Vì vậy, cùng vớiviệc nâng cao năng lực quản lý kinh doanh cho các ngân hàng thương mạiNHTM thì nâng cao chất lượng thanh tra - giám sát các mặt hoạt độngđối với tổ chức tín dụng TCTD là
Trang 1NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
ĐINH THỊ THANH LẠNG
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC THANH TRA,GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI, 2010
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu
đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, kết quả của luận văn là trung thực
và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ
Đinh Thị Thanh Lạng
Trang 3NHNN: Ngân hàng Nhà nước
NHĐT&PT: Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
NHNo&PTNT: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐÒ
Sơ đồ 2.1: Hệ thống các TCTD trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 37
Bảng 2.1: Huy động vốn của các TCTD trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 42
Biểu đồ 2.1: Huy động vốn của các NHTM trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
thời kỳ 2007- 2009 43
Biểu 2.2: Dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 45
Bảng 2.3 Dư nợ của các TCTD phân theo loại hình cho vay 46
Biểu đồ 2.2 Dư nợ cho vay của các NHTM trên địa bản tỉnh Thái
Sơ đồ 3.2.1: Mối quan hệ giữa thanh tra trên cơ sở rủi ro và giám sát
ngân hàng theo CAMELS 73
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu của luận văn 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu của luận văn 3
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 Những vấn đề cơ bản về thanh tra, giám sát ngân hàng 4
1.1.1 Khái niệm về công tác thanh tra, giám sát ngân hàng 4
1.1.2 Sự cần thiết của công tác thanh tra, giám sát ngân hàng đối với các Tổ chức tín dụng 6
1.1.3 Các nguyên tắc trong hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng 7
1.2 Hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước đối với các Tổ chức tín dụng 8
1.2.1 Vị trí, vai trò và mục đích hoạt động của thanh tra, giám sát ngân hàng 8
1.2.2 Tổ chức, bộ máy của Thanh tra, giám sát ngân hàng 11
1.2.3 Nội dung hoạt động của Thanh tra, giám sát Ngân hàng 13
1.3 Các phương pháp Thanh tra, giám sát đối với các ngân hàng thương mại 14
1.3.1 Các phương pháp giám sát của ngân hàng Trung ương đối với các ngân hàng thương mại 14
1.3.2 Phương thức hoạt động thanh tra, giám sát đối với các ngân hàng thương mại của ngân hàng Trung ương 16
1.4 Chất lượng công tác thanh tra, giám sát hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 21
1.4.1 Khái niệm chất lượng thanh tra, giám sát hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 21
1.4.2 Nội dung thanh tra, giám sát hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại 23
Trang 61.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng thanh tra, giám sát hoạt
động tín dụng của ngân hàng thương mại 29
1.5.1 Các nhân tố chủ quan 29
1.5.2 Những nhân tố khách quan 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THANH TRA, GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN 34
2.1. Khái quát tổ chức và hoạt động tín dụng của các ngân hàng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 34
2.1.1 Một số tình hình cơ bản về kinh tế - xã hội 34
2.1.2 Mạng lưới Tổ chức tín dụng trên địa bàn 37
2.1.3 Tình hình hoạt động tín dụng của các Tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên thời kỳ 2007 - 2009 40
2.1.4 Những tồn tại chủ yếu về công tác tín dụng phát hiện qua các cuộc thanh tra tại chỗ thời kỳ 2007 - 2009 48
2.1.5 Nguyên nhân của những tồn tại 52
2.2 Thực trạng chất lượng công tác thanh tra, giám sát hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 52
2.2.1 Về bộ máy tổ chức của Thanh tra, giám sát chi nhánh Ngân hàng Nhà nước Thái Nguyên 52
2.2.2 Thực trạng chất lượng công tác thanh tra, giám sát hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 56
2.2.2 Thực trạng chất lượng công tác thanh tra, giám sát hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 56
2.3 Đánh giá chất lượng công tác thanh tra, giám sát hoạt động tín dụng của Thanh tra Ngân hàng N hà nước tỉnh Thái Nguyên 60
2.3.1 Những kết quả đạt được 60
2.3.2 Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân 62
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 67
Trang 7Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THANH TRA,
GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA CÁC NHTM TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN 68
3.1 Định hướng, nhiệm vụ, giải pháp hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng trong thời gian tới 68
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác thanh tra, giám sát hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 71
3.2.1 Thay đổi nhận thức và tư duy của đội ngũ cán bộ, thanh tra viên về mục tiêu quản lý của hoạt động thanh tra và phương thức thanh tra, giám sát ngân hàng 71
3.2.2 Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động giám sát từ xa, nhất là giám sát hoạt động tín dụng của các NHTM 74
3.2.3 Nâng cao chất lượng hoạt động thanh tra trực tiếp 76
3.2.4 Tăng cường thanh tra, giám sát hoạt động tín dụng trên cơ sở rủi ro 78
3.2.5 Tập trung đánh giá việc thực hiện chính sách tín dụng của ngân hàng thương mại 81
3.2.6 Thanh tra, giám sát việc tuân thủ quy trình cho vay 87
3.2.7 Phối kết hợp trong hoạt động thanh tra, giám sát với kiểm tra, kiểm toán toán nội bộ Tổ chức tín dụng và kiểm toán độc lập 89
3.2.8 Kiện toàn và tăng cường đội ngũ cán bộ Thanh tra, giám sát ngân hàng 90
3.3 Một số đề xuất, kiến nghị 92
3.3.1 Kiến nghị đối với Thanh tra Chính phủ 92
3.3.2 Đề xuất, kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 93
3.3.3 Kiến nghị đối với các Tổ chức tín dụng 95
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 96
KẾT LUẬN 97
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế,
hệ thống tài chính ngân hàng Việt Nam đã có những bước phát triển nhanhchóng cả về quy mô và chất lượng, tác động tích cực đến sự tăng trưởng,
ổn định và kìm chế lạm phát của nền kinh tế thị trường tài chính trongnước Sản phẩm của kinh tế thị trường làm cho các công cụ tài chính, đặcbiệt là các công cụ tài chính phái sinh, xuất hiện ngày càng đa dạng, phứctạp Thị trường tài chính dần mở cửa theo lộ trình thực hiện các cam kết vềngân hàng - tài chính của Hiệp định thương mại Việt - Mỹ cũng như xuhướng toàn cầu hóa Những xu hướng này làm cho hoạt động tài chínhngân hàng trở lên nhạy cảm, dễ gặp phải rủi ro nhiều hơn Vì vậy, cùng vớiviệc nâng cao năng lực quản lý kinh doanh cho các ngân hàng thương mại(NHTM) thì nâng cao chất lượng thanh tra - giám sát các mặt hoạt độngđối với tổ chức tín dụng (TCTD) là nhiệm vụ quan trọng nhằm kịp thờiphát hiện, ngăn chặn và giảm thiểu các thiệt hại trong hoạt động kinhdoanh của các TCTD Trong quá trình đổi mới đó, hoạt động thanh tra -giám sát của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thời gian qua đã có bước pháttriển khá tốt, góp phần làm cho hệ thống các TCTD Việt Nam đã và đang
ổn định như ngày nay Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu mới của quá trìnhhội nhập thì phải thay đổi một cách căn bản cả về tổ chức, cách thức hoạtđộng cũng như chất lượng thanh tra Việc rà soát, đánh giá kết quả thựchiện và đổi mới công tác thanh tra, giám sát ngân hàng theo các chuẩn mựcquốc tế là nội dung cần thiết hiện nay
Trang 9Thái Nguyên là khu vực kinh tế trọng điểm của miền núi phía Bắc, làtrung tâm công nghiệp lớn của cả nước Trong những năm qua, hệ thống cácNHTM trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã phát triển nhanh chóng về cơ cấu,mạng lưới, đa dạng phong phú về hoạt động dịch vụ Cùng với sự phát triển
đó, hoạt động thanh tra Ngân hàng nói chung và Thanh tra NHNN Chi nhánhtỉnh Thái Nguyên nói riêng đã có những đóng góp tích cực trong việc chấnchỉnh hoạt động các Ngân hàng, nâng cao ý thức của các TCTD, các thànhphần kinh tế có liên quan trong việc tuân thủ, chấp hành chính sách pháp luật,quy chế quy định của Nhà nước, Ngành Thông qua kết quả thanh tra đã điềuchỉnh, bổ sung kịp thời về cơ chế, chính sách, phương thức quản lý phù hợpvới thực tiễn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý, tăng cườngpháp chế XHCN, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh
tế xã hội của địa phương
Với ý nghĩa đó đòi hỏi hoạt động Thanh tra ngân hàng nói chung,Thanh tra chi nhánh NHNN Thái Nguyên nói riêng phải có sự đổi mới để đáp
ứng được yêu cầu của quản lý nhà nước và đề tài “Nâng cao chất lượng công tác thanh tra, giám sát hoạt động tín dụng các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” được tác giả lựa chọn nghiên cứu với mong muốn
hiểu và luận giải được cơ sở lý luận thực tiễn của vấn đề, từ đó đề ra giải phápkhắc phục những hạn chế trong công tác thanh tra, giám sát hoạt động tíndụng để hoạt động thanh tra ngân hàng ngày càng hoàn thiện và có hiệu lựccao hơn
2 Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu của luận văn
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về thanh tra, giám sátNHTM nói chung và đặc biệt là thanh tra, giám sát hoạt động tín dụng của cácNHTM
Trang 10- Nghiên cứu thực trạng thanh tra, giám sát hoạt động tín dụng của cácNHTM trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, đánh giá những kết quả đạt được,những bất cập, yếu kém và nguyên nhân dẫn đến những bất cập, yếu kém đó
để đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng công tác thanh tra, giám sáthoạt động tín dụng của các NHTM trên địa bàn tỉnh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên là công tác thanh tra, giám sát của NHNN đối vớicác NHTM và trọng tâm là thanh tra, giám sát hoạt động tín dụng của cácNHTM
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu công tác thanh tra, giámsát hoạt động tín dụng của các NHTM trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên thời kỳ
2007 - 2009
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử;phương pháp tổng hợp, so sánh và phân tích đánh giá trên cơ sở các số liệuthống kê, các báo cáo, các kết quả nghiên cứu
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungluận văn được bố trí thành 3 chương
Chương 1: Những vấn đề chung về hoạt động thanh tra, giám sát của
Ngân hàng Nhà nước đối với hoạt động tín dụng của các ngân hàng thươngmại
Chương 2: Thực trạng công tác thanh tra, giám sát hoạt động tín dụng
của các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cô ng tác thanh tra,
giám sát hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại trên địa bàntỉnh Thái Nguyên
Trang 11Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC ĐỚI VỚI HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI1.1 Những vấn đề cơ bản về thanh tra, giám sát ngân hàng
1.1.1 Khái niệm về công tác thanh tra, giám sát ngân hàng
* Khái niệm về Thanh tra:
Trong chức năng quản lý Nhà nước, thanh tra, giám sát là những kháiniệm khá phổ biến, được coi như công cụ hữu hiệu đảm bảo cho việc thựchiện các mục tiêu đạt được hiệu quả cao nhất
Muốn hiểu rõ được khái niệm về công tác thanh tra, giám sát trước hếtchúng ta cần phân biệt rõ các khái niệm trên
- Thanh tra tiếng Anh là Inspect, có nguồn gốc từ tiếng La tinhInspective, có nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ sự kiểm soát hoạt động củamột đối tượng nhất định
Theo tiếng Việt:
- Thanh tra là kiểm tra, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơquan, xí nghiệp
- Giám sát là theo dõi và kiểm tra việc thực hiện quy định
Như vậy, xét về tính chất thì công tác thanh tra, giám sát đều là côngviệc
của cơ quan quản lý Nhà nước thực hiện trên các đối tượng chịu sự quản lý.Tuy
nhiên, giữa chúng vẫn có sự khác biệt, mặc dù chỉ mang tính tương đối
- Thanh tra là phạm trù lịch sử, gắn liền với sự xuất hiện của Nhànước
Do vậy, hoạt động thanh tra giám sát nhằm phục vụ chức năng của các cơ
Trang 12Trước hết, sự cần thiết của hoạt động thanh tra giám sát trong hoạtđộng quản lý Nhà nước được biểu hiện như sau:
- Có thể nói rằng ở đâu có sự lãnh đạo quản lý, ở đó có hoạt động thanhtra giám sát Quả đúng như vậy, do Nhà nước xuất hiện cùng sự xuất hiện củagiai cấp nhằm bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị Để thực hiện tốt chứcnăng quản lý Nhà nước phải sử dụng thanh tra, giám sát như công cụ đắc lực.Trong nền kinh tế ngày nay, thanh tra là một trong ba yếu tố cấu thành sự lãnhđạo của Nhà nước (gồm có: ban hành quyết định, quy chế; tổ chức thực hiệnquy chế và thanh tra, giám sát quá trình thực hiện các quy chế đó)
- Thanh tra giúp cho cơ quan quản lý kiểm tra tính đúng đắn, hợp lý củacác quyết định quản lý, góp phần hoàn thiện chính sách, khắc phục sơ hởtrong quản lý, giữ vững kỷ cương pháp luật, đảm bảo lợi ích của Nhà nước vàquyền lợi của nhân dân
Thanh tra Nhà nước là cơ quan thanh tra thực hiện việc, kiểm tra cáchoạt động liên quan đến chức năng quản lý Nhà nước, do Nhà nước thành lập
và chỉ đạo Ở Việt Nam Thanh tra Nhà nước là tổ chức Thanh tra Chính phủ.Thanh tra ở các Bộ, Ngành cũng là một tổ chức Thanh tra Nhà nước nhưng làThanh tra chuyên ngành
Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra chuyên về một ngànhnào đó Ví dụ như thanh tra giao thông, thanh tra xây dựng, thanh tra giáodục, thanh tra ngân hàng,
* Thanh tra Ngân hàng:
- Thanh tra Ngân hàng là thanh tra Nhà nước chuyên ngành về ngânhàng, thực hiện việc thanh tra hoạt động của các TCTD và các tổ chức khác
có liên quan đến hoạt động ngân hàng trong việc chấp hành pháp luật, quyđịnh chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý chuyên ngành, lĩnh vực củaNHNN
Trang 13- Thanh tra ngân hàng là việc tổ chức Thanh tra thực hiện chức năngkiểm tra, giám sát đối với các TCTD theo quy định của pháp luật về thanh tranhằm bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng.
- Thanh tra ngân hàng là đơn vị trực thuộc NHNN, thực hiện chức năngthanh tra, giám sát chuyên ngành về ngân hàng, giúp Thống đốc thực hiệnnhiệm vụ, quyền hạn thanh tra trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý củaNHNN (Trích trong quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)
1.1.2 Sự cần thiết của công tác thanh tra, giám sát ngân hàng đối với các Tổ
- Đặc thù của hoạt động kinh doanh ngân hàng cần thiết phải có tổ chứcthanh tra, giám sát chuyên ngành về lĩnh vực này:
Do đặc trưng của hoạt động kinh doanh ngân hàng là dùng uy tín để thuhút nguồn vốn và dùng năng lực quản trị để sử dụng và phát triển dich vụ, với
tư cách là cầu nối giữa người gửi tiền và người vay tiền Đây là mối quan hệđặc trưng, có tác động quyết định đến thành công trong hoạt động ngân hàng.Mặt khác, hoạt động kinh doanh này hết sức nguy hiểm vì phải huy độngđược vốn thì mới có thể cho vay Vì vậy, nếu không thường xuyên tiến hành
Trang 14thanh tra, giám sát hoạt động trong việc tuân thủ pháp luật, quy chế về huyđộng vốn và đầu tư, thì hoạt động của các ngân hàng sẽ gặp phải rủi ro rấtlớn Các rủi ro thường gặp đó là rủi ro tín dụng,rủi ro lãi suất, rủi ro thanhkhoản, rủi ro ngoại hối, Kết quả xấu dẫn đến là sự sụp đổ dây chuyền của cảmột hệ thống tài chính lớn, tác động xấu đến toàn bộ nền kinh tế.
- Thanh tra, giám sát các TCTD hoạt động theo đúng kỷ cương, phápluật:
+ Ở phương diện kinh tế vĩ mô, các TCTD chiếm một ví trí hết sứcquan trọng, đó là nơi tập trung nguồn vốn của toàn bộ nền kinh tế Do vậy,một khi xảy ra sự không ổn định, sẽ ảnh hưởng đến các thành phần khác trongnền kinh tế Để quản lý và điều hành nền kinh tế theo hướng ổn định, Ngânhàng được coi là đòn bẩy kinh tế hữu hiệu, giúp Nhà nước điều tiết chính sáchkinh tế vĩ mô Không chỉ có ngân hàng, mà các TCTD khác, đều chịu sự quản
lý và kiểm soát hoạt động của Nhà nước thông qua hệ thống thanh tra, giámsát Ngân hàng
+ Khi chuyển sang cơ chế thị trường, hoạt động kinh tế ngày càng pháttriển mạnh mẽ Sự cạnh tranh khốc liệt đó đã làm bộc lộ nhiều nhược điểm,yếu kém trong các thành phàn kinh tế nói chung và các TCTD nói riêng Bêncạnh đó, do thói quen, nền nếp hoạt động theo lối bao cấp, thiếu ý thức kỷcương pháp luật, mưu lợi cá nhân của một bộ phận cán bộ, làm nền kinh tế thitrường xuất hiện nhiều “điểm đen”, gây tác động xấu đến toàn bộ nền kinh tế
Đó là điều không thể tránh khỏi, là những khuyết tấn vốn có, là mặt trái củanền kinh tế thị trường Để khắc phục tình trạng trên, đảm bảo hoạt động trongsạch của các TCTD, cần phải có hoạt động của tổ chức Thanh tra Ngân hàngnhằm phát hiện kịp thời, xử lý những tiêu cực đó
1.1.3 Các nguyên tắc trong hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng
Trong quản lý nhà nước, các nguyên tắc cơ bản là những tư tưởng chủđạo bắt nguồn từ cơ sở khoa học của hoạt động quản lý, được quy định làm
Trang 15nền tảng cho hoạt động quản lý hành chính nhà nước Các nguyên tắc đó đượcquy định trong pháp luật như quy định trong hiến pháp, luật,
Hoạt động của Thanh tra ngân hàng là một hoạt động quản lý Nhà nướccủa Ngân hàng nhà nước Do đó các nguyên tắc hoạt động cũng phải tuân thủquy định của pháp luật về thanh tra (Thông tư số 04/2000/TT-NHNN3 ngày28/3/2000 của Thống đốc NHNN Việt Nam) Nguyên tắc hoạt động củaThanh tra Ngân hàng được tóm tắt cơ bản như sau:
- Hoạt động thanh tra, giám sát của Thanh tra Ngân hàng phải đảm bảotuân thủ theo quy định của pháp luật về thanh tra, Luật NHNN và các văn bảnpháp luật khác
- Phải đảm báo chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ,kịp thời
- Không làm cản trở hoạt động bình thường của đối tượng thanh tra.Không một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào được can thiệp trái phép vào hoạtđộng của Thanh tra Ngân hàng
Tất cả các cán bộ, thanh tra viên đều phải nghiêm túc thực hiện cácnguyên tắc này trong suốt quá trình tién hành hoạt động thanh tra, giám sátNgân hàng
1.2 Hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước đối với các Tổ
chức tín dụng
1.2.1 Vị trí, vai trò và mục đích hoạt động của thanh tra, giám sát ngân hàng
1.2.1.1 Vị trí của Thanh tra, giám sát ngân hàng
Thanh tra NHNN được thành lập năm 1956 Với lịch sử hơn 50 nămphát triển, Thanh tra ngân hàng đã khẳng định được vị trí quan trọng tronghoạt động quản lý của NHNN Từ khi thành lập đến nay, Thanh tra Ngânhàng được xác định là bộ phận trong cơ cấu tổ chức của NHNN, thực hiện
Trang 16tra ngân hàng thực hiện nhiệm vụ giám sát thường xuyên và thanh tra trựctiếp tổ chức, hoạt động của các TCTD; thẩm tra xác minh, kết luận, kiến nghịcấp có thẩm quyền xử lý khiếu nại, tố cáo; tham mưu cho Thống đốc NHNN.Thanh tra ngân hàng chịu sự quản lý, lãnh đạo trực tiếp của Thống đốcNHNN và chịu sự chỉ đạo nghiệp vụ của Thanh tra Chính phủ Vị trí củaThanh tra Ngân hàng còn được xác định trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn, đối tượng, nội dung của Thanh tra Ngân hàng Do vậy, Thanh traNgân hàng có vị trí quan trọng trong hoạt động quản lý của NHNN.
1.1.1.2 Vai trò của Thanh tra, giám sát ngân hàng
Trong công tác quản lý của NHNN, Thanh tra Ngân hàng chiếm vai tròhết sức quan trọng Với bối cảnh nền kinh tế thị trường ngày nay, dịch vụ tàichính có vị trí quan trọng hàng đầu Do Nhà nước đang giảm sự can thiệp vàocác hoạt động kinh doanh dịch vụ nhằm nâng cao tính tự chủ của các doanhnghiệp, thay vào đó là quản lý bằng pháp luật, nên Thanh tra Ngân hàng có vịtrí quan trọng để Nhà nước thực hiện tốt chức năng quản lý của mình Một sốmặt thể hiện rõ nhất vai trò của Thanh tra Ngân hàng là:
- Đối với Nhà nước: Tuỳ vào nhiệm vụ trong từng thời kỳ hay đặc thùriêng của từng loại ngân hàng mà Thanh tra Ngân hàng đi sâu vào từng nộidung cụ thể Tuy nhiên, tất cả các mặt nghiệp vụ đều phải được thanh tra,nhằm tăng cường sự tuân thủ của luật pháp Qua đó, giữ cho hoạt động củacác NHTM diễn ra một cách lành mạnh trong khuôn khổ pháp luật
- Đối với nền kinh tế, đảm bảo thực hiện định hướng phát triển kinh tế,thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô về hoạt động ngân hàng, tài chính; chínhsách tiền tệ quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát; qua đóthúc đẩy việc làm, xoá đói giảm nghèo
- Đối với hệ thống ngân hàng, đảm bảo sự phát triển ổn định, vững chắccủa hệ thống, hội nhập quốc tế, tăng cường uy tín trong mắt bạn bè thế giới và
mở rộng hợp tác quốc tế về hoạt động ngân hàng
Trang 17- Đối với tổ chức có hoạt động ngân hàng, việc phát hiện những hành
vi vi phạm giúp cho các cấp lãnh đạo quản lý, đưa ra những quyết sáchđúng đắn, kịp thời, đảm bảo cho sự phát triển bền vững trong kinh doanh.Thanh tra, giám sát ngân hàng nhằm đề phòng và ngăn chặn tối đa mọi vấn
đề có thể xảy ra
- Đối với người dân và các chủ thể khác, bảo vệ quyền lợi chính đángcho họ trong việc gửi tiền, vay vốn, được hưởng những dịch vụ ngân hàngvới chất lượng tốt nhất Thanh tra giúp phát hiện những vi phạm trong hoạtđộng của tổ chức, sai lầm trong cơ chế của Nhà nước, qua đó có đề xuấtvới các cấp có thẩm quyền, kiến nghị, xử lý theo pháp luật, giúp cho cácvăn bản, quyết sách của Nhà nước phù hợp hơn với thực tế Nhờ vậy màquyền lợi của khách hàng mới được đảm bảo và họ sẽ thực sự yên tâm sửdụng dịch vụ ngân hàng tại bất cứ đâu mà họ muốn
Ví dụ thực tế như cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á năm
1997, hệ thống ngân hàng của các nước trong khu vực đã bộ lộ nhiều yếukém trong hoạt động, cũng như những sơ hở trong hoạt động thanh tra củaThanh tra ngân hàng các nước Qua đó chứng minh rằng, nếu Thanh traNgân hàng có thể phát huy tốt vai trò của mình thì hoàn toàn có thể ngănchặn được những tổn thất không đáng có cho hệ thống tài chính - tiền tệnói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung Nhận thức được vai trò quantrọng của Thanh tra ngân hàng, các quốc gia trên thế giới đang nỗ lực hoànthiện và phát triển hệ thống thanh tra của mình theo hướng tích cực, toàndiện và phù hợp với bối cảnh thế giới
Liên hệ Việt Nam, sự yếu kém của một số NHTM và TCTD kháctrong những năm 90 của thế kỷ trước cũng có một phần nguyên nhân từ sựhạn chế trong việc phát huy vai trò của Thanh tra Ngâ n hàng
Trang 181.2.1.3 Mục đích hoạt động của Thanh tra, giám sát ngân hàng
- Sự an toàn của các TCTD: sự an toàn của các TCTD luôn được cáctầng lớp trong xã hội quan tâm đặc biệt vì họ nhận thức được rằng sự phá sảncủa một ngân hàng sẽ khủng khiếp hơn bất kỳ sự sụp đổ của một doanhnghiệp nào khác Nó sẽ kéo theo sự sụp đổ dây chuyền cho rất nhiều th ànhphần trong kinh tế, tạo nên một con địa chấn thật sự với nền kinh tế, gây ra sựhoảng loạn của công chúng kèm theo những hệ luỵ không mong muốn Vìvậy, để đảm bảo sự an toàn, các Ngân hàng cũng như các TCTD khác phảichấp hành nghiêm túc các quy định của pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngânhàng Tuy nhiên vì lý do lợi nhuận, thì một số TCTD đã lờ đi các quy địnhcủa pháp luật Do vậy sự kiểm soát của nhà nước đối với các TCTD, bên cạnh
hệ thống tự thanh tra, giám sát của từng ngân hàng, là hết sức cần thiết đểđảm bảo hệ thống TCTD hoạt động ổn định, an toàn và đúng theo pháp luật
- Quản lý nền kinh tế vĩ mô: Để quản lý vĩ mô nền kinh tế đất nước,Nhà nước rất quan tâm đến hoạt động của các TCTD Việc thanh tra, giám sátbuộc các TCTD phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, ngăn chặn nhữnghành vi cạnh tranh không lành mạnh giữa các TCTD, tạo điều kiện cho chínhsách tiền tệ được thực thi một cách đúng đắn và hiệu quả Qua đó giúp choNhà nước kết hợp hài hoà lợi ích của mọi tầng lớp trong xã hội, thực hiệnmục tiêu phát triển kinh tế đã đề ra cũng như chính sách tiền tệ quốc gia mộtcách có hiệu quả nhất
1.2.2 Tổ chức, bộ máy của Thanh tra, giám sát ngân hàng
* Tổ chức, bộ máy của Thanh tra, giám sát Ngân hàng trước khi có Pháp lệnh Thanh tra và Pháp lệnh Ngân hàng
Bắt đầu từ khi thành lập, Thanh tra Ngân hàng là tổ chức thanh tra hànhchính của NHNN, hoạt động thanh tra tuân theo mệnh lệnh và yêu cầu củaThủ trưởng ngành Thời kỳ này, Thanh tra Ngân hàng không nằm trong hệ
Trang 19thống Thanh tra Nhà nước, với hoạt động chủ yếu là xem xét, giải quyết đơnthư khiếu nại, tố cáo trong nội bộ NHNN Với cơ cấu và chức năng như vậy,Thanh tra Ngân hàng thời kỳ này chưa được chú trọng, quan tâm một cáchđúng mức.
* Tổ chức, bộ máy của Thanh tra Ngân hàng sau khi có Pháp lệnh Thanh tra và Pháp lệnh Ngân hàng
Sau khi các Pháp lệnh Ngân hàng cũng như Luật NHNN Việt Nam vàLuật các TCTD ra đời, nhất là từ khi có Nghị định số 91/1999/NĐ-CP ngày04/09/1999 về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Ngân hàng ra đời, Thanhtra Ngân hàng được xác định rõ là tổ chức Thanh tra chuyên ngành về Ngânhàng, thuộc bộ máy của NHNN Việt Nam
- Thanh tra NHNN chịu sự điều hành trực tiếp của Thống đốc NHNN,giúp Thống đốc thực hiện việc Thanh tra, giám sát hoạt động tiền tệ tín dụng
và Ngân hàng trên phạm vi toàn quốc
- Thanh tra chi nhánh NHNN là đơn vị trực thuộc chi nhánh NHNNtỉnh, thành phố Thanh tra chi nhánh NHNN chịu sự quản lý, chỉ đạo của giámđốc chi nhánh NHNN đó, đồng thời chịu sự chỉ đạo về nghiệp vụ của Thanhtra NHNN Tổ chức của Thanh tra chi nhánh cũng bao gồm Chánh thanh tra
và các phó Chánh thanh tra Việc bổ nhiệm, miễn nhiễm Chánh thanh tra chinhánh do Giám đốc chi nhánh NHNN đề nghị lên Chánh Thanh tra NHNN đểtrình Thống đốc quyết định Việc bổ nhiệm, miễn nhiễm Phó Chánh thanh traChi nhánh do Giám đốc Chi nhánh NHNN quyết định Tổ chức, bộ máyThanh tra chi nhánh NHNN được chia thành 2 tổ: tổ Thanh tra tại chỗ và tổGiám sát, phân tích
Hiện nay, Cơ quan Thanh tra, giám sát Ngân hàng được tổ chức từTrung ương đến địa phương, thực hiện chức năng thanh tra hành chính, thanhtra chuyên ngành và giám sát chuyên ngành về ngân hàng thuộc phạm vi quản
Trang 20lý của NHNN, giúp Thống đốc NHNN quản lý nhà nước đối với các TCTD, tổchức tài chính quy mô nhỏ, hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác, thựchiện
phòng chống rửa tiền theo quy định của pháp luật Cơ cấu tổ chức của Cơquan
thanh tra, giám sát Ngân hàng hiện nay (được tổ chức phòng) gồm:
1 Vụ Thanh tra các TCTD trong nước (Vụ I)
2 Vụ Thanh tra các TCTD nước ngoài (Vụ II)
3 Vụ Thanh tra hành chính, giải quyết KNTC và phòng chống thamnhũng (Vụ III)
4 Vụ Giám sát ngân hàng (Vụ IV)
5 Vụ Chính sách an toàn hoạt động ngân hàng (Vụ V)
6 Vụ Quản lý cấp phép các TCTD và hoạt động ngân hàng (Vụ VI)
7 Văn phòng
8 Cục Phòng, chống rửa tiền
Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng có Chánh Thanh tra, giám sátngân hàng và không quá 3 Phó Chánh Thanh tra, giám sát ngân hàng ChánhThanh tra, giám sát ngân hàng do Thống đốc NHNN bổ nhiệm, miễn nhiệm,cách chức sau khi thống nhất với Tổng Thanh tra Thống đốc NHNN bổnhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh Thanh tra, giám sát ngân hàng theo
đề nghị của Chánh Thanh tra, giám sát ngân hàng và quy định của pháp luật.Chánh Thanh tra, giám sát ngân hàng chịu trách nhiệm trước Thống đốcNHNN và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Cơ quan Thanh tra, giámsát ngân hàng, thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của Chánh Thanh tra Bộ, cơquan ngang Bộ; Phó Chánh Thanh tra, giám sát ngân hàng chịu trách nhiệmtrước Chánh thanh tra, giám sát ngân hàng và trước pháp luật về lĩnh vựccông tác được phân công phụ trách
1.2.3 Nội dung hoạt động của Thanh tra, giám sát Ngân hàng
Trang 21- Giám sát thường xuyên việc thực hiện các quy chế an toàn tronghoạt động của các NHTM bằng phương pháp, chương trình giám sát từ xatheo quy định.
- Tiến hành các cuộc thanh tra, kiểm tra, phúc tra trong việc chấp hànhpháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, việc thực hiện các quy định tronggiấy phép hoạt động ngân hàng đối với các đối tượng của Thanh tra Ngânhàng
- Thẩm tra, xác minh, kết luận, kiến nghị việc giải quyết khiếu nại, tốcáo
theo quy định của Luật khiếu nại liên quan đến tổ chức và hoạt động ngânhàng
- Tham mưu cho lãnh đạo NHNN trong việc chỉ đạo công tác phòngngừa, đấu tranh chống tham nhũng trong ngành Ngân hàng
- Phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyền,đồng thời kiến nghị các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý vi phạm phápluật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng
- Kiến nghị Thống đốc NHNN, lãnh đạo các chi nhánh NHNN tỉnh,thành phố và các tổ chức có thẩm quyền khác thực hiện các biện pháp đảmbảo thi hành pháp luật về tiền tệ và hoạt động Ngân hàng
1.3 Các phương pháp Thanh tra, giám sát đối với các ngân hàng thương mại
1.3.1 Các phương pháp giám sát của ngân hàng Trung ương đối với các ngân
Trang 22Trên cơ sở giám sát từng hoạt động của NHTM, ngân hàng Trung ương
có thể đưa ra những nhận xét, đánh giá hay xếp hạng cho từng hoạt động và từ
đó đưa ra những kết luận chung cho hoạt động tổng thể của ngân hàng
Đây là phương pháp thường được sử dụng đối với các nước mà hệthống ngân hàng còn chưa thực sự phát triển, số lượng các ngân hàng chưanhiều, do đó ngân hàng Trung ương có thể tiến hành đánh giá định kỳCAMELS cho từng NHTM
Phương pháp giám sát dựa trên rủi ro (riskbased supervision) Phương pháp COLOMBO: được xây dựng dựa trên việc giám sát hoạt độngchung của NHTM thông qua việc đánh giá các loại hình rủi ro mà ngân hàngđang gặp phải Thông thường, các loại rủi ro mà một NHTM thường gặp phảibao gồm:
-+ Rủi ro tín dụng (Credit risk): Rủi ro đối với các khoản nợ và vay.+ Rủi ro đối với các Tài sản có khác (Other risk assets): Rủi ro đối vớicác Tài sản có khác như các khoản đầu tư, các danh mục đầu tư
+ Rủi ro thanh khoản (Liquidity risk)
+ Rủi ro hoạt động (Operational risk)
+ Rủi ro thị trường (Market risk)
+ Các rủi ro khác như rủi ro chính trị, rủi ro pháp lý
Trên cơ sở xác định các loại rủi ro mà NHTM có thể gặp phải, ngânhàng Trung ương đưa ra những đánh giá về khả năng quản trị từng loại rủi rocủa NHTM Từ đó có những nhận xét và thiết lập những yêu cầu cần thiết đốivới NHTM nhằm giúp cho NHTM có thể có đủ khả năng quản trị rủi ro chongân hàng mình
Phương pháp giám sát này thường được áp dụng tại các quốc gia màhoạt động ngân hàng đã tương đối phát triển, số lượng các ngân hàng lớn, quy
mô phức tạp, hoạt động ngân hàng không chỉ bao gồm các hoạt động truyền
Trang 23thống mà còn mở rộng các loại hoạt động và dịch vụ ngân hàng hiện đại khác.
Sự an toàn trong hoạt động của ngân hàng không chỉ thể hiện ở sự an toàn củatừng hoạt động riêng lẻ mà phải là sự kết hợp tổng thể của các loại hoạt động
và dịch vụ mà ngân hàng đang thực hiện Do đó, phương pháp giám sát lúcnày phải được thực hiện bằng việc đánh giá rủi ro của ngân hàng thì mớigiám sát được mức độ an toàn tổng thể của cả hệ NHTM
1.3.2 Phương thức hoạt động thanh tra, giám sát đối với các ngân hàng thương mại của ngân hàng Trung ương
1.3.2.1 Giám sát từ xa
* Khái niệm:
Giám sát từ xa (hay thanh tra trên các báo cáo) là phương thức thanh tragián tiếp nhằm kiểm soát hoạt động của các NHTM, thông qua việc phân tích,đánh giá trên các báo cáo do NHTM lập theo quy định và gửi cho Thanh trangân hàng (gồm các chỉ tiêu nội bảng và ngoại bảng) Giám sát từ xa phục vụviệc phát hiện nhanh và định kỳ để có những cảnh báo cho các NHTM trướcnguy cơ mất an toàn hoặc những vi phạm trong hoạt động kinh doanh, từ đó
có những điều chỉnh và sử lý kịp thời, chính xác
* Mục tiêu của giám sát từ xa đối với hoạt động của NHTM:
- Đảm bảo an toàn trong hoạt động của các NHTM Qua đó giúp cácNHTM giữ được uy tín với khách hàng
- Giám sát việc tuân thủ pháp luật và các quy chế của các NHTM
- Giám sát hiệu quả kinh doanh của các NHTM
* Nội dung giám sát từ xa đối với các NHTM:
Nội dung hoạt động giám sát từ xa đối với hệ thống TCTD nói chung(trừ TCTD hợp tác) được tiến hành theo 6 bước:
- Giám sát về cơ cấu tài sản Nợ và tài sản Có:
Trang 24+ Giám sát chất lượng tài sản Nợ: Cơ cấu tài sản Nợ tăng là điều kiệnthuận lợi cho hoạt động của NHTM.
+ Giám sát chất lượng tài sản Có: Chất lượng tài sản Có là một chỉ tiêutổng hợp phản ánh khả năng bền vững về mặt tài chính, khả năng sinh lờicũng như năng lực quản lý của NHTM
+ Đánh giá cơ cấu tài sản Có: Đánh giá những tài sản đem lại lợinhuận trong hoạt động kinh doanh của NHTM (gồm: dư nợ cho vay có khảnăng thu được lãi, tiền gửi ở các TCTD khác, )
+ Giám sát các khoản tín dụng, bảo lãnh lớn phát sinh trong 15 ngày
có giá trị từ 5% vốn tự có của NHTM trở lên
+ Giám sát dư nợ tín dụng đối với khách hàng từ 5% vốn tự có củaNHTM trở lên, gồm một số chỉ tiêu như: đối tượng khách hàng được cấp tíndụng, tổng dư nợ tín dụng, giá trị tài sản thế chấp, cầm cố, cho vay
- Giám sát chất lượng tài sản Có
Đánh giá diễn biến và cơ cấu hoạt động tín dụng: đánh giá chất lượnghoạt động cấp tín dụng
- Giám sát tình hình thu nhập, chi phí và kết quả kinh doanh Thanh tra,giám sát trên tài khoản thu nhập và chi phí, khả năng sinh lời được tính t heocác nguồn thu, chi chủ yếu như sau:
+ Phân loại các khoản, mục thu - chi
+ Đánh giá cơ cấu, diễn biến các khoản, mục thu - chi
+ Tính toán một số tỷ lệ phản ánh kết quả kinh doanh
- Giám sát vốn tự có
+ Xác định vốn điều lệ, quỹ bổ sung vốn điều lệ
+ Xác định tài sản Có rủi ro theo quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàntrong hoạt động của các NHTM
+ Xác định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
Trang 25+ Giám sát việc chuyển nhượng cổ phần có ghi tên theo quy định củaPháp luật.
+ Giám sát mức độ góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp
+ Giám sát về mức vốn pháp định của mỗi loại hình NHTM khácnhau, vốn điều lệ ghi trên sổ sách tối thiểu phải bằng vốn pháp định mà Chínhphủ đã quy định
- Giám sát một số chỉ số tài chính chủ yếu của ngân hàng thương mại.Xem xét, phân tích, đánh giá NHTM một cách tổng thể dựa trên chỉ sốtài chính quan trọng, xác định các NHTM theo nhóm, theo giá trị tài sản
- Quy trình giám sát từ xa đối với các ngân hàng thương mại
Hàng tháng, Thanh tra NHNN nhận được các báo cáo cân đối tài khoản
kế toán, các chỉ tiêu thống kê ngoài cân đối cùng nhiều loại báo cáo khác docác NHTM gửi đến Phòng Giám sát, phân tích sử dụng chương trình giám sát
từ xa để xử lý, tổng hợp số liệu, phân tích tình hình hoạt động của từngNHTM và toàn bộ hệ thống Ngân hàng Căn cứ vào kết quả giám sát từ xa,Thanh tra NHNN cảnh báo với Tổng Giám đốc (Giám đốc) NHTM các vấn
đề liên quan trong việc thực hiện các quy định của pháp luật, đặc biệt lànhững biến động không bình thường trong hoạt động của NHTM; kiến nghịbiện pháp xử lý Sau khi kết thúc đợt thanh tra tại chỗ với các NHTM, bộphận thanh tra tại chỗ có trách nhiệm cung cấp thông tin về số liệu liên quanđến việc thực hiện quy chế cho phòng (bộ phận) giám sát, phân tích
1.3.2.2 Thanh tra tại chồ.
* Khái niệm.
Thanh tra tại chỗ là phương thức thanh tra truyền thống, là việc thanhtra được tổ chức tại nơi làm việc của đối tượng thanh tra, để kiểm tra đánh giátình hình hoạt động kinh doanh của các NHTM ở tầm vĩ mô, thông qua việc
Trang 26kiểm tra trực tiếp các hồ sơ, tài liệu, sổ sách, đưa ra những kết luận, kiến nghịtrên cơ sở thực tế đã kiểm chứng.
* Mục tiêu của thanh tra tại chồ.
- Kiểm tra hoạt động của các NHTM trong việc chấp hành quy địnhcủa
pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, việc thực hiện các quy định tronggiấy phép hoạt động ngân hàng
- Đánh giá tình trạng tài chính của NHTM
- Đánh giá chất lượng công tác hạch toán kiểm toán, kiểm kê tài sảnbảo
quản trong kho, so sánh giữa thực tế và số liệu ghi trong sổ sách, chứng từ
- Đánh giá năng lực chỉ đạo, điều hành hoạt động của lãnh đạo NHTM
* Nội dung thanh tra tại chồ.
Tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý trong từng thời điểm mà thanh tra tạichỗ tiến hành thanh tra một số hoặc tất cả các hoạt động nghiệp vụ củaTCTD, nhưng tập chung chủ yếu vào các nội dung chính sau đây:
- Thanh tra hoạt động tín dụng, bảo lãnh, hùn vốn;
- Thanh tra hoạt động kế toán, thu chi tài chính;
- Thanh tra hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ
* Quy trình của một cuộc thanh tra tại chồ:
Quy trình của một cuộc thanh tra tại chỗ gồm 3 bước:
* Bước 1: Chuẩn bị thanh tra.
- Ra quyết định thành lập đoàn thanh tra của cấp có đủ thẩm quyền
- Xây dựng đề cương thanh tra
- Tổ chức tập huấn các vấn đề liên quan đến cuộc thanh tra, họp Đoànthanh tra để phân công nhiệm vụ cụ thể
- Gửi thông báo về lịch và nội dung công tác thanh tra cho đối tượngthanh tra
Trang 27- Họp với đối tượng thanh tra, thông báo quyết định, nội dung, thờigian thanh tra dưới dạng văn bản của cấp có thẩm quyền.
- Đối tượng thanh tra báo cáo tổng quan tình hình kết quả hoạt độngtrong thời gian thanh tra; Tiếp nhận quyết định thanh tra; Thống nhất với đoànthanh tra về phương pháp làm việc chung
- Tiếp nhận các hồ sơ, tài liệu có liên quan phục vụ cho công tác thanhtra
- Thực hiện việc kiểm tra trực tiếp các hồ sơ, tài liệu đã được cung cấp
- Mở rộng kiểm tra các tài liệu khác, chất vấn người có liên quan đểcủng cố, làm rõ thêm các kết luận, đánh giá các nội dung đã thanh tra
* Bước 3: Kết thúc thanh tra.
- Thành viên đoàn thanh tra tổng hợp kết quả thanh tra theo các nộidung
công việc được giao và báo cáo kết quả thanh tra với trưởng đoàn thanh tra
- Bàn giao các hồ sơ, tài liệu sử dụng trong quá trình thanh tra chotrưởng đoàn thanh tra
- Trưởng đoàn thanh tra tổng hợp toàn bộ kết quả thanh tra và dự thảokết luận thanh tra
- Họp thống nhất dự thảo kết luận thanh tra trong nội bộ đoàn thanh tra
và xin ý kiến chỉ đạo của người ban hành quyết định thanh tra
- Công bố dự thảo kết luận thanh tra với đối tượng thanh tra
- Chỉnh sửa và ban hành kết luận thanh tra chính thức
- Kết thúc công việc của đoàn thanh tra
* Các hình thức của một cuộc thanh tra tại chồ.
Có thể phân hoạt động thanh tra tại chỗ thành các loại sau:
* Theo yêu cầu chỉ đạo của công tác thanh tra:
- Thanh tra định kỳ hay thanh tra theo kế hoạch
Trang 28* Theo quy mô, phạm vi của cuộc thanh tra đối với các NHTM:
- Thanh tra pháp nhân tổ chức tín dụng
- Thanh tra chi nhánh, đơn vị trực thuộc NHTM
- Thanh tra Hội sở chính của NHTM
* Theo nội dung cuộc thanh tra:
- Thanh tra toàn diện tất cả các hoạt động của NHTM
- Thanh tra một số mặt hoạt động cụ thể của NHTM
- Thanh tra theo chuyên đề nghiệp vụ cụ thể
* Theo hình thức tổ chức của đoàn:
- Hoạt động thanh tra
- Hoạt động kiểm tra
1.4 Chất lượng công tác thanh tra, giám sát hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
1.4.1 Khái niệm chất lượng thanh tra, giám sát hoạt động tín dụng của ngân
hàng thương mại
1.4.1.1 Khái niệm chất lượng
Hiện nay, với cách tiếp cận khác nhau đã đưa ra khái niệm khác nhau
về chất lượng Mỗi khái niệm đều có những căn cứ khoa học và thực tiễn khácnhau nhưng đều có những đóng góp nhất định thúc đẩy khoa học quản lý chấtlượng không ngừng phát triển và hoàn thiện
Chính vì có nhiều sự khác nhau trong cách tiếp cận về chất lượng nên
Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hoá (ISO) đã đưa ra định nghĩa sau: “Chất
lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp các đặc tính vốn có ”.
Theo quan điểm của ISO, yêu cầu là các nhu cầu hay mong đợi đã đượccông bố, ngầm hiểu chung hay bắt buộc:
Trang 29- Yêu cầu được công bố là những yêu cầu đã được nêu ra dưới dạng tàiliệu hay có thể bằng lời Yêu cầu quy định trong một cuộc thanh tra, giám sát
là một dạng yêu cầu đã được công bố
- Yêu cầu ngầm hiểu chung là những thực hành mang tính thông lệ hayphổ biến đối với một tổ chức, khách hàng của tổ chức và các bên liên quankhác Những yêu cầu loại này được tuyên bố trong các quy định, hợp đồngnhưng mặc nhiên mọi người có liên quan đều hiểu rõ, đặc biệt là những ngườicung cấp sản phẩm phải xác định rõ các yêu cầu này trong các quy định của
thực hiện thành công những nội dung của cuộc thanh tra, giám sát đó
Từ những phân tích trên, tác giả rút ra: Chất lượng thanh tra, giám sát
hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại là mức độ đạt được mục tiêu, yêu cầu và những nội dung của cuộc thanh tra, giám sát đặt ra Nội dung chất
lượng thanh tra, giám sát hoạt động tín dụng của NHTM được thể hiện:
* Đối với ngân hàng Trung ương: Đánh giá đúng chất lượng hoạt động
tín dụng NHTM; thấy những ưu điểm, những kết quả của tín dụng cũng nhưyếu kém, bất cập trong hoạt động tín dụng của NHTM và nguyên nhân dẫnđến
những bất cập yếu kém đó Đồng thời phát hiện những hạn chế, sơ hở của các
Trang 30* Đối với NHTM được thanh tra, giám sát: Nhận được đánh giá khách
quan về hoạt động tín dụng của ngân hàng mình, từ đó phát huy những mặtmạnh, khắc phục những điểm yếu kém để chất lượng hoạt động tín dụng ngàycàng được nâng cao Đồng thời bồi dưỡng, giúp đỡ kiểm soát, kiểm toán nội
bộ của NHTM hoạt động ngày càng hiệu quả hơn
* Mối quan hệ giữa chất lượng và hiệu quả của Thanh tra, giám sát Ngân hàng: Nếu hoạt động thanh tra, giám sát bảo đảm chất lượng và hiệu
quả thì tăng tính hiệu lực của Thanh tra Ngân hàng Ngược lại, nếu thườngxuyên quan tâm nâng cao hiệu lực thanh tra thì sẽ có biện pháp chỉ đạo thựchiện công tác thanh tra một cách tốt hơn, chất lượng cao hơn
b Những biểu hiện cụ thể về chất lượng công tác thanh tra, giám sát đối với hoạt động tín dụng.
Thứ nhất, đánh giá đúng mức độ rủi ro trong hoạt động tín dụng của
NHTM để xác định trọng tâm thanh tra
Thứ hai, thực hiện tốt quy trình và nội dung về thanh tra đối với hoạt
động tín dụng
Thứ ba, thực hiện theo dõi việc chấn chỉnh sau thanh tra.
1.4.2 Nội dung thanh tra, giám sát hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại
1.4.2.1 Đánh giá khả năng quản lý rủi ro tín dụng.
Các nguyên tắc 7,8,9,10 do Basel đưa ra nhằm hướng dẫn các cơ quangiám sát xây dựng được những nội dung chi tiết để đánh giá được mức độquản lý rủi ro tín dụng của một NHTM, bao gồm:
- Đánh giá các tiêu chuẩn cấp tín dụng và quá trình xem xét tín dụngcủa NHTM (Nguyên tắc 7) Ngân hàng Trung ương cần đảm bảo là các chứcnăng tín dụng và đầu tư tại các ngân hàng riêng biệt là khách quan và thựchiện theo những nguyên tắc lành mạnh Việc có các chính sách cho vay các
Trang 31quy trình xét duyệt khoản vay và các thủ tục hành chính bằng văn bản cũngnhư các tài liệu vay vốn tích hợp là quan trọng đối với các cán bộ quản lý việccho vay của ngân hàng Hoạt động cho vay và đầu tư cần được đặt trên nhữngtiêu chuẩn đảm bảo cẩn trọng do Hội đồng quản trị thông qua và được thôngbáo rõ ràng cho các cán bộ cho vay của ngân hàng Một điểm cũng rất quantrọng là ngân hàng Trung ương phải xác định mức độ mà các quyết định chovay của ngân hàng phụ thuộc vào những lợi ích xung đột nhau hoặc những áplực không thích hợp từ các bên ngoài ngân hàng Đánh giá sự xây dựng quátrình theo dõi liên tục các mối quan hệ tín dụng của NHTM, bao gồm cả điềukiện tài chính của khách hàng vay Một trong những thành phần chủ chốt củabất kỳ hệ thống thông tin quản lý nào là cơ sở dữ liệu cung cấp các thông tinquan trọng về điều kiện vay bao gồm cả hạng mức và phân loại các khoản vaynội bộ.
- Đánh giá chất lượng tài sản có và mức độ đầy đủ của các khoản dự trữ
và dự phòng rủi ro (Nguyên tắc 8) Ngân hàng Trung ương cần đánh giá chínhsách của ngân hàng liên quan tới việc xem xét định kỳ từng khoản tín dụng,
dự phòng và phân loại tài sản có Những chính sách này cần được xem xétthường xuyên và được thực hiện một cách nhất quán Ngân hàng Trung ươngcũng cần đảm bảo là các ngân hàng có quy trình giám sát các khoản tín dụng
có vấn đề và thu hồi các khoản nợ đến hạn Khi mức độ các khoản tín dụng cóvấn đề lên tới mức đáng lo ngại thì ngân hàng Trung ương cần yêu cầu ngânhàng cải thiện các hoạt động cho vay, các tiêu chuẩn cấp tín dụng và các điềukiện tài chính của mình Khi có các khoản bảo lãnh hoặc thế chấp, ngân hàngcần có cơ chế đánh giá các khoản bảo lãnh và thẩm định giá trị của các thếchấp Ngân hàng Trung ương cũng cần đảm bảo là các ngân hàng lưu trữ sổsách hợp lý và có đủ vốn để đối phó với những rủi ro ngoại bảng khi họ chấpnhận rủi ro này
Trang 32- Đánh giá mức độ tập trung rủi ro của NHTM (Nguyên tắc 9) Ngânhàng Trung ương phải quy định các giới hạn đảm bảo an toàn để hạn chế mứcrủi ro của ngân hàng đối với từng khách hàng, nhóm các khách hàng liên quan
và các hình thức tập trung rủi ro đáng kể khác Những giới hạn này thườngđược thể hiện bằng tỉ lệ phần trăm so với vốn của ngân hàng và cho dù có thểkhác nhau nhưng mức 25% vốn thường được các ngân hàng hoặc các tậpđoàn ngân hàng áp dụng khi cấp tín dụng cho một khách hàng tư nhân khôngphải là ngân hàng hoặc một nhóm các khách hàng có liên quan chặt chẽ màkhông cần có sự chấp thuận trước về mặt giám sát Một điều có thể nhận thấy
là các ngân hàng mới thành lập hoặc các ngân hàng nhỏ là những ngân hàngthường phải chịu sự ràng buộc của các điều kiện này vì số vốn nhỏ, điều nàyđòi hỏi họ cần phải tăng mức vốn của mình Ngân hàng Trung ương cũng cầntheo dõi việc quản lý tập trung rủi ro của ngân hàng và có thể yêu cầu ngânhàng báo cáo về những rủi ro vượt quá giới hạn cho phép (ví dụ 10% mứcvốn)
hoặc những rủi ro đối với các khách hàng lớn do cơ quan giám sát quy định Ởmột số quốc gia cũng đưa ra mức giới hạn cho tổng các mức rủi ro lớn
- Đánh giá mức độ công bằng trong việc cấp tín dụng đối với các đốitượng khách hàng (Nguyên tắc 9), ngân hàng Trung ương cần đánh giá lànhững khoản cho vay các bên liên quan được thực hiện trên cơ sở bình đẳngnhư các đối tượng khác và giá trị các khoản tín dụng này được theo dõi Việckiểm soát này được thực hiện dễ nhất bằng cách đòi hỏi các điều kiện cho vaycác bên liên quan phải chặt chẽ hơn so với cho vay những khách hàng khôngliên quan trong những hoàn cảnh tương tự và bằng cách áp dụng những hạnchế nghiêm ngặt đối với việc cho vay các đối tượng này Trong những hoàncảnh phù hợp, các cơ quan giám sát có quyền đi xa hơn hoặc áp dụng nhữnggiới hạn tuyệt đối đối với những khoản cho vay này, loại những khoản chovay này khỏi vốn khi đánh giá mức độ thoả đáng về vốn của ngân hàng hoặc,
Trang 33yêu cầu phải có thế chấp cho những khoản vay này Các giao dịch với các bên
có liên quan tạo ra một rủi ro đặc biệt cho ngân hàng và cần được sự chấpthuận của hội đồng quản trị, phải được báo cáo cho các cơ quan giám sát hoặc
bị cấm Việc giám sát các ngân hàng trên cơ sở tổng hợp trong một vài tìnhhuống có thể xác định và giảm bớt các vấn đề phát sinh từ việc cho vay cácbên có liên quan Các cơ quan giám sát cũng cần có quyền đánh giá về sự tồntại của các mối quan hệ giữa ngân hàng và các bên khác Điều này là đặc biệtcần thiết trong những tình huống mà ngân hàng và các bên liên quan có nhữngbiện pháp nhằm che dấu quan hệ của mình
1.4.2.2 Thanh tra, giám sát việc thực hiện các cam kết và thông lệ quốc tế
Hiện nay Uỷ ban BASEL đã đưa ra những nguyên tắc cơ bản đối vớicác Ngân hàng để tăng cường khả năng, khai thác tối đa tiềm năng lợi nhuận
và hạn chế rủi ro như sau:
Thứ nhất, Hội đồng quản trị có trách nhiệm trong việc phê duyệt và rà
soát định kỳ (ít nhất là hàng năm) chiến lược và chính sách rủi ro tín dụng củaNgân hàng Chiến lược này phản ánh sức chịu đựng của Ngân hàng đối vớirủi ro và mức độ sinh lời mà ngân hàng dự kiến đạt được khi phải gánh chịucác loại rủi ro tín dụng
Thứ hai, Cán bộ quản lý cấp cao phải có trách nhiệm trong việc triển
khai thực hiện chiến lược rủi ro tín dụng do Hội đồng quản trị phê duyệt, xâydựng chính sách và quy trình thủ tục để nhận dạng, đo lường, kiểm soát, hạnchế rủi ro tín dụng Những chính sách và quy trình này cần chỉ rõ rủi ro tíndụng trong toàn bộ hoạt động của ngân hàng ở từng khoản tín dụng cũng như
ở cấp độ quản lý danh mục
Thứ ba, Ngân hàng cần phải xác định và quản lý rủi ro tín dụng phát
sinh trong tất cả các sản phẩm và hoạt động Ngân hàng phải đảm bảo rằng rủi
ro của các sản phẩm và hoạt động mới phải được kiểm soát và thực hiện theo
Trang 34quy trình quản lý rủi ro thích hợp trước khi sản phẩm và hoạt động đó đượcđưa ra hay thực hiện Các sản phẩm và hoạt động này phải được phê duyệttrước bởi Hội đồng quản trị hoặc một Uỷ ban thích hợp.
Thứ tư, Ngân hàng phải hoạt động trong phạm vi các tiêu chí cấp tín
dụng được xác định rõ ràng và hiệu quả Những tiêu chí này cần bao gồmnhững chỉ số rõ ràng về thị trường mục tiêu của Ngân hàng và sự hiểu biếtthấu đáo của người vay vốn hay đối tác, nguồn trả nợ của khách hàng cũngnhư mục đích và cơ cấu tín dụng
Thứ năm, Ngân hàng phải xây dựng một quy trình các hạn mức tín
dụng tổng thể cho mỗi khách hàng hoặc đối tác vay vốn, hoặc nhóm kháchhàng có quan hệ mật thiết với nhau kết hợp lại theo các tiêu thức phân loại rủi
ro khác nhau trong danh mục cho vay và đầu tư cả trong và ngoài bảng tổngkết tài sản
Thứ sáu, Ngân hàng cần phải có quy trình rõ ràng cho việc phê duyệt
mới, sửa đổi, đổi mới hoặc tái cơ cấu các khoản cho vay hoặc các dịch vụ tíndụng khác
Thứ bảy, Các trường hợp gia hạn nợ phải được kiểm soát Cụ thể là các
khoản nợ này của doanh nghiệp, cá nhân phải được quản lý, quan tâm đặc biệt
và có những bước đi thích hợp để kiểm soát, giảm thiểu rủi ro
Thứ tám, Ngân hàng cần phải có một hệ thống hoạt động quản lý và
giám sát thường xuyên, liên tục danh mục các khoản cho vay có rủi ro
Thứ chín, Ngân hàng cần phải có hệ thống giám sát điều kiện của từng
khoản tín dụng, bao gồm cả việc xác định đủ mức dự phòng rủi ro tín dụng
Thứ mười, Ngân hàng cần có hệ thống đánh giá rủi ro tín dụng nội bộ
để quản lý rủi ro tín dụng Hệ thống định hạng cần phải nhất quán với bảnchất, quy mô và mức độ phức tạp của hoạt động Ngân hàng
Trang 35Thứ mời một, Ngân hàng phải có hệ thống thông tin, các kỹ thuật phân
tích để Ban lãnh đạo có thể đo lường rủi ro tín dụng phát sinh trong các hoạtđộng trong và ngoài Bảng cân đối kế toán Hệ thống thông tin quản lý cầncung cấp đủ thông tin về cơ cấu của danh mục tín dụng để có thể nhận dạngcác rủi ro tín dụng do tập trung vào một ngành, lĩnh vực
Thứ mười hai, Ngân hàng phải có hệ thống giám sát cấu trúc tổng thể
và chất lượng danh mục tín dụng
Thứ mười ba, Ngân hàng cần phải xem xét những thay đổi trong điều
kiện kinh tế có khả năng xảy ra khi đánh giá từng khoản vay cũng nhưdanh mục cho vay của họ và tính đến mức độ rủi ro tín dụng trong từnghợp xấu nhất
Thứ mười bốn, Ngân hàng phải xây dựng hệ thống đánh giá độc lập và
đánh giá liên tục quy trình quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng, kết quả ràsoát phải được báo cáo Hội đồng quản trị và Ban Tổng Giám đốc
Thứ mười lăm, Ngân hàng phải đảm bảo rằng bộ phận cấp tín dụng
được quản lý đúng mức và rủi ro tín dụng được kiểm soát theo giới hạn vàchuẩn mực nội bộ Ngân hàng cần thiết lập và thực thi hệ thống kiểm tra nội
bộ và các thông lệ khác để đảm bảo rằng các trường hợp ngoại lệ so với chínhsách, quy trình và hạn đúng mức được báo cáo một cách kịp thời tới cấp quản
lý thích hợp để xử lý tương tự
Thứ mười sáu, Ngân hàng phải có hệ thống cảnh báo sớm đối với các
khoản tín dụng có nguy cơ giảm giá và có vấn đề, quản lý các khoản cho vay
có vấn đề và các tình huống sử lý tương tự
Trong các nguyên tắc trên thì ba nguyên tắc đầu nhằm thiết lập mộtmôi trường rủi ro tín dụng phù hợp, từ nguyên tắc 4 đến nguyên tắc 7 nhằmđảm bảo việc cho vay của ngân hàng được thực hiện theo một quy trình cấp
Trang 36tín dụng hợp lý, nguyên tắc từ 8 đến 13 nhằm duy trì một quy trình kiểm soát
và đo lường, quản trị tín dụng phù hợp, ba nguyên tắc cuối cùng nhằm bàođảm kiểm soát đầy đủ rủi ro tín dụng
Qua thanh tra, giám sát của ngân hàng Nhà nước chỉ ra những việc đãthực hiện thành công cũng như những việc chưa thực hiện được, giúp choNHTM khắc phục những yếu kém đó
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng thanh tra, giám sát hoạt động tín
dụng của ngân hàng thương mại
1.5.1 Các nhân tố chủ quan
1.5.1.1 Cơ cấu tổ chức thanh tra, giám sát của ngân hàng Trung ương
Cơ cấu tổ chức của ngân hàng Trung ương nói chung và bộ máy thanhtra, giám sát nói riêng được xây dựng một cách hợp lý sẽ góp phần tạo môitrường tốt cho quản lý các NHTM nói chung và hoạt động thanh tra, giám sátNHTN nói riêng Cơ cấu tổ chức hợp lý đảm bảo một hệ thống xuyên suốttrong hệ thống ngân hàng và từ trên xuống duới trong việc ban hàng các vănbản chế độ, hướng dẫn thực hiện các quy định các pháp luật cũng như triểnkhai kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định đó trong toàn hệ thốngngân hàng Một cơ cấu tổ chức hợp lý còn góp phần phát hiện và tạo điều kiệnngăn ngừa có hiệu quả các hành vi gian lận và sai sót trong hoạt động tàichính kế toán của mỗi NHTM, hỗ trợ tốt cho việc thanh tra, giám sát hoạtđộng tín dụng nói riêng và hoạt động kinh doanh của từng NHTM nói chung.Một cơ cấu tổ chức thanh tra, giám sát hợp lý phải thiết lập điều hành vàthanh tra, giám sát toàn bộ hoạt động ngân hàng của các TCTD sao cho không
bị chồng chéo hoặc bỏ trống Thực hiện phân chia tách bạch giữa các chứcnăng, đảm bảo sự độc lập tương đối giữa các bộ phận, tạo khả năng hỗ trợ,giúp
Trang 371.5.1.2 Phẩm chất đạo đức và trình độ của cán bộ thanh tra, giám sát ngân hàng
Các cán bộ thanh tra, giám sát ngân hàng nói chung và thanh tra, giámsát hoạt động tín dụng nói riêng cần có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực,khách quan, có tinh thần trách nhiệm cao, kỷ luật nghề nghiệp nghiêm Đồngthời phải có chuyên môn sâu và cũng như kỹ năng thanh tra, giám sát ngânhàng
Cán bộ thanh tra, giám sát hoạt động tín dụng của NHTM không nhữngphải hiểu sâu sắc những nguyên tắc và thông lệ quốc tế về quản lý tín dụngnói chung và quản lý rủi ro tín dụng nói riêng mà còn phải nắm chắc mục tiêu,yêu cầu và nội dung thanh tra, giám sát hoạt động tín dụng của NHTM Dovậy, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ thanh tra,giám sát ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng thanh tra, giám sát hoạt động tíndụng của NHTM
1.5.2.3 Sự phát triển công nghệ của ngân hàng
Sự phát triển của công nghệ thông tin đã và đang tạo điều kiện thuận lợicho mọi hoạt động kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế nói chung vàcông tác thanh tra, giám sát nói riêng Đối với các NHTM, họ luôn phải lànhững người đi đầu trong việc ứng dụng các tiến bộ công nghệ ngân hàng đểnâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh Sự phát triển của công nghệ ngânhàng tác động đến hệ thống thông tin về kế toán ngân hàng Sẽ dẫn tới nhữngthay đổi các thủ tục thanh tra, giám sát Với việc ứng dụng công nghệ thôngtin hiện đại trong lĩnh vực ngân hàng sẽ hỗ trợ hoạt động thanh tra, giám sátđược chính xác, kịp thời, thuận lợi hơn
1.5.2.4 Sự quan tâm chỉ đạo của Ban lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước đối với hoạt động Thanh tra, giám sát ngân hàng.
Với chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt độngngân hàng trên địa bàn, Ban lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh
Trang 38Thái Nguyên đã thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo Thanh tra, giám sátChi nhánh thực hiện tốt công tác thanh tra, giám sát các tổ chức tín dụng trênđịa bàn trong việc xây dựng chương trình công tác thanh tra hàng năm và kếhoạch triển khai thực hiện chương trình công tác, trong đó có nội dung thanhtra, kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng của các ngân hàng, vì tín dụng lànghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của các ngân hàng trên địa bàn tỉnh TháiNguyên hiện nay Sự lành mạnh, an toàn trong hoạt động tín dụng là nhân tốquan trọng trong việc ổn định và phát triển của ngành ngân hàng và của nềnkinh tế xã hội trên địa bàn.
Đối với từng cuộc thanh tra, kiểm tra: Ban lãnh đạo đã chỉ đạo Đoànthanh tra, kiểm tra thực hiện trọng tâm, trọng điểm trong đó nội dung thanhtra hoạt động tín dụng thường là nội dung chủ yếu trong các cuộc thanh tra,kiểm tra Trong quá trình tranh tra, kiểm tra đã thường xuyên yêu cầu cácTrưởng đoàn báo cáo tiến độ, kết quả thực hiện và những vướng mắc để kịpthời xử lý hoặc chỉ đạo xử lý
Từ kết quả thanh tra, kiểm tra, những sai phạm có tính chất phổ biến ởcác đơn vị ngân hàng, Ban lãnh đạo NHNN đã kịp thời ra văn bản chỉ đạochấn chỉnh hoạt động theo đúng các quy định của Pháp luật và của NHNNViệt Nam
Những kiến nghị, xử lý sau thanh tra, kiển tra, Ban lãnh đạo NHNN đãchỉ đạo Thanh tra, giám sát đôn đốc các ngân hàng chấn chỉnh, xử lý kịp thời
và báo cáo kết quả thực hiện về NHNN chi nhánh tỉnh theo thời hạn quy định
1.5.2 Những nhân tố khách quan
1.5.2.1 Môi trường kinh tế, chính trị - xã hội, pháp luật
Môi trường kinh tế, chính trị - xã hội - pháp luật có tác động lớn tớihoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động thanh tra, giám sát hoạtđộng tín dụng nói riêng Chính sách kinh tế vĩ mô đúng đắn, ổn định, hệ thống
Trang 39pháp luật đồng bộ, minh bạch sẽ giúp cho hoạt động của khách hàng có hiệuquả Xã hội chính trị ổn định, đời sống an ninh đảm bảo dẫn đến ít tội phạmkinh tế, ít hành động khuất tất, đen tối, hoạt động ngân hàng nhờ thế được antoàn, hiệu quả và hoạt động thanh tra, giám sát tín dụng của các NHTM đượcthuận lợi Ngược lại, chính sách kinh tế vĩ mô có vấn đề, không ổn định, hệthống luật chưa đồng bộ, chồng chéo, thiếu minh bạch thì hoạt động sản suấtkinh doanh của khách hàng sẽ gặp nhiều khó khăn, hoạt động kinh doanh củaNHTM cũng bị ảnh hưởng theo và công tác thanh tra, giám sát NHTM nóichung và thanh tra, giám sát hoạt động tín dụng của NHTM nói riêng sẽ gặprất nhiều trở ngại.
1.5.2.2 Ý thức phối hợp của Ban Lãnh đạo các ngân hàng thương mại
Trong 25 nguyên tắc giám sát ngân hàng hiệu quả (tháng 4/1997), Ủyban Basel, một mặt, chỉ ra 2 phương thức thanh tra cơ bản của Thanh traNgân hàng là giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ (nguyên tắc 16); nhưng mặtkhác, cũng khẳng định một nguyên tắc quan trọng để giám sát ngân hàng hiệu
quả là ‘‘các Giám sát viên ngân hàng phải thường xuyên có liên lạc với Ban
quản lý ngân hàng và phải hiểu cặn kẽ hoạt động của tổ chức tín dụng đó ”
(nguyên tắc số 17) Như vậy, Giám sát viên ngân hàng phải thường xuyên gặp
gỡ Ban lãnh đạo NHTM để thu nhập thu thông tin Những cuộc gặp gỡ để thuthập thông tin về hoạt động của toàn NHTM nói chung và hoạt động tín dụngnói riêng có đem lại kết quả như mong đợi phụ thuộc một phần vào trình độ
và phương pháp làm việc của giám sát viên ngân hàng, nhưng phần lớn lại do
ý thức phối hợp của Ban lãnh đạo NHTM quyết định Nếu Ban lãnh đạoNHTM có ý thức phối hợp tốt, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho giám sát viênngân hàng làm việc thì chất lượng giám sát hoạt động ngân hàng nói chung vàgiám sát hoạt động tín dụng của NHTM nói riêng ngày càng được nâng lên
Trang 40KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 đã đề cập đến những vấn đề cơ bản về Thanh tra, giám sátcủa ngân hàng Trung ương đối với NHTM và đi sâu vào thanh tra, giám sáthoạt động tín dụng của NHTM Nhất là những nội dung thanh tra, giám sáthoạt động tín dụng của NHTM Đồng thời phân tích những nguyên nhân chủquan, khách quan ảnh hưởng đến chất lượng công tác thanh tra, giám sát hoạtđộng tín dụng của NHTM Những vấn đề nghiên cứu ở chương 1 đã làm nềntảng khoa học cho việc nghiên cứu những giải pháp nâng cao chất lượng côngtác thanh tra, giám sát hoạt động tín dụng của các NHTM trên địa bàn tỉnhThái Nguyên