Quy trình tiến hành một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính là trình tự thựchiện các bước công việc mà đoàn kiểm toán và kiểm toán viên phải thực hiệntheo một trình tự nhất định để hoàn thà
Trang 1DƯƠNG VIỆT CHINH
KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TNHH TƯ VẤN ĐẦU TƯ, TÀI CHÍNH, KẾ TOÁN, THUẾ - KIỂM TOÁN COM.PT.
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2018
Trang 2DƯƠNG VIỆT CHINH
KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TNHH TƯ VẤN ĐẦU TƯ, TÀI CHÍNH, KẾ TOÁN, THUẾ - KIỂM TOÁN COM.PT.
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
CHUYÊN NGÀNH: KẾ TOÁN
MÃ SỐ: 8340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHAN THỊ ANH ĐÀO
HÀ NỘI, NĂM 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị.
Tác giả
Dương Việt Chinh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 7
CỦA KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP 7
1.1 KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 7
1.1.1 Khái niệm kiểm toán báo cáo tài chính 7
1.1.2 Đối tượng kiểm toán báo cáo tài chính 7
1.1.3 Mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể kiểm toán 9
1.2 QUY TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 10
1.2.1 Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán 10
1.2.2 Thực hiện kiểm toán 25
1.2.3 Hoàn thành kiểm toán và công bổ báo cáo kiểm toán 28
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH TƯ VẤN ĐẦU TƯ, TÀI CHÍNH, KẾ TOÁN, THUẾ -KIỂM TOÁN COM.PT 35
2.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY TNHH TƯ VẤN ĐẦU TƯ, TÀI CHÍNH, KẾ TOÁN, THUẾ - KIỂM TOÁN COM.PT 35
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công Ty TNHH Tư Vấn Đầu Tư, Tài Chính, Kế Toán, Thuế - Kiểm Toán COM.PT 35
2.1.2 Kết quả hoạt động kiểm toán tại Công ty TNHH Tư Vấn Đầu Tư, Tài Chính, Kế Toán, Thuế - Kiểm Toán COM.PT 44 2.2 THỰC TRẠNG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TNHH TƯ VẤN ĐẦU TƯ, TÀI CHÍNH, KẾ TOÁN, THUẾ - KIỂM TOÁN
Trang 5COM.PT 46
2.2.1 Lập kế hoạch kiểm toán tổng thể 51
2.2.2 Thực hiện kiểm toán 73
2.2.3 Kết thúc kiểm toán 99
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TNHH Tư VẤN ĐẦU Tư, TÀI CHÍNH, KẾ TOÁN, THUẾ -KIỂM TOÁN COM.PT 105
2.3.1 ưu điểm 106
2.3.2 Hạn chế 109
2.3.3 Nguyên nhân vàbài học 111
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH TƯ VẤN ĐẦU Tư, TÀI CHÍNH, KẾ TOÁN, THUẾ - KIỂM TOÁN COM.PT 114
3.1 NGUYÊN TẮC VÀ YÊU CẦU HOÀN THIỆN KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH TƯ VẤN ĐẦU TƯ, TÀI CHÍNH, KẾ TOÁN, THUẾ - KIỂM TOÁN COM.PT 114
3.1.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Tư vấn Đầu tư, Tài chính, Kế toán, Thuế - Kiểm toán COM.PT 113
3.1.2 Nguyên tắc hoàn thiện 114
3.1.3 Yêu cầu hoàn thiện 115
3.2 GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH TƯ VẤN ĐẦU TƯ, TÀI CHÍNH, KẾ TOÁN, THUẾ -KIỂM TOÁN COM.PT 116
3.2.1 Trong giai đoạn lập kế hoạch 117
3.2.2 Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán 120
Trang 63.2.3 Trong giai đoạn kết thúc kiểm toán 122
3.2.4 về đội ngũ nhân viên 123
3.2.5 về ứng dụng công nghệ thông tin 124
3.3 ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN 125
3.3.1 về phía Nhà nước và các cơ quan chức năng 125
3.3.2 về phía Công ty TNHH Tư vấn Đầu tư, Tài chính, Kế toán, Thuế - Kiểm toán COM.PT 126
3.3.3 Về phía kiểm toán viên của công ty TNHH Tư vấn Đầu tư, Tài chính, Kế toán, Thuế - Kiểm toán COM.PT 127
3.3.4 Về phía đơn vị khách hàng 127
3.3.5 Về phía các tổ chức Hiệp hội nghề nghiệp 128
3.3.6 Về phía các tổ chức đào tạo 128
KẾT LUẬN 130
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 131
Trang 7CHÍNH Báo cáo tài chính
BCLCTT Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
COM.PT
Công Ty TNHH Tư vấn Đầu tư, Tài chính, Kế toán,Thuế - Kiểm toán COM.PT
V N D Việt Nam đồng
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1.1: Ba giai đoạn của một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính 10
Sơ đồ 1.2: Lập kế hoạch kiểm toán và thiết kế phương pháp kiểmtoán 12
Sơ đồ 1.3: Các bước đánh giá mức trọng yếu 19
Sơ đồ 1.4: Trình tự áp dụng các thủ tục kiểm toán 25
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của COM.PT 39
Sơ đồ 2.2: Các bước thực hiện một cuộc kiểm tại công ty COM.PT 47
Bảng 2.1: Thời gian trích khấu hao trong công ty Cổ phần Thủy điện A 59
Bảng 2.2: Đánh giá rủi ro tiềm tàng 65
Bảng 2.3: Mô hình đánh giá rủi ro phát hiện của Công ty COM.PT 67
Bảng 2.4: Thủ tục kiểm toán khoản mục tiền và tương đương tiền 73
Bảng 2.5: Bảng phân tích tồng quát các chỉ tiêu 77
Bảng 2.6: Bảng phân tích tổng quát các chỉ tiêu 78
Bảng 2.7: Bảng phân tích tổng hợp các chỉ tiêu trên Báo cáo kết quả kinh doanh của công ty A 84
Bảng 2.8: Môt số chỉ tiêu đánh giá khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty A 85
Bảng 2.9: Bảng tổng hợp sổ cái tiền mặt 87
Bảng 2.10: Biên bản kiểm kê tiền mặt 88
Bảng 2.11: Bảng kiểm tra tổng hợp tài khoảntiềngửiNgânhàng 98
Bảng 2.12: Bảng kiểm tra chi tiết chứngtừtiềngửi Ngânhàng 98
Biểu số 2.13: Báo cáo kiểm toán của COM.PT về báo cáo tài chính của Công ty Thủy điện A 102
Biểu số 2.14 : Thư quản lý áp dụng đối với Công ty A 104
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình đổi mới cơ chế kinh tế ở nước ta đã và đang đòi hỏi chất lượngcủa thông tin kinh tế tài chính do hạch toán kế toán cung cấp Với tư cách là
bộ phận cấu thành của hệ công cụ quản lý kinh tế, tài chính, thông tin do hạchtoán kế toán cung cấp không chỉ cần thiết cho các cơ quan quản lý chức năngcủa nhà nước mà cho các nhà quản lý kinh tế, các nhà đầu tư Thông tin kếtoán đã và đang là những căn cứ quan trọng cho các quyết định kinh tế củanhiều đối tượng sử dụng khác nhau
Báo cáo tài chính là báo cáo tổng hợp về thực trạng tài chính và kết quảhoạt dộng kinh doanh của doanh nghiệp Các thông tin trên báo cáo tài chínhđược rất nhiều đối tượng quan tâm Do đó, một yêu cầu quan trọng được đặt
ra là các thông tin này phải bảo đảm được tính trung thực, hợp lý, phản ánhđầy đủ và khách quan tình hình hoạt động của doanh nghiệp, tổ chức kinh tế.Những thông tin này phải được hình thành, xử lý, tổng hợp trong một môitrường có hệ thống quản lý hiệu quả, có hệ thống quản lý thường xuyên, tạolòng tin tưởng đối với các nhà quản lý
Quy trình tiến hành một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính là trình tự thựchiện các bước công việc mà đoàn kiểm toán và kiểm toán viên phải thực hiệntheo một trình tự nhất định để hoàn thành trách nhiệm của mình Một quytrình kiểm toán báo cáo tài chính chuẩn sẽ đem lại lợi ích cho nhiều đối tượngquan tâm và ngay cả đối với công ty kiểm toán, nó cũng tác động trực tiếpđến tính hiệu quả, chi phí trong quá trình thực hiện kiểm toán báo cáo tàichính Chính vì tầm quan trọng của kiểm toán báo cáo tài chính đối với doanhnghiệp, trong quá trình làm việc tại công ty Kiểm toán Compt, tôi đã lựa chọn
đề tài:” Kiểm toán báo cáo tài chính của công ty TNHH Tư vấn Đầu tư,
Trang 10Tài chính, Kế toán, Thuế - Kiểm toán COM.PT Thực trạng và giải pháp.”
2 Tổng quan nghiên cứu
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hoạt động kiểm toán độclập đã hình thành và phát triển ở Việt Nam trong hơn hai mươi năm qua, trởthành nhu cầu tất yếu đối với hoạt động kinh doanh và góp phần nâng caochất lượng quản lý doanh nghiệp Kiểm toán độc lập đã tham gia tích cực vàoviệc kiểm tra, đánh giá, xác nhận độ tin cậy của các thông tin kinh tế tài chính,góp phần đáng kể vào hoạt động sắp xếp, đổi mới, cổ phần hóa doanh nghiệp
và thu hút các hoạt động đầu tư của nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi pháttriển kinh tế đất nước Kiểm toán độc lập đã khẳng định được vụ trí và vai tròquan trọng trong nền kinh tế
Trong quá trình nghiên cứu thực tế, đã nhiều tác giả có những công trìnhnghiên cứu kiểm toán báo cáo tài chính của từng ngành, từng loại hình cụ thể.Trong đó có thể kể đến các công trình nghiên cứu như sau: “Hoàn thiện kiểmtoán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và định giá Thăng Long
- TDK” của tác giả Nguyễn Thị Vân (2012), “Hoàn thiện kiểm toán báo cáotài chính do Công ty Hợp danh Kiểm toán Việt Nam thực hiện” của tác giảĐào Duy Kiên(2014), “Hoàn thiện kiểm toán báo cáo tài chính của các công
ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị
Mỹ (2014), “Hoàn thiện quy trình kiểm toán báo cáo tài chính do Công tyTNHH Kiểm toán CACC thực hiện” của tác giả Võ Văn Sơn (2016),“Hoànthiện kiểm toán báo cáo tài chính ngân hàng thương mại tại các doanh nghiệpkiểm toán độc lập ở Việt Nam” của tác giả Phí Thị Kiều Anh(2016), Các vấn
đề lý luận cơ bản về kiểm toán báo cáo tài chính đều được nêu rõ trong cáccông trình nghiên cứu này Cùng với việc nghiên cứu đi sâu vào tìm hiểu thựctrạng, hiểu rõ bản chất kiểm toán của từng lĩnh vực để từ đó phát huy các ưu
Trang 11điểm và khắc phục những nhược điểm, từ đó định hướng và đưa ra giải phápnhằm hoàn thiện kiểm toán báo cáo tài chính nhằm mục tiêu hoàn thiện kiểmtoán báo cáo tài chính tại các đơn vị.
Tất cả các công trình nghiên cứu đã khái quát được các vấn đề lý luận cơbản về kiểm toán báo cáo tài chính Nhìn chung các công trình nghiên cứunày đã góp phần rất lớn trong công tác kiểm toán báo cáo tài chính, đánh giá,phân tích thực trạng kiểm toán báo cáo tài chính ở các đơn vị, từ đó, đưa racác định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện kiểm toán báo cáo tài chính.Tuy nhiên qua quá trình đi sâu vào tìm hiểu, vẫn chưa có đề tài nào nghiêncứu về kiểm toán báo cáo tài chính tại Công Ty TNHH Tư vấn Đầu tư, Tàichính, Kế toán, Thuế - Kiểm toán COM.PT
Xuất phát từ tình hình thực tế công tác kiểm toán báo cáo tài chính tạiCông Ty TNHH Tư vấn Đầu tư, Tài chính, Kế toán, Thuế - Kiểm toánCOM.PT hiện nay và qua quá trình tìm hiểu các nghiên cứu đã công bố liênquan đến đề tài nghiên cứu, luận văn sẽ tập trung vào các vấn đề chính nhưquy trình kiểm toán tại đơn vị từ khâu lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểmtoán, kết thúc kiểm toán và công bố báo cáo từ đó đánh giá thực trạng côngtác kiểm toán báo cáo tài chính và dựa trên cơ sở lý luận và đặc thù hoạtđộng, cơ cấu tổ chức quản lý, đội ngũ nhân viên, tác giả đưa ra các giải pháphoàn thiện kiểm toán báo cáo tài chính nhằm nâng cao chất lượng kiểm toántại đơn vị
3 Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu là xem xét và đánh giá kiểm toán báo cáo tài chínhtại công ty TNHH Tư vấn Đầu tư, Tài chính, Kế toán, Thuế - Kiểm toánCOM.PT thông qua xem xét quy trình kiểm toán báo cáo tài chính tại công tyTNHH Tư vấn Đầu tư, Tài chính, Kế toán, Thuế - Kiểm toán COM.PT Trên
cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị liên quan đến định hướng giải pháp hoàn
Trang 12thiện kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty.
4 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu của luận văn đặt ra ở trên , nội dung chính của luậnvăn cần phải trả lời được các câu hỏi sau:
S Thực trạng kiểm toán báo cáo tài chính của công ty TNHH Tư vấn
Đầu tư, Tài chính, Kế toán, Thuế - Kiểm toán COM.PT hiện nay làgì?
S Những ưu điểm, hạn chế trong quy trình kiểm toán báo cáo tài
chính của công ty TNHH Tư vấn Đầu tư, Tài chính, Kế toán, Thuế Kiểm toán COM.PT?
-S Cần đề xuất một số kiến nghị nào đối với kiểm toán báo cáo tàichính của công ty TNHH Tư vấn Đầu tư, Tài chính, Kế toán, Thuế -Kiểm toán COM.PT?
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: công ty TNHH Tư vấn Đầu tư, Tài chính, Kếtoán, Thuế - Kiểm toán COM.PT, cụ thể là quy trình kiểm toán báo cáo tàichính đã được thực hiện trong giai đoạn 2015-2017
- Phạm vi nghiên cứu:
Tại công ty TNHH Tư vấn Đầu tư, Tài chính, Kế toán, Thuế - Kiểm toánCOM.PT; Tập trung nghiên cứu từ năm 2015 đến năm 2017; Riêng về quytrình kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH Tư vấn Đầu tư, Tài chính,
Kế toán, Thuế - Kiểm toán COM.PT nghiên cứu một số nội dung chính như:giai đoạn lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán, giai đoạn lập kếhoạch kiểm toán, giai đoạn hoàn thành kiểm toán và công bố báo cáo kiểmtoán cùng với đó là vấn đề nhân sự và ứng dụng công nghệ thông tin tại côngty
Trang 136 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
+ Phương pháp thu thập tài liệu: Phương pháp này dùng để thu thập các
thông tin về từng nội dung liên quan đến kiểm toán báo cáo tài chính từ khâulập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán và kết thúc kiểm toán Để thựchiện được phương pháp này cần tổng hợp dữ liệu thứ cấp từ các chứng từ và
hồ sơ kiểm toán có liên quan đến kiểm toán báo cáo tài chính tại công tyTNHH Tư vấn Đầu tư, Tài chính, Kế toán, Thuế - Kiểm toán COM.PT
+ Phương pháp quan sát thực tế: Bằng việc sử dụng phương pháp này các
thông tin được ghi lại trong trí nhớ, qua ghi chép, chụp lại một cách cụ thể,thực tế, phong phú và khách quan
+ Phương pháp tổng hợp, phân tích dữ liệu: Dựa vào những thông tin, tài liệu
thu thập được các thông tin được lựa chọn, phân loại và sắp xếp một cách có
hệ thống, các dữ liệu thu thập được sẽ được kiểm tra, sàng lọc, sau đó sử dụngcông cụ word, excel để tiến hành thống kê, phân tích Bên cạnh đó, tiến hành
xử lý số liệu bằng cách sử dụng sơ đồ, bảng biểu để phân tích, tổng hợp vàđánh giá
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Một là, nghiên cứu cơ sở lý luận về kiểm toán báo cáo tài chính để có
được luận cứ, chuẩn mực, thước đo cho việc thảo luận kết quả nghiên cứu và
đề ra các giải pháp
Hai là, thông qua phân tích kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty
TNHH Tư vấn Đầu tư, Tài chính, Kế toán, Thuế - Kiểm toán COM.PT, tác
giả đánh giá được thực trạng hoạt động kiểm toán và một số tồn tại trong côngtác kiểm toán tại đơn vị
Ba là, đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kiểm
Trang 14toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH Tư vấn Đầu tư, Tài chính, Kế toán,Thuế - Kiểm toán COM.PT, có những bước phát triển vững chắc, ngày mộthoàn thiện để trở thành một trong những công ty kiểm toán hàng đầu tại ViệtNam.
Chương II: Thực trạng kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH
Tư vấn Đầu tư, Tài chính, Kế toán, Thuế - Kiểm toán COM.PT.
Chương III: Giải pháp hoàn thiện kiểm toán báo cáo tài chính tại công
ty TNHH Tư vấn Đầu tư, Tài chính, Kế toán, Thuế - Kiểm toán COM.PT.
Trong quá trình nghiên cứu, do khả năng và trình độ còn có hạn nên luậnvăn không tránh khỏi những thiếu sót, khiếm khuyết Tác giả mong nhậnđược những ý kiến đóng góp, chỉ dẫn, giúp đỡ của các thầy, cô giáo, các nhàkhoa học, các nhà quản lý để nội dung Luận văn của tác giả được hoàn thiệnhơn
Tác giả xin chân thành cảm ơn TS Phan Thị Anh Đào và các anh chịđang công tác tại Công ty TNHH Tư vấn Đầu tư, Tài chính, Kế toán, Thuế -Kiểm toán COM.PT đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành bài viết này
Học viên thực hiện
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
CỦA KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP 1.1 KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1.1 Khái niệm kiểm toán báo cáo tài chính
Kiểm toán báo cáo tài chính "Là sự xác minh và bày tỏ ý kiến về nhữngbản khai tài chính do kiểm toán viên được bổ nhiệm để thực hiện những côngviệc đó theo đúng với bất cứ nghĩa vụ pháp định có liên quan" (Lý thuyếtkiểm toán - GS.TS Nguyễn Quang Quynh)
Theo quan điểm của tác giả: “Kiểm toán là việc kiểm toán viên được bổnhiệm kiểm tra sự độc lập và bày tỏ ý kiến về các khía cạnh tài chính của một
tổ chức kinh tế dựa trên các nghĩa vụ pháp lý có liên quan”
Như vậy về thực chất, kiểm toán báo cáo tài chính của kiểm toán độclập là loại hình hoạt động dịch vụ kiểm toán và tư vấn cho các kiểm toán viênchuyên nghiệp thuộc các tổ chức kiểm toán độc lập thực hiện theo yêu cầucủa khách hàng
1.1.2 Đối tượng kiểm toán báo cáo tài chính
Đối tượng kiểm toán báo cáo tài chính là các Bảng khai tài chính, bộphận quan trọng của những bảng khai này là Báo cáo tài chính Theo địnhnghĩa trong Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam: "Báo cáo tài chính là hệ thốngbáo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hoặc đượcchấp nhận phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu của đơn vị"(Chuẩn mực 200- điểm 04) Ngoài ra, Bảng khai tài chính còn bao gồm nhữngbảng kê khai có tính hợp lý khác như bảng kê khai tài sản cá nhân, bảng kêkhai tài sản đặc biệt (kể cả các bảng kê khai tài sản doanh nghiệp phá sảnhoặc bán đấu giá ), các bảng khai theo yêu cầu riêng của chủ đầu tư Làbảng tổng họp, các bảng khai này đều chứa đựng những thông tin lập ra tại
Trang 16một thời điểm cụ thể trên cơ sở những tài liệu kế toán tổng hợp và chi tiết dựatheo những quy tắc cụ thể xác định Do vậy, một thông tin chứa đựng trongmỗi bảng kê khai tài chính trên một khoản mục cụ thể đều mang trong nónhiều mối quan hệ theo huớng khác nhau: giữa khoản mục này với các khoảnmục có liên quan khác, giữa số tiền ghi trên khoản mục với số du hoặc với sốphát sinh của các tài khoản tuơng ứng, giữa thông tin trên từng loại khoảnmục với các quy tắc xác lập chúng Nhu vậy, khi nói đến đối tuợng kiểmtoán tài chính là các bảng khai tài chính là nói đến quan hệ trực tiếp Trên cả
lý luận cũng nhu thực tế, để xác định và bày tỏ ý kiến về Bảng khai tài chính,kiểm toán tài chính không thể tách rời các tài liệu kế toán, các hoạt động kinhdoanh và các tổ chức của đơn vị nhằm xác định cụ thể độ tin cậy của từngkhoản mục cũng nhu mối quan hệ kinh tế chứa đựng trong các số du, trongcác chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ bên trong của hoạt động tài chính
Việc thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính có hai cách tiếp cận dựatrên cách phân chia kiểm toán báo cáo tài chính thành khoản mục hoặc chutrình
Kiểm toán theo khoản mục: là cách phân chia máy móc theo từngkhoản mục hoặc nhóm các khoản mục theo thứ tự bên trong các Bảng khai tàichính vào một phần hành Cách chia này đơn giản xong không hiệu quả docách biệt những khoản mục ở vị trí khác nhau nhung có liên hệ chặt chẽ vớinhau hàng tồn kho và giá vốn hàng bán chẳng hạn
Kiểm toán theo chu trình: là cách chia thông dụng hơn căn cứ vào mốiliên hệ chặt chẽ lẫn nhau giữa các khoản mục, các quá trình cấu thành, cácyếu tố trong một chu trình của hoạt động tài chính Chẳng hạn, các nghiệp vụ
về doanh thu, doanh thu trả lại, các khoản thu tiền bán hàng và số du cáckhoản phải thu đều nằm trong chu trình tiêu thụ Cách phân chia này có hiệuquả hơn do xuất phát từ mối liên hệ trong kinh tế và trong ghi sổ kế toán chứa
Trang 17đựng trong Bảng khai tài chính.
1.1.3 Mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể kiểm toán
Theo nguyên tắc chung về tổ chức kế toán Bảng khai tài chính (báocáo kế toán) của mỗi đơn vị đuợc lập ra truớc hết từ các đơn vị kế toán cơ sở:
đó là những đơn vị đầu tiên (nhỏ nhất) khép kín chu trình kế toán từ lậpchứng từ đến lập báo cáo kế toán Thực chất đây là những đơn vị độc lập(tuơng đối) về tài chính từ khâu đầu tu vốn đến khâu phân chia lợi tức (kếtquả) Các đon vị này có thể là một đơn vị độc lập riêng biệt hoặc là đơn vịthành viên của đon vị hợp nhất (kể cả các công ty con của các công ty quốctế) song đều có tu cách pháp nhân độc lập Vì vậy, cần xác định rõ khách thểkiểm toán nói chung và trong từng cuộc kiểm toán cụ thể Việc xác định nàytruớc hết phải dựa vào hệ thống pháp lý đang có hiệu lực Trong từng truờnghợp cụ thể hệ thống pháp lý chua có hoặc chua đuợc thể chế hoá cụ thể, cầndựa vào các nguyên tắc và thông lệ chung của kiểm toán quốc tế Trong quan
hệ này, văn bản chỉ đạo kiểm toán quốc tế (IAG) đã xác định khách thể kiểmtoán tài chính là một thực thể kinh tế độc lập cũng trùng hợp với nguyên tắcchung về tổ chức kế toán và quản lý
Trong việc nhìn nhận khách thể kiểm toán cần chú ý những quan hệkinh tế, pháp lý giữa các bên có liên quan Các quan hệ này có ảnh huởng trựctiếp đến việc lập và kiểm toán Bảng khai tài chính và trong quan hệ giữa cáckhoản mục (trong và ngoài bảng) cũng nhu đánh giá số liệu ghi trên mỗikhoản mục
Về chủ thể kiểm toán, cũng có những quan niệm khác nhau về vị trí củatừng bộ máy kiểm toán cũng nhu mối quan hệ của từng bộ máy này với cáckhách thể kiểm toán
Mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể kiểm toán là mối quan hệ ngoạikiểm "Tính ngoại kiểm" này khác nhau tuỳ thuộc vào mức độc lập của chủ
Trang 18thể kiểm toán và quan hệ cụ thể của chủ thể đó với một khách thể cụ thể Đốitượng kiểm toán có trách nhiệm cung cấp kịp thời, đầy đủ và trung thực mọithông tin tài chính cần thiết có liên quan, tạo điều kiện thuận lợi cho kiểmtoán việc thực hiện kiểm toán và trả đủ, kịp thời phí kiểm toán theo thoả thuậntrong họp đồng.
1.2 QUY TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và đảm bảo chi phí hợp lý chomỗi cuộc kiểm toán với kiểm toán nói chung và kiểm toán độc lập nói riêngđều cần một quy trình kiểm toán phù hợp vào đặc thù của các tổ chức này.Quy trình kiểm toán được chia thành 3 giai đoạn: lập kế hoạch và thiết kếphương pháp kiểm toán, thực hiện kế hoạch kiểm toán, hoàn thành kiểm toán
và công bố báo cáo kiểm toán
Sơ đồ 1.1: Ba giai đoạn của môt cuôc kiểm toán báo cáo tài chính
1.2.1 Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán
Công việc lập kế hoạch bao giờ cũng là khâu đầu tiên của một quá trìnhđối với một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính, điều này đòi hỏi kiểm toán viêncần phải có đầu óc phán đoán nhanh nhạy, tổng hợp, nắm bắt vấn đề một cáchnhanh chóng
Đây là điều kiện bắt buộc không những làm tiền đề cho cả quá trìnhlàm việc mà điều đó còn chứng tỏ cho khách hàng thấy quá trình làm việc của
Trang 19kiểm toán viên là cả một quá trình sắp xếp khoa học và có căn cứ Điều đó sẽgiúp cho đơn vị đuợc kiểm toán thấy đuợc sự hợp lý trong công việc và tạođiều kiện giúp cho kiểm toán viên hoàn thành cuộc kiểm toán theo đúng kếhoạch.
Nhu vậy, lập kế hoạch là giai đoạn đầu tiên của một cuộc kiểm toán cóvai trò quan trọng, chi phối tới chất luợng và hiệu quả chung của toàn bộ cuộckiểm toán, biểu hiện:
- Kế hoạch kiểm toán thích hợp sẽ giúp cho kiểm toán viên xác địnhtrọng tâm của cuộc kiểm toán để tập trung thời gian và lực luợng kiểm toánnhằm hạn chế sai sót
- Tạo sự phối hợp có hiệu quả giữa các kiểm toán viên với nhau, giữakiểm toán viên với các bộ phận có liên quan Đồng thời, qua sự phối hợp cóhiệu quả trong quá trình kiểm toán, giúp cho cuộc kiểm toán thực hiện theođúng chuơng trình đã lập với chi phí cuộc kiểm toán ở mức độ hợp lý và cóhiệu quả
- Căn cứ vào kế hoạch kiểm toán đã đuợc lập và các công việc kiểmtoán đã thực hiện để kiểm toán và đánh giá chất luợng của công việc kiểmtoán, tránh đuợc sự bất đồng với khách hàng về chất luợng của công việckiểm toán, thời gian tiến hành kiểm toán Từ đó duy trì tốt mối quan hệ giữacông ty kiểm toán với khách hàng
- Lập kế hoạch kiểm toán (bao gồm kế hoạch kiểm toán tổng quát và kếhoạch kiểm toán chi tiết) gồm các buớc công việc nhu sau:
Trang 20Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
Đánh giá tính trọng yếu rủi ro kiểm toán, rủi ro kinh doanh và rủi ro cố
hữu Tìm hiểu cơ cấu kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm toán
Khai triển kế hoạch kiểm toán và chương trình kiểm toán
Chuẩn bị kế toán kiểm toán
Quá trình chuẩn bị kế hoạch kiểm toán bao gồm đánh giá khả năngchấp nhận kiểm toán, nhận diện các lý do kiểm toán, lựa chọn đội ngũ nhânviên kiểm toán và ký hợp đồng kiểm toán
Tổ chức tiếp cận đơn vị được kiểm toán
Trong một lĩnh vực có nhiều sự cạnh tranh như nghề kiểm toán, việc có
và giữ được một khách hàng có thể là khó khăn, thế nhưng kiểm toán viênvẫn rất thận trọng khi tiếp cận khách hàng Kiểm toán viên phải đánh giá xemviệc chấp nhận một khách hàng mới hay tiếp tục kiểm toán cho một kháchhàng cũ có làm tăng rủi ro hoạt động của kiểm toán viên hay làm hại đến uytín của Công ty kiểm toán hay không
Đối với khách hàng mới, kiểm toán viên có thể thu thập thông tin quaviệc nghiên cứu sách báo, tạp chí chuyên ngành, thẩm tra các bên có liên quannhư ngân hàng, cố vấn pháp lý, các bên có mối quan hệ tài chính buôn bánvới khách hàng, hoặc có thể liên lạc với kiểm toán viên tiền nhiệm (nếu làkhách hàng trước đây đã được kiểm toán bởi một công ty kiểm toán khác)nhưng phải có sự chấp thuận của đơn vị khách hàng
Đối với khách hàng cũ, hàng năm kiểm toán viên phải cập nhật các
Trang 21họp hai bên có những mâu thuẫn về các vấn đề nhu: phạm vi thích họp củacuộc kiểm toán, loại báo cáo kiểm toán phải công bố, tiền thù lao hoặc giữahai bên có những vụ kiện tụng hoặc trong truờng hợp kiểm toán viên cho rằngBan giám đốc khách hàng thiếu liêm chính Từ những thông tin thu thậpđuợc, kiểm toán viên có thể cân nhắc đánh giá khả năng chấp nhận hay tiếptục kiểm toán cho khách hàng.
Nhận diện lý do kiểm toán của công ty khách hàng
Thực chất của việc nhận diện các lý do kiểm toán của công ty kháchhàng là việc xác định nguời sử dụng báo cáo tài chính và mục đích sử dụngcủa họ Để hiểu biết đuợc điều đó, kiểm toán viên có thể phỏng vấn trực tiếpBan giám đốc khách hàng (đối với khách hàng mới), hoặc dựa vào kinhnghiệm của cuộc kiểm toán đã thực hiện truớc đó (đối với khách hàng cũ).Trong suốt quá trình thực hiện kiểm toán sau này, kiểm toán viên sẽ thu thậpthêm thông tin để hiểu biết thêm về lý do kiểm toán của công ty khách hàng
Với sự phát triển nền kinh tế thị truờng nhu hiện nay, khi các doanhnghiệp đang đuợc cổ phần hoá rộng rãi và thị truờng chứng khoán phát triểnthì số luợng khách hàng tìm đến với công ty kiểm toán ngày càng đa dạnghơn với nhiều mục đích khác nhau nhu: kiểm toán truớc khi cổ phần hoá,kiểm toán truớc khi giải thể, phá sản hoặc sát nhập, kiểm toán thuờng niên Làm cho số luợng nguời sử dụng báo cáo tài chính tăng lên rất nhiều Do vậy,công ty kiểm toán cần phải xác định lý do kiểm toán của khách hàng và căn
cứ vào tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh cũng nhu dựa trên khả năngcủa công ty để đua ra quyết định họp lý trong việc ký kết họp đồng kiểm toáncũng nhu thiết kế phuơng pháp kiểm toán
Trang 22Như vậy thông qua việc nhận diện lý do kiểm toán của khách hàng,Công ty kiểm toán cần ước lượng quy mô phức tạp của cuộc kiểm toán, từ đólựa chọn đội ngũ nhân viên thích hợp để thực hiện cuộc kiểm toán.
Bố trí nhân sự và đội ngũ chuyên môn cho cuộc kiểm tra.
Nhân tố quyết định cho sự thành công của cuộc kiểm toán là trình độ vàkinh nghiệm của kiểm toán viên Con người luôn là yếu tố được quan tâm đặcbiệt để đảm bảo dịch vụ của công ty kiểm toán độc lập cung cấp, đạt chấtlượng cao
Do vậy, đội ngũ kiểm toán của kiểm toán độc lập được trang bị đầy đủcác kinh nghiệm cần thiết để đáp ứng phù họp với yêu cầu của từng công việc
cụ thể và đặc biệt với yêu cầu của các đơn vị mời kiểm toán
Ngoài ra đội ngũ trợ lý kiểm toán của kiểm toán độc lập đón vai tròquan trọng trong việc kiểm toán báo cáo tài chính Công ty kiểm toán sẽ phâncông các kiểm toán viên và một số trợ lý kiểm toán viên cùng Giám đốc vàtrưởng đoàn kiểm toán của công ty tham gia tích cực vào công việc cụ thểtrong lĩnh vực kiểm toán báo cáo tài chính
Để tạo điều kiện cho hoạt động của các công ty kiểm toán quốc tế tạiViệt Nam và sự liên kết giữa các công ty này với các công ty kiểm toán Việt
Trang 23Nam trong quá trình kiểm toán các công ty, các dự án có vốn đầu tu nuớcngoài, chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 210 - cho phép sử dụng các cam kếtkhác thay vì sử dụng họp đồng kiểm toán nếu các khách hàng của họ đã quenvới hình thức thu hẹn kiểm toán.
Hợp đồng kiểm toán là cơ sở pháp lý để kiểm toán viên thực hiện cácbuớc tiếp theo của cuộc kiểm toán và có thể ảnh huởng đến trách nhiệm pháp
lý của kiểm toán viên đối với khách hàng Sau khi họp đồng kiểm toán đuợc
ký kết, công ty kiểm toán trở thành chủ thể kiểm toán chính thức của công tykhách hàng
Khảo sát và thu thập thông tin
Trong mọi cuộc kiểm toán, công việc cần phải thực hiện đầu tiên vàtiến hành khảo sát để thu thập thông tin cần thiết về đặc điểm hoạt động củađơn vị đuợc kiểm toán nhằm giúp cho kiểm toán viên phát hiện ra các lĩnhvực quan trọng của kiểm toán và đề ra đuợc một kế hoạch kiểm toán thíchhọp
Nếu thiếu buớc khảo sát ban đầu, kiểm toán viên sẽ gặp khó khăn lúngtúng trong quá trình kiểm toán, không thu đuợc kết quả kiểm toán nhu mongmuốn, lãng phí thời gian, hao phí tiền của và có thể đạt kết quả không đángkể
Do vậy khi tiến hành kiểm toán ở bất cứ đơn vị nào, kiểm toán viêncũng phải thực hiện khâu tìm hiểu, nghiên cứu phạm vi hoạt động của đơn vị
để xác định trọng yếu, cần chú ý xử lý Nếu tiến hành kiểm toán truớc khi tiếnhành khảo sát ban đầu, kiểm toán viên sẽ không có đuợc một quy trình kiểmtoán thích họp, việc sử dụng thời gian sẽ thiếu hợp lý
Trong giai đoạn này, kiểm toán viên phải thu thập đầy đủ các thông tin
về đơn vị đuợc kiểm toán bằng cách tiếp xúc, phỏng vấn, trao đổi với các nhàquản lý, các cán bộ chủ chốt và xuống quan sát thực tế quá trình làm việc và
Trang 24hoạt động của đơn vị được kiểm toán.
