1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

một số vấn đề về việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở việt nam

30 826 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số vấn đề về việc Sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Thùy Dương
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 152,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế trong nớc và quốc tế nh hiện nay thì việc nghiên cứu về chính sách tiền tệ cụ thể làcác công cụ của chính sách tiền tệ là một vấn đề có ý nghĩa lý

Trang 1

Phần I: Lời mở đầu

Trong những năm qua, Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới nền kinh tếtheo cơ chế thị trờng định hớng Xã hội chủ nghĩa và đã đạt đợc những thành tựu tolớn trên mọi phơng diện Hòa chung với công cuộc đổi mới, lĩnh vực tài chính - tiền

tệ cũng đã có những cải tổ sâu sắc về tổ chức bộ máy cũng nh về nghiệp vụ để phùhợp với cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trờng Vì vậy chính sách tiền tệ đã đợc sửdụng tối đa trong quá trình điều hành và phát triển kinh tế bởi lẽ chính sách tiền tệkhông những là một chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô quan trọng của nhà nớc trongnền kinh tế thị trờng mà nó còn ảnh hởng lớn đến các biến số vĩ mô nh: công ăn việclàm, tốc độ tăng trởng, lạm phát Do vậy, để đạt đợc các mục tiêu của chính sáchtiền tệ thì việc sử dụng các công cụ của nó có vai trò cơ bản và quyết định

Việt Nam, kể từ khi đổi mới đến nay, chính sách tiền tệ; đặc biệt là các công cụcủa nó đang từng bớc hình thành, hoàn thiện và phát huy tác dụng đối với nền kinh

tế Với đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam thì việc lựa chọn các công cụ nào, sửdụng nó ra sao ở các giai đoạn cụ thể của nền kinh tế luôn là một vấn đề thờng xuyênphải quan tâm theo dõi và giải quyết đối với các nhà hoạch định và điều hành chínhsách tiền tệ quốc gia, các nhà nghiên cứu kinh tế Đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh

tế trong nớc và quốc tế nh hiện nay thì việc nghiên cứu về chính sách tiền tệ cụ thể làcác công cụ của chính sách tiền tệ là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao.Với mục đích trau dồi kiến thức đã học và góp phần nghiên cứu, tìm hiểu về

chính sách tiền tệ, em quyết định chọn đề tài: “Một số vấn đề về việc Sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ trong điều kiện nền kinh tế thị trờng ở Việt Nam.” Nội dung, đối tợng, phạm vi nghiên cứu: Đề tài sẽ hệ thống hoá những vấn đề

có tính lý luận về chính sách tiền tệ trong nền kinh tế thị trờng đồng thời qua việckhảo sát quá trình sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam (từ năm

1989 đến nay) nhằm đánh giá thực trạng sử dụng, điều hành các công cụ đó, trên cơ

sở đó đề ra những giải pháp góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả các công cụcủa chính sách tiền tệ ở Việt Nam

Phơng pháp nghiên cứu: Lấy phơng pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử

làm phơng pháp luận cơ bản kết hợp với quan điểm tiếp cận hệ thống và sử dụng cácphơng pháp thống kê, phơng pháp so sánh, phơng pháp phân tích tổng hợp cùng cácphơng pháp nghiên cứu kinh tế khác

Trang 2

Kết cấu đề tài: Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài bao gồm 3 chơng đợc bố

Phần II: Nội dung

Chơng i: lý thuyết chung về chính sách tiền tệ quốc gia

1.1 Khái niệm, vị trí của chính sách tiền tệ

1.1.1 Khái niệm: Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô do

NHTƯ khởi thảo và thực thi, thông qua các công cụ, biện pháp của mình nhằm đạtcác mục tiêu: ổn định giá trị đồng tiền; tạo công ăn việc làm; tăng trởng kinh tế.Tuỳ điều kiện các nớc, chính sách tiền tệ có thể đợc xác lập theo hai hớng:Chính sách tiền tệ mở rộng (tăng cung tiền, giảm lãi suất để thúc đẩy sản xuất kinhdoanh, giảm thất nghiệp nhng lạm phát tăng - chính sách tiền tệ chống thất nghiệp)hoặc chính sách tiền tệ thắt chặt (giảm cung tiền, tăng lãi suất làm giảm đầu t vào sảnxuất kinh doanh từ đó làm giảm lạm phát nhng thất nghiệp tăng - chính sách tiền tệ

ổn định giá trị đồng tiền)

1.1.2 Vị trí: Trong hệ thống các công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nớc thì

chính sách tiền tệ là một trong những chính sách quan trọng nhất vì nó tác động trực

Trang 3

tiếp vào lĩnh vực lu thông tiền tệ Song nó cũng có quan hệ chặt chẽ với các chínhsách kinh tế vĩ mô khác nh chính sách tài khoá, chính sách thu nhập, chính sách kinh

tế đối ngoại

Đối với NHTƯ, việc hoạch định và thực thi các chính sách tiền tệ là hoạt

động cơ bản nhất, mọi hoạt động của nó đều nhằm làm cho chính sách tiền tệ quốcgia đợc thực hiện có hiệu quả hơn

1.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ (3 mục tiêu)

1.2.1 ổn định giá trị đồng tiền: NHTƯ thông qua CSTT có thể tác động

đến sự tăng hay giảm giá trị đồng tiền của nớc mình Giá trị đồng tiền ổn định đợcxem xét trên 2 mặt: sức mua đối nội của đồng tiền (chỉ số giá cả hàng hoá và dịch vụtrong nớc) và sức mua đối ngoại (tỷ giá của đồng tiền nớc mình so với ngoại tệ) Tuyvậy, CSTT hớng tới ổn định giá trị đồng tiền không có nghĩa là tỷ lệ lạm phát bằng 0vì nh vậy nền kinh tế không thể phát triển đợc, để có một tỷ lệ lạm phát giảm thíchhợp phải chấp nhận một tỷ lệ thất nghiệp tăng lên

1.2.2 Tăng công ăn việc làm: CSTT mở rộng hay thu hẹp có ảnh hởng trực

tiếp tới việc sử dụng có hiệu qủa các nguồn lực xã hội, quy mô sản xuất kinh doanh

và từ đó ảnh hởng tới tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế Để có một tỷ lệ thất nghịêpgiảm thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát tăng lên

1.2.3 Tăng trởng kinh tế: Tăng trởng kinh tế luôn là mục tiêu của mọichính phủ trong việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô của mình, để giữ chonhịp độ tăng trởng đó ổn định, đặc biệt việc ổn định giá trị đồng bản tệ là rất quantrọng, nó thể hiện lòng tin của dân chúng đối với Chính phủ Mục tiêu này chỉ đạt đ-

ợc khi kết quả hai mục tiêu trên đạt đợc một cách hài hoà

Mối quan hệ giữa các mục tiêu: Chúng có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợnhau, không tách rời Nhng xem xét trong thời gian ngắn hạn thì các mục tiêu này cóthể mâu thuẫn với nhau thậm chí triệt tiêu lẫn nhau Vậyđể đạt đợc các mục tiêu trênmột cách hài hoà thì NHTƯ trong khi thực hiện CSTT cần phải có sự phối hợp vớicác chính sách kinh tế vĩ mô khác

1.3 Các công cụ của chính sách tiền tệ quốc gia

1.3.1 Dự trữ bắt buộc

Khái niệm: Số tiền dự trữ bắt buộc là số tiền mà các Ngân hàng phải giữ lại,

do NHTƯ qui định, gửi tại NHTƯ, không hởng lãi, không đợc dùng để đầu t, cho vay

và thông thờng đợc tính theo một tỷ lệ nhất định trên tổng số tiền gửi của khách hàng

để đảm bảo khả năng thanh toán, sự ổn định của hệ thống ngân hàng

Trang 4

Cơ chế tác động: Việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hởng trực tiếp đến

số nhân tiền tệ (m = 1+s/(s+ER+RR)) trong cơ chế tạo tiền của các NHTM

Trong đó với: + m: số nhân tiền tệ

+ s: tỷ lệ giữa tiền mạt trong lu thông so với tiền gửi

+ ER: dự trữ vợt quá

+ RR: dự trữ bắt buộc Mặt khác khi tăng (giảm) tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì khả năng cho vay của cácNHTM giảm (tăng), làm cho lãi suất cho vay tăng (giảm), từ đó làm cho lợng cungứng tiền giảm (tăng)

Đặc điểm: Đây là công cụ mang nặng tính quản lý Nhà nớc nên giúp

NHTƯ chủ động trong việc điều chỉnh lợng tiền cung ứng và tác động của nó cũngrất mạnh (chỉ cần thay đổi một lợng nhỏ tỷ lệ dự trữ bắt buộc là ảnh hởng tới một l-ợng rất lớn mức cung tiền) Song tính linh hoạt của nó không cao vì việc tổ chức thựchiện nó rất chậm, phức tạp, tốn kém và nó có thể ảnh hởng không tốt tới hoạt độngkinh doanh của các NHTM

1.3.2 Chính sách tái chiết khấu

Khái niệm: Đây là hoạt động mà NHTƯ thực hiện cho vay ngắn hạn đối

với các NHTM thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu bằng việc điều chỉnh lãi suất táichiết khấu (đối với thơng phiếu) và hạn mức cho vay tái chiết khấu (cửa sổ chiếtkhấu)

Cơ chế tác động: Khi NHTƯ tăng (giảm) lãi suất tái chiết khấu sẽ hạn chế

(khuyến khích) việc các NHTM vay tiền tại NHTƯ làm cho khả năng cho vay củacác NHTM giảm (tăng) từ đó làm cho mức cung tiền trong nền kinh tế giảm (tăng).Mặt khác khi NHTƯ muốn hạn chế các NHTM vay chiết khấu của mình thì thựchiện việc khép cửa sổ chiết khấu lại

Ngoài ra, ở các nớc có thị trờng cha phát triển (thơng phiếu cha phổ biến

để có thể làm công cụ tái chiết khấu) thì NHTƯ còn thực hiện nghiệp vụ này thôngqua việc cho vay tái cấp vốn ngắn hạn đối với các NHTM

Đặc điểm: Chính sách tái chiết khấu giúp NHTƯ thực hiện vai trò là ngời

cho vay cuối cùng đối với các NHTM khi các NHTM gặp khó khăn trong thanh toán,

và có thế kiểm soát đựoc hoạt động tín dụng của các NHTM đồng thời có thể tác

động tới việc điều chỉnh cơ cấu đầu t đối với nền kinh tế thông qua việc u đãi tíndụng vào các lĩnh vực cụ thể Tuy vậy, hiệu qủa của công cụ này còn phụ thuộc vàohoạt động cho vay của các NHTM, mặt khác mức lãi suất tái chiết khấu có thể làmméo mó, sai lệch thông tin về cung cầu vốn trên thị trờng

Trang 5

1.3.3 Nghiệp vụ thị trờng mở

Khái niệm: Là những hoạt động mua bán chứng khoán do NHTƯ thực hiện

trên thị trờng mở nhằm tác động tới cơ số tiền tệ qua đó điều tiết lợng tiền cung ứng

Cơ chế tác động: Khi NHTƯ mua (bán) chứng khoán thì sẽ làm cho cơ số

tiền tệ tăng lên (giảm đi) dẫn đến mức cung tiền tăng lên (giảm đi)

Nếu thị trờng mở chỉ gồm NHTƯ và các NHTM thì hoạt động này sẽ làmthay đổi lợng tiền dự trữ của các NHTM (R), nếu bao gồm cả công chúng thì nó sẽlàm thay đổi ngay lợng tiền mặt trong lu thông (C)

Đặc điểm: Do vận dụng tính linh hoạt của thị trờng nên đây đợc coi là một

công cụ rất năng động, hiệu quả, chính xác của CSTT vì khối lợng chứng khoán mua(bán) tỷ lệ với qui mô lợng tiền cung ứng cần điều chỉnh, ít tốn kém về chi phí, dễ

đảo ngợc tình thế Tuy vậy, vì đợc thực hiện thông qua quan hệ trao đổi nên nó cònphụ thuộc vào các chủ thể khác tham gia trên thị trờng và mặt khác để công cụ nàyhiệu quả thì cần phải có sự phát triển đồng bộ của thị trờng tiền tệ, thị trờng vốn

Trên đây là 3 công cụ tác động gián tiếp tới qui mô lợng tiền cung ứng, trong một nền kinh tế, nếu NHTƯ sử dụng có hiệu quả các công cụ này thì sẽ không cần đến bất cứ một công cụ nào khác Tuy vậy trong những điều kiện cụ thể (các quốc gia đang phát triển; các giai đoạn kinh tế quá nóng) thì để đạt đợc mục tiêu của mình, NHTƯ có thể sử dụng các công cụ điều tiết trực tiếp sau.

1.3.4 Quản lý hạn mức tín dụng của các NHTM

Khái niệm: là việc NHTƯ quy định tổng mức d nợ của các NHTM không

đợc vợt quá một lợng nào đó trong một thời gian nhất định (một năm) để thực hiệnvai trò kiểm soát mức cung tiền của mình Việc định ra hạn mức tín dụng cho toànnền kinh tế dựa trên cơ sở là các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô (tốc độ tăng trởng, lạm phát,tiêu thụ ) sau đó NHTƯ sẽ phân bổ cho các NHTM và NHTM không thể cho vayvợt quá hạn mức do NHTƯ quy định

Cơ chế tác động: Đây là một cộng cụ điều chỉnh một cách trực tiếp đối với

lợng tiền cung ứng, việc quy định pháp lý khối lợng hạn mức tín dụng cho nền kinh

tế có quan hệ thuận chiều với qui mô lợng tiền cung ứng theo mục tiêu của NHTM

Đặc điểm: Giúp NHTƯ điều chỉnh, kiểm soát đợc lợng tiền cung ứng khi

các công cụ gián tiếp kém hiệu quả, đặc biệt tác dụng nhất thời của nó rất cao trongnhững giai đoạn phát triển quá nóng, tỷ lệ lạm phát quá cao của nền kinh tế Songnhợc điểm của nó rất lớn: triệt tiêu động lực cạnh tranh giữa các NHTM, làm giảmhiệu quả phân bổ vốn trong nến kinh tế, dễ phát sinh nhiều hình thức tín dụng ngoài

Trang 6

sự kiểm soát của NHTƯ và nó sẽ trở nên quá kìm hãm khi nhu cầu tín dụng cho việcphát triển kinh tế tăng lên.

1.3.5 Quản lý lãi suất của các NHTM

Khái niệm: NHTƯ đa ra một khung lãi suất hay ấn định một trần lãi suất

cho vay để hớng các NHTM điều chỉnh lãi suất theo giới hạn đó, từ đó ảnh hởng tớiqui mô tín dụng của nền kinh tế và NHTW có thể đạt đợc quản lý mức cung tiền củamình

Cơ chế tác động: Việc điều chỉnh lãi suất theo xu hớng tăng hay giảm sẽ

ảnh hởng trực tiếp tới qui mô huy động và cho vay của các NHTM làm cho lợng tiềncung ứng thay đổi theo

Đặc điểm: Giúp cho NHTƯ thực hiện quản lý lợng tiền cung ứng theo mục

tiêu của từng thời kỳ,đIều này phù hợp với các quốc gia khi cha có điều kiện để pháthuy tác dụng của các công cụ gián tiếp Song nó dễ làm mất đi tính khách quan củalãi suất trong nền kinh tế vì thực chất lãi suất là “giá cả” của vốn do vậy nó phải đợchình thành từ chính quan hệ cung cầu về vốn trong nến kinh tế Mặt khác việc thay

đổi quy định điều chỉnh lãi suất dễ làm cho các NHTM bị động, tốn kém trong hoạt

động kinh doanh của mình

Chơng II: Thực trạng việc sử dụngcác công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam hiện nay

2.1 Sự đổi mới trong việc thực hiên chính sách tiền tệ

Kể khi đất nớc chuyển sang nền kinh tế thị trờng thì quá trình thực hiệnchính sách tiền tệ cũng đợc xây dựng, đổi mới theo đúng ý nghĩa kinh tế của nó vàphù hợp với thực tiễn Việt Nam, thể hiện ở một số mặt sau:

- Cách xác định lợng tiền cung ứng: Nếu nh trong thời kỳ bao cấp chúng ta

chỉ quan niệm lợng tiền cung ứng cho nền kinh tế chỉ bao gồm tiền mặt và mức cung

là bao nhiêu, ở thời kỳ nào là do chính phủ phê duyệt thì ngày nay việc quan niệm vềlợng tiền cung ứng đã thay đổi: bên cạnh lợng tiền mặt (C) còn tính đến khả năng tạotiền của các NHTM, tổ chức tín dụng khác (D) Bên cạnh đó lợng tiền cung ứng hàngnăm phải dựa trên cơ sở: tỉ lệ lạm phát ớc tính, tốc độ tăng trởng kinh tế theo kếhoạch, vòng quay tiền tệ

- Việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ: Đợc sử dụng một cách

linh hoạt, phù hợp với điều kiện Việt Nam ở các thời điểm cụ thể chứ không đôngcứng, đóng băng nh thời kì bao cấp (lãi suất cố định nhiều năm )

Trang 7

2.2 Việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ những năm qua.

2.2.1 Công cụ lãi suất

ở Việt Nam, lãi suất đợc sử dụng nh công cụ chính của chính sách tiền tệ,

nó là yếu tố đánh dấu sự chuyển biến từ cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung sangcơ chế thị trờng, nó còn là công cụ quan trọng để chuyển các Ngân hàng sang cơ chế

tự hạch toán kinh doanh

Giai đoạn 1988- 1991: Chính sách lãi suất đợc thay đổi cơ bản: Lãi suất tiết

kiệm cao hơn tốc độ trợt giá (lạm phát), nâng lãi suất tiền gửi và tiền vay của các tổchức kinh tế tiến gần với lãi suất huy động tiết kiệm

Biểu1: Lãi suất cho vay vốn lu động và tốc độ lạm phát(%)

Nhờ việc tăng lãi suất huy động vốn đã thực hiện đợc chủ trơng của Nhà

n-ớc là đẩy lùi lạm phát và có cơ sở để thực hiện việc tài trợ vốn cho các xí nghiệp quốcdoanh đang lâm vào tình trạng khủng hoảng lúc bấy giờ Song xét trên bình diện toànnền kinh tế thì chúng ta đã thất bại trong lĩnh vực đầu t vì lãi suất cho vay quá cao,vốn ngân hàng ứ đọng, nền kinh tế phát sinh các hoạt động kinh tế thiếu tính cực :vay tiền chơi đề, hoặc để gửi lãi ăn chênh lệch Tình trạng đó đã dẫn đến sự đổ bể củacác HTX tín dụng còn các NHTM thực chất là phá sản nếu không có bàn tay cứugiúp của Nhà nớc

Việc thi hành chính sách lãi suất thực dơng đã đợc thực hiện nhng lại chatriệt để vì thực tế với các ngân hàng thì lãi suất cho vay lại nhỏ hơn lãi suất huy động:

Trang 8

Năm 1991 lãi suất huy động tiết kiệm 45% năm; chỉ số trợt giá bình quân 43,4% năm

; lãi suất cho vay 40,2% năm

Giai đoạn 1992-1995: Lãi suất đã bắt đầu đợc sử dụng nh công cụ chính

của CSTT, lãi suất thực dơng bắt đầu đợc duy trì từ cuối 1992, điều chỉnh linh hoạtcùng với tỉ lệ lạm phát và bám sát thị trờng (trong thời gian 2 năm từ T8/1992-T8/1994 mức lãi suất đợc điều chỉnh tới 6 lần), NHNN khống chế “sàn ” lãi suất tiềngửi, trần lãi suất cho vay và có một bộ phận cho vay theo lãi suất thoả thuận.(T8/1992: Lãi tiết kiệm loại 3 tháng: 2,3%, lãi cho vay 2,5%, lạm phát +0,3%)

Để thực hiện nguyên tắc trên đồng thời tạo điều kiện giảm lãi suất cho vay

để khuyến khích đầu t phát triển trong nền kinh tế một số biện pháp sau đây đã đợc

sử dụng:

- Thay đổi cơ cấu nguồn vốn ngân hàng theo hớng tăng nhanh nguồn vốn

có lãi suất thấp (tăng tiền gửi giao dịch, vốn tín dụng nớc ngoài, vốn ngân sách)

- Thu hẹp chênh lệch lãi suất huy động và cho vay giữa ngoại tệ và bản tệtheo hớng tăng lãi suất đối với ngoại tệ: Lãi suất cho vay ngoại tệ năm 1993 là 7,5%lên 8,5% năm 1994 và 9,0% năm 1995 và điều chỉnh hàng tháng lãi suất ngoại tệtheo biến động lãi mất thị trờng TCQT Singapore

- Qua việc quốc hội thông qua dự luật bỏ thuế doanh thu NH đã hỗ trợ choNHNN tiến thêm một bớc trong việc cải tiến lãi suất vào cuối T12/1995: Lãi suất chovay ngắn hạn tối đa giảm từ 2,1% tháng xuống 1,75% tháng; lãi suất cho vay trung -dài hạn đợc giữ nguyên không quá 1,7% tháng Mặt khác có quy định để các NHTMtuân thủ chênh lệch lãi suất bình quân giữa huy động và cho vay là 0,35% tháng

Ngoài ra, từ T8/94: Chính sách lãi suất TD còn đợc cải cách theo hớng nânglãi suất tiền gửi có kì hạn lên gần với lãi suất tiền gửi tiết kiệm của dân c cùng kì hạn

để bảo đảm lợi ích kinh tế chính đáng của họ và khuyến khích họ gỉ tiền vào ngânhàng Đồng thời thực hiện lãi suất cho vay trung, dài hạn cao hơn lãi suất cho vayngắn hạn: Năm 1994 giữ nguyên mức lãi suất cho vay ngắn hạn; nâng lãi suất chovay trung hạn, dài hạn từ 1,2% lên 1,7% tháng

Quá trình cải cách lãi suất trên đã nâng cao tính chủ động cho các NHTMtrong việc ấn định mức lãi suất cụ thể theo yêu cầu huy động vốn và nhu cầu tín dụngthị trờng, tăng sự cạnh tranh trong hoạt động tín dụng và làm giảm chi phí NH có lợicho nền kinh tế, tạo điều kiện cho các NHTM thực hiện điều chỉnh cơ cấu đầu t theomục tiêu chính sách tín dụng

Trang 9

Giai đoạn từ 1996 - nay: Đến cuối 1996, NHNN chỉ quy định các mức lãi

suất: “trần” theo thời hạn cho vay và khống chế tỷ lệ chênh lệch giữa lãi suất cho vay

và lãi suất huy động vốn bình quân chung là 0,35% (tháng); 4,2% (năm) Trongphạm vi “trần” lãi suất và tỷ lệ chênh lệch lãi suất đợc công bố, các NHTM đợc điềuchỉnh linh hoạt các mức lãi suất cho vay và huy động vốn phù hợp với quan hệ cungcầu về vốn và đặc điểm kinh doanh riêng Sau 4 lần điều chỉnh lãi suất kể từ cuối1995: Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa giảm từ 22% năm xuống 15% năm, lãi suấtcho vay trung - dài hạn giảm 21% năm xuống còn 16,2% năm Trong phạm vi “trần”lãi suất và tỷ lệ chênh lệch lãi suất đợc công bố, các NHTM đợc điều chỉnh linh hoạtcác mức lãi suất cho vay và huy động vốn phù hợp với quan hệ cung cầu về vốn và

đặc điểm kinh doanh riêng Sau 4 lần điều chỉnh lãi suất kể từ cuối 1995: Lãi suấtcho vay ngắn hạn tối đa giảm từ 22% năm xuống 15% năm, lãi suất cho vay trung -dài hạn giảm 21% năm xuống còn 16,2% năm

Mặt khác nhằm điều chỉnh các luồng vốn d thừa từ thành thị về nông thônthì lãi suất cho vay ở nông thông đợc duy trì cao hơn một chút so với lãi suất cho vay

ở thành thị

Trong năm 1997, với mục tiêu góp phần tăng trởng kinh tế và phù hợp xu ớng giảm lãi suất, việc quy định trần lãi suất cho vay giảm mạnh, T7/1997 lãi suấtcho vay ngắn hạn giảm từ 1,2% tháng xuống 1% tháng, lãi suất cho vay trung dài hạngiảm từ 1,35% tháng xuống 1,1% tháng ,chênh lệch lãi suất huy động và cho vaybình quân quy định là 0,35% tháng(4,2% năm)

h-Tuy nhiên từ quý IV năm 1997, do chịu ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tàichính tiền tệ trong khu vực, đồng USD có xu hớng lên giá và lãi xuất tiền gửi bằngUSD ở mức cao trong khi lãi suất huy động của VND ở mức thấp nên đã có hiện tợngngời gửi tiền rút VND để chuyển sang USD Nhiều tổ chức kinh tế và dân c găm giữUSD gây khó khăn cho các NHTM và tăng sức ép đối với đồng nội tệ, tiềm ẩn nguycơ bất ổn cho thị trờng tiền tệ và việc huy động vốn của các NHTM, đặc biệt là một

số NHTM cổ phần

Trớc tình hình đó, ngày 20/1/1998, thống đốc NHNN ra QĐ số 39/1998/QĐ - NHNN1 với nội dung chủ yếu là:

- Đa ra mức trần lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng bằng VND:lãi cho vay ngắn hạn từ 1%-1,2% tháng; lãi suất cho vay trung và dài hạn là 1,1-1,25% tháng; đồng thời xoá bỏ sự chênh lệch về lãi suất giữa 2 khu vực thành thị và

Trang 10

nông thôn Đó là cơ sở tăng lãi suất huy động vốn VND Hạn chế rút tiền VND tíchtrữ USD, tăng vốn cho sản xuất kinh doanh

- Quy định trần lãi suất cho vay bằng USD vẫn giữ nguyên 8,5% năm nh

tr-ớc đây đồng thời NHNN còn quy định lãi suất tiền gửi tối đa của các pháp nhân tạiTCTD nhằm hạn chế việc quản lí ngoại tệ trên tài khoản tiền gửi góp phần tăng cờngcho việc quản lí ngoại hối

- Đến cuối năm, trần lãi suất cho vay bằng USD đợc điều chỉnh giảm từ8,5% xuống 7,5%/năm để phù hợp với cân bằng lãi suất LiBOR, SiBOR hiện hành;

đồng thời góp phần mở rộng cho vay ngoại tệ đối với nền kinh tế

Nhìn chung việc điều chỉnh lãi suất trong năm 1998 là phù hợp với diễnbiến kinh tế vĩ mô và tỷ giá, nó đã có tác động tích cực đối với việc huy động vốn vàcho vay trong nền kinh tế Tổng số vốn huy động ở hầu hết các tổ chức tín dụng đềutăng lên điều đó cho thấy mối tơng quan giữa lạm phát và lãi suất tiền gửi đợc coi làtơng đối hợp lý Từ đó, quy mô tín dụng cung ứng cho nền kinh tế tăng lên đặc biệttín dụng bằng VND có tốc độ tăng cao hơn Thị trờng ngoại tệ, tỉ giá VND/USD lạitrở về trạng thái tơng đối ổn định

Bớc sang năm 1999, nền kinh tế có dấu hiệu tăng trởng chững lại, để phùhợp với chỉ số lạm phát, quan hệ cung cầu về vốn trên thị trờng tiền tệ và thực hiệngiải pháp kích cầu về đầu t của chính phủ, NHNN đã 5 lần điều chỉnh trần lãi suấtcho vay bằng VND theo xu hớng giảm: Từ 1,2%/tháng (ngắn hạn) và (1,25%/tháng -trung dài hạn) xuống mức thấp nhất là 0,85%/tháng (thành thị); 1%/tháng (nôngthôn); 1,15%/tháng (NHTMCP nông thôn - Quỹ TDND cơ sở); 0,7%/tháng (NH phục

vụ ngời nghèo) Trần lãi suất cho vay bằng USD là 7,5% năm

Sự điều chỉnh lãi suất trên là quyết định hết sức kịp thời và phù hợp với diễnbiến của nền kinh tế, kích thích tăng trởng kinh tế trong bối cảnh nguy cơ giảm phát

đang làm chậm lại tốc độ tăng trởng

Năm 2000, lãi suất trong nớc có những diễn biến khá phức tạp Thực hiệnchủ trơng kích cầu của chính phủ, lãi suất cho vay bằng VND vẫn tiếp tục đợc điềuchỉnh theo xu hớng giảm: lãi suất cho vay phổ biến gỉam từ 0,75% tháng xuống0,70% tháng Trong khi đó lãi suất ngoại tệ lại chịu tác động của thị trờng tài chínhquốc tế, trong năm 2000, lãi suất thị trờng quốc tế liên tục tăng buộc lãi suất ngoại tệtrong nớc cũng phải tăng theo (từ 3,5% năm lên 4,5% năm), nhiều khi lãi suất VNDthấp hơn lãi suất USD

Trang 11

Ngày 2/8/2000, NHNN đã quyết định thay đổi cơ chế điều hành lãi suất:chuyển từ cơ chế điều hành trần lãi suất sang cơ chế điều hành theo lãi suất cơ bản

đối với cho vay bằng VND và cơ chế lãi suất thị trờng có quản lý đối với cho vaybằng ngoại tệ: Đối với cho vay VND, lãi suất cho vay không vợt quá lãi suất cơ bản

đợc công bố hàng tháng Hiện nay, lãi suất cơ bản là 0,75%/tháng, biên độ cho vayngắn hạn là 0,3%/tháng, biên độ cho vay trung và dài hạn là 0,5%/tháng Đối với lãisuất cho vay USD, lãi suất cho vay không vợt quá lãi suất USD trên thị trờng liên NHSingapore (SiBOR) kì hạn 3 tháng đối với cho vay ngắn hạn, kì hạn 6 tháng đối vớicho vay trung dài hạn tại thời điểm cho vay cộng biên độ do thống đốc NHNN quy

định (Hiện nay biên độ cho vay ngắn hạn là 1%/năm , biên độ cho vay trung dài hạn

là 2,5%/năm ) Còn đối với các ngoại tệ khác do chiếm tỷ trọng nhỏ trong hoạt độngtiền gửi TD nên cho phép các TCTD tự xác định

Với nội dung điều hành lãi suất cơ bản nh trên cho thấy lãi suất cơ bản đợcxác định trên cơ sở lãi suất thị trờng với mức độ rủi ro thấp, đảm bảo sự kiểm soát lãisuất của NHNN, phù hợp thực tiễn Việt Nam, đây là một bớc tiến mới, bớc đi tiếptheo trong tiến trình tự do hoá lãi suất

Ngày 30/5/2002 Ngân hàng nhà nớc Việt Nam đã ban hành quyết định vềviệc thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận trong hoạt động tín dụng thơng mại bằng

đồng VN của tổ chức tín dụng với khách hàng Đây là một quyết định quan trọng, làmột trong những bớc khời đầu của việc tiến tới tự do hóa lãi suất

Quyết định có hiệu lực từ ngày 1 - 6 - 2002 Theo đó, tổ chức tín dụng xác

định lãi suất cho vay bằng đồng VN trên cơ sở cung cầu vốn trên thị trờng và mức độtín nhiệm với khách hàng vay là các pháp nhân và cá nhân Việt Nam, nớc ngoài hoạt

động tại Việt Nam

Tiếp đó NHNN tiếp tục công bố lãi suất cơ bản trên cơ sở tham khảo mứclãi suất cho vay thơng mại với khách hàng tốt nhất của nhóm các tổ chức tín dụng đểlàm tham khảo và định hớng lãi suất thị trờng Theo Thống đốc NHNN Việt Nam: Lê

Đức Thúy thì đây là một bớc chuyển biến căn bản của Việt Nam trong việc điều hànhlãi suất, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng mở rộng mạng lới để huy động, chovay vốn với mức lãi suất phù hợp với quan hệ cung cầu vốn thị trờng, đồng thời nângcao năng lực tài chính, khả năng cạnh tranh, các tiêu chuẩn an toàn và khả năng hộinhập với thị trờng tài chính tiền tệ quốc tế của các tổ chức tín dụng Việt Nam Với cơchế này, nhà nớc chính thức không can thiệp vào hoạt động điều hành lãi suất bằngviệc ấn hành lãi suất cho vay mà chỉ gián tiếp điều tiết lãi suất sao cho có lợi nhất vớinền kinh tế Cơ chế này cũng giúp giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng và giúp

Trang 12

các ngân hàng nới lỏng các biện pháp bảo đảm tiền vay (thế chấp) đối với kháchhàng.

Cũng trong ngày 30 - 05 NHNN đã có quyết định công bố lãi suất cơ bảnbằng đồng VN áp dụng từ ngày 1 - 6 - 2002 là 0.6%/tháng hay 7.2%/năm

Việc sử dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận có những u điểm sau:

- Việc áp dụng lãi suất thỏa thuận có lợi với cả ngân hàng lẫn khách hàng.Theo các ngân hàng khi áp dụng cơ chế này thì các ngân hàng có thể chủ động hơntrong vấn đề kinh doanh và khi thỏa thuận đợc mức lãi suất từ đó ngân hàng sẽ mởrộng diện cho vay, đó là điều kiện để xóa bỏ nạn tín dung đen

- Việc áp dụng lãi suất thỏa thuận sẽ giúp cho các dòng chảy vốn thôngthoáng hơn Trớc đây, lãi suất đầu ra của các NHTM bị khống chế bởi lãi suất trần doNHNN qui định Cụ thể lãi suất trần đợc tính bằng lãi suất cơ bản 0.6%/tháng cộngvới 0,3% (với loại vay ngắn hạn) và cộng với 0.5% (với loại vay dài hạn) Tại các đôthị, do các nguồn vốn dồi dào, có các ngân hàng cạnh tranh nên lãi suất cho vay th-ờng thấp, hiếm khi động đến lãi suất trần Do vậy, quyết định 546 này của NHNN sẽtạo điều kiện giúp các NHTM chủ động hơn trong việc huy động và cho vay với lãisuất thỏa thuận, làm cho các dòng chảy của vốn trở nên thông thoáng hơn

- áp dụng lãi suất thỏa thuận sẽ làm cho việc cho vay ở nông thôn tăng lên.Trớc đây, mặc dù mức cho vay đối với nông dân là rất thấp nhng các thủ tục cho vayvẫn phải làm đầy đủ nh những khách hàng lớn nên chi phí hoạt động rất cao Bởi vậy,hầu hết các tổ chức tín dụng cha mặn mà trong việc cho vay đối với hộ nông dân Saukhi quyết định 546 có hiệu lực thì các NHTM ở nông thôn có thể tăng lãi suất chovay để tránh bị lỗ, đồng thời các NHTM này sẽ điều tiết vốn huy động từ các đô thị

về nông thôn, mở rộng việc cho vay với nông dân Sự điều chỉnh này là diều kiện đểxóa bỏ nạn tín dụng đen

Nh vậy, việc áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận là một bớc đi đúng đắn Nó

sẽ tạo nhiều thuận lợi cho việc tự do hóa lãi suất sau này

Nh vậy, chính sách lãi suất linh hoạt và phù hợp cùng với việc ổn định tỷgiá VND/USD trong những năm qua không những góp phần quan trọng trong quátrình ổn định kinh tế vĩ mô mà còn làm tăng tính hấp dẫn của đồng tiền Việt Nam vàlòng tin của dẫn chúng vào hệ thống ngân hàng, giảm dần tình trạng sử dụng hay cấttrữ USD, từng bớc đẩy lùi tình trạng “đô la hoá” ở Việt Nam

Điều đó chứng tỏ rằng: Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng phát triển

ch-a cch-ao, việc sử dụng lãi suất làm công cụ điều hành chính sách tiền tệ củch-a NHNN Việt Nam là hoàn toàn cần thiết và đúng đắn.

Trang 13

2.2.2 Công cụ hạn mức tín dụng

Đây là công cụ đợc coi là cần thiết ở Việt Nam trong những năm đầu củathời kì đổi mới hiệu quả của nó đã thể hiện rõ rệt trong việc chống lạm phát Nhữngnăm 1990-1991 do lạm phát còn ở tỉ lệ cao (67,6%/tháng ) Để khống chế lạm phát,NHNN chủ trơng thi hành CSTT “thắt chặt” ngay từ đầu năm để giảm bớt lợng tiềncung ứng Dựa trên một số chỉ tiêu vĩ mô dự kiến năm 1992 là: Tăng trởng kinh tế(4,5%/năm); chỉ số lạm phát (30%/năm), NHNN đa ra hạn mức tín dụng đối với tấtcả hệ thống NHTM là 34,5% (mức tăng so với năm trớc) Bằng nhiều biện pháp kếthợp, năm đó chúng ta đã đạt đợc kết quả thực tế rất khả quan: mức tăng trởng kinh tếtăng gấp 2 lần so với dự kiến (8,65%), mức lạm phát thấp hơn dự kiến rất nhiều(17,6%), tiền tệ đi dần vào ổn định

ở thời kỳ đầu, công cụ hạn mức TD chỉ áp dụng cho 4 NHTMQD (NHNgoại thơng, NH Công thơng, NH Nông nghiệp, NH Đầu t phát triển) nhng sau vàinăm đổi mới, do quy mô mở rộng tín dụng của các NHTM quá nhanh, số lợng cácNHTM ngày càng nhiều nên NHNN quyết định áp dụng hạn mức tín dụng cho hầuhết các NHTM Tính đến cuối năm 1997 có 26 NHTM trong nớc phải áp dụng hạnmức tín dụng còn các NH nớc ngoài và NH liên doanh tuy chiếm thị phần tín dụng

đáng kể (10-15% thị phần tín dụng trong nớc) nhng vẫn cha phải áp dụng hạn mứctín dụng

Những năm sau đó, đặc biệt là từ 1995 đến 1997, NHNN vẫn tiếp tục thựchiện chính sách tiền tệ “thắt chặt” để kiểm soát lạm phát từ đó đa ra tỉ lệ hạn mức tíndụng ở mức vừa phải cho các NHTM Song kết quả thực tế cho thấy hiện tợng phổbiến là hầu hết các NHTM đều có xu hớng vợt qúa chỉ tiêu hạn mức tín dụng đợcgiao

Biểu 2: Tình hình thực hiện hạn mức tín dụng (1995-1998)

Năm

Danh mục

KHgiao Thựchiện giaoKH Thựchiện giaoKH Thựchiện giaoKH ThựchiệnTăng so với

Hiện tợng trên xuất phát từ hai nguyên nhân cơ bản sau:

- Trong giai đoạn này tốc độ huy động vốn nhàn rỗi bình quân hàng nămcủa các NHTM tăng nhanh (khoảng 26% đến 37%/năm) vì vậy các NHTM tất yếuphải thực hiện đầu t tăng trởng tín dụng đối với nền kinh tế vì con đờng để đầu t quathị trờng tiền tệ, thị trờng vốn là khó khăn trong điều kiện nớc ta lúc bấy giờ

Trang 14

- Do diễn biến lãi suất đang có xu hớng giảm trần lãi suất cho vay trong khi

đó để huy động nguồn vốn nhàn rỗi các NHTM phải tăng lãi suất huy động (do tâm

lý ngời dân không muốn gửi), điều đó làm cho chênh lệch giữa lãi suất cho vay vớilãi suất huy động giao động ở mức 0,15% - 0,25%/tháng, thấp hơn so với trớc đây0,3%-0,45%/tháng Với chênh lệch nh vậy để đảm bảo hoạt động kinh doanh đủ bù

đắp chi phí hoạt động thì buộc các NHTM phải tăng d nợ đối với nền kinh tế

Hiện tợng trên cũng góp phần giải thích tại sao trong những năm 1995

-1997 mặc dù lạm phát đợc kiểm chế ở mức thấp (bình quân 6,9%/năm) nhng nềnkinh tế vẫn đạt tốc độ tăng trởng cao 9,28%/năm

Tuy nhiên, từ năm 1998 đến nay, công cụ hạn mức tín dụng đã mất dần vaitrò của nó trong việc hạn chế sự gia tăng của tổng phơng tiện thanh toán vì lạm phát

có xu hớng giảm và thấp dần; mặt khác nhu cầu vốn của nền kinh tế ngày càng tăng

và cần phải mở rộng tín dụng để thực hiện mục tiêu tăng trởng kinh tế Do đó từ quýII/1998, NHNN đã không áp dụng công cụ này nh một công cụ thờng xuyên để điềuhành chính sách tiền tệ (mặc dù có thể coi nó nh một giải pháp tình thế khi cần thiết)

Công cụ này sẽ đợc xoá bỏ hoàn toàn khi thị trờng tiền tệ ổn định, thị trờngvốn phát triển và thị trờng mở đi vào hoạt động có hiệu quả

2.2.3 Công cụ dự trữ bắt buộc

Đây là công cụ gián tiếp điều chỉnh mức cung tiền đợc sử dụng sớm nhất ởViệt Nam (từ 1991), theo pháp lệnh Ngân hàng (1990), tỷ lệ DTBB có thể ở mức từ10% đến 30% tổng nguồn vốn huy động của các NHTM

Song trong điều kiện thực tế lúc bấy giờ khi tiềm lực của các NHTM ViệtNam còn nhỏ bé và lạm phát đã đợc kiềm chế ở mức đáng kể, nên NHNN đã quy

định tỉ lệ DTBB là 10%; đợc áp dụng cho các NHTMQD, NHTM cổ phần, chi nhánh

NH nớc ngoài, NH liên doanh và các Công ty tài chính

Qua quá trình thực hiện ban đầu cho thấy rất ít NHTM dự trữ đủ 10% nhất

là các NHTM cổ phần, do vậy để nâng cao hiệu quả của công cụ này, trong năm

1994, NHNN đã hai lần điều chỉnh tỉ lệ DTBB; quy định mức DTBB thống nhất đốivới tất cả các NHTM(có phân biệt với các loại tiền gửi khác nhau: tiền gửi, tiền tiếtkiệm không kì hạn: 13%; tiết kiện kì hạn 3,6 tháng, kì phiếu mục đích, trái phiếu:8%); đồng thời đẩy mạnh việc áp dụng quy chế phạt đối với các tổ chức tài chínhkhông thực hiện đúng quy chế DTBB

Năm 1995, NHNN quy định (T10/1995) DTBB chỉ đợc tính đối với loại tiềngửi có kì hạn từ 12 tháng trở xuống, thống nhất ở mức 10% đợc áp dụng cho tất cảcác NHTM (trừ NHTMCP nông thôn, HTX tín dụng, quỹ TDND tạm thời cha phải

Trang 15

thực hiện) Số lần tính DTBB hàng tháng tăng lên, lại bỏ dần tín phiếu kho bạc trongcơ cấu tiền gửi DTBB; tiễn gửi DTBB đợc hợp nhất với tiền gửi thanh toán của cácNHTM vào một tài khoản chung là tài khoản tiền gửi không kì hạn tại NHNN Tiềngửi dự trữ vợt đợc trả lãi 0,1% tháng (Năm 1996) Điều này đã tạo sự linh hoạt hơncho việc điều chỉnh dự trữ của các NHTM tại NHNN, góp phần gián tiếp khống chếlãi suất thị trờng và khối lợng tín dụng cung ứng để thực hiện tốt mục tiêu kiềm chếlạm phát.

Đến T12/97, Quy chế DTBB có sự thay đổi để đảm bảo tính cụ thể, rõ rànghơn: Tiền gửi DTBB tại NHNN đợc tính bình quân trong cả kì duy trì, tỷ lệ DTBBvẫn là 10%, tiền dự trữ vợt đợc hởng lãi suất 0,2% tháng (bằng VND) và 4,86% năm(đối với USD) Đồng thời NHTM nào thiếu tiền gửi DTBB trong kì duy trì sẽ bị phạttheo mức 200% lãi suất cho vay tái cấp vốn của NHNN (VND), từ đó khuyến khíchcác NHTM thực hiện đúng quy chế DTBB

Để luật NHNN có hiệu lực (từ 1/10/1998), từ cuối 1998 và trong năm 1999,quy chế DTBB có những thay đổi đáng kể: Đối tợng áp dụng đợc mở rộng thêm(quỹ TDND, NH hợp tác); số tiền DTBB phải gửi tại NHNN để thực hiện chính sáchtiền tệ quốc gia thay cho quy định về cơ cấu tiền DTBB trớc đây: 70% gửi tại NHNN

và 30% tiền mặt, ngân phiếu còn thời hạn thanh toán; việc trả lãi tiền DTBB do chínhphủ quy định

Để tạo đà khôi phục, phát triển kinh tế trong năm 1999 tỉ lệ DTBB đợc điềuchỉnh nhiều lần theo xu hớng giảm nhằm nới lỏng tiền tệ, kích thích đầu t, tiêu dùng

Biểu 3: Tỷ lệ DTBB đối với các TCTD năm 1999

1/1/99 1/3/99 1/6/99 1/7/99 1/10/99

1 NHTMQD, NHTM của đô thị, chi nhánh NH nớc ngoài,

2 NHTMCP nông thôn, NH hợp tác, Quỹ TDNDTW, khu

3 TCTD có số d tiền gửi phải tính DTBB dới 500trđ quỹ

TDND cơ sở, HTX tín dụng, NH phục vụ ngời nghèo. 0 0 0 0 0

Việc giảm tỷ lệ DTBB trên đã đóng góp phần nhất định vào việc mở rộngtín dụng, giảm chi phí hoạt động và góp phần làm dịu đi những khó khăn của cácNHTM do lãi suất giảm

Ngày đăng: 19/02/2014, 14:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2- Giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng trung ơng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng trung ơng
3- Lý thuyết tài chính tiền tệ - Minskin.4- Tạp chí Ngân hàng.5- Tạp chí Tài chính.6- Tạp chí Cộng sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết tài chính tiền tệ
Tác giả: Minskin
Nhà XB: Tạp chí Ngân hàng
7- Quản trị Ngân hàng thơng mại - Peter S.Rose Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị Ngân hàng thơng mại
Tác giả: Peter S. Rose
1- Giáo trình Lý thuyết tài chính tiền tệ Khác
8- Tạp chí điện tử VN Express Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w