HỒ SƠ DÂN SỰ CHUYÊN SÂU 27 LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN KHI LY HÔN Nguyên đơn Nguyễn Văn Đức Bị đơn Nguyễn Thị Minh Trang Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Năm, ông Nguyễn Việt Đức Ngày 15032016, ông Nguyễn Văn Đức làm Đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị Minh Trang đến Tòa án nhân dân Quận 10, TP Hồ Chí Minh yêu cầu giải quyết cho ông Đức ly hôn với bà Trang do mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu được nuôi con chung duy nhất sinh năm 2006 và khô.
Trang 1HỒ SƠ DÂN SỰ CHUYÊN SÂU 27:
LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN KHI LY HÔN
Nguyên đơn: Nguyễn Văn Đức
Bị đơn: Nguyễn Thị Minh Trang
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Thị Năm, ông Nguyễn Việt Đức
Ngày 15/03/2016, ông Nguyễn Văn Đức làm Đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị Minh
Trang đến Tòa án nhân dân Quận 10, TP Hồ Chí Minh yêu cầu giải quyết cho ông Đức ly hôn với bà Trang do mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu được nuôi con chung duy nhất sinh năm 2006 và không yêu cầu bà Trang cấp dưỡng Trong đơn khởi kiện này ông Đức không tranh chấp tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết
Ngày 25/03/2016, ông Đức nộp tạm ứng án phí ly hôn số tiền 200.000 đồng.
Ngày 28/03/2016, TAND Quận 8, TP Hồ Chí Minh thụ lý vụ án số
196/2016/TLSTHN ngày 28/03/2016
Ngày 11/04/2016, TAND Quận 8, TP Hồ Chí Minh tổ chức hòa giải, theo Biên bản
hòa giải ngày 11/04/2016, ông Đức trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: ông xin được ly hôn với bà Trang
Về con chung: ông Đức yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nhi, không yêu cầu bà Trang cấp dưỡng nuôi con
Về tài sản chung: Có 2 tài sản chung bao gồm:
- 01 lô đất A57 khu Nam Đô, phường Tân Phú, Quận 7, TP Hồ Chí Minh, chưa
có giấy chứng nhận, có giá trị khoảng 4.405.379.000 đồng
- 91.000 cổ phiếu của Công ty cổ phần khách sạn Bông Sen, mệnh giá 10.000 đồng/ cổ phiếu, tương đương 910.000.000 đồng.
Ông Đức yêu cầu Tòa án chia theo quy định của pháp luật.
Nợ chung bao gồm:
- Nợ bà Nguyễn Thị Năm số tiền 10.710.000.000 đồng để đầu tư bất động sản
- Nợ ông Nguyễn Việt Đức số tiền 1.070.000.000 đồng.
Ông Đức yêu cầu chia đôi số nợ, ông Đức chịu ½, bà Trang chịu ½.
Bà Trang trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: mâu thuẫn kéo dài nhưng chỉ là mâu thuẫn nhỏ nhặt Bà Trang không đồng ý ly hôn Mâu thuẫn gay gắt xảy ra khoảng tháng 3/2016 do ông Đức bị phát hiện co người thứ ba nên ông Đức dọn đồ ra khỏi nhà
Trang 2Về con chung: có 01 con chung là Nguyễn Đức Ý Nhi hiện đang sống với bà Trang Yêu cầu ông Đức cấp dưỡng nuôi cháu Nhi mỗi tháng thêm 20.000.000 đồng, thu nhập ông Đức mỗi tháng là 23.000.000 đồng
Về tài sản chung:
- 01 lô đất A57 khu Nam Đô, phường Tân Phú, Quận 7, TP Hồ Chí Minh, trị giá lúc mua khoảng 4.405.379.000 đồng, chưa có gấy chứng nhận.
- 01 lô đất A101 khu phố Nam Thiên, phường Tân Phong, Quận 7, TP Hồ Chí Minh trị giá lúc mua 103.307 đô la Mỹ, tỷ giá ngày 31/01/2000.
- 91.000 cổ phiếu của Công ty cổ phần khách sạn Bông Sen, mệnh giá 10.000 đồng cổ phiếu, tương đương 910.000.000 đồng.
(Toàn bộ tiền mua lô đất và mua cổ phiếu là do ông Đức tiết kiệm từ thu nhập).
- 01 căn hộ số 108 Nguyễn Tiểu La, phường 5, Quận 10, TP Hồ Chí Minh, theo
bà Trang căn nhà này có trước hôn nhân, sau này hợp thức hóa chủ quyền thì
bà Trang với ông Đức cùng đứng tên
Bà Trang yêu cầu Tòa án chia tất cả tài sản này theo quy định của pháp luật.
Về nợ chung: Không có, vì bà Trang không biết
Ngoài ra còn một số tài sản khác, bà Trang sẽ bổ sung sau
(Như vậy, tại thời điểm này những vấn đề ông Đức, bà Trang đã thống nhất bao gồm:
- Ông Đức với bà Trang có 01 con chung
- Ông Đức, bà Trang có 02 tài sản chung là lô đất A57 khu Nam Đô, khoảng 4.405.379.000 đồng và 91.000 cổ phiếu của Công ty cổ phần khách sạn Bông Sen, trị giá khoảng 910.000.000 đồng
Những vấn đề chưa thống nhất:
- Về quan hệ hôn nhân: ông Đức yêu cầu ly hôn, bà Trang không đồng ý ly hôn
- Về con chung: ông Đức muốn nuôi cháu Nhi và không yêu cầu cấp dưỡng; bà Trang cũng muốn nuôi cháu Nhi, yêu cầu cấp dưỡng 23.000.000 đồng/ tháng
- Về tài sản chung: ông Đức cho rằng chỉ có 02 tài sản chung là lô đất A57 khu Nam
Đô và 91.000 cổ phiếu Công ty Bông Sen, bà Trang cho rằng ngoài 02 tài sản trên còn có: lô đất A101 khu phố Nam Thiên và 01 căn hộ số 108 Nguyễn Tiểu La
- Về nợ chung: ông Đức đòi chia đôi số nợ hơn 11 tỷ, bà Trang không thừa nhận số
nợ này là nợ chung vì bà Trang không biết)
Ngày 15/04/2016, ông Nguyễn Văn Đức lập Đơn yêu cầu chia tài sản chung và nợ
chung, theo đó:
1 Tài sản chung:
Trang 3Về bất động sản: có 01 BĐS là lô đất số A-57, khu phố Nam Đô, phường Tân Phú, Quận 7, TP Hồ Chí Minh có diện tích 414 m2 Trị giá lô đất này là 4.405.990.000 đồng
Về cổ phiếu: 91.000 cổ phiếu của Công ty Cổ phần Bông Sen với tổng giá trị là 910.000.000 đồng
Nợ chung: 11.780.000.000 đồng, trong đó:
- Nợ bà Nguyễn Thị Năm số tiền 10.710.000.000 đồng
- Nợ ông Nguyễn Việt Đức số tiền 1.070.000.000 đồng
Đối với tài sản chung sau khi trừ đi các khoản nợ mua tài sản, đề nghị Tòa án xem xét nguồn tiền hình thành nên tài sản và công sức đóng góp khi phân chia tài sản chung theo quy định của pháp luật
(Như vậy, ông Đức giữ nguyên quan điểm như trong Biên bản hòa giải ngày 11/04/2016 theo đó vợ chồng chỉ có 2 tài sản chung và có nợ chung là hơn 11 tỷ đồng).
Ngày 22/04/2016, ông Nguyễn Việt Đức nộp tiền tạm ứng án phí số tiền 62.547.995
đồng
Ngày 19/05/2016, TAND Quận 8 tổ chức hòa giải lần 02 Theo Biên bản hòa giải
ngày 19/05/2016, ông Nguyễn Văn Đức trình bày:
- Giữ nguyên yêu cầu ly hôn
- Về con chung nếu bà Trang muốn nuôi con thì ông Đức cho bà Trang trực tiếp nuôi cháu Nhi, cấp dưỡng nuôi con đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật
- Về tài sản chung: chỉ có 02 tài sản như ông đã trình bày trước đây
- Nợ chung là 02 khoản nợ hơn 11 tỷ mà ông trình bày trước đây
Ông Đức đề nghị Tòa án giải quyết quan hệ hôn nhân trước, quan hệ chia tài sản do
bà Trang đang thu thập chứng cứ nên ông đề nghị Tòa án tách việc chia tài sản thành một vụ án chia tài sản để giải quyết sau
Bà Trang trình bày:
- Vẫn không đồng ý ly hôn
- Về con chung: vẫn yêu cầu nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng mỗi tháng thêm 20.000.000 đồng
- Về tài sản chung: 04 tài sản như đã trình bày tại phiên hòa giải trước
- Về nợ chồng: vẫn cho là không có vì bà Trang không biết
(Như vậy, tại lần hòa giải này 02 bên có quan điểm giống hệt lần trước đó).
