BCTC Báo cáo tài chínhdoanh BH & 3.2 Các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh lữ hành tại Công ty Cổ phần Charter Du lịch Việt Nam...70 3.2
Trang 2HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHÚC THU PHƯƠNG
KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ XÁC ĐỊNH
KẾT QUẢ KINH DOANH LỮ HÀNH TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN CHARTER DU LỊCH VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60.34.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN THỊ ĐÔNG
Hà Nội - năm 2017
Trang 3trong bất cứ công trình nào khác trước đây.
Tác giả Luận văn
Trang 4chủ nhiệm và các thầy cô khoa Ke toán - Kiểm toán, Ban lãnh đạo và toàn thể cáccán bộ khoa Sau đại học của trường.
Tác giả đặc biệt gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến cô giáo PGS.TS Nguyễn
Thị Đông đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và động viên tác giả trong quá trình
nghiên cứu và hoàn thành Luận văn
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo và tập thể cán bộ nhân viên Công
ty Cổ phần Charter Du lịch Việt Nam cũng là nơi tác giả hiện đang công tác đãnhiệt tình hỗ trợ, giúp đỡ, cung cấp các thông tin hữu ích giúp tác giả thực hiệnLuận văn
Xin trân trọng cảm ơn
Tác giả Luận văn
Trang 5LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC KÝ TỰ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH LỮ HÀNH TRONG DOANH NGHIỆP KINH DOANH DU LỊCH 6
1.1 Khái niệm và đặc điểm hoạt động kinh doanh lữ hành 6
1.1.1 Khái niệm dịch vụ du lịch 6
1.1.2 Khái niệm dịch vụ du lịch lữ hành và phân loại hoạt động kinh doanh lữ hành 7
1.1.3 Đặc điểm hoạt động kinh doanh lữ hành và những ảnh hưởng đến công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh lữ hành trong doanh nghiệp kinh doanh du lịch 10
1.2 Kế toán doanh thu, chi phí, xác định kết quả kinh doanh lữ hành trong doanh nghiệp kinh doanh du lịch 13
1.2.1 Kế toán doanh thu hoạt động kinh doanh lữ hành trong doanh nghiệp kinh doanh du lịch 13
1.2.2 Kế toán chi phí hoạt động kinh doanh lữ hành trong doanh nghiệp kinh doanh du lịch 21
1.2.3 Kế toán xác định kết quả hoạt động kinh doanh lữ hành trong doanh nghiệp kinh doanh du lịch 28
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32
Trang 62.1 Khái quát về Công ty Cổ phần Charter Du lịch Việt Nam 33
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty 33
2.1.2 Tổ chức bộ máy quản lý của công ty 35
2.1.3 Tổ chức kế toán tại công ty 36
2.2 Thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh lữ hành tại Công ty Cổ phần Charter Du lịch Việt Nam 41
2.2.1 Thực trạng kế toán doanh thu kinh doanh lữ hành tại Công ty Cổ phần Charter Du lịch Việt Nