Việc phối hợp CSTK và CSTT mới chỉ hướng đếnviệc giải quyết từng mục tiêu kinh tế vĩ mô ưu tiên trong từng thời điểm chứchưa thực sự có sự phối hợp để giải quyết đồng bộ tất cả các mục t
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS LÊ THỊ TUẤN NGHĨA
HÀ NỘI - 2018
⅛
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung của luận văn này hoàn toàn không có
sự sao chép, tất cả các kết quả nghiên cứu của tác giả khác được sử dụngtrong luận văn đều có chú giải rõ ràng và trung thực
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn đối với PGS.TS Lê Thị Tuấn Nghĩa, người
đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài này
Em cũng xin gửi lời chân thành cảm ơn đến các thầy cô giáo Học Việnngân hàng đã giảng dạy và truyền cho em những kiến thức chuyên ngành củabậc học sau đại học để em có thể hoàn thành luận văn này
Em cũng xin chân thành cảm ơn các cán bộ, công nhân viên tại Ngânhàng nhà nước Việt Nam đã tạo điều kiện giúp em hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5^CPI Chỉ số giá tiêu dùng
NDA Tổng tài sản có trong nước ròng
NFA Tổng tài sản có nước ngoài ròng
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTW Ngân hàng Trung Ương
^^PPI Chỉ số giá sản xuất
PTA Hiệp định mục tiêu chính sách
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾTTẮT iii
DANH MỤC, BẢNG, BIỂU ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Tổng quan tài liệu nghiên cứu có liên quan 4
6 Kết cấu luận văn 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ Sự PHỐI HỢP CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ 9
1.1 CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA 9
1.1.1 Chính sách tiền tệ 9
1.1.2 Chính sách tài khóa 21
1.2 PHỐI HỢP GIỮA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA 29
1.2.1 Phối hợp về thực hiện mục tiêu 29
1.2.2 Phối hợp về sử dụng các công cụ 32
1.3 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ PHỐI HỢP GIỮA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA 35
1.3.1 Nhật Bản 35
1.3.2 Hàn Quốc 37
1.3.3 Trung Quốc 38
1.3.4 Singapore 38
Trang 71.3.5 Vương quốc Anh 39
1.3.6 Kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 40
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 41
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ Sự PHỐI HỢP CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2013-2017 42
2.1 TỔNG QUAN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2013 - 2017 42 2.1.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế và lạm phát 42
2.1.2 Tình hình xuất nhập khẩu và dự trữ ngoại hối quốc gia 43
2.1.3 Tình hình tăng trưởng vốn đầu tư toàn xã hội 47
2.1.4 Tình hình ngân sách nhà nước 49
2.2 THỰC TRẠNG PHỐI HỢP CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2013 - 2017 53
2.2.1 Phối hợp về mục tiêu 53
2.2.2 Phối hợp về công cụ 61
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ PHỐI HỢP CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2013 - 2017 77
2.3.1 Những kết quả đạt được 77
2.3.2 Những hạn chế 78
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 80
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 82
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHỐI HỢP CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ TẠI VIỆT NAM 83
3.1 ĐỊNH HƯỚNG KINH TẾ VĨ MÔ Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2018 -2020 83
3.1.1 Về tăng trưởng kinh tế 83
3.1.2 Về quản lý nền tài chính quốc gia 84
Trang 83.2 CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG SỰ PHỐI HỢP CHÍNH SÁCH TIỀN
TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA Ở VIỆT NAM 86
3.2.1 Tăng cường sự phối hợp thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa trong dài hạn 86
3.2.2 Tăng cường sự phối hợp về công cụ thực hiện của các chính sách 90
3.2.3 Tăng cường công tác thông tin 94
3.2.4 Hoàn thiện nền tảng kỹ thuật 98
3.2.5 Tăng cường phối hợp với các chính sách vĩ mô khác 99
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 100
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Trang 9DANH MỤC, BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1 Tốc độ phát triển vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giai đoạn
2012-2016 so với năm trước (Theo giá hiện hành) 48
Bảng 2.2 Phối hợp về mục tiêu của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ giai đoạn 2013 - 2017 58
Bảng 2.3 Một số chỉ tiêu phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ giai đoạn 2013 - 2017 60
Bảng 2.4 Tổng hợp các công cụ sử dụng trong CSTT và CSTK giai đoạn 2013 - 2017 61
Bảng 2.5 Tình hình điều hành lãi suất của NHNN năm 2013 62
Bảng 2.6 Các quy định về trần lãi suất cho vay 63
Bảng 2.7 Hoạt động nghiệp vụ thị trường mở từ 2013-2015 67
Bảng 2.8 Các văn bản quy định lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa đối với các lĩnh vực ưu tiên năm 2014 - 2015 68
Bảng 2.9 Lãi suất cho vay phổ biến của các TCTD đối với khách hàng năm 2016-2017 75
Hình 1.1 Đồthị cơchế tác động của nghiệp vụ thị trường mở [3] 15
Hình 1.2 Đồthị cơchế tác động của chính sách tái chiết khấu 17
Hình 1.3 Đồthị cơchế tác động của dữ trữ bắt buộc 19
Biểu đồ 2.1 Tốc độtăng trưởng kinh tế và CPI giai đoạn 2011-2017 42
Biểu đồ 2.2 Cán cân thương mại Việt Nam giai đoạn 2013-2016 44
Biểu đồ 2.3 Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam theo khu vực xuất khẩu 45
Biểu đồ 2.3 Tình hình thu NSNN 49
Biểu đồ 2.4 Cơ cấu thu theo lĩnh vực và thu theo sắc thuế năm 2016 50
Biểu đồ 2.5 Tình hình thu, chi Ngân sách nhà nước 51
Trang 10Biểu đồ 2.6 Diễn biến lãi suất điều hành của NHNN từ 2012 - 2014 66Biểu đồ 2.7 Tỷ lệ trúng thấu trái phiếu chính phủ do KBNN phát hành nửađầu năm 2016 73
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
về mặt lý luận thì chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ là hai công
cụ ổn định kinh tế vĩ mô quan trọng ở mọi quốc gia và có mối liên hệ phụthuộc lẫn nhau Chính sách vĩ mô nói chung, trong đó chính sách tài khóa vàchính sách tiền tệ nói riêng đều là công cụ quan trọng trong điều hành, quản
lý kinh tế vĩ mô của bất kỳ một quốc gia nào Để đạt được các mục tiêu kinh
tế vĩ mô tối ưu gồm tăng trưởng và ổn định giá cả, hai chính sách này cầnđược phối hợp và bổ sung cho nhau Sự phối hợp sẽ được điều chỉnh nhằmứng phó linh hoạt hơn đối với các chu kỳ của nền kinh tế Hai chính sách nàytuy có những khuôn khổ thực thi riêng nhưng khi phối hợp hài hòa lại tạo rahiệu quả rất lớn trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế quan trọng Quátrình cụ thể hóa các mục tiêu được thực hiện thông qua các công cụ chínhsách CSTK có hai công cụ chính là chi tiêu chính phủ và thuế, còn CSTT lại
có nhiều công cụ hơn bao gồm, lãi suất chiết khấu (cửa sổ chiết khấu), nghiệp
vụ thị trường mở và dự trữ bắt buộc Các công cụ này thông qua một cơ chếtruyền dẫn nhất định tác động đến mục tiêu chính sách việc kết hợp giữa haichính sách này nhằm mục đích đạt được các mục tiêu chung là tăng tính hiệulực của chính sách và khắc phục độ trễ và tăng tính linh hoạt của chính sách
và giúp ổn định kỳ vọng của nền kinh tế
Về mặt thực tiễn thì thời gian qua việc phối hợp giữa chính sách tiền tệ
và chính sách tài khóa ở Việt Nam đã đạt được nhiều bước tiến đáng kể Kể từsau khủng hoảng tài chính toàn cầu (2008), Việt Nam đã xây dựng được cácmục tiêu phối hợp tương đối đồng bộ và đúng hướng, phù hợp với bối cảnhkinh tế xã hội từng thời kỳ: sử dụng chính sách tài khóa (CSTK) thắt chặt vàchính sách tiền tệ (CSTT) thắt chặt để chống lạm phát; sử dụng CSTK mởrộng và CSTT mở rộng nhằm kích thích nền kinh tế, ngăn chặn đà suy giảm
Trang 12kinh tế CSTK phối hợp chặt chẽ với CSTT hướng tới mục tiêu ổn định kinh
tế vĩ mô, tạo điều kiện phát triển sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng và
hỗ trợ quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Trước những diễn biến phứctạp của nền kinh tế, trong thời gian qua, CSTT được điều hành linh hoạt, thậntrọng và liên tục được điều chỉnh cho phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ môtrong từng giai đoạn, còn CSTK được hoàn thiện theo hướng bảo đảm thốngnhất, minh bạch và công bằng Để tăng cường công tác phối hợp, Bộ Tàichính và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ký kết Quy chế phối hợp công tác
và trao đổi thông tin (ngày 29/2/2012) Quyết định số 1317/QĐ-TTg về phêduyệt Đề án cải cách cơ chế phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ
mô đã được ban hành ngày 6/8/2013 và sau đó, ngày 2/12/2014, các cơ quangồm Bộ Kế hoạch và Đầu tư, NHNN, Bộ Tài chính, Bộ Công thương đã banhành Quy chế phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô Cùng vớiviệc tạo lập khuôn khổ pháp lý cho cơ chế phối hợp vĩ mô, trên thực tế, CSTK
và CSTT cũng từng bước được phối hợp nhịp nhàng
Tuy đạt được nhiều thành tựu nhưng việc phối hợp CSTK và CSTT vẫncòn tồn tại nhiều hạn chế Việc phối hợp CSTK và CSTT mới chỉ hướng đếnviệc giải quyết từng mục tiêu kinh tế vĩ mô ưu tiên trong từng thời điểm chứchưa thực sự có sự phối hợp để giải quyết đồng bộ tất cả các mục tiêu vĩ mô.Chưa xây dựng được cơ sở khoa học trong việc quyết định lựa chọn CSTThay CSTK là công cụ sẽ phát huy được tác động nhiều nhất đến tổng cầu/hoặc liều lượng tác động của từng công cụ đến tổng cầu bao nhiêu là hợp lýtrong từng tình hình kinh tế cụ thể, nhất là trong bối cảnh suy thoái kinh tếhoặc lạm phát, Do đó, trong giai đoạn cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổimới mô hình tăng trưởng Việt Nam cần xây dựng nền tài chính quốc gia lànhmạnh, đảm bảo giữ vững an ninh tài chính, ổn định kinh tế vĩ mô, tài chính -tiền tệ, tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với đổi mới mô hình
Trang 13tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế Điều này đòi hỏi phải có sự phối hợp
nhịp nhàng hơn giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa của quốc gia
Xuất phát từ lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp'’” làm đề
tài cho luận văn thạc sỹ của mình
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là hoàn thiện sự phối hợp giữa chínhsách tiền tệ và chính sách tài khóa ở Việt Nam trong thời gian tới để phát huyhiệu quả cao nhất của các chính sách này tới ổn định kinh tế vĩ mô và thúcđẩy tăng trưởng bền vững
- Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ
và chính sách tài khóa ở Việt Nam trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chínhsách tài khóa
Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: đề tài nghiên cứu ở Việt Nam
- Về thời gian: khảo sát thực trạng trong giai đoạn từ 2013 - 2017 vàđịnh hướng giải pháp tới năm 2020
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp:
Thông tin thứ cấp được tác giả thu thập tại bàn, thông qua tìm đọc sách
Trang 14báo, tạp chí, chuyên ngành, mạng internet,
Luận văn sử dụng các số liệu thứ cấp bên trong thông qua thu thập từ cácbảng thống kê, báo cáo, tài liệu nội bộ của Ngân hàng nhà nước Việt Nam cóliên quan tới đề tài nghiên cứu
Đề tài còn sử dụng thêm dữ liệu thứ cấp bên ngoài là các số liệu từ cácbài báo, tạp chí chuyên ngành và các công trình nghiên cứu có liên quan nhưluận án, luận văn thạc sỹ, đề tài nghiên cứu khoa học, các bài viết trên tạp chíchuyên ngành,
- Phương pháp phân tích thông tin
Đề tài nghiên cứu có sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: phươngpháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá nhằm đánh giá thực trạng
5 Tổng quan tài liệu nghiên cứu có liên quan
CSTT và CSTK là hai chính sách vĩ mô quan trọng, do đó, đã có nhiềunghiên cứu trước đây liên quan tới sự phối hợp giữa CSTT và CSTK Điểnhình như các nghiên cứu sau đây:
Nguyễn Thị Thúy Diệu (2013), Chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ
có tác động đến tăng trưởng kinh tế? - nghiên cứu trường hợp tại Việt Nam,
luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh Luận văn đãXem xét CSTK và CSTT có tác động đáng kể đối với sự tăng trưởng kinh tếtrong trường hợp nghiên cứu tại Việt Nam hay không Luận văn sử dụngphương pháp nghiên cứu định lượng, kiểm tra ảnh hưởng của CSTK và CSTTlên tăng trưởng kinh tế Nhằm đo lường tác động của CSTK và CSTT đối vớităng trưởng kinh tế ở Việt Nam, tác giả thực hiện mô hình nghiên cứu với giảđịnh là tăng trưởng kinh tế chịu ảnh hưởng của các biến kinh tế vĩ mô như:cung tiền, chi tiêu Chính phủ và xuất khẩu Ở đây, biến cung tiền đại diện choCSTT; biến chi tiêu Chính phủ đại diện cho CSTK
Phạm Thị Phượng (2012), Tăng Cường Hiệu Quả Phối Hợp Giữa Chính Sách Tiền Tệ Và Chính Sách Tài Khóa Để Kiềm Chế Lạm Phát Ở Việt Nam, luận văn thạc sỹ, Đại học Quốc Gia Hà Nội Trình bày lý luận về việc
Trang 15phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa trong việc kiềm chếlạm phát Thực trạng về hiệu quả phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chínhsách tài khóa trong việc kiềm chế lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2006-2011:lạm phát và nguyên nhân lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 2006-2011; thựctrạng việc phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để kiểm chếlạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2006-2011 Giải pháp tăng cường hiệu quảphối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để kiềm chế lạm phát
tế ở Việt Nam qua đó tìm ra những giải pháp để góp phần nâng cao hiệu quảđiều hành CSTT và CSTK hiện nay và trong những năm tiếp theo Bài nghiêncứu sử dụng các phương pháp thống kê, tổng hợp, mô tả, so sánh và phân tích
để nghiên cứu các lý thuyết và thực trạng của CSTT, CSTK và sự tác độngcủa 2 chính sách đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
PGS,TS Tô Kim Ngọc và PGS.,TS Lê Thị Tuấn Nghĩa (2014), Phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa ở Việt Nam, Tạp chí Ngân hàng
nhà nước Bài nghiên cứu đã phân tích sự phối hợp chính sách tiền tệ và chínhsách tài khóa ở Việt Nam trong việc thực hiện mục tiêu kinh tế vĩ mô trongcác giai đoạn khác nhau của nền kinh tế Bài nghiên cứu đã chỉ ra những vấn
đề nảy sinh chủ yếu trong thực tế phối hợp hai chính sách, bao gồm: Cân đốingân sách chưa lành mạnh; CSTT và chính sách tài khóa chưa có sự phối hợptrong việc hoạch định và thực hiện mục tiêu chính sách ở tầm ngắn hạn và dài
Trang 16hạn; Thiếu nền tảng kỹ thuật làm căn cứ cho sự phối hợp chính sách; Việccung cấp thông tin và trách nhiệm giải trình của các cơ quan chính sách chưađược thiết lập một cách chính thức Bài nghiên cứu cũng đề xuất một số kiếnnghị như: Cân đối ngân sách cần lành mạnh và tích cực để đảm bảo tính bềnvững của ngân sách; NHNN và Bộ Tài chính cần có sự phối hợp trong việcxác định mục tiêu vĩ mô ưu tiên trong từng thời kỳ và phải tuân thủ điều phốichung cho mục tiêu đó; Thiết lập cơ chế cho việc cung cấp thông tin, minhbạch kỳ vọng chính sách và trách nhiệm giải trình của các cơ quan chính sách.
Ts Vũ Đình Ánh (2011), Chỉnh sách tài khóa và sự phối hợp với chính sách tiền tệ - một số bài học từ giai đoạn 2006-2010 Bài nghiên cứu đã phân
tích thực trạng phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ giai đoạn
2006 - 2010 Trong đó, bài nghiên cứu đưa ra các kiến nghị nhằm tăng cườngphối hợp hai chính sách này trong thời gian tới
Lê Trang (2012), Phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền
tệ trong quản lý vĩ mô ở Việt Nam, Ngân hàng nhà nước Nghiên cứu của tác
giả đã phân tích thực trạng phối hợp hai chính sách này thời gian qua Bêncạnh đó, tác giả đã chỉ ra những hạn chế trong sự phối hợp này
Nguyễn Thu Cúc (2013), Phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ: Thực trạng và một số đề xuất, Tạp chí Tài chính Bài nghiên cứu đã đánh giá
những vấn đề phức tạp phát sinh trong kết hợp hai chính sách này đó là sự lựachọn chính sách và phương thức vận hành: Thứ nhất, CSTK thắt chặt thể hiện ởviệc giảm đầu tư công, bên cạnh việc thu hẹp danh mục và quy mô đầu tư để táicấu trúc lại đầu tư công đang dẫn đến tình trạng tồn tại nhiều sản phẩm và côngtrình hay dự án dở dang Thứ hai, với CSTT thắt chặt, các DN tiếp cận nguồnvốn khó khăn, mặc dù cơ chế nới lỏng tín dụng đã được áp dụng cuối năm 2011,nhưng vẫn chưa được thực hiện triệt để trong thực tế Thứ ba, khó khăn khi hộinhập sâu vào nền kinh tế thế giới với khoản nợ nước ngoài, mặc dù đang ở mứcvừa phải, đòi hỏi ngân sách nhà nước phải gánh chịu khi đồng tiền của các chủ
nợ hay đối tác cung cấp ODA có hoàn lại với lãi suất ưu đãi có xu hướng mạnh
Trang 17lên so với đồng Việt Nam Thứ tư, tính phức tạp của việc phối hợp hai loại chínhsách này còn do mức độ đòi hỏi cao trong liên kết và phối hợp giữa nhiều cơquan khác nhau trong hoạch định và thực hiện Thứ sáu, CSTT và CSTK chưa
có sự phối hợp nhịp nhàng trong việc hoạch định và thực hiện mục tiêu chínhsách ở tầm ngắn hạn và dài hạn,
GS.TS Trần Thọ Đạt, TS Hà Quỳnh Hoa (2014), Phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế vĩ mô đến năm
2015, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Nghiên cứu của tác giả đã nghiên
cứu thực trạng nền kinh tế và mục tiêu của chính sách tiền tệ và chính sách tàikhóa ở Việt Nam thời gian qua Bài nghiên cứu đã nghiên cứu thực tế thựchiện chính sách tài khóa và tiền tệ thời gian qua ở Việt Nam Tác giả nhậnthấy thực tiễn ở Việt Nam, CSTK và CSTT đã có sự phối hợp với nhau ngàycàng tốt hơn trong giai đoạn 2001-2011, đặc biệt là trong giai đoạn sau khủnghoảng 2008-2011 Cơ sở lý thuyết của sự phối hợp hai chính sách được thểhiện trong mô hình IS-LM, CSTT tác động đến sự dịch chuyển của đường
LM, CSTK ảnh hưởng tới đường IS Tác giả đã tiến hành phân tích địnhlượng và đề xuất phương án phối hợp CSTK và CSTT cho năm 2014 và 2015
PGS.,TS Nguyễn Việt Hùng và PGS.,TS Hà Quỳnh Hoa - Trường
ĐH Kinh tế Quốc dân, ThS Nguyễn Vân Trường - Vụ CSTT, NHNN (2017),
Phối hợp chính sách tiền tệ và tài khóa ở Việt Nam giai đoạn 2001-2015 Bài
viết đánh giá thực trạng và đo lường mức độ phối hợp giữa chính sách tàikhóa (CSTK) và chính sách tiền tệ (CSTT) ở Việt Nam thời kỳ 2001 - 2015thông qua ước tính chỉ số phản ánh mức độ phối hợp của hai chính sách nàytheo cách tiếp cận STA (Set Theoretic Approach) Bài viết đồng thời thựchiện đề xuất phương án phối hợp CSTT và CSTK nhằm đạt được mục tiêutăng trưởng
6 Ket cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luậnvăn được kết cấu thành 3 chương:
Trang 18Chương 1: Cơ sở lý luận về sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và
chính sách tài khóa
Chương 2: Thực trạng sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính
sách tài khóa tại Việt Nam giai đoạn 2013 - 2017
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và
chính sách tài khóa tại Việt Nam thời gian tới
Trang 19CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ PHỐI HỢP CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ
CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ 1.1 CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA
1.1.1 Chính sách tiền tệ
1.1.1.1 Khái niệm
CSTT là một trong những chính sách kinh tế của quốc gia, nó được xâydựng và khởi động từ NHTW NHTW thực hiện CSTT thông qua các công cụcủa mình nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô của quốc gia
Chính sách tiền tệ đóng vai trò là một bộ phận quan trọng và không thểthiếu trong hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô cũng như trong quá trình điềuhành vĩ mô của Nhà nước Tuy nhiên, tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế vàgóc độ nghiên cứu, ta có thể định nghĩa Chính sách tiền tệ theo nghĩa rộng vàChính sách tiền tệ theo nghĩa hẹp; Chính sách tiền tệ của ngân hàng Trungương và Chính sách tiền tệ quốc gia
Có thể hiểu CSTT là chính sách kinh tế vĩ mô, thông qua các công cụcủa mình, NHTW chủ động thay đổi cung ứng tiền hoặc lãi suất (lãi suất liênngân hàng mục tiêu) nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội đề ra hoặctheo định nghĩa CSTT lấy từ luật NHNN Việt Nam 2010 (Tại khoản 1 điều3): “CSTT quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quannhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồngtiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biệnpháp để thực hiện mục tiêu đề ra
1.1.1.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ
a Mục tiêu cuối cùng
Tùy vào tình hình kinh tế xã hội của mỗi quốc gia khác nhau mà mỗinước sẽ theo đuổi những mục tiêu khác nhau, nhưng chủ yếu thường là mức
Trang 20tăng trưởng kinh tế, công ăn việc làm, tỷ lệ lạm phát, xuất nhập khẩu .Dolạm phát cao ảnh hưởng xấu đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô nên ở hầu hết cácnước, kiểm soát lạm phát là mục tiêu hàng đầu và dài hạn của CSTT:
Các NHTW thường lượng hoá mục tiêu này bằng chỉ số CPI NHTW sẽcam kết thực hiện chỉ tiêu CPI để ổn định giá trị tiền tệ trong dài hạn Tuynhiên, theo đuổi mục tiêu ổn định giá cả không đồng nghĩa với tỷ lệ lạm phátbằng 0 Những nghiên cứu cho thấy khi cố gắng duy trì lạm phát ở gần mức 0,nền kinh tế dễ rơi vào tình trạng giảm phát gây hậu quả còn nghiêm trọnghơn, đó làm nền kinh tế suy thoái Một mức lạm phát vừa phải được chứngminh là có ảnh hưởng tích cực tới mức tăng trưởng kinh tế
Thứ hai; Mục tiêu tăng trưởng kinh tế
Từ quan niệm K.Marx ta có thể hiểu: tăng trưởng kinh tế là sự gia tăngcủa tổng sản phẩm, dịch vụ xã hội và thu nhập của các hộ gia đình và chínhphủ Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế là chỉ số phản ánh mức tăng lên của GDP nămnay so với GDP năm trước khi cả hai cùng được tính trên cơ sở mức giá củanăm trước Một nền kinh tế tăng trưởng quá nóng thường kéo theo lạm phátcao, một nền kinh tế suy thoái thường kéo theo giảm phát, cả hai trường hợpnày đều bất lợi [14]
Một sự tăng trưởng kinh tế ổn định sẽ góp phần tạo ra một môi trường
Trang 21kinh doanh thuận lợi, trên cơ sở đó các doanh nghiệp có thể đưa ra một kếhoạch kinh doanh đúng đắn, đẩy mạnh đầu tư, tạo công ăn việc làm và tăngthu nhập cho người lao động Thông qua CSTT mà thay đổi lãi suất, qua đótác động đến tiết kiệm và đầu tư, từ đó tác động đến tăng trưởng kinh tế.
Thứ ba; Mục tiêu việc làm cao
Việc làm cao là mục tiêu của tất cả các chính sách kinh tế vĩ mô, trong
đó có CSTT, việc làm cao có ý nghĩa quan trọng bởi vì:
- Thiếu công ăn việc làm dẫn đến dư thừa lao động và các nguồn lực(nhà máy đóng cửa, máy móc thiết bị bỏ không), giảm tốc độ tăng trưởng,giảm sản lượng, hậu quả là giảm GDP
- Thất nghiệp gây nên tình trạng căng thẳng cho cá nhân và gia đình, gia tăng các tệ nạn xã hội như trộm, cướp,
Ở các nước phát triển tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên vào khoảng từ 4,5-6%.Hiển nhiên mục tiêu tăng trưởng kinh tế và việc làm cao có mối quan hệ mậtthiết bởi các doanh nghiệp đầu tư vốn càng nhiều, mở rộng sản xuất thì thấtnghiệp càng giảm nhưng trước hết các chính sách có thể hướng về mục tiêu thúcđẩy tăng trưởng kinh tế bằng cách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư trực tiếp vàngười dân tiết kiệm, trên cơ sở đó sẽ đạt được mục tiêu việc làm cao
Thứ tư; Mục tiêu ổn định thị trường tài chính
Thị trường tài chính là nơi tạo ra nguồn vốn cho phát triển kinh tế, luânchuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu, giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốntrong nền kinh tế Với vai trò quan trọng như vậy, sự ổn định của thị trườngtài chính có ý nghĩa rất lớn đối với nền kinh tế các quốc gia NHTW với khảnăng tác động tới khối lượng tín dụng và lãi suất có thể đem lại sự ổn địnhcho thị trường tài chính
Thứ năm; Mục tiêu ổn định lãi suất
Lãi suất là một biến số kinh tế vĩ mô quan trọng trong nền kinh tế, ảnh
Trang 22hưởng tới quyết định chi tiêu, tiết kiệm và đầu tư của các tổ chức và cá nhân.Lãi suất biến động thất thường sẽ gây khó khăn cho các tổ chức và cá nhântrong việc dự tính chi tiêu hay lập kế hoạch kinh doanh Do đó, ổn định lãisuất là một mục tiêu quan trọng mà các NHTW hướng tới nhằm góp phần ổnđịnh môi trường kinh tế vĩ mô.
Thứ sáu; Mục tiêu ổn định tỷ giá hối đoái
Trong điều kiện mở cửa kinh tế, các luồng hàng hoá và tiền vốn gắnliền với việc chuyển đổi giữa đồng nội tệ và ngoại tê Việc ngăn ngừa nhữngbiến động mạnh và bất thường trong tỷ giá sẽ giúp các hoạt động kinh tế đốingoại được hiệu quả hơn, ngoài ra tỷ giá còn ảnh hưởng tới khả năng cạnhtranh của hàng hoá trong nước với nước ngoài về mặt giá cả
b Mục tiêu trung gian
NHTW không thể sử dụng các công cụ của mình để tác động trực tiếp vàngay lập tức đến mục tiêu cuối cùng Anh hưởng của CSTT chỉ xuất hiện saumột thời gian nhất định Ở các nước phát triển, tác động của CSTT lên tăngtrưởng kinh tế phải mất một năm, còn lên lạm phát phải đến hai năm Đối vớinhững nước đang phát triển độ trễ sẽ ngắn hơn Do vậy, NHTW muốn đợi cácdấu hiệu về lạm phát, tỷ giá, thất nghiệp và tăng trưởng để điều chỉnh các công
cụ của mình thì sẽ quá trễ Để khắc phục được hạn chế này, NHTW cần xác địnhmục tiêu trung gian trước khi đạt được mục tiêu cuối cùng Gọi là mục tiêu trunggian bởi vì NHTW không kiểm soát trực tiếp được các chỉ tiêu này, nó nằm ởgiữa mục tiêu hoạt động và mục tiêu cuối cùng
Tiêu chí để chọn chỉ tiêu mục tiêu trung gian là:
Phải đo lường được: chỉ tiêu của mục tiêu trung gian phải đo lường
được chính xác và nhanh chóng, điều này là cần thiết vì chỉ tiêu trung gian chỉ
có ích đối với NHTW nếu nó báo hiệu được tình trạng CSTT nhanh hơn mụctiêu cuối cùng
Trang 23NHTW phải kiểm soát được: vì nếu NHTW không kiểm soát được
một chỉ tiêu trung gian, dù biết chỉ tiêu bị lệch hướng thì NHTW cũng khônglàm gì được, điều này là phản tác dụng và làm cho mọi cố gắng của NHTWtrở nên không có mục đích
Có mối liên hệ chặt chẽ đối với mục tiêu cuối cùng: do khả năng ảnh
hưởng đến các mục tiêu cuối cùng là rất quan trọng nên chỉ tiêu trung gianphải dự báo được những diễn biến của mục tiêu cuối cùng [14]
Các chỉ tiêu của mục tiêu trung gian bao gồm chỉ tiêu cung tiền (MS)hoặc chỉ tiêu lãi suất thị trường (i) NHTW không thể cùng một lúc tác động
cả hai chỉ tiêu trên vì hai chỉ tiêu trên không thể dung hòa với nhau nênNHTW chỉ có thể tác động vào một trong hai
Chỉ tiêu mức cung tiền và chỉ tiêu lãi suất có những mặt ưu nhược điểmriêng như: Lãi suất thị trường là lãi suất danh nghĩa được đo lường nhanhchóng và chính xác nhưng nó không phản ánh đúng lượng phí vay thực tế Phívay thực tế (lãi suất thực tế) này được đo lường chính xác hơn bằng cách lấylãi suất danh nghĩa - tỷ lệ lạm phát (ir = I - πe) và lãi suất thực tế thì khó đolường vì chúng ta khó xác định được lạm phát dự tính Còn đối với chỉ tiêutổng lượng tiền cung ứng, việc cố định mức tăng của tổng lượng tiền chophép lãi suất biến động đáp ứng những thay đổi của tiêu dung và đầu tư màkhông xuất phát từ lý do lãi suất, do đó giảm sự biến động của tổng cầu Vìthế mục tiêu tổng lượng tiền thích hợp với một nền kinh tế có tổng cầu biếnđộng mạnh bởi các lý do ngoài lãi suất Thực tế, các nước ưu tiên tăng trưởng
sẽ chú trọng mục tiêu trung gian là lãi suất, còn các nước ưu tiên mục tiêu ổnđịnh giá cả sẽ chú trọng mục tiêu trung gian là tổng lượng tiền cung ứng
c Mục tiêu hoạt động
Mục tiêu hoạt động bao gồm các chỉ tiêu phản ứng tức thời với sự điềuchỉnh của công cụ CSTT Các tiêu chuẩn lựa chọn chỉ tiêu hoạt động cũng
Trang 24tượng tự như tiêu chuẩn lựa chọn chỉ tiêu trung gian [3]
Phải đo lường được: nhằm tránh những suy đoán thiếu chính xác làm
sai lệch dấu hiệu của chính sách tiền tệ
NHTWphải kiểm soát được: NHTW phải có khả năng kiểm soát tốt
chỉ tiêu lựa chọn làm mục tiêu hoạt động bởi vì nếu không kiểm soát được chỉtiêu này thì NHTW không thể điều chỉnh nó về trạng thái mong muốn mỗi khi
nó trật ra ngoài quỹ đạo
Có thể dự tính được tác động đến mục tiêu cuối cùng: để khi NHTW
sử dụng các công cụ của mình tác động đến các chỉ tiêu của mục tiêu hoạtđộng thì nó sẽ truyền dẫn đến mục tiêu trung gian và đến mục tiêu cuối cùngtheo kỳ vọng của NHTW dựa trên mối quan hệ giữa các mục tiêu
Thông thường các chỉ tiêu được chọn làm mục tiêu hoạt động củaNHTW bao gồm: chỉ tiêu lãi suất (lãi suất liên ngân hàng và các lãi suất ngắnhạn khác), chỉ tiêu dự trữ (dự trữ R, dự trữ không vay NBR, tiền cơ sở MB)
Ta thấy, chỉ tiêu lãi suất liên ngân hàng và tiền cơ sở là hai chỉ tiêu có thể đolường chính xác và có thể sử dụng hàng ngày hầu như không chậm trễ và cảhai lại có thể kiểm soát dễ dàng bằng các công cụ chính sách Nhưng, cũnggiống như chỉ tiêu trung gian, khi xây dựng và điều hành CSTT, NHTWkhông thể lựa chọn cùng lúc hai chỉ tiêu làm chỉ tiêu hoạt động Tùy tình hìnhkinh tế và mục tiêu mà NHTW có thể lựa chọn một trong hai chỉ tiêu trên làmmục tiêu hoạt động của CSTT
1.1.1.3 Các công cụ của chính sách tiền tệ
a Nghiệp vụ thị trưởng mở
Nghiệp vụ thị trường mở là các hoạt động giao dịch mua bán cácGTCG của NHTW trên thị trưởng mở Thông qua hành vi mua bán GTCGnày, NHTW tác động trực tiếp đến nguồn vốn khả dụng của hệ thống cácTCTD cũng như lượng tiền cung ứng cho lưu thông và từ đó tác động gián
Trang 25tiếp đến lãi suất thị trường (Hình 1.1)
Lượng dự trữ (R): là tiền mặt dự trữ của hệ thống NHTM bao gồm dựtrữ bắt buộc và dự trữ dư thừa
Hình 1.1 Đồ thị cơ chế tác động của nghiệp vụ thị trường mở [3]
Trong đó:
id: lãi suất tái chiết khấu
if1: lãi suất liên ngân hàng tại điểm 1
if2: lãi suất liên ngân hàng tại điểm 2
Khi NHTW mua GTCG trên thị trường mở làm tăng lượng cung dự trữtức làm đường SR1 dịch chuyển tới SR 2, đường cung dịch chuyển sang phải vàtrạng thái cân bằng chuyển từ điểm 1 tới điểm 2, qua đó làm giảm lãi suất liênngân hàng từ if1 đến if2 Như vậy, khi NHTW mua GTCG, dự trữ của cácNHTM tăng lên kéo theo khả năng cho vay của các NHTM tăng, dẫn đến khốitiền cung ứng cho lưu thông cũng tăng lên theo hệ số nhân tiền, đồng thờicung cầu dự trữ cũng làm thay đổi lãi suất liên ngân hàng giảm Mặt khác, khiNHTW mua GTCG làm cầu về GTCG tăng, dẫn đến giá GTCG tăng, qua đótác động làm giảm lãi suất trên thị trường tài chính Ngược lại, khi NHTWbán GTCG tạo ra các hiệu ứng: làm cung tiền giảm, lãi suất liên ngân hàngtăng, qua đó tác động làm tăng lãi suất thị trường
Trang 26Ưu điểm của công cụ này:
- Nghiệp vụ thị trường mở được tiến hành theo chủ ý của NHTW nênNHTW kiểm soát hoàn toàn được khối lượng của nghiệp vụ mà các công cụkhác không có được
- Nghiệp vụ thị trường mở rất linh hoạt và chính xác cho bất kỳ một quy
- Nghiệp vụ thị trường mở tác động thông qua cơ chế thị trường theomức lãi suất do NHTW ấn định
Nhược điểm của công cụ này:
Việc thực hiện công cụ nghiệp vụ thị trường mở đòi hỏi sự phát triểncủa thị trường tài chính thứ cấp nói chung và thị trường tiền tệ nói riêng.Ngoài ra, NHTW phải có khả năng dự đoán và kiểm soát sự biến động củalượng vốn khả dụng trong hệ thống ngân hàng
b Công cụ tái cấp vốn
Công cụ tái cấp vốn là công cụ của NHTW trong việc điều tiết khốilượng cung tiền trong nền kinh tế thông qua nghiệp vụ cấp tín dụng đối vớicác TCTD bằng cách cho vay, chiết khấu hoặc tái chiết khấu các loại GTCGvới mục đích gây ảnh hưởng tới lượng tiền cung ứng và lãi suất thị trường
Tái cấp vốn thực chất là hoạt động của NHTW nhằm cung ứng vốn khảdụng cho các TCTD Tái cấp vốn có thể được thực hiện dưới các hình thức:cho vay lại hồ sơ tín dụng; chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và cácchứng từ có giá khác; cho vay có đảm bảo bằng cầm cố chứng từ có giá
Trang 27Trong đó, chiết khấu, tái chiết khấu là hình thức tái cấp vốn chủ yếu củaNHTW do mức độ rủi ro thấp Lãi suất tái chiết khấu được xem là lãi suất màNHTW cấp vốn cho các TCTD và lãi suất tái chiết khấu này phải là lãi suấttrần, cao hơn lãi suất liên ngân hàng để khuyến khích các TCTD huy độngvốn trên thị trường liên ngân hàng và NHTW chỉ cung ứng vốn khi các TCTDgặp khó khăn trong việc huy động vốn trên thị trường liên ngân hàng.
Hình 1.2 Đồ thị cơ chế tác động của chính sách tái chiết khấu
Trong đó:
id: lãi suất tái chiết khấu
if: lãi suất liên ngân hàng
Lượng dự trữ (R): là tiền mặt dự trữ của hệ thống NHTM bao gồm dự trữbắt buộc và dự trữ thừa
NHTW có thể thay đổi lãi suất chiết khấu và hạn mức tín dụng qua đóảnh hưởng đến hoạt động đi vay của ngân hàng như sau:
- Hạn mức tín dụng: Dự trữ bổ sung cho các ngân hàng có thể thu hẹphoặc mở rộng phụ thuộc vào hạn mức chiết khấu của ngân hàng từ đó ảnh hưởngđến khả năng tạo tiền của ngân hàng và làm thay đổi lượng tiền cung ứng Mặtkhác cung tiền thay đổi sẽ tác động làm cho lãi suất thị trường thay đổi
Trang 28- Lãi suất chiết khấu: khi NHTW tăng lãi suất chiết khấu, làm tăng chiphí đi vay của ngân hàng, để kinh doanh có lãi ngân hàng phải tăng lãi suấtcho vay, từ đó giảm nhu cầu tín dụng Ngoài ra, khi lãi suất chiết khấu tănglàm chi phí đi vay của các ngân hàng tăng và các ngân hàng hạn chế đi vayNHTW và để hồi phục dự trữ các ngân hàng phải giảm cung ứng tín dụng,khiến lãi suất thị trường tăng.
Ưu điểm của công cụ này:
- NHTW có thể sử dụng công cụ tái cấp vốn để thực hiện vai trò làngười cho vay cuối cùng
- Các khoản cho vay chiết khấu đều được bảo đảm bằng các giấy tờ
có giá, nên NHTW chắc chắn thu hồi được nợ khi đến hạn
* Nhược điểm của công cụ này:
- Tác dụng của chính sách tiền tệ chỉ phát huy khi các NHTM có nhucầu vay từ NHTW tại mức lãi suất phù hợp Với sự phát triển của thị trườngtài chính, các NHTM có thể tìm được các nguồn vay thay thế làm cho sự phụthuộc vào các khoản vay của NHTW giảm đi, do đó làm giảm bớt mức độphát huy hiệu quả của công cụ này
- NHTW khó kiểm soát được hoàn toàn những tác động của công cụnày bởi vì NHTW chỉ có thể thay đổi được lãi suất chiết khấu và các điềukiện cho vay mà không kiểm soát được mức vay của các NHTM
- Công cụ này không dễ khắc phục sai sót như nghiệp vụ thị trường mở
c Dự trữ bắt buộc
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các TCTD phải duy trì trên tài khoản tiềngửi tại NHTW, được xác định bằng tỷ lệ dữ trữ bắt buộc trên tổng số dư tiềngửi trong một khoảng thời gian nhất định Tỷ lệ dữ trữ bắt buộc được quyđịnh khác nhau cho các thời hạn tiền gửi, quy mô và tính chất hoạt động củacác TCTD
Trang 29Lượng dự trữ (R): là tiền mặt dự trữ của hệ thống NHTM bao gồm dự trữbắt buộc và dự trữ dư thừa.
Khi tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng thì mức dữ trữ bắt buộc tăng vì vậy tổngcầu về dự trữ tăng (trong điều kiện cung dữ trữ là khối lượng tiền NHTWcung ứng cho NHTM thông qua nghiệp vụ thị trường mở và chiết khâu làkhông đổi) tại bất kỳ mức lãi suất cho trước nào Do đó, chính sách dữ trữ bắtbuộc làm cho đường cầu dịch chuyển sang phải từ DR 1 đến DR 2 và trạng tháicân bằng chuyển từ if1 đến if2, như vậy khi NHTW tăng tỷ lệ dữ trữ bắt buộc
sẽ làm lãi suất liên ngân hàng tăng Mặt khác, hạn mức dự trữ của các ngânhàng tăng làm giảm quy mô cho vay của hệ thống ngân hàng, từ đó làm giảmlượng cung tiền vì hệ số nhân tiền giảm
Hình 1.3 Đồ thị cơ chế tác động của dữ trữ bắt buộc
Trong đó:
id: lãi suất tái chiết khấu
if: lãi suất liên ngân hàng
Ưu điểm của công cụ này:
- Là công cụ đầy quyền lực và ảnh hưởng rất mạnh đến lượng tiền cungứng Chỉ cần một sự thay đổi nhỏ tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ dẫn đến một sự thayđổi đáng kể khối lượng tiền cung ứng
Trang 30Nhược điểm của công cụ này:
- Bất lợi chủ yếu của công cụ dữ trữ bắt buộc là có thể khiến cho một
số ngân hàng có dữ trữ vượt mức quá thấp rơi vào tính trạng mất khả năngthanh khoản
- Việc thay đổi thường xuyên tỷ lệ dữ trữ bắt buộc khiến ngân hàng rơi vàotình trạng bất ổn trong việc quản lý thanh khoản, làm phát sinh tăng chi phí
d Các công cụ khác
Khung lãi suất: Với những nước có tín dụng ngân hàng là nguồn tín
dụng chủ yếu, việc quy định giới hạn dao động các mức lãi suất của ngânhàng bằng cách định ra một khung lãi suất sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến mứclãi suất thị trường Khung lãi suất bao gồm mức lãi suất trần (là mức lãi suấttối đa mà các ngân hàng được phép ấn định khi vay hoặc cho vay) và lãi suấtsàn (là mức lãi suất tối thiểu mà các ngân hàng được ấn định khi cho vay hoặc
đi vay) Thực tế cho thấy đây là một công cụ cứng nhắc, dễ gây tác động xấutới hoạt động tiết kiệm và đầu tư nên chỉ áp dụng trong trường hợp đặc biệtnhư: ổn định kinh tế vĩ mô chưa được thiết lập hay các yếu tố thị trường chưaphát triển hoàn chỉnh
Biên độ dao dộng tỷ giá: Đây là công cụ có tính hành chính, quy định
mức tỷ giá tối đa và tối thiểu mà các ngân hàng được phép áp dụng khi kinhdoanh ngoại hối Do tính cứng nhắc của công cụ nên bên cạnh khả năng tácđộng trực tiếp đến mức tỷ giá trên thị trường nó cũng gây ra nhiều phản ứngtiêu cực của thị trường, có thể dẫn đến những biến động không mong muốn về
tỷ giá hối đoái
Công cụ này chỉ nên dùng trong những trường hợp khẩn cấp và trongthời gian ngắn, khi mà NHTW không thể sử dụng các biện pháp mang tính thịtrường như mua bán ngoại tệ do dữ trữ của quốc gia về ngoại hối không đủ đểcan thiệp
Trang 31Công cụ hạn mức tín dụng: Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà
mỗi TCTD được phép duy trì theo quy định của NHTW trong từng thời kỳ.Hạn mức tín dụng cho các tổ chức tín dụng là khác nhau phụ thuộc vào đặcthù và năng lực kinh doanh cũng như mức tổng dư nợ tín dụng dự tính củaNHTW cho toàn bộ nền kinh tế Do là mệnh lệnh hành chính nên công cụ nàythiếu linh hoạt, giảm tính ưu việt của thị trường, đặc biệt là khi hạn mứckhông phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế thì còn gây cản trở việc NHTWđạt được các mục tiêu của CSTT
1.1.2 Chính sách tài khóa
1.1.2.1 Khái niệm
CSTK là một phạm trù kinh tế học dùng để chỉ các hành động củaChính phủ quyết định mức chi tiêu công và cách thức có đủ nguồn lực tàichính để đảm bảo mức chi tiêu công đó Chính phủ phải chi tiêu cho nhiềunhiệm vụ rất đa dạng Có nhiều nguồn để đảm bảo cho các khoản chi trên,trong đó quan trọng nhất là thu thuế từ người dân và vay nợ để bù đắp thâmhụt ngân sách CSTK là một công cụ của chính sách kinh tế vĩ mô được Chínhphủ sử dụng để huy động, phân phối và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tàichính nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia
CSTK là việc sử dụng NSNN để tác động vào nền kinh tế Khi Chính phủquyết định đánh thuế để huy động nguồn thu và thực hiện các khoản chi tiêu đểcung cấp hành hóa công, đó là những hoạt động liên quan đến CSTK [9]
Chính sách tài khoá là việc Chính phủ sử dụng một hệ thống giải phápthông qua thuế khoá và chi tiêu công cộng để điều tiết mức chi tiêu của nềnkinh tế Khi nền kinh tế ở cách xa mức sản lượng tiềm năng thì Chính phủ cóthể sử dụng chính sách tài khoá để đưa nó về mức sản lượng tiềm năng Nhàkinh tế học Keynes coi chính sách tài khoá là chính sách trung tâm trong quátrình điều tiết nền kinh tế của Chính phủ
Trang 32Ta có thể định nghĩa một cách khái quát nhất về CSTK như sau: “Chínhsách tài khóa là chính sách nhằm tác động đến định hướng phát triển của nềnkinh tế thông qua việc thay đổi chính sách thuế và các khoản chi tiêu củaChính phủ.” [22]
Khi nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái, thất nghiệp cao, tổng cầugiảm ở mức thấp, khu vực doanh nghiệp giảm đầu tư, khu vực dân cư giảmtiêu dùng Để tăng thu nhập, tăng tổng cầu, Chính phủ cần tăng chi tiêu, giảmthuế để tăng tổng chi của toàn xã hội Thông qua tác động của mô hình sốnhân mà khuếch đại vào mức tăng sản lượng, đẩy nó tiến gần mức sản lượngtiềm năng
Khi nền kinh tế ở trạng thái tăng trưởng quá mức, lạm phát tăng lên,tổng cầu ở mức cao, Chính phủ phải cắt giảm chi tiêu, tăng thuế làm cho mứcchi tiêu chung của nền kinh tế giảm xuống để sản lượng của nền kinh tế giảmtheo, lạm phát sẽ chững lại Việc thay đổi thuế một mặt làm thay đổi thunhập, mặt khác thuế cũng có thể tác động đến giá cả hàng hóa
Tóm lại, chính sách tài khoá là một trong 2 công cụ quan trọng giúpNhà nước thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô
1.1.2.2 Mục tiêu của chính sách tài khoá
Mục tiêu tổng thể của chính sách tài khóa là cùng với chính sách tiền
tệ, chính sách kinh tế đối ngoại, chính sách tỉ giá hối đoái điều tiết nhằm ổnđịnh kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, thúc đẩy tăng trưởng thông qua 2công cụ của chính sách tài khoá là chi tiêu của Chính phủ và hệ thống thuế
Mục tiêu cụ thể của chính sách tài khóa bao gồm:
Một là, bảo đảm cung cấp các hàng hóa công cộng, phúc lợi xã hội:
Nhà nước chi tiêu tài chính để cung cấp các hàng hóa công cộng (kết cấu
hạ tầng, thông tin ), đầu tư vào các ngành then chốt, các công trình mũi nhọn
Về lý luận, nhu cầu chi tiêu cho các hàng hóa công cộng, phúc lợi xã
Trang 33hội có thể chia làm 3 cấp: i) Bảo đảm cho chính phủ thực hiện chức năng củamình - như quốc phòng, ngoại giao, tư pháp, an ninh, quản lý hành chính vàgiáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học và bảo vệ môi trường; ii) Thiết bị, cơ sở
hạ tầng công cộng như bưu chính, viễn thông, đường sắt, điện lực,.; iii) một
số nhu cầu mang tính chất phúc lợi xã hội như bảo hiểm xã hội, trợ cấp,
Trong ba cấp độ trên, ngoài cấp độ thứ nhất thuộc nhu cầu công cộng xãhội tương đối ổn định, còn 2 yếu tố sau không ngừng thay đổi và thể hiện khácnhau trong các thời kỳ và bối cảnh khác nhau ở mỗi quốc gia, chẳng hạn như:giáo dục dạy nghề có thể gọi là nhu cầu bán công cộng: có thể do Chính phủ chitrả, có thể vừa do người đi học và chính phủ cùng chịu chi phí giáo dục,
Hai là, thúc đẩy phát triển kinh tế ở mức độ thích hợp
Cùng với mục tiêu bảo đảm cung cấp hàng hóa công cộng, chính sáchtài khóa còn thực hiện mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế Thông qua việcban hành, thực hiện và điều chỉnh chính sách tài khóa nhằm làm cho kinh tếtăng trưởng ổn định, bền vững, cán cân thanh toán quốc tế cân đối, tỷ lệ người
có việc làm cao, Khi nền kinh tế có hiện tượng mất cân đối như suy giảmtiêu dùng hoặc phát triển quá nóng, Chính phủ có thể sử dụng các đòn bảynhư điều chỉnh cơ cấu thuế suất, cơ cấu đầu tư, trái phiếu, để thực hiện cânbằng về tổng lượng và cơ cấu cung - cầu
Thông qua công cụ thuế, CSTK có thể góp phần định hướng đầu tư,hạn chế độc quyền và giảm thông tin không cân xứng và cung cấp hàng hóacông cộng
Thông qua công cụ thuế, CSTK có thể góp phần định hướng đầu tư,hạn chế độc quyền, giảm thông tin không cân xứng và cung cấp hàng hóacông cộng Ví dụ, đối với những vùng tiềm năng còn chưa được khai thác, cóthể áp dụng ưu đãi về thuế đối với đầu tư, dùng thuế điều tiết bớt lợi nhuậncủa các hãng độc quyền, đánh thuế ô nhiễm môi trường,
Trang 34Như vậy, CSTK hợp lý sẽ tác động tích cực đến việc phân bổ và gópphần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài chính của xã hội, góp phầnhình thành và hoàn thiện cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh tế - xã hội, thúc đẩyphát triển kinh tế ở mức độ thích hợp.
Ba là, duy trì ổn định xã hội, từng bước nâng cao chất lượng đời sống
xã hội
Trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, vai trò của CSTK thường đượcthể hiện qua các hoạt động chi tiêu Ví dụ, đầu tư nâng cấp hoặc xây dựngmới các công trình thuộc lĩnh vực hạ tầng kinh tế - xã hội ở những vùng cònkhó khăn; tài trợ cho việc thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo, hỗ trợ tàichính cho giải quyết việc làm,
Nhà nước có thể sử dụng công cụ thuế và công cụ chi tiêu để lấy bớtthu nhập của những người có thu nhập cao, nâng đỡ người có thu nhập thấp,nhằm giảm bớt sự bất công trong phân phối thu nhập Theo đó, công cụ thuếthường được sử dụng theo hướng: Đánh thuế lũy tiến vào thu nhập cao, đánhthuế tiêu thụ đặc biệt với thuế suất cao vào những hàng hóa mà người có thunhập cao mới có thể mua và tiêu dùng phần lớn; giảm thuế cho những hànghóa thiết yếu, thường do người mua có thu nhập thấp mua và sử dụng phầnlớn Qua đó điều chỉnh lại cơ cấu phân phối thu nhập kinh tế quốc dân, gópphần quan trọng trong duy trì ổn định xã hội
1.1.2.3 Công cụ của chính sách tài khóa
a Thuế
Thuế là một hình thức huy động nguồn tài chính cho Nhà nước đã có từlâu đời Khi Nhà nước ra đời, thuế trở thành công cụ để Nhà nước có đượcnguồn thu nhằm trang trải các chi tiêu của Nhà nước Trải qua quá trình pháttriển lâu dài và cho đến nay, các Nhà nước đều sử dụng thuế để phân phối cáckhoản thu nhập và huy động nguồn thu cho Nhà nước Nhà nước dùng quyền
Trang 35lực của mình ban hành các luật thuế để bắt buộc dân cư và các tổ chức kinh tếđóng góp cho Nhà nước Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã khẳng định,một trong những quyền lực công của Nhà nước là thu thuế.
Thuế là khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhànước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng chomục đích công cộng
Thuế mang sẵn trong nó các đặc điểm cơ bản sau đây:
- Thuế là hình thức động viên mang tính bắt buộc trên nguyên tắc luậtđịnh Đóng thuế là nghĩa vụ bắt buộc không được từ chối Phân phối cáckhoản thu nhập qua thuế gắn với quyền lực, sức mạnh của Nhà nước Nhànước dựa vào quyền lực to lớn của mình để ấn định các thứ thuế, bắt buộcngười nộp thuế phải thực hiện để Nhà nước có nguồn thu ổn định, thườngxuyên, đảm bảo trang trải các khoản chi trong hoạt động hàng ngày của Nhànước mà vẫn ổn định được ngân sách nhà nước
- Thuế là khoản đóng góp không hoàn trả trực tiếp cho người nộp Nóvận động một chiều không phải là khoản thù lao mà người nộp thuế phải trảcho Nhà nước do được hưởng các dịch vụ do Nhà nước cung cấp
- Thuế là hình thức đóng góp được quy định trước Dĩ nhiên, thuế mangtính giai cấp của Nhà nước đã ban hành ra nó Mỗi Nhà nước lại mang tínhgiai cấp khác nhau nên khi vận dụng các đặc điểm vốn có của thuế đều phảitìm cách bảo vệ lợi ích của giai cấp mà Nhà nước đại diện
Hệ thống thuế bao gồm nhiều sắc thuế mà Nhà nước sử dụng nhằm tạolập nguồn thu cho ngân sách Nhà nước và thực hiện những mục tiêu nhất địnhtrong quản lý kinh tế - xã hội
- Phân loại theo tính chất chuyển giao của thuế:
Chuyển giao thuế là việc xác định ai là người nộp thuế, ai là người thực
sự phải gánh chịu thuế Theo tiêu thức này thuế được chia thành hai loại thuế
Trang 36là thuế trực thu và thuế gián thu.
+ Thuế trực thu: Là các thứ thuế trực tiếp huy động một phần thu nhập
của người làm nghĩa vụ Đặc điểm cơ bản của thuế trực thu là người nộp thuế
và người chịu thuế là một Nó đánh trực tiếp vào người nộp thuế, tức là người
có thu nhập chịu thuế làm giảm phần thu nhập của họ Ở đây không có hiệntượng chuyển giao gánh nặng thuế cho người khác chịu Ở nước ta, đó là cácthứ thuế như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế sử dụngđất nông nghiệp
+ Thuế gián thu: Là các thứ thuế mà người nộp thuế gián tiếp nộp thuế
cho người tiêu dùng, họ không phải là người chịu thuế Đặc điểm cơ bản củathuế gián thu là được cấu thành trong giá cả hành hoá, dịch vụ để bán ra Ởđây có sự chuyển giao gánh nặng thuế từ người nộp thuế theo luật định sangngười tiêu dùng qua cơ chế giá cả Ở nước ta, đó là các thứ thuế giá trị giatăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu,
Thuế trực thu có thể trực tiếp điều tiết bớt thu nhập của các doanh nghiệp
và cá nhân nên người ta thường sử dụng thuế suất luỹ tiến để điều tiết những thunhập cao Thuế gián thu lại có tầm quan trọng trong việc thúc đẩy giao lưu hànghoá, mở rộng hoặc thu hẹp sự lưu thông hàng hoá nên người ta thường sử dụngthuế suất tỷ lệ cao thấp khác nhau nhằm khuyến khích hay hạn chế chúng
- Phân loại thuế theo đối tượng đánh thuế
Dựa vào đối tượng đánh thuế, nghĩa là thuế đánh trên cái gì, thuế đượcchia thành:
+ Thuế thu nhập như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh
nghiệp,
+ Thuế tài sản như thuế sử dụng tài sản nhà nước (thuế sử dụng đất
nông nghiệp, thuế tài nguyên,.), thuế chuyển nhượng tài sản (thuế chuyểngiao quyền sử dụng đất, thuế mua, bán các tài sản như nhà, xe cộ,.)
Trang 37+ Thuế tiêu dùng đánh vào hàng hoá, dịch vụ lưu thông trên thị trường
trong nước và xuất nhập khẩu như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt,thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu,
Cách phân loại này giúp cho việc tìm các giải pháp để quản lý, khai thác,bồi dưỡng từng nguồn thuế, đồng thời còn giúp cho việc xem xét thuế với việcđảm bảo quản lý được các hoạt động khác nhau, các nguồn thu nhập khác
b Chi ngân sách nhà nước
Chi ngân sách Nhà nước là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính
đã được tập trung vào ngân sách Nhà nước và đưa chúng đến mục đích sửdụng Vì thế, chi ngân sách Nhà nước là những việc cụ thể, không chỉ dừnglại trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động vàtừng công việc thuộc chức năng của Nhà nước Ở đây, cần phân biệt hai quátrình trong chi ngân sách Nhà nước, bởi nó có ý nghĩa quan trọng trong quản
Chi ngân sách Nhà nước chính là sự phối hợp giữa hai quá trình đó
Trong mỗi chế độ xã hội, mỗi giai đoạn lịch sử, chi ngân sách Nhànước có nội dung, cơ cấu khác nhau, song chúng có những đặc điểm chungdưới đây:
- Chi ngân sách Nhà nước gắn với bộ máy nhà nước và những nhiệm
vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước đảm đương trong từng thời kỳ
Chi ngân sách Nhà nước phải đảm bảo các hoạt động của Nhà nước
Trang 38trên tất cả các lĩnh vực Nhưng nguồn ngân sách Nhà nước có được trong từngnăm, từng thời kỳ lại có hạn làm hạn chế phạm vi hoạt động của Nhà nước,buộc Nhà nước phải lựa chọn để xác định rõ phạm vi chi ngân sách Nhà nước.Nhà nước không thể bao cấp tràn lan qua ngân sách Nhà nước, mà phải tậptrung nguồn tài chính vào phạm vi hoạch định để giải quyết các vấn đề lớncủa đất nước.
- Chi ngân sách Nhà nước gắn với quyền lực của nhà nước, Quốc hội là
cơ quan quyền lực cao nhất quyết định quy mô, nội dung, cơ cấu chi ngânsách Nhà nước và phân bổ nguồn vốn ngân sách cho các mục tiêu quan trọngnhất, bởi vì Quốc hội là cơ quan quyết định các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xãhội của quốc gia Chính phủ là cơ quan hành pháp, có nhiệm vụ quản lý, điềuhành các khoản chi ngân sách Nhà nước
- Hiệu quả chi ngân sách Nhà nước khác với hiệu quả sử dụng vốn củacác doanh nghiệp, nó được xem xét trên tầm vĩ mô và là hiệu quả kinh tế, xãhội, an ninh quốc phòng, , dựa vào việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế, xãhội, an ninh, quốc phòng,., mà các khoản chi ngân sách đảm nhận
Tuy nhiên, điều đó không bác bỏ trong đầu tư phải chú ý tới hiệu quảkinh tế, nhất là các khoản vay nợ để đầu tư
- Chi ngân sách Nhà nước là những khoản chi không hoàn trả trực tiếp.Các khoản cấp phát từ ngân sách Nhà nước cho các ngành, các cấp, cho cáchoạt động văn hoá, xã hội, giúp đỡ người nghèo,., không phải trả giá hoặchoàn lại cho Nhà nước Đặc điểm này giúp phân biệt các khoản chi ngân sáchNhà nước với các khoản tín dụng Tuy nhiên, ngân sách Nhà nước cũng cónhững khoản chi cho việc thực hiện chương trình mục tiêu mà thực chất làcho vay ưu đãi có hoàn trả gốc với lãi suất rất thấp hoặc không có lãi (chi giảiquyết việc làm, xoá đói giảm nghèo,.)
- Chi ngân sách Nhà nước là một bộ phận cấu thành luồng vận động
Trang 39tiền tệ và nó gắn liền với sự vận động của các phạm trù giá trị khác như giá
cả, tiền lương, tín dụng, thuế, tỷ giá hối đoái,
Chi ngân sách Nhà nước có quy mô lớn, phức tạp, có tác động mạnh
mẽ đến môi trường tài chính vĩ mô, đến tổng cung, tổng cầu về tiền tệ Nếuthu, chi ngân sách Nhà nước cân đối được, về cơ bản tổng cung tổng cầu vềhàng hoá, dịch vụ của xã hội sẽ ổn định
Do tính đa dạng và phức tạp nên chi ngân sách Nhà nước có rất nhiềukhoản mục khác nhau, bao gồm:
- Chi đầu tư phát triển gồm: các khoản chi cho đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng; chi cho các chương trình, mục tiêu quốc gia, dự án Nhà nước; chi hỗtrợ các doanh nghiệp nhà nước, góp vốn liên doanh, liên kết; chi bổ sung dựtrữ nhà nước
- Chi sự nghiệp kinh tế;
- Chi cho y tế;
- Chi cho giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học;
- Chi cho văn hoá, thể dục thể thao;
- Chi về xã hội;
- Chi quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể;
- Chi cho an ninh, quốc phòng;
- Chi khác: như chi viện trợ, cho vay, trả nợ gốc và lãi
1.2 PHỐI HỢP GIỮA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA
1.2.1 Phối hợp về thực hiện mục tiêu
Chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa là hai công cụ quản lý kinh tế
vĩ mô quan trọng, mỗi chính sách có mục tiêu riêng, nhưng đều cùng theođuổi mục tiêu chung là tăng trưởng kinh tế bền vững và có mối quan hệ chặtchẽ với nhau Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ thường theo đuổi các
Trang 40mục tiêu khác nhau Chính sách tài khóa là tổng hợp các quan điểm, cơ chế vàphương thức huy động các nguồn hình thành ngân sách nhà nước, các quỹ tàichính có tính chất tập trung của Nhà nước nhằm mục tiêu phục vụ các khoảnchi lớn của ngân sách nhà nước theo kế hoạch từng năm tài chính, gồm: Chithường xuyên, chi đầu tư phát triển, bổ sung quỹ dự trữ quốc gia, trả nợ trong
và ngoài nước đến hạn Chính sách tiền tệ là việc thực hiện tổng thể các biệnpháp, sử dụng các công cụ của Ngân hàng Nhà nước nhằm góp phần đạt đượcmục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô thông qua việc chi phối dòng chuchuyển tiền và khối lượng tiền Đôi khi chính sách tài khóa để đạt được một
số mục tiêu đề ra đã gây hậu quả xấu cho việc thực thi các mục tiêu của chínhsách tiền tệ và ngược lại
Mặc dù CSTK và CSTT sử dụng hệ thống các công cụ khác nhau, cơchế truyền tải cũng khác nhau nhưng mục tiêu cuối cùng cả hai chính sáchđều hướng đến là ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng kinh tế bền vững nêncác mục tiêu kinh tế vĩ mô chính là cơ sở để thực hiện phối hợp chính sách tàikhóa - tiền tệ Phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ giữa chính sách tài khóa vàchính sách tiền tệ cần được hiểu là phải đảm bảo giải quyết các tác động củahai chính sách tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế vĩ mô trong ngắn hạn và dàihạn Trong ngắn hạn, hai chính sách phải phối hợp nhằm đạt được các mụctiêu của từng chính sách một cách có trật tự, bao gồm cả ổn định giá Trongdài hạn, hai chính sách phải phối hợp phải đảm bảo được lợi ích cân bằnggiữa mục tiêu của từng chính sách với mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững,kiềm chế lạm phát
Trong trường hợp phải ổn định lạm phát kỳ vọng và kiềm chế lạm phátthì bản thân CSTT không hiệu quả, nếu như CSTK không có những động tháiphối hợp để phát đi một tín hiệu chung về quyết tâm kiểm soát lạm phát củaChính phủ Eijffinger & Haan (1996) cho rằng, nếu thâm hụt ngân sách kéo