1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN NỘI BỘTẠI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

104 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 150,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

kinh tế thế giới, hệ thống NHNN Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thứclớn đòi hỏi phải được củng cố, hoàn thiện hơn nữa trên nhiều lĩnh vực mới cóthể thực hiện được vai trò là cơ quan

Trang 2

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

LÊ THỊ MAI HƯƠNG

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

MÃ SỐ: 60.31.12

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG

Hà Nội - 2011

Trang 3

Lời mở đầu: 1

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về kiểm toán, kiểm toán nội bộ 4

Ngân hàng Trung ương

∙ ∙ 2 3 ∙ Kiểm toán nội bộ Ngân hàng Trung ương 22

1∙2∙4∙ Chất lượng kiểm toán nội bộ - Những nhân tố ảnh hưởng đến 25

chất lượng kiểm toán nội bộ Ngân hàng Trung ương

1∙3∙ Kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng Trung ương một số nước và 27

bài học cho Việt Nam

1∙3∙1∙ Kiểm toán nội bộ Ngân hàng T rung ương một số nước 27

1∙3∙2∙ Một số điểm nổi bật, khái quát chung qua nghiên cứu mô hình 33

kiểm toán Ngân hàng Trung ương các nước

1

∙ ∙ 3 3 ∙ Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 34

Chương 2: Thực trạng hoạt động kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng 37 Nhà nước Việt Nam

2∙2∙ Thực trạng hoạt động kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng Nhà 40

nước Việt Nam

2∙2∙1∙ Quá trình phát triển hoạt động kiểm toán nội bộ Ngân hàng Nhà 40

nước Việt Nam

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng kiểm toán nội bộ tại Ngân 65 hàng Nhà nước Việt Nam

Trang 4

3.2 Định hướng cho việc nâng cao chất lượng kiểm toán nội bộ của 67

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

3.3 Một số giải pháp nâng cao chấtlượng kiểm toán nội bộ Ngân 69

hàng Nhà nước Việt Nam

3.3.1 Nhóm giải pháp về tổ chức 693.3.2 Nhóm giải pháp về nghiệp vụ 723.3.3 Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực 84

3.4.1 Kiến nghị với Chính phủ 87

3.4.3 Kiến nghị với các Bộ, Ngành 89

Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 5

DANH MỤC KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT

NHTW Ngân hàng Trung ương

NHNN Ngân hàng Nhà nước

KTNB Kiểm toán nội bộ

KTNN Kiểm toán Nhà nước

Bảng 3.2 Phân tích giữa việc đánh giá hệ thống kiểm soát và đánh75

giá rủi roBảng 3.3 Ma trận đánh giá rủi ro (Khả năng xảy ra một sự kiện) 77Bảng 3.4 Minh họa thủ tục kiểm toán đối với nghiệp vụ tín dụng 80

Trang 7

nước đang đẩy mạnh công cuộc cải cách nền kinh tế một cách sâu sắc và toàndiện Một trong những nội dung đặc biệt quan trọng là yêu cầu đổi mới hoạtđộng Ngành ngân hàng - một lĩnh vực tiềm ẩn rất nhiều rủi ro Việc phát hiện

và phòng ngừa rủi ro trong nội bộ ngân hàng, bảo vệ ngân hàng hoạt động antoàn hiệu quả là nhiệm vụ của kiểm soát nội bộ Tuy nhiên, để có thể đánh giáđược chất lượng hoạt động kiểm soát nội bộ thì Ngân hàng Trung ương(NHTW) phải dựa vào kiểm toán nội bộ (KTNB) KTNB không chỉ đánh giácác yếu kém của hệ thống quản lý mà còn đánh giá các rủi ro cả trong vàngoài tổ chức

Trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ViệtNam đã cùng với Ngành ngân hàng thành công trong việc góp phần đưa đấtnước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô,kiểm soát lạm phát, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh và đầu

tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giải quyết vấn đề xã hội Theo yêu cầuquản lý và phục vụ cho hoạt động quản lý ngân hàng, KTNB trong quá trìnhhoạt động đã mang lại nhiều kết quả tốt, góp phần đưa hoạt động hệ thốngNHNN đi vào nề nếp, ngăn chặn và phát hiện những gian lận, giảm thiểu saisót trong hoạt động ngân hàng, khuyến khích hiệu quả hoạt động của các đơn

vị thuộc NHTW, nhằm đạt được sự tuân thủ các chính sách và quy trình đươcthiết lập

Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, KTNB NHNN Việt Nam cũng đãbộc lộ một số bất cập, thiếu kinh nghiệm cả về lý luận lẫn thực tiễn Giảiquyết tốt vấn đề này sẽ đảm bảo được an toàn và nâng cao hiệu quả hoạt độngcủa hệ thống NHNN Việt Nam, đặc biệt trong thời kỳ hiện nay khi hội nhập

Trang 8

kinh tế thế giới, hệ thống NHNN Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thứclớn đòi hỏi phải được củng cố, hoàn thiện hơn nữa trên nhiều lĩnh vực mới cóthể thực hiện được vai trò là cơ quan Chính phủ, là NHTW thực hiện chứcnăng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng, là ngân hàng pháthành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng (TCTD).

Xuất phát từ lý do trên mà tác giả đã lựa chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” làm luận văn

thạc sỹ của mình với mong muốn sẽ đóng góp cả về mặt lý luận cũng nhưthực tế cho hoạt động KTNB NHNN Việt Nam

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm:

- Góp phần hoàn thiện thêm những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm toán,

kiểm nội bộ của NHNN

- Phân tích thực trạng hoạt động KTNB trong những năm qua tại NHNN

Việt Nam, từ đó đánh giá những kết quả đạt được cũng như những tồn tại vàtìm ra nguyên nhân của tồn tại

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng KTNB tại NHNN

Việt Nam trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi

Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận về kiểm toán nói chung, tậptrung nghiên cứu lý luận KTNB của NHTW, mô hình KTNB NHTW một sốnước

Nghiên cứu thực trạng KTNB tại NHNN Việt Nam thời gian qua, đềxuất các giải pháp nâng cao chất lượng KTNB tại NHNN Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả đã sử dụng một số phương pháp sau:

- Phương pháp duy vật biện chứng;

Trang 9

- Phương pháp thống kê phân tích, so sánh và đánh giá;

- Phương pháp tư duy logic trong nghiên cứu khoa học;

để nghiên cứu một cách có hệ thống lý luận và thực tiễn liên quan đếnKTNB NHTW; phân tích, so sánh tổ chức, chính sách KTNB NHTW một sốnước trên thế giới để rút ra kinh nghiệm ở Việt Nam

5 Kết cấu của đề tài

Tên đề tài: “Nâng cao chất lượng kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục;phần nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về kiểm toán, kiểm toán nội bộ Ngân hàng Trung ương.

Chương 2: Thực trạng hoạt động kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Trang 10

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM TOÁN, KIỂM TOÁN NỘI BỘ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 1.1 Những vấn đề cơ bản về kiểm toán

1.1.1 Khái niệm về kiểm toán

Trên thế giới, thuật ngữ kiểm toán đã có từ lâu, từ khi xuất hiện nhu cầuxác định tính trung thực, độ tin cậy của thông tin trong báo cáo tài chính, kếtoán và thực trạng tài sản của một chủ thể trong quan hệ kinh tế Hiện nay, cónhiều định nghĩa khác nhau về kiểm toán

Theo định nghĩa của Liên đoàn quốc tế các nhà kế toán (International

Federation of Accountants - IFAC) thì “Kiểm toán là việc các kiểm toán viên độc lập kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về các bản báo cáo tài chính ”

Trong giáo trình kiểm toán của các tác giả Alvin A.Rens và James

K.Loebbecker đã định nghĩa: “Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập

và có thẩm quyền thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng được của một đơn vị cụ thể nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập ”.

Định nghĩa khác nêu: “Kiểm toán là thủ pháp xem xét và kiểm tra một cách khách quan về từng khoản mục bao gồm việc thẩm tra những thông tin đặc trưng được xác định bởi kiểm toán viên hoặc thiết lập bởi thực hành chung Nói tổng quát, mục đích của kiểm toán là trình bày ý kiến hoặc đi đến kết luận về cái được kiểm toán ”(trích từ Auditing - Theory & Practice của

John Dunn, University of Strathclyde, Glasgow nhà xuất bản Prentice Hall).Như vậy, tuy các định nghĩa nêu trên cách diễn đạt và từ ngữ khác nhausong chúng đều thống nhất ở những nội dung cơ bản sau:

Trang 11

- Chủ thể tham gia hoạt động kiểm toán: Người thực thi công việc kiểm

toán (kiểm toán viên) và các đơn vị kinh tế (gọi chung là các doanh nghiệp)

có các thông tin kinh tế được kiểm toán

- Đối tượng kiểm toán: Là các thông tin kinh tế được kiểm toán mà kiểm

toán viên sẽ đưa ra ý kiến về những thông tin này sau quá trình thực hiện côngviệc kiểm toán

- Mục tiêu của kiểm toán: Kết thúc quá trình kiểm toán, kiểm toán viên

đưa ra ý kiến về đối tượng kiểm toán

Chính vì vậy có thể thấy một khái niệm chung nhất, đầy đủ nhất về kiểmtoán như sau:

ii Kiem toán là một chức năng của quản lý, là một quá trình mà trong đó, một hoặc một sổ kiểm toán viên đủ năng lực, độc lập, có thẩm quyền, tiến hành thu thập, xác minh, đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng liên quan đến các hoạt động của một đơn vị nhằm xác định và báo

cáo mức độ phù hợp của các thông tin đó với các chuẩn mực đã được thiết lập”.

Đối tượng của kiểm toán chính là các thông tin có thể định lượng được Phạm vi của kiểm toán bao trùm cả lĩnh vực tài chính và phi tài chính, vì nóđánh giá tính kinh tế và tính hiệu quả hoạt động của một tổ chức hay một đơn

vị Chủ thể thực hiện kiểm toán có thể là cả kiểm toán viên độc lập hay có thể

cả kiểm toán viên nội bộ

1.1.2 Phân loại kiểm toán

Tùy theo các tiêu thức khác nhau, người ta có thể phân ra nhiều loạikiểm toán khác nhau:

1.1.2.1 Theo chủ thể thực hiện kiểm toán

Việc đánh giá thông tin khách quan hay không và giá trị pháp lý của báocáo kiểm toán ở mức độ nào tuỳ thuộc vào chủ thể thực hiện kiểm toán.Thông thường có 3 chủ thể thực hiện kiểm toán, do đó có 3 loại kiểm toán:

Trang 12

- Kiểm toán Nhà nước:

KTNN là hệ thống bộ máy chuyên môn của nhà nước thực hiện các chứcnăng kiểm toán tài sản công Ở thời kỳ trung đại, KTNN đã xuất hiện để đốisoát tài sản của vua chúa Qua quá trình phát triển cho đến nay KTNN ở cácnước phát triển đều thực hiện chức năng kiểm toán các đơn vị ở khu vực côngcộng

- Kiểm toán độc lập:

Kiểm toán độc lập là hoạt động đặc trưng của nền kinh tế thị trường Đây

là các tổ chức kinh doanh dịch vụ kiểm toán và tư vấn theo yêu cầu của kháchhàng Ở các nước sớm phát triển theo cơ chế thị trường, kiểm toán độc lập đãhành nghề trước khi có những chuẩn mực chung (về kiểm toán viên) và chuẩnmực chuyên ngành (về công tác kiểm toán) Cho đến nay, trên thế giới đã cóhàng trăm ngàn tổ chức kiểm toán độc lập hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán

và tư vấn tài chính

Hoạt động kiểm toán độc lập giúp các cơ quan chức năng và nhữngngười sử dụng thông tin tài chính của các đơn vị được kiểm toán có nhữngcăn cứ chắc chắn để khẳng định những thông tin mà họ đang sử dụng là trungthực, khách quan và hợp pháp Từ đó họ có thể đưa ra những quyết định quản

lý, kinh doanh phù hợp

- Kiểm toán nội bộ:

Hoạt động của các cơ quan, đơn vị, tổ chức (gọi tắt là đơn vị) trong nềnkinh tế thị trường luôn chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn mà KTNN và Kiểmtoán độc lập không thể kiểm soát và khống chế được, vì vậy, mỗi đơn vị đềuphải có bộ phận KTNB của mình KTNB là một chức năng thuộc một đơn vị,

nó không hoàn toàn độc lập với đơn vị đó Nhưng, trong khi thực hiện nhiệm

vụ thì KTNB phải hoàn toàn độc lập với bộ phận quản lý và điều hành hoạtđộng của đơn vị

Trang 13

Theo cách hiểu như vậy, KTNB được định nghĩa như sau: ii KTNB là một hoạt động nội kiểm có tính độc lập trong các cơ quan, đơn vị kinh tế, thực hiện chức năng chính là kiểm tra, đánh giá các hoạt động tài chính và phi tài chính nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động đó và góp phần hoàn thiện hệ thống quản lý tại các đơn vị kinh tế cơ sở”.

Trên thế giới, KTNB đã trở thành một nghề có tính chuyên nghiệp.Hiệp hội các Viện Kiểm toán viên nội bộ đã được thành lập năm 1941 Hiệnnay Hiệp hội đã có hơn 100 tổ chức quốc gia tham dự với số thành viênkhoảng 50.000 Kiểm toán viên nội bộ

1.1.2.2 Theo nội dung kiểm toán

Tuỳ theo mục đích của người sử dụng thông tin, một cuộc kiểm toán cóthể tiến hành đồng thời hoặc một trong ba loại kiểm toán sau:

- Kiểm toán hoạt động:

Kiểm toán hoạt động là quá trình kiểm toán nhằm đánh giá tính hữuhiệu (hiệu lực) và tính hiệu quả trong hoạt động của một bộ phận hay toàn bộmột tổ chức, một đơn vị

Đánh giá tính hiệu lực là đánh giá khả năng hoàn thành nhiệm vụ, chứcnăng được giao hay mục tiêu đặt ra của bộ phận hay đơn vị được kiểm toán

Đánh giá tính hiệu quả là đánh giá quan hệ giữa kết quả thu được vớichi phí bỏ ra trong quá trình thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của một bộphận hay đơn vị được kiểm toán

Đối tượng của kiểm toán hoạt động tương đối đa dạng, từ đánh giá khíacạnh tài chính của một phương án kinh doanh, một quy trình công nghệ, mộtloại tài sản mới được đưa vào hoạt động đến việc luân chuyển chứng từ trongmột bộ phận hay đơn vị,

Báo cáo kiểm toán hoạt động chủ yếu đánh giá tiềm năng nên nó khôngmang tính công khai Vì vậy, các tổ chức Kiểm toán độc lập thường không

Trang 14

thực hiện loại kiểm toán này mà kiểm toán hoạt động thường là những nộidung không thể thiếu được trong kế hoạch KTNB.

Kiểm toán hoạt động là loại kiểm toán khó lượng hoá Chúng ta có thểlượng hoá được các tiêu thức về tính hiệu lực và hiệu quả của việc sử dụngcác nguồn lực Nhưng đối với mối quan hệ giữa các chức năng và hiệu quảhoạt động của từng chức năng thì lại rất trừu tượng, khó lượng hoá Vì vậy,khó có thể đưa ra một khuôn mẫu chung cho loại kiểm toán này, việc lựa chọnchuẩn mực thường mang tính chủ quan tùy thuộc vào nhận thức của kiểmtoán viên Kết quả kiểm toán hoạt động chủ yếu phục vụ lợi ích cho bản thânđơn vị được kiểm toán

- Kiểm toán tuân thủ

Kiểm toán tuân thủ là quá trình kiểm toán nhằm xác định xem đơn vịđược kiểm toán trong quá trình hoạt động có tuân theo các thủ tục, nguyêntắc, quy chế, quy định của cấp trên và các chế định pháp luật của Nhà nướchay không Đồng thời kiểm toán tuân thủ cũng xem xét xem các đơn vị cóthiết lập các quy trình hoạt động không, có thực hiện theo đúng các quy trình

đó không

Cũng như kiểm toán hoạt động, đối tượng của kiểm toán tuân thủ cũngrất rộng, đó là toàn bộ các hoạt động trong một đơn vị, từ việc ban hành cácvăn bản, chế độ, quy trình nghiệp vụ, đến việc thực hiện từng nghiệp vụ trongđơn vị

Chuẩn mực dùng trong kiểm toán tuân thủ là các văn bản có liên quan,như: Luật, Nghị định, Thông tư, các văn bản quy phạm pháp luật, các nội quy,chế độ,

Kiểm toán tuân thủ được thực hiện bởi cả KTNN, kiểm toán độc lập vàKTNB Kết quả kiểm toán tuân thủ thường để phục vụ cho các cấp thẩmquyền liên quan, các nhà quản lý

Trang 15

- Kiểm toán báo cáo tài chính

Kiểm toán báo cáo tài chính là quá trình các Kiểm toán viên có thẩmquyền thực hiện kiểm tra một cách độc lập các thông tin liên quan đến báocáo tài chính của một đơn vị, tổ chức để xác nhận tính trung thực, hợp pháp

và phù hợp với các nguyên tắc quản lý tài chính và hạch toán kế toán của cácthông tin đó

Đối tượng của kiểm toán báo cáo tài chính là các báo cáo tài chính củađơn vị, như: Bảng cân đối tài khoản, Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quảkinh doanh,

Kiểm toán báo cáo tài chính là khái niệm kiểm toán gần nghĩa nhất vớikhái niệm kiểm toán cổ điển Thông thường nói đến kiểm toán, người ta nghĩngay đến kế toán, hạch toán và chỉ những gì liên quan đến kế toán

Trong điều kiện khi các đơn vị chưa hoạt động theo nề nếp, chưa tuân theonhững nguyên tắc quản lý tài chính và hạch toán kế toán thì kiểm toán báocáo tài chính là rất cần thiết

Kiểm toán báo cáo tài chính không chỉ xác nhận tính trung thực của cácthông tin trên báo cáo tài chính mà còn xác nhận cả tính chính xác, hợp pháp

và phù hợp của các loại thông tin Do vậy, khi thực hiện kiểm toán báo cáo tàichính là chúng ta đã thực hiện cả kiểm toán tuân thủ dưới một giác độ nhấtđịnh

Chuẩn mực trong kiểm toán báo cáo tài chính là các chuẩn mực kế toánhay chế độ kế toán hiện hành Kết quả kiểm toán báo cáo tài chính để phục vụNhà nước, đơn vị, các bên có liên quan

1.1.3 Chất lượng kiểm toán

Chất lượng là vấn đề đặt ra đối với mọi nền sản xuất và mọi loại hìnhhoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Chất lượng phản ánh giá trị về mặtlợi ích của sản phẩm hàng hoá dịch vụ và là khái niệm phức tạp, phụ thuộcvào trình độ của nền kinh tế và tùy những góc độ của người quan sát Hiện

Trang 16

nay, chưa có khái niệm chính thức nào về chất lượng kiểm toán được đưa ra.

Theo từ điển tiếng việt (1994) thì “Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của con người, một sự vật, sự việc” Theo định nghĩa của TCVN 5200 - ISO9000 thì “Chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm hoặc dịch vụ thoả mãn các yêu cầu đề ra hoặc định trước của người mua ” Ngoài ra, các tổ

chức khác nhau còn đưa ra nhiều các định nghĩa về chất lượng cho các sảnphẩm khác nhau, mặc dù vậy các định nghĩa này đều nêu nổi bật cái cuốicùng mà cả người sản xuất và người tiêu dùng đều muốn đạt tới là sự thoảmãn nhu cầu tiêu dùng với các điều kiện nhất định Theo cách thức và quanđiểm chung về chất lượng như các định nghĩa đã nêu, tiến hành điều tra tạicác công ty kiểm toán đang hoạt động ở Việt Nam với tư cách là nhà cung cấpdịch vụ và các đối tượng sử dụng dịch vụ, cho thấy các quan điểm về chấtlượng kiểm toán hiện nay như sau:

1.1.3.1 Các quan điểm về chất lượng kiểm toán từ phía các đổi tượng sử dụng dịch vụ kiểm toán

Theo kết quả điều tra trên thì đa số các khách hàng đều cho rằng mongmuốn của họ đối với kiểm toán viên là có được ý kiến chính xác, trung thực,khách quan về các thông tin tài chính đã được kiểm toán, đồng thời trongnhững trường hợp cần thiết, đưa ra các hướng dẫn giúp khách hàng lập đượcbáo cáo tài chính phù hợp với các chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hànhđồng thời nâng cao hiệu quả công tác quản lý của họ Các khách hàng chorằng giá phí kiểm toán không thể hiện chất lượng kiểm toán, tuy nhiên cũngkhông muốn việc để có được ý kiến kiểm toán mà phải bỏ ra khoản chi phívới bất cứ giá nào

Một số khách hàng khác mà chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước vàcác doanh nghiệp ngoài quốc doanh mong muốn rằng, kiểm toán sẽ là sự đảmbảo chắc chắn rằng mọi sai sót, gian lận hoặc bất cứ điểm bất hợp lý nào

Trang 17

trong công tác kế toán đều được phát hiện và báo cáo lại Ban giám đốc, đồngthời đưa ra phương án sửa đổi chỉnh lý hoặc tiến hành các bước kiểm tra bổsung nhằm đưa ra ý kiến chấp nhận toàn bộ đối với báo cáo tài chính.

Do vậy có thể khái quát quan niệm về chất lượng kiểm toán theo góc độcủa khách hàng gồm các nội dung là: (i) Chất lượng kiểm toán thể hiện ở sựtuân thủ theo đúng chuẩn mực kiểm toán; (ii) là sự thoả mãn nhu cầu củakhách hàng về dịch vụ mà họ được cung cấp trong đó rõ nét nhất là những ýkiến giúp khách hàng thực hiện hiệu quả công tác quản lý; (iii) Chi phí chodịch vụ kiểm toán thấp một cách hợp lý và (iv) thể hiện ở tính chuyên nghiệpcủa kiểm toán viên

1.1.3.2 Quan điểm của các công ty kiểm toán về chất lượng kiểm toán

Kết quả điều tra tại 5 công ty kiểm toán quốc tế và các công ty kiểm toánlớn là doanh nghiệp nhà nước cùng một số đại diện các công ty kiểm toán tưnhân cho thấy các quan điểm về chất lượng kiểm toán đều thống nhất và tậptrung vào các nội dung sau:

- Chất lượng kiểm toán là việc thoả mãn mong muốn của khách hàng và

không trái pháp luật;

- Chất lượng kiểm toán là việc hoạt động kiểm toán tuân theo đúng

chuẩn mực kiểm toán;

- Cuộc kiểm toán phải đem lại lợi nhuận cho công ty;

- Chất lượng kiểm toán là việc đồng thời đảm bảo mục tiêu là đưa ra ý

kiến về báo cáo tài chính và mang lại các lợi ích bổ sung cho khách hàng Cũng giống như các quan điểm của các khách hàng, tất cả các công tykiểm toán được hỏi đều khẳng định rằng chất lượng kiểm toán phải là sự tuânthủ các chuẩn mực kiểm toán, thoả mãn các mong muốn của khách hàng Tuynhiên, lợi nhuận là bản chất của hoạt động kinh doanh, do vậy các công tykiểm toán lại cho rằng cuộc kiểm toán có chất lượng thì phải mang lại lợi

Trang 18

nhuận cho công ty Ngược lại, về phía người tiêu dùng thì chất lượng phải thểhiện mối quan hệ tỷ lệ giữa chi phí bỏ ra để thoả mãn nhu cầu đó, theo đó giáphí kiểm toán phải thấp một cách hợp lý Về hình thức thì dường như 2 quanđiểm này mâu thuẫn nhau, nhưng trong thực tiễn thì các yêu cầu đó có quan

hệ chặt chẽ với nhau, là tiền đề cho sự phát triển Các công ty kiểm toán lấylợi ích, sự phát triển của khách hàng làm mục tiêu phục vụ, theo đó quan niệmchất lượng kiểm toán cần phải mang lại lợi nhuận cho công ty là vấn đề đặt racho mục tiêu quản lý của bản thân các công ty kiểm toán nhằm nâng cao hiệuquả hoạt động kinh doanh

Tóm lại, kết hợp giữa mục đích, ý nghĩa của kiểm toán với kết quả khảosát, có thể đưa ra khái niệm chất lượng kiểm toán như sau: “Chất lượng kiểmtoán là mức độ thoả mãn về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểmtoán của những đối tượng sử dụng dịch vụ kiểm toán, đồng thời thoả mãn vềmong muốn có được những ý kiến đóng góp nhằm nâng cao hiệu quả công tácquản lý tài chính, kế toán của đơn vị được kiểm toán với thời gian định trước

và giá phí thích hợp”

1.2 Kiểm toán nội bộ Ngân hàng Trung ương

1.2.1 Khái niệm và một số nội dung cơ bản về kiểm toán nội bộ

1.2.1.1 Khái niệm

Theo các chuẩn mực hành nghề của KTNB do Viện Kiểm toán viên nội

bộ Hoa Kỳ ban hành: “KTNB là một chức năng thẩm định độc lập được thiết lập bên trong một tổ chức để xem xét và đánh giá các hoạt động của tổ chức với tư cách là một sự trợ giúp đối với tổ chức đó ”.

Theo Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ quốc tế (IIA) ii KTNB là một chức năng đánh giá độc lập bên trong tổ chức, để kiểm tra và đánh giá các hoạt động của tổ chức, như là một hoạt động phục vụ tổ chức”.

Theo Quyết định số 37/2006/QĐ-NHNN ngày 01/8/2006 của NHNN

Trang 19

Việt Nam nêu khái niệm “KTNB là hoạt động kiểm tra, rà soát, đánh giá một cách độc lập, khách quan đối với hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ; đánh giá độc lập về tính thích hợp và sự tuân thủ các chính sách, thủ tục quy trình

đã được thiết lập trong tổ chức tín dụng, thông qua đó đơn vị thực hiện KTNB đưa ra các kiến nghị, tư vấn nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các hệ thống, các quy trình, quy định, góp phần đảm bảo tổ chức tín dụng hoạt động an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật”.

Như vậy, có thể hiểu: KTNB là một bộ phận chuyên trách, hoạt độngđộc lập và khách quan được thành lập bên trong một tổ chức nhằm mang lạicho tổ chức sự đảm bảo về khả năng kiểm soát các hoạt động của tổ chức, tưvấn cho tổ chức các giải pháp chấn chỉnh hoạt động của mình, góp phần tạo ragiá trị gia tăng cho tổ chức

1.2.1.2 Sự cần thiết của kiểm toán nội bộ

Một hệ thống kiểm soát nội bộ cho dù được thiết lập công phu đến đâuthì cũng khó tránh khỏi những hạn chế bởi:

- Trình độ của cán bộ nghiệp vụ, đặc biệt là với những lĩnh vực, sản

phẩm mới;

- Quá trình công tác của cán bộ nghiệp vụ đã trở nên mệt mỏi;

- Cơ chế kiểm tra kiểm soát gắn liền với quy trình nghiệp vụ trở nên vô

hiệu khi có sự cấu kết, thông đồng;

- Có những cán bộ tha hoá biến chất, cố tình gian lận;

- Có sự can thiệp của lãnh đạo.

Do đó cần phải thiết lập hệ thống KTNB chuyên trách để khắc phụcnhững hạn chế của cơ chế kiểm tra, kiểm soát gắn liền với quy trình nghiệp

vụ Bằng việc tiếp cận hệ thống và có phương pháp, KTNB giúp tổ chức củamình thông qua việc đánh giá hiệu quả hệ thống quản lý rủi ro, hệ thống kiểmsoát nội bộ, sau đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động

Trang 20

của các hệ thống này.

1.2.1.3 Mục tiêu của kiểm toán nội bộ

Mục tiêu thứ nhất là giúp Hội đồng quản trị, Ban lãnh đạo ngân hàng

thực hiện chức năng giám sát của mình đối với quy trình báo cáo thông tin tàichính, phi tài chính nhằm đảm bảo rằng các thông tin được công bố là trungthực, rõ ràng và không bị lạm dụng

Mục tiêu thứ hai là đánh giá tính hiệu quả của hệ thống quản lý rủi ro, hệ

thống kiểm soát nội bộ Phát hiện nguyên nhân những sơ hở, yếu kém tronghoạt động từ đó đề xuất và tư vấn cho Hội đồng quản trị, Ban điều hành cácbiện pháp, giải pháp để cải tiến hệ thống kiểm soát nội bộ , hệ thống quản lýrủi ro

Mục tiêu thứ ba là giúp nâng cao vị thế của ngân hàng thông qua việc

hoàn thiện môi trường quản lý rủi ro và kiểm soát nội bộ của ngân hàng

1.2.1.4 Các chức năng của kiểm toán nội bộ

Chức năng kiểm tra: Là việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật để xem xét,

đối chiếu mức độ trung thực của các thông tin, tài liệu và tính hợp pháp củaviệc thực hiện các nghiệp vụ hay lập các bản khai tài chính

Chức năng đánh giá: Thông qua kiểm tra, KTNB thực hiện đánh giá

tính đúng đắn, trung thực và hợp pháp của các số liệu, thông tin tài liệu đượckiểm tra

Chức năng xác nhận: Thông qua kiểm tra, đánh giá, KTNB xác nhận

thực trạng của thông tin đã kiểm tra về tính đúng đắn, trung thực và hợp phápcủa các thông tin đó

Chức năng tư vấn: Trên cơ sở những phát hiện trong quá trình kiểm tra,

đánh giá, KTNB đề xuất và tư vấn các giải pháp để khắc phục sai sót, cải tiến

và hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ, giúp ngân hàng đạt được mục tiêucủa mình

Trang 21

1.2.1.5 Nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ

Kiểm tra và đánh giá tính phù hợp, tính hiệu lực và hiệu quả của hệthống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp

Kiểm tra và xác nhận chất lượng, độ tin cậy của thông tin kinh tế, tàichính của báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị doanh nghiệp trước khitrình duyệt và công bố

Kiểm tra và đánh giá sự tuân thủ các nguyên tắc hoạt động, quản lý kinhdoanh, đặc biệt là sự tuân thủ luật pháp, chính sách nội bộ, nghị quyết của Hộiđồng quản trị, của Ban điều hành

Phát hiện những sơ hở, yếu kém, gian lận trong quản lý, trong bảo vệ tàisản của doanh nghiệp; đề xuất các giải pháp nhằm cải tiến, hoàn thiện hệthống quản lý, điều hành kinh doanh của doanh nghiệp

1.2.1.6 Nguyên tắc của kiểm toán nội bộ

Để thực hiện được chức năng và nhiệm vụ, KTNB phải đảm bảo đượccác nguyên tắc cơ bản sau:

Nguyên tắc độc lập: kiểm toán viên không bị chi phối bởi các điều kiện

có ảnh hưởng đến tính khách quan Những sự kiện đó cần phải được quản lý ởcấp độ từng kiểm toán viên, từng cuộc kiểm toán, từng bộ phận và ở cấp độdoanh nghiệp Muốn vậy, bộ phận KTNB phải độc lập với các đơn vị, các bộphận điều hành, tác nghiệp của tổ chức tín dụng; hoạt động của KTNB phảiđộc lập với các hoạt động điều hành, tác nghiệp của tổ chức tín dụng

Nguyên tắc khách quan: Bộ phận KTNB, kiểm toán viên nội bộ phải

đảm bảo tính khách quan, trung thực, công bằng, không định kiến khi thựchiện nhiệm vụ KTNB Tức là khi độc lập về mặt nhận thức cho phép kiểmtoán viên có thể thực hiện được công việc kiểm toán ở mức độ trung thực caonhất và không có bất kỳ một sự chi phối đáng kể nào ảnh hưởng đến côngviệc kiểm toán

Trang 22

Nguyên tắc chuyên nghiệp: kiểm toán viên phải là người có kiến thức,

trình độ và kỹ năng KTNB cần thiết, không kiêm nhiệm các cương vị, cáccông việc chuyên môn khác của tổ chức tín dụng

Nguyên tắc liên tục: các ngân hàng phải thiết lập được bộ phận KTNB

chính thức, hoạt động lâu dài, phù hợp với quy mô và bản chất hoạt động củađơn vị

1.2.1.7 Phạm vi và phương pháp của kiểm toán nội bộ

Phạm vi của KTNB rất rộng, có thể thực hiện kiểm toán ở tất cả cácnghiệp vụ trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng: cả ở lĩnh vựctài chính và lĩnh vực phi tài chính; đối với tất cả các Chi nhánh, các công tytrực thuộc Phạm vi hoạt động của KTNB được thể hiện trên 3 loại: Kiểmtoán và xác nhận các báo cáo tài chính và các báo cáo khác về quản trị củangân hàng; Kiểm toán tính tuân thủ trong hoạt động kinh doanh của ngânhàng theo các quy định của pháp luật, các quy định nội bộ; Kiểm toán hoạtđộng như đánh giá hiệu quả kinh tế trong hoạt động kinh doanh của ngânhàng (đây là hoạt động chủ yếu mà KTNB hướng tới - đáp ứng yêu cầu đặt ra)phạm vi kiểm toán phải ngày được mở rộng: Từ hợp lệ và an toàn sang hiệu quả.Phương pháp KTNB định hướng theo mức độ rủi ro, ưu tiên tập trungnguồn lực để kiểm toán các đơn vị, bộ phận, quy trình được đánh giá có mức

độ rủi ro cao

1.2.1.8 Nội dung hoạt động kiểm toán nội bộ: Gồm 04 hoạt động

* Hoạt động 1: Đánh giá rủi ro và lập kế hoạch kiểm toán

Để nâng cao hiệu quả của hoạt động kiểm toán với một chi phí thấp nhất,đơn vị phải xây dựng một phương pháp đánh giá rủi ro có hệ thống nhằm:

- Phân tích và đánh giá rủi ro tiềm tàng: là những rủi ro tiềm ẩn có khả

năng ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu kinh doanh của đơn vị

- Phân tích và đánh giá rủi ro kiểm soát: là độ tin cậy và tính hiệu quả

Trang 23

của các hoạt động kiểm soát trong việc làm giảm bớt tác động hoặc khả năngxảy ra rủi ro.

Dựa trên những đánh giá đó phân loại mức độ rủi ro của từng bộ phận,từng nghiệp vụ để lập kế hoạch kiểm toán hàng năm Những bộ phận có rủi rocàng cao thì tần suất kiểm toán càng lớn Tuy nhiên, kế hoạch kiểm toán cònphải tùy thuộc cả vào điều kiện nguồn lực của doanh nghiệp để cân nhắc giữachi phí và lợi ích đem lại

* Hoạt động 2: Thực hiện các cuộc kiểm toán

Mỗi cuộc kiểm toán cụ thể được tiến hành theo trình tự của quy trìnhkiểm toán Quy trình hướng dẫn chi tiết về phương thức đánh giá rủi ro, lập

kế hoạch chi tiết từng cuộc kiểm toán, cách thức thực hiện công việc kiểmtoán, lập và gửi báo cáo kiểm toán, lưu giữ hồ sơ, tài liệu KTNB Quy trìnhđược quy định áp dụng thống nhất cho các cuộc kiểm toán mà đoàn kiểm toán

và kiểm toán viên nội bộ phải tuân thủ khi tiến hành kiểm toán, nhằm đảmbảo chất lượng và hiệu quả của các cuộc kiểm toán Quy trình kiểm toánthông thường gồm bốn bước:

Bước 1 - Chuẩn bị kiểm toán: Nội dung chính của bước chuẩn bị kiểm

toán là khảo sát thu thập thông tin về hệ thống kiểm soát nội bộ , tình hình tàichính và các thông tin liên quan đến đối tượng được kiểm toán; xác định mụctiêu, nội dung, phạm vi, thủ tục và phương pháp kiểm toán thích hợp; kếhoạch nhân sự và thời gian

Bước 2 - Thực hiện kiểm toán: Đoàn kiểm toán thực hiện kiểm toán tại

đơn vị được kiểm toán với mục tiêu, nội dung, phạm vi kiểm toán, địa điểm

và thời hạn ghi trong quyết định kiểm toán Các thành viên đoàn kiểm toánthu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán; kiểm tra đối chiếu, xác nhận

về những nội dung kiểm toán

Bước 3 - Lập và gửi báo cáo kiểm toán: Kết thúc cuộc kiểm toán, đoàn

Trang 24

kiểm toán lập báo cáo kiểm toán ghi rõ các ý kiến đánh giá, xác nhận, kết luận

và kiến nghị về những nội dung đã kiểm toán dựa trên cơ sở các bằng chứngkiểm toán Báo cáo kiểm toán được gửi cho đơn vị được kiểm toán và báo cáolên cấp trên Trường hợp trong khi kiểm toán nếu có những vấn đề bất thườngphải lập báo cáo đột xuất gửi cho cấp quản lý phù hợp

Hồ sơ kiểm toán: Tài liệu của mỗi một cuộc kiểm toán được lập thành

Hồ sơ kiểm toán Các tài liệu thuộc hồ sơ kiểm toán do pháp luật quy định

Hồ sơ kiểm toán phải được bảo quản đầy đủ, an toàn và bảo mật

Bước 4 - Theo dõi sau kiểm toán: Việc theo dõi sau kiểm toán nhằm

đánh giá hiệu lực, hiệu quả của các khuyến nghị và rút kinh nghiệm cho việcxây dựng kiến nghị kiểm toán trong những lần kiểm toán sau

* Hoạt động 3: Lập báo cáo về hoạt động kiểm toán

- Báo cáo KTNB được tổng hợp theo định kỳ (Quý, năm);

- Báo cáo theo dõi các đơn vị, bộ phận, cá nhân thực hiện các kiến nghị

của KTNB

* Hoạt động 4: Đảm bảo chất lượng KTNB

Bộ phận KTNB cần phải xây dựng và duy trì các thủ tục đảm bảo chấtlượng, nhằm: đảm bảo hoạt động của KTNB gia tăng giá trị các hoạt động củangân hàng; đảm bảo các hoạt động KTNB tuân thủ theo các chuẩn mực vànguyên tắc đạo đức hiện thời Các thủ tục đảm bảo chất lượng bao gồm:

- Đánh giá nội bộ: là việc đánh giá liên tục hay định kỳ do KTNB tự

đánh giá hoặc do nhóm đảm bảo chất lượng đánh giá

- Đánh giá độc lập: ít nhất 5 năm một lần bộ phận KTNB phải được

đánh giá đảm bảo chất lượng một cách độc lập bởi những người có đủ nănglực và có tính độc lập từ bên ngoài ngân hàng (như các công ty kiểm toán độclập danh tiếng) để đo lường và giám sát kết quả thực hiện công việc củaKTNB nhằm liên tục nâng cao chất lượng của công tác này

Trang 25

Có thể mô hình hóa chu trình của KTNB như sau:

tại chỗ giám sát

Lập báo cáo

Hình 1.1: Mô hình chu trình kiểm toán nội bộ

Mô hình trên có thể so sánh KTNB như một vòng tròn khép kín - đặctrưng của KTNB - không có điểm đầu và điểm cuối mà cần phải thườngxuyên rà soát và không ngừng phát triển để vòng tròn trở thành đường xoắnlên cao

1.2.2 Chức năng và hoạt động của Ngân hàng Trung ương

1.2.2.1 Khái niệm Ngân hàng Trung ương

Sự ra đời và phát triển của NHTW bắt nguồn từ vai trò độc quyền pháthành tiền và người cho vay cuối cùng

“NHTW là một định chế công cộng, có thể độc lập hoặc trực thuộc Chính phủ; thực hiện chức năng độc quyền phát hành tiền, là ngân hàng của các ngân hàng, ngân hàng của Chính phủ và chịu trách nhiệm trong việc quản lý nhà nước về các hoạt động tiền tệ, tín dụng, ngân hàng”

Các nước tư bản phát triển có hệ thống ngân hàng phát triển lâu đờinhư

Pháp, Anh thì thành lập NHTW bằng cách quốc hữu hoá ngân hàng pháthành thông qua mua lại cổ phần của các ngân hàng này rồi bổ nhiệm người

Trang 26

điều hành Ở Việt Nam, NHTW được thành lập thuộc sở hữu của nhà nước,gọi là NHNN Việt Nam.

Là một định chế công cộng của Nhà nước, nhưng mối quan hệ củaNHTW với Chính phủ không hoàn toàn giống với các định chế công cộngkhác của Nhà nước Mối quan hệ này ở các nước khác nhau cũng không giốngnhau Tuỳ thuộc vào đặc điểm ra đời của NHTW, thể chế chính trị, nhu cầucủa nền kinh tế cũng như truyền thống văn hoá của từng quốc gia mà NHTW

có thể được tổ chức theo mô hình trực thuộc hay độc lập với Chính phủ

Mô hình NHTW trực thuộc Chính phủ là mô hình trong đó NHTW nằmtrong nội các Chính phủ và chịu sự chi phối trực tiếp của Chính phủ về nhân

sự, về tài chính và đặc biệt về các quyết định liên quan đến việc xây dựng vàthực hiện chính sách tiền tệ Theo mô hình này, Chính phủ có thể dễ dàngphối hợp chính sách tiền tệ của NHTW đồng bộ với các chính sách kinh tế vĩ

mô khác nhằm đảm bảo mức độ và liều lượng tác động hiệu quả của tổng thểcác chính sách đối với các mục tiêu vĩ mô trong từng thời kỳ Điểm hạn chếchủ yếu của mô hình là NHTW sẽ mất đi sự chủ động trong việc thực hiệnchính sách tiền tệ Sự phụ thuộc vào Chính phủ có thể làm cho NHTW xa rờimục tiêu dài hạn của mình là ổn định giá trị tiền tệ, góp phần tăng trưởng kinh tế.

Mô hình NHTW độc lập với Chính phủ là mô hình trong đó NHTWkhông chịu sự chỉ đạo của Chính phủ mà là Quốc hội Quan hệ giữa NHTW

và Chính phủ là quan hệ hợp tác Các NHTW theo mô hình này là Ngân hàng

dự trữ liên bang Mỹ, NHTW Thụy sĩ, Anh, Pháp, Đức, Nhật và gần đây làNHTW Châu Âu (ECB) Theo mô hình này, NHTW có toàn quyền quyết địnhviệc xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ mà không bị ảnh hưởng bởi các

áp lực chi tiêu của ngân sách hoặc các áp lực chính trị khác Tuy nhiên, khôngphải tất cả các NHTW được tổ chức theo mô hình này đều đảm bảo được sựđộc lập hoàn toàn khỏi áp lực của Chính phủ khi điều hành chính sách tiền tệ

Trang 27

Mức độ độc lập của mỗi NHTW phụ thuộc vào sự chi phối của người đứngđầu nhà nước vào cơ chế lập pháp và nhân sự của NHTW Điểm bất lợi chủyếu của mô hình này là khó có sự kết hợp hài hoà giữa chính sách tiền tệ - doNHTW thực hiện và chính sách tài khoá - do Chính phủ chi phối để quản lý vĩ

mô một cách hiệu quả

1.2.2.2 Chức năng của Ngân hàng Trung ương

NHTW thực hiện hai chức năng cơ bản: là ngân hàng của quốc gia vàthực hiện chức năng quản lý vĩ mô các hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngânhàng nhằm đảm bảo sự ổn định tiền tệ và an toàn cho cả hệ thống ngân hàng,qua đó mà thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô của nền kinh tế

- Chức năng ngân hàng của quốc gia: Được thể hiện ở các nhiệm vụ

sau đây:

+ Ngân hàng phát hành tiền: NHTW được giao trọng trách độc quyền

phát hành tiền theo các qui định trong luật hoặc được Chính phủ phê duyệt(về mệnh giá, loại tiền, mức phát hành ) nhằm đảm bảo thống nhất và antoàn cho hệ thống lưu thông tiền tệ của quốc gia Nhiệm vụ phát hành tiền cònbao gồm trách nhiệm của NHTW trong việc xác định số lượng tiền cần pháthành, thời điểm phát hành cũng như phương thức phát hành để đảm bảo sự ổnđịnh tiền tệ và phát triển kinh tế

+ Ngân hàng của các ngân hàng: NHTW không tham gia kinh doanh

tiền tệ, tín dụng trực tiếp với các chủ thể trong nền kinh tế mà chỉ thực hiệncác nghiệp vụ ngân hàng với các ngân hàng trung gian Bao gồm: (i) Mở tàikhoản và nhận tiền gửi của các ngân hàng trung gian dưới dạng tiền gửi dựtrữ bắt buộc và tiền gửi thanh toán; (ii) Cấp tín dụng cho các ngân hàng trunggian dưới hình thức chiết khấu lại (tái chiết khấu) các chứng từ có giá ngắnhạn do các ngân hàng trung gian nắm giữ; (iii) Là trung tâm thanh toán bù trừcho hệ thống ngân hàng trung gian

Trang 28

+ Ngân hàng của Chính phủ: NHTW có nghĩa vụ cung cấp các dịch vụ

ngân hàng cho Chính phủ, đồng thời làm đại lý, đại diện và tư vấn chính sáchcho Chính phủ

- Chức năng quản lý vĩ mô về tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng: Đây là chức năng quyết định bản chất NHTW của một ngân hàng phát

hành Việc thực hiện chức năng này không thể tách rời khỏi các nghiệp vụngân hàng của NHTW

+ Xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia:Chính sách tiền tệ

là chính sách kinh tế vĩ mô trong đó NHTW sử dụng các công cụ của mình đểđiều tiết và kiểm soát khối lượng tiền trong lưu thông nhằm đảm bảo sự ổnđịnh giá trị tiền tệ đồng thời thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và đảm bảo công

ăn việc làm

+ Thanh tra, giám sát hoạt động của hệ thống ngân hàng: Với tư cách

là ngân hàng của các ngân hàng, NHTW không chỉ cung ứng các dịch vụngân hàng thuần tuý cho các ngân hàng trung gian, mà thông qua các hoạtđộng đó, NHTW còn thực hiện vai trò điều tiết, giám sát thường xuyên hoạtđộng của các ngân hàng trung gian nhằm: Đảm bảo sự ổn định trong hoạtđộng ngân hàng và bảo vệ lợi ích của các chủ thể trong nền kinh tế, đặc biệt làcủa những người gửi tiền, trong quan hệ với ngân hàng

1.2.3 Kiểm toán nội bộ Ngân hàng Trung ương

1.2.3.1 Khái niệm

Từ khái niệm chung về kiểm toán, có thể đưa ra một khái niệm về KTNB

NHTW như sau: “KTNB NHTW là một quá trình mà trong đó, một hoặc một

số kiểm toán viên đủ năng lực, độc lập, có thẩm quyền, tiến hành thu thập, xác minh, đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng liên quan đến các hoạt động của một đơn vị thuộc NHTW hay toàn bộ hệ thống

Trang 29

NHTW nhằm xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa các thông tin đó với các chuẩn mực đã được thiết lập ”.

KTNB hình thành và phát triển xuất phát từ những lý do khách quan củanhu cầu quản lý bản thân NHTW Do vậy, KTNB NHTW là loại kiểm toánđược các kiểm toán viên nội bộ NHTW thực hiện KTNB NHTW thực hiệncác loại kiểm toán, đó là kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ và kiểmtoán báo cáo tài chính, phục vụ yêu cầu quản lý nội bộ NHTW

Tính độc lập của KTNB NHTW được thể hiện: Các công việc kiểm toánkhông bị những ràng buộc có thể làm hạn chế đến phạm vi và hiệu quả củ aviệc thẩm tra hoặc làm chậm trễ việc báo cáo những phát hiện và kết luận.Còn có thể thấy tính độc lập trong KTNB thông qua việc các kiểm toán viêntrực thuộc một đơn vị, bộ phận khác bên ngoài những đơn vị, bộ phận đượckiểm toán, trong NHTW

Tổ chức KTNB NHTW là một Vụ độc lập của NHTW để thực hiện kiểmtra và đánh giá những hoạt động của các đơn vị trong NHTW như là một dịch

vụ cho NHTW KTNB không phải là yếu tố bổ sung, hay là yếu tố thay thếcho công tác kiểm soát của người quản lý các hoạt động của NHTW Cầnthấy rõ trách nhiệm đảm bảo cho hoạt động của NHTW an toàn và hiệu quảtránh rủi ro là thuộc về người quản lý các cấp và của nhân viên liên quan đếncác hoạt động nghiệp vụ Song KTNB chính là người tư vấn và trợ giúp chocác nhà quản lý có thể đánh giá được hệ thống kiểm soát, chỉ ra những rủi ro

có thể xảy ra trong các hoạt động nghiệp vụ cho các nhà quản lý , các nhânviên nghiệp vụ để có những giải pháp tăng cường hệ thống kiểm soát nội bộ,hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất Thông qua hoạt động của mình, KTNBcũng có những đề xuất, kiến nghị với các cấp quản lý để có thể sửa đổi, bổsung chính sách, quy trình nghiệp vụ nhằm nâng cao tính hiệu quả, an toàn

Trang 30

cho các hoạt động nghiệp vụ của NHTW Bộ máy tổ chức KTNB gồm một sốkiểm toán viên, kiểm toán viên chính, kiểm toán viên cao cấp.

Đơn vị được kiểm toán của NHTW là các đơn vị thuộc NHTW hay toàn

bộ NHTW

Báo cáo kết quả KTNB NHTW được gửi cho Thống đốc NHTW

1.2.3.2 Sự cần thiết của kiểm toán nội bộ Ngân hàng Trung ương

Mỗi tổ chức khác nhau có những rủi ro khác nhau, nhưng hầu hết họquan tâm đến những rủi ro về tiền bạc hoặc rủi ro về uy tín

Với NHTW thì rủi ro về tiền xét cho cùng cũng lại dẫn đến những rủi

ro về uy tín Chức năng ổn định tiền tệ là chức năng phổ biến của NHTW cácnước Những thiệt hại về tiền của NHTW thường là tiền của Nhà nước, hoặc

là tiền của Nhà nước sử dụng để bồi thường cho những thiệt hại đã xảy ra.Những điều đó liên quan rất nhiều đến công chúng và nó sẽ làm giảm uy tíncủa NHTW

Như đã trình bày ở trên, NHTW trong quá trình hoạt động gặp rất nhiềurủi ro, có những rủi ro bên ngoài nhưng cũng có những rủi ro ngay trong nội

bộ Ngân hàng Những rủi ro chủ yếu của NHTW chung qui lại do một sốnguyên nhân như: sai sót; gian lận; trộm cắp; những ý kiến kém chất lượngdẫn đến quyết định quản lý sai; sự hỗ trợ cho hệ thống máy tính kém hiệuquả; vi phạm luật; mất dữ liệu

Phát hiện và phòng ngừa rủi ro, bảo vệ Ngân hàng hoạt động an toàn vàhiệu quả là nhiệm vụ của hoạt động kiểm soát nội bộ Nhưng để đánh giá chấtlượng của hoạt động kiểm soát nội bộ đồng thời đảm bảo kiểm soát toàn bộrủi ro, các NHTW phải dựa rất nhiều vào hoạt động kiểm toán, đặc biệt làKTNB

Ở NHTW các nước, tham gia kiểm soát ngân hàng có rất nhiều thànhphần, bao gồm: Chính phủ, Quốc hội, định chế Kiểm toán tối cao, Kiểm toánđộc lập và KTNB NHTW

Trang 31

Chính phủ và Quốc hội có vai trò quan trọng trong việc tạo ra và duy trìmột môi trường pháp lý cho hoạt động kiểm toán đầy đủ và hiệu quả Ngoàithông tin do kiểm toán độc lập cung cấp, Chính phủ và Quốc hội còn nhậnđược nhiều thông tin khác nhau hỗ trợ cho việc kiểm soát và đánh giá hoạtđộng Ngân hàng.

Các định chế Kiểm toán tối cao và tổ chức Kiểm toán độc lập thực hiệnkiểm toán NHTW theo luật định

KTNB do một bộ phận của NHTW thực hiện Bộ phận này độc lập vớicác hoạt động quản lý và điều hành của NHTW, nhưng nó phải tuân theonhững nguyên tắc, chuẩn mực mà NHTW quy định phù hợp với thông lệ quốctế

1.2.4 Chất lượng kiểm toán nội bộ - Những nhân tố ảnh hưởng đến chất

lượng kiểm toán nội bộ Ngân hàng Trung ương

1.2.4.1 Chất lượng kiểm toán nội bộ

Chất lượng KTNB trước hết được đặt trên nền tảng của mục tiêu kiểmtoán Cuộc kiểm toán tiến hành nhằm mục đích gì, có kiểm tra, phân tíchnhằm đánh giá khách quan chất lượng các thông tin được kiểm toán để cungcấp những thông tin đã được kiểm chứng, đáng tin cậy hay không

Chất lượng KTNB phải phản ánh tính độc lập khách quan của chủ thểkiểm toán Kết luận của KTNB thể hiện tư cách, tư thế, quan điểm và cái nhìnđộc lập của chủ thể kiểm toán Chất lượng KTNB thể hiện chủ thể kiểm toántuân thủ pháp luật, nguyên tắc, chuẩn mực kiểm toán Điều này đảm bảo cho

sự công bằng, sự chuẩn tắc và đáng tin cậy, vì thước đo chuẩn mực đã đượcpháp luật và cả thế giới cộng đồng kiểm toán thừa nhận

Chất lượng KTNB thể hiện mức độ thành thạo, chuyên nghiệp của độingũ kiểm toán viên khi họ nắm bắt được, có bản lĩnh và kỹ năng sử dụngthành thạo hệ thống phương pháp kiểm toán tùy theo tình hình của đối tượngkiểm toán và nội dung kiểm toán cụ thể

Trang 32

Bên cạnh đó, chất lượng KTNB đòi hỏi mọi đánh giá, nhận định và kếtluận đều phải được đảm bảo bằng những bằng chứng xác thực Những bằngchứng kiểm toán luôn luôn phải được xác lập với đầy đủ các yếu tố cấu thành,

nó luôn được soát xét, tái thẩm định để có một bằng chứng chính xác, phảnánh đúng thực trạng của tình hình Nhờ đó, kết luận được đảm bảo về tínhpháp lý, tính hợp lý, sự trung thực và đáng tin cậy Kết luận có cơ sở là nguồncội, quyết định chất lượng KTNB

1.2.4.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán nội bộ NHTW

Chất lượng KTNB NHTW chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, cả cácnhân tố chủ quan và các nhân tố khách quan

Các nhân tố chủ quan

Trước hết có thể kể đến quan điểm của Ban lãnh đạo ngân hàng về vai

trò của KTNB: Khi lãnh đạo ngân hàng quan tâm đúng mức, KTNB sẽ đượcđặt đúng vị trí của nó, từ đó, góp phần tích cực trong việc nâng cao chất lượng

và hiệu quả hoạt động của ngân hàng

Thứ hai là mô hình tổ chức và hoạt động của ngân hàng: Khi quy mô

ngân hàng càng lớn, hoạt động càng đa dạng, phức tạp đòi hỏi hệ thống kiểmsoát, KTNB cũng phải tăng cường phù hợp Sự thay đổi nếu không kịp thời,chất lượng kiểm soát, KTNB sẽ không thể cao

Thứ ba là cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ KTNB: Phần mềm quản trị

điều hành, kiểm toán chuyên dụng, hệ thống máy tính, các thiết bị chuyêndùng sẽ là những công cụ đắc lực giúp nâng cao hiệu quả các hoạt động ngânhàng

Thứ tư là số lượng và chất lượng đội ngũ kiểm toán viên: Đây là nhân

tố có ảnh hưởng quan trọng nhất đến năng lực của đơn vị kiểm toán, bởi vìKTNB được thực hiện bởi con người theo những quy trình kiểm toán và côngnghệ hỗ trợ Một đơn vị KTNB mạnh phải có một đội ngũ cán bộ đủ về số

Trang 33

lượng và từng cán bộ phải có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệpcũng như động lực cá nhân tốt.

Thứ năm, tiếp nhận thông tin và xử lý thông tin được cung cấp bởi bộ

phận kiểm toán một cách khách quan, kịp thời Ban lãnh đạo ngân hàng phảiquan tâm đúng mức tới những thông tin báo cáo do KTNB cung cấp và đượctiếp nhận xử lý một cách khách quan và kịp thời

Các nhân tố khách quan

Thứ nhất, nhân tố pháp lý: KTNB của NHTW cần có vị trí độc lập

tương đối, được thể chế trong luật NHNN, trong các văn bản dưới luật vàtrong quy định chức năng, nhiệm vụ của Vụ KTNB

Thứ hai, nhân tố từ phía KTNN: Sự hỗ trợ của KTNN về đào tạo, việc

ban hành các chuẩn mực kiểm toán cũng như quy trình và phương pháp kiểmtoán, hoạt động kiểm toán thường xuyên sẽ hỗ trợ tích cực cho KTNB hoànthành tốt nhiệm vụ, từ đó đánh giá chính xác thực trạng chất lượng KTNB củaNHNN, giúp cho Ban lãnh đạo ngân hàng và hệ thống KTNB nâng cao chấtlượng hoạt động

Thứ ba, các nhân tố khác như sự hỗ trợ, đánh giá đúng mức của các cơ

quan ban ngành, của các tổ chức quốc tế về hoạt động KTNB là cơ sở đểnâng cao chất lượng hoạt động KTNB của Ngân hàng Trung ương

1.3 Kiểm toán nội bộ ở Ngân hàng Trung ương một số nước và bài học cho

Việt Nam

1.3.1 Kiểm toán nội bộ Ngân hàng Trung ương một số nước

1.3.1.1 Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc (BOK):

Điều hành hoạt động của BOK là Hội đồng chính sách tiền tệ và Thốngđốc Hội đồng chính sách tiền tệ điều hành trực tiếp hoạt động của KTNB Tổchức thực hiện nhiệm vụ trực tiếp gồm: Kiểm toán trưởng và Vụ KTNB

Trang 34

Kiểm toán trưởng do Tổng thống bổ nhiệm trên cơ sở đề nghị của Bộtrưởng Bộ Tài chính cho một nhiệm kỳ 03 năm, hoạt động độc lập với Banlãnh đạo BOK, chịu trách nhiệm chỉ đạo, điều hành trực tiếp Vụ KTNB.

Cơ cấu tổ chức của Vụ KTNB gồm: Vụ trưởng, các Phó Vụ trưởng và 6nhóm nghiệp vụ (nhóm xây dựng kế hoạch kiểm toán và 5 nhóm kiểm toánchuyên đề) Vụ trưởng và các Phó Vụ trưởng do Thống đốc BOK bổ nhiệm,miễn nhiệm

Kiểm toán trưởng thực hiện kiểm toán tổng thể chức năng và toàn bộhoạt động của BOK; báo cáo kết quả kiểm toán lên Hội đồng chính sách tiền

tệ Kiểm toán trưởng trình bản báo cáo kiểm toán thường niên cho Chính phủ

và Hội đồng chính sách tiền tệ

Vụ KTNB có nhiệm vụ:

- Xác nhận giá trị tài sản ngân hàng nắm giữ (VD: tiền mặt ) là đúng vànguyên vẹn;

- Đảm bảo tính chính xác của các báo cáo tài chính;

- Giám sát việc tuân thủ pháp luật, tuân thủ quy định, quy trình trong cáchoạt động hàng ngày của ngân hàng;

- Đưa ra biện pháp tối ưu cho việc cải thiện hoạt động nghiệp vụ cầnthiết;

- Khuyến khích áp dụng các biện pháp kiểm soát nội bộ hiệu quả

Các loại hình kiểm toán:

- Kiểm toán theo kế hoạch thường xuyên, gồm: kiểm toán hoạt động vàkiểm toán báo cáo tài chính (kiểm toán tài sản)

- Kiểm toán đặc biệt: thực hiện theo yêu cầu của Thống đốc hoặc Kiểmtoán trưởng

- Kiểm toán hàng ngày: kiểm toán trước; kiểm toán trong; giám sát tạichỗ và theo dõi trực tiếp qua mạng máy tính

Mô hình đánh giá rủi ro:

Trang 35

Tại BOK đã xác định thí điểm những lĩnh vực rủi ro tổng thể gồm: tàichính/kế toán; hồ sơ tài liệu/an ninh; hệ thống công nghệ thông tin; dự án/luật

và quy chế; các lĩnh vực khác và rủi ro kiểm toán Xác định các lĩnh vực rủi

ro theo yếu tố thông thường trong hoạt động và đánh giá rủi ro cụ thể trongtừng hoạt động có nguy cơ lớn Lập kế hoạch kiểm toán hàng năm và phân bổnguồn lực kiểm toán trên cơ sở đánh giá rủi ro

Kiểm toán dựa trên cơ sở đánh giá rủi ro mục đích nhằm phân bổ nguồnlực kiểm toán có hiệu quả, thực hiện theo quy trình sau: xác định rủi ro chính;đánh giá kiểm soát nội bộ để giảm thấp mức độ rủi ro; xây dựng dữ liệu kiểmsoát rủi ro; ưu tiên kiểm toán dựa trên cơ sở đánh giá rủi ro và lập kế hoạchkiểm toán

Để nâng cao chất lượng kiểm toán, Vụ KTNB đã tập trung kiểm toánhoạt động để đánh giá tính kinh tế, hiệu quả của các dự án hoặc thực hiệnchức năng đặc biệt; cải thiện kiểm toán công nghệ tin học để xử lý an toàn dữliệu, hệ thống ổn định, an toàn thông tin, giao dịch liên tục, tránh gián đoạn;cải thiện kiểm toán tài chính để đáp ứng các thông lệ quốc tế; kết hợp kiểmtoán cùng với các chuyên gia bên ngoài (thuê chuyên gia kiểm toán)

1.3.1.2 Ngân hàng Trung ương Pháp:

Tổ chức của NHTW Pháp gồm các Hội đồng, Uỷ ban chuyên môn vàcác Vụ tham mưu cho Thống đốc về các lĩnh vực hoạt động cụ thể củaNHTW; ngoài ra còn các nhà máy, doanh nghiệp trực thuộc để sản xuất, intiền giấy và tiền kim loại NHTW Pháp có 211 Chi nhánh tại các tỉnh, khuvực của nước Pháp với tổng số cán bộ khoảng 15000 người và 2 Trung tâmđiều hành và xử lý dữ liệu điện tử

Tổng kiểm soát trưởng tham mưu giúp Thống đốc trong việc thực hiệnKTNB các đơn vị của NHTW, đảm bảo cho hệ thống kiểm soát nội bộ thiết

Trang 36

lập đầy đủ và hoạt động hiệu quả tại các lĩnh vực hoạt động của NHTW Tổngkiểm soát trưởng phụ trách Tổng kiểm soát và Vụ Quản lý rủi ro.

*Tổng kiểm soát:

Cơ cấu của Tổng kiểm soát gồm:

- Văn phòng (cơ cấu tổ chức không phải là cấp Vụ);

- Kiểm toán các đơn vị trung ương (cơ cấu tổ chức là Vụ, đứng đầu là 1

Vụ trưởng) gồm các phòng: kiểm toán công nghệ thông tin; kiểm toán tổnghợp; kiểm toán tài chính; an toàn tài sản;

- Kiểm toán Chi nhánh;

- Thanh tra, giám sát các TCTD

Vụ KTNB căn cứ vào những thông số rủi ro do Vụ Quản lý rủi ro báocáo để xây dựng chương trình kiểm toán hàng năm Kế hoạch kiểm toán dựatrên yêu cầu của NHTW Pháp và yêu cầu của NHTW Châu Âu TrongNHTW Châu Âu có Ủy ban KTNB có trách nhiệm xây dựng chương trình,nội dung kiểm toán hàng năm và thông báo đến từng NHTW thành viên.NHTW thành viên căn cứ vào kế hoạch thông báo của NHTW Châu Âu, dựatrên những yêu cầu cụ thể của ngân hàng mình để xây dựng kế hoạch kiểmtoán chi tiết, sau đó báo cáo lại NHTW Châu Âu Mỗi NHTW trong hệ thốngđều thực hiện việc báo cáo theo một mẫu chung để NHTW Châu Âu tổng hợp

Kế hoạch kiểm toán hàng năm được Ủy ban Kiểm toán phê chuẩn, sau

đó mới đến Thống đốc Ngân hàng Trước khi thực hiện kiểm toán, NHTWPháp xem xét tổng thể tất cả các hoạt động để đưa ra lĩnh vực cần tập trun gkiểm toán Đặc biệt, NHTW Pháp quan tâm đến những lĩnh vực xảy ra sự cố,xem những lỗi đó xảy ra có được ghi nhận hay ghi chép trên giấy tờ nàokhông Trên cơ sở đó mới tiếp tục thực hiện các bước tiếp theo của kiểmtoán

* Vụ Quản lý rủi ro:

Vụ Quản lý rủi ro có 2 nhiệm vụ chính:

Trang 37

- Bảo mật thông tin: đưa ra những quy định, những chế tài về bảo mậtthông tin cũng như những công cụ đảm bảo tính bảo mật, an toàn của toàn hệthống.