Bước thu thập thông tin bao giờ cũng phải được hoàn thành trước khiđưa ra một kế hoạch tổng quát Trước hết, kiểm toán viên phải xem xét,nghiên cứu và phân tích kỹ các thông tin thu thập được trong quá trình khảosát, sau đó dựa vào kết quả khảo sát đánh giá mức độ tin cậy của hệ thốngkiểm soát nôi bô của đơn vi đươc kiểm toán
Một cuộc kiểm toán đạt hiệu quả chỉ khi kiểm toán viên thu thập đượcđầy đủ các thông tin và có hiểu biết tường tận, rõ ràng về đơn vị được kiểmtoán Các thông tin cần biết về đơn vị được kiểm toán gồm:
- Cơ sở pháp lý và quá trình thành lập, chức năng, nhiệm vụ của đơn vịđược kiểm toán
- Tổ chức bộ máy quản lý và công tác phân cấp quản lý tài chính - ngânsách của đơn vị gồm các tài liệu về cơ cấu tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm
vụ, trách nhiệm của từng bộ phận đối với hoạt động chính của đơn vị
- Đặc thù và phương thức hoạt động của đơn vị
- Thực trạng tài chính của đơn vị
- Những điểm cần chú ý và những tồn tại chưa được giải quyết từnhững năm trước: Kiểm toán viên cần thu thập các điểm cần chú ý, các vấn đềtôn tại mà đơn vị đã và đang vướng mắc về cơ chế, chưa được cấp có thẩmquyền xem xét, giải quyết hoặc cơ quan có thẩm quyền chưa đủ cơ sở để giảiquyết
- Những nội dung quan trọng trong hoạt động của đơn vị được các nhàlãnh đạo quan tâm trong năm kiểm toán: Kiểm toán viên cần thu thập các tàiliệu có liên quan tới nội dung quan trọng có tính quyết định kết quả hoạt độnghay quá trình hoạt động của đơn vị được kiểm toán và các vấn đề khác màBan lãnh đạo quan tâm
- Những văn bản pháp quy chung và đặc thù về quản lý kinh tế tài
Trang 25chính áp dụng cho đơn vị: đây cũng là bước quan trọng trong quá trình khảosát và thu thập thông tin Nếu kiểm toán viên không có trong tay hoặc khôngnắm vững những tài liệu, văn bản pháp quy mà đơn vị áp dụng thì kết quảkiểm toán chẳng thể gọi là có chất lượng, chưa muốn nói là chất lượng tồi Vìvậy cùng với việc thu thập thông tin, tài liệu ở trên, kiểm toán viên phải thuthập và nghiên cứu kỹ các văn bản pháp quy mà đơn vị được kiểm toán ápdụng trong năm kiểm toán.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 310 - Hiểu biết về tình hìnhkinh doanh đã nêu rõ: "Để thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toánviên phải có hiểu biết về tình hình kinh doanh đủ để có thể nhận thức và xácđịnh các sự kiện, nghiệp vụ và thực tiễn hoạt động của đơn vị được kiểm toán
mà theo đánh giá của kiểm toán viên có thể ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáotài chính, đến việc kiểm tra của kiểm toán viên, hoặc đến báo cáo kiểm toán".Như vậy một lượng thông tin lớn cần phải được xem xét để có được sự hiểubiết về đơn vị kiểm toán mà kiểm toán viên cần thu thập Đây là một điều đặcbiệt cần thiết đối với đơn vị được kiểm toán lần đầu hoặc thậm chí là đơn vịđược kiểm toán lần sau (khi khoảng cách giữ hai lần có một thời gian dài) Sựhiểu biết về đặc thù của đơn vị được kiểm toán không chỉ giúp cho kiểm toánviên trong quá trình xây dựng kiểm toán mà còn giúp cho kiểm toán viênnhanh chóng xác định được những khu vực quan trọng cần đặc biệt lưu ý khikiểm toán đánh giá tính hợp lý, đầy đủ của các bằng chứng thu thập đượctrong quá trình kiểm toán
Thực hiện các thủ tục phân tích
Thủ tục phân tích, theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 520, "làviệc phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng, qua đó tìm ranhững xu hướng biến động và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn vớicác thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự
Trang 26Ở giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, sau khi đã thu thập đuợc thông tin
về khách hàng, kiểm toán viên tiến hành thực hiện các thủ tục phân tích đốivới các thông tin đã thu thập để hỗ trợ cho việc lập kế hoạch về bản chất, thờigian và nội dung các thủ tục kiểm toán sẽ đuợc sử dụng để thu thập bằngchứng kiểm toán
Các thủ tục phân tích đuợc kiểm toán viên sử dụng gồm hai loại cơ bảnsau:
- Phân tích ngang: là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các trị sốcủa cùng một chỉ tiêu trên báo cáo tài chính
- Phân tích dọc: là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các tỷ lệ tuơngquan của các chỉ tiêu và khoản mục khác nhau trên Báo cáo tài chính
Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro Nếu ở các buớc trên, kiểm toán viên
chỉ thu thập đuợc các thông tin mang tính khách quan về khách hàng thì ởbuớc này, kiểm toán viên sẽ căn cứ vào các thông tin đã thu thập đuợc đểđánh giá nhận xét nhằm đua ra một kế hoạch kiểm toán phù hợp
• Đánh giá tính trọng yếu
Trọng yếu là khái niệm về tầm cỡ (hay quy mô) và bản chất của các saiphạm (kể cả bót sót) của các thông tin tài chính hoặc các đơn lẻ, hoặc là từngnhóm mà trong bối cảnh cụ thể nếu dựa vào các thông tin này để xét đoán thìkhông thể chính xác hoặc là sẽ rút ra những kết luận sai lầm
Trong giai đoạn lập kế hoạch, kiểm toán viên phải đánh giá mức độtrọng yếu để uớc tính mức độ sai sót của báo cáo tài chính có thể chấp nhậnđuợc, xác định phạm vi của cuộc kiểm toán và đánh giá ảnh huởng của các saisót lên báo cáo tài chính để từ đó xác định bản chất, thời gian và phạm vi cáckhảo sát (thử nghiệm) kiểm toán Có 5 buớc liên quan chặt chẽ với nhau khivận dụng tính trọng yếu:
Trang 27Sơ đồ 1.3: Các bước đánh giá mức trong yếu
Các bước bắt đầu bằng việc xây dựng một chương trình sơ bộ về tính trọngyếu và phân bổ sự ước lượng này cho các bộ phận của cuộc kiểm toán Quátrình ước lượng các sai số ở từng bộ phận diễn ra trong suốt cuộc kiểm toán.Hai bước cuối cùng được thực hiện gần cuối cuộc kiểm toán trong giai đoạnhoàn tất họp đồng
* Uớc lượng sơ bộ về tính trọng yếu
Sự ước lượng bước đầu về tính trọng yếu là lượng tối đa mà kiểm toánviên tin rằng ở mức đó các báo cáo có thể bị sai nhưng vẫn chưa ảnh hưởngđến các quyết định của những người sử dụng họp lý Sự ước lượng này là mộttrong những quyết định quan trọng nhất mà kiểm toán viên phải làm Nó đòihỏi những phán xét đáng kể về chuyên môn
Việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu giúp cho kiểm toán viên lập
kế hoạch thu thập bằng chứng kiểm toán thích họp Nếu các kiểm toán viênước lượng mức trọng yếu càng thấp, nghĩa là độ chính xác của các số liệu trên
Trang 28báo cáo tài chính càng cao, thì số lượng bằng chứng phải thu thập càng nhiều
và ngược lại
Mặc dù ước lượng ban đầu có tính trọng yếu là một xét đoán nghềnghiệp tính chủ quan của kiểm toán viên song trên thực tế các công ty kiểmtoán thường đề ra những đường lối chỉ đạo để hỗ trợ cho các kiểm toán viêncủa mình trong việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu qua việc hướng dẫncác chỉ tiêu được chọn làm gốc trong từng trường họp cụ thể, tỷ lệ tính mứctrọng yếu đối với từng chỉ tiêu
* Phân bố ước lượng ban đầu về tỉnh trọng yếu cho các khoản mục
Ở bước công việc này kiểm toán viên xây dựng mức trọng yếu của từngkhoản mục hay nhóm các khoản mục bằng cách phân phối ước tính mức trọngyếu đã xác định ở bước trên Các tài khoản chịu hai khả năng sai sót là saithừa và sai thiếu nên khi phân phối kiểm toán viên phải chú ý đến phân phốitrọng yếu cho cả hai xu hướng Hai xu hướng sai sót này rất khác nhau ở từngtài khoản, có tài khoản sai số thừa cao hơn mức sai số thấp, một số tài khoảnkhác thì ngược lại
Mức sai số phân bổ cho các tài khoản rất khác nhau vì nó không nhữngphụ thuộc vào bản chất của nghiệp vụ liên quan đến tài khoản mà còn đượccăn cứ trên chi phí kiểm toán Yếu tố chi phí kiểm toán được đề cập đến ởđây, vì như đã nêu ở trên trọng yếu ảnh hưởng đến lượng bằng chứng kiểmtoán thu thập và tất nhiên nó tác động trực tiếp đến chi phí kiểm toán
* Đánh giá rủi ro
Theo định nghĩa trong Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400- đánhgiá rủi ro và kiểm toán nội bộ: "Rủi ro kiểm toán là rủi ro do Công ty kiểmtoán và kiểm toán viên đưa ra ý kiến nhận xét không thích họp khi Báo cáo tàichính đã được kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu"
Trong giai đoạn lập kế hoạch, kiểm toán viên phải xác định rủi ro kiểm
Trang 29toán mong muốn (AR) Mức rủi ro này được xác định phụ thuộc vào hai yếutố:
- Mức độ mà theo đó người sử dụng bên ngoài tin tưởng vào Báo cáotài chính Khi người sử dụng bên ngoài đặt niềm tin vào các báo cáo tài chínhthì mức độ tác hại trên phạm vi toàn xã hội sẽ càng lớn nếu có một sai sótkhông được phát hiện trên báo cáo tài chính Do vậy trong trường họp nàykiểm toán viên cần xác định một mức rủi ro kiểm toán thấp Từ đó tăng sốlượng bằng chứng kiểm toán thu thập và tăng độ chính xác trong các kết luậnđưa ra của mình
- Khả năng khách hàng sẽ gặp khó khăn về tài chính sau khi báo cáokiểm toán công bố Nếu khả năng này cao thì kiểm toán viên phải thiết lậpmột mức rủi ro kiểm toán mong muốn thấp hơn so với khách hàng không gặpkhó khăn về tài chính, từ đó tăng số liệu bằng chứng kiểm toán Điều này dẫnđến chi phí kiểm toán tăng lên để giảm thiểu khả năng các vụ kiện mà kiểmtoán viên và công ty kiểm toán phải đương đầu trong tương lai
Khả năng xảy ra sai sót là điều không thể tránh khỏi nên vấn đề quantrọng là hạn chế rủi ro ở mức độ chấp nhận được Vì vậy kiểm toán viên đưa
ra mức rủi ro kiểm toán với mỗi cuộc kiểm toán Từ độ rủi ro mà kiểm toánnày, kiểm toán viên phải xác định rủi ro phát hiện Neu rủi ro phát hiện lớn,cần xác định một quy mô mẫu lớn, nếu ngược lại quy mô mẫu có thể nhỏ hơn
Mô hình rủi ro kiểm toán
Để hướng dẫn cho việc xác định rủi ro, các nhà nghiên cứu đã tổng kếtđược mô hình xác định rủi ro kiểm toán dựa trên những loại rủi ro có thể xảy
ra Mô hình đó được xác định tổng quát như sau:
AR = IR CR DRTrong đó: AR: Rủi ro kiểm toán
IR: Rủi ro tiềm tàng
Trang 30CR: Rủi ro kiểm soátDR: Rủi ro phát hiện
• Quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro kiểm toán
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 320 có huớng dẫn: "Trọngyếu và mức độ rủi ro kiểm toán có mối quan hệ nguợc chiều nhau, có nghĩa làmức trọng yếu càng cao thì rủi ro kiểm toán càng thấp và nguợc lại Chuyêngia kiểm toán phải quan tâm tới mối quan hệ này khi xác định nội dung, lịchtrình và phạm vi các thủ tục kiểm toán" Do đó, thực hiện xác định rủi ro, cáckiểm soát viên dựa vào đánh giá trọng yếu
Việc nắm vững các mối quan hệ trên rất hữu ích, vì nó sẽ giúp cho kiểmtoán viên xác định nội dung, phạm vi và thời gian của các thủ tục kiểm tra,cũng nhu giúp kiểm toán viên điều chỉnh kế hoạch và chương trình làm việc ởbước tiếp theo
• Xác định mức độ tin cây đối với hê thống kiểm soát nội bộ của đơn vịTrong kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm soát viên phải đánh giá hệthống kiểm soát nội bộ và rủi ro kiểm soát không chỉ để xác minh tính hữuhiệu của kiểm soát nội bộ mà còn làm cơ sở cho việc xác định phạm vi thựchiện các thử nghiệm cơ bản trên số dư và nghiệp vụ của đơn vị
Việc đánh giá kiểm soát nội bộ được thực hiện theo một trình tự nhấtđịnh và có thể khái quát qua 4 bước như sau:
Bước 1 : Tìm hiểu sơ bộ hệ thng kiểm soát nội bộ
Bằng các phương pháp điều tra, quan sát kiểm toán viên đánh giá sơ bộ
hệ thống kiểm soát nội bộ trên hai mặt:
- Thiết kế các hoạt động kiểm soát cụ thể trong quá trình kiểm soát nộibộ
- Kiểm toán viên xem xét hoạt động của các hoạt động cụ thể trong quátrình kiểm soát nội bộ
Trang 31Đánh giá hai mặt trên đây của hệ thống kiểm soát nội bộ chính là đánhgiá hai mặt nội dung và hình thức của hệ thống Qua đó kiểm toán viên đã cóhiểu biết sơ bộ về hệ thống kiểm soát của khách hàng.
Bước 2: Đánh giá rủi ro kiểm soát
Qua việc đánh giá kiểm soát nội bộ, nó sẽ tạo ra một ảnh huởng rất lớnđối với công việc đánh giá rủi ro kiểm soát của kiểm toán viên
- Kiểm toán viên đánh giá đuợc những điểm mạnh, điểm yếu của kiểmsoát nội bộ nói chung và kiểm soát nội bộ trong từng bộ phận, từng khoảnmục
- Qua đó kiểm toán viên xác định những rủi ro kiểm soát trong toàn bộbáo cáo tài chính và riêng đối với từng khoản mục khả năng mà hệ thốngkiểm soát nội bộ không phát hiện ra các sai phạm trọng yếu mà đề ra biệnpháp trong quá trình kiểm toán
Buớc 3: Thử nghiệm chi tiết đối với thủ tục kiểm soát nội bộ
Thông qua việc thực hiện thử nghiệm tuân thủ, thực hiện trắc nghiệmđạt yêu cầu, kiểm toán viên có thêm những đánh giá về thủ tục kiểm soát nội
bộ, xem xét hữu hiệu của hệ thống, tính tuân thủ của các hoạt động cụ thể, từ
đó xem xét lại tính chính xác rủi ro kiểm soát đã uớc luợng cụ thể kiểm toánviên thực hiện các phuơng pháp:
- Đối với thủ tục kiểm soát có để lại dấu vết, kiểm toán viên thực hiệnhai phuơng pháp: Kiểm tra chứng từ và tái hiện thực
- Đối với thủ tục kiểm soát không để lại dấu vết, kiểm soát viên thựchiện phuơng pháp phỏng vấn nhân viên đơn vị và phuơng pháp quan sát
Bước 4: Thực hiện phuơng pháp bổ sung để xem xét kết quả thử
nghiệm và lập bảng đánh giá nội bộ
Việc tổng hợp kết quả khảo sát về hệ thống kiểm soát nội bộ có thểthực hiện qua bảng đánh giá kiểm soát nội bộ hoặc các hình thức khác tuỳ
Trang 32thuộc vào xem xét của kiểm toán viên trong từng cuộc kiểm toán cụ thể.
Bảng đánh giá kiểm soát nội bộ thuờng phản ánh các thông tin sau: cácmục tiêu của kiểm soát nội bộ với từng khoản mục hay chu trình nghiệp vụ;các thông tin mô tả thực trạng của kiểm soát nội bộ do kiểm toán viên thuthập; bản chất và tính hệ thống của các rủi ro tuơng ứng với các thực trạng đãnêu; đánh giá của kiểm toán viên về kiểm soát nội bộ đối với từng khoản mụchay chu trình nghiệp vụ
Nhu vậy qua việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ kiểm soát viên sẽthấy đuợc từng mặt mạnh, mặt yếu của hệ thống này Dựa trên các đánh giácủa mình các kiểm soát viên sẽ đề ra đuợc rủi ro kiểm soát qua đó xác địnhphuơng huớng và phạm vi kiểm tra, thiết kế các thủ tục kiểm toán, dự kiếnthời gian và lực luợng nhân sự cần thiết trong kế hoạch và chuơng trình kiểm
• Thiết kế chuơng trình kiểm toán
Một chuơng trình kiểm toán là những dự kiến chi tiết về các công việc
mà kiểm toán viên sẽ phải thực thi, bao gồm các thủ tục kiểm toán sẽ thựchiện cho từng khoản mục, thời gian uớc tính phải hoàn thành cho mỗi thủ tụckiểm toán và phân công cụ thể từng kiểm toán viên thực hiện cùng thủ tụccũng nhu dự kiến những tài liệu, hồ sơ liên quan cần sử dụng
Chuơng trình kiểm toán đứng đắn và phù hợp sẽ giúp cho kiểm toánviên trong quá trình thực hiện công việc đảm bảo sắp xếp khoa học, không bỏsót một khoản mục nào hoặc thủ tục kiểm tra nào Đồng thời nó còn giúp chokiểm toán viên phối họp công tác một cách thông suốt và hiệu quả, cũng nhu
sự giám sát dễ dàng của truởng đoàn kiểm toán đối với các thành viên.Chuơng trình kiểm toán của một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính đuợc thiết
kế thành ba phần: các khảo sát nghiệp vụ, các thể thức phân tích và các khảosát chi tiết số du Mỗi phần đuợc tiếp tục chia nhỏ thành các chu kỳ nghiệp vụkinh tế và các tài khoản trên Báo cáo tài chính
Trang 331.2.2 Thực hiện kiểm toán
Thực hiện kiểm toán là quá trình sử dụng các phương pháp kỹ thuậtkiểm toán thích ứng với đối tượng kiểm toán cụ thể để thu thập bằng chứngkiểm toán Đó là quá trình triển khai một cách chủ động và tích cực có kếhoạch, chương trình kiểm toán nhằm đưa ra những ý kiến xác thực về mức độtrung thực và hợp lý của Báo cáo tài chính trên cơ sở những bằng chứng kiểmtoán đầy đủ và tin cậy
Sơ đồ 1.4: Trình tự áp dụng các thủ tục kiểm toán
Dựa vào mức rủi ro kiểm soát này kiểm toán viên sẽ đưa ra cho mình các thửnghiệm cần thiết:
- Nếu rủi ro kiểm soát chấp nhận thì các thử nghiệm kiểm soát sẽ được
áp dụng nhiều hơn sau đó mới tiến hành các thử nghiệm cơ bản
- Nếu rủi ro kiểm soát cao hơn thì áp dụng luôn các thử nghiệm cơbản
Thử nghiệm kiểm soát
Thử nghiệm kiểm soát bao gồm 2 loại:
- Trắc nghiệm đạt yêu cầu
Trang 34nghiệm đạt yêu cầu cần tiến hành theo hai truờng hợp:
• Nếu có dấu vết kiểm toán viên sử dụng hai phuơng pháp:
- Kiểm tra tài liệu: Phuơng pháp này đuợc thực hiện khi thủ tục kiểmsoát để lại dấu vết rõ ràng trên tài liệu (chữ ký xét duyệt, hoá đơn luu và cáctài liệu khác trên văn bản nhu: chữ ký tắt, đánh dấu riêng của kiểm toán viênnội bộ)
- Làm lại: Phuơng pháp này đuợc thực hiện khi chúng để lại dấu vếtnhung gián tiếp trên tài liệu
• Nếu không có dấu vết kiểm toán viên sử dụng hai phuơng pháp:
- Phỏng vấn nhân viên: ví dụ hỏi nhân viên đơn vị về hoạt động kiểmsoát của quản đốc về giờ giấc làm việc Truờng họp này tin cậy của bằngchứng không cao
- Quan sát kiểm soát nội bộ: ví dụ trực tiếp quan sát phân quyền trong
tổ chức chế độ uỷ quyền trong công việc Truờng hợp này tin cậy của bằngchứng cao hơn do kiểm toán viên khai thác và phát hiện
Trắc nghiệm độ vững chắc nhằm mục đích khảo sát các sai số, sai quitắc về tiền có ảnh huởng trực tiếp đến tính chính xác của số du trên Báo cáotài chính và những sai số tiền tệ này là một dấu hiệu rõ ràng của các sai phạmđối với các tài khoản và khoản mục trên báo cáo tài chính Trắc nghiệm độvững chắc quan tâm đến độ tin cậy của các con số, thông tin có ảnh huởngtrực tiếp đến báo cáo tài chính
Thử nghiệm cơ bản
Thủ tục hành chính
Đây là một trong những kỹ thuật quan trọng trong kiểm toán báo cáo tàichính Kiểm toán viên sử dụng phuơng pháp này ngay từ giai đoạn lập kếhoạch, để xác định những trọng yếu cần tập trung, hay trong quá trình kiểmtoán hoặc khi cuộc kiểm toán sắp chuyển sang giai đoạn lập Báo cáo kiểm
Trang 35toán, để kiểm tra lại một lần nữa các số liệu, tài liệu trong Báo cáo tài chính.
Thể thức so sánh
- So sánh số liệu kỳ này với kỳ truớc;
- So sánh số liệu hiện thực với kế hoạch;
- So sánh số liệu của đơn vị cùng mặt bằng, ngành hàng;
Nếu trong quá trình so sánh, phân tích kiểm toán viên phát hiện thấy sựkhác nhau về vấn đề quan trọng thì phải điều tra làm rõ nguyên nhân của sựkhác nhau đó bằng phuơng pháp bổ sung khác
Các thể thức phân tích của kiểm toán viên đó là quá trình đánh giá cácthông số tài chính đuợc thực hiện qua một cuộc nghiên cứu các mối quan hệđáng tin cậy giữa số liệu có tính tài chính và không có tính tài chính, gồm cảnhững quá trình so sánh các số tiền ghi sổ với những uớc tính của kiểm toánviên Các thể thức phân tích có thể thực hiện ba lần vào bất cứ lúc nào trongquá trình kiểm toán
Kiểm tra chi tiết sổ du nghiệp vụ
Trong buớc này kiểm toán viên tiến hành qua việc đối chiếu số du cuối
kỳ trên sổ cái tổng hợp, của các tài khoản trên Bảng cân đối kế toán lẫn các tàikhoản trên Báo cáo kết quả kinh doanh, nhung sự nhấn mạnh chủ yếu tronghầu hết các số nghiệp vụ là trên Bảng cân đối kế toán Ví dụ gồm quá trìnhliên lạc trực tiếp thông qua thu xác nhận bằng văn bản với khách hàng về cáckhoản phải thu, quá trình kiểm tra vật chất hàng tồn kho, quá trình kiểm trabáo cáo của nguời bán về các khoản phải trả Những công việc này là cầnthiết đối với việc điều hành cuộc kiểm toán vì phần lớn các bằng chứng thuthập từ nguồn độc lập với công ty khách hàng do đó sẽ đuợc xem là có chấtluợng cao
Nhu vậy, thực hiện kiểm toán chính là quá trình sử dụng các phuơngpháp kiểm toán để thực hiện các nội dung của kế hoạch kiểm toán đã đuợc
Trang 36xây dựng và phê duyệt ở các giai đoạn lập kế hoạch, nhằm thu thập các bằngchứng để chuẩn bị cơ sở cho những ý kiến nhận xét, đánh giá, kiến nghị củakiểm toán viên về các Báo cáo tài chính và các vấn đề liên quan đến tài chínhđuợc kiểm toán ở giai đoạn lập Báo cáo kiểm toán.
Trong quá trình thực hiện kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên cần thựchiện tốt một số nguyên tắc sau:
Thứ nhất: Kiểm toán viên phải tuyệt đối tuân thủ quy trình kiểm toán
đã đuợc xây dựng Trong mọi truờng hợp, kiểm toán viên đuợc tự ý thay đổiquy trình
Thứ hai: Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải thuờng xuyênghi chép những phát hiện, những nhận định về các nghiệp vụ, các con số, các
sự kiện nhằm tích luỹ bằng chứng, nhận định cho những kết luận kiểm toán
và loại trừ những ấn tuợng, nhận xét ban đầu không chính xác về nghiệp vụ,các sự kiện thuộc đối tuợng kiểm toán
Thứ ba: Định kỳ phải tổng hợp kết quả kiểm toán, báo cáo tiến độ thựchiện kế hoạch đề ra để có biện pháp điều chỉnh kịp thời nhằm hoàn thành kếhoạch kiểm toán theo đúng yêu cầu về tiến độ và chất luợng kiểm toán
1.2.3 Hoàn thành kiểm toán và công bổ báo cáo kiểm toán
Xem xét đánh giá trước khi lập báo cáo
Vào giai đoạn này kiểm toán viên phải xác định là các bằng chứngkiểm toán đã được tập hợp đầy đủ để đảm bảo cho kết luận là các Báo cáo tàichính đã được trình bày phù hợp với các nguyên tắc kế toán đã được thừanhận, áp dụng nhất quán với báo cáo của năm trước hay chưa Trong giaiđoạn này kiểm toán viên phải tổng hợp được kết quả kiểm toán của các phầnhành hay các khoản mục đã được kiểm toán ở bước trên Khi đánh giá kiểmtoán trên một số khía cạnh sau:
Xem xét các sự kiện sau ngày kết thúc niên độ
Trang 37Báo cáo kiểm toán đã lập sau ngày kết thúc niên độ một thời gian.Trong khoảng thời gian trước khi phát hành Báo cáo kiểm toán, có thể xảy ranhững sự kiện ảnh hưởng đến Báo cáo tài chính.
Những sự kiện sau ngày kết thúc niên độ có tính chất khác nhau nênkiểm toán viên chia chúng ra làm hai loại và tương ứng cũng được phản ánhtheo hai cách trên Báo cáo tài chính:
Những sự kiện có ảnh hưởng trực tiếp đến Báo cáo tài chính, đòi hỏiphải điều chỉnh lại báo cáo Những sự kiện hoặc quá trình này cung cấp thêmthông tin cho Ban quản trị khi xác định cách đánh giá số dư tài khoản và ngàylập Bảng cân đối kế toán, và cho các kiểm toán viên khi kiểm tra các số dư.Thí dụ, nếu kiểm toán viên có khó khăn khi xác định cách đánh giá đúng đắncủa hàng tồn kho vì tính lạc hậu, doanh số của nguyên vật liệu tồn kho bị xemnhư phế liệu trong kỳ tiếp sau phải được dùng như một phương tiện để xácđịnh cách đánh giá của hàng tồn kho bị xem như phế liệu trong kỳ tiếp sauphải được dùng như một phương tiện để xác định cách đánh giá của hàng tồnkho vào ngày lập Bảng cân đối kế toán Giá trị phế liệu của hàng tồn kho sẽđược ghi vào sổ sách kế toán như giá trị mang sang của hàng tồn kho vàongày lập Bảng cân đối kế toán
Những sự kiện của kỳ tiếp sau, liệt kê dưới đây, cần có một sự điềuchỉnh các số dư tài khoản trên Báo cáo tài chính của năm hiện hành nếu sốtiền là trọng yếu:
- Tuyên bố phá sản do tình trạng tài chính bị xấu đi của một khách muahàng có số dư khoản phải thu chưa thanh toán
- Giải quyết một vụ kiện với món tiền khác với món tiền ghi sổ
- Chuyển nhượng một thiết bị không sử dụng được với giá trị thấp hơnvới giá trị ghi sổ hiện hành
Những sự kiện không ảnh hưởng trực tiếp đến Báo cáo tài chính nhưng
Trang 38cần công khai Những sự kiện tiếp sau loại này cung cấp bằng chứng của cácđiều kiện, không tồn tại vào ngày lập Bảng cân đối kế toán nhung có ý nghĩađến nỗi chúng phải đuợc công khai, cho dù chúng không cần điều chỉnh.
Các ví dụ về những sự kiện hoặc quá trình xảy ra trong kỳ tiếp sau, cóthể cần công khai vì điều chỉnh trên Báo cáo tài chính:
- Sự phát hành trái phiếu hoặc các chứng khoán vốn;
- Sự sụt giảm của thị giá hàng tồn kho do hệ quả của hành động khôngkhuyến khích việc kinh doanh sản phẩm đó của Nhà nuớc;
- Sự mất mát không đuợc bảo hiểm của hàng tồn kho vì hoả hoạn.Đánh giá tính đầy đủ của bằng chứng
Kiểm toán viên thực hiện hai công việc chủ yếu sau:
- Kiểm tra lại tính đúng đắn của chuơng trình kiểm toán
- Kiểm tra lại việc thực hiện kiểm toán có theo đúng chuơng trình kiểmtoán (đã điều chỉnh) không và việc thu thập bằng chứng có hiệu lực
Mục tiêu của buớc công việc này để đảm bảo rằng mọi khía cạnh củacuộc kiểm toán đã đuợc kiểm toán và đánh giá đầy đủ Nếu phát hiện ra thiếusót kiểm toán viên sẽ tiến hành các thủ tục kiểm toán bổ sung hoặc đua ra mộtbáo cáo có loại trừ hay một báo cáo không chấp nhận
Soát xét lại giấy tờ làm việc
Mặc dù trong buớc đánh giá tính đầy đủ của bằng chứng, kiểm toánviên cũng đà rà soát lại việc thực hiện chuơng trình kiểm toán nhung buớccông việc này vẫn đuợc đua ra vì tính thận trọng của kiểm toán Soát xét lạigiấy tờ làm việc, kiểm toán viên có thể đánh giá lại buớc công việc của trợ lýkiểm toán, xem xét lại việc tuân thủ chuẩn mực và qua đó kiểm toán viên cócái nhìn tổng quát toàn diện về cuộc kiểm toán Công việc kiểm tra lại hồ sơkiểm toán có thể qua nhiều cấp: kiểm toán viên chính kiểm tra lại trợ lý kiểmtoán, Ban giám đốc hoặc nguời phụ trách chung kiểm tra công việc kiểm toán
Trang 39viên chính, và cũng có thể có cuộc kiểm tra của một kiểm toán viên hoàn toànđộc lập.
Kiểm tra các thông tin khác nhau trên báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính ngoài những thông tin về tài chính còn có các thôngtin khác bổ sung để tránh hiểu nhầm báo cáo, hoặc những thông tin mà nhàquản lý muốn đính kèm theo mục đích của công ty Những thông tin đó cầnphù họp với báo cáo tài chính, do đó kiểm toán viên phải có trách nhiệm xemxét và có biện pháp xử lý thích họp
Lập báo cáo kiểm toán
Sau khi hoàn thành giai đoạn thực hiện kiểm toán, và có sự đánh giátổng họp các kết quả của các khoản mục kiểm toán viên phải lập Báo cáokiểm toán ngay sau đó
Báo cáo kiểm toán, theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 700 cónêu: "là loại báo cáo bằng văn bản do kiểm toán viên và công ty kiểm toánđộc lập và công bố để nêu rõ ý kiến chính thức của mình về báo cáo tài chínhcủa một đơn vị đã đuợc kiểm toán"
Căn cứ để lập báo cáo kiểm toán
Để báo cáo kiểm toán đem lại các thông tin đáng tin cậy cho nhữngnguời quan tâm nó phải đuợc lập dựa trên những căn cứ chặt chẽ đáng tincậy
Thứ nhất: Đó là kết quả phân tích đánh giá của quá trình thực hiệnkiểm toán Các kết luận từ việc áp dụng phuơng pháp phân tích đánh giá sẽcủng cố cho kết luận đã hình thành trong khi kiểm tra từng yếu tố riêng biệtcủa các thông tin tài chính, giúp kiểm toán viên đi tới một kết luận tổng quát
về tính trung thực, hợp lý của các thông tin tài chính
Thứ hai: Căn cứ vào bằng chứng kiểm toán để lập báo cáo kiểm toán.Chất luợng của báo cáo kiểm toán phụ thuộc vào chất luợng của bằng chứng
Trang 40kiểm toán Bởi vì chất lượng của cuộc kiểm toán phụ thuộc vào việc giải trình
có sức thuyết phục về kết quả hoạt động của đoàn kiểm toán đối vói các sựkiện được phân tích, đánh giá theo giác độ kiểm toán trên cơ sở những chuẩnmực kiểm toán
Thứ ba: Căn cứ vào chuẩn mực kiểm toán để thực hiện kiểm toán vàlập báo cáo kiểm toán, kiểm toán viên phải luôn tuân thủ các chuẩn mực này
để nâng cao độ tin cậy của báo cáo kiểm toán
Công bố báo cáo kiểm toán
Báo cáo kiểm toán do trưởng đoàn kiểm toán lập và được thông qua bởiBan lãnh đạo công ty kiểm toán độc lập Trước khi công bố chính thức phảilấy ý kiến bằng văn bản của lãnh đạo đơn vị được kiểm toán để tham khảo
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 700 - Báo cáo kiểm toán vềbáo cáo tài chính gồm các yếu tố cơ bản và được trình bày theo thứ tự sau:
a. Tên và địa chỉ công ty kiểm toán
b. Số hiệu báo cáo kiểm toán
c. Tiêu đề báo cáo kiểm toán
d. Người nhận báo cáo kiểm toán
e. Mở đầu của báo cáo kiểm toán
Nêu đối tượng của cuộc kiểm toán báo cáo tài chính
Nêu trách nhiệm của Giám đốc (hoặc người đứng đầu đơn vị đượckiểm toán và trách nhiệm của kiểm toán viên và công ty kiểm soát)
f. Phạm vi và căn cứ thực hiện cuộc kiểm toán
- Nêu chuẩn mực kiểm toán đã áp dụng để thực hiện cuộc kiểm toán
- Nêu những công việc và thủ tục kiểm toán mà kiểm toán viên đãthực
hiện
g. ý kiến của kiểm toán viên và công ty kiểm toán về báo cáo tài chính