi được cảnh báo về nguy
cơ rủi ro của các ngành này sẽ phải đối mặt với rủi ro trong tương lai
Trang 36khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án kinh doanh cụ thể, khả thi Số lượngcác doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo ngân hàng để chiếm đoạttài sản không nhiều Tuy nhiên, những vụ việc phát sinh lại hết sức nặng nề, liênquan đến uy tín của các cán bộ, làm ảnh hưởng xấu đến các khách hàng khác.
- Khả năng quản lý kinh doanh: Khi khách hàng vay tiền ngân hàng để mởrộng quy mô kinh doanh, đa phần là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất chứ ítkhách hàng nào dám mạnh dạn đổi mới cung cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giá msát kinh doanh, tài chính, kế toán theo đúng chuẩn mực Quy mô kinh doanh được
mở rộng quá lớn so với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của cácphương án kinh doanh, từ đó kéo theo rủi ro cho ngân hàng
- Sự minh bạch, ổn định của tình hình tài chính doanh nghiệp: Đối với nhiềudoanh nghiệp, thói quen ghi chép đầy đủ, chính xác, rõ ràng các sổ sách kế toán vẫnchưa được các khách hàng tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực Do vậy, sổ sách kếtoán mà các khách hàng cung cấp cho ngân hàng nhiều khi chỉ mang tính chất hìnhthức hơn là thực chất Khi cán bộ ngân hàng lập các bảng phân tích tài chính củadoanh nghiệp dựa trên số liệu do các khách hàng cung cấp thường thiếu tính thực tế
và xác thực Đây cũng là nguyên nhân vì sao ngân hàng vẫn luôn xem nặng phần tàisản thế chấp như là chỗ dựa cuối cùng để phòng chống rủi ro tín dụng
Từ các phân tích ở trên có thể thấy:
- Thực trạng năng lực quản lý, tài chính và tình hình hoạt động kinh doanh củakhách hàng là một nguyên nhân chủ yếu quyết định khả năng trả nợ của kháchhàng, do đó yêu cầu đối với ngân hàng khi cấp tín dụng là phải phân tích đầy đủtình hình của doanh nghiệp căn cứ trên các thông tin xác thực Để làm được điềunày, ngân hàng cần xây dựng cho mình một hệ thống mô hình đánh giá nhất quán,đảm bảo các khách hàng khi quan hệ với ngân hàng được đánh giá theo các tiêu chínhư nhau, đảm bảo chất lượng khách hàng được phản ánh đúng trong toàn hệthống
- Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tốkhách quan đòi hỏi ngân hàng khi đánh giá một khách hàng vay, bên cạnh việcphân tích tình hình thực trạng của khách hàng cần phải có được khả năng dự báocho những biến động của môi trường trong tương lai
- Chủ trương chính sách quản lý về đánh giá khách hàng và phân bổ tín dụng là
Trang 37yêu tố căn bản quyết định chất lượng quản lý danh mục tín dụng Rủi ro tín dụngkhông chỉ liên quan đến từng khách hàng cụ thể mà thể hiện trên cả danh mục tíndụng của ngân hàng, do đó việc đánh giá cần xác định trên tổng thể danh mục hiệnhữu Do đó để quản lý danh mục tín dụng có hiệu quả, ngân hàng cần thực hiện cácbiện pháp đa dạng hóa danh mục, phân tán rủi ro.
1.3 Bài học kinh nghiệm về quản lý danh mục tín dụng theo mức độ rủi ro
khách hàng của một số NHTM và Tổ chức trên thế giới
1.3.1 Kinh nghiệm của ngân hàng Nhật Bản
Để quản lý danh mục tín dụng, các NHTM Nhật Bản đã quan tâm đến việcxây dựng các công cụ, cách thức tổ chức quản lý và đặc biệt là cơ cấu lại bộ máy tổchức quản lý tín dụng, đồng thời chú trọng đến quy trình nghiệp vụ tín dụng
Các ngân hàng Nhật Bản đảm bảo có mối quan hệ mật thiết giữa bộ phậnkhách hàng và quản lý danh mục, cụ thể là trong bộ phận khách hàng có 1 nhóm làmnhiệm vụ giữ liên lạc với bộ phận quản lý danh mục Tổ chức như vậy giúp ngânhàng (i) giảm rủi ro tập trung tín dụng và tăng cường khả năng mở rộng tín dụng chokhách hàng (ii) kiểm tra tình hình rủi ro/ thu nhập của khách hàng từ quan điểmquản lý danh mục, từ đó chọn ra các khách hàng mục tiêu đủ tiêu chuẩn cấp tín dụng
1.3.1.2 Phương pháp quản lý danh mục
Để đảm bảo chất lượng của danh mục tín dụng, các NHTM tại Nhật Bản sửdụng các phương pháp sau để quản lý danh mục:
- Kiểm soát quy trình tín dụng: Phương pháp cơ bản và truyền thống là đánhgiá rủi ro/ thu nhập khi cấp một khoản tín dụng mới Căn cứ các thông tin đánh giá
Trang 38về khách hàng, ngân hàng sẽ ra quyết định về hạn mức cho vay, laĩ suất, kỳ hạnthanh toán, tài sản đảm bảo Phương pháp kiểm soát khoản vay theo quy trình phêduyệt có thể áp dụng với mọi khách hàng nhưng không linh hoạt và mất thời gian
để thay thế đặc điểm rủi ro/ thu nhập của danh mục
- Điều chỉnh thông qua các giao dịch phi thị trường: Là các giao dịch mua bán
nợ giữa các tổ chức tín dụng với nhau, áp dụng cho các khách hàng không có nhiềuthông tin đại chúng Phương pháp này có thể kiểm soát rủi ro của các doanh nghiệpvừa và nhỏ một cách linh hoạt nhưng sự hạn chế về thông tin khiến cho trong nhiềutrường hợp giá trị của giao dịch không phản ánh đúng giá trị thực
- Điều chỉnh thông qua các giao dịch trên thị trường áp dụng với các khoản vay
có thông tin được công bố rộng rãi trên thị trường Theo đó các nhà đầu tư có thểtham gia vào thị trường thực hiện giao dịch hoán đổi rủi ro tín dụng, chứng khoánđảm bảo bằng tài sản hay các khoản nợ Đây là phương thức linh hoạt nhất để điềuchỉnh danh mục tín dụng nhưng đòi hỏi thị trường tín dụng phát triển ở mức độ cao
1.3.2 Kinh nghiệm của các ngân hàng Mỹ
Giai đoạn năm 2007- 2008 chứng kiến sự khủng hoảng tài chính Mỹ kéo theo
đó là sự sụp đổ của một loạt các NHTM mà nguồn gốc của nó là cuộc khủng hoảngtín dụng bất động sản dưới chuẩn Quy mô và phạm vi tác động của cuộc khủnghoảng tín dụng bất động sản dưới chuẩn đã lan rộng sang toàn bộ hệ thống tài chínhcũng như gây hậu quả nặng nề cho đối với nền kinh tế Mỹ Hơn thế nữa, cuộc khủnghoảng đã không dừng ở nước Mỹ mà còn ảnh hưởng xấu tới hệ thống tài chính tạinhiều quốc gia và châu lục
Tín dụng bất động sản được các NHTM chia thành hai nhóm là tín dụng bấtđộng sản doanh nghiệp và tín dụng bất động sản tiêu dùng Theo đó tín dụng bấtđộng sản tiêu dùng hướng tới tài trợ nhu cầu cư trú, mua sắm, xây dựng nhà ở của cánhân Tín dụng bất động sản kinh doanh nhằm mục đích tài trợ cho các doanhnghiệp kinh doanh trong lĩnh vực bất động sản Thời kỳ hoàng kim của thị trườngbất động sản giai đoạn 2002- 2006 đã tạo ta những khoản lợi nhuận lớn cho cácNHTM, do đó các ngân hàng sẵn sàng cho vay trong lĩnh vực bất động sản với điềukiện cực kỳ đơn giản Nhiều khách hàng có điểm tín dụng thấp vẫn được vay nếuchấp nhận lãi suất cao và có tài sản thế chấp mà các chuyên gia gọi là “nhóm kháchhàng vay nợ dưới chuẩn” Những đối tượng này tiềm ẩn rủi ro không có khả năng
Trang 39thanh toán nợ đến hạn và do đó rất khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụngtruyền thống vốn chỉ dành cho những đối tượng trên chuẩn Chính vì vậy, nợ dướichuẩn có mức độ rủi ro tín dụng rất cao song bù lại có mức lãi suất cũng rất hấp dẫn.Bên cạnh đó các ngân hàng cũng tạo điều kiện cho nhiều nhà đầu cơ vay giá trị lớn
để kinh doanh nhà ở Theo ước tính, nợ dưới chuẩn tăng từ 160 tỷ USD năm 2001lên 540 tỷ năm 2004 và đến năm 2007 là trên 1.300 tỷ Rõ ràng, sự gia tăng lợinhuận của thị trường bất động sản đã khiến các NHTM quên đi các nguyên tắc quảntrị rủi ro tín dụng và đầu tư quá lớn vào thị trường này Kết quả là khi thị trường bấtđộng sản xuống dốc, nhiều khách hàng không đủ khả năng thanh toán, các ngânhàng không có khả năng thu hồi nợ và tất yếu dẫn đến sự sụp đổ của một loạt cácNHTM
Cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân bao gồm:
- Nguyên nhân từ sự phát triển phức tạp của thị trường bất động sản Mỹ
- Nguyên nhân từ sự thiếu hiệu quả trong điều hành quản lý của FED: (i) Tính
bị động của điều hành chính sách tiền tệ (ii)Hệ thống giám sát và cảnh báo sớm rủi
ro của FED đã không phát huy được hiệu quả FED gần như không đánh giá đượchết tính rủi ro của công nghệ chứng khoán hóa và tính nguy hiểm của công cụ hoánđổi rủi ro tín dụng (iii) FED không đánh giá hết được sự nguy hiểm của tính liênthông giữa thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán và thị trường tín dụng
- Nguyên nhân từ chính sách tín dụng sai lầm của các ngân hàng thươngmại
1.3.3 Kinh nghiệm xếp hạng tín dụng doanh nghiệp của các tổ chức xếp hạng
1.3.3.1 Phương pháp xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp của Fitch
Fitch xếp hạng doanh nghiệp dựa trên phân tích định tính và phân tích địnhlượng Phương pháp phân tích của Fitch bao gồm phân tích dữ liệu tài chính và hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp trong khoảng thời gian ít nhất là 5 năm Mục tiêuchủ yếu trong cách tiếp cận của Fitch là phân tích so sánh để đánh giá sức mạnh củamỗi doanh nghiệp và rủi ro kinh doanh trong mối quan hệ với các doanh nghiệpkhác trong cùng một nhóm tương đồng Thêm vào đó, phân tích độ nhạy thông quakịch bản cũng được thực hiện để đánh giá khả năng của doanh nghiệp khi đương đầuvới những thay đổi trong môi trường kinh doanh Một nhân tố xếp hạng then chốttheo Fitch là tính linh hoạt tài chính mà nó dựa phần lớn vào khả năng tạo ra dòngtiền tự do từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 40- Phân tích định tính gồm có phân tích rủi ro ngành, môi trường kinh doanh, vịthế của doanh nghiệp trong ngành, năng lực của ban quản trị, phân tích kế toán.
SRủi ro ngành: Fitch xếp hạng tín nhiệm các doanh nghiệp trong bối cảnh
chung của ngành mà doanh nghiệp hoạt động Những ngành tăng trưởng thấp,cạnh tranh ở mức cao, đòi hỏi vốn lớn, có tính chu kỳ hay không ổn định thìrủi ro vốn sẽ lớn hơn các ngành ổn định với ít đối thủ cạnh tranh, rào cản gianhập ngành cao, nhu cầu có thể dự báo dễ dàng
SMôi trường kinh doanh: Fitch khảo sát tỉ mỉ những rủi ro và cơ hội có thể tác
động đến ngành từ sự thay đổi tập quán tiêu dùng, dân số, khoa học kỹthuật Ví dụ, kết cấu dân số ngày càng già là dấu hiệu của sự sụt giảm trongtriển vọng ngành bán lẻ và gia tăng triển vọng của ngành dịch vụ tài chính
S Vị thế công ty: Một vài nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp như vị thế của doanh nghiệp trên thị trường, sự xuất hiện các sảnphẩm thay thế, khả năng mặc cả với người mua và người bán Để duy trì vịthế của mình các công ty phải thực hiện đa dạng hóa sản phẩm, bán hàng trảiđều khắp các khu vực, đa dạng hóa khách hàng và người cung ứng, quản lýtốt chi phí sản xuất
S Năng lực của ban quản trị: Các đánh giá về chất lượng quản trị thường mang
tính chủ quan do đây là một yếu tố định tính nên người ta thường thông quacác chỉ tiêu tài chính để làm thước đo năng lực ban quản trị, điều này sẽkhách quan và dễ so sánh hơn Fitch cũng đánh giá thành tích của ban quảntrị thông qua khả năng tạo ra sự hài hòa về mọi mặt trong doanh nghiệp, duytrì hiệu quả hoạt động kinh doanh và củng cố vị thế công ty trên thị trường
S Kế toán: mục tiêu của phân tích kế toán là nghiên cứu chính sách kế toán như
nguyên lý kế toán, phương pháp định giá hàng tồn kho, phương pháp khấuhao, nhận diện thu nhập, cách xử lý tài sản vô hình và kế toán ngoài bảng.Sau đó điều chỉnh và trình bày lại báo cáo tài chính của doanh nghiệp để cóthể so sánh với các công ty khác, tránh xảy ra tình trạng khác biệt về chínhsách kế toán
- Phân tích định lượng: Trong phân tích định lượng, Fitch nhấn mạnh đếnthước đo dòng tiền của thu nhập, các khoản đảm bảo và đòn bẩy Dòng tiền từ hoạtđộng kinh doanh cung cấp cho doanh nghiệp đảm bảo rủi ro tín dụng nhiều hơn là