- Phân tích, tổng hợp đưa ra các biện pháp phòng ngừa rủi ro Hỗ trợ,phân tích rủi ro cho các đơn vị trong NHTW

NHTW Pháp đã từng bước tiếp cận phương pháp kiểm soát rủi ro thaycho phương pháp truyền thống, đó là: phương pháp tiếp cận toàn diện, coi rủi

ro tồn tại ở tất cả các hoạt động, các phòng, ban nghiệp vụ và cần phải đượcxem xét, đánh giá trên một cơ sở liên tục; mọi nhân viên đều cần xem quản lýrủi ro là một phần công việc của mình chứ không phải chỉ là việc của bộ phậnkiểm soát chuyên trách

Để nhận biết, đánh giá và lượng hoá các rủi ro hoạt động, KTNB sửdụng nhiều phương pháp toán học khác nhau như xây dựng ma trận rủi ro, sửdụng một phần mềm chuyên nghiệp (ORCAS) để đưa ra được các chỉ số nhậnbiết và lượng hoá rủi ro Các Phòng, Ban nghiệp vụ nhận dạng và phân tíchnhững rủi ro trong hoạt động tại đơn vị mình, gửi báo cáo lên Vụ Quản lý rủi

ro Căn cứ vào báo cáo của các đơn vị, Vụ Quản lý rủi ro sẽ tổng hợp để trìnhlên Tổng kiểm soát trưởng Vụ Quản lý rủi ro chịu trách nhiệm đưa ra phươngpháp quản trị rủi ro; tập hợp những số liệu, dữ liệu rủi ro nghiệp vụ, quản lý

hệ thống tin học kiểm tra rủi ro nghiệp vụ và lập báo cáo tổng hợp trìnhThống đốc Việc phân tích rủi ro được thực hiện theo định kỳ thông thường là

3 tháng/lần

1.3.1.3 Ngân hàng Trung ương Singapore:

NHTW Singapore (Monetary Authority of Singapore) là một cơ quancủa Chính phủ Theo đạo luật NHTW Singapore, Ban điều hành NHTWSingapore được chỉ định bởi Tổng thống Chủ tịch Ban điều hành được chỉđịnh bởi Tổng thống theo đề nghị của Chính phủ, Thống đốc là 1 thành viêncủa Ban điều hành Ban điều hành có trách nhiệm điều hành các chính sách và

Trang 38

quản trị chung đối với các hoạt động đối nội và đối ngoại của NHTWSingapore Ban điều hành có trách nhiệm đến cùng đối với Quốc hộiSingapore qua vai trò của Bộ trưởng phụ trách NHTW Singapore.

Tại NHTW Singapore có Ủy ban kiểm toán trực thuộc Ban điều hành,độc lập với Thống đốc trong hoạt động tác nghiệp Ủy ban kiểm toán đề racác quy định hướng dẫn công tác kiểm soát nội bộ và KTNB của các đơn vịtrong NHTW Singapore Ủy ban kiểm toán thường xuyên xem xét, sử dụngcác kết quả kiểm toán của KTNB và kiểm toán độc lập để báo cáo Ban điềuhành trong việc chỉ đạo hoạt động của NHTW Singapore

Vụ KTNB trực thuộc Ủy ban kiểm toán, có vị trí độc lập với các Vụ,Cục khác tại NHTW Singapore trong quá trình thực hiện nghiệp vụ VụKTNB thực hiện báo cáo kết quả hoạt động kiểm toán cho Ủy ban kiểm toán

và đồng gửi 01 bản cho Thống đốc để phối hợp

Về phạm vi kiểm toán, Vụ KTNB thực hiện kiểm toán tất cả các hoạtđộng nghiệp vụ tại NHTW Singapore Hàng năm, căn cứ tình hình mới, VụKTNB cập nhật các hoạt động nghiệp vụ mới của NHTW Singapore để phântích, đánh giá rủi ro và quyết định tần suất kiểm toán đối với nghiệp vụ đó.Hiện nay, Vụ KTNB không thực hiện kiểm toán Báo cáo tài chính củaNHTW Singapore mà chỉ kiểm toán những lĩnh vực liên quan đến tài chính.Báo cáo tài chính hàng năm của NHTW Singapore do Kiểm toán độc lập thựchiện kiểm toán

Về phương pháp kiểm toán, Vụ KTNB sử dụng phương pháp kiểm toántrên cở sở phân tích, đánh giá rủi ro Căn cứ trên kết quả phân tích và đánh giárủi ro, Vụ KTNB lập kế hoạch kiểm toán và thực hiện kiểm toán đối với cáchoạt động nghiệp vụ của NHTW Singapore Hàng năm, Vụ sẽ cập nhật, tậphợp tất cả các hoạt động nghiệp vụ có thể tiến hành kiểm toán được và tiếnhành phân tích, đánh giá rủi ro đối với từng hoạt động nghiệp vụ để xác định

Trang 39

tần suất kiểm toán Từ đó, Vụ KTNB sẽ lập kế hoạch kiểm toán hàng năm, 03năm, 05 năm.

Trong quá trình kiểm toán, hầu hết công việc kiểm toán đều được thựchiện trên máy tính Hiện tại, Vụ KTNB sử dụng một số phần mềm hỗ trợkiểm toán như: AUDIT TRAX, TEAMMATE, TIME TRAX

Hàng năm, Vụ KTNB cũng thực hiện tự đánh giá chất lượng hoạt động.Việc đánh giá nhằm kiểm tra mức độ tuân thủ trong hoạt động của Vụ đối vớicác tiêu chuẩn KTNB quốc tế (IIAs), hệ thống chuẩn mực đạo đức, Hiếnchương KTNB từ đó xác định những khu vực, lĩnh vực cần chỉnh sửa, hoànthiện Đồng thời việc đánh giá này định kỳ khoảng 03 - 05 năm sẽ được Kiểmtoán độc lập thực hiện

1.3.2 Một số điểm nổi bật, khái quát chung qua nghiên cứu mô hình kiểm

toán Ngân hàng Trung ương các nước

- Ban Lãnh đạo các NHTW đều rất chú trọng công tác KTNB ngân hàng

Bộ phận KTNB của NHTW các nước đều được tổ chức theo cơ cấu một Vụđộc lập, chịu trách nhiệm báo cáo trực tiếp lên Thống đốc hoặc Hội đồng quảntrị Vì vậy, tính độc lập trong hoạt động kiểm toán của các Vụ KTNB rất cao

- KTNB của NHTW các nước có nhiệm vụ kiểm toán toàn diện đối vớihoạt động NHTW Các lĩnh vực được chú trọng là những lĩnh vực có rủi rocao, kể cả về tiền bạc và uy tín Vì vậy, phạm vi KTNB không chỉ hạn chế ởlĩnh vực tài chính mà còn cả ở các lĩnh vực phi tài chính như quản lý, nhânsự,

- Phương pháp KTNB mà các nước nghiên cứu sử dụng phổ biến làphương pháp kiểm toán trên cơ sở phân tích, đánh giá rủi ro Phương phápnày được sử dụng từ khâu lập kế hoạch kiểm toán cho đến các khâu thực hiệnkiểm toán

- Kiểm toán viên nội bộ của các NHTW là người có trình độ, phẩmchất, kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực được kiểm toán, được tuyển dụng

Trang 40

từ những cán bộ của NHTW Công tác đào tạo cán bộ kiểm toán đặc biệtđược quan tâm, kiểm toán viên được đào tạo cơ bản và thường xuyên đượcbồi dưỡng chuyên sâu về kỹ thuật kiểm toán Tại một số nước, các kiểm toánviên được bố trí một khoản kinh phí và thời gian dành cho việc đào tạo nângcao nghiệp vụ.

- Qua nghiên cứu mô hình KTNB của các nước cho thấy việc kiểm toánđược thực hiện trên cơ sở các phương pháp kiểm toán hiện đại với sự hỗ trợcủa các phần mềm kiểm toán Việc ứng dụng những chương trình phần mềmnày giúp cho việc lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán, lập báo cáokiểm toán, theo dõi việc chỉnh sửa kiến nghị của các đơn vị, được thốngnhất và rút ngắn thời gian Đồng thời, phần mềm ứng dụng còn hỗ trợ cả cáchoạt động khác liên quan đến kiểm toán (quản lý kiểm toán viên, đánh giá rủi

ro, tự đánh giá hoạt động kiểm toán,.)

1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Qua nghiên cứu mô hình KTNB NHTW một số nước, chúng ta có thể rút

ra được một số bài học kinh nghiệm và vận dụng vào tình hình thực tế củaViệt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển hệ thống KTNB, nhằm nângcao chất lượng KTNB NHNN Việt Nam, đó là:

Thứ nhất, là tính độc lập của KTNB và công tác chỉ đạo điều hành hoạt động KTNB NHTW: KTNB trước hết phải đảm bảo được tính độc lập và luôn

trực thuộc cấp quản lý cao nhất của NHNN Việt Nam Tính độc lập và kháchquan của KTNB là quy định có tính nguyên tắc Nguyên tắc này được hiểu làhoạt động KTNB không chịu áp lực nào trong việc xác định đối tượng kiểmtoán, cách thức tiến hành công việc và thông tin về kết quả kiểm toán VụKTNB không tham gia vào bất cứ hoạt động tác nghiệp hay điều hành nào

của NHTW

Ngày đăng: 23/04/2022, 08:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Có thể mô hình hóa chu trình của KTNB như sau: - NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN NỘI BỘTẠI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
th ể mô hình hóa chu trình của KTNB như sau: (Trang 25)
và theo dõi tình hình thực hiện kiến nghị sau kiểm toán, 01 bản gửi báo cáo lên Thống đốc NHNN. - NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN NỘI BỘTẠI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
v à theo dõi tình hình thực hiện kiến nghị sau kiểm toán, 01 bản gửi báo cáo lên Thống đốc NHNN (Trang 54)
Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay, việc triển khai, xây dựng kế hoạch kiểm toán 3 đến 5 năm là một nhiệm vụ rất khó khăn - NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN NỘI BỘTẠI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
uy nhiên, trong tình hình hiện nay, việc triển khai, xây dựng kế hoạch kiểm toán 3 đến 5 năm là một nhiệm vụ rất khó khăn (Trang 85)
Bảng 3.4. Minh họa thủ tục kiểm toán đối với nghiệp vụ tín dụng - NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN NỘI BỘTẠI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Bảng 3.4. Minh họa thủ tục kiểm toán đối với nghiệp vụ tín dụng (Trang 88)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w