Ngày 31/05/2016, Tòa án triệu tập bà Nguyễn Thị Năm và ông Nguyễn Việt Đức là
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia giải quyết vụ án
Trang 4Ngày 10/06/2016, Tòa án triệu tập bà Năm, ông Đức đến Tòa án để làm bản khai Ngày 27/06/2016, ông Huỳnh Ngọc Đông và bà Trương Thị Như Ánh có Bản tự khai
có nội dung: theo đề nghị của ông Nguyễn Văn Đức, ông Đông và bà Ánh có cho ông Nguyễn Văn Đức vay số tiền 4 tỷ đồng Số tiền này ông Đông, bà Ánh chuyển vào tài khoản số 0181002096349 tại VCB chi nhánh Nam Sài Gòn của ông Đức Sau đó khoảng
01 tuần (29/.3/2013) ông Đức đã trả lại số tiền 4 tỷ đồng đã vay bằng tiền mặt Đến thời điểm hiện tại, ông Đông bà Ánh và ông Đức không còn nợ gì nhau
Theo Hợp đồng vay tiền mặt ngày 25/09/2002 ký giữa người cho vay bà Nguyễn
Thị Năm, người vay ông Nguyễn Văn Đức và Người làm chứng Nguyễn Thị Mỹ Hoa thì bà Năm cho ông Đức vay tiền mặt tổng cộng 10.710.000.000 đồng chia làm 3 đợt giao tiền như sau: đợt 1 (ngày 24/05/2002): 7.540.000.000 đồng, đợt 2 (ngày 03/06/2002): 2.610.000.000 đồng, đợt 3 (25/09/2002): 560.000.000 đồng Mục đích sử dụng tiền cho vay
để đầu tư kinh doanh bất động sản và vận tải thủy Tiền lãi và nợ gốc sẽ được thanh toán trên kết quả kinh doanh khi bán tài sản theo tỷ lệ 50/50 Người vay cam kết sử dụng số tiền vay vì mục đích kinh doanh hợp pháp của mình, trả vốn gốc và lãi đúng theo nội dung của hợp đồng này
Theo Biên nhận vay tiền ngày 24/05/2002, ông Đức nhận của bà Năm
7.540.000.000 đồng có bà Nguyễn Thị Mỹ Hoa làm chứng
Theo Biên nhận vay tiền ngày 25/09/2002, ông Đức nhận của bà Năm
560.000.000 đồng có bà Nguyễn Thị Mỹ Hoa làm chứng
Theo Biên nhận vay tiền ngày 03/06/2000, ông Đức nhận của bà Năm
2.610.000.000 đồng có bà Nguyễn Thị Mỹ Hoa làm chứng
Theo Hợp đồng cho vay tiền ngày 09/07/2015 giữa bên cho vay là ông Nguyễn
Việt Đức và bên vay là ông Nguyễn Văn Đức thì ông Việt Đức cho ông Văn Đức vay
1.070.000.000 đồng, thời hạn vay từ ngày 09/07/2015 đến ngày 09/07/2016 với lãi suất vay 7%/năm, tiền lãi trả hàng tháng vào 10 ngày đầu mỗi tháng sau Ông Việt Đức muốn nhận
lại tiền cho vay phải báo trước cho ông Văn Đức ít nhất 1 tháng Ông Văn Đức cam kết sử dụng số tiền vay vì mục đích kinh doanh hợp pháp của ông Văn Đức Người làm chứng đã
ký nhưng không ghi họ tên, thông tin
Ngày 10/07/2015: bà Hoàng Thị Tuyết Minh: Tôi có nhận của ông Nguyễn Việt Đức
số tiền 562.000.000 đồng để nộp vào Ngân sách nhà nước theo giấy nộp số 61586159 của ông Nguyễn Văn Đức
Ngày 09/09/2015, bà Nguyễn Thị Hồng Cẩm: Tôi có nhận của ông Nguyễn Việt Đức
số tiền 508.000.000 đồng để nộp vào Ngân sách nhà nước theo Giấy nộp tiền số 0007387 ngày 09/09/2019 cho ông Nguyễn Văn Đức
Ngày 29/06/2016, bà Nguyễn Thị Minh Trang có Đơn yêu cầu giám định (bổ sung)
theo đó yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định tuổi tài liệu, tuổi mực đối với Hợp đồng vay tiền mặt ngày 25/09/2002, các biên nhận vay tiền ngày 24/05/2002, 03/06/2002, 25/09/2002
để xác định thời điểm lập hợp đồng vay tiền và các biên nhận vay tiền này Nay bà Trang yêu cầu bổ sung nội dung trưng cầu giám định về tuổi giấy đối với giấy lập hợp đồng vay
Trang 5tiền mặt và các giấy biên nhận vay tiền nêu trên Đề nghị trưng cầu giám định tại Viện Khoa học Hình sự (C54B) thuộc Bộ Công An
Ngày 04/07/2016, bà Nguyễn Thị Hồng Cẩm, nhân viên kế toán là người làm
chứng trong vụ án ly hôn và chia tài sản khi ly hôn giữa ông Nguyễn Văn Đức với bà Nguyễn Thị Minh Trang có Bản tự khai: Ngày 09/09/2015 ông Nguyễn Văn Đức có chở bà Cẩm đi nhận tiền của ông Nguyễn Văn Đức với số tiền là 508.000.000đ (năm trăm lẻ tám triệu đồng) tại Văn phòng công ty cổ phần Hoàng Hải Thủ Mỹ Sau đó bà Cẩm đem tiền để nộp vào Kho bạc Nhà nước quận 7 Cùng ngày 09/09/2015 bà Cẩm có ký xác nhận, nhận tiền của ông Nguyễn Văn Đức
Ngày 04/07/2016, bà Nguyễn Thị Mỹ Hoa, hưu trí là người làm chứng trong vụ án
ly hôn và chia tài sản khi ly hôn có Bản tự khai:
“- Ngày 24/05/2002 bà Năm có nhờ tôi đi sang ngân hàng ACB rút số tiền là 7.540.000.000đ (bảy tỷ năm trăm bốn mươi triệu đồng chẵn) đồng thời bà Năm cho ông Nguyễn Văn Đức vay và tôi có ký xác nhận làm chứng.
- Ngày 03/06/2002 tôi cùng bà Năm và ông Đức cùng ra ngân hàng ACB rút 2.610.000.000đ (Hài tỷ sáu trăm mười triệu đồng chẵn) bà Năm cho ông Đức vay lần 2 và tôi cũng viết tay giấy vay tiền làm chứng.
- Ngày 25/09/2002 tôi và bà Năm, ông Đức ra ngân hàng ACB rút 560.000.000đ (Năm trăm sáu mươi triệu đồng chẵn) và bà Năm cho ông Đức vay tiếp lần 3.
Sau đó bà Năm có nhờ tôi hệ thống lại tất cả các lần vay tiền (viết tay) bằng hợp đồng vay tiền mặt cùng ngày”.
Ngày 22/09/2016, bà Nguyễn Thị Minh Trang có Đơn đề nghị trưng cầu giám định:
Trong quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Văn Đức đã cung cấp chứng cứ cho Tòa án là Hợp đồng vay tiền ngày 25/09/2002 và các biên nhận giao nhận tiền viết tay vào các ngày 24/05/2002; 03/06/2002 và 25/09/2002 nhằm mục đích chứng minh việc ông Đức có vay
(nợ) bà Nguyễn Thị Năm (chị ruột ông Đức) số tiền 10.710.000.000 đồng (Mười tỷ bảy
trăm mười triệu đồng) để xác định đây là nợ chung cùa vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Trang phải có trách nhiệm với món nợ này
Thế nhựng, bà Trang chưa bao giờ hay biết gì về món nợ này; ông Đức chưa bao giờ bàn bạc hỏi ý kiến bà Trang về việc vay mượn tiền; mục đích vay mượn tiền để làm gì Bà Trang hoàn toàn không biết, không tham gia hay chứng kiến gì và thực tế cũng không thể có chuyện vay mượn số tiền quá lớn này Bởi thời điểm vay tiền này vợ chồng
bà Trang không thiếu tiền, không có nhu cầu đầu tư gì và nếu ông Đức có vay tiền thì số tiền đó cũng không đưa về để sử dụng vào mục đích thiết yếu gì của gia đình
Bà Trang cho rằng đây kà việc ông Nguyễn Văn Đức ngụy tạo chứng cứ khi nộp đơn xin ly hôn để trục lợi cho bản thân trong việc phân chia tài sản chung
Theo Chứng thư thẩm định giá số 050/2016/HĐ-TĐG ngày 14/07/2016 gửi bà
Nguyễn Thị Minh Trang, căn cứ hợp đồng dịch vụ thẩm định giá được ký kết giữa bà Nguyễn Thị Minh Trang và Công ty cổ phần Thẩm định giá Việt Thanh thì: Tài sản thẩm định giá là 03 BĐS bao gồm: Nhà số 108 Nguyễn Tiểu La, Lô đất số A57 khu phố Nam Đô,
Trang 6Lô đất số A-01 khu phố Nam Thiên, mục đích tham khảo để phục vụ cho công tác xét xử của Tòa án Thời điểm thẩm định giá là tháng 07/2016, cơ sở giá thị trường
T
T
Hạng mục Giá trị QSDĐ Giá trị công
trình
Tổng giá trị
1 108 Nguyễn Tiểu La, Q10 6.850.516.693 965.54.834 7.815.671.527
2 Lô A57 khu phố Nam Đô,
Q7
3 Lô A101 khu phố Nam
Thiên, Q7
Ngày 01/11/2016, bà Nguyễn Thị Minh Trang có Đơn yêu cầu phản tố theo đó:
- Về quan hệ hôn nhân: đồng ý ly hôn với ông Đức
- Về con chung: xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nhi, đề nghị ông Đức cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 20.000.000 đồng (thu nhập ông Đức trên 50.000.000 đồng/tháng)
- Về tài sản chung: Lô đất A57 khu phố Nam Đô ông Đức đã xác nhận tài sản chung Các tài sản khác được hình thành trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản ông Đức tự nguyện đưa vào làm tài sản chung của vợ chông gồm: nhà đất 108 Nguyễn Tiểu La, Lô đất A101 khu phố Nam Thiên
Bà Trang còn trình bày thêm so với những lần trước có tài sản chung là: khoảng 1.000.000 cổ phần tại Công ty cổ phần hàng hải Phú Mỹ ông Đức đứng tên (10 tỷ đồng); cổ phần ông Đức đang sở hữu tại Công ty cổ phần bao bì Tiền Giang (số lượng, giá trị cổ phần sẽ cung cấp sau)
Bà Trang còn trình bày thêm: Tháng 6/2013 bà với ông Đức có bán lô đất A56 Nam Đô Quận 7 với số tiền 28.000.0000.000 đồng nhưng giá ghi trên hợp đồng công chứng là 10.000.000.000 đồng, bên mua chuyển thanh toán tiền mua đất vào tài khoản ông Đức 14.000.000.000 đồng, ông Đức chuyển vào tài khoản của bà Trang 5.000.000.000 đồng còn lại ông Đức cất giữ
Tổng giá trị tài sản là 57.061.155.493 đồng Bà Trang muốn chia 28.500.000.000 đồng
- Về nợ chung: không có
- Ngày 16/03/2017, Tòa án tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai
chứng cứ:
Nguyên đơn nộp các tài liệu, chứng cứ sau:
- Đơn khởi kiện;
- Giấy khai sinh của Nguyễn Đức Ý Nhi (bản sao);
- Giấy chứng nhận kết hôn số 21, quyển 01/2001 cấp ngày 10/04/2001 (bản sao);
Trang 7- Hộ khẩu của Nguyễn Thị Minh Trang, Nguyễn Văn Đức và Nguyễn Đức Ý Nhi (bản sao), giấy CMND của Nguyễn Văn Đức;
- Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 1327/04 do UBND Quận 10 cấp ngày 04/08/2002;
- Họp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 0040-2000-PMH/MBĐ-H.13 ngày 20/10/2000 (Lô đất số A1-01, khu phố Nam Thiên, phường Tân Phong, Quận 7) (bản photo);
- Hóa đơn số 000186 ngày 31/10/2000 (bản photo);
- Hợp đồng cho vay tiền ngày 09/07/2015 giữa ông Nguyễn Việt Đức và ông Nguyễn Văn Đức (bàn photo đã đối chiếu bản chính);
- Biên nhận vay tiền của ông Nguyễn Văn Đức ngày 03/06/2002 (bản photo đã đối chiếu bản chính);
- Biên nhận vay tiền của ông Nguyễn Văn Đức ngày 25/09/2002 (bản photo đã đối chiếu bản chính);
- Biên nhận vay tiền của ông Nguyễn Văn Đức ngày 24/05/2002 (bản photo đã đối chiếu bản chính);
- Hợp đồng vay tiền mặt của bà Nguyễn Thị Năm và ông Nguyễn Văn Đức ngày 25/09/2002 (bản photo đã đối chiếu bản chính);
- Giấy nộp tiền vào Ngân sách nhà nước ngày 10/07/2015
Bị đơn biết các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn nộp và bị đơn nộp các tài liệu chứng cử sau:
- Đơn phản tố ngày 01/11/2016;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 00962 do UBND Quận 7 cấp ngày 25/03/2013 (bản photo);
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không có tài sản gắn liền với đất) số
004282 công chứng ngày 25/06/2013 (bản photo);
- Chứng thư thẩm định giá số 050/2016/HĐ-TĐG ngày 14/07/2016;
- Vi bằng số 1211/2016/VB-TPLQ5 ngày 13/09/2016 (bản sao);
- Tài liệu đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2011, năm 2012 (bản sao)
- Các văn bản Tòa án thu thập theo yêu cầu của bị đơn;
- Công văn số 4143 /CCT-KTr2 ngày 13/09/2017, công văn số 3717/CCT- KTr2 ngày 08/11/2016 của Chi cục Thuế quận 7;
- Công văn của Công ty cổ phần bao bì Tiền Giang, hồ sơ theo công văn 2101/SCB-TĐG 16;
- Văn bản số 360/SCB-TĐG.18 ngày 31/01/2018 của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn ngày 31/01/2018
Trang 8Ông Nguyễn Hữu Thiện - Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Năm là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - biết các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn nộp và không có ý kiến gì đối với tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn, bị đơn nộp
và nộp các tài liệu, chứng cứ sau:
- Hợp đồng vay tiền mặt của bà Nguyễn Thị Năm và ông Nguyễn Văn Đức ngày 25/09/2002 (bản photo đã đối chiếu bản chính)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - ông Nguyễn Việt Đức biết các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn nộp và không có ý kiến gì đối với tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn, bị đơn nộp và nộp các tài liệu, chứng cứ sau:
- Họp đồng cho vay tiền ngày 09/07/2015 giữa ông Nguyễn Việt Đức và ông Nguyễn Văn Đức (bản photo đã đối chiếu bản chính);
- Biên nhận vay tiền của ông Nguyễn Văn Đức ngày 03/06/2002 (bản photo đã đối chiếu bản chính);
- Biên nhận vay tiền của ông Nguyễn Văn Đức ngày 25/09/2002 (bản photo đã đối chiếu bản chính);
- Biên nhận vay tiền của ông Nguyễn Văn Đức ngày 24/05/2002 (bản photo đã đối chiếu bản chính)
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung của đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung Bị đơn vẫn giữ yêu cầu phản tố, đơn phản tố bổ sung
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Nguyễn Việt Đức, ông Nguyễn Hữu
Thiện - Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Năm vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập và không có bổ sung tài liệu, chứng cứ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần hàng hải Phú Mỹ - do ông Nguyễn Văn Đức là người đại diện theo pháp luật: ông Đức nộp bổ sung Giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh của Công ty và không yêu cầu Tòa án triệu tập đương sự khác và
có gửi tài liệu, chứng cứ cho bị đơn
Ngày 16/03/2017, TAND Quận 10 tổ chức hòa giải, ông Đức với bà Trang thuận tình
ly hôn, các vấn đề khác:
Bà Trang:
Về con chung: Có 01 con, Nguyễn Đức Ý Nhi sinh năm 2006 do tôi trực tiếp nuôi dưỡng, về cấp dưỡng nuôi con đồng ý theo trình bày của ông Đức là ông Đức có trách nhiệm gửi vào ngân hàng 10 tỷ đồng, ông Đức và bà Trang cùng dứng tên sở hữu số tiền này Bà Trang có quyền được nhận toàn bộ số tiên lãi đê chi phí các khoản tiền học phí, tiền nuôi con chung Khi trẻ Nguyễn Đức Ý Nhi tròn 23 tuổi, số tiền 10 tỷ đồng được chuyển sang tên trẻ Nguyễn Đức Ý Nhi Nếu tôi sử dụng tiền lãi sai mục đích như đã thỏa thuận thì ông Đức được quyền thay đổi quyền nuôi con và thay đổi quyền nhận và sử dụng tiền lãi
để nuôi con ăn học
Về tài sản chung: đồng ý theo trình bày cùa ông Đức là tôi và ông Đức đồng sở hữu căn nhà tại địa chỉ 108 Nguyễn Tiểu La, Phường 5, Quận 10, Tp Hồ Chí Minh cho đến
Trang 9khi con tên Nguyễn Đức Ý Nhi tròn 18 tuổi, hai bên sẽ chuyển quyền sở hữu căn nhà nêu trên cho con tên Nguyễn Đức Ý Nhi đứng tên sở hữu căn nhà Tôi được quyền cho thuê phàn diện tích tầng trệt của căn nhà
Bà Trang được quyền sở hữu 91.000 cổ phiếu của Công ty cổ phần Bông Sen: ước tính 910.000.000 đồng
Về tài sản chung: Tôi đồng ý tài sản riêng của ông Đức là: Lô đất A-57, khu phố Nam Đô, phường Tân Phú, Quận 7 Với điều kiện lô đất A1-01 khu phố Nam Thiên, phường Tân Phong, Quận 7 là tài sản chung của vợ chồng, tôi yêu cầu khi con tròn 23
tuổi thì giá trị lô đất của tôi chuyển giao cho con chung Ngoài ra, tôi không tranh chấp các tài sản nào khác
Các khoản nợ ông Đức tự chịu trách nhiệm thanh toán Nếu ông Đức không đồng ý thì đề nghị xét xử theo luật
Nếu hòa giải thì ông Đức đồng ý.
Ông Đức và bà Trang đồng sở hữu căn nhà tại địa chỉ 108 Nguyễn Tiểu La, phường
5, quận 10, Tp.HCM cho đến khi con tên Nguyễn Đức Ý Nhi tròn 18 tuổi, hai bên sẽ chuyển quyền sở hữu căn nhà nêu trên cho con tên Nguyễn Đức Ý Nhi dứng tên sở hữu căn nhà
Bà Trang được quyền cho thuê phần diện tích tầng trệt của căn nhà
Ông Đức được sở hữu Lô đất A-57 Khu phố Nam Đô, phường Tân Phú, Quận 7 và
Lô đất AI-01 Khu phố Nam Thiên, phường Tân Phong, Quận 7 theo Giấy chứng nhận
00232 QSDĐ/3619 QTĐ 2005 ngày 12/05/2005 của ủy ban nhân dân Quận 7
Ông Đức đồng ý để bà Trang được quyền sở hữu 91.000 cổ phiếu của Công ty cố phần Bông Sen: ước tính 910.000.000 đồng
+ Ông Đức đồng ý thanh toán các khoản nợ cho ông Nguyễn Việt Đức, bà Nguyễn Thị Năm
Nếu bà Trang thêm yêu cầu chuyển lô đất AI-01, Khu phố Nam Thiên, phường Tân Phong, Quận 7 là tài sản chung của vợ chồng, yêu cầu khi con tròn 27 tuổi thì 1/2 giá trị lô đất của bà Trang chuyển giao cho con chung thì ông Đức rút lại toàn bộ đề nghị ở trên, yêu cầu Tòa xét xử theo quy định pháp luật
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yều cầu độc lập:
l Ông Nguyễn Việt Đức: Yêu cầu ông Nguyễn Văn Đức và bà Nguyễn Thị Minh Trang
liên đới trả cho ông số tiền 1.170.000.000 đồng, trong đó số gốc là 1.070.000.000 đồng và
tiền lãi là 100.000.000 (một trăm triệu) dồng tính đến ngày 09/07/2015 và tiền lãi phát sinh theo họp đồng từ ngày 10/07/2015 đến khi xét xử theo mức lãi suất 7%/năm
Ông Nguyễn Hữu Thiện đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Năm: Yêu cầu ông
Nguyễn Văn Đức và bà Nguyễn Thị Minh Trang liên đới trả cho bà số tiền 22.172.859.977
đồng, trong đó số tiền gốc là 10.710.000.000 đồng và tiền lãi là (26.930.609.954 -4.004.890.000)*50% = 11.462.859.977 đồng (Lãi theo thỏa thuận là 50/50 từ chênh lệch kết quả kinh doanh) Bà Năm xác định cho vợ chồng ông Đức, bà Trang vay
Trang 10Ngày 24/03/2017, bà Nguyễn Thị Minh Trang có Quan điểm về yêu cầu độc lập của
bà Nguyễn Thị Năm:
Bà không đồng ý với yêu cầu của bà Năm buộc bà liên đới trả 22.172.859.977 đồng cho bà Năm bởi:
1 Bà Trang cho rằng đây là sự dàn dựng của chị em ông Đức - bà Năm nhằm chiếm đoạt tài sản của bà Trang Bà Trang không biết, không thỏa thuận, không ký nhận vay, nhận nợ hay bất kỳ thỏa thuận hùn hạp, góp vốn kinh doanh, ăn chia gì với bà Nguyễn Thị Năm nên bà Năm cho ai vay, hùn hạp với ai thì đi tìm người đó, mà chia
2 Việc giữa ông Nguyễn Văn Đức và bà Nguyễn Thị Năm có thỏa thuận vay mượn, hùn hạp làm ẵn gì không bà Trang không hề biết Hơn 15 năm chung sống với nhau ông Đức chưa bao giờ công khai cho bà Trang biết hay yêu cầu bà Trang xác nhận gì về món
nợ vay, hùn hạp làm ăn với bà Năm
3 Theo các quy định của pháp luật dân sự; hôn nhân và gia đình nếu ông Đức có thỏa thuận vay tiền, kinh doanh chung với bà Năm thì đó là thỏa thuận riêng giữa ông Đức
và bà Năm Đây không phải là giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình; bà Trang không có thực hiện các thủ tục ủy quyền đại diện gì cho ông Đức nên không thể lôi
bà Trang vào bắt bà Trang phải phải liên đới chịu trách nhiệm
Ngày 20/04/2017, bà Trang có lập Đề nghị phương án phân chia tài sản vợ chồng khi ly hôn, theo đó bà Trang khai:
- BĐS: nhà đất 108 Nguyễn Tiểu La, Quận 10; Lô A101 khu phố Nam Thiên, Quận 7; Lô
A57 khu phố Nam Đô Quận 7 có giá trị 59.874.432.619 đồng Theo chứng thư thẩm định
giá số 050/2016/HĐ-TĐG ngày 14/07/2016 của Công ty CP Thẩm định giá Việt Thanh (Công ty thẩm định giá SG thẩm định giá thấp hơn nhưng không thẩm định lô A101 Khu phố Nam Thiên)
- 30.000 Cổ phần ông Đức đang sờ hữu tại Công ty cổ phần bao bì Tiền Giang tương
đương 300.000.000 đồng (chiếm 2,52% vốn điều lệ).
- 16.900 cổ phần tại Công ty cổ phần hàng hải Phú Mỹ do bà Trang đứng tên tương
đương 169.000.000 đồng.
- 91.000 cổ phiếu của Công ty cổ phần Bông Sen bà Trang đang nắm giữ tương đương
910.000.000 đồng
- 14.000.000.000 đồng là tiền bán lô đất A-56 khu phố Nam Đô, phường Tân Phú, quận
7 vào năm 2013 (ông Đức chuyển vào tài khoản của bà Trang 5.000.000.000 đồng còn lại ông Đức cất giữ 9.000.000.000 đồng)
- Tổng giá trị tài sản của vợ chồng tạo lập được trong thời kì hôn nhân là 85.253.432.619 đồng (làm tròn 85.253.000.000 đồng) chưa tính khoản tiền lãi, tiền cổ tức hàng chục tỷ
đồng mà ông Đức có được từ gửi tiết kiệm, đầu tư cổ phiếu
- Nay vợ chồng ly hôn, tôi yêu cầu giải quyết chia tài sản chung vợ chồng khi ly hôn theo quy định pháp luật: tài sản chung chia mỗi người một nửa
2 Phương án chia: