NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOHỌC VIỆN NGÂN HÀNG TRẦN THỊ THÙY HƯƠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN KENANGA VIỆT N AM Chuyên
Trang 2NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
TRẦN THỊ THÙY HƯƠNG
PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG
TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN KENANGA VIỆT N AM
Chuyên ngành : Kinh tế tài chính - Ngân hàng
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học : PGS TS TÔ KIM NGỌC
Hà Nội - 2011
Trang 3MỞ ĐẦU1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán (TTCK) là một kênh quan trọng thu hút vốn dàihạn cho các doanh nghiệp Mặt khác, TTCK cùng với hệ thống ngân hàng sẽ tạo
ra một hệ thống tài chính đủ mạnh, cung cấp các nguồn vốn ngắn, trung và dàihạn cho nền kinh tế Hơn thế nữa, trên phương diện chính trị và ngoại giao, việcxây dựng TTCK còn có tác động rất lớn đến tiến trình hội nhập của nước ta vàocộng đồng khu vực và thế giới
TTCK Việt Nam ra đời và đi vào hoạt động được hơn 10 năm, đây là mộtkhoảng thời gian còn rất ngắn nếu so sánh với lịch sử hàng trăm năm của cácnước phát triển khác, hàng vài chục năm của các nước láng giềng Mặc dù TTCKcủa ta sau một thời gian hoạt động đã đạt được những mục tiêu cơ bản ban đầunhưng vẫn chưa thực sự là một thị trường phát triển về nhiều mặt như quy mô,cấu trúc thị trường, khung pháp lý, Mọi hoạt động đều đang ở những bước điđầu tiên, trong giai đoạn hình thành và dần hoàn thiện
TTCK hoạt động hiệu quả một phần là nhờ vào sự thủ vai tốt của các nhàmôi giới và kinh doanh chứng khoán Hầu hết các công ty chứng khoán (CTCK)hiện nay đều vừa có hoạt động Môi giới chứng khoán vừa có hoạt động kinhdoanh chứng khoán Môi giới chứng khoán là một trong những hoạt động cơ bảncủa CTCK, về bản chất đó là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua, bán chokhách hàng để hưởng phí hoa hồng Hoạt động môi giới có vai trò quan trọnggiúp cho TTCK hoạt động an toàn, ổn định và phát triển
1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động Môi giới chứng khoán đốivới sự phát triển của TTCK Việt Nam Đồng thời khi nghiên cứu thực tế thấy
Trang 4được hoạt động Môi giới chứng khoán vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế mà trong
đó lợi nhuận của các CTCK thu được từ hoạt động Môi giới chứng khoán cònthấp, chưa xứng đáng là nghiệp vụ hàng đầu của các CTCK Có rất nhiều nguyênnhân để giải thích cho vấn đề này, đó là do: việc các CTCK chưa có một đội ngũnhân viên môi giới chuyên nghiệp chưa thu hút được khách hàng; hay việc cácCTCK rơi vào cuộc chiến giảm mức phí Môi giới để cạnh tranh; hay một nguyênnhân khác nữa là TTCK Việt Nam chưa phát triển, hệ thống văn bản pháp quythiếu đồng bộ Những vấn đề này làm cho nghiệp vụ Môi giới của các CTCKnói chung và của công ty Cổ phần Chứng khoán Kenanga Việt Nam nói riêng
chưa thực sự phát triển Đây cũng chính là lý do em lựa chọn đề tài “ Phát triển
dịch vụ Môi giới chứng khoán tại Công ty Cổ phần Chứng khoán Kenanga Việt Nam” để nghiên cứu và tìm hiểu.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn hiệu quả hoạt động của nghiệp vụ môi giớichứng khoán của CTCK Kenanga Việt Nam cũng như nghiên cứu sự hình thành
và phát triển của TTCK Việt Nam để tìm ra những yếu tố tác động tới hoạt độngcủa các CTCK, từ đó đưa ra giải pháp nhằm phát triển hoạt động Môi giới tạiCông ty cổ phần Chứng khoán Kenanga Việt Nam
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở sử dụng kết hợp các biện phát duy vậtbiện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp so sánh và phương pháp phân tích hoạtđộng sản xuất kinh doanh của công ty trên cơ sở các báo cáo tài chính, các địnhhướng phát triển của TTCK Việt Nam nói chung và của CTCK Kenanga ViệtNam (KVS) nói riêng Đề tài đã đưa ra cơ sở lý luận trên cơ sở lý thuyết và thựctiễn để rút ra những kết luận và những đề xuất chủ yếu
Trang 51.5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu nội dung chính của luận văn:
- Chương 1: Nội dung cơ bản về phát triển dịch vụ môi giới chứng khoán của
Trang 6CHƯƠNG 1 NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIEN DỊCH VỤ MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1 THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ Sự CẦN THIẾT CỦA DỊCH
VỤ MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN
1.1.1 Đặc điểm hoạt động của TTCK
1.1.1.1 Khái niệm, chức năng TTCK
a) Khái niệm TTCK.
TTCK được hiểu một cách chung nhất là nơi diên ra các giao dịch mua
bán, trao đổi các chứng khoán Nghĩa là ở đâu có giao dịch mua bán chứng
khoán thì đó là hoạt động của TTCK
Chứng khoán được hiểu là các loại giấy tờ có giá hay bút toán ghi sổ, nó
có khả năng chuyển nhượng, xác định số vốn đầu tư, cho phép chủ sở hữu cóquyền yêu cầu về thu nhập và tài sản của tổ chức phát hành Các quyền yêu cầunày có sự khác nhau giữa các loại chứng khoán, tuỳ theo tính chất sở hữu củachúng Có nhiều cách để phân loại chứng khoán dựa theo các tiêu thức khácnhau Nếu dựa theo tính chất của chứng khoán thì hàng hoá trên thị trường baogồm hai loại chủ yếu là chứng khoán vốn và chứng khoán nợ
Với chứng khoán vốn, mà đại diện là cổ phiếu, nó xác nhận sự góp vốn vàquyền sở hữu phần vốn góp đó của cổ đông đối với tài sản của công ty cổ phần
Cổ đông có thể tiến hành mua bán, chuyển nhượng các cổ phiếu trên thị trường
Trang 73 Chính phủ
4 Nước ngoài
thứ cấp theo quy định của pháp luật Ngoài ra, cổ đông còn có quyền tham giaquản lý công ty thông qua quyền tham gia và bỏ phiếu tại Đại hội cổ đông,quyền mua trước đối với cổ phiếu phát hành mới
Với chứng khoán nợ, điển hình là trái phiếu, là loại chứng khoán quy địnhnghĩa vụ của tổ chức phát hành phải trả cho chủ sở hữu chứng khoán toàn bộ giátrị cam kết bao gồm cả gốc và lãi sau một thời hạn nhất định
Với các đặc tính trên, chứng khoán được xem là các tài sản tài chính màgiá trị của nó phụ thuộc vào giá trị kinh tế cơ bản của các quyền của chủ sở hữuđối với tổ chức phát hành
Đặc điểm cơ bản nhất của TTCK là thị trường tự do, tự do nhất trong cácloại thị trường Ở TTCK không có sự độc đoán, can thiệp cưỡng ép về giá Giámua bán hoàn toàn do quan hệ cung cầu trên thị trường quyết định
Các giao dịch mua bán, trao đổi chứng khoán có thể diễn ra ở thị trường
sơ cấp hay ở thị trường thứ cấp, tại Sở giao dịch hay tại thị trường giao dịch quaquầy, ở thị trường giao ngay hay ở thị trường kì hạn Các quan hệ mua bán traođổi làm thay đổi chủ sở hữu của chứng khoán, thực chất đây chính là quá trìnhvận động của tư bản, chuyển từ tư bản sở hữu sang tư bản kinh doanh
Quá trình vận động của tư bản được thực hiện xuất phát từ chức năng kinh
tế nòng cốt của thị trường tài chính trong việc dẫn vốn từ những người tạm thời
dư thừa vốn sang những người cần vốn Sự chuyển dịch vốn được thể hiện qua
3 Chính phủ
4 Nước ngoài
Các trung gian tài chính
- Ngân hàng thương mại
- Bảo hiểm, quỹ
- Thị trường
Trang 8Hình 1.1: Các dòng vốn qua hệ thống tài chính
Qua sơ đồ trên ta thấy, sự chuyển dịch vốn được thực hiện qua hai conđường trực tiếp và gián tiếp Những người cần vốn có thể huy động trực tiếp từnhững người tạm dư thừa vốn bằng cách bán các chứng khoán cho họ Hoặc conđường thứ hai để dẫn vốn là thông qua các trung gian tài chính, đây là một bộphận đã chuyển tải một khối lượng đáng kể nguồn tiết kiệm đưa vào đầu tư vàgóp phần tích cực trong việc đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển vốn
Như vậy, thị trường tài chính có vai trò hết sức quan trọng trong việc tích
tụ, tập trung, phân phối vốn một cách hiệu quả trong nền kinh tế Được xem làđặc trưng cơ bản của thị trường vốn, TTCK là thị trường mà giá cả của chứng
Trang 9khoán (hàng hoá trên thị trường) chính là giá cả của vốn đầu tư, vì vậy, TTCKđược coi là hình thức phát triển bậc cao của nền kinh tế thị trường.
b) Chức năng vai trò của TTCK
Xu thế hội nhập và quốc tế hoá nền kinh tế đòi hỏi tự bản thân mỗi quốcgia phải thúc đẩy phát triển kinh tế với tốc độ và hiệu quả cao Một thị trường tàichính năng động có khả năng làm tăng thêm sức mạnh cho nền kinh tế hơn bất
cứ một loại tài nguyên nào, mà trong đó TTCK là một định chế tài chính rất quantrọng Thực tế phát triển kinh tế ở các quốc gia trên thế giới đã khẳng định vaitrò quan trọng của TTCK trong phát triển kinh tế:
Thứ nhất, TTCK cùng với sự vận hành của mình đã tạo ra các công cụ có
tính thanh khoản cao, có thể tích tụ, tập trung và phân phối, chuyển thời hạn củavốn phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế Yếu tố thông tin và yếu tốcạnh tranh trên thị trường sẽ đảm bảo cho việc phân phối vốn một cách có hiệuquả
Thứ hai, TTCK tạo điều kiện cho việc tách biệt giữa sở hữu và quản lý
doanh nghiệp, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn doanh nghiệp Với cơchế thông tin hoàn hảo đã tạo khả năng giám sát chặt chẽ của TTCK đã làm giảmtác động của các tiêu cực trong quản lý, đảm bảo phân bổ lợi ích một cách hàihoà giữa người sở hữu, nhà quản lý và người làm công ăn lương Đồng thời,TTCK đã tạo điều kiện thúc đẩy quá trình cổ phần hoá DNNN
Thứ ba, TTCK góp phần thực hiện tái phân phối công bằng hơn, thông
qua việc buộc các tập đoàn gia đình trị phát hành chứng khoán ra công chúng, từ
đó phân tán quyền lực kinh tế trong tay một số tập đoàn, tránh hiện tượng độcquyền, song vẫn tập trung vốn cho phát triển kinh tế Việc giải toả tập trungquyền lực kinh tế cũng tạo điều kiện cạnh tranh công bằng hơn, qua đó tạo hiệu
Trang 10quả và tăng trưởng kinh tế.
Thứ tư, TTCK tạo cơ hội cho Chính phủ có thể huy động được các nguồn
tài chính để phục vụ cho các mục đích của mình mà không tạo áp lực về lạmphát, hơn nữa, hoạt động của TTCK còn giúp tăng thu ngân sách cho Nhà nước,đồng thời tạo các công cụ cho việc thực hiện chính sách tài chính tiền tệ củaChính phủ
Thứ năm, việc mở cửa TTCK làm tăng tính lỏng và cạnh tranh trên thị
trường quốc tế hay nói khác đi muốn khẳng định đến tính hiệu quả của quốc tếhoá TTCK Điều này cho phép các công ty có thể huy động được một lượng vốnđầu tư lớn ở thị trường ngoài nước, bên cạnh đó mở rộng các cơ hội kinh doanhcho các công ty trong nước, cho phép các công ty có thể huy động nguồn vốnđược rẻ hơn
Thứ sáu, TTCK cung cấp một dự báo tuyệt vời về các chu kỳ kinh doanh
trong tương lai Việc giá chứng khoán lên xuống có xu hướng đi trước chu kỳkinh doanh đã đưa ra một dự báo giúp cho Chính phủ và các công ty có kế hoạchphân bổ các nguồn lực của họ Như vậy, TTCK cũng tạo điều kiện tái cấu trúcnền kinh tế
Ngoài những tác động tích cực trên, hoạt động của TTCK cũng có nhữngtác động tiêu cực nhất định Ta biết rằng, thị trường hoạt động dựa trên cơ sởthông tin hoàn hảo, tuy nhiên ở hầu hết các thị trường không phải nhà đầu tư nàocũng có khả năng tiếp cận thông tin đầy đủ và như nhau, vì vậy việc đưa ra cácquyết định đầu tư không hoàn toàn dựa trên việc xử lý thông tin, dẫn tới việc giá
cả chứng khoán không phản ánh chính xác giá trị công ty và chưa phân bổ mộtcách hiệu quả các nguồn lực Ngoài ra, còn có một số hiện tượng tiêu cực kháctrên TTCK như hiện tượng đầu cơ, mua bán nội gián, xung đột quyền lực gây
Trang 11tâm lý e ngại cho các nhà đầu tư Thực tế này đặt lên vai các nhà quản lý thịtrường phải có những biện pháp hiệu quả để giảm thiểu đến mức tối đa các tiêucực trên thị trường nhằm đảm bảo cho tính hiệu quả của thị trường, đồng thờibảo vệ quyền lợi cho các nhà đầu tư.
1.1.1.2 Đặc điểm giao dịch chứng khoán trên TTCK
TTCK là sản phẩm bậc cao của nền kinh tế thị trường Thị trường này chỉthực sự phát triển khi nền kinh tế thị trường đã phát triển đến một trình độ nhấtđịnh Trên thị trường này người ta tiến hành mua bán những tài sản tài chính -một thứ hàng hóa đặc biệt Hàng hóa này không chỉ đem lại nguồn thu nhậpthường xuyên cho khách hàng mà còn có thể tích lũy giá trị Nó có khả năngchuyển đổi thành tiền mặt cao Các loại hàng hóa trên thị trường rất đa dạng,được sáng tạo để đáp ứng những mục đích của các chủ thể trên thị trường Một
số loại hàng hóa cơ bản có thể kể đến trên TTCK như:
Cổ phiếu là loại chứng khoán vốn được phát hành dưới dạng chứng chỉhoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp đối với tài sảnhoặc vốn của công ty cổ phần Công ty phát hành cổ phiếu khi muốn gọi vốn vàchia sẻ rủi ro Khi bạn mua cổ phiếu tức là bạn đã góp vốn vào công ty, trở thànhngười chủ sở hữu của công ty Với tư cách đó bạn phải cùng công ty chia sẻ rủi
ro cũng như lợi nhuận Bởi cổ phiếu không ấn định một mức cổ tức trả cố định,không chắc chắn nguồn lợi thu được cho khách hàng Khi đầu tư vào cổ phiếutức họ muốn kỳ vọng vào hai nguồn lợi tức tiềm năng: khoản lợi vốn nhờ chênhlệch giá và cổ tức Nguồn lợi tức này có được phụ thuộc vào nhiều yếu tố: tì nhhình hoạt động tài chính của tổ chức phát hành, diễn biến thị trường, tâm lý và
xu hướng của nhà đầu tư, các chính sách xã hội của nhà nước Như vậy TTCK
Trang 12sẽ có sự tác động lớn khi có thông tin nào đó được tung ra.
Ngược lại với cổ phiếu, trái phiếu là loại hàng hóa quy định nghĩa vụ củangười phát hành phải trả cho người đứng tên sở hữu chứng khoán một khoản tiềnnhất định bao gồm cả gốc và lãi trong những khoản thời gian cụ thể Như vậy,người sở hữu trái phiếu có quyền đòi nợ người phát hành ra nó Với trái phiếu ta
có thể dự kiến tương đối chính xác dòng thu nhập, nó là công cụ tương đối antoàn so với cổ phiếu Trái phiếu có thể đem lại cho người đầu tư ba khoản lợi tứctiềm năng: khoản lãi định kỳ, khoản chênh lệch giá khi bán trái phiếu, lãi của lãikhi tái đầu tư Các khoản lợi tức này chịu ảnh hưởng lớn của lãi suất thị trường,thời hạn trái phiếu, cung cầu thị trường, khả năng thanh toán của nhà pháthành Hiện nay, trái phiếu cũng phát triển với nhiều đặc tính mới Trái phiếu cókèm theo những điều kiện cho phép một trong những yếu tố cố định của tráiphiếu bị thay đổi Trái phiếu chuyển đổi sang cổ phiếu hay trái phiếu có thể mualại trước thời hạn khi nhà phát hành có nhu cầu, trái phiếu có lãi suất thả nổi
Ngoài ra, TTCK còn có chứng khoán phái sinh - công cụ tài chính cónguồn gốc từ chứng khoán và có quan hệ chặt chẽ với chứng khoán gốc Loạinày gồm quyền mua trước, chứng khế, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai,quyền chọn, Mỗi loại mang đặc điểm riêng, rất phong phú và đa dạng, pháttriển theo sự phát triển của TTCK Công cụ này ra đời để rào chắn rủi ro chonhững tài sản đang nắm giữ, hoặc để tăng tỷ suất lợi nhuận với một lượng vốn bỏ
ra ban đầu rất thấp hoặc thậm chí không phải bỏ vốn ban đầu
Qua vài nét phác họa trên cũng đã có thể hình dung được phần nào tínhchất phong phú, phức tạp của hàng hóa trên TTCK Hàng hóa nhiều nên việc lựachọn chứng khoán, thời điểm mua, bán, kết hợp chúng thành danh mục để theođuổi chiến lược riêng sẽ rất khó khăn, cần bỏ nhiều thời gian, công sức, cần c ó
Trang 13hiểu biết nghiệp vụ và kinh nghiệp trên thương trường Đấy là chưa kể đến việc
sử dụng các thủ tục giao dịch, theo dõi tài khoản, sử dụng tài khoản, lệnh giaodịch thích hợp cho từng thời điểm, phục vụ cho khách hàng Để đáp ứng được đủyêu cầu đó sẽ có rất ít nhà đầu tư có thể tham gia thị trường Vì vậy, đòi hỏi phải
có hoạt động môi giới chứng khoán để giúp đỡ nhà đầu tư thuận lợi khi tham giagiao dịch, tiết kiệm được thời gian, công sức, tiền bạc, nâng cao hiệu quả đầu tư;góp phần hoàn thiện và phát triển thị trường
Bên cạnh đó, đầu tư chứng khoán với hai đặc trưng cơ bản: Một là, giá trịvốn đầu tư nhỏ và không hạn chế có thể chỉ một vài trăm ngàn, một vài triệuđồng và cũng có thể hàng tỷ, thậm chí hàng chục tỷ Hai là, đầu tư chứng khoán
có tính thanh khoản cao và thực hiện đầu tư rất đơn giản Do đó, số người thamgia TTCK rất đông, mỗi thị trường có hàng triệu người, hàng chục triệu ngườitham gia Với con số hàng chục triệu người tham gia như vậy, trong đó sự hiểubiết về thị trường là rất khách nhau, có những người là những chuyên gia, ngượclại cũng có rất nhiều người sự hiểu biết tối thiểu để lựa chọn chứng khoán vàthời cơ đầu tư cũng không có Giao dịch trên TTCK phải thông qua môi giớitrung gian là nhằm đảm bảo sự công bằng, bình đẳng giữa mọi người, đảm bảolợi thế ngang bằng trong giao dịch
Mặt khác, TTCK là thể chế bậc cao của nền kinh tế thị trường Một trongnhững đặc trưng cơ bản là hoạt động theo nguyên tắc trung gian Theo nguyêntắc này, các giao dịch trên thị trường bắt buộc phải thực hiện qua các CTCK, quamôi giới chứng khoán
Đó chính là tiền đề và điều kiện để hoạt động môi giới chứng khoán rađời Với những lợi thế về nghiệp vụ chuyên môn, về cách thức tiếp cận cácnguồn thông tin người môi giới hoặc công ty môi giới có thể cung cấp cho các
Trang 14nhà đầu tư những thông tin cần thiết, những ý tưởng đầu tư, những lời khuyên vàgiúp cho người đầu tư thực hiện các giao dịch của mình theo cách có lợi nhất.
Lịch sử hình thành và phát triển của TTCK trên thế giới đã cho thấy thờitiền sử của TTCK, các nhà môi giới hoạt động cá nhân độc lập với nhau, ở dạng
sơ khai, họat động tự do Nhưng khi TTCK ngày càng đóng vai trò quan trọng, làkênh huy động vốn trung và dài hạn chủ yếu cho nền kinh tế thì thị trường càngcần phải được tổ chức một cách khoa học, trật tự Muốn vậy, cần tập trung cáclệnh giao dịch vào các đầu mối lớn là công ty môi giới, CTCK với hoạt độngmôi giới
1.1.2 Bản chất và sự cần thiết của hoạt động môi giới chứng khoán
1.1.2.1 Bản chất, các loại dịch vụ môi giới chứng khoán
a) Bản chất hoạt động môi giới chứng khoán
Hoạt động môi giới của công ty chứng khoán được hiểu là” họat độngtrung gian hoặc đại diện mua bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng phíhoặc hoa hồng”
Thông qua hoạt động môi giới, công ty chứng khoán sẽ chuyển đến kháchhàng của mình các sản phẩm, dịch vụ tư vấn và kết nối giữa nhà đầu tư bánchứng
khoán với nhà đầu tư mua chứng khoán Trong nhiều trường hợp, hoạtđộng môi giới sẽ trở thành những người bạn, người chia sẻ những lo âu, căngthẳng và đưa ra những lời động viên kịp thời cho nhà đầu tư, giúp nhà đầu tư cónhững quyết định tỉnh táo Và đôi khi nhân viên môi giới còn là những ngườibạn của khách hàng không chỉ trong đầu tư chứng khoán mà còn trong các lĩnhvực khác nữa
Hoạt động môi giới chứng khoán cũng hàm nghĩa nhiều nghiệp vụ khác
Trang 15nhau Môi giới thông thường là hoạt động mà nhân viên môi giới sẽ thực hiệnlệnh cho khách hàng và chỉ nhận phần phí hay hoa hồng được hưởng.
Nhân viên môi giới còn có hoạt động tạo lập thị trường Đó là việc thựchiện hỗ trợ việc duy trì một thị trường ổn định đối với mỗi loại chứng khoán nhấtđịnh Cụ thể như đối với một loại cổ phiếu khi có độ chênh lệch lớn giữa giámua và giá bán Người mua thì muốn mua chứng khoán với giá thấp hơn nhiều
so với giá mà những người bán chấp nhận Khi đó nhân viên môi giới sẽ chàobán hoặc mua chứng khoán này cho chính bản thân mình với giá ở giữa các mứcgiá trên Bằng cách đó, nhân viên môi giới đã thu hẹp chênh lệch giữa giá mua
và giá bán Hoạt động lúc này của nhân viên môi giới là với tư cách của nhà giaodịch
Ở Việt Nam hoạt động môi giới chứng khoán tại công ty chứng khoán làmột hoạt động khép kín bao gồm các hoạt động sau: tiếp thị, tư vấn đầu tư chứngkhoán, giao dịch chứng khoán, lưu ký chứng khoán, các dịch vụ hỗ trợ và chínhsách khách hàng
Theo thông lệ và trong các quy định chung trên thế giới thì hoạt động tưvấn đầu tư và môi giới là hai họat động kinh doanh tách biệt nhau của công tychứng khoán Tuy nhiên trên thực tế hiện nay, trong hoạt động môi giới luôn cóhoạt động tư vấn Người đầu tư trông đợi người môi giới thực hiện ba công việcsau đây: 1) cho họ biết lúc nào thì mua; 2) cho họ biết lúc nào thì bán; 3) cho họbiết những gì đang diễn biến trên thị trường Nhà đầu tư khi tìm đến các công tychứng khoán nói chung hay các công ty môi giới nói riêng luôn muốn nhận được
từ nhân viên môi giới những lời khuyên, lời tư vấn về mọi vấn đề liên quan đếnhoạt động mua bán đầu tư của họ Có những nhà đầu tư khi tìm đến với nhânviên môi giới chưa hề biết một chút gì về chứng khoán hay họ cũng chưa tạo nênmục tiêu đầu tư cụ thể nào Họ tìm đến là mong muốn được tư vấn, giúp đỡ trong
Trang 16việc đưa ra quyết định Nhân viên môi giới lại là những người đại diện của công
ty để gặp gỡ, trao đổi với khách hàng Có trường hợp nhà đầu tư coi nhân v iênmôi giới như là người đại diện, giống như người chăm sóc riêng về tiền bạc cũnggiống như luật sư hay bác sĩ chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho họ Do đó, môi giới
và tư vấn luôn đi liền với nhau Hoạt động môi giới không thể tách rời với hoạtđộng tư vấn
Nhưng môi giới trong tư vấn và tư vấn tài chính, đầu tư vẫn có nhữngđiểm khác biệt Thứ nhất là về phí Phí tư vấn trong hoạt động môi giới thường
là dịch vụ đi kèm theo chức năng cơ bản của nó Các công ty chứng khoánthường không thu phí này Còn trong họat động tư vấn đầu tư tài chính, các công
ty thường thu phí theo hợp đồng đã ký với khách hàng Thứ hai là trách nhiệm
mà nhân viên môi giới và nhân viên tư vấn phải chịu cũng có sự khác biệt Nhânviên môi giới chỉ chịu trách nhiệm về mặt uy tín Lời khuyên, lời tư vấn dànhcho khách nhưng khách hàng vẫn là người tự quyết định, họ không chịu tráchnhiệm về hậu quả của nguồn thông tin tư vấn đó; không hề theo nguyên tắc hayquy định nào Còn đối với hoạt động tư vấn đầu tư tài chính có sự quy định cụthể rõ ràng trách nhiệm giữa các bên tham gia
b) Các loại dịch vụ môi giới chứng khoán
Người môi giới trên thị trường chứng khoán có hai loại: Nhung ngườitrung gian môi giới mua bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng,
họ là nhân viên của một công ty chứng khoán và một loại là nhà môi giới hoạtđộng độc lập không thuộc một công ty chứng khoán nào Sau đây chúng ta sẽnghiên cứu hai loại môi giới này:
Thứ nhất là môi giới thừa hành hay môi giới giao dịch : Đó là thành viên
Trang 17của một công ty chứng khoán thành viên của một sở giao dịch Họ làm việc vàhưởng lương của CTCK và được bố trí để thực hiện các lệnh mua bán cho cáclệnh mua bán cho các CTCK hay khách hàng của Công ty trên sàn giao dịch Cáclệnh mua bán được chuyển đến cho các nhà môi giới thừa hành và có thể là từvăn phòng Công ty hay cũng có thể từ các môi giới đại diện
Thứ hai là môi giới độc lập hay “môi giới hai đô la"” : Chính là các nhà
môi giới làm việc cho chính họ và hưởng hoa hồng (thù lao) theo dịch vụ Họ làthành viên tự bỏ tiền ra thuê chỗ tại sở giao dịch (sàn giao dịch) giống như cácCTCK thành viên khác của SGDCK Sở dĩ có điều này là vì tại các sơ giao dịchnhộn nhịp, lượng lệnh phải giải quyết cho khách hàng của một CTCK gửi tớinhiều lúc quá tải mà các nhân viên môi giới của Công ty này không thể làm xuể,hoặc vì lý do nào đó vắng mặt Lúc đó CTCK sẽ “hợp đồng” với các nhà môigiới độc lập để thực hiện lệnh cho khách hàng của mình và trả cho loại môi giớinày một khoản tiền nhất định Khởi thuỷ, các nhà môi giới độc lập được trả cứhai đô la cho một lô tròn chứng khoán (100 cổ phiếu) nên người ta gọi quenthành “môi giới hai đô la”
Một công ty chứng khoán có thể hoạt động trong một hay nhiều lĩnh vựcnghiệp vụ như bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư, quản lý quỹ, tựdoanh và môi giới chứng khoán Nhưng có thể nói tất cả các công ty chứngkhoán hoạt động thì không có một công ty nào là không có hoạt động môi giớichứng khoán Có thể kể đến một số loại hình công ty chứng khoán với hoạt độngmôi giới nổi bật sau:
C Công ty môi giới giảm giá
Hoạt động của loại công ty này chủ yếu là giúp khách hàng thực hiện cáclệnh mua, bán chứng khoán Công ty môi giới giảm giá thích hợp cho các nhà
Trang 18đầu tư tự mình đưa ra quyết định mua bán Những nhà đầu tư này chỉ muốn thựchiện các giao dịch trên tất cả hay một phần đầu tư của họ với mức giá tốt nhất cóthể, cùng với khoản hoa hồng chỉ phản ánh chi phí của dịch vụ đó mà thôi Chiphí của công ty này cũng thấp hơn rất nhiều công ty chứng khoán cung cấp dịch
vụ đầy đủ Tuy nhiên, mức giá rẻ hơn cũng cho thấy được một số vấn đề Nếunhà đầu tư có một lỗi nào đó trên tài khoản tại một công ty môi giới giảm giá sẽkhông có một người môi giới cá nhân nào có thể tới để sửa chữa sai lầm cho ông
ta Quan trọng hơn là người môi giới sẽ không cung cấp một lời khuyên nào chonhà đầu tư
Công ty môi giới giảm giá được sử dụng cho ba đối tượng chính sau:
- Các nhà đầu tư dài hạn tiến hành nghiên cứu thị trường
- Các nhà kinh doanh ngắn hạn theo trường phái kỹ thuật Họ thường tựmình vẽ các đồ thị cho các cổ phiếu và tiến hành giao dịch trên cơ sở ngắnhạn
- Những nhà đầu tư chỉ giao dịch một lần
S Công ty môi giới dịch vụ đầy đủ
Ngay theo tên gọi, loại công ty này cung cấp một dải dịch vụ hoàn hảo, từviệc đưa ra những kết quả nghiên cứu, phân tích, cho lời khuyên, đến việc theodõi tài khoản và kịp thời đưa ra những khuyến nghị cần thiết cho khách hàng Vìthế, loại công ty này như một siêu thị tài chính Người môi giới đầy đủ sẵn sàng
mọi câu hỏi của khách hàng và giúp khách hàng giải quyết các vấn đề phát sinh
Công ty môi giới dịch vụ đầy đủ ra đời và phát triển tại thị trường chứngkhoán lâu đời; nó đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng Công ty cung ứng dịch
vụ đa dạng và thay đổi tùy theo sự phát triển của thị trường
Người đầu tư sử dụng người môi giới dịch vụ đầy đủ là:
Trang 19chuyên nghiệp hướng dẫn những quyết định mua bán của họ.
- Những người đánh giá cao sự quan tâm cá nhân của một người môigiới dịch vụ đầy đủ, muốn có một người môi giới luôn để mắt tới tài khoản củamình, gọi điện tới khi cần thiết và quan tâm đến những vấn đề của họ
1.1.2.2 Sự cần thiết của dịch vụ môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán không chỉ là kết quả của quá trình phát triển củanền kinh tế thị trường mà đồng thời nó còn có vai trò ngược lại là thúc đẩy sựphát triển của nền kinh tế và cải thiện môi trường kinh doanh Cụ thể hoạt độngmôi giới có vai trò:
- Giảm chi phí giao dịch:
Cũng như trên tất cả các thị trường khác, người mua và người bán muốngiao dịch cần phải có cơ hội để gặp gỡ được nhau, thẩm định mức độ phát triểnhàng hóa và thỏa thuận giá cả Tuy nhiên, đối với TTCK mà thẩm định được giá
cả và mức độ phát triển hàng hóa cần khoản chi phí khổng lồ để thu thập và xử
lý thông tin, đào tạo kỹ năng phân tích và tiến hành quy trình giao dịch trên một
hệ thống thị trường đấu giá tập trung Những chi phí này chỉ có các CTCK hoạtđộng chuyên nghiệp trên quy mô lớn mới có khả năng trang trải được Mặt khác,
là một trung gian tài chính làm cầu nối cho các bên mua bán gặp nhau sẽ làmgiảm đáng kể chi phí tìm kiếm đối tác, chi phí soạn thảo và giám sát thực thi hợpđồng Hoạt động môi giới đã tiết kiệm chi phí giao dịch xét trong từng giao dịch
cụ thể cũng như trên toàn thị trường, từ đó nâng cao tính thanh khoản của thịtrường
- Phát triển sản phẩm và dịch vụ trên thị trường
CTCK khi thực hiện vai trò làm trung gian giữa người bán và người mua cóthể nắm bắt được nhu cầu của khách hàng và phản ánh với người cung ứng hànghóa và dịch vụ Hoạt động môi giới chính là một trong những nguồn cung cấp
Trang 20những ý tưởng thiết kế sản phẩm và dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng Kếtquả của quá trình đó là cải thiện được tính đa dạng của sản phẩm và dịch vụ, nhờ
đó đa dạng hóa được cơ cấu khách hàng, thu hút được ngày càng nhiều nguồnnhàn rỗi trong xã hội cho đầu tư tăng trưởng
Sản phẩm mà hoạt động môi giới cung cấp không chỉ những hàng hóa đơn
lẻ như cổ phiếu, trái phiếu, hay bất kỳ một công cụ tài chính nào khác, mà còntrong cả những ý tưởng về danh mục đầu tư, về sự phối hợp các sản phẩm nhằmvào những lợi ích nhất định Cũng nhờ vào hoạt động tiếp thị tới khách hàng vàmang đến cho khách hàng những gì họ cần, các CTCK đã làm đa dạng sản phẩm
và dịch vụ của thị trường
- Góp phần hình thành nền văn hóa đầu tư:
Hoạt động môi giới khi đã thâm nhập sâu rộng vào cộng đồng các doanhnghiệp và người đầu tư sẽ là một yếu tố quan trọng góp phần hình thành nên cáigọi là nền văn hóa đầu tư Người môi giới tiếp cận tới khách hàng tiềm năng, họmang theo những sản phẩm tài chính phù hợp với nhu cầu của khách hàng,thường xuyên quan tâm chăm sóc khách hàng theo cách có lợi nhất cho kháchhàng Hoạt động này lâu dần hình thành nên thói quen đầu tư vào tài sản tàichính Thay vì sử dụng tiền dư thừa một cách lãng phí, người có tiền sẽ ưu tiênđầu tư vào tài sản tài chính Theo thời gian, người đầu tư sẽ dần dần hình thànhđược sự tin cậy và ủy thác cho người môi giới chứng khoán Người đầu tư ý thứcđược những lợi ích mà dịch vụ này mang lại và lựa chọn việc trả tiền để đượchưởng những lợi ích đó; hình thành nên thói quen và kỹ năng sử dụng cácdịch vụ đầu tư tài chính mà phổ biến là dịch vụ môi giới chứng khoán
Cũng chính hoạt động của các CTCK và người môi giới chứng khoán làmột yếu tố góp phần hoàn thiện môi trường pháp lý cho kinh doanh chứng
Trang 21khoán Hoạt động môi giới sẽ đưa pháp luật đến với người đầu tư, giúp cho họluôn có ý thức tìm hiểu và tuân thủ pháp luật trong quá trình theo đuổi lợi ích củamình; đồng thời cũng phản ánh những bất cập trong điều chỉnh của khuôn khổpháp lý tới các nhà làm luật để kịp thời chỉnh sửa.
- Tăng mức độ phát triển và hiệu quả của dịch vụ nhờ cạnh tranh
Để thành công trong hoạt động môi giới thì điều quan trọng là cần thu hútđược nhiều khách hàng tìm đến, giữ chân được khách hàng đã có, ngày càng giatăng được khối lượng tài sản mà khách hàng ủy thác cho họ quản lý Điều đó đãkhiến cho người môi giới luôn trau dồi đạo đức nghề nghiệp, nâng cao đạo đức
và kỹ năng hành nghề, để tạo sự khác biệt, nâng cao mức độ phát triển và hiệuquả của hoạt động môi giới chứng khoán
- Hình thành những dịch vụ mới trong nền kinh tế, tạo thêm việc làm và làmphong phú thêm cho môi trường đầu tư
Với phương thức hoạt động là chủ động tìm đến khách hàng, đặc biệt là nhữngkhách hàng cá nhân, và đem đến cho họ những dịch vụ tài chính tốt nhất, nênCTCK nào cũng có những lực lượng nhân viên môi giới đông hơn hẳn so với cáchoạt động nghiệp vụ khác Có thể nói, phát triển hoạt động môi giới chứngkhoán là tạo ra được một lĩnh vực thu hút nhiều lao động có kỹ năng, làm phongphú thêm môi trường kinh doanh
1.2 PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ MÔI GIỚI CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.2.1 Nội dung dịch vụ môi giới của CTCK
Hoạt động môi giới của CTCK được hiểu là hoạt động trung gian hoặc đạidiện mua bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng phí hoặc hoa hồng”
Trang 22Thông qua hoạt động môi giới, CTCK sẽ chuyển đến khách hàng củamình các sản phẩm, dịch vụ tư vấn và kết nối giữa nhà đầu tư bán chứng khoánvới nhà đầu tư mua chứng khoán Trong nhiều trường hợp, hoạt động môi giới sẽtrở thành những người bạn, người chia sẻ những lo âu, căng thẳng và đưa ranhững lời động viên kịp thời cho nhà đầu tư, giúp nhà đầu tư có những quyếtđịnh tỉnh táo Và đôi khi nhân viên môi giới còn là những người bạn của kháchhàng không chỉ trong đầu tư chứng khoán mà còn trong các lĩnh vực khác nữa.
Hoạt động môi giới chứng khoán cũng hàm nghĩa nhiều nghiệp vụ khácnhau Môi giới thông thường là hoạt động mà nhân viên môi giới sẽ thực hiệnlệnh cho khách hàng và chỉ nhận phần phí hay hoa hồng được hưởng
Nhân viên môi giới còn có hoạt động tạo lập thị trường Đó là việc thựchiện hỗ trợ việc duy trì một thị trường ổn định đối với mỗi loại chứng khoán nhấtđịnh Cụ thể như đối với một loại cổ phiếu khi có độ chênh lệch lớn giữa giámua và giá bán Người mua thì muốn mua chứng khoán với giá thấp hơn nhiều
so với giá mà những người bán chấp nhận Khi đó nhân viên môi giới sẽ chàobán hoặc mua chứng khoán này cho chính bản thân mình với giá ở giữa các mứcgiá trên Bằng cách đó, nhân viên môi giới đã thu hẹp chênh lệch giữa giá mua
và giá bán Hoạt động lúc này của nhân viên môi giới là với tư cách của nhà giaodịch
Ở Việt Nam hoạt động môi giới chứng khoán tại CTCK là một hoạt độngkhép kín bao gồm các hoạt động sau: tiếp thị, tư vấn đầu tư chứng khoán, giaodịch chứng khoán, lưu ký chứng khoán, các dịch vụ hỗ trợ và chính sách kháchhàng
Theo thông lệ và trong các quy định chung trên thế giới thì hoạt động tưvấn đầu tư và môi giới là hai họat động kinh doanh tách biệt nhau của CTCK.Tuy nhiên trên thực tế hiện nay, trong hoạt động môi giới luôn có hoạt động tư
Trang 23cho họ biết lúc nào thì mua; 2) cho họ biết lúc nào thì bán; 3) cho họ biết những
gì đang diễn biến trên thị trường Nhà đầu tư khi tìm đến các CTCK nói chunghay các theo chức năng cơ bản của nó Các CTCK thường không thu phí này.Còn trong họat động tư vấn đầu tư tài chính, các công ty thường thu phí theo hợpđồng đã ký với khách hàng Thứ hai là trách nhiệm mà nhân viên môi giới vànhân viên tư vấn phải chịu cũng có sự khác biệt Nhân viên môi giới chỉ chịutrách nhiệm về mặt uy tín Lời khuyên, lời tư vấn dành cho khách nhưng kháchhàng vẫn là người tự quyết định, họ không chịu trách nhiệm về hậu quả củanguồn thông tin tư vấn đó; không hề theo nguyên tắc hay quy định nào Còn đốivới hoạt động tư vấn đầu tư tài chính có sự quy định cụ thể rõ ràng tráchnhiệm giữa các bên tham gia
1.2.2 Quan điểm về phát triển dịch vụ môi giới chứng khoán của CTCK
Hoạt động môi giới chứng khoán đã ra đời từ rất sớm, song song với sự
ra đời của TTCK Ở mỗi thị trường, hoạt động môi giới chứng khoán phát triểnvới một mức độ nhất định Hoạt động này ra đời và phát triển xuất phát từ đòihỏi khách quan của thị trường, và nó có vai trò quan trọng đối với sự phát triểncủa thị trường Vì vậy có thể hiểu mức độ phát triển hoạt động môi giới chứngkhoán thể hiện ở những lợi ích mà nó mang lại cho các chủ thể tham gia thịtrường chứng khoán nói riêng và cho nền kinh tế nói chung
Xét về giác độ của một công ty chứng khoán
Hoạt động môi giới chứng khoán đạt mức độ phát triển tốt khi:
- Làm tăng vị thế và uy tín của công ty đồng thời mở rộng quan hệ với kháchhàng trong và ngoài nước
Trang 24Muốn đạt được điều đó, CTCK phải cung cấp các dịch vụ môi giới nhằmthoả mãn nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất, có sức cạnh tranh song vẫnđảm bảo tính an toàn và sinh lợi đồng thời vẫn tuân thủ đúng pháp luật và cácquy định về chứng khoán và thị trường chứng khoán.
Xét về giác độ khách hàng
Hoạt động môi giới được đánh giá là có mức độ phát triển cao khi:
- Thông qua các dịch vụ môi giới mà khách hàng có được cơ hội đầu tư,kiếm
thêm được nhiều lợi nhuận
Xét về giác độ nhân viên môi giới
- Nhân viên môi giới được nhận thù lao một cách thoả đáng và được hưởngnhững chế độ đãi ngộ thích hợp
- Nhân viên môi giới được đánh giá là có kinh nghiệm, có kiến thức, có đạođức nghề nghiệp, nhiệt tình và làm việc vì lợi ích của khách hàng
Tóm lại: Hoạt động môi giới có mức độ phát triển khi nó đem lại mức lợinhuận lớn và uy tín cho CTCK, đem lại cơ hội kinh doanh, thu lợi và đảm bảo antoàn về tài chính cho khách hàng, từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển và hộinhập quốc tế Điều này cho thấy mức độ phát triển hoạt động môi giới được tổnghoà từ rất nhiều yếu tố Vì vậy nó là một chỉ tiêu cần phải được đánh giá trênnhiều giác độ.công ty môi giới nói riêng luôn muốn nhận được từ nhân viên môigiới những lời khuyên, lời tư vấn về mọi vấn đề liên quan đến hoạt động mua
Trang 25hề biết một chút gì về chứng khoán hay họ cũng chưa tạo nên mục tiêu đầu tư cụthể nào Họ tìm đến là mong muốn được tư vấn, giúp đỡ trong việc đưa ra quyếtđịnh Nhân viên môi giới lại là những người đại diện của công ty để gặp gỡ, traođổi với khách hàng Có trường hợp nhà đầu tư coi nhân viên môi giới như làngười đại diện, giống như người chăm sóc riêng về tiền bạc cũng giống như luật
sư hay bác sĩ chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho họ Do đó, môi giới và tư vấn luôn
đi liền với nhau Hoạt động môi giới không thể tách rời với hoạt động tư vấn
Nhưng môi giới trong tư vấn và tư vấn tài chính, đầu tư vẫn có nhữngđiểm khác biệt Thứ nhất là về phí Phí tư vấn trong hoạt động môi giới thường
là dịch vụ đi kèm
1.2.3 Chỉ tiêu đo lường mức độ phát triển dịch vụ môi giới của CTCK
Đối với CTCK việc đánh giá mức độ phát triển hoạt động môi giới chính
là để nhằm phát triển nó Vì vậy công ty không thể chỉ đánh giá những lợi íchhiện tại mà hoạt động môi giới đem lại mà còn đánh giá tiềm năng phát triển của
nó trong tương lai Điều đó có nghĩa là công ty phải quan tâm đến khả năng làmthoả mãn lợi ích cho khách hàng của hoạt động này cũng như vai trò của nó đốivới nền kinh tế Do đó hệ thống các chỉ tiêu được đánh giá mức độ phát triểnhoạt động môi giới bao gồm không những các chỉ tiêu xét trên lợi ích mà công tyđạt được từ hoạt động môi giới mà còn bao gồm cả những chỉ tiêu phản ánh lợiích mà hoạt động môi giới chứng khoán đã đem lại cho khách hàng và cho nềnkinh tế
Thực tế hiện nay, tại Việt Nam chưa có một hệ thống các chỉ tiêu thốngnhất nào phản ánh hoàn toàn chính xác mức độ phát triển hoạt động môi giớichứng khoán Tuy nhiên theo em mức độ phát triển hoạt động môi giới chứngkhoán có thể được đánh giá bằng cách xem xét một số chỉ tiêu sau:
Trang 26Chỉ tiêu định tính: được thể hiện ở khả năng hoạt động, tính chuyên
nghiệp của sản phẩm dịch vụ, mức độ tác động của hoạt động môi giới chứngkhoán tới các hoạt động khác
- Khả năng hoạt động: Khả năng hoạt động của hoạt động môi giới thể hiệnở
chỗ: Hoạt động môi giới của CTCK có thể cung cấp và làm thoả mãnnhững
đối tượng khách hàng nào, quy mô khách hàng, tính chuyên nghiệp củanhân
viên môi giới, quy mô và không gian của sàn giao dịch, cơ sở vật chất kỹthuật và công nghệ phần mềm mà công ty đang sử dụng
- Tính chuyên nghiệp của sản phẩm dịch vụ: CTCK thực hiện việc cung cấpnhững sản phẩm trọn gói: từ việc đưa ra những kết quả nghiên cứu, phântích
cho lời khuyên, đến việc theo dõi tài khoản và kịp thời đưa ra nhữngkhuyến
nghị cần thiết cho khách hàng (Đây gọi là công ty môi giới dịch vụ đầyđủ)
Hay công ty chủ yếu là giúp khách hàng thực hiện các lệnh mua, bánchứng
khoán và thu về một khoản hoa hồng nhỏ mà nó chỉ phản ánh chi phí choviệc thực hiện giao dịch
- Mức độ tác động của hoạt động môi giới tới các hoạt động khác: Khi hoạtđộng môi giới hoạt động với mức độ phát triển tốt sẽ kéo theo các hoạtđộng
khác như hoạt động phân tích chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán,
Trang 27mô hoạt động môi giới tăng lên, lượng tài khoản mở tăng thể hiện khách hàngcủa công ty ngày càng nhiều từ đó đưa về doanh số giao dịch ngày càng tăngcho công ty.
- Doanh số từ hoạt động môi giới', là tổng giá trị giao dịch khớp lệnh tại một
công ty chứng khoán
Doanh số từ hoạt động môi giới nếu tăng lên qua các năm thể hiện quy
mô hoạt động môi giới tăng lên, điều đó cho thấy hoạt động môi giới đangtrong giai đoạn phát triển và đang được mở rộng, cũng có nghĩa là góp phầnnâng cao mức độ phát triển hoạt động môi giới Tuy nhiên cần phải kết hợpphân tích các chỉ tiêu khác để đảm bảo việc ra quyết định chính xác
- Doanh thu từ hoạt động môi giới là tổng giá trị mà công ty thu được từ phí
môi giới mà khách hàng trả khi sử dụng các sản phẩm dịch vụ của hoạtđộng
môi giới của công ty
Doanh thu từ hoạt động môi giới được phân tích ngoài số tuyệt đối cònphải được xem xét trong mối tương quan với doanh thu từ các hoạt động kháccủa ngân hàng, tức là tỷ trọng doanh thu từ hoạt động môi giới trong tổngdoanh thu của công ty Chỉ tiêu này cho biết khả năng sinh lời và vị trí củahoạt động môi giới trong CTCK Chỉ tiêu này được tính như sau:
- Chỉ tiêu chi phí từ hoạt động môi giới
Đây là chỉ tiêu phản ánh các khoản tiền mà CTCK đã bỏ ra để thực hiệnviệc cung cấp các sản phẩm dịch vụ môi giới nhằm thoả mãn nhu cầu của khách
Trang 28hàng Chi phí cho hoạt động môi giới không những phản ánh số tiền mà Công ty
đã chi trả trong hoạt động môi giới mà còn cho thấy mức độ hiệu quả của hoạtđộng môi giới Nếu chi phí cho hoạt động này mà lớn thì hoạt động môi giới làkhông hiệu quả
- Lãi thu được từ hoạt động môi giới
Đây cũng là một chỉ tiêu hết sức quan trọng cho biết khả năng sinh lời củahoạt động môi giới Lãi từ hoạt động môi giới là phần chênh lệch giữa doanh thu
và chi phí đã bỏ ra trong hoạt động môi giới để đạt được doanh thu đó Côngthức như sau:
Lãi từ hoạt động môi giới = Doanh thu từ hoạt động môi giới - Chi phí từhoạt động môi giới
- Tài sản đảm bảo
Là số dư tiền và số dư chứng khoản phù hợp với yêu cầu về giao dịch đảmbảo cũng như yêu cầu về an toàn cho CTCK và không gây thiệt hại quá lớn chokhách hàng Điều đó sẽ giúp tăng độ an toàn cho khách hàng và không làm giảmtính cạnh tranh, hấp dẫn của dịch vụ môi giới của CTCK
- Biểu phí môi giới cạnh tranh
Để bắt đầu tìm đến CTCK nào để giao dịch, phí môi giới là một trongnhững yếu tố đầu tiên mà khách hàng xem xét Một biểu phí cao hơn tương đối
so với các CTCK khác sẽ làm giảm đáng kể tính cạnh tranh của nghiệp vụ môigiới chứng khoán và điều đó làm giảm lãi thu được từ hoạt động môi giới củaCTCK
Trang 291.3 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Sự PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ MÔI
GIỚI CHỨNG KHOÁN
Môi giới chứng khoán là một hoạt động của CTCK nên nó hoạt động trongmối quan hệ với các hoạt động khác và các chủ thể khác nhau trên thị trường Dovậy mức độ phát triển của hoạt động môi giới chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố,bao gồm các nhân tố chủ quan và khách quan
1.3.1. Các nhân tố chủ quan
Nhân tố chủ quan là nhân tố mang tính nội tại từ bản chất của hoạt độngmôi giới, đây là nhân tố chính có ảnh hưởng lớn tới mức độ phát triển hoạt độngmôi giới nói riêng và hiệu quả hoạt động của CTCK nói chung Nhân tố này baogồm các yếu tố sau:
Uy tín và quy mô hoạt động của công ty: Đây là yếu tố có ảnh hưởng
không nhỏ tới mức độ phát triển hoạt động môi giới Uy tín công ty là tài sản vôhình, là yếu tố mang tính cạnh tranh giữa các công ty với nhau Nhất là đối vớinhững nhà đầu tư mới tham gia thị trường bao giờ họ cũng tìm cho mình công ty
có uy tín để được tư vấn cho các quyết định đầu tư của mình sao cho an toàn vàhiệu quả nhất Mặc dù các nhà đầu tư luôn có mâu thuẫn giữa chi phí với độ antoàn và lợi nhuận Nhưng nếu CTCK nào giúp nhà đầu tư kiếm được nhiều lợinhuận hơn thì họ sẽ chấp nhận với tiền phí môi giới cao
Quy mô của công ty phụ thuộc vào quy mô về vốn và bề dày hoạt độngcủa nó
Đối với một số công ty thì bề dày hoạt động và quy mô lớn đã tạo ra được
uy tín cho công ty
Chiến lược kinh doanh của công ty: Chiến lược kinh doanh của công ty là
những kế hoạch dài hạn mà công ty đề ra nhằm thực hiện những mục tiêu mà
Trang 30công ty đang hướng tới Những mục tiêu đó có sát với khả năng thực tế của công
ty hay không, kế hoạch đề ra có đúng hướng hay không, có phù hợp với hoàncảnh hay không, Hoạt động môi giới là một trong số các hoạt động của công
ty nên nó cũng hướng tới mục đích chung của công ty Nếu trong chiến lượcchung đó, công ty không chú trọng đến hoạt động môi giới hoặc chưa đặt hoạtđộng môi giới trong mối quan hệ với các hoạt động khác thì mức độ phát triểnhoạt động môi giới của công ty sẽ không cao Đồng thời cách thức thực hiện cácchiến lược khác nhau hay con đường để đạt được mục tiêu là khác nhau thì kếtquả cũng khác nhau
Mô hình tổ chức và cách thức quản lý: Việc công ty hoạt động theo một
mô hình nào có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của công ty Công ty tổ chứctheo mô hình công ty TNHH hay công ty cổ phần, mô hình nào thì phù hợp.Điều đó phụ thuộc vào khả năng huy động vốn và hình thức sở hữu của công ty
đó Từ đó cách thức tổ chức hoạt động và quản lý các phòng ban là khác nhau
Mô hình tổ chức phải phù hợp với các hoạt động khác của công ty Nó phải thoảmãn tính đơn giản, gọn nhẹ nhưng hoạt động hiệu quả Việc tách bạch các phòngban chức năng vừa tạo ra tính độc lập tương đối giữa các phòng ban với nhau,vừa tạo ra tính tự chủ trong các phòng ban, đồng thời tạo ra tính chuyên môn hoátrong hoạt động tại công ty
Hệ thống thông tin và việc phân tích: Hệ thống thông tin là toàn bộ những
dữ liệu thông tin mà công ty thu thập đươc từ nhiều nguồn khác nhau Hệ thốngthông tin này sau khi đã được phân tích rất có ý nghĩa trong việc tư vấn môi giớicho khách hàng Nếu những thông tin này chính xác, hợp pháp, cập nhật sẽ giúpcho nhà môi giới tư vấn cho khách hàng tốt hơn, mang lại lợi ích cho kháchhàng, làm cho khách hàng tin tưởng vào người môi giới của công ty mình hơn
Trang 31Do đó bộ phận thông tin và phân tích hoạt động tốt tạo điều kiện cho hoạt độngmôi giới tốt hơn Để hệ thống thông tin hoạt động hiệu quả thì nó đòi hỏi tất cảcác thành phần của hệ thống đều phải làm việc có hiệu quả từ khâu thu thậpthông tin và xử lý thông tin đó Nhưng thành phần quan trọng nhất của hệ thốngthông tin là bộ xử lý thông tin Bộ phận này bao gồm yếu tố con người và trangthiết bị máy móc hiện đại phục vụ cho việc thu thập xử lý thông tin thì nhữngthông tin đầu cuối mà công ty nhận được sẽ đảm bảo có mức độ phát triển cao.
Cơ sở vật chất kỹ thuật' Nếu CTCK trang bị máy móc hiện đại, công nghệ
tiên tiến thì không những bộ phận phân tích xử lý thông tin một cách nhanh nhất
và hiệu quả mà quá trình xử lý lệnh của khách hàng dễ dàng, nhanh chóng vàchính xác hơn
Các sản phẩm dịch vụ môi giới cung cấp cho khách hàng nếu các sản
phẩm môi giới mà thoả mãn được nhu cầu của khách hàng thì khách hàng sẽtrung thành với công ty đồng thời thu hút thêm được nhiều khách hàng mới đếnvới công ty
Nhân tố con người: Nhà môi giới là yếu tố trung tâm của dịch vụ môi giới
của CTCK chuyên thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán Doanh thu, hiệuquả đầu tư của nhà đầu tư phần lớn là nhờ vào tài năng của nhà môi giới chứngkhoán Sự thành công của nhà môi giới góp phần đáng kể trên thị trường cạnhtranh Tuy nhiên không phải nhà môi giới nào cũng đạt được kết quả cao trongnghề của mình Nhân tố ảnh hưởng lớn tới hiệu quả hoạt động của nhà môi giới,bao gồm:
- Thái độ với khách hàng và công việc: Nhà môi giới luôn có thái độ niềm
nở, sẵn sàng giúp đỡ khách hàng sẽ tạo ra được sự tin tưởng nơi kháchhàng Từ đó nhà môi giới có thể gia tăng được số lượng khách hàng
Trang 32- Những tri thức nhà nghề: Môi giới bản chất là bán hàng tư vấn Tri thức
nhà nghề là yếu tố quan trọng trong bán hàng tư vấn Trong hoạt độngmôi
giới thì đòi hỏi này càng cao Người môi giới không những phải hiểunhiều
về lĩnh vực mà mình đang làm mà còn phải có tri thức rộng về tất cả cáclĩnh vực khác để khi có một sự biến động nhỏ nào trên thị trường.thì họ
có thể thu thập, xử lý thông tin một cách nhanh nhất để cung cấp chokhách
hàng trong việc gia tăng cơ hội kiếm lời hoặc hạn chế rủi ro có thể xảyra
Ngoài ra tâm lý của khách hàng luôn muốn tiếp xúc với người hiểu biếtnhiều, có thể nói chuyện về các chủ đề họ muốn chia sẻ
- Năng lực thái độ truyền đạt: Trong hoạt động môi giới, môi giới không
Trang 33Khi đó khách hàng sẽ tìm đến với công ty nhiều hơn và công ty sẽ thu đượcnhiều tiền hoa hồng hơn.
1.3.2. Các nhân tố khách quan
Nhân tố khách quan là những nhân tố từ bên ngoài tác động đến tất cả mọiCTCK và mọi hoạt động trên thị trường Nhân tố này bao gồm những yếu tố sau:
Sự phát triển của nền kinh tế và sự ổn định về chính trị: nền kinh tế phát
triển là yếu tố thúc đẩy TTCK phát triển kéo theo hoạt động môi giới phát triển
và ngược lại Mặt khác nền chính trị ổn định là một điều kiện thuận lợi để thu hútcác nhà đầu tư tham gia vào thị trường
Môi trường pháp lý: cở sở pháp lý về đầu tư, về chứng khoán và TTCK
hoàn thiện và có hiệu lực cao là một nhân tố quan trọng trong việc giám sát cáchoạt động môi giới và xử lý các tranh chấp có thể xảy ra trong lĩnh vực hoạtđộng môi giới có liên quan trực tiếp đến lợi ích kinh tế của từng chủ thể thamgia
Yếu tố chính sách: Chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách thuế thu
nhập mà chính phủ đưa ra đều có thể tạo điều kiện thuận lợi hay hạn chế hoạtđộng của các chủ thể tham gia trên TTCK Đặc biệt trong giai đoạn thị trườngmới hình thành những chính sách này cực kỳ quan trọng
Sự phát triển của thị trường chứng khoán: TTCK là môi trường hoạt động
của CTCK TTCK phát triển sẽ thúc đẩy các hoạt động khác phát triển và ngượclại Hoạt động môi giới cũng nằm trong mối quan hệ đó
Hiệp hội kinh doanh chứng khoán: Là một tổ chức có chức năng làm cầu
nối giữa nhà kinh doanh chứng khoán và các cơ quan quản lý nhà nước; là tiếngnói chung của các nhà kinh doanh chứng khoán với công chúng đầu tư cũng như
cơ quan quản lý nhà nước Ngoài ra, hiệp hội còn có vai trò trong việc đưa ra
Trang 34những ý kiến đóng góp cho việc ban hành những cơ chế chính sách của cơ quanquản lý nhà nước đối với các công ty kinh doanh chứng khoán Vì vậy, các ýkiến cũng như chính sách hoạt động của hiệp hội đúng đắn và hợp lý sẽ tạo điềukiện thuận lợi cho mọi hoạt động của công ty chứng khoán nói chung và hoạtđộng môi giới nói riêng và ngược lại.
Thị trường cạnh tranh: Các CTCK luôn nằm trong mối quan hệ cạnh
tranh với các CTCK khác Để tồn tại và phát triển mỗi CTCK sẽ đưa ra nhữngloại hình dịch vụ riêng nhằm thu hút khách hàng đến với công ty Điều đó tácđộng trực tiếp tới mức độ phát triển dịch vụ, doanh thu, chi phí và lợi nhuận củacông ty
Tập quán văn hoá truyền thống: đối với một nước có trình độ dân trí cao,
họ hiểu biết về TTCK thì việc tiếp cận và tham gia của họ vào thị trường bậc caonày sẽ rất thuận lợi cho các phía, tạo ra một nền văn hoá trong đầu tư Nếu dânchúng có kiến thức về chứng khoán thì họ có cái nhìn mới hơn về TTCK, hoạtđộng môi giới và vai trò của nhà môi giới chứng khoán Qua đó cũng đòi hỏi nhàmôi giới về chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm nghề nghiệp của mình
Mức thu nhập và tiết kiệm của dân cư: đây là yếu tố không thể thiếu khi
xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ phát triển hoạt động môi giới củaCTCK Mức thu nhập và tỷ lệ tiết kiệm cao, tức là nhà đầu tư có khả năng tàichính tham gia tích cực trên thị trường, có khả năng mua các dịch vụ mà cácCTCK chuyên nghiệp thực hiện nghiệp vụ môi giới cung cấp
Tóm lại có rất nhiều yếu tố tác động tới mức độ phát triển hoạt động môigiới Do vậy các CTCK cần phải xem xét một cách tổng thể các nhân tố đó đểchủ động trong công tác quản lý, tạo điều kiện nâng cao mức độ phát triển hoạtđộng môi giới một cách thuận lợi
Trang 35Kết luân chương 1
Như vậy, chương 1 đã tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận chung
về CTCK: khái niệm, đặc điểm, mô hình, cơ cấu tổ chức cũng như nguyên tắchoạt động, vai trò Trên cơ sở đó đi sâu nghiên cứu về hoạt động môi giới củaCTCK Hoạt động môi giới chứng khoán là gì, có đặc điểm gì nổi bật so với cáchoạt động nghiệp vụ khác Các nghiên cứu cũng cho thấy, môi giới chứng khoán
là hoạt động chứa đựng nhiều nguyên tắc phức tạp đòi hỏi yêu cầu về quy trìnhnghiệp vụ, kỹ năng hành nghề của nhân viên cao
Hoạt động môi giới cũng chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, từ nhữngnhân tố thuộc về chính bản thân công ty như vốn, yếu tố con người, nhận thứccủa lãnh đạo công ty, chiến lược và chính sách phát triển đến những nhân tốkhách quan bên ngoài như sự phát triển của thị trường, hệ thống pháp luật, áp lựccạnh tranh.Các nhân tố có ảnh hưởng khác nhau đến hoạt động môi giới củamỗi CTCK
Từ nghiên cứu lý luận chung của chương 1, chương 2 sẽ đi sâu nghiêncứu, phân tích cụ thể về hoạt động môi giới của Công ty Cổ phần Chứng khoánKenanga Việt Nam
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIEN DỊCH VỤ MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN KENANGA
VIỆT NAM2.1 TỔNG QUAN Sự PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN TRÊN TTCK VIỆT NAM THỜI GIAN QUA
2.1.1. Tổng quan thị trường chứng khoán Việt Nam
Thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCKVN) chính thức đi vào hoạtđộng vào năm 2000 với việc vận hành sàn giao dịch chứng khoán (SGDCK)TP.HCM vào ngày 20/7/2000 và SGDCK Hà Nội vào ngày 8/3/2005 (trước đócác SGDCK hoạt động với mô hình là các Trung tâm Giao dịch chứng khoán và
tổ chức dưới hình thức đơn vị sự nghiệp có thu thuộc Ủy ban Chứng khoán Nhànước) Đến nay, sau hơn 10 năm đi vào hoạt động đã có những bước phát triểnvượt bậc và đạt được những kết quả đáng chú ý
về khung pháp lý, thể chế chính sách
Kể từ khi Luật Chứng khoán được Quốc hội ban hành ngày 29/6/2006 và
có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2007, đã tạo lập được khuôn khổ pháp lýcao, đồng bộ và thống nhất cho hoạt động của TTCK, từng bước loại bỏ nhữngmâu thuẫn, xung đột với các văn bản pháp luật khác có liên quan (về cơ bảnthống nhất với Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư); phù hợp hơn với luật pháp,thông lệ quốc tế, tạo nền tảng cho TTCKVN khả năng hội nhập với các thịtrường vốn quốc tế và khu vực; tăng cường tính công khai minh bạch cho thị
Trang 37trường và nâng cao khả năng quản lý giám sát thị trường của cơ quan quản lýnhà nước.
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đã đạt được thì Luật Chứng khoán vẫn cònhẹp về phạm vi điều chỉnh, mới chỉ bao hàm những nội dung cơ bản và chưa baoquát mọi hoạt động trên TTCK theo thông lệ quốc tế; một số quy định của vănbản hướng dẫn Luật Chứng khoán còn chồng chéo, chưa thống nhất với các vănbản pháp luật khác; việc ban hành các quy định pháp lý nhìn chung đều có độ trễ
so với mục tiêu đề ra, đồng thời, nhiều quy định tại Luật Chứng khoán chưađược hướng dẫn thực hiện,
về quy mô và hàng hóa (nguồn cung) của thị trường
Quy mô thị trường có bước tăng trưởng mạnh mẽ, vững chắc, từng bướcđóng vai trò là kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng, đóng góp tích cực cho
sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Trong suốt thời kỳ từ
2000-2005, vốn hóa thị trường chỉ đạt trên dưới 1% GDP Quy mô thị trường đã cóbước nhảy vọt mạnh mẽ lên 22,7% GDP vào năm 2006 và tiếp tục tăng lên mứctrên 43% vào năm 2007 Trước biến động của thị trường tài chính thế giới vànhững khó khăn của nền kinh tế trong nước, chỉ số giá chứng khoán đã sụt giảmliên tục trong năm 2008 và làm mức vốn hóa thị trường giảm hơn 50%, xuốngcòn 18% Khi nền kinh tế trong nước và thế giới bắt đầu hồi phục nhẹ từ quýII/2009, chỉ số giá chứng khoán đã bắt đầu tăng trở lại cùng với số lượng cáccông ty niêm yết trên thị trường cũng gia tăng nhanh chóng Giá trị vốn hóa thịtrường cổ phiếu tính đến cuối năm 2009 đã đạt 37,71% GDP Ước tính đến cuốinăm 2010 sẽ đạt khoảng từ 40-50% GDP
Trang 38về niêm yết và giao dịch chứng khoán
Năm 2000, với 02 công ty niêm yết khi đưa TTGDCK TP.HCM vào hoạtđộng, TTCK đã có mức tăng trưởng nhanh về giá do nguồn cung hàng hóa khanhiếm, chỉ số VN Index liên tục tăng và đạt tới đỉnh điểm là 571,04 điểm ngày25/6/2001 Sau đó, thị trường đã liên tục sụt giảm trong suốt 3 năm sau đó, trướckhi tăng mạnh trở lại vào cuối năm 2003 Năm 2005, sau khi TTGDCK Hà Nội
đi vào hoạt động, tổng số các công ty niêm yết trên cả hai thị trường là 44 công
ty với tổng giá trị niêm yết là 4,94 nghìn tỷ đồng Tuy nhiên, nhìn chung, giaiđoạn 2000-2005 là giai đoạn hoạt động khá trầm của TTCK Việt Nam
Kể từ năm 2006 đến nay, TTCK Việt Nam bắt đầu khởi sắc và đã có bướctăng trưởng mạnh mẽ cả về số lượng công ty niêm yết lẫn doanh số giao dịch.Tính đến cuối năm 2009, đã có 541 doanh nghiệp niêm yết cổ phiếu trên cả haiSGDCK và 4 chứng chỉ quỹ đại chúng niêm yết, với tổng giá trị niêm yết đạt127,489 nghìn tỷ đồng, tăng 66,5 lần so với cuối năm 2005 Tổng giá trị vốn hóathị trường tính tại thời điểm ngày 31/12/2009 ước đạt 620,551 ngàn tỷ đồngtương đương với gần 38% GDP cả năm 2009
Thị trường chứng khoán đã có sự tăng trưởng không chỉ về quy mô niêmyết mà cả về tính thanh khoản của thị trường Nếu như năm 2005, bình quân có667.600 cổ phiếu được giao dịch một phiên, thì năm 2006, con số này tăng lên2,6 triệu đơn vị (tăng 3,93 lần), tiếp tục tăng lên 9,79 triệu và 18,07 triệu tronghai năm sau đó Tốc độ luân chuyển thị trường trong giai đoạn này liên tục tăng
từ 0.43 lần (năm 2006) lên 0.64 lần (năm 2007), 0.68 lần (năm 2008) và ước đạt1.13 lần (năm 2009)
Trang 39Giai đoạn 2006-2009 cũng chứng kiến những kỷ lục của TTCKVN Tháng3/2007, các chỉ số chứng khoán đạt được mức cao nhất VNIndex đạt mức1,170.67 điểm và HASTC-Index đạt 459.36 điểm Trong khi đó, xét về khốilượng giao dịch, tháng 5/2009 là tháng có khối lượng giao dịch lớn nhất, bìnhquân có 77 triệu cổ phiếu được giao dịch mỗi phiên, với giá trị đạt 2.270,57 tỷđồng.
Đồng thời, với sự mở rộng của các thị trường chính thức, có sự quản lývới số lượng ngày càng lớn các tổ chức đăng ký niêm yết, đăng ký giao dịch là
sự thu hẹp của thị trường tự do (thị trường OTC) Mặc dù còn nhiều loại cổphiếu giao dịch trên thị trường OTC, chủ yếu từ các DNNN cổ phần hóa, tuynhiên, tính thanh khoản của thị trường này trong năm 2009 đã sụt giảm rõ rệt
Ngoài ra, nhằm từng bước hoàn chỉnh cấu trúc thị trường, mở rộng thịtrường có tổ chức, có sự quản lý của Nhà nước, từng bước thu hẹp thị trường tự
do, hệ thống giao dịch UpCom trên SGDCK Hà Nội - hệ thống giao dịch chocác chứng khoán của công ty đại chúng chưa niêm yết - cũng đã được đưa vàovận hành vào ngày 24/6/2009 Cuối 2009, đã có 34 cổ phiếu được giao dịch trên
hệ thống Upcom với tổng giá trị giao dịch đạt gần 540 tỷ đồng Giá trị thị trườngngày 31/12/2009 đạt 4.075 tỷ đồng
Mặc dù đã có những bước phát triển nhảy vọt nhưng thị trường giao dịch
cổ phiếu còn nhiều biến động và hạn chế về tính thanh khoản đặc biệt khi thịtrường có dấu hiệu suy giảm Bên cạnh đó, hàng hóa niêm yết trên TTCK chưa
đa dạng, mức độ phát triển chưa cao, chưa đáp ứng nhu cầu đầu tư và phòngngừa rủi ro của nhà đầu tư (chưa có các sản phẩm phái sinh, các sản phẩm đầu tưtập thể) Các dịch vụ tiện ích cho nhà đầu tư trên thị trường còn nghèo nàn (chưa
Trang 40có nghiệp vụ bán khống, vay ký quỹ, bán trước ngày hoàn thất giao dịch), tínhminh bạch của thị trường chưa đáp ứng nhu cầu của công chúng đầu tư.
về hệ thống cơ sở nhà đầu tư (cầu đầu tư):
Số lượng các nhà đầu tư tham gia TTCK ngày càng đông đảo Số lượngnhà đầu tư cá nhân và tổ chức, trong nước và nước ngoài đã gia tăng đáng kể Từkhoảng gần 3000 tài khoản nhà đầu tư tham gia khi mới mở cửa thị trường vàonăm 2000, tính đến nay đã có trên 90.000 tài khoản giao dịch, trong đó số nhàđầu tư tổ chức trong nước là 2.662, số nhà đầu tư cá nhân trong nước là 80.558,
số nhà đầu tư nước ngoài là hơn 13.000 nhà đầu tư
Tuy nhiên, hệ thống nhà đầu tư của chúng ta chưa đa dạng, cấu trúc cầuđầu tư hiện tại chưa bảo đảm sự tăng trưởng một cách bền vững Hệ thống nhàđầu tư tổ chức chưa phát triển làm hạn chế sự phát triển của TTCK mà đặc biệt
là thị trường TPCP
về hệ thống các tổ chức kinh doanh, dịch vụ chứng khoán
Hệ thống các tổ chức kinh doanh, dịch vụ chứng khoán phát triển nhanh
về quy mô và năng lực nghiệp vụ, với hệ thống mạng lưới chi nhánh, phò ng giaodịch trải khắp các tỉnh, thành phố lớn trong cả nước, góp phần giúp công chúngđầu tư tiếp cận dễ dàng hơn với TTCK Khi thị trường bắt đầu đi vào hoạt động,toàn thị trường mới chỉ có 7 công ty chứng khoán và cho đến tận năm 2004 vẫnchưa có một công ty quản lý quỹ nào Sau 10 năm hoạt động, tính đến thời điểmhiện tại, đã có 105 công ty chứng khoán và 46 công ty quản lý quỹ đang hoạtđộng tại Việt Nam Số thành viên lưu ký của Trung tâm Lưu ký Chứng khoán