1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nhân tố chủ quan với việc thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay (qua thực tế vĩnh phúc)

97 724 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhân tố chủ quan với việc thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay (qua thực tế Vĩnh Phúc)
Tác giả Nhóm Tác Giả
Người hướng dẫn PHT. Nguyễn Văn A
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Xã hội học, Chính trị học
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 645 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều kiện tập trung đầu tư giáo dục và phát triển kinh tếlại thuộc về những người có thu nhập cao, các tệ nạn xã hội như buôn lậu,tham nhũng, trốn thuế, lợi dụng chức quyền, lợi dụng kẽ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nhân loại đã bước vào thế kỷ XXI Thế kỷ mới với những xu hướng,thuận lợi, khó khăn và thách thức mới Thế kỷ bùng nổ thông tin, khoa họchiện đại, kỹ thuật tiên tiến, kinh tế hội nhập đã làm cho cục diện thế giới cónhiều biến động và phân hóa sâu sắc về các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội,

an ninh, quốc phòng Một số quốc gia, dân tộc đã có những thay đổi lớn sovới những thập niên cuối thế kỷ XX

Việt Nam, sau 20 năm thực hiện đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Namkhởi xướng và lãnh đạo, chúng ta đã thu được những thành tựu to lớn đángtrân trọng, kinh tế phát triển khá, chính trị tương đối ổn định, an ninh đượcgiữ vững, quốc phòng được tăng cường, đời sống nhân dân không ngừngđược cải thiện Đại hội IX của Đảng (2001) tiếp tục khẳng định: Phát triểnnền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sựquản lý của Nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa, phấn đấu từ nay đến năm

2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp, tất cả vì mục tiêudân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Đại hội X củaĐảng (2006) một lần nữa chỉ rõ: phải thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội(CBXH) ngay trong từng bước và trong từng chính sách phát triển

Nền kinh tế thị trường (KTTT) đã đem lại những thành tựu to lớn vềkinh tế sau 20 năm thực hiện đổi mới Đây là điều kiện quan trọng tạo tiền đềkinh tế vững chắc cho việc thực hiện CBXH Tuy nhiên, KTTT cũng bộc lộnhững nhược điểm làm ảnh hưởng không tốt đến việc thực hiện CBXH, sựchênh lệch thu nhập, phân hóa giàu nghèo cũng như trình độ dân trí,… cóchiều hướng ngày càng gia tăng giữa các vùng miền, tỷ lệ đói nghèo phần lớntập trung chủ yếu ở nông thôn, vùng sâu vùng xa, biên giới và hải đảo, miền

Trang 2

núi, dân tộc thiểu số Điều kiện tập trung đầu tư giáo dục và phát triển kinh tếlại thuộc về những người có thu nhập cao, các tệ nạn xã hội như buôn lậu,tham nhũng, trốn thuế, lợi dụng chức quyền, lợi dụng kẽ hở trong quản lýkinh tế để làm giàu phi pháp đang trở thành điểm nóng được dư luận hết sứcquan tâm, bất công, bất bình đẳng trong xã hội ngày càng trở nên nghiêmtrọng đòi hỏi phải có câu trả lợi thỏa đáng.

Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trươngchính sách nhằm phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện tốt CBXH

Kết hợp chặt chẽ, hợp lý các mục tiêu kinh tế với các mụctiêu xã hội trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, từng địa phương;thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từngchính sách phát triển, thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sởphát triển kinh tế, gắn quyền lợi với nghĩa vụ, cống hiến với hưởngthụ, tạo động lực mạnh mẽ hơn cho phát triển kinh tế - xã hội Song việc thực hiện ở các cấp các ngành vẫn còn những vấn đề bấtcập chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra, vấn đề bất công, bất bìnhđẳng trong xã hội ngày càng có nguy cơ trở nên trầm trọng và là lực cản lớn cótính thời sự trong quá trình thực hiện mục tiêu CBXH ở nước ta hiện nay

Xuất phát từ thực tế đó, tác giả mạnh dạn chọn đề tài: "Nhân tố chủ

quan với việc thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường

ở nước ta hiện nay (qua thực tế Vĩnh Phúc)" làm đề tài tốt nghiệp.

2.Tình hình nghiên cứu đề tài

Xung quanh vấn đề: Nhân tố chủ quan (NTCQ) với việc thực hiệncông bằng xã hội trong điều kiện KTTT ở nước ta hiện nay đã có rất nhiều đềtài nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như:

- "Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong

quá trình chuyển sang cơ chế thị trường ở nước ta", do TS Hoàng Thị Thành

làm chủ nhiệm đề tài, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1998;

Trang 3

- "Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở một số nước châu Á

và Việt Nam", do TS Lê Bộ Lĩnh làm chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội, 1998;

- "Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội - Một số vấn đề lý luận và

thực tiễn ở một số tỉnh miền Trung", do TS Phạm Hảo, TS Võ Xuân Tiến, TS

Mai Đức Lộc đồng chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000;

- "Vai trò của pháp luật trong việc đảm bảo công bằng xã hội ở Việt

Nam hiện nay", Luận án tiến sĩ của Vũ Anh Tuấn, Học viện Chính trị Quốc

gia Hồ Chí Minh, 2001;

- "Nhà nước với việc thực hiện công bằng xã hội trong nền kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay", Luận văn thạc sĩ của

Võ Thị Hoa, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2002;

- "Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong giai

đoạn hiện nay ở nước ta (Qua thực tế tỉnh Quảng trị)", Luận văn thạc sĩ của

Nguyễn Xuân Phong, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2003;

- "Thực hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc trong giáo dục - đàotạo ở các tỉnh miền núi phía bắc nước ta hiện nay", Luận văn thạc sĩ của PhạmVăn Dũng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2004;

- "Phát huy vai trò nhân tố chủ quan trong việc tổ chức thực hiện nghị

quyết Đảng ở nước ta hiện nay (Qua thực tế tỉnh Hải Dương)", Luận văn thạc

sĩ của Vũ Hữu Phê, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2004);

- "Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam

thời kỳ đổi mới - vấn đề và giải pháp", do TS Nguyễn Thị Nga làm chủ nhiệm

đề tài, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2006;

- "Vai trò của Nhà nước trong việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với

công bằng xã hội ở nước ta hiện nay", của PGS.TS Trần Thành, Tạp chí Triết

học, số 2(177), 2006;

Trang 4

- "Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở nước ta

hiện nay - những quan điểm cơ bản của Đảng", của TS Nguyễn Thị Nga, Tạp

chí Triết học, số 9(184), 2006

Ngoài ra, còn rất nhiều bài viết của các nhà khoa học đăng trên các báo vàtạp chí bàn về vấn đề CBXH ở Việt Nam và trên thế giới trong thời gian gần đây.Tuy nhiên, vẫn chưa có tác giả nào đề cập vấn đề một cách trực tiếp dưới góc độtriết học như tên đề tài đã nêu ra Những tài liệu nêu trên chứa đựng những giá trịkhoa học rất quý giá, được tác giả tiếp thu, kế thừa và phát triển trong luận văn này

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

* Mục đích của luận văn:

Trên cơ sở làm rõ vai trò và thực trạng của việc phát huy vai tròNTCQ đối với việc thực hiện CBXH trong điều kiện KTTT định hướng xãhội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam, từ đó đề xuất một số phương hướng vàgiải pháp nhằm phát huy vai trò NTCQ với việc thực hiện CBXH trong điềukiện KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiện nay

* Nhiệm vụ của luận văn:

- Làm rõ nội dung quan niệm CBXH; vai trò NTCQ với việc thực hiệnCBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiện nay

- Khảo sát thực trạng việc phát huy vai trò NTCQ đối với việc thực hiệnCBXH (qua thực tế Vĩnh Phúc), chỉ ra những bất cập của nó, từ đó đề xuất một

số phương hướng và giải pháp nhằm phát huy tốt vai trò NTCQ trong việc thựchiện CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

Vai trò NTCQ và việc phát huy vai trò NTCQ với việc thực hiệnCBXH trong điều kiện nước ta hiện nay

Trang 5

* Phạm vi nghiên cứu:

Vai trò NTCQ và việc phát huy vai trò NTCQ với việc thực hiệnCBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay (quathực tế ở Vĩnh Phúc), từ đó đề xuất một số phương hướng và giải pháp chủyếu nhằm phát huy tốt vai trò NTCQ với việc thực hiện CBXH trong điềukiện KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận:

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, các chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật củaNhà nước, đồng thời kế thừa và phát huy những giá trị trong các công trìnhkhoa học đã nghiên cứu để phục vụ cho luận văn

* Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn đã dùng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp lịch sử và lôgíc, phân tích và tổnghợp, trừu tượng và cụ thể nhằm thực hiện mục đích và nhiệm vụ mà đề tài

đã đặt ra

6 Đóng góp khoa học và ý nghĩa của luận văn

Luận văn góp phần làm sáng tỏ vai trò của NTCQ đối với việc thựchiện CBXH ở Việt Nam trong điều kiện KTTT hiện nay (qua thực tế VĩnhPhúc), từ đó đề xuất những phương hướng và giải pháp thích hợp nhằm thựchiện tốt CBXH ở nước ta nói chung và Vĩnh Phúc nói riêng Kết quả nghiêncứu luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc tìm hiểu, nghiêncứu và vận dụng vào thực tiễn sau này

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nộidung của luận văn gồm 2 chương, 4 tiết

Trang 6

Chương 1

CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ VAI TRÒ NHÂN TỐ CHỦ QUAN ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

1.1 QUAN NIỆM VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI

1.1.1 Quan niệm ngoài mácxít về công bằng xã hội

Ở xã hội cộng sản nguyên thủy, con người sinh sống, hoạt hoạt động

và lao động đều mang tính cộng đồng, cùng làm cùng hưởng, mọi thành viêntrong thị tộc, bộ lạc đều bình đẳng, đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau,cùng săn bắn, hái lượm và cùng được hưởng những phần của cải như nhautrong số sản phẩm thu được, và tuy nhiên họ đều phải tuân thủ như nhau vềcác quy ước chung trong cộng đồng, không có trường hợp ngoại lệ Mọi hành

vi trái với quy ước chung của cộng đồng thì phải chịu sự trừng phạt theo quyước đã định Ở xã hội này, Ph.Ăngghen đã nhận xét: "Với tất cả tính ngây thơ

và giản dị của nó, chế độ thị tộc đó quả là một tổ chức tốt đẹp biết bao Tất

cả đều bình đẳng và tự do" [47, tr 147-148] Tuy nhiên, trong xã hội cộng sảnnguyên thủy, lực lượng sản xuất còn thấp kém nên sản phẩm lao động còn ít

ỏi chỉ đủ để tồn tại, nên cách cùng làm cùng hưởng theo kiểu chia đều làphương thức duy nhất để xã hội cùng tồn tại

Khi lực lượng sản xuất phát triển, của cải làm ra đã có dư thừa tươngđối thì xuất hiện tư hữu, giai cấp, nhà nước, xã hội chiếm hữu nô lệ ra đờicùng với sự bất bình đẳng, phân chia đẳng cấp giàu nghèo, sang hèn cũng nhưđịa vị của từng cá nhân trong xã hội Như vậy CBXH bắt đầu bị vi phạm

Nhà triết học Hy Lạp thời cổ đại Pla-tôn (427-347 tr.CN) khi bàn vềvấn đề Nhà nước đã cho rằng: một nhà nước lý tưởng là nhà nước có những

Trang 7

đạo luật công bằng được thiết lập trên cơ sở trí tuệ và lợi ích quốc gia chứkhông phải lợi ích của mỗi người cầm quyền Ari-xtốt (384-322 tr.CN) chorằng: sự phân chia giai cấp và địa vị giai cấp là lẽ tự nhiên, công bằng và bìnhđẳng chỉ áp dụng cho những người cùng giai cấp, các giai cấp khác nhau thìcông bằng và bình đẳng giai cấp khác nhau; sự bất bình giữa các giai cấp theoông đó chính là sự công bằng Ở Trung Quốc cổ đại, Hàn Phi Tử đã phát triển

tư tưởng pháp trị của các nhà tư tưởng trước thành một học thuyết pháp trịkhá hoàn chỉnh nhằm thiết lập một xã hội công bằng

Trong xã hội phong kiến, với sự phân chia giai cấp địa chủ và nôngdân, đất đai và tư liệu sản xuất thuộc về giai cấp địa chủ, quý tộc, nông dânchỉ là người đi cày thuê cuốc mướn, con người hàng ngày vẫn phải đối mặtvới những bất công trong xã hội Đây cũng chính là nguyên nhân của hàngloạt các cuộc khởi nghĩa của nông dân chống lại bọn địa chủ phong kiến đòicông bằng và bình đẳng trong xã hội Ph Ăngghen đã từng nhận xét: "Điều

đó lý giải vì sao chế độ phong kiến lại có nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại địachủ, lãnh chúa để đòi công bằng xã hội" [42, tr 243]

Chủ nghĩa tư bản ra đời, cùng với chiêu bài: "Tự do, bình đẳng, bácái", của giai cấp tư sản nhằm tập hợp lực lượng để thủ tiêu chế độ phong kiến,đồng thời khẳng định các quyền tự do cá nhân, quyền được sống trong xã hộidân chủ theo mô hình nhà nước "tam quyền phân lập" với một nền pháp luậttiến bộ, công bằng Đây là những nội dung cơ bản trong tư tưởng CBXH củathời kỳ này

Tômát Hốpxơ (1588-1679), nhà triết học nổi tiếng đại biểu cho chủnghĩa duy vật Anh thế kỷ XVII cho rằng: con người là giống nhau mà tạo hóa

đã ban cho nên con người phải được công bằng và bình đẳng, nhưng conngười thì lại có tính tham lam và ích kỷ nên không thể có sự bình đẳng vàcông bằng, ông đã chỉ ra rằng: Để đi đến sự công bằng giữa con người vớicon người thì phải có một lực lượng đứng trên để dàn xếp các lợi ích cá nhân,

Trang 8

đó chính là nhà nước Tư tưởng này của Tômát Hốpxơ đã mang tính duy vật

về xã hội nhưng lại chưa thấy được trong xã hội có đối kháng giai cấp thì nhànước mang tính giai cấp của giai cấp thống trị, nên ông đã cho rằng không thểthực hiện CBXH chung cho toàn xã hội

Tiếp tục tư tưởng của Tômát Hốpxơ, Xpinôza (1632-1677) đã đưa ra

tư tưởng giải phóng con người và giải phóng mình đó là nhận thức, chínhnhận thức mà làm cho con người tránh khỏi tệ nạn xã hội, giải phóng mọi ápbức và bất công Ông cho rằng, dốt nát là nguyên nhân của áp bức, bất công,không nhận thức được hiện thực thì không thể chế ngự được lòng ham muốncủa mình Tuy nhiên, quan điểm của ông vẫn chưa duy vật triệt để về xã hội

Đến Giăng Giắc Rútxô (1712-1778); nhà tư tưởng vĩ đại, nhà biệnchứng lỗi lạc của triết học Khai sáng Pháp, ông cho rằng: xã hội công dân đãtạo ra một xiềng xích mới trói buộc kẻ yếu, thế lực thuộc về kẻ mạnh, luônkìm hãm, thủ tiêu bình đẳng cá nhân và duy trì quan hệ bất bình đẳng Theoông, muốn xóa bỏ bất công, bất bình đẳng thì phải xây dựng một nhà nướckiểu mới do nhân dân làm chủ, đồng thời ông cũng phê phán sở hữu tư nhân

vì sở hữu tư nhân là nguyên nhân làm phân hóa thành kẻ giàu người nghèo,muốn xóa được sở hữu tư nhân thì phải thiết lập khế ước xã hội thì mới đạtđược công bằng và bình đẳng Đây là những lý tưởng nhân đạo nhưng cũngchưa thoát khỏi hạn chế lịch sự

Imanuen Cantơ (1724-1804), đại biểu của nền triết học cổ điển Đức,một trong những nhà triết học vĩ đại nhất của lịch sử tư tưởng phương Tâytrước C.Mác, khi bàn về vấn đề xã hội ông đã cho rằng: CBXH bao gồm côngbằng và bảo hộ, công bằng trong trao đổi và phân phối Đây là tư tưởng tiến

bộ của ông mà sau này được nhiều người thừa kế

Các nhà xã hội không tưởng cũng phê phán mạnh mẽ xã hội đươngthời được xây dựng trên nền móng của sự chiếm hữu, đồng thời các ông cũng

đề ra một mô hình xã hội mới mà ở xã hội đó mọi người đều phải lao động và

Trang 9

hưởng thụ như nhau, xóa bỏ mọi đặc quyền đặc lợi, xây dựng một xã hội côngbằng tạo điều kiện công bằng cho mọi thành viên trong xã hội, tuy nhiên đây

là một mô hình xã hội không tưởng cả về lý luận và thực tiễn, đây là một mơước về xã hội lý tưởng mà công bằng là theo chủ nghĩa bình quân, cào bằng.Tuy nhiên, trong giai đoạn này, tư tưởng về CBXH của nhân loại đã có nhữngbước tiến khá dài khác hẳn về chất so với các xã hội trước đó

Chủ nghĩa tư bản trong thời đại ngày nay đã trải qua những thăng trầmtrong lịch sử nên có những bài học về việc điều chỉnh CBXH và cũng đạtđược một số thành tựu, đồng thời dưới danh nghĩa "phúc lợi chung", chủnghĩa tư bản đã làm dịu bớt được sức nóng trong xã hội tư bản, chủ nghĩa tưbản đã nhận thức được rằng cuộc đấu tranh giữa công nhân và tư sản về côngbằng có thể sẽ là một mất một còn nếu không thực sự xoa dịu được tình hình,chính vì vậy mà chủ nghĩa tư bản có những điều chỉnh tương đối hợp lý, làmgiảm bớt sức nóng về CBXH trong xã hội tư bản Tuy nhiên, đây chỉ là nhữngbiện pháp mang tính hình thức, còn về thực chất và lâu dài thì sự đòi hỏi côngbằng của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động đang chịu bấtcông với giai cấp tư sản tất yếu sẽ được thực hiện bằng một cuộc cách mạng

xã hội

Như vậy, việc thực hiện CBXH trong chủ nghĩa tư bản chỉ là phươngtiện để đạt mục đích đó là lợi nhuận cho nhà tư bản chứ không phải là cái đíchCBXH mà nhân loại đang cần vươn tới Olivier de Solages (nhà kinh tế họcngười pháp) khẳng định: "Đông đảo quần chúng không thể hiện được rằngmột sự tăng trưởng kinh tế ngày càng gia tốc lại được thể hiện bằng một sựphân phối bất công đến thế về thu nhập quốc dân và bằng những bất bìnhđẳng ngày càng trầm trọng" [74, tr 92]

Bên cạnh đó còn xuất hiện nhiều tư tưởng về CBXH theo trào lưu tân

cổ điển và cổ điển, họ đã nhấn mạnh tự do cá nhân theo một chiều trong mốiquan hệ với CBXH, họ cho rằng chính tự do cá nhân mới là động lực thúc đẩy

Trang 10

tăng trưởng kinh tế (TTKT) và tiến bộ xã hội Vì vậy, muốn phát triển thì phảigiảm bớt CBXH, không thể cùng một lúc vừa có TTKT lại vừa có CBXH được,

mà chỉ khi nào kinh tế tăng trưởng đến một mức độ nhất định nào đó thì mới

có đủ điều kiện để thực hiện CBXH Quan điểm này đã bị chính xã hội tư sảnbác bỏ vì phủ nhận vai trò CBXH trong việc thúc đẩy TTKT Max - Weber (nhà

xã hội học và triết học người Đức) lại giải thích bất công trong chủ nghĩa tư bảnbằng khả năng không ngang nhau trong việc chiếm lĩnh thị trường của các doanhnghiệp hoặc người lao động, ông còn cho rằng cơ may và vận hội trong cuộc đờikhông thể chia đều cho mọi người Đây cũng là lý do để tồn tại những vị thếkhác nhau trong xã hội, những điều như vậy là nguyên nhân dẫn đến bất côngtrong xã hội tư sản Học thuyết này có đóng góp lớn đối với sự phân tầng xãhội song chưa lý giải trọn vẹn bản chất của sự bất công trong chủ nghĩa tư bản

Những người theo quan điểm xã hội dân chủ trong khi bác bỏ tínhphiến diện của trào lưu cổ điển và tân cổ điển đã tìm kiếm sự hỗ trợ lẫn nhaugiữa tự do cá nhân, CBXH với TTKT, nhưng thực tế lại dẫn đến sai lầm.Đường lối của Đảng xã hội dân chủ Thụy Điển một thời lầm tưởng rằng đãthật sự có CNXH và CBXH, nhưng thực tế thì đó là CBXH mà ở đó đã làmmất động lực TTKT, những kẻ lười lao động nghiễm nhiên lại được hưởngmột phần không nhỏ của hệ thống phúc lợi Ngôi nhà CBXH của Đảng xã hộidân chủ Thụy Điển đã hoàn toàn sụp đổ, đây là tiếng chuông cảnh tỉnh cho ảotưởng tìm kiếm CBXH đích thực trong chủ nghĩa tư bản Thực tiễn đã chứngminh rằng chủ nghĩa tư bản không phải là lời giải tốt cho nhân loại về CBXH

Như vậy, trong tiến trình lịch sử nhân loại, toàn bộ những quan điểm

tư tưởng trước Mác và ngoài Mác cũng như thực tiễn lịch sử đã đề cập đến rấtnhiều về vấn đề CBXH, đã có những quan niệm khác nhau về nhưng chưa cómột quan niệm nào, đầy đủ, toàn diện, có tính hệ thống và khoa học vềCBXH Tuy nhiên, đây là những tiền đề rất quan trọng cho các nhà tư tưởngsau này khi nghiên cứu về vấn đề CBXH

Trang 11

1.1.2 Quan điểm mácxít về công bằng xã hội

Chủ nghĩa Mác với phương pháp nhận thức duy vật biện chứng, đồngthời kế thừa những yếu tố hợp lý của các nhà tư tưởng trước đó, trên cơ sởthâm nhập trực tiếp vào thực tiễn, đã đưa ra những quan điểm rất cơ bản vềCBXH: CBXH là một phạm trù có tính lịch sử và tính giai cấp sâu sắc, nó thayđổi theo các hình thái kinh tế - xã hội nhất định, thậm chí còn thay đổi theo từnggiai đoạn lịch sử khác nhau trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định

Theo quan điểm mácxít thì trong các nhà nước bóc lột không thể tồntại CBXH theo đúng nghĩa của nó, mà trái lại càng đẩy bất công xã hội lên tớiđỉnh điểm cho cuộc cách mạng xã hội Khi phân tích chủ nghĩa tư bản, C.Mác

đã chỉ ra rằng: sự TTKT trong chủ nghĩa tư bản đồng nghĩa với quá trình tăngcường bóc lột giai cấp công nhân, vì vậy sự tăng trưởng đó về bản chất khôngthể tự dẫn tới CBXH được Phương thức phân phối trong chủ nghĩa tư bản làkhông hợp lý vì nó không dựa vào sức lao động mà lại dựa vào tài sản và vốnnên dẫn đến nhà tư bản ngày càng giàu lên trên sự nghèo khổ của công nhân

và người lao động Đây chính là sự phân phối không công bằng trong chủnghĩa tư bản, làm cho mâu thuẫn trong xã hội tư bản ngày càng gay gắt.C.Mác chỉ ra rằng, phương thức phân phối tư bản chủ nghĩa chỉ mất đi khimâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mang tính chất xã hội hóa ngày càng caovới quan hệ sản xuất dựa trên chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tưliệu sản xuất trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trở nên gay gắt đếnmức bùng nổ cách mạng XHCN để mở ra một thời đại mới, thời đại đó tư liệusản xuất sẽ được công hữu hóa và phương thức phân phối sản phẩm sẽ hợp lýhơn, CBXH sẽ được bảo đảm

Theo các nhà mácxít thì chỉ có chủ nghĩa cộng sản với tư cách là xãhội phát triển nhất của nhân loại, ở xã hội này sự phát triển tự do của mỗingười là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người Xã hội có khả năngthực hiện phân phối theo nhu cầu, và chỉ như vậy thì mới có thể thực hiện

Trang 12

CBXH một cách tuyệt đối Tuy nhiên, quan điểm mácxít cũng cho thấy rằng:CNXH với tư cách là giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản thì chưa cóCBXH như người ta mong muốn (công bằng tuyệt đối), vì ở đó vẫn còn tồntại nhiều tiền đề kinh tế - xã hội cho bất bình đẳng như tư hữu và những yếu

tố của pháp quyền tư sản trong phân phối Đây chính là phân phối theo laođộng - một nguyên tắc của việc phân phối chủ yếu trong CNXH và là nét đặctrưng trong quan niệm về CBXH trong thời kỳ này và cũng chính là "thiếu sótkhông thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản"

Trong tác phẩm "Phê phán cương lĩnh Gôtha", C.Mác đã đề cập tớiphân phối trong CNXH, ông cho rằng, trong XHCN, sau khi đã khấu trừ đinhững khoản cần thiết để duy trì sản xuất, tái sản xuất cũng như để duy trì đờisống của cộng đồng, toàn bộ sản phẩm xã hội còn lại sẽ được phân phối theonguyên tắc: Mỗi người sản xuất sẽ được nhận trở lại từ xã hội một số lượngvật phẩm tiêu dùng trị giá ngang với số lượng lao động mà anh ta đã cung cấpcho xã hội (sau khi đã khấu trừ số lao động của anh ta cho các quỹ xã hội).Đây là một nguyên tắc phân phối công bằng vì ở đây tất cả những người sảnxuất đều có quyền ngang nhau tham dự vào quỹ tiêu dùng của xã hội khi làmmột công việc ngang nhau Như vậy, theo C.Mác, trong chế độ XHCN thì laođộng theo năng lực cá nhân và được nhận lại một phần sản phẩm anh ta làm

ra vừa đúng với cái mà anh ta đóng góp cho xã hội sau khi đã khấu trừ đi sốlao động cần thiết để duy trì, phát triển sản xuất và các quỹ phúc lợi xã hội,mọi người sản xuất đều có quyền ngang nhau trong việc tham gia vào quỹ tiêudùng của xã hội khi làm một công việc ngang nhau, nguyên tắc phân phối nàyđược coi là công bằng Tuy nhiên, ông cũng chỉ ra rằng, trong điều kiện củaCNXH, sự phân phối công bằng đó chẳng những chưa loại trừ được mà vẫn cònhàm chứa trong nó sự chấp nhận một tình trạng bất bình đẳng nhất định giữa cácthành viên trong xã hội vì: với một công việc ngang nhau và do đó, với mộtphần tham dự như nhau vào quỹ tiêu dùng của xã hội thì trên thực tế người

Trang 13

này vẫn lĩnh hơn người kia, người này vẫn giàu hơn người kia [45, tr 35] Dovậy, muốn tránh tất cả những thiếu sót ấy thì quyền phải lao động không bìnhđẳng chứ không phải là bình đẳng [45, tr 35] Đây cũng là ưu việt nhữngcũng là thiết sót của nguyên tắc phân phối theo lao động - một thiếu sót khôngthể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của cộng sản chủ nghĩa

C.Mác cũng phân biệt sự khác nhau giữa CBXH với bình đẳng xã hội(BĐXH), theo ông thì CBXH không đồng nhất với BĐXH, có khi chúng tađang thực hiện CBXH nhưng vẫn chưa thực hiện được BĐXH, khi nói tớiBĐXH là nói tới sự ngang bằng nhau giữa người và người trong xã hội vềmột phương diện nào đấy như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội , BĐXHhoàn toàn là sự ngang bằng nhau giữa người và người trong xã hội về mọiphương diện Còn CBXH là sự ngang bằng nhau giữa người với người về mộtphương diện xác định, về phương diện quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi,cống hiến và hưởng thụ, theo nguyên tắc cống hiến ngang nhau thì hưởng thụngang nhau, và vì vậy xét theo khía cạnh này thì CBXH là một dạng, mộtbiểu hiện cụ thể của BĐXH và thực hiện CBXH chính là thực hiện một phầncủa BĐXH, là thực hiện CBXH về một phương diện nhất định, phương diệnquan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ - và là một bước tiến trên con đường lâudài nhằm dần dần đạt tới BĐXH hoàn toàn

V.I.Lênin cho rằng:

Như thế là trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa(mà người ta vẫn thường gọi là chủ nghĩa xã hội), pháp quyền tư sảnchưa bị xóa bỏ hoàn toàn mà chỉ bị xóa bỏ một phần, chỉ bị xóa bỏvới mức độ phù hợp với cuộc cách mạng kinh tế đã được hoànthành, nghĩa là chỉ trong phạm vi tư liệu sản xuất thôi Pháp quyền

tư sản thừa nhận tư liệu sản xuất là sở hữu riêng của cá nhân chủnghĩa xã hội biến tư liệu sản xuất thành tài sản chung [34, tr 116]

Trang 14

Lênin cũng rất chú ý đến công bằng trong phân phối lao động, ôngcho rằng: "Người nào không làm thì không có ăn", nguyên tắc này được thựchiện "số lượng lao động ngang nhau, thì hưởng số lượng sản phẩm ngangnhau" [34, tr 116]

Theo quan điểm mácxít thì phải thiết lập những tiền đề kinh tế ngàycàng cao cho việc thực hiện CBXH, không thể có CBXH đích thực trong một

xã hội nghèo khổ kém phát triển, đồng thời quan điểm mácxít cũng đề cập đếnmột xã hội giàu có, của cải dư thừa nhưng lại thiếu công bằng trong phân phối,TTKT là yếu tố quan trọng nhưng không phải là duy nhất để thực hiện CBXH.Đây là quan điểm khác biệt cơ bản giữa quan điểm mácxít với quan điểmngoài mácxít, phải biết kết hợp hài hòa, biện chứng giữa TTKT và CBXH

Bên cạnh đó quan điểm mácxít cũng chỉ ra điểm khác biệt giữa quanniệm mácxít với các quan niệm khác về CBXH, đó là con đường đấu tranhvới những bất công xã hội mà trong đó bất công về địa vị kinh tế là lớn nhất,

"Những điều công bằng về mặt luân lý, thậm chí công bằng cả về mặt phápluật, có thể còn xa với công bằng về mặt xã hội" [45, tr 365] CBXH khôngphải là sản phẩm của tạo hóa mà là sản phẩm của cuộc đấu tranh giữa conngười với những bất công trong xã hội

Theo quan điểm mácxít, trong CNXH thì CBXH trong lĩnh vực kinh

tế đóng vai trò cơ sở và quyết định các lĩnh vực khác như văn hóa, xã hộiv.v , giữa cống hiến (thực hiện nghĩa vụ) và quyền lợi (quyền được hưởngquyền lợi), công bằng theo nguyên tắc làm theo năng lực, hưởng theo laođộng làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít Tuy nhiên, theo các ông thìCBXH cũng chỉ mang tính tương đối, nó chỉ thích hợp với giai đoạn thấpcủa xã hội CSCN, lúc đó vừa lọt lòng từ xã hội TBCN ra sau nhưng cơn đau

đẻ kéo dài Quyền không bao giờ có thể cao hơn chế độ kinh tế và sự pháttriển văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định [45, tr 35-36].Trong các giai đoạn khác nhau thì quan niệm về CBXH cũng khác nhau,

Trang 15

quan niệm về CBXH trong CNXH sẽ thay đổi khi CNXH thay đổi sang mộthình thức mới cao hơn.

Theo quan điểm mácxít thì một xã hội có công bằng thực sự chỉ khicon người không lệ thuộc vào phân công lao động, khoảng cách giữa lao động trí

óc và lao động chân tay được thu hẹp, lúc đó lao động không còn nhằm mụcđích sinh sống mà là nhu cầu hoạt động và phát triển, cá nhân được phát triểnmột cách toàn diện, sức sản xuất xã hội sẽ có sự tiến bộ vượt bậc chưa từng cótrong lịch sử, của cải dư thừa thì khi đó mới là làm theo năng lực, hưởng theonhu cầu Mọi cá nhân có nhu cầu phát huy mọi tiềm năng để vươn tới ngangnhau về năng lực, điều kiện, cơ hội thì khi đó mới đạt tới công bằng tuyệt đối

Trên cơ sở nền tảng của quan điểm mácxít, Hồ Chí Minh đã vận dụngsáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, Người luôn coi CBXH gắn với độclập dân tộc và CNXH, theo Hồ chí Minh thì tiến lên CNXH, CNCS là phươngthức duy nhất đúng hợp lòng người để thực hiện CBXH "chỉ có CNCS mới

cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc

tự do, bình đẳng bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người

và vì mọi người, niềm vui, hòa bình và hạnh phúc" [49, tr 115] "Mục tiêucủa CNXH là gì? nói một cách giản đơn và dễ hiểu là: không ngừng nâng caođời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, trước hết là nhân dân lao động

"Chủ nghĩa xã hội là gì? là mọi người ăn no mặc ấm, tự do" [52, tr 22],Người nói: "có khi vật tư hàng hóa không thiếu, mà phân phối không đúng thìgây ra căng thẳng không cần thiết Trong công tác lưu thông phân phối có haiđiều quan trọng luôn phải nhớ:

"Không sợ thiếu chỉ sợ không công bằngKhông sợ nghèo chỉ sợ lòng dân không yên" [51, tr 185].Như vậy, theo Hồ Chí Minh thì công bằng không có nghĩa là cào bằng,bình quân chủ nghĩa Không có tình trạng người giỏi, người kém, việc khóviệc dễ cũng cùng điểm như nhau" [51, tr 143]

Trang 16

Từ sự thâm nhập, tổng kết và khái quát thực tiễn Người khẳng định rằngtrong chế độ xã hội thực dân không có CBXH mà " Nhân dân chỉ có nghĩa vụ,như nộp sưu đóng thuế, đi lính đi phu mà không có quyền lợi" [53, tr 219],công nhân, nông dân là những người chủ yếu sản xuất ra của cải vật chất cho

xã hội, nhờ đó xã hội mới tồn tại và phát triển nhưng lại rất bất công vì họluôn là những người nghèo khổ, trong khi đó một số người lại "ngồi mát ănbát vàng", theo Người thì nguyên nhân của sự bất công đó là "vì một số người

đã chiếm làm tư hữu những tư liệu sản xuất của xã hội " [53, tr 203] Ngườikết luận rằng CBXH chỉ có trong xã hội mới, dưới chế độ dân chủ cộng hòa "Nhân dân có nghĩa vụ đồng thời có quyền lợi" [53, tr 219]; "Nhà nước tangày nay là của tất cả những người lao động Nhân dân lao động là nhữngngười chủ tập thể của tất cả những của cải vật chất và văn hóa, đều bình đẳng

về quyền lợi và nghĩa vụ" [53, tr 310]

Như vậy CBXH trong tư tưởng Hồ Chí Minh thường được gắn kết vớibình đẳng xã hội tức là mối quan hệ giữa quyền lợi với nghĩa vụ, bình đẳnggiữa nghĩa vụ với quyền lợi Bình đẳng trước hết là bình đẳng về nghĩa vụ vàquyền lợi, bình đẳng giữa người với người trong việc thực hiện nghĩa vụ vàhưởng thụ quyền lợi ấy, đó chính là thực hiện CBXH Phân phối công bằngtheo Người là: "Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì khôngđược hưởng" Đây là nguyên tắc phân phối công bằng trong điều kiện nước tahiện nay; Do đó, sự bình đẳng của những người lao động trong mối quan hệgiữa nghĩa vụ và quyền lợi, mà cụ thể là sự ngang bằng nhau về địa vị làmchủ nước nhà, làm chủ tư liệu sản xuất, bảo đảm cho mỗi người đều có thểphát huy mọi khả năng của mình để vươn tới một cuộc sống ấm no hạnh phúc

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh thì CBXH không những chỉ là mục tiêucủa CNXH mà còn là một động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội của đất nước, làmột yêu cầu bức thiết của công cuộc xây dựng CNXH nhất là trong điều kiệnnền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, Theo Người không nhất thiết là kinh tế

Trang 17

phải phát triển ở trình độ cao thì mới thực hiện được CBXH "không sợ thiếu,chỉ sợ không công bằng".

Người nhấn mạnh: "CNXH là lấy nhà máy, xe lửa, ngân hàng v.v làm của chung Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm thìkhông ăn, tất nhiên là trừ những người già cả, đau yếu và trẻ em Thế ta đãđến đấy chưa? chưa đến CNXH không thể làm mau được mà phải làm dầndần " [54, tr 219] Người kiên quyết chống lại chủ nghĩa bình quân, "đồngcam cộng khổ là một tinh thần cần phải có, nhưng nếu bình quân chủ nghĩathì lại không đúng Bình quân chủ nghĩa là gì? là ai cũng như ai, bằng hết.Bình quân chủ nghĩa là trái với CNXH, thế là không đúng" [54, tr 386]

Như vậy, trong quan điểm Hồ Chí Minh, công bằng và bình đẳng làmột mục tiêu của sự nghiệp xây dựng chế độ xã hội mới, nó không phải làchủ nghĩa bình quân cào bằng trong sự nghèo khổ Mục tiêu của nghĩa nghĩa

xã hội là không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân là phấn đấu:

Làm cho người nghèo thì đủ ănNgười đủ ăn thì khá giàu

Người khá giàu thì giàu thêm [52, tr 65]

Bên cạnh đó, Người rất chú trọng đến lợi ích cá nhân nhằm động viênmỗi người không ngừng phấn đấu, cống hiến nhiều nhất cho xã hội, đồng thờiđấu tranh chống lại chủ nghĩa cá nhân, chính chủ nghĩa cá nhân là căn nguyêngây ra trăm thứ bệnh như quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, tham ô, lãng phí, chủquan v.v mang tính cá nhân, không nghĩ tới lợi ích giai cấp, dân tộc Tuynhiên cũng cần phân biệt rằng chủ nghĩa cá nhân khác lợi ích cá nhân, nếu chốngchủ nghĩa cá nhân mà lại vi phạm lợi ích chính đáng của cá nhân thì sẽ dẫn tới sailầm, Người khẳng định rằng " Lợi ích cá nhân là nằm trong lợi ích tập thể, làmột bộ phận của lợi ích tập thể Lợi ích chung của tập thể được đảm bảo thì

Trang 18

lợi ích riêng của cá nhân mới có điều kiện để được thỏa mãn" [55, tr 291].Việc đảm bảo lợi ích chung tức là bảo vệ điều kiện để thực hiện lợi ích củamỗi cá nhân, (tức là biện pháp nhằm đảm bảo CBXH) Tư tưởng "mình vìmọi người, mọi người vì mình" là thể hiện sự công bằng giữa lợi ích cá nhânvới cá nhân, cá nhân với tập thể và cộng đồng.

Như vậy, Hồ Chí Minh đã có quan điểm về CBXH khá toàn diện vàsâu sắc.Thực chất của CBXH theo Người là không gì khác ngoài mối quan hệgiữa giữa cống hiến và hưởng thụ, ai làm nhiều thì hưởng nhiều, ai làm ít thìhưởng ít, không làm thì không hưởng (trừ những người già cả, bệnh tật và trẻem) Người cũng cho thấy rõ rằng không nhất thiết phải xã hội giàu có thì mớithực hiện được CBXH, mà ngay khi xã hội còn chưa thật giàu có vẫn thựchiện được CBXH, tùy điều kiện kinh tế xã hội khác nhau mà việc thực hiệnCBXH khác nhau Người cũng chỉ rõ CBXH khác với cào bằng, bình quânchủ nghĩa nếu đồng nhất chúng thì sẽ triệt tiêu động lực tăng trưởng và pháttriển kinh tế Người chỉ ra rằng thực hiện CBXH là cả một quá trình, phải làmtừng bước một, tránh sự nôn nóng và tránh sự trì trệ, ỷ lại, trông chờ Cuốicùng người khẳng định CBXH là mục tiêu của CNXH mà chúng ta cần phảivươn tới, chỉ có xã hội XHCN mới thực sự đem lại CBXH cho nhân dân laođộng, phương thức duy nhất để thực hiện CBXH là đi lên CNXH, CBXH làviệc tạo ra điều kiện cho mỗi người có cơ hội tham gia vào quá trình pháttriển của xã hội và hưởng thụ những thành quả của sự phát triển, là đảm bảoquyền tự do của mỗi người trong quan hệ gắn bó với cộng đồng CBXH phảiđược thể hiện đầy đủ trong việc giải quyết quan hệ giữa phát triển kinh tế vàgiải quyết những vấn đề xã hội, giải quyết hài hòa giữa quyền lợi và nghĩa vụcủa mỗi người CBXH là trách nhiệm chung của nhà nước, của toàn xã hộitrong việc chăm lo, bảo vệ quyền lợi của nhân dân và tạo ra điều kiện thuậnlợi để nhân dân hoàn thành nghĩa vụ, quyền lợi của mình đối với nhà nước và

xã hội

Trang 19

1.1.3 Quan điểm của Đảng ta về công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

Hiện nay chúng ta đang xây dựng và phát triển nền kinh tế vận hànhtheo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, định hướng XHCN, đây là môhình kinh tế phù hợp với Việt nam và là mô hình kinh tế lần đầu tiên xuất hiệntrong lịch sử - mô hình kinh tế của thời kì quá độ lên CNXH Trong điều kiện đó,CBXH phải được hiểu như thế nào cho đúng với điều kiện Việt nam hiện nay

Từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa về công bằng như sau:

1…Khái niệm công bằng nêu ra sự tương quan giữa một sốhiện tượng theo quan điểm phân phối phúc và họa, lợi và hại giữangười với người CBXH đòi hỏi sự tương xứng giữa vai trò củanhững cá nhân (những giai cấp) với địa vị của họ, giữa hành vi với

sự đền bù (lao động và thù lao, công và tội, thưởng và phạt), giữaquyền với nghĩa vụ Không có sự tương xứng trong những quan hệ

ấy là bất công

2 Công bằng xã hội là phương thức đúng đắn nhất để thỏamãn một cách hợp lý những nhu cầu của các tầng lớp xã hội, cácnhóm xã hội, các cá nhân xuất phát từ khả năng hiện thực củanhững điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Về nguyên tắc, chưa có

sự công bằng nào được coi là tuyệt đối trong chừng mực mà mâuthuẫn giữa nhu cầu con người và khả năng hiện thực của xã hội cònchưa được giải quyết Bởi vậy, mỗi xã hội có sự đòi hỏi riêng vềCBXH [28, tr 580-581]

Trong từ điển Triết học giản yếu do Hữu Ngọc, Dương Phú Hiệp và LêHữu Tầng biên soạn thì khái niệm công bằng, công lý được trình bày như sau:

Nội dung của công bằng không có tính chất chung chung,bất di, bất dịch phi thời gian - nó thay đổi theo lịch sử, phán ánh

Trang 20

hoàn cảnh kinh tế - xã hội nhất định và sự đánh giá về mặt đạo đứccủa từng giai cấp theo quyền lợi của mình Trên cơ sở quan hệ kinh

tế, xã hội và chính trị của CNXH, khái niệm công bằng mang mộtnội dung mới: Tất cả mọi người đều có thể trong thực tế, phát triểnnhư nhau nhân cách, tài năng, khả năng và đều có nhiệm vụ hoạtđộng vì lợi ích xã hội Nguyên tắc Mỗi người làm theo năng lực, vàhưởng theo lao động được thực hiện, chỉ khi nào tới CSCN thì mớithực hiện được nguyên tắc Mỗi người làm theo khả năng và hưởngtheo nhu cầu [62, tr 97-98]

Theo PGS,TS Dương Xuân Ngọc:

Công bằng xã hội là một phạm trù xã hội dùng để chỉ trình

độ phát triển về phương diện xã hội của con người (cá nhân và cộngđồng), được thực hiện và thể hiện trên tất cả các lĩnh vực đời sống

xã hội: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tinh thần, mà trước hết làlĩnh vực xã hội Nó phản ánh mối quan hệ về nghĩa vụ và quyền lợigiữa xã hội và cá nhân, nhằm đảm bảo sự phát triển hài hòa của conngười, của xã hội phù hợp với xu thế và tiến bộ xã hội CBXH vừa

là khát vọng của con người, vừa là động lực, là mục tiêu của sự pháttriển xã hội, của cách mạng xã hội chủ nghĩa, của sự nghiệp đổi mớitheo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta [63, tr 37-39]

Theo GS,PTS Lê Hữu Tầng: khái niệm CBXH và BĐXH tuy có nộidung rất gần nhau nhưng dù sao chúng vẫn là những khái niệm khác nhau Sựkhác nhau ấy là ở chỗ nói tới BĐXH là nói tới sự ngang bằng nhau giữa ngườivới người trong xã hội về một phương diện nào đấy (về kinh tế, chính trị, vănhóa, xã hội.v.v), và nói tới BĐXH hoàn toàn là nói tới sự ngang bằng nhaugiữa người với người trong xã hội về mọi phương diện Trong khi đó, nói tớiCBXH là nói tới sự ngang bằng nhau giữa người với người không phải về mộtphương diện nào đấy bất kỳ, mà chính là về một phương diện hoàn toàn xác

Trang 21

định: về phương diện quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống hiến vàhưởng thụ theo nguyên tắc: cống hiến (thực hiện nghĩa vụ) ngang nhau thìhưởng thụ (được hưởng quyền lợi) ngang nhau Theo nghĩa này mà xét thìCBXH là một dạng, một biểu hiện cụ thể của BĐXH và thực hiện CBXHchính là thực hiện một phần của BĐXH, là thực hiện BĐXH về một phươngdiện nhất định, phương diện quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ - và là mộtbước tiến trên con đường lâu dài nhằm dần dần đạt tới bình đẳng xã hội hoàntoàn chứ chưa phải là đã đạt tới BĐXH hoàn toàn [78, tr 27-28].

Theo TS Nguyễn Thị Nga:

Công bằng xã hội hiểu theo nghĩa chung nhất là sự ngangbằng nhau trong mối quan hệ giữa mối quan hệ giữa người với người,dựa trên nguyên tắc thống nhất giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cốnghiến và hưởng thụ Từng thành viên trong xã hội gắn bó với cộngđồng xã hội trên mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hộithông qua sự cống hiến theo khả năng trí tuệ, sức lực của mình cho

sự phát triển xã hội và được xã hội bù đắp, chăm sóc trở lại mộtcách tương xứng, không có sự tương xứng ấy là bất công [61, tr 3].Như vậy:

CBXH là khái niệm chỉ sự tương xứng giữa vai trò và vị thếcủa các thành viên xã hội (cá nhân, giai cấp, nhóm xã hội), giữa cái

mà họ tạo ra được xã hội với cái được nhận lại có thể là điều tốtlành hoặc ngược lại) như cống hiến và hưởng thủ, lao động và sự trảcông, quyền và nghĩa vụ, vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý.không có sự tương xứng nói trên là bất công xã hội [91, tr 25]

Từ những khái niệm trên có thể hiểu:

Thứ nhất, CBXH là một khái niệm mang tính lịch sử - xã hội, trong

mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, mỗi hình thái kinh tế - xã hội khác nhau thìnội dung CBXH cũng khác nhau

Trang 22

Thứ hai, CBXH là đối xử ngang nhau với những người có đóng góp

như nhau và là sự đối xử khác nhau với những người có đóng góp khác nhau,những khác biệt bẩm sinh hoặc có những điều kiện xã hội khác nhau CBXHđược thực hiện bằng cơ chế thị trường và sự điều tiết của nhà nước Chỉ nhưvậy thì mới thực hiện được CBXH một cách thực sự

Thứ ba, CBXH không chỉ là ở sự phân phối kết quả sản xuất, tức là sự

tương xứng giữa lao động và thu nhập, cống hiến và hưởng thụ mà còn phảixét đến việc có cơ hội ngang nhau trong việc tiếp cận các nguồn tư liệu sảnxuất như vốn, tài nguyên, thông tin, khoa học kỹ thuật.v.v Phải có cơ hộingang nhau để phát huy năng lực cá nhân

Thứ tư, CBXH không chỉ đơn thuần là cống hiến về mặt kết quả lao

động và hiệu quả kinh tế, mà phải tính đến việc cống hiến về tư liệu sản xuất(vốn, tài năng trí tuệ…) và họ phải được hưởng một phần thành quả lao động

từ sự cống hiến ấy Chỉ như vậy thì mới tạo được động lực phát triển kinh tế

-xã hội và mới là CBXH

Thứ năm, CBXH phải tính đến sự cống hiến trong quá khứ và hiện tại

của các chiến sĩ cách mạng, lực lượng vũ trang, đó là những thương binh, nhữngliệt sĩ, người có công với cách mạng đã hy sinh xương máu sức lực của bản thânmình trong các cuộc kháng chiến vì mục tiêu và lý tưởng cao cả cho toàn thểdân tộc và họ phải được bù đắp lại một phần tương xứng Đó mới là CBXH

Thứ sáu, Kinh tế thị trường đã tạo động lực cho phát triển và TTKT,

đồng thời tạo nên sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội, về mặt tích cực nếugiàu nghèo là do sự cống hiến về lao động, tài năng, trí tuệ thì đó là CBXH,nhưng giàu nghèo do làm ăn phi pháp, làm giàu không chính đáng thì đó lại làbất công trong xã hội

Đối lập với CBXH là bất công:

Bất công trong tự nhiên: như về thể chất, điều kiện, hoàn cảnh (ốmyếu, tàn tật; đồng bằng với miền núi; nông thôn với thành thị; Dân tộc thiểu

Trang 23

số với dân tộc đa số; vùng sâu vùng xa, biên giới hải đảo với thành phố, cáctrung tâm tỉnh lị v.v ).

Bất công phi lý phi pháp: là loại bất công mang tính tiêu cực khôngchính đáng như tham ô, hối lộ, tham nhũng lợi dụng chức quyền, lợi dụng kẽ

hở trong quản lý để tìm kiếm lợi ích, làm giàu không chính đáng Bất côngnày cần phải nhanh chóng xóa bỏ thì mới có thể thực hiện được CBXH

Nước ta trong điều kiện hiện nay, CBXH phải được xem xét một cáchtoàn diện trong các lĩnh vực trong đó công bằng trong lĩnh vực kinh tế đóngvai trò quyết định Công bằng trong kinh tế trong điều kiện hiện nay trước hếtphải tạo điều kiện cho mọi thành viên trong xã hội phát triển khả năng, nănglực của mình, đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các thành phầnkinh tế, các chủ thể kinh doanh, coi kinh tế của họ là một trong những bộphận cấu thành nền kinh tế quốc dân, chỉ như vậy thì mới phát huy được tínhnăng động sáng tạo, phát huy được mọi nguồn lực và thúc đẩy LLSX phát triển.LLSX kém phát triển thì việc thực hiện CBXH khó có thể thực hiện được

CBXH phải cân đối giữa các vùng, các miền, giữa các dân tộc, cáctầng lớp trong quá trình phát triển KTTT thường đi đôi với sự phân hóa giàunghèo vì vậy việc phát triển KTTT định hướng XHCN hiện nay, vấn đề thựchiện CBXH là cả một quá trình lâu dài và phức tạp trong toàn bộ quá trìnhphát triển, phải giải quyết dần dần, gắn CBXH ngay trong từng bước và trongtừng chính sách phát triển Tuy nhiên, trong tình hình đó đòi hỏi phải có sựlãnh đạo, quản lý và điều tiết của NTCQ, tránh tình trạng phân hóa quá mức,làm cho mức độ giàu nghèo giảm xuống theo đà TTKT ngày càng cao, tạonên sự hợp lý giữa các vùng, các tầng lớp và các dân tộc

CBXH phải đảm bảo tính thống nhất và hợp lý giữa quyền lợi vànghĩa vụ, giữa cống hiến và hưởng thụ của các thành viên trong xã hội Cốnghiến nhiều thì hưởng nhiều, cống hiến ít thì hưởng ít, cống hiến khác nhau thìhưởng thụ khác nhau, tránh tình trạng cào bằng bình quân chủ nghĩa CBXH

Trang 24

phải giải quyết hợp lý quan hệ giữa kinh tế và vấn đề xã hội, đảm bảo mọi tầnglớp xã hội được hưởng các quyền lợi xã hội như giáo dục, chăm sóc sức khỏe,đào tạo nghề nghiệp, trợ cấp lúc khó khăn hoạn nạn, đảm bảo các chính sách ưutiên, ưu đãi của xã hội đối với các gia đình chính sách như gia đình liệt sĩ, bà

mẹ Việt Nam anh hùng, thương bệnh binh, người có công với cách mạng,đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo, vùng căn cứ cách mạng, người cơ nhỡ,người ốm đau tàn tật không nơi nương tựa CBXH đảm bảo cho mọi thànhviên trong xã hội không ngừng nâng cao mức sống và tự khẳng định mình

CBXH đòi hỏi phải xóa bỏ những bất công trong xã hội, chống đặcquyền, đặc lợi, đặc biệt là phải xóa bỏ những bất công phi phí, đi ngược vớilợi ích của sự phát triển của xã hội, vi phạm nguyên tắc CBXH

CBXH là một trong những yêu cầu của sự phát triển xã hội vì CBXH

là cái đảm bảo cho mức hưởng thụ của người lao động tương xứng với cốnghiến của họ mà còn được nâng cao cùng với sự nâng cao chất lượng và hiệuquả công việc của họ Như vậy CBXH phù hợp với nhu cầu bên trong củangười lao động nên nó kích thích tính năng động, sáng tạo, thúc đẩy người laođộng đem hết khả năng, lòng nhiệt tình, sức lực, trí tuệ của mình để tạo rangày càng nhiều của cải vật chất và tinh thần cho xã hội CBXH kích thíchcác nhà kinh doanh bỏ vốn, chấp nhận rủi ro để đầu tư cho sản xuất, kíchthích các nhà quản lý phát huy hết năng lực và sáng kiến để hoàn thiện tổchức hợp lý hóa hoạt động sản xuất kinh doanh, đây là điều kiện quan trọng

để đảm bảo tăng trưởng và phát triển kinh tế

Trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay, nhu cầuđảm bảo CBXH càng cấp bách hơn trên các lĩnh vực: phân phối, chính sáchđối với các thành phần kinh tế, điều tiết thu nhập hợp lý, chống buôn lậu, độcquyền, chống cạnh tranh không lành mạnh, khuyến khích làm giàu hợp pháp,chống thu nhập không chính đáng, tạo điều kiện và cơ hội cho mọi người tiếpcận được cơ hội và mọi người đều bình đẳng trong nền kinh tế Giải quyết

Trang 25

được vấn đề này chính là thực hiện CBXH và là động lực mạnh mẽ để thúcđẩy TTKT và ngược lại TTKT lại là động lực để thúc đẩy việc thực hiệnCBXH, TTKT phải gắn liền với CBXH ngay trong từng bước và ngay trongtừng chính sách phát triển.

CBXH có vai trò rất quan trọng, mất CBXH có thể kìm hãm tăng trưởng

và phát triển kinh tế Một nền kinh tế - xã hội ổn định và lành mạnh thì phải loạitrừ được ngày càng nhiều những bất công trong xã hội Chủ nghĩa mác-xít đãvạch ra những bất công trong chủ nghĩa tư bản sẽ làm bùng nổ cuộc cách mạng

vô sản Sự sụp đổ của các nước Đông Âu và Liên Xô cũ đã chứng minh hùnghồn vai trò của CBXH trong việc đảm bảo ổn định chính trị - xã hội Những đòihỏi về CBXH trong tương lai không chỉ đơn thuần là lợi ích kinh tế, mà còn làCBXH về chính trị, xã hội trong các vấn đề về quyền con người và quyềncông dân, về vai trò vị trí của các giai cấp và các nhóm xã hội trong mỗi quốcgia, quan hệ giữa công dân với Nhà nước về bình đẳng sắc tộc, chủng tộc

CBXH còn là cơ sở, nguồn gốc của các chính sách xã hội,chính sách xã hội là một bộ phận cấu thành nên chính sách chungcủa toàn xã hội của một Đảng hay chính quyền nhà nước trong việcgiải quyết hay quản lý các vấn đề xã hội Chính sách xã hội baotrùm mọi mặt của đời sống con người, điều kiện lao động và sinhhoạt, giáo dục và văn hóa, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp vàquan hệ xã hội [28, tr 478]

Như vậy có nghĩa là các vấn đề chính sách xã hội cần được giải quyếtthỏa đáng theo hướng đảm bảo CBXH, nếu không lấy CBXH làm nguyên tắc,mục tiêu cơ bản của mình thì chính sách xã hội sẽ trở thành lực cản củaTTKT, tạo ra những bất ổn định xã hội Thành công của sự nghiệp 20 năm đổimới ở Việt Nam hiện nay phụ thuộc rất lớn vào tính năng động sáng tạo củamỗi cá nhân, giai cấp, tầng lớp, nhưng điều đó chỉ có thể thực hiện được khi

có một chính sách xã hội hợp lý và công bằng

Trang 26

Chúng ta đang thực hiện nền KTTT có sự quản lý nhà nước theo địnhhướng XHCN trong thời kỳ quá độ lên CNXH thì CBXH được hiểu là mốiquan hệ giữa cống hiến (nghĩa vụ) và hưởng thụ (quyền lợi), cống hiến ngangnhau thì hưởng thụ ngang nhau, cống hiến khác nhau thì hưởng thụ khác nhau(làm theo năng lực, hưởng theo lao động) CBXH còn được hiểu ở sự điều tiếtcủa nhà nước, đó là các chính sách ưu đãi đối với những bất công tự nhiên,những cống hiến trong quá khứ (kể cả vật chất, tinh thần, công sức, xươngmáu, vốn, chất xám) Đó chính là CBXH trong điều kiện nước ta hiện nay.

Trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc ta đã cho thầy vấn đềCBXH luôn được đặt lên hàng đầu, dân tộc ta đã trải qua gần một nghìn nămBắc thuộc; Tư tưởng nho giáo tác động rất mạnh mẽ, đến đời sống tâm lý xãhội của người dân Việt Nam, nhưng tư tưởng về CBXH không những không

bị pha trộn mà còn phát triển khá đậm nét thông qua các câu hò, vè, ca dao,tục ngữ, dân ca:

Con vua thì lại làm vua Con sãi ở chùa thì quét là đaBao giờ dân nổi can quaCon vua thất thế lại ra quét chùa

CBXH luôn là khát vọng lớn nhất của toàn dân tộc: Độc lập-Tự Hạnh phúc Cương lĩnh chính trị năm 1930 của Đảng ta vạch ra con đườngđấu tranh đúng đắn vì tiến bộ và CBXH xã hội: làm cách mạng dân tộc dânchủ nhân dân và đi lên CNXH Trong các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ

do-I, Ido-I, IIdo-I, IV, V, CBXH được thể hiện thông qua việc cải cách ruộng đất, cảitạo XHCN, thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, thực hành tiết kiệm,chống tham ô, lãng phí Đặc quyền đặc lợi, các chính sách thuế, bảo hiểm vàtrợ cấp xã hội, trong vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động

Trang 27

Trước khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhiệm vụ giải phóng dântộc, thống nhất tổ quốc được đặt lên hàng đầu Sau khi miền Nam hoàn toàngiải phóng, cả nước bước vào thời kì quá độ lên CNXH, do hậu quả chiếntranh để lại nặng nề, khó khăn chồng chất, lại áp dụng mô hình kinh tế theokiểu Liên Xô cũ, cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp với hình thức sở hữuquốc doanh và sở hữu hợp tác xã, công hữu về tư liệu sản xuất nên dẫn đếnkinh tế phát triển chậm, thu không bù chi, kết hợp với chế độ phân phối bìnhquân bao cấp nên công bằng trong thời kỳ này được hiểu theo nghĩa bìnhquân - sự bình quân theo kiểu "chia đều sự nghèo khó", theo GS,TS Lê HữuTầng trong thời kỳ này là:

Trong cơ chế quản lý tập trung bao cấp mà chúng ta lầmtưởng duy nhất đúng, là cái duy nhất đảm bảo thành công xây dựngCNXH, khái niệm công bằng được đồng nhất hoàn toàn với kháiniệm bình đẳng, còn khái niện bình đẳng được hiểu là sự ngangbằng nhau hoàn toàn giữa người và người về phương diện kinh tế,chính trị, văn hóa, xã hội Kết quả là khái niệm công bằng về thựcchất bị đem đồng nhất với khái niệm cào bằng một cách bình quânchủ nghĩa Mọi sự đi lệch khỏi trục bình quân đó đều bị coi là biểuhiện của không công bằng Chính quan điểm sai lầm đã làm suy giảm,thậm chí triệt tiêu mất động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội vàviệc thực hiện quan điểm đó trong cuộc sống về thực chất là bóc lộtngười có công đối với sản xuất và phát triển xã hội [79, tr 62] Như vậy, trong thời kỳ này đã nhầm lẫn CBXH và BĐXH, CBXHđược xem như là sự ngang bằng nhau về mọi phương diện giữa mọi thànhviên trong xã hội; quan niệm sai lầm này đã triệt tiêu động lực phát triển kinh

tế - xã hội; Ph Ăngghen từng nói: "cho rằng luận điểm < Bình đẳng = côngbằng > là một nguyên tắc tối cao và là một chân lý cuối cùng thì thật là nguxuẩn Bình đẳng chỉ tồn tại trong khuôn khổ đối lập với bất bình đẳng, côngbằng chỉ tồn tại trong khuôn khổ đối lập với không công bằng" [46, tr 840]

Trang 28

Như vậy trong một thời gian khá dài chúng ta đã nhầm lẫn giữa côngbằng với bình đẳng, với chủ nghĩa bình quân cào bằng, dẫn đến triệt tiêu độnglực phát triển kinh tế, nền kinh tế nước ta rơi vào khủng hoảng trầm trọng, cónguy cơ bị đẩy lùi tới bên bờ vực thẳm Trước tình hình đó, với phương châm

"nhìn thẳng vào sự thật" Đảng ta quyết định thực hiện đường lối đổi mới

Tại Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (8/1979) với chủ trương và quyếttâm làm cho sản xuất "bung ra" là bước đột phá đầu tiên của quá trình đổi mới

ở nước ta Đến hội nghị trung ương 8 khóa V (6/1985) đánh đấu bước đột pháthứ hai bằng chủ trương dứt khoát xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp,thực hiện cơ chế một giá, xóa bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá thấp,chuyển mọi hoạt động sản xuất - kinh doanh sang cơ chế hạch toán kinhdoanh XHCN, chuyển ngân hàng sang nguyên tắc kinh doanh, thừa nhận sảnxuất hàng hóa và quy luật sản xuất hàng hóa Tháng 8/1986, trong quá trìnhchuẩn bị Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội VI, Bộ Chính trị đã xem xét

kỹ các vấn đề lớn trên lĩnh vực kinh tế và đưa ra kết luận thuộc lĩnh vực kinhtế: Lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, ra sức phát triển công nghiệp nhẹ,công nghiệp nặng được phát triển có chọn lọc, đồng thời xác định cơ cấu kinh

tế nhiều thành phần là một đặc trưng thời kì quá độ lên CNXH ở nước ta.trong cơ chế quản lí kinh tế lấy kế hoạch làm trung tâm, đồng thời sử dụngđúng quan hệ hàng hóa - tiền tệ, chính sách giá phải vận dụng quy luật giá trị,tiến tới thực hiện cơ chế một giá Đây là bước đột phá thứ ba có ý nghĩa lớntrong quá trình đổi mới tư duy lý luận

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) đã đưa rađường lối đổi mới toàn diện đất nước mà trước hết là đổi mới tư duy kinh tế.Đại hội khẳng định dứt khoát chuyển nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tậptrung bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thịtrường, có sự quản lý của Nhà nước định hướng xã hội chủ nghĩa Đại hội VI

là bước đột phá lớn và toàn diện, làm xoay chuyển tình hình đưa nước ta tiến

Trang 29

lên, Đại hội xác định: đảm bảo CBXH là một trong 5 mục tiêu kinh tế - xã hộicủa đất nước trong thời kỳ đổi mới, giải quyết việc làm và thực hiện nguyêntắc phân phối theo lao động là những vấn đề trọng tâm của chính sách CBXH;Thực hiện CBXH phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nước, chống thunhập bất hợp pháp và đặc quyền đặc lợi.

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991) với cương lĩnhxây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH thì vấn đề CBXH được Đảng

ta xác định đây là một nội dung của chính sách xã hội và là điều kiện và độnglực của TTKT và tiến bộ xã hội trong thời kỳ đổi mới Đại hội cũng xác địnhthực hiện CBXH không chỉ trong lĩnh vực kinh tế, xã hội mà còn cả trongchính trị, văn hóa, giáo dục đặc biệt là khuyến khích tăng thu nhập và làmgiàu chính đáng là bước đột phá trong quan điểm CBXH của Đảng, phù hợpvới chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

Đại hội VIII của Đảng (6/1996) tiếp tục khẳng định phát triển, cụ thểhóa những chủ trương chính sách của Đảng về CBXH mà đại hội VII đã nêu

ra, CBXH được Đảng ta xác định là một động lực, nội dung, mục tiêu của sựnghiệp đổi mới Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh Đạị hộicũng chỉ rõ:

Tăng trưởng kinh tế phải gắn với tiến bộ xã hội và côngbằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển,CBXH phải được thể hiện ở cả khâu phân phối hợp lý tư liệu sảnxuất lẫn cả khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiệncho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực củamình với nhiều hình thức, tạo ra cho mọi người có cơ hội phát triển

và sử dụng hợp lý năng lực của mình [12, tr 113]

Đến Hội nghị Trung ương 4 khóa VIII Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh:phát triển kinh tế phải đi đôi với việc thực hiện công bằng xã hội, thu hẹp

Trang 30

khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giữa nông thôn với nông thôn, giữathành thị với thành thị, giữa các tầng lớp xã hội Đây là những bước phát triểnquan trọng có tính chất đột phá của Đảng ta trong giai đoạn mới.

Đại hội Đại IX (4/2001) của Đảng tiếp tục khẳng định "…phát triểnnhanh, có hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển vănhóa, từng bước cải thiện vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ

và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường" [12, tr 88-89]

Đại hội X (4/2006) Đảng ta một lần nữa khẳng định: "Thực hiện tiến

bộ và CBXH ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; thực hiệnchế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thờitheo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xãhội" [13, tr 26]

Kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trongphạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, địa phương, thực hiện tiến bộ vàcông bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách pháttriển, thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh

tế, gắn quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ, tạo động lựcmạnh mẽ và bền vững hơn cho phát triển kinh tế-xã hội Tập trunggiải quyết những vấn đề xã hội bức xúc [13, tr 101]

Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, pháttriển toàn diện con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng

xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làmgiàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo Từng bước thu hẹpkhoảng cách phát triển giữa các vùng [13, tr 178-179]

Thứ nhất, TTKT luôn luôn gắn liền với tiến bộ và CBXH trong từng

bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển đất nước TTKT làđiều kiện, tiền đề để thực hiện CBXH và ngược lại thực hiện CBXH là động

Trang 31

lực thúc đẩy TTKT - xã hội một cách bền vững Chúng ta không chấp nhậnTTKT cao sau đó mới thực hiện CBXH và cũng không đơn thuần thực hiệnCBXH một cách giản đơn thuần túy, cũng không phải thực hiện TTKT mộtcách độc lập tách rời CBXH Mỗi chính sách về phát triển kinh tế - xã hộinước ta đều nhằm mục tiêu vì sự tiến bộ và CBXH, mỗi chính sách xã hội đềuchứa đựng nội dung và ý nghĩa thúc đẩy kinh tế phát triển TTKT phải gắnvới CBXH trên phạm vi cả nước, ở mọi lĩnh vực, ở mọi địa phương ngaytrong từng bước và từng chính sách phát triển, Đảng khuyến khích, tạo điềukiện mọi người dân làm giàu theo pháp luật, tạo mọi điều kiện để không có hộnghèo đói Khắc phục tư tưởng ỷ lại, bao cấp, đồng thời thực hiện cải cáchtiền lương, tích cực tạo điều kiện trong việc chăm lo và bảo vệ sức khỏe chongười dân Hoàn thiện các chính sách trợ cấp cho các đối tượng chính sách,

đa dạng hóa các hình thức cứu trợ xã hội, dịch vụ y tế cho phù hợp với từnglĩnh vực, từng địa phương

Thứ hai, CBXH là động lực để phát triển kinh tế, cần phải gắn quyền

lợi với nghĩa vụ, cống hiến với hưởng thụ, cống hiến ngang nhau thì hưởngthụ ngang nhau, cống hiến khác nhau thì hưởng thụ khác nhau, tránh bìnhquân chủ nghĩa, cào bằng nhằm tạo động lực phát triển kinh tế- xã hội Thựchiện phân phối trong kinh tế chủ yếu dựa vào kết quả lao động, hiệu quả kinh

tế và mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác

Thứ ba, CBXH trong quá trình phát triển KTTT định hướng xã hội

chủ nghĩa không đơn thuần là điều hòa lợi ích, phân phối và thu nhập củacác giai cấp và tầng lớp trong xã hội cho hợp lý mà còn phải đảm bảo chomọi tầng lớp trong xã hội được hưởng các quyền lợi xã hội như giáo dục,chăm sóc sức khỏe, đào tạo nghề nghiệp, được tạo điều kiện để nâng cao đờisống vật chất và tinh thần, có điều kiện và cơ hội phát triển, thể hiện nănglực cá nhân

Trang 32

Thứ tư, CBXH là công bằng trong phân phối tư liệu sản xuất và trong

phấn phối sản phẩm lao động, tạo điều kiện và cơ hội cho mọi người phát huyhết năng lực cá nhân để cống hiến cho xã hội CBXH không phải là sự càobằng, chủ nghĩa bình quân Công bằng trong cơ hội làm việc, cơ hội phát triển

và được hưởng thành quả lao động tương xứng với sức lực, khả năng và trítuệ của họ, chỉ như vậy thì mới tạo ra được sự công bằng trong phát triển

Thứ năm, CBXH ở nước ta là một trong những đặc trưng cơ bản trong

các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, nhằm mục đích xóa bỏ mọibất công, mọi áp bức, đem lại tự do hành phúc cho con người Đây là sựCBXH to lớn và triệt để nhất mà toàn Đảng toàn dân ta phấn đấu đạt tới Mụctiêu lâu dài này được thể hiện cụ thể hóa trong giai đoạn đầu là khuyến khíchmọi người dân tham gia làm giàu chính đáng, ai cũng có cơm ăn áo mặc, aicũng được học hành, người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì trở nên khá giả,người khá giả thì trở nên giàu có Chúng ta cũng thầy rằng có một bộ phậndân cư, một số vùng giàu lên trước, từ đó làm bàn đạp thúc đẩy xã hội pháttriển, đồng thời phải có những chính sách kinh tế - xã hội đặc biệt để trợ giúpngười nghèo, tạo tiền đề phát triển Về nguyên tắc không có công bằng tuyệtđối khi mà xã hội vẫn còn tồn tại mâu thuẫn giữa nhu cầu của con người vớikhả năng hiện thực của điều kiện kinh tế - xã hội Vì vậy, công bằng là làmnhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng, đó mới

là công bằng

Thứ sáu, CBXH phải tính đến hoàn cảnh lịch sử Những thành quả mà

nhân dân ta có được hôm nay là kết quả của cuộc đấu tranh liên tục, lâu dàitrong gần nửa thế kỷ để chống giặc ngoại xâm, bảo vệ chính quyền cáchmạng, bảo về quyền độc lập, tự do, tự chủ của dân tộc, đã biết bao nhiêu anhhùng, thương binh, liệt sĩ, bao nhiêu người "tiền khởi nghĩa","có công vớicách mạng" đã không tiếc máu xương, công sức vì lý tưởng cao cả cho toàndân tộc, thì đương nhiên CBXH là những chính sách ưu đãi đối với họ

Trang 33

1.2 NHÂN TỐ CHỦ QUAN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

1.2.1 NTCQ đối với việc thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

Cùng với quá trình hoạt động thực tiễn của con người, khái niệm "NTCQ" và điều kiện khách quan (ĐKKQ) từng bước được hình thành và pháttriển Để hiểu được nội dung của khái niệm này thì nhất thiết phải tìm hiểuđến những khái niệm có liên quan như khái niệm "chủ thể", "khách thể", chỉkhi nào hiểu được cái khái niệm này thì mới hiểu được khái niệm NTCQ vàĐKKQ "Chủ thể", "khách thể" là những khái niệm rất quan trọng, trong mốiquan hệ với khái niệm "NTCQ" và "ĐKKQ", nếu không hiểu được các kháiniệm này thì cũng không thể hiểu được khái niệm "NTCQ" và "ĐKKQ" hoặchiểu không đúng, dễ bị nhầm lẫn đồng nhất giữa các khái niệm

Trong quá trình hoạt động của mình, con người đã tác động vào thếgiới khách quan, cải tạo thế giới khách quan nhằm phục vụ lợi ích con người

Vì vậy, con người vừa là sản phẩm của hoàn cảnh, đồng thời vừa là chủ thểcủa hoạt động cải tạo hoàn cảnh, từ đó đã hình thành nên khái niệm chủ thể.Khái niệm chủ thể đã được rất nhiều nhà triết học quan tâm nghiên cứu và đãđưa ra nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau Có quan niệm cho rằng "Chủthể là con người (cá nhân hoặc nhóm.) tiến hành hoạt động nhận thức và hoạtđộng cải tạo thực tiễn" [90, tr 92] Quan điểm khác thì lại hiểu "Chủ thể làcon người có ý thức và ý chí, và đối lập với khách thể bên ngoài" [89, tr 192]

Từ những khái niệm trên cho thấy: Tùy từng đối tượng được xem xét

mà xác định chủ thể tương ứng, chủ thể có thể là cả loài người, một nhómngười, một giai cấp, một đảng phái hay một tổ chức chính trị - xã hội nào đó,

Trang 34

bằng những hoạt động của mình nhằm cải tạo đối tượng khách thể, làm chođối tượng ấy (khách thể) biến đổi cho phù hợp với lợi ích của mình.

Như vậy, có thể hiểu: chủ thể là con người có ý chí, có ý thức, mangtính sáng tạo với những cấp độ tồn tại khác nhau (cá nhân, nhóm, giai cấp)bằng hoạt động thực tiễn của mình đã và đang tác động đến khách thể

Con người ở đây với tư cách là chủ thể có ý thức và ý chí, bằng hoạtđộng mang tính sáng tạo của mình tác động vào đối tượng (khách thể) nhằmcải tạo đối tượng (tự nhiên và xã hội) cho phù hợp với mục đích của chủ thể

và phục vụ chủ thể Năng lực sáng tạo của chủ thể được thể hiện bằng phươngpháp, cách thức tác động vào đối tượng nhằm đạt được mục đích đề ra V.I.Lênin nói: "Khái niệm ấy (=con người) là khuynh hướng tự mình thực hiệnmình, tự cho mình, qua bản quân mình, một tính khách quan trong thế giớiquan và tự hoàn thiện (tự thực hiện) mình" [33, tr 228]

Khách thể là tất cả những đối tượng mà chủ thể bằng ý thức và hoạtđộng thực tiễn của mình tác động vào chúng nhằm nhận thức và cải tạo chúngcho phù hợp với mục đích con người

Khách thể và chủ thể có mối quan hệ khăng khít với nhau, tồn tại songsong với nhau, khách thể là khách thể của chủ thể xác định và ngược lại, chủthể là chủ thể của khách thể tương ứng, không có khách thể và chủ thể chungchung trừu tượng tồn tại một cách độc lập tách rời bất biến

Khách thể không phải là toàn bộ hiện thực khách quan mà chỉ là một

bộ phận của hiện thực khách quan Hiện thực khách quan vô cùng phong phúnên khách thể (với tư cách là bộ phận của thế giới khách quan) cũng vô cùngphong phú, khách thể có thể là những sự vật, hiện tượng hay quá trình trong

tự nhiên cũng như trong đời sống xã hội, những quan hệ kinh tế, những quan

hệ chính trị - xã hội, kể cả những quan hệ tư tưởng cũng là những khách thểcủa những chủ thể tương ứng

Trang 35

Như vậy, có thể nói khách thể và chủ thể có mối quan hệ biện chứngvới nhau, chúng lấy nhau làm tiền đề cùng tồn tại, khách thể tồn tại kháchquan không phụ thuộc vào ý thức con người, song con người có thể tác độngvào chúng, làm biến đổi chúng, cải tạo chúng cho phù hợp với mục đích củacon người.

Khái niệm chủ quan không hoàn toàn đồng nhất với khái niệm chủthể, xung quanh khái niệm nhân tố chủ quan đã có rất nhiều quan niệm khácnhau, có quan điểm cho rằng: "Nhân tố chủ quan trong sự phát triển xã hội làhoạt động có ý thức của những con người, những giai cấp, những chính đángsáng tạo ra lịch sử" [57, tr 20] Quan niệm này đồng nhất NTCQ với hoạtđộng có ý thức của con người Bên cạnh đó lại có những quan niệm đồng nhấtNTCQ với hoạt động tự giác của con người hoặc đồng nhất nhân tố chủ quanvới ý thức của chủ thể A.K.Uleđốp thì cho rằng:

Nhiều phẩm chất tư tưởng, tâm lý xã hội, đạo đức của các tập đoàn xãhội, của các giai cấp và các tổ chức của nó, của các dân tộc là nằm trong nộidung của NTCQ nhưng sẽ là sai lầm khi cho rằng toàn bộ ý thức xã hội cũngnằm trong đó NTCQ không phải là ý thức nói chung (cũng hệt như là sự hoạtđộng), mà là các ý thức đã trở thành sự chỉ đạo, sự kích thích và phươngchâm của hoạt động Nói cách khác là ý thức đã biến thành đặc điểm nhấtđịnh của hành vi, của hoạt động của chủ thể [93, tr 69]

Theo A.K.Uleđốp thì nhân tố chủ quan chỉ bao gồm những bộ phận ýthức của chủ thể tham gia vào quá trình tác động giữa chủ thể và khách thể

Khi nói tới NTCQ trước hết là nói tới tính tích cực sáng tạo của chủthể hoạt động vì con người vừa là sản phẩm của hoàn cảnh đồng thời vừa làchủ thể của hoàn cảnh đó Vì vậy trong mối quan hệ với tự nhiên thì chúng ta

có khái niệm con người Trong mối quan hệ giữa con người và đối tượngnhận thức thì hình thành nên khái niệm chủ thể và khách thể, còn khi xem xétchủ thể đang tích cực hoạt động trong một hoạt động xác định với đầy đủ các

Trang 36

mặt, các yếu tố, các mối quan hệ.Tức là xem xét chủ thể - con người với tất cảcác nhân tố tạo thành tính tích cực của chủ thể, các nhân tố vừa là nguyênnhân vừa là điều kiện của mọi hoạt động tích cực, sáng tạo của chủ thể thìchúng ta sẽ có khái niệm NTCQ và đối lập với NTCQ là điều kiện kháchquan Tuy nhiên cũng cần phải hiểu rằng chủ thể khác chủ quan và chủ thểkhông đóng vai trò chủ quan mà những trạng thái của chủ thể biểu hiện tronghoạt động đóng vai trò NTCQ, những thuộc tính, phẩm chất của chủ thể làNTCQ, là những yếu tố cần thiết để tạo ra khả năng tích cực sáng tạo của chủthể được thể hiện thông qua hoạt động thực tiễn cải tạo các khách thể xácđịnh, tổng hợp toàn bộ những nội dung đó tạo thành khái niệm NTCQ.TheoV.N.Lavrineko thì: NTCQ trong quá trình lịch sử là những khả năng khácnhau của con người mà bằng sự tác động của mình, đã đem lại sự biến đổitrong những mặt nhất định của đời sống xã hội Điều quan trọng nhất cấuthành NTCQ là ý thức và nói chung là đời sống tinh thần của con người,những kỹ năng, kỹ xảo và thói quen của họ trong hoạt động sản xuất, kinhnghiệm xã hội, trình độ văn hóa và đồng thời là những phẩm chất ý chí củahọ: Tính tổ chức trong hoạt động của con người có ý nghĩa to lớn [57, tr 20].

Như vậy, NTCQ và chủ thể là có sự thống nhất với nhau, nhưngkhông đồng nhất, NTCQ thuộc về chủ thể, tuy nhiên NTCQ có tính độc lậptương đối NTCQ là khái niệm chỉ những yếu tố, đặc trưng cấu thành phẩmchất của chủ thể nhằm tác động vào khách thể, làm biến đổi khách thể

Từ quan niệm trên có thể hiểu: NTCQ là những yếu tố ý thức của chủthể tham gia trực tiếp vào hoạt động của chủ thể nhằm tác động cải tạo khách thể

NTCQ bao gồm:

Thứ nhất, ý thức của chủ thể là nội dung cấu thành NTCQ nhưng

không phải là toàn bộ ý thức của chủ thể, mà chỉ những bộ phận của chủ thểtrực tiếp tham gia vào hoạt động tác động đến khách thể, khi ấy ý thức với tư

Trang 37

cách là NTCQ trở thành sự chỉ đạo, kích thích, là phương châm định hướngcho hành động, ý thức trở thành hành động của chủ thể.

Thứ hai, đề cập tới NTCQ là đề cấp đến ý thức của chủ thể (con người

cụ thể, nhóm người, giai cấp, đảng phái), đó là những hoạt động thực tiễn của

họ nhằm giải quyết những nhiệm vụ lịch sử nhất định NTCQ không đơnthuần chỉ là ý thức mà còn bao gồm cả những hoạt động cụ thể trong quá trìnhcải tạo thế giới C.Mác chỉ ra rằng: "Tư tưởng căn bản không thực hiện được

gì hết, muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lựclượng thực tiễn" [41, tr 187]

Thứ ba, sức mạnh hoạt động thực tiễn của chủ thể là sự kết hợp biện

chứng giữa sức mạnh thể chất và sức mạnh tinh thần Như vậy, NTCQ cònbao gồm cả những phẩm chất, những trạng thái thuộc về năng lực thể chất củachủ thể Tuy nhiên, cũng cần phân biệt NTCQ với cái chủ quan, NTCQ chỉ làmột bộ phận của cái chủ quan được huy động, sử dụng vào quá trình cải tạokhách thể

NTCQ cũng không đồng nhất với hoạt động tự giác vì hoạt động tựgiác của con người là hoạt động nhận thức quy luật và tác động phù hợp vớiquy luật khách quan, biến tự phát thành tự giác NTCQ tham gia vào cả hoạtđộng tự phát và tự giác

Khái niệm NTCQ có quan hệ mật thiết với khái niệm ĐKKQ, bất cứmột chủ thể lịch sử - xã hội nào để tồn tại đều phải gắn liền với ĐKKQ xácđịnh, cụ thể Trong hoạt động của chủ thể thì điều kiện khách quan rất đadạng và phong phú, gồm các mặt, các yếu tố, các kết cấu vật chất tồn tại dướidạng có sẵn trong tự nhiên, các yếu tố tồn tại dưới dạng xã hội Những yếu tốvật chất và những yếu tố tinh thần (tư tưởng, tâm lý, tập quán) đang tồn tạihiện thực trong xã hội hợp thành một hoàn cảnh trong đó chủ thể tồn tại vàhoạt động, đó là ĐKKQ

Trang 38

Khái niệm ĐKKQ quan đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến vớinhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng tựu chung lại thì về cơ bản là giốngnhau trong khái niệm này Có quan điểm cho rằng: Những quan điểm kháchquan là cả những gì tạo nên một hoàn cảnh hiện thực quy định và tác động lênmọi hoạt động của chủ thể, tồn tại không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể hoạtđộng [3, tr 19].

Quan điểm khác lại khẳng định: ĐKKQ là tổng thể các mặt, các nhân

tố tạo nên một hoàn cảnh thực tồn tại bên ngoài, độc lập với chủ thể và tácđộng vào hoạt động của chủ thể trong hoàn cảnh cụ thể đó [35, tr 12] Hoặc:ĐKKQ là những yếu tố tạo nên một hoàn cảnh hiện thực tồn tại bên ngoài,độc lập với chủ thể đang hoạt động ở những thời điểm cụ thể nhất định và cótham gia vào việc quy định kết quả hoạt động của chủ thể [57, tr 16]

Từ những quan niệm trên có thể hiểu: ĐKKQlà tổng thể các yếu tố,các mặt, các mối quan hệ tồn tại bên ngoài và độc lập với chủ thể tạo thànhmột hoàn cảnh hiện thực luôn luôn tác động và quy định hoạt động của chủ thể

Như vậy, ĐKKQ là hoàn cảnh mà trong đó chủ thể tồn tại và hoạtđộng, nó quy định hoạt động của chủ thể Bất kỳ một hoạt động nào của chủthể cũng có thể được thực hiện khi có những điều kiện nhất định Những điềukiện đó đóng vai những tiền đề của hoạt động [93, tr 71-72]

Nói đến ĐKKQ thì trước hết phải nói đến những điều kiện vật chất tạonên một hoàn cảnh hiện thực và độc lập với chủ thể xác định và quy định hoạtđộng của chủ thể đó Nếu các điều kiện vật chất luôn là ĐKKQ (xét trong mốiquan hệ với ý thức), song ĐKKQ được xác định cụ thể lại không đơn thuần làđiều kiện vật chất mà còn bao gồm cả những yếu tố thuộc ý thức, tư tưởng,những ý thức, tư tưởng này tồn tại khách quan với chủ thể xác định và ảnhhưởng đến hoạt động của chủ thể, đó cũng là ĐKKQ

Trang 39

Như vậy, ĐKKQ là toàn bộ những yếu tố vật chất và tinh thần tồn tạiđộc lập và không phụ thuộc vào chủ thể cấu thành hoàn cảnh và tác động đếnhoạt động của chủ thể.

NTCQ và ĐKKQ có mối quan hệ biện chứng với nhau, ĐKKQ là tínhthứ nhất quy định NTCQ, và NTCQ có tác động tích cực, mạnh mẽ đếnĐKKQ làm biến đổi ĐKKQ cho phù hợp với mục đích của NTCQ Sự quyđịnh của ĐKKQ với NTCQ được thể hiện:

Thứ nhất, hoạt động của chủ thể là nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu

của chủ thể Mục đích, mục tiêu mà chủ thể đặt ra đều xuất phát từ điều kiện

và khả năng của hiện thực, nếu mục đích mục tiêu mà không xuất phát từ hiệnthực khách quan thì không thể thành công được Điều đó được Lên nin khẳngđịnh: "Thật ra, mục đích của con người là do thế giới khách quan sản sinh ra

và lấy thế giới khách quan làm tiền đề" [33, tr 201]

Thứ hai, hoạt động thực tiễn của chủ thể là do ĐKKQ quy định.

C.Mác viết: "Nhân loại bao giờ cũng chỉ đặt ra cho mình những nhiệm vụ mà

có thể giải thích được, vì khi xét kỹ hơn, bao giờ người ta cũng thấy rằng bảnthân nhiệm vụ ấy chỉ nảy sinh khi những điều kiện vật chất của nhiệm vụ đó

đã có rồi, hay ít ra cũng đang ở quá trình hình thành" [43, tr 16]

Như vậy, ĐKKQ là yếu tố quy định chủ thể, quy định phương tiện,phương pháp, cách thức hành động của chủ thể

Thứ ba, sự phát triển của NTCQ do ĐKKQ quy định, tùy từng ĐKKQ

cụ thể mà chủ thể hoạt động cải tạo điều kiện đó phải có những phẩm chấttương ứng, ĐKKQ thay đổi thì NTCQ cũng phải thay đổi cho thích ứng vớiĐKKQ mới Tuy nhiên NTCQ không phải thụ động mà có tính độc lập tươngđối tác động tích cực trở lại ĐKKQ một cách năng động và sáng tạo, bằngnhận thức của mình, NTCQ phân tích, nhận xét, đánh giá ĐKKQ từ đó đề raphương hướng, cách thức để thực hiện nhiệm vụ đặt ra, đồng thời bằng hoạt

Trang 40

động thực tiễn của mình NTCQ có thể cải tạo điều kiện, hoàn cảnh kháchquan thuận lợi cho hoạt động của mình.

Thực chất vai trò của NTCQ là phát hiện ra những khả năng kháchquan trên cơ sở điều kiện phương tiện vật chất vốn có của hoàn cảnh kháchquan để biến đổi hoàn cảnh theo quy luật vốn có của nó

Hiện nay Việt Nam đang xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thịtrường định hướng XHCN, nền KTTT đã đem lại những thành tựu quantrọng, nền kinh tế đã vượt qua thời kì suy giảm, tốc độ TTKT khá cao và toàndiện, tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm sau cao hơn năm trước, bìnhquân trong 5 năm 2001-2005 là 7,51% Kinh tế vĩ mô tương đối ổn định, tíchlũy, tiêu dùng, thu chi ngân sách…được cải thiện rõ dệt, nội lực được huyđộng cho phát triển có chuyển biến tích cực, GDP huy động vào ngân sáchnhà nước vượt so với dự kiến Tổng vốn đầu tư vào nền kinh tế tăng nhanhlàm tăng năng lực sản xuất kinh doanh, nhiều kết cấu cơ sở hạ tầng kinh tế-xãhội được xây dựng và hoàn thiện đưa vào sử dụng, cơ sở vầt chất-kỹ thuậtđược tăng cường cho nền kinh tế

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng CNH, HĐH Đến năm

2005 tỉ trọng nông-lâm-ngư nghiệp trong GDP giảm xuống còn 20,9%, côngnghiệp và xây dựng là 41%, dịch vụ là 38,1% Các thành phần kinh tế đềuphát triển Kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế có những bước tiếnmới rất quan trọng Xuất nhập khẩu có tốc độ tăng trưởng khá, kim ngạchxuất khẩu đạt hơn 50% GDP.Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng liên tục qua các năm đã có một số dự

án đầu tư ra nước ngoài

Thể chế KTTT định hướng XHCN đang từng bước dược xây dựng vàphát triển, thị trường hàng hóa phát triển tương đối nhanh, một số mặt hàngchất lượng cao, có sức cạnh tranh lớn đối với thị trường trong nước, khu vực

Ngày đăng: 19/02/2014, 14:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hiền Anh (1997) "Vài suy nghĩ về tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội", Tạp chí Cộng sản, (18), tr. 42-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài suy nghĩ về tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
2. Đỗ Trọng Bá, "Đảm bảo công bằng xã hội và việc xóa bỏ các bất công", Lý luận chính trị, (9), tr. 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảm bảo công bằng xã hội và việc xóa bỏ các bất công
3. Trần Bảo (1989), "Bàn về những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong xây dựng chủ nghĩa xã hội"; Triết học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong xây dựng chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Trần Bảo
Năm: 1989
4. Phạm Tất Dong (2000), "Tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội - một nội dung của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa", Quốc phòng toàn dân, (7), tr. 29-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội - một nội dung của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Phạm Tất Dong
Năm: 2000
5. Phạm Văn Dũng (2004), Thực hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc trong giáo dục - đào tạo ở các tỉnh miền núi phía bắc nước ta hiện nay, Luận văn thạc sĩ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc trong giáo dục - đào tạo ở các tỉnh miền núi phía bắc nước ta hiện nay
Tác giả: Phạm Văn Dũng
Năm: 2004
6. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc (2005), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XIV, Vĩnh Phúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XIV
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc
Năm: 2005
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1986
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, (Lưu hành nội bộ), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1994
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia"
Năm: 1996
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
14. Hoàng Thị Điều: "Thực hiện công bằng xã hội góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân", Nghiên cứu lý luận, (7), tr.19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện công bằng xã hội góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân
15. Nguyễn Ngọc Hà (2002), "Nguyên tắc phân phối về mục tiêu công bằng xã hội ở nước ta hiện nay", Triết học, (8), tr.13-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc phân phối về mục tiêu công bằng xã hội ở nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hà
Năm: 2002
16. Lương Việt Hải (2004), "Công bằng xã hội trong kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay", Triết học, (4), tr. 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công bằng xã hội trong kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
Tác giả: Lương Việt Hải
Năm: 2004
17. Phạm Hảo, Võ Xuân Tiến, Mai Đức Lộc (đồng chủ biên) (2000), Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở một số tỉnh miền Trung, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở một số tỉnh miền Trung
Tác giả: Phạm Hảo, Võ Xuân Tiến, Mai Đức Lộc (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
18. Nguyễn Khắc Hiền (1994), "Kinh tế thị trường và công bằng xã hội", Tạp chí Cộng sản, (2), tr. 34-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế thị trường và công bằng xã hội
Tác giả: Nguyễn Khắc Hiền
Năm: 1994
19. Nguyễn Đình Hiền (1998), "Một số vấn đề tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở nước ta", Nghiên cứu lý luận, (3), tr. 11-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở nước ta
Tác giả: Nguyễn Đình Hiền
Năm: 1998
20. Vũ Hiền (1999), "Tăng trưởng kinh tế và nghịch lý của sự tăng trưởng", Thông tin lý luận, (12), tr. 7-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng kinh tế và nghịch lý của sự tăng trưởng
Tác giả: Vũ Hiền
Năm: 1999

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Kết quả xóa đói giảm nghèo ở Vĩnh Phúc (2001- 2005)[73] - nhân tố chủ quan với việc thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay (qua thực tế vĩnh phúc)
Bảng 2.1 Kết quả xóa đói giảm nghèo ở Vĩnh Phúc (2001- 2005)[73] (Trang 56)
Bảng 2.2: Nguồn vốn huy động cho xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn (2001 – 2005) [73] - nhân tố chủ quan với việc thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay (qua thực tế vĩnh phúc)
Bảng 2.2 Nguồn vốn huy động cho xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn (2001 – 2005) [73] (Trang 57)
Bảng 2.4: Cán bộ ngàn hy tế trên địa bàn - nhân tố chủ quan với việc thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay (qua thực tế vĩnh phúc)
Bảng 2.4 Cán bộ ngàn hy tế trên địa bàn (Trang 59)
Bảng 2.3: Cơ sở y tế trên địa bàn Vĩnh Phúc năm 2005 (theo huyện, thị xã) [65] - nhân tố chủ quan với việc thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay (qua thực tế vĩnh phúc)
Bảng 2.3 Cơ sở y tế trên địa bàn Vĩnh Phúc năm 2005 (theo huyện, thị xã) [65] (Trang 59)
Bảng 2.5: Cán bộ ngành dược trên địa bàn năm 2005 phân theo huyện, thị (địa phương quản lý) [65] - nhân tố chủ quan với việc thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay (qua thực tế vĩnh phúc)
Bảng 2.5 Cán bộ ngành dược trên địa bàn năm 2005 phân theo huyện, thị (địa phương quản lý) [65] (Trang 60)
Bảng 2.6: Thực trạng y tế ở các xã, phường, thị trấn (tính đến 31/12/2005) [65] - nhân tố chủ quan với việc thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay (qua thực tế vĩnh phúc)
Bảng 2.6 Thực trạng y tế ở các xã, phường, thị trấn (tính đến 31/12/2005) [65] (Trang 61)
Bảng 2.7: Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu chủ yếu về y tế địa phương [65] - nhân tố chủ quan với việc thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay (qua thực tế vĩnh phúc)
Bảng 2.7 Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu chủ yếu về y tế địa phương [65] (Trang 62)
Bảng 2.9: Một số vụ án hình sự cơ bản ở Vĩnh Phúc (2004-2005) [65] - nhân tố chủ quan với việc thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay (qua thực tế vĩnh phúc)
Bảng 2.9 Một số vụ án hình sự cơ bản ở Vĩnh Phúc (2004-2005) [65] (Trang 63)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w