Một số công trình đề cập đến giải pháp phát triển bảo hiểm nhân thọ nhưngchỉ xoay quanh các yếu tố xuất phát từ phía khách hàng, làm sao để kích thíchngười dân tiêu dùng sử dụng dịch vụ
Trang 2VŨ HỮU KHÔI
PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM
HƯU TRÍ TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài Chính - Ngân Hàng
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Xuân Anh
HÀ NỘI - 2021
Ì1 [f
Trang 3LỜI CAM ĐOANTôi là Vũ Hữu Khôi, Học viên cao học lớp 21.01.NHA của Học viện Ngânhàng, đã chọn đề tài nghiên cứu là “Phát triển dịch vụ bảo hiểm hưu trí tại ViệtNam” Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi Các số liệu, kếtquả được trình bày trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo sựtin cậy và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào.
Tác giả luận văn
Vũ Hữu Khôi
Trang 4LỜI CẢM ƠNTô1 xin chân thành cảm ơn các quý thầy, cô trường Học viện Ngân hàng đãtận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đặcbiệt tôi xin gửi lời cảm ơn đến PGS.TS Trần Thị Xuân Anh - người đã hướng dẫn
và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này Do thời gian và kiến thứccòn hạn chế nên luận văn của tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mongnhận được sự góp ý chân thành từ các thầy, cô để bổ sung, hoàn thiện trong quátrình nghiên cứu tiếp các nội dung và vấn đề của luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Vũ Hữu Khôi
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 KHUNG LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM
HƯU TRÍ 10
1.1 Những vấn đề cơ bản về Dịch vụ bảo hiểm hưu trí10
1.1.1 Khái niệm Dịch vụ bảo hiểm hưu trí.10 1.1.2 Đặc điểm của Dịch vụ bảo hiểm hưu trí11 1.1.3 Lợi ích của Dịch vụ bảo hiểm hưu trí13
1.2 Phát triển Dịch vụ bảo hiểm hưu trí 14
1.2.1 Khái niệm về phát triển Dịch vụ bảo hiểm hưu trí14 1.2.2 Tiêu chí đánh giá sự phát triển Dịch vụ bảo hiểm hưu trí15
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển Dịch vụ bảo hiểm hưu trí 21
1.3.1 Các nhân tố chủ quan 23 1.3.1 Các nhân tố khách quan 24
1.4 Kinh nghiệm phát triển Dịch vụ bảo hiểm hưu trí ở một số nước trên thế
giới và bài học cho Việt Nam 25 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA DỊCH VỤ BẢO HIỂM HƯU TRÍ TẠI VIỆT NAM ’ 32
2.1 Giới thiệu chung về hệ thống hưu trí tại Việt Nam 32 2.2 Thực trạng phát triển của Dịch vụ bảo hiểm hưu trí tại Việt Nam35
2.2.1 Phân tích sự phát triển của Dịch vụ bảo hiểm hưu trí theo nhóm các chỉ tiêu định lượng 35
2.2.2 Phân tích sự phát triển của Dịch vụ bảo hiểm hưu trí theo nhóm các chỉ tiêu định tính 49
Dịch vụ bảo hiểm hưu trí tại Việt Nam 53
bảo hiểm hưu trí tại Việt Nam 60
2.4.1 Những kết quả đạt được60 2.4.2 Những mặt tồn tại và nguyên nhân61
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM HƯU TRÍ TẠI VIỆT NAM 67
3.1 Quan điểm về phát triển Dịch vụ bảo hiểm hưu trí tại Việt Nam67
Trang 63.1.1 Quan điểm chung 67
3.1.2 Định hướng phát triển bảo hiểm hưu trí
3.1.3 Giải pháp phát triển Dịch vụ bảo hiểm hưu trí tại Việt Nam
3.2.1 Giải pháp đối với nhân tố khách quan về về hành lang pháp lý, chính sách phát triển bảo hiểm hưu trí 69
3.2.2 Giải pháp đối với nhân tố khách quan về quy định điều khoản sản phẩm bảo hiểm hưu trí 73
3.2.3 Giải pháp đối với nhân tố khách quan gia tăng nhu cầu mua bảo hiểm từ khách hàng 80
3.2.4 Giải pháp đối với các nhân tố chủ quan 83
3.2 Một số kiến nghị chung 83
3.3.1 Kiến nghị đối với cơ quan quản lý 83
3.3.2 Kiến nghị đối với doanhnghiệp kinh doanh bảo hiểm 84
3.3.3 Kiến nghị đối với người lao động 85
KẾT LUẬN 88
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Bảng thị phần tổng doanh thu phí bảo hiểm hưu trí năm 2020 35
Bảng 2.2: Bảng thị phần doanh thu khai thác mới bảo hiểm hưu trí năm 2020 36
Bảng 2.3: Bảng tỷ trọng bảo hiểm hưu trí năm 2020 36
Bảng 2.4: Bảng số lượng đại lý thuộc doanh nghiệp bảo hiểm triển khai bảo hiểm hưu trí qua các năm 38
Bảng 2.5: Bảng số liệu mạng lưới văn phòng chi nhánh/Công ty thành viên triển khai bảo hiểm hưu trí 39
Bảng 2.6: Bảng số lượng hợp đồng bảo hiểm hưu trí lũy kế qua các năm 41
Bảng 2.7: Bảng số lượng hợp đồng bảo hiểm hưu trí khai thác mới qua các năm 42
Bảng 2.8: Bảng số tiền bảo hiểm hưu trí lũy kế qua các năm 43
Bảng 2.9: Bảng số tiền bảo hiểm hưu trí khai thác mới qua các năm 44
Bảng 2.10: Bảng doanh thu khai thác mới bảo hiểm hưu trí qua các năm 45
Bảng 2.11: Bảng doanh thu khai thác mới của các loại hình bảo hiểm qua các năm 46 Bảng 2.12: Bảng tổng doanh thu phí bảo hiểm hưu trí qua các năm 47
Bảng 2.13: Bảng tổng doanh thu phí bảo hiểm của các loại hình bảo hiểm qua các năm 48
Bảng 2.14: Bảng tổng hợp kết quả đạt được đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm hưu trí của toàn thị trường đến năm 2020 60
Bảng 2.15: Bảng tỷ lệ hoa hồng tối đa của các sản phẩm bảo hiểm 63
Bảng 2.16: Bảng tỷ lệ hoa hồng và sự phát triển của các sản phẩm bảo hiểm 64
Bảng 3.1: Bảng tỷ lệ hoa hồng tối đa của các sản phẩm bảo hiểm 74
Bảng 3.2: Bảng so sánh tỷ lệ hoa hồng và lợi ích khách hàng giữa bảo hiểm hưu trí và bảo hiểm liên kết đầu tư 76
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ già hóa nhanh trên thế giới.Hiện nay, số người cao tuổi (trên 65 tuổi) là 7,4 triệu người, chiếm 7,7% tổng dân
số Dự báo năm 2050, Việt Nam có 22,3 triệu người già, chiếm 1/5 dân số (số liệu
được công bố tại hội thảo Quốc tế Tăng cường Hợp tác giữa các bên nhằm Thúc đẩy Già hóa năng động và Sức khỏe Tâm thần trong khu vực ASEAN do Bộ Y tế tổ chức với sự phối hợp của Viện Nghiên cứu Kinh tế ASEAN và Đông Á (ERIA), Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ngày 18/11/2020) Nhóm người hết độ tuổi lao động càng lớn thì xã hội, gia đình càng
cần nhiều nguồn lực để chăm sóc cho họ Ở góc độ cá nhân, nếu như người laođộng có tham gia bảo hiểm xã hội, khi hết độ tuổi lao động sẽ được hưởng khoảnlương hưu để trang trải cuộc sống, an hưởng điền viên
Thực tế hiện nay, Việt Nam hiện đang có hàng triệu người lao động tự do,hàng nghìn lao động thất nghiệp, theo Nghị quyết số 21-NQ/TW, Bộ Chính trị đặt
ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 có 50% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm
xã hội Điều đó cho thấy thực trạng người lao động không có bảo hiểm xã hội cònquá lớn, họ là những đối tượng đông đảo khi hết độ tuổi lao động sẽ không cókhoản lương hưu để trang trải cuộc sống Đồng thời trong quá trình lao động họkhông được bảo hiểm nếu không may gặp phải rủi ro tai nạn bệnh tật, không có gì
hỗ trợ bù đắp cho sự mất đi sức lao động mà họ gặp phải Những nhóm người quá
độ tuổi lao động này sẽ phải sống bằng tài sản tiết kiệm, sống phụ thuộc vào concái, hoặc tiếp tục phải lao động ở tuổi già, hay sống nhờ trợ cấp xã hội Tuổi già làmột loại rủi ro biết trước sẽ xảy ra của mỗi con người, tuy nhiên họ lại không có sựchuẩn bị để ứng phó với rủi ro này, và hệ quả là cuộc sống tuổi già không được annhàn, thậm chí còn là gánh nặng cho gia đình, xã hội
Bảo hiểm hưu trí được Quốc hội ban hành theo Luật số 61/2010/QH12 V/vSửa đổi, bổ sung một số điều luật kinh doanh bảo hiểm ngày 24/11/2010 Bảo hiểmhưu trí thuộc hệ thống chương trình bảo hiểm hưu trí tự nguyện, hình thành từ đề án
Trang 9bảo hiểm hưu trí và quỹ hưu trí tự nguyện do Cục quản lý và giám sát bảo hiểm
-Bộ Tài chính thực hiện nhằm phủ lấp những thiếu sót của hệ thống hưu trí tại ViệtNam Các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ là chủ thể triển khai, cungcấp sản phẩm Bảo hiểm hưu trí tới người dân, mang tới giải pháp tài chính, bảohiểm mang những tính chất tương tự bảo hiểm xã hội Bên cạnh đó Bảo hiểm hưutrí mang tới cho khách hàng sự lựa chọn bảo vệ rủi ro đa dạng ở hạn mức cao hơn,đồng thời linh hoạt hơn trong việc đóng phí bảo hiểm
Tuy nhiên thực trạng triển khai bảo hiểm hưu trí tại Việt Nam trong nhữngnăm qua còn hạn chế Mặc dù thị trường bảo hiểm nhân thọ đang phát triển rấtmạnh trong những năm qua, nhưng chỉ riêng đối với Bảo hiểm hưu trí lại vẫn luôntrong tình trạng kém phát triển, doanh thu khai thác mới của Bảo hiểm hưu trí hàngnăm chỉ chiếm <1% tỷ trọng tổng doanh thu khai thác mới bảo hiểm nhân thọ tronggiai đoạn từ 2017 tới hết quý III năm 2020 (theo số liệu báo cáo của Hiệp hội bảohiểm Việt Nam)
Việc Bảo hiểm hưu trí kém phát triển xuất phát từ rất nhiều nguyên nhânnhư: nhận thức của người lao động về bảo hiểm, rủi ro và về tài chính chưa cao, thunhập người lao động còn thấp và thiếu ổn định để có thể tham gia bảo hiểm nhânthọ Tuy nhiên, đặt trong một thị trường bảo hiểm nhân thọ đang phát triển rất mạnh
và mỗi năm tăng trưởng khai thác mới từ 20% đến 30% (theo số liệu báo cáo củaHiệp hội bảo hiểm Việt Nam) điều đó cho thấy: nguyên nhân lớn nhất khiến Bảohiểm hưu trí kém phát triển đến từ các yếu tố nội tại của nghiệp vụ Bảo hiểm hưutrí Cơ chế chính sách phát triển, quy định nghiệp vụ chưa thực sự thuận lợi và thúcđẩy sẽ là rào cản cho sự phát triển của Bảo hiểm hưu trí
Vì vậy, với mong muốn Bảo hiểm hưu trí ngày một phát triển, tương xứngvới đà phát triển của thị trường bảo hiểm nhân thọ và đóng vai trò quan trọng trongviệc xây dựng nền tảng an sinh xã hội bền vững trong tương lai, tác giả đã tìm hiểu,nghiên cứu và quyết định chọn đề tài “Phát triển dịch vụ Bảo hiểm hưu trí tại ViệtNam” làm đề tài nghiên cứu
Trang 102 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Bảo hiểm hưu trí được hình thành và thương mại hóa kể từ khi Quốc hội banhành theo Luật số 61/2010/QH12 V/v Sửa đổi, bổ sung một số điều luật kinh doanhbảo hiểm ngày 24/11/2010, và được Bộ Tài Chính hướng dẫn triển khai theo thông
tư số 115/2013/TT-BTC ngày 20/08/2013 Trong giai đoạn này đã có một số côngtrình nghiên cứu có liên quan tới Bảo hiểm hưu trí là các đề tài nghiên cứu khoahọc, luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ Có thể kể đến một số công trình nghiên cứutiêu biểu liên quan đến đề tài như sau:
Đề tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua sắm sảnphẩm bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam”, luận án Tiến sỹ ngành Tài chính Ngânhàng, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội của tác giả Mai Thị Hường (năm 2019)
Đề tài đã hệ thống hóa các cơ sở lý thuyết về hành vi mua bảo hiểm nhânthọ, ứng dụng mô hình lý thuyết hành vi dự định mở rộng (Ajzen và Fishbein, 2005;Ajzen, 2003) để xây dựng mô hình lý thuyết các nhân tố ảnh hướng đến ý định vàhành vi mua bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam bao gồm: thái độ rủi ro, cảm nhận lợiích, nhận thức rủi ro, thái độ đối với quyết định mua bảo hiểm nhân thọ, chuẩn mựcchủ quan, hiểu biết tài chính và tiếp cận sản phẩm Kết hợp với phân tích thực trạngthị trường bảo hiểm nhân thọ giai đoạn 2013 -2017 qua đó đưa ra các giải pháp đểtác động thúc đẩy khách hàng từ ý định trở thành hành vi mua bảo hiểm nhân thọ
Đề tài đã chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng tới hành vi mua sắm bảo hiểm nhân thọ nóichung, trong đó bao gồm Bảo hiểm hưu trí
Đề tài “Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam những vấn
đề lý luận và thực tiễn”, luận án Tiến sỹ luật học, Đại học Luật Hà Nội của tác giảTrần Vũ Hải (năm 2014)
Nội dung đề tài đã đưa ra những vấn đề lý luận về kinh doanh bảo hiểm nhânthọ và pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ Phân tích thực trạng pháp luật kinhdoanh bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam bao gồm quy định về doanh nghiệp bảohiểm kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, quy định về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ vàquy định về giám sát đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ Đồng thời đềtài đưa ra giải pháp hoàn thiện luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ theo định hướng
Trang 11phát triển tổng thể thị trường bảo hiểm nhân thọ giai đoạn 2011-2020 Thời điểm hiệntại, thị trường bảo hiểm nhân thọ đã phát triển qua giai đoạn đề tài này nghiên cứu.
Đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát của Nhà nước đối vớithị trường bảo hiểm ở Việt Nam”, của tác giả Hoàng Trần Hậu và Hoàng Mạnh Cử(năm 2011)
Nội dung đề tài nghiên cứu vấn đề quản lý, giám sát của nhà nước đối với thịtrường bảo hiểm Phân tích thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhànước đối với thị trường bảo hiểm tại Việt Nam Đề tài nêu vấn đề quản lý chung đốivới thị trường bảo hiểm trong đó bao trùm nghiệp vụ Bảo hiểm hưu trí, tuy nhiênmột số vấn đề khác của thị trường đặc biệt đối với lĩnh vực bảo hiểm Phi nhân thọkhông thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài “Thực trạng đời sống người nghỉ hưu, những giải pháp về cung cấpcác dịch vụ xã hội nhằm cải thiện đời sống vật chất, tinh thần người nghỉ hưu” Đềtài nghiên cứu khoa học cấp Ngành, Viện khoa học BHXH Việt Nam của tác giảPhạm Đình Thành (năm 2013)
Đề tài đã hệ thống hóa các vấn đề cơ bản về người cao tuổi, người nghỉ hưu
và các dịch vụ xã hội đối với người cao tuổi, người nghỉ hưu Làm rõ vị trí, vai tròcũng như nhu cầu dịch vụ của người cao tuổi Qua kết quả điều tra, khảo sát, đề tài
đã phân tích nhu cầu của người cao tuổi về việc làm, thu nhập, chăm sóc sứckhỏe Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách và phát triển cácdịch vụ xã hội nhằm cải thiện đời sống cho người nghỉ hưu ở Việt Nam Tuy nhiên,lĩnh vực bảo hiểm hưu trí trong chế độ bảo hiểm xã hội có sự khác biệt so với nộidung nghiên cứu của tác giả
Đề tài “Chế độ hưu trí theo pháp luật Việt Nam” luận văn Thạc sỹ luật học,Trường Đại học Luật, Đại học Huế của tác giả Ngô Văn Tài (năm 2019)
Đề tài đưa ra những vấn đề lý luận chung về chế độ hưu trí, thực trạng phápluật về chế độ hưu trí và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nâng cao hiệu quảthực hiện chế độ hưu trí thuộc bảo hiểm xã hội Tuy nhiên, đề tài này hướng tới lĩnhvực bảo hiểm hưu trí trong chế độ bảo hiểm xã hội, có sự khác biệt so với nội dungnghiên cứu của tác giả
Trang 12Công trình nghiên cứu đề tài “Phân tích quyết định tham gia bảo hiểm nhânthọ của người hưu trí tại Cần Thơ” của nhóm tác giả Huỳnh Trường Huy, NguyễnThị Kim Dung, Nguyễn Mai Uyên, Nguyễn Thanh Liêm, Trường Đại học Cần Thơ(năm 2020).
Nghiên cứu đã xác định các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định tham gia bảohiểm nhân thọ của nhóm khách hàng hưu trí dựa vào cuộc khảo sát trên địa bảnthành phố Cần Thơ Kết quả phân tích cho thấy các yếu tố chính ảnh hưởng tớiquyết định mua bảo hiểm nhân thọ gồm: giới tính, tuổi, trình độ học vấn, số thànhviên trong gia đình, thu nhập bình quân, tiền tiết kiệm bình quân, và yếu tố ảnhhưởng từ người thân
Tài liệu Phổ biến kiến thức nghiệp vụ và pháp luật về bảo hiểm nhân thọ,NXB Tài Chính của Phùng Đắc Lộc (2017) Trong tài liệu đã hệ thống hóa nhữngkhái niệm, đặc điểm, lợi ích và các vấn đề xoay quanh bảo hiểm nhân thọ nóichung, trong đó có bao gồm sản phẩm bảo hiểm hưu trí
❖ Khoảng trống nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu đã thực hiện trước đây có rất nhiều nội dungkhông còn phù hợp với tốc độ phát triển và giai đoạn phát triển của thị trường bảohiểm nhân thọ Hoặc các công trình nghiên cứu có các nội dung mang tính tổng thể
về thị trường bảo hiểm nhân thọ, về quản lý nhà nước đối với bảo hiểm nhân thọ nóichung Một số công trình đề cập đến giải pháp phát triển bảo hiểm nhân thọ nhưngchỉ xoay quanh các yếu tố xuất phát từ phía khách hàng, làm sao để kích thíchngười dân tiêu dùng sử dụng dịch vụ mà không đề cập đến yếu tố nội tại, những hạnchế của dịch vụ Bảo hiểm hưu trí
Như vậy, mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu liên quan tới đề tài như
đã trình bày, tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể, riêng biệt về bảohiểm hưu trí để phát triển loại hình nghiệp vụ này tại Việt Nam Do đó tác giả đãlựa chọn đề tài “Phát triển dịch vụ bảo hiểm hưu trí tại Việt Nam" Đề tài phân tíchthực trạng phát triển dịch vụ Bảo hiểm hưu trí trong thị trường bảo hiểm nhân thọhiện nay, làm rõ tất cả những yếu tố nội tại của dịch vụ Bảo hiểm hưu trí, nhận định
Trang 13những hạn chế khiến dịch vụ Bảo hiểm hưu trí chưa được đẩy mạnh phát triển Từ
đó đưa ra các giải pháp để phát triển dịch vụ Bảo hiểm hưu trí tại Việt Nam
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu khung lý luận về phát triển Dịch vụ bảo hiểm hưu trí bao gồmnhững vấn đề cơ bản về Dịch vụ bảo hiểm hưu trí, các tiêu chí đánh giá, nhân tố ảnhhưởng tới sự phát triển và kinh nghiệm phát triển Dịch vụ bảo hiểm hưu trí tại một
số quốc gia
- Đánh giá thực trạng phát triển của Dịch vụ bảo hiểm hưu trí tại Việt Namthông qua việc phân tích các chỉ tiêu, nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự pháttriển và những mặt tồn tại trong phát triển Dịch vụ bảo hiểm hưu trí
- Đưa ra đề xuất các giải pháp và kiến nghị khắc phục những tồn tại để tăngcường phát triển Dịch vụ bảo hiểm hưu trí tại Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Phát triển Dịch vụ bảo hiểm hưu trí tại Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
- Khách thể: Hệ thống chính sách bao gồm Luật, Thông tư về Dịch vụBảo hiểm hưu trí và một số loại hình sản phẩm bảo hiểm nhân thọ khác do cơ quanquản lý nhà nước ban hành và thị trường bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
- Thời gian: từ năm 2017 đến hết năm 2020 Trong đó tác giả có sử dụngnhững số liệu thị trường bảo hiểm nhân thọ được thu thập từ nguồn Hiệp hội bảohiểm Việt Nam Số liệu được chi tiết theo từng năm, từng doanh nghiệp bảo hiểm
và từng nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ
- Không gian: Thị trường bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam Nghiên cứu thựctrạng hoạt động của loại hình nghiệp vụ Bảo hiểm hưu trí trong thị trường bảo hiểmnhân thọ tại Việt Nam trên cơ sở những chính sách phát triển, quy định nghiệp vụđược cơ quan quản lý nhà nước ban hành
5 Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở dữ liệu
Dữ liệu sơ cấp được tác giả thu thập thông qua qua việc khảo sát khách hàng
và đại lý, chuyên gia trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, cụ thể:
Trang 14Đối tượng khảo sát: Đối tượng khảo sát là các đại lý có kinh nghiệm và
chuyên gia trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ và khách hàng đã mua bảo hiểm hưutrí Trong đó các đại lý và chuyên gia trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ làm việccho các doanh nghiệp bảo hiểm lớn và có triển khai bảo hiểm hưu trí gồm: AIA, BảoViệt Life, Dai ichi, Manulife, Prudential, Sun Life Việt Nam Các khách hàng đượckhảo sát thuộc doanh nghiệp bảo hiểm: Bảo Việt Life và Sun Life Việt Nam, đây là haidoanh nghiệp bảo hiểm chiếm đến 95% thị phần bảo hiểm hưu trí toàn thị trường
Cách thức khảo sát: Tác giả trực tiếp gặp gỡ các đại lý có kinh nghiệm và
chuyên gia trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ và khách hàng đã mua bảo hiểm hưutrí để thu thập ý kiến và thu thập gián tiếp bằng công cụ googledocs bằng cách gửiđường link thông qua mạng xã hội facebook, zalo
Nội dung khảo sát: Tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng tới đến sự phát triển
của dịch vụ bảo hiểm hưu trí thông qua những ý kiến, đánh giá của các đại lý cókinh nghiệm và chuyên gia trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ và khách hàng đã muabảo hiểm hưu trí (mẫu câu hỏi tại phần Phụ lục)
Mô tả dữ liệu khảo sát:
Kết quả khảo sát các đại lý có kinh nghiệm và chuyên gia trong lĩnh vực bảohiểm nhân thọ thu được 27 kết quả khảo sát trong đó:
- Giới tính của đối tượng khảo sát: gồm 70,4% nam và 29,6% nữ 63% đốitượng khảo sát từ 30 tuổi đến dưới 50 tuổi và 37% từ 18 tuổi đến dưới 30 tuổi
- Doanh nghiệp bảo hiểm của đối tượng khảo sát gồm 33,3% tại Bảo ViệtLife, 29,6% tại Sun Life Việt Nam, 18,5% tại Manulife, 7,4% tại Prudential và Dai-ichi Life, 3,7% tại AIA
- Đối tượng khảo sát có 63% là đại lý bảo hiểm, 22,2% là quản lý và 14,8%
là cán bộ chuyên viên trong doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
- 88,9% đối tượng khảo sát có kinh nghiệm trên 3 năm lĩnh vực bảo hiểmnhân thọ, 11,1% có kinh nghiệm từ 1 năm đến 3 năm
Kết quả khảo sát các khách hàng đã mua bảo hiểm hưu trí thu được 22 kếtquả khảo sát trong đó:
Trang 15- Giới tính của đối tượng khảo sát gồm 68,2% nữ và 31,8% nam 59,1% đốitượng khảo sát từ 30 tuổi đến dưới 50 tuổi và 22,7% từ 18 tuổi đến dưới 30 tuổi và18,2% trên 50 tuổi.
- 50% đối tượng khảo sát có nghề nghiệp là nhân viên văn phòng, 13,6% làmnông dân, ngư dân, 9,1% làm kinh doanh buôn bán, 9,1% lái xe các loại, 4,5% làmcông nhân và 13,6% làm nghề khác
- 36,4% có thu nhập từ 5 triệu đồng đến dưới 10 triệu đồng trên tháng, 27,3%
có thu nhập từ 10 triệu đồng đến dưới 15 triệu đồng trên tháng, 22,7% có thu nhậptrên 15 triệu đồng trên tháng, và 13,6% có thu nhập tháng dưới 5 triệu đồng
- 63,6% đối tượng khảo sát mua bảo hiểm hưu trí của Bảo Việt Life và36,4% mua của Sun Life Việt Nam
- 72,7% mua bảo hiểm trên 3 năm và 27,3% mua bảo hiểm từ 2 năm đếndưới 3 năm 50% đối tượng khảo sát có mua thêm sản phẩm bảo hiểm nhân thọkhác bên cạnh bảo hiểm hưu trí, 50% không mua thêm
Phương pháp nghiên cứu
- Thứ 1: Sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết, phân tích tổng hợp
những tài liệu, dữ liệu Tác giả nghiên cứu, phân tích và tổng hợp các chính sách
phát triển, quy định nghiệp vụ của Dịch vụ bảo hiểm hưu trí, qua đó rút ra nhữngluận điểm phù hợp về nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của Dịch vụ bảo hiểmhưu trí
- Thứ 2: Sử dụng phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm Nghiên
cứu xem xét những dữ liệu thực trạng về tình hình phát triển của Dịch vụ bảo hiểmhưu trí đã diễn ra, qua đó rút ra những nhận định cho thực tiễn về nhân tố ảnhhưởng tới sự phát triển của Dịch vụ bảo hiểm hưu trí
- Thứ 3: Sử dụng phương pháp chuyên gia kết hợp nghiên cứu định tính.
Nghiên cứu dữ liệu sơ cấp thu thập từ những đại lý có kinh nghiệm và chuyên giatrong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, và các khách hàng đã mua bảo hiểm hưu trí đểxem xét nhận định, mô tả và giải thích những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triểncủa Dịch vụ bảo hiểm hưu trí
Trang 166 Kết cấu của bài luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài nghiên cứu được trình bày bao gồm 3
chương:
Chương 1: Khung lý luận về phát triển Dịch vụ bảo hiểm hưu trí.
Chương 2: Thực trạng phát triển Dịch vụ bảo hiểm hưu trí tại Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp tăng cường phát triển Dịch vụ bảo hiểm hưu trí tại
Việt Nam
7 Ý nghĩa khoa học thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu giúp đánh giá thực trạng phát triển của Dịch vụ bảo hiểmhưu trí, những nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển loại hình nghiệp vụ bảo hiểmnày trên thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam Những tồn tại và nguyên nhân của
sự phát triển Dịch vụ bảo hiểm hưu trí, trên cơ sở đó đề ra những giải pháp để giúpBảo hiểm hưu trí ngày một phát triển
Trang 17CHƯƠNG 1 KHUNG LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM HƯU TRÍ
1.1 Những vấn đề cơ bản về Dịch vụ bảo hiểm hưu trí
1.1.1 Khái niệm Dịch vụ bảo hiểm hưu trí
Dịch vụ bảo hiểm hưu trí là một dịch vụ bảo hiểm nhân thọ, có một số kháiniệm về Dịch vụ bảo hiểm hưu trí đứng ở một số góc độ được Phùng Đắc Lộc(2017) chỉ ra, tác giả tổng hợp lại như sau:
Trên phương diện bảo hiểm: “Bảo hiểm hưu trí là loại bảo hiểm thực hiện
các cam kết của người được bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm liên quan đến sựsống hoặc cái chế của người được bảo hiểm hoặc cho chính người tham gia bảohiểm, trong đó người bảo hiểm (Doanh nghiệp bảo hiểm) cam kết trả cho ngườihưởng thụ quyền lợi bảo hiểm (người được bảo hiểm hoặc người tham gia bảohiểm) một số tiền nhất định mà hai bên đã thỏa thuận trước các rủi ro thiên tai, tainạn, ốm đau, thương tật bất ngờ hoặc các sự kiện được quy định trong hợp đồng bảohiểm xảy ra theo cách thức và thời hạn chi trả đã thỏa thuận Người tham gia bảohiểm (người mua bảo hiểm) cam kết đóng phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn tươngxứng với những rủi ro, sự kiện bảo hiểm được chấp nhận”
Trên phạm vi pháp lý: “Bảo hiểm hưu trí bao gồm các hợp đồng được ký
kết giữa người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm Theo đó để được nhận đượcphí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm theo đúng quy định trong hợp đồng bảohiểm, người bảo hiểm phải cam kết chi trả cho một hoặc nhiều người hưởng thụquyền lợi bảo hiểm một hoặc một số khoản tiền nhất định liên quan đến sự sốnghoặc cái chết của người được bảo hiểm khi xảy ra các rủi ro và sự kiện đượcbảo hiểm”
Theo quy định của pháp luật: “Bảo hiểm hưu trí là loại nghiệp vụ bảo hiểm
cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết, nhằm cung cấp thu nhập bổsung cho người được bảo hiểm khi hết tuổi lao động”
Trên cơ sở những quan điểm khác nhau về Bảo hiểm hưu trí, tóm lại có thểhiểu: Bảo hiểm hưu trí là một Dịch vụ bảo hiểm nhân thọ nhằm cung cấp cho khách
Trang 18hàng những giá trị bảo vệ rủi ro (bao gồm tính mạng, sức khỏe .) và một kế hoạch
tiết kiệm đầu tư tài chính phù hợp đảm bảo thu nhập cho cuộc sống khách hàng khiđến tuổi về hưu
1.1.2 Đặc điểm của Dịch vụ bảo hiểm hưu trí
Bảo hiểm hưu trí là một trong sáu nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ, vì vậy Bảohiểm hưu trí mang đầy đủ những đặc điểm của một sản phẩm bảo hiểm nhân thọ nóichung, những đặc điểm này đã được Phùng Đắc Lộc (2017) chỉ ra, tác giả tổng hợplại như sau:
- Thứ nhất, “Bảo hiểm hưu trí vừa bảo vệ quyền lợi khách hàng trước các
rủi ro thiên tai, tai nạn bất ngờ, ốm đau, bệnh tật, tử vong (bao gồm cả người thamgia và người được bảo hiểm) vừa mang tính tích lũy tiết kiệm” Khi khách hàngđóng phí bảo hiểm hưu trí, số phí này như một khoản tiết kiệm được đưa vào cácquỹ hưu trí tự nguyện, đồng thời hàng năm sẽ có thêm các khoản lãi từ việc đầu tưquỹ giúp số tiền tiết kiệm của khách hàng được gia tăng Trong trường hợp kháchhàng gặp rủi ro sẽ được Doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường số tiền bảo hiểm rủi ro
đã thỏa thuận trước trong hợp đồng bảo hiểm, bù đắp một phần mất mát cho những
sự không may trong cuộc sống
- Thứ hai, “Bảo hiểm hưu trí có số tiền bảo hiểm không giới hạn Tính
mạng, sức khỏe con người là vô giá, bảo hiểm hưu trí bảo vệ cho rủi ro liên quanđến tính mạng sức khỏe con người nên không có thể đo đếm bằng tiền Số tiền đượcbảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm thỏa thuận ở mộtmức nhất định sao cho phù hợp với nguồn tài chính không thể định trước để điều trịcác rủi ro tai nạn, hoặc nguồn tài chính không thể định trước để thực hiện các côngviệc dở dang thuộc trách nhiệm của người quá cố được bảo hiểm” Số tiền bảo hiểm
là mức trách nhiệm Doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho khách hàng, mỗi mộtkhách hàng được lựa chọn số tiền bảo hiểm tương ứng với nhu cầu bảo vệ bản thân
và phải có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm rủi ro tương ứng Khách hàng có thể ký kếtmột hợp đồng bảo hiểm hưu trí với số tiền bảo hiểm 100 triệu đồng, nhưng số tiềnbảo hiểm cũng có thể tăng lên 500 triệu đồng nếu khách hàng có nhu cầu Bên cạnh
đó, mỗi một khách hàng có thể tham gia nhiều hợp đồng, mỗi một hợp đồng bảo
Trang 19hiểm với một số tiền bảo hiểm khách nhau tùy thuộc vào nhu cầu bảo vệ rủi ro củabản thân.
- Thứ ba, “Bảo hiểm hưu trí có thời hạn được bảo hiểm dài hạn” Các hợp
đồng bảo hiểm hưu trí đều được ký kết với thời hạn hiệu lực dài tối thiểu tới khingười được bảo hiểm nghỉ hưu được tối thiểu 15 năm hoặc cho đến trọn đời Nhưvậy nếu như khách hàng là nữ mua bảo hiểm hưu trí từ năm 30 tuổi thì thời hạn bảohiểm tối thiểu là 40 năm (25 năm đến tuổi về hưu và 15 năm tối thiểu sau khi về hưu).Khách hàng hoàn toàn có thể thỏa thuận một hợp đồng bảo hiểm hưu trí có thời gianbảo hiểm trọn đời nếu như Doanh nghiệp bảo hiểm có cung cấp sản phẩm đó
- Thứ tư, “Bảo hiểm hưu trí có tính nhạy cảm Bảo hiểm hưu trí phụ thuộc
nhiều vào hệ thống tiền tệ - tài chính - tín dụng Khi tỷ giá tăng, lạm phát cao, đồngtiền mất giá sẽ làm khách hàng tham gia bảo hiểm lo lắng giá trị của hợp đồng bảohiểm và sản phẩm bảo hiểm kém hấp dẫn Bảo hiểm hưu trí phát triển tốt khi tiền tệ
ổn định Tính nhạy cảm còn thể hiện ở việc người tham gia bảo hiểm dễ bị ảnhhưởng bởi đám đông tới hành vi mua bảo hiểm, khách hàng có thể dễ dàng tham giacũng sẵn sàng từ bỏ doanh nghiệp bảo hiểm này để sang doanh nghiệp bảo hiểmkhác theo sự lôi kéo của đại lý hoặc đám đông Đồng thời tính nhạy cảm còn đượcthể hiện ở việc trục lợi bảo hiểm ngày một gia tăng Số tiền bảo hiểm quá lớn so vớimức phí đóng là động cơ để trục lợi bảo hiểm” Các doanh nghiệp bảo hiểm cần cốgắng giảm bớt sự nhạy cảm của bảo hiểm hưu trí, hướng tới một thị trường bảohiểm cạnh tranh lành mạnh trong đó mỗi khách hàng hiểu rõ được quyền lợi và ýthức được trách nhiệm khi tham gia bảo hiểm Điều này giúp bảo hiểm hưu trí pháttriển một cách bền vững hơn và tạo dựng được niềm tin với khách hàng
Thứ năm, “Bảo hiểm hưu trí được nhà nước quản lý rất chặt chẽ Cơ quan
quản lý nhà nước đưa ra các rào cản kỹ thuật về điều kiện, thủ tục thành lập doanhnghiệp, chi nhánh, văn phòng kinh doanh; quy định các điều kiện thủ tục các doanhnghiệp bảo hiểm phải đáp ứng khi hoạt động kinh doanh bảo hiểm; quản lý chặt chẽdòng tiền phí bảo hiểm thu được; quản lý năng lực tài chính của doanh nghiệp bảohiểm đảm bảo an toàn cho người tham gia bảo hiểm; quản lý sản phẩm bảo hiểm”.Hiện nay bảo hiểm hưu trí được nhà nước quản lý hoạt động dựa trên hai văn bản
Trang 20chính là Luật kinh doanh bảo hiểm và Thông tư hướng dẫn bảo hiểm hưu trí và quỹhưu trí tự nguyện Các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ triển khai bảo hiểm hưu tríđảm bảo tuân thủ theo các quy định của nhà nước tại hai văn bản này.
1.1.3 Lợi ích của Dịch vụ bảo hiểm hưu trí
Bảo hiểm hưu trí mang đầy đủ những lợi ích của một sản phẩm bảo hiểmnhân thọ nói chung được Phùng Đắc Lộc (2017) chỉ ra, tác giả tổng hợp lại như sau:
- Thứ nhất, “Bảo hiểm hưu trí góp phần tích cực vào an sinh xã hội: khi
nhiều người tham gia bảo hiểm nhân thọ thì họ được đảm bảo quyền lợi chi trả tiềnbảo hiểm lúc gặp rủi ro thiên tai, tai bạn bất ngờ, ốm đau, bệnh tật, tử vong Vì vậyquỹ bảo hiểm hưu trí được hình thành từ phí bảo hiểm do người tham gia bảo hiểmđóng góp có vai trò như một quỹ an sinh xã hội giúp cho cộng đồng người tham giabảo hiểm có một cuộc sống được đảm bảo, bảo vệ trước những rủi ro nói trên không
bị lâm vào cảnh khó khăn, túng thiếu Hơn nữa nếu họ không gặp rủi ro họ sẽ đượchoàn trả số tiền bảo hiểm tương đương với số phí đã đóng vào cùng với bảo tức(nếu có) để tạo điều kiện cho cuộc sống của họ tốt đẹp hơn”
- Thứ hai, “Bảo hiểm hưu trí khuyến khích người dân có thu nhập biết tiết
kiệm tiêu dùng cá nhân để lo cho tương lai, có trách nhiệm với bản thân và ngườithân và tạo ra sự an tâm về tinh thần Số tiền tiết kiệm được dùng để tham gia bảohiểm bảo vệ trước các rủi ro và được chi trả quyền lợi bảo hiểm khi rủi ro, sự kiệnbảo hiểm xảy ra là thể hiện trách nhiệm với bản thân và người thân của mình khi họ
là người được bảo hiểm Tham gia bảo hiểm nhân thọ là tạo ra sự an tâm về tinhthần cho bản thân người mua bảo hiểm và người được bảo hiểm không phải lo lắng
về mặt tài chính khi rủi ro thiên tai, tai nạn, ốm đau, bệnh tật, tử vong xảy ra” Bêncạnh đó số tiền tích lũy nếu như không xảy ra sự kiện bảo hiểm rủi ro sẽ trở thànhnguồn cung cấp tài chính đều đặn trong tương lai, bổ sung nguồn thu nhập đảm bảocuộc sống cho người dân khi hết độ tuổi lao động
- Thứ ba, “Bảo hiểm hưu trí là kênh hút vốn nhàn rỗi trung, dài hạn để phát
triển kinh tế xã hội Số tiền phí bảo hiểm thu được của từng người tham gia bảo
hiểm sẽ được đầu tư trở lại nền kinh tế như mua trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho
Trang 21bạc, gửi kỳ hạn vào ngân hàng thương mại, trái phiếu chính quyền địa phương,.vừa đảm bảo tính thanh khoản, vừa đảm bảo phát sinh lời hợp lý”.
- Thứ tư, ”Bảo hiểm hưu trí tạo công ăn việc làm cho nhiều người lao động
và khuyến khích hỗ trợ một số ngành nghề tăng trưởng phát triển Đại lý bảo hiểm,nhân viên bảo hiêm là một trong những ngành nghề thu hút được đông đảo ngườilao động nhất Số tiền chi trả quyền lợi bảo hiểm tạo ra doanh thu cho một số ngànhnghề cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ phát triển như y tế (chi phí điều trị), giáodục (trả học phí), sản xuất hoặc kinh doanh ô tô (mua ô tô), xây dựng nhà cửa (muanhà), Số tiền nhàn rỗi của bảo hiểm nhân thọ được đầu tư vào lĩnh vực nào thì tạođiều kiện cho lĩnh vực đó phát triển như các dự án đầu tư công (của Chính phủ vàchính quyền địa phương), đầu tư vốn vào thị trường chứng khoán, bất động sảnhoặc góp vốn vào doanh nghiệp khác”
- Thứ năm, “Bảo hiểm hưu trí đóng góp tích cực vào sự phát triển cộng
đồng xã hội Hàng năm các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tài trợ nhiều tiền chocác chương trình từ thiện xã hội như đem ánh sáng cho người nghèo, hiến máu nhânđạo, thắp sáng niềm tin, quỹ khuyến học, cứu trợ đồng bào bị thiên tai, xây nhà tìnhnghĩa, tài trợ thiết bị y tế, xây trường học, ”
1.2 Phát triển Dịch vụ bảo hiểm hưu trí
1.2.1 Khái niệm về phát triển Dịch vụ bảo hiểm hưu trí
K Mark đã chỉ ra: “dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế hàng hóa khi mà nềnkinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông trôi chảy thông suốt liêntục để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người thì dịch vụ phát triển” Nhưvậy dưới góc độ kinh tế nguồn gốc ra đời của dịch vụ là nền kinh tế hàng hóa, vànhu cầu thỏa mãn của con người ngày càng cao chính là động lực để phát triển dịch
vụ Dựa theo quan điểm đó, Dịch vụ bảo hiểm hưu trí chính là việc các doanhnghiệp bảo hiểm thực hiện các hoạt động để cung ứng sản phẩm bảo hiểm hưu trítới người dân, thỏa mãn nhu cầu bảo hiểm rủi ro và nguồn tài chính khi về già chongười lao động
Trang 22Dịch vụ bảo hiểm hưu trí thuộc loại dịch vụ phi vật chất nhằm phục vụ đờisống con người, khách hàng phải trả tiền để được đáp ứng nhu cầu về bảo vệ rủi ro,
kế hoạch tài chính cũng như tiết kiệm Doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện dịch vụbảo hiểm hưu trí là thực hiện những hoạt động về thiết kế sản phẩm, tư vấn bánhàng, các hoạt động hỗ trợ phát triển kinh doanh và chăm sóc khách hàng và cáchoạt động đảm bảo quyền lợi khách hàng cũng như tuân thủ quy định của pháp luật
Phát triển Dịch vụ bảo hiểm hưu trí là quá trình vận động lâu dài nhằm pháttriển về chất lượng và số lượng sản phẩm bảo hiểm hưu trí cung cấp cho khách hàngthông qua việc phát triển số lượng khách hàng mua bảo hiểm hưu trí, nâng cao thị phầnbảo hiểm hưu trí và đa dạng hóa sản phẩm Phát triển Dịch vụ bảo hiểm hưu trí cần kếthợp cả hai tiêu chí phát triển số lượng khách hàng mua bảo hiểm hưu trí và phát triểnchất lượng của những sản phẩm bảo hiểm hưu trí cung ứng ra thị trường
Phát triển Dịch vụ bảo hiểm hưu trí theo chiều rộng là việc gia tăng sự tiếpcận của khách hàng đến với bảo hiểm hưu trí bao gồm gia tăng số lượng doanhnghiệp bảo hiểm triển khai bảo hiểm hưu trí, gia tăng số lượng đại lý tham gia vào
tư vấn bán bảo hiểm hưu trí Cùng với sự phát triển của thị trường bảo hiểm nhânthọ, việc có càng nhiều các doanh nghiệp bảo hiểm và đại lý bảo hiểm tham gia vàotriển khai Dịch vụ bảo hiểm nhân thọ chính là chìa khóa giúp bảo hiểm hưu trí pháttriển hơn
Phát triển Dịch vụ bảo hiểm hưu trí theo chiều sâu là việc nâng cao chấtlượng sản phẩm bảo hiểm hưu trí, đang dạng hóa sản phẩm và quyền lợi, nâng caotiện ích dịch vụ khách hàng chăm sóc khách hàng, đáp ứng nhu cầu ngày càng caocủa khách hàng Các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm hiện nay đang nỗ lực pháttriển không ngừng để phục vụ khách hàng, các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ cũngđược thiết kế linh hoạt, đa dạng và phù hợp với nhu cầu thị hiếu, đồng thời công tácchăm sóc khách hàng cũng hướng đến tiêu chí nhanh chóng thuận tiện
1.2.2 Tiêu chí đánh giá sự phát triển Dịch vụ bảo hiểm hưu trí
Dịch vụ bảo hiểm hưu trí được xem như phát triển khi dịch vụ này mang lại
sự thỏa mãn nhu cầu rất lớn của khách hàng đồng thời đóng vai trò quan trọng trong
cơ cấu doanh thu, kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm cũng như toàn thị trường
Trang 23bảo hiểm nhân thọ Có rất nhiều chỉ tiêu để đánh giá sự phát triển của Dịch vụ bảohiểm hưu trí, tiêu biểu thông qua một số chỉ tiêu chính sau:
1.2.2.1 Nhóm tiêu chí định lượng
Hiện nay chưa có nghiên cứu cụ thể chỉ ra nhóm tiêu chí định lượng đánh giá
sự phát triển Dịch vụ bảo hiểm hưu trí tại Việt Nam Tuy nhiên đã có những côngtrình nghiên cứu đã chỉ ra những chỉ tiêu định lượng đánh giá sự phát triển của một
số loại dịch vụ khác có thể kể đến như:
Lê Thị Tịnh (2017) trong “Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển dịch vụ ngânhàng bán lẻ của ngân hàng thương mại” chỉ ra chỉ tiêu định lượng về sự phát triểnbao gồm: Số lượng khách hàng; Thị phần; Tăng trưởng; Số lượng kênh phân phối;Sản phẩm bán chéo
Lê Thị Vân Hà (2018) trong “Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại ngânhàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - chi nhánh Quảng Bình” chỉ
ra chỉ tiêu định lượng về sự phát triển bao gồm: Số lượng sản phẩm dịch vụ; Thịphần chiếm lĩnh thị trường; Hệ thống kênh phân phối; Thu nhập từ dịch vụ
Đinh Thị Phương Thảo (2013) trong “Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tạingân hàng TMCP bưu điện Liên Việt” chỉ ra chỉ tiêu định lượng về sự phát triểnbao gồm: Sự tăng trưởng số dư và doanh số; Lợi nhuận từ dịch vụ; Tỷ trọng doanhsố; Số lượng và sự tăng trưởng khách hàng; Số lượng sản phẩm dịch vụ
Với những dịch vụ thuộc lĩnh vực khác nhau tại mỗi thời kỳ sẽ có một sốđiểm khác biệt về chỉ tiêu định tính đánh giá sự phát triển của dịch vụ đó Tác giả
đã tham khảo một số công trình nghiên cứu đánh giá sự phát triển của một số dịch
vụ nêu trên tổng hợp một số chỉ tiêu định lượng đánh giá sự phát triển của Dịch vụbảo hiểm hưu trí như sau:
- Thứ nhất: Số lượng Doanh nghiệp bảo hiểm triển khai bảo hiểm hưu trí
qua các thời kỳ nghiên cứu (đơn vị tính: Doanh nghiệp) Doanh nghiệp bảo hiểm
triển khai Dịch vụ bảo hiểm hưu trí là Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tại ViệtNam, có đăng ký với Bộ Tài Chính về việc triển khai Dịch vụ bảo hiểm hưu trí theoquy định Số lượng Doanh nghiệp bảo hiểm triển khai Dịch vụ bảo hiểm hưu trí làmột tiêu chí đánh giá sự phát triển của Dịch vụ bảo hiểm hưu trí Số lượng Doanh
Trang 24nghiệp bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam hiện nay là 17 doanh nghiệp nhưng khôngphải Doanh nghiệp nào cũng triển khai Dịch vụ bảo hiểm hưu trí Trong số 17Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, càng có nhiều Doanh nghiệp triển khai Dịch vụbảo hiểm hưu trí thì Dịch vụ bảo hiểm hưu trí càng phát triển Ngược lại nếu nhưcàng ít Doanh nghiệp hưởng ứng triển khai Dịch vụ bảo hiểm hưu trí thì Dịch vụhưu trí càng kém phát triển.
- Thứ hai: Số lượng và tốc độ phát triển đại lý tham gia bán bảo hiểm
hưu trí qua các thời kỳ nghiên cứu (đơn vị tính: đại lý) Đại lý tham giá bán bảo
hiểm hưu trí là đại lý bảo hiểm nhân thọ, có chứng chỉ bảo hiểm nhân thọ do Bộ TàiChính quy định và ký hợp đồng đại lý cho doanh nghiệp bảo hiểm có triển khaiDịch vụ bảo hiểm hưu trí Số lượng đại lý bán Dịch vụ bảo hiểm hưu trí là tiêu chíđánh giá sự phát triển của Dịch vụ bảo hiểm hưu trí Càng có nhiều đại lý sẵn sàng
tư vấn làm hợp đồng bảo hiểm hưu trí thì Dịch vụ bảo hiểm hưu trí càng phát triển,khách hàng sẽ được tiếp cận và tư vấn nhiều hơn qua đó góp phần phát triển Dịch
vụ bảo hiểm hưu trí Ngược lại nếu như đại lý không tích cực tư vấn bảo hiểm hưutrí thì Dịch vụ bảo hiểm hưu trí càng kém phát triển
- Thứ ba: Sự phát triển của hệ thống kênh phân phối Dịch vụ bảo hiểm
hưu trí (đơn vị tính: Chi nhánh, Công ty thành viên, Văn phòng đại lỷ ) Hệ
thống kênh phân phối là mạng lưới các Công ty thành viên, Văn phòng giao dịch,Chi nhánh của các Doanh nghiệp bảo hiểm Kênh phân phối là công cụ giúp Doanhnghiệp bảo hiểm cung ứng Dịch vụ bảo hiểm ra thị trường và là tiêu chí đánh giá sựphát triển của dịch vụ Hệ thống kênh phân phối càng lớn thì Dịch vụ bảo hiểm hưutrí càng phát triển Bên cạnh đó, kênh phân phối còn phát triển theo hướng mới vàhiện đại bao gồm kênh bancassurance (hệ thống các ngân hàng liên kết bán bảohiểm nhân thọ) và kênh bán hàng trực tuyến
- Thứ tư: Số lượng và tốc độ tăng trưởng của hợp đồng bảo hiểm hưu trí
qua các thời kỳ nghiên cứu (đơn vị tính: Hợp đồng) Hợp đồng bảo hiểm hưu trí là
hợp đồng do Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ ký kết với bên mua bảo hiểm nhằmcung cấp dịch vụ bảo hiểm hưu trí cho bên mua bảo hiểm, trong đó quy định rõ điềukhoản quyền lợi, nghĩa vụ của các bên Số lượng hợp đồng bảo hiểm hưu trí là chỉ
Trang 25khai thác từ trước tới giờtiêu quan trọng đánh giá sự phát triển của Dịch vụ bảo hiểm hưu trí Chỉ tiêu nàycho biết có bao nhiêu khách hàng (bên mua bảo hiểm) đã mua bảo hiểm hưu trí Sốlượng hợp đồng bảo hiểm hưu trí càng nhiều, thì số khách hàng mua bảo hiểm hưutrí càng nhiều, Dịch vụ bảo hiểm hưu trí càng phát triển.
- Thứ năm: Số tiền bảo hiểm và tốc độ tăng trưởng số tiền bảo hiểm của
Dịch vụ bảo hiểm hưu trí qua các thời kỳ nghiên cứu (đơn vị tính: tỷ đồng) Số
tiền bảo hiểm là số tiền Doanh nghiệp bảo hiểm cam kết chi trả cho khách hàng muabảo hiểm hưu trí trong trường hợp người được bảo hiểm xảy ra rủi ro Số tiền bảohiểm chính là giá trị bảo vệ rủi ro của khách hàng mua Dịch vụ bảo hiểm hưu trí Sốtiền bảo hiểm Dịch vụ bảo hiểm hưu trí càng lớn thì Dịch vụ bảo hiểm hưu trí càng bảo
vệ được cho nhiều người với số tiền lớn, Dịch vụ bảo hiểm hưu trí càng phát triển
- Thứ sáu: Doanh thu khai thác mới và tốc độ tăng trưởng Doanh thu
khai thác mới của Dịch vụ bảo hiểm hưu trí qua các thời kỳ nghiên cứu (đơn vị tính: tỷ đồng) Doanh thu khai thác mới là chỉ tiêu doanh thu phí bảo hiểm của Dịch
vụ bảo hiểm hưu trí tính trong trong 1 năm của Doanh nghiệp bảo hiểm đối với hợpđồng bảo hiểm mới bán được
Công thức tính:
Doanh thu khaithác mới (FYP)
Phí của hợpđồng khai thácmới trong năm
Phí định kỳ năm thứ nhấtcủa hợp đồng khai thác năm
trước vắt sang năm nay
+
Thông qua chỉ tiêu Doanh thu khai thác mới, sự phát triển của Dịch vụ bảohiểm hưu trí được phản ánh qua từng thời kỳ nghiên cứu, thể hiện mức độ phát triểncũng như tốc độ phát triển của Dịch vụ bảo hiểm hưu trí trong từng Doanh nghiệpbảo hiểm và trên toàn thị trường
- Thứ bảy: Tổng doanh thu phí bảo hiểm và tốc độ tăng trưởng Tổng
doanh thu phí bảo hiểm Dịch vụ bảo hiểm hưu trí qua các thời kỳ nghiên cứu (đơn vị tính: tỷ đồng) Tổng doanh thu phí bảo hiểm là chỉ tiêu doanh thu phí của
Dịch vụ bảo hiểm hưu trí tính trong trong 1 năm của Doanh nghiệp bảo hiểm đốivới toàn bộ các hợp đồng bảo hiểm đã bán được từ trước đến nay vẫn còn thu đượcphí
Công thức tính:
Trang 26trong từng Doanh nghiệp bảo hiểm và trên toàn thị trường.
- Thứ tám: Doanh số/1 khách hàng qua các thời kỳ (đơn vị tính: triệu
đồng) Doanh số /1 khách hàng = doanh thu khai thác mới/số lượng hợp đồng phản
ánh sự phát triển theo chiều sâu của bảo hiểm hưu trí, mỗi khách hàng sẵn sàng mua
và đã bỏ ra bao nhiêu tiền để mua bảo hiểm hưu trí
1.2.2.2 Nhóm tiêu chí định tính
Sự phát triển của dịch vụ theo tiêu chí định tính được xem như là sự nhìnnhận đánh giá, cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ Có rất nhiều côngtrình nghiên cứu về vấn đề này trong đó có một số công trình tiêu biểu chỉ ra nhữngnhóm tiêu chí để đánh giá chất lượng dịch vụ như sau:
Gronroos (1984) cho rằng: “Quá trình nhận thức của khách hàng về dịch vụthể hiện ở hai khía cạnh: Chất lượng kỹ thuật (kết quả dịch vụ mang lại cho kháchhàng cái gì); Chất lượng chức năng (quá trình thực hiện các chức năng của dịch vụdiễn ra như thế nào) Năm 1994, Gronroos và các đồng sự bổ sung thêm yếu tố mốiquan hệ lâu dài với khách hàng vào nội dung của chất lượng dịch vụ được nhận thứcbởi khách hàng”
Lehtinen (1991) cho rằng: “Cần xem xét chất lượng dịch vụ ở 3 khía cạnh:Chất lượng vật chất (trang thiết bị, môi trường vật chất); Chất lượng giao dịch (sựphù hợp giữa phong cách giao tiếp với từng khách hàng riêng biệt); Chất lượngCông ty (hình thức bên ngoài của Công ty)”
Trang 27Dabholkar, Shepherd, Thorpe (2000) cho rằng “Chất lượng dịch vụ là sựđánh giá tổng thể của khách hàng dựa trên các yếu tố/thuộc tính khác nhau có liênquan đến dịch vụ, từ đó hình thành nên sự đánh giá tổng thể về chất lượng dịch vụ.Các yếu tố thuộc tính bao gồm: Sự tin cậy; Sự quan tâm cá nhân; Sự tiện nghi; Nétđặc thù”.
Parasuraman & ctg (1985): “Chất lượng dịch vụ là sự đánh giá của kháchhàng về tính siêu việt và sự tuyệt vời nói chung của một thực thể Chất lượng dịch
vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi về dịch vụ của khách hàng và nhận thức của họkhi đã sử dụng qua dịch vụ Chất lượng dịch vụ là một sự đo lường mức độ dịch vụđược đưa đến khách hàng tương xứng với mong đợi của khách hàng tốt đến đâu.Việc tạo ra một dịch vụ chất lượng nghĩa là đáp ứng mong đợi của khách hàng mộtcách đồng nhất”
Tùy thuộc vào mỗi loại dịch vụ và thời kỳ nghiên cứu khác nhau mà nộidung nhân tố đánh giá chất lượng dịch vụ có sự khác biệt Tham khảo những côngtrình nghiên cứu nêu trên, tác giả tổng hợp một số tiêu chí có thể đánh giá chấtlượng Dịch vụ bảo hiểm hưu trí như sau:
- Thứ nhất: Tiện ích sản phẩm Tiện ích khi sử dụng sản phẩm bảo hiểm
hưu trí bao gồm các giá trị gia tăng mà doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng như:thuận tiện trong việc tìm hiểu nắm bắt sản phẩm, thuận tiện trong việc làm hồ sơphát hành hợp đồng, thủ tục khám sức khỏe, sự đơn giản và nhanh chóng trong cáckhâu thay đổi điều kiện hợp đồng, đóng phí hợp đồng cũng như giải quyết khi phátsinh các sự kiện bảo hiểm
- Thứ hai: Khả năng đáp ứng sự kỳ vọng của khách hàng về nhu cầu bảo
vệ rủi ro và kế hoạch tài chính Khi sử dụng dịch vụ bảo hiểm hưu trí, khách hàng
có nhu cầu được thỏa mãn nhu cầu về bảo vệ rủi ro, về tiết kiệm và về đảm bảo kếhoạch tài chính khi về già Bên cạnh đó, các nhu cầu bổ sung liên quan tới bảo hiểmsức khỏe, y tế, nhu cầu bảo hiểm chung cho cả gia đình cũng ngày càng phát triểnđòi hỏi Dịch vụ bảo hiểm hưu trí phải đáp ứng được sự kỳ vọng Sự đáp ứng kỳvọng của khách hàng bao gồm cả về khả năng tiếp cận và nỗ lực tìm hiểu nhu cầu
Trang 28của khách hàng về Dịch vụ bảo hiểm hưu trí để không ngừng cải thiện nâng caochất lượng Dịch vụ.
- Thứ ba: Chất lượng dịch vụ khách hàng bao gồm tinh thần trách nhiệm,
sự đảm bảo và đồng cảm với khách hàng: Doanh nghiệp bảo hiểm sẵn sàng giúp
đỡ khách hàng một cách tích cực, và cung cấp Dịch vụ bảo hiểm hưu trí một cáchhăng hái Neu Dịch vụ bảo hiểm hưu trí gặp vấn đề phải được khắc phục nhanhchóng, tạo sự cảm nhận tích cực từ khách hàng Đồng thời Doanh nghiệp bảo hiểmgiải quyết các vấn đề liên quan tới Dịch vụ bảo hiểm hưu trí một cách lịch sự vàkính trọng khách hàng, thực hiện theo đúng thỏa thuận hợp đồng bảo hiểm đã ký kếtmột cách tốt nhất, thực sự quan tâm tới khách hàng và đảm bảo an toàn thông tin.Bên cạnh đó là sự chăm sóc chu đáo, quan tâm chú ý tới cá nhân khách hàng muaDịch vụ bảo hiểm hưu trí
- Thứ tư: Giá trị mang lại của Dịch vụ bảo hiểm hưu trí so với mức phí
đóng và sự trông đợi từ khách hàng Khách hàng hoàn toàn có thể so sánh chất
lượng dịch vụ thông qua giá cả, các mức phí và lãi suất khi đánh giá Dịch vụ bảohiểm hưu trí của một Doanh nghiệp bảo hiểm Nếu như cùng đáp ứng những quyềnlợi bảo vệ rủi ro và tài chính, Dịch vụ bảo hiểm hưu trí nào phải trả các khoản phíthấp hơn, lãi suất cam kết lớn hơn sẽ được khách hàng đánh giá cao hơn
- Thứ năm: Cơ sở vật chất, con người, trang thiết bị, thương hiệu uy tín
của Doanh nghiệp cung ứng Dịch vụ bảo hiểm hưu trí Dịch vụ bảo hiểm hưu trí
là dịch vụ phức tạp và lâu dài, vì vậy khách hàng rất quan tâm và tin tưởng thôngqua yếu tố hữu hình nêu trên để cảm nhận chất lượng Dịch vụ Doanh nghiệp bảohiểm có thương hiệu lớn, nguồn lực tài chính, con người, cơ sở vật chất trang thiết
bị hiện đại sẽ tạo cho khách hàng cảm nhận tốt hơn về Dịch vụ bảo hiểm hưu trí
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển Dịch vụ bảo hiểm hưu trí
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về sự phát triển của một số Dịch vụ, trong
đó các nhà nghiên cứu đã chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ
đó cụ thể như sau:
Lê Thị Minh Thùy (2020) trong Phát triển dịch vụ Bancassurance tại ngânhàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam - chi nhánh Đông Hải Dương” chỉ
Trang 29ra nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ gồm: Các nhân tố bên ngoài gồm:
Sự phát triển của công nghệ; Điều kiện kinh tế xã hội; Môi trường pháp lý; Đối thủ
cạnh tranh Các nhân tố từ chính ngân hàng gồm: Định hướng phát triển của ngân
hàng; Năng lực tài chính và trình độ kỹ thuật công nghệ của ngân hàng; Chất lượngnguồn nhân lực; Mức độ cam kết và hỗ trợ từ ngân hàng; Thông qua Bancassurance
uy tín và nguồn lực được tập trung Các nhân tố từ công ty bảo hiểm liên kết gồm:
Yêu cầu tiết kiệm chi phí hoạt động; Kết quả lựa chọn đối tác của doanh nghiệp bảohiểm; Cách thức lựa chọn thị trường mục tiêu của doanh nghiệp bảo hiểm; Sảnphẩm và công nghệ của doanh nghiệp bảo hiểm; Chiến lược phát triển của doanh
nghiệp Các nhân tố từ phía khách hàng gồm: Thu nhập của người dân; Nhận thức
và thị hiếu của khách hàng; Nhu cầu tài chính một cửa
Đỗ Phan Hiếu (2020) trong “Quản lý phát triển dịch vụ bảo hiểm phi nhânthọ của Công ty Bảo Việt Phú Thọ” chỉ ra nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển dịch
vụ gồm: Các nhân tố chủ quan gồm: Chiến lược kinh doanh; Bộ máy quản trị; Công
tác tổ chức đào tạo; Công tác tài chính kiểm tra; Sản phẩm bảo hiểm; Kỹ thuật bảo
hiểm; Phần mềm quản lý bảo hiểm Các nhân tố khách quan bao gồm: Môi trường
kinh tế; Môi trường pháp lý; Môi trường văn hóa xã hội; Khách hàng
Đinh Thị Phương Thảo (2013) trong “Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tạingân hàng TMCP bưu điện Liên Việt” chỉ ra nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển
dịch vụ gồm: Các nhân tố chủ quan gồm: Định hướng chiến lược phát triển dịch vụ
của ngân hàng trên cơ sở đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và nhucầu thị trường về dịch vụ; Hệ thống chi nhánh, kênh phân phối của ngân hàng; Chấtlượng sản phẩm cạnh tranh; Chính sách khách hàng; Cơ chế, quy trình nghiệp vụngân
hàng; Cơ sở vật chất kỹ thuật của ngân hàng và nền tảng công nghệ Các nhân tố
khách
quan gồm: Cơ sở pháp lý, chính sách vĩ mô của Nhà nước; Môi trường văn hóa-xã
hội;
Môi trường công nghệ và đặc biệt là Nhu cầu của khách hàng về dịch vụ
Với những dịch vụ thuộc lĩnh vực khác nhau tại mỗi thời kỳ sẽ có một số
Trang 30dịch vụ nêu trên tổng hợp một số nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của Dịch vụbảo hiểm hưu trí như sau:
1.3.1 Các nhân tố chủ quan
- Thứ nhất: Định hướng chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp
bảo hiểm nhân thọ Nhân tố chủ quan quan trọng nhất chính là việc Doanh nghiệp
bảo hiểm có định hướng chiến lược kinh doanh hướng tới Dịch vụ bảo hiểm hưu tríhay không Khi doanh nghiệp có chiến lược phát triển Dịch vụ bảo hiểm hưu trí thì
sẽ quyết định việc doanh nghiệp đó tham gia triển khai Dịch vụ bảo hiểm hưu trí,càng nhiều doanh nghiệp triển khai Dịch vụ bảo hiểm hưu trí thì dịch vụ càng pháttriển Đồng thời các doanh nghiệp có định hướng chiến lược kinh doanh hướng tớiDịch vụ bảo hiểm hưu trí cũng sẽ tập trung nguồn lực để xây dựng và phát triểnkinh doanh hướng tới khách hàng thông qua Dịch vụ bảo hiểm hưu trí, qua đó Dịch
vụ bảo hiểm hưu trí có cơ hội phát triển Việc doanh nghiệp có định hướng chiếnlược kinh doanh phát triển Dịch vụ bảo hiểm hưu trí hay không phụ thuộc vào việcđánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thác thức khi triển khai, cũng như nhu cầuthị trường đối với Dịch vụ bảo hiểm hưu trí
- Thứ hai: Hệ thống kênh phân phối Dịch vụ bảo hiểm hưu trí bao gồm
các kênh phân phối đại lý truyền thống và các kênh mới Khách hàng của Dịch vụ
bảo hiểm hưu trí vô cùng đa dạng về độ tuổi, giới tính, trình độ địa vị, kinh tế, địa
lý, vì vậy càng cần phát triển mạnh mẽ hệ thống kênh phân phối để tăng cường khảnăng tiếp cận cũng như cung ứng Dịch vụ bảo hiểm hưu trí Hệ thống kênh phânphối Dịch vụ bảo hiểm hưu trí chủ yếu thông qua kênh đại lý truyền thống, và một
số kênh phân phối mới như bancassurance, telesale, bán hàng online Việc pháttriển hệ thống kênh phân phối bao gồm các hoạt động mở rộng phát triển chi nhánhvăn phòng đại lý, tăng cường đào tạo sản phẩm bảo hiểm cho đại lý và tăng cườngphát triển các kênh phân phối mới
- Thứ ba: Chất lượng sản phẩm Dịch vụ bảo hiểm hưu trí Cũng giống
như mọi sản phẩm dịch vụ khác trên thị trường, chất lượng sản phẩm Dịch vụ bảohiểm hưu trí đóng vai trò lớn trong việc phát triển Việc các doanh nghiệp bảo hiểmđầu tư mạnh mẽ vào nghiên cứu phát triển sản phẩm, đáp ứng được nhu cầu ngày
Trang 31càng lớn và đa dạng của khách hàng sẽ giúp Dịch vụ bảo hiểm hưu trí phát triển,cạnh tranh với các dịch vụ bảo hiểm khác.
- Thứ tư: Chính sách chăm sóc phục vụ khách hàng mua Bảo hiểm hưu
trí Chính sách chăm sóc phục vụ khách hàng được hỗ trợ phát triển bởi tổng thể các
yếu tố về con người, cơ sở vật chất trang thiết bị doanh nghiệp, phần mềm quản lýhợp đồng, chăm sóc khách hàng mua Dịch vụ bảo hiểm hưu trí Yếu tố này giúpDịch vụ bảo hiểm hưu trí phát triển theo hướng bền vững, khi mỗi khách hàng muaDịch vụ bảo hiểm hưu trí cảm nhận được sự chu đáo, tận tình và hài lòng với dịch
vụ trong quá trình sử dụng dịch vụ Chính sách chăm sóc phục vụ khách hàng tốt cóthể thể hiện qua việc làm hồ sơ yêu cầu bảo hiểm dễ dàng thuận tiện; việc bồithường rủi ro, chi trả tiền có nhanh chóng; việc đóng phí bảo hiểm linh hoạt dễ dàng
1.3.1 Các nhân tố khách quan
- Thứ nhất: Cơ sở pháp lý, chính sách của Nhà nước đối với Dịch vụ bảo
hiểm hưu trí Pháp luật là nền tảng cơ bản cho sự phát triển của mọi thành phần
kinh tế trong đó có Dịch vụ bảo hiểm hưu trí Vì vậy nhân tố khách quan quan trọngnhất ảnh hưởng đến sự phát triển của Dịch vụ bảo hiểm hưu trí chính là việc dịch vụnày có một hành lang pháp lý thuận lợi cho sự phát triển, được các cơ quan quản lýnhà nước tạo cơ hội phát triển Cơ sở pháp lý bao gồm các văn bản luật, thông tưnghị định, hướng dẫn triển khai Dịch vụ bảo hiểm hưu trí
Thứ hai: Các nhân tố thuộc về khách hàng Khách hàng chính là yếu tố
khách quan có tiếng nói quyết định sự phát triển của Dịch vụ bảo hiểm hưu trí.Càng nhiều khách hàng quan tâm và mua Dịch vụ bảo hiểm hưu trí thì dịch vụ ngàycàng phát triển Việc quan tâm và lựa chọn mua Dịch vụ bảo hiểm hưu trí phụ thuộcvào sự cảm nhận của khách về lợi ích của Dịch vụ bảo hiểm hưu trí; Sự nhận thức
về rủi ro của khách hàng (bệnh tật, tai nạn, tuổi già hết khả năng lao động ); Điềukiện tài chính cũng như sự hiểu biết về tài chính của khách hàng; Sự hiểu biết vềchính Dịch vụ bảo hiểm hưu trí
Trang 32- Thứ ba: Môi trường kinh tế, công nghệ, văn hóa xã hội Dịch vụ bảo
hiểm hưu trí là dịch vụ hỗ trợ đời sống con người, và phụ thuộc nhiều vào sự pháttriển của nền kinh tế, văn hóa xã hội Khi kinh tế phát triển, sẽ kéo theo sự pháttriển của các dịch vụ trong đó có Dịch vụ bảo hiểm hưu trí để giúp đời sống conngười trở nên an toàn, hạnh phúc hơn Bên cạnh đó sự phát triển của khoa học côngnghệ chính là công cụ hỗ trợ cho Dịch vụ bảo hiểm hưu trí phát triển, từ khâu quản
lý hợp đồng, chăm sóc khách hàng và quảng cáo sản phẩm dịch vụ
1.4 Kinh nghiệm phát triển Dịch vụ bảo hiểm hưu trí ở một số nước trên thế giới
và bài học cho Việt Nam.
Năm 2013, Cục Quản lý giám sát bảo hiểm, Bộ Tài Chính cử Đoàn công táckhảo sát kinh nghiệm xây dựng đề án bảo hiểm hưu trí tự nguyện tại Hồng Kông vàNhật Bản Trong thời gian khảo sát, Đoàn đã tập trung tìm hiểu các thông tin liênquan về quá trình hình thành và thiết lập bảo hiểm hưu trí tại hai quốc gia này TạiHồng Kông, Đoàn cũng làm việc với một số cơ quan quản lý: Bộ Tài chính, Cơquan quản lý giám sát bảo hiểm, Ủy ban giám sát tài chính, Bộ Lao động và xã hội
để tìm hiểu về cơ chế vận hành và quản lý giám sát với loại hình nghiệp vụ này.Trong chương trình, Đoàn cũng khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp bảo hiểm,công ty quản lý quỹ là các đối tượng chủ yếu thực hiện chương trình bảo hiểm hưutrí để tìm hiểu về thực tế triển khai và khuyến nghị từ các đối tượng này Trích dẫnkết quả khảo sát và bài học kinh nghiệm thu được về phát triển Dịch vụ bảo hiểmhưu trí cụ thể như sau:
* Bảo hiểm hưu trí tại Hồng Kông
a Quỹ bảo hiểm hưu trí MPF của Hồng Kông
“Tại Hồng Kông, quy định về quỹ bảo hiểm hưu trí MPF được thành lập vàotháng 12/2000 trên cơ sở chương trình hưu trí doanh nghiệp tự nguyện ORSO đãđược triển khai từ những năm 1990 Các chương trình bảo hiểm hưu trí MPF củaHồng Kông gồm 3 loại: Chương trình Master trust, chương trình Employer-sponsored và chương trình hưu trí theo ngành Trong đó, chương trình Master trust
là chương trình phổ biến nhất Các chương trình này được quản lý bởi mô hình ủythác
Trang 334 bên: Đơn vị nhận ủy thác, doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí, công ty quản lý quỹvà
ngân hàng giám sát MPFA đưa ra quy định về điều kiện và nhiệm vụ của 4 bên
Ve thuế, Hồng Kông cho phép doanh nghiệp sử dụng lao động được miễnthuế cho cả khoản đóng góp tự nguyện và bắt buộc lên đến 15% mỗi năm Khoảnđóng góp tự nguyện của người lao động không được giảm trừ thuế
Hồng Kông vẫn đang đối mặt với những yêu cầu cần được hoàn thiện để hỗtrợ đảm bảo hưu trí phát triển như: hỗ trợ thuế đối với phần đóng góp tự nguyện,giảm các khoản phí và lệ phí, giảm việc tham gia của quá nhiều cơ quan quản lýchương trình hưu trí để tránh sự chồng chéo, trùng lắp.” Cục Quản lý giám sát bảohiểm, Bộ Tài Chính cử Đoàn công tác khảo sát kinh nghiệm xây dựng đề án bảohiểm hưu trí tự nguyện tại Hồng Kông và Nhật Bản (2013)
b Kinh nghiệm của AIA Hồng Kông về hoạt động cung cấp bảo hiểm hưu trí
“Hoạt động cung cấp bảo hiểm hưu trí của AIA Hồng Kông do công tychuyên về bảo hiểm hưu trí và tín thác - gọi tắt là AIAPT (AIA Pension andTrustee) thực hiện Đây là một công ty do AIA Hồng Kông thành lập
Bắt đầu từ những năm 1970 với 01 sản phẩm và quản lý trên cơ sở hợp đồngbảo hiểm, tính đến hết tháng 6/2013, AIAPT đang cung cấp sản phẩm bảo hiểm hưutrí cho hơn 900.000 thành viên, 41.000 khách hàng tổ chức và giữ vị trí thứ 3 về thịphần tài sản bảo hiểm hưu trí mà doanh nghiệp này đang quản lý
Trong thời gian công tác, phía AIAPT đã chia sẻ với Đoàn công tác các nộidung cụ thể liên quan đến triển khai bảo hiểm hưu trí như:
- Về sản phẩm bảo hiểm hưu trí: Công ty AIAPT hiện đang triển khai 3chương trình bảo hiểm hưu trí (AIA MPF-Basic Value Choice, MPF-Prime ValueChoice và MPF-Simple Value Choice) với những quyền lợi bảo hiểm khác nhau,phù hợp với nhu cầu của người lao động
- Về quản lý tài khoản bảo hiểm hưu trí: AIAPT có chính sách quản lý hợpnhất các tài khoản bảo hiểm hưu trí của khách hàng
Trang 34- về kênh phân phối: AIAPT hiện sử dụng 3 kênh phân phối chính là đại lý,môi giới và kênh bán lẻ.
- Về dịch vụ chăm sóc khách hàng: AIAPT rất coi trọng và luôn có sự cảitiến để đáp ứng nhu cầu của khách hàng bao gồm: các dịch vụ đổi với chủ sử dụnglao động, các dịch vụ đối với người lao động
- Về công tác tuân thủ và chế độ báo cáo: Ngoài sự quản lý của bộ phận tuânthủ trực thuộc tập đoàn, AIAPT có 01 bộ phận thực hiện rà soát, ban hành cáchướng dẫn nhằm vận hành chương trình bảo hiểm hưu trí theo đúng quy định củaMPFA và quy định của công ty.” Cục Quản lý giám sát bảo hiểm, Bộ Tài Chính cửĐoàn công tác khảo sát kinh nghiệm xây dựng đề án bảo hiểm hưu trí tự nguyện tạiHồng Kông và Nhật Bản (2013)
c Kinh nghiệm của Manulife Hồng Kông về công tác quản lý các chương trình bảo hiểm hưu trí MPF
“Manulife đã giới thiệu với Đoàn công tác nội dung chi tiết liên quan đếncông tác quản lý chương trình hưu trí của Manulife Hồng Kông với vai trò là đơn vịquản lý chương trình hưu trí của các doanh nghiệp Ở Hồng Kông, Manulife giữ vịtrí thứ 2 về thị phần tài sản bảo hiểm hưu trí Công ty hiện đang triển khai 2 chươngtrình bảo hiểm hưu trí (Manu-Lifestyle Scheme và Manulife Glogal Select Scheme)với những quyền lợi bảo hiểm khác nhau, phù hợp với nhu cầu của người lao động.Manulife đã giới thiệu với Đoàn công tác các nội dung kỹ thuật liên quan đến thiết
kế sản phẩm như: cách tính các khoản phí (phí quản lý hợp đồng, phí quản lý quỹ,phí trả cho ngân hàng giám sát, phí cho kênh phân phối ); quy định về quyền lợibảo hiểm dành cho khách hàng; quy định về đầu tư Các nội dung này được thiết
kế trên cơ sở quy định của Hồng Kông về bảo hiểm hưu trí MPF Ngoài ra, Đoàncông tác cũng làm việc và tìm hiểu về các nội dung như: công tác quản lý rủi rotrong bảo hiểm hưu trí, cách thức quản lý danh mục tài sản đầu tư, kênh phân phốisản phẩm Ngoài tính chuyên nghiệp trong cách thức quản lý hoạt động đầu tư vàquản trị rủi ro, thành công của Manulife Hồng Kông trong việc triển khai bảo hiểmhưu trí xuất phát từ việc xây dựng đội ngũ tư vấn chuyên nghiệp và có trình độ.”Cục Quản lý giám sát bảo hiểm, Bộ Tài Chính cử Đoàn công tác khảo sát kinh
Trang 35nghiệm xây dựng đề án bảo hiểm hưu trí tự nguyện tại Hồng Kông và Nhật Bản(2013)
* Bảo hiểm hưu trí tại Nhật Bản
a Quá trình triển khai:
“Nhật Bản triển khai bảo hiểm hưu trí bắt buộc từ rất sớm Tính đến năm
2010, khoảng 53,4% tổng dân số của Nhật Bản tham gia vào chương trình hưu tríbắt buộc của Chính phủ Hiện nay với cơ cấu dân số già quỹ hưu trí của Nhật đứngtrước nguy cơ mất cân đối nghiêm trọng
Đối với bảo hiểm hưu trí tự nguyện: Tương tự như các nước phát triển trênthế giới, Nhật bản triển khai chế độ bảo hiểm hưu trí tự nguyện theo hai chươngtrình cơ bản: Bảo hiểm hưu trí doanh nghiệp và bảo hiểm hưu trí cá nhân.” CụcQuản lý giám sát bảo hiểm, Bộ Tài Chính cử Đoàn công tác khảo sát kinh nghiệmxây dựng đề án bảo hiểm hưu trí tự nguyện tại Hồng Kông và Nhật Bản (2013)
b Cơ quan quản lý, giám sát
“Đối với bảo hiểm hưu trí bắt buộc: Hiện nay, quỹ hưu trí công đang được
Cơ quan hành chính độc lập quản lý quỹ hưu trí - Cơ quan hưu trí Nhật Bản (GPIF)quản lý và đầu tư
Đối với bảo hiểm hưu trí tự nguyện: Chương trình hưu trí doanh nghiệp do 2
cơ quan phối hợp quản lý: Bộ Lao động (phụ trách về nội dung của các chươngtrình hưu trí) và Bộ Tài chính - Cơ quan dịch vụ tài chính (phụ trách về việc triểnkhai, quản lý quỹ hưu trí) Chương trình hưu trí cá nhân do Cơ quan giám sát tàichính chịu trách nhiệm quản lý.” Cục Quản lý giám sát bảo hiểm, Bộ Tài Chính cửĐoàn công tác khảo sát kinh nghiệm xây dựng đề án bảo hiểm hưu trí tự nguyện tạiHồng Kông và Nhật Bản (2013)
c Phương thức triển khai và cơ chế pháp lý
“Đối với Bảo hiểm hưu trí bắt buộc, việc quản lý quỹ và đầu tư quỹ do Cơquan hưu trí Nhật bản quản lý Việc vận hành và quản lý chương trình hưu trí bắtbuộc phải tuân thủ Luật Bảo hiểm xã hội
Đối với Bảo hiểm hưu trí tự nguyện: Ở Nhật, việc triển khai bảo hiểm hưu tríđược thông qua 3 tổ chức là các công ty bảo hiểm nhân thọ, ngân hàng ủy thác và
Trang 36công ty quản lý quỹ Theo quy định của pháp luật, chương trình hưu trí doanhnghiệp của Nhật Bản cũng được phân loại thành hai chương trình cơ bản là chươngtrình hưu trí doanh nghiệp xác định trước quyền lợi hưu trí (DB) và chương trìnhhưu trí doanh nghiệp xác định trước mức đóng góp (DC) Chương trình này đượcđiều chỉnh bởi các văn bản pháp luật: Luật hưu trí doanh nghiệp xác định trướckhoản đóng góp vào năm 2001 và Luật hưu trí doanh nghiệp xác định trước quyềnlợi hưu trí vào năm 2002 Việc triển khai sản phẩm bảo hiểm hưu trí cá nhân chủyếu là do các doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp Hoạt động này được điều chỉnh bởiLuật kinh doanh bảo hiểm, Luật giao dịch và các sản phẩm tài chính và Luật bánsản phẩm tài chính.” Cục Quản lý giám sát bảo hiểm, Bộ Tài Chính cử Đoàn côngtác khảo sát kinh nghiệm xây dựng đề án bảo hiểm hưu trí tự nguyện tại Hồng Kông
Ket luận: Bảo hiểm hưu trí tại các nước trên thế giới đã hình thành và phát
triển từ rất lâu Bên cạnh khoảng cách về thời gian hình thành phát triển, thì nềnkinh tế văn hóa xã hội giữa Việt Nam và các nước cũng không giống nhau Vì vậy
Trang 37sẽ có nhiều điểm khác biệt khi triển khai Dịch vụ bảo hiểm hưu trí tại Việt Nam, tuynhiên khi tham khảo và học hỏi kinh nghiệm để bước đầu triển khai, phát triển Dịch
vụ bảo hiểm hưu trí, Việt Nam có thể lưu ý một số điểm sau:
- Thứ nhất về chính sách phát triển: Tạo dựng hành lang pháp lý thuận tiệncho doanh nghiệp để có thể dễ dàng cũng như đạt lợi ích khi triển khai Dịch vụ bảohiểm hưu trí, có chính sách ưu đãi về thuế đối với người mua bảo hiểm hưu trí
- Thứ hai về quản lý rủi ro, quản lý quỹ hưu trí cũng như tài khoản hưu trí tựnguyện của khách hàng: đảm bảo an toàn lợi ích khách hàng, đa dạng hóa đối tượngthành lập cũng như quản lý phát triển quỹ, đảm bảo năng lực quản lý quỹ và hạnchế sự chồng chéo
- Thứ ba về lực lượng bán hàng, phát triển kênh phân phối: phát triển đội ngũbán hàng chuyên nghiệp, tại Việt Nam hiện nay chính là đội ngũ đại lý bảo hiểm,đảm bảo có đầy đủ kỹ năng kiến thức kinh nghiệm để triển khai Dịch vụ bảo hiểmhưu trí
- Thứ tư về đẩy mạnh truyền thông Dịch vụ bảo hiểm hưu trí đến với ngườidân, nhiệm vụ này thuộc về phía doanh nghiệp bảo hiểm khi tập trung nguồn lựctriển khai phát triển kinh doanh Đầu tư vào những hoạt động hỗ trợ kinh doanh,thiết kế quảng cáo sản phẩm, thuyết trình hội nghị
- Thứ năm phát triển Dịch vụ bảo hiểm hưu trí với những tính năng về quyềnlợi rủi ro, quyền lợi tài chính linh hoạt, vì lợi ích khách hàng
- Thứ sáu liên quan tới quản lý giám sát, đảm bảo các hoạt động triển khaiDịch vụ bảo hiểm hưu trí được giám sát đầy đủ kịp thời theo đúng quy định củaPháp luật, và hướng dẫn của Bộ Tài Chính
Trang 38TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương 1 tổng hợp các vấn đề cơ bản về bảo hiểm hưu trí, khái niệm, đặcđiểm, vai trò của bảo hiểm hưu trí Vấn đề phát triển Dịch vụ bảo hiểm hưu trí tạiViệt Nam bao gồm khái niệm và các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển Các yếu tố ảnhhưởng đến sự phát triển của Dịch vụ bảo hiểm hưu trí tại Việt Nam và kinh nghiệmbài học phát triển Dịch vụ bảo hiểm hưu trí tại một số quốc gia trên thế giới
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA DỊCH VỤ BẢO HIỂM HƯU TRÍ
TẠI VIỆT NAM
2.1 Giới thiệu chung về hệ thống hưu trí tại Việt Nam
Hệ thống hưu trí tại Việt Nam nhằm cung cấp những chế độ phúc lợi chongười tham gia trong quá trình lao động đến khi về già, đảm bảo cuộc sống chongười lao động trước những sự kiện như ốm đau, tai nạn bệnh tật, thai sản, tuổi già
và tử vong Hệ thống hưu trí tại Việt Nam bao gồm Chế độ BHXH hiện hành,Chính sách bảo hiểm bổ sung và Chương trình bảo hiểm hưu trí tự nguyện chi tiết
theo hệ thống dưới đây:
Nguồn: tổng hợp của tác giảChi tiết các thành phần trong hệ thống hưu trí đã trình bày trên, cụ thể:
Thứ nhất: Chế độ BHXH hiện hành được thực hiện theo Luật Bảo hiểm xã
hội 2014 số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014 BHXH được áp dụng cho người laođộng là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc vàngười tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trởlên Người lao động đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc sẽ được hưởng chế độ ôm đau,Thai sản, Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, Hưu trí, Tử tuất Người lao độngđóng bảo hiểm xã hội tự nguyện sẽ được hưởng chế độ Hưu trí và Tử tuất Bảo
Trang 40hiểm xã hội Việt Nam tham gia, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xãhội, Bộ Tài chính, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đâygọi chung là cấp tỉnh) thực hiện quản lý về thu, chi, bảo toàn, phát triển và cân đốiquỹ bảo hiểm xã hội Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành và phát triển dựa trên sựđóng góp của người lao động, người sử dụng lao động, hỗ trợ từ nhà nước Quỹ bảohiểm xã hội chia làm các quỹ ốm đau và thai sản, quỹ tai nạn lao động, bệnh nghềnghiệp, quỹ hưu trí và tử tuất để thực hiện chi trả cho các quyền lợi của người laođộng khi phát sinh.
Thứ hai: Chính sách bảo hiểm bổ sung được thực hiện theo nghị định
88/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 về chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện.Chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện hình thành từ sự đóng góp của người thamgia quỹ và người sử dụng lao động dưới hình thức tài Khoản hưu trí cá nhân.Chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện áp dụng cho người lao động và người sửdụng lao động theo quy định của Bộ luật lao động, cá nhân đủ 15 tuổi trở lên, khônglàm việc theo hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật lao động Người laođộng đóng quỹ hưu trí bổ sung thông qua người sử dụng lao động hoặc trực tiếpđóng góp trên cơ sở tự túc, hoặc theo thỏa thuận với người sử dụng lao động Quỹhưu trí bổ sung thuộc chính sách bảo hiểm bổ sung được doanh nghiệp quản lý quỹthiết lập, quản lý và chủ trì hoạt động Khi tham gia bảo hiểm bổ sung, người laođộng
sẽ được hưởng chế độ hưu trí theo quy định của quỹ hưu trí tự nguyện đã tham gia
Thứ ba: Chương trình bảo hiểm hưu trí tự nguyện bao gồm Chương trình
hưu trí tự nguyện theo Đề án hình thành và phát triển Chương trình hưu trí tựnguyện theo Quyết định số 144/2014/QĐ-TTg ngày 20/01/2014 và Dịch vụ bảohiểm hưu trí theo thông tư số 115/2013/TT-BTC ngày 20/08/2013 và thông tư số130/2015/TT-BTC ngày 25/08/2015 sửa đổi thông tư 115/2013/TT-BTC Trong đóChương trình hưu trí tự nguyện theo Đề án hình thành và phát triển Chương trìnhhưu trí tự nguyện theo Quyết định số 144/2014/QĐ-TTg ngày 20/01/2014 áp dụngcho các đối tượng là người lao động và người sử dụng lao động đã tham gia đầy đủcác chương trình bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của pháp luật Dịch vụ bảohiểm hưu trí theo thông tư số 115/2013/TT-BTC ngày 20/08/2013 áp dụng cho toànthể người lao động không phân biệt đối tượng như các loại hình hưu trí đã nêu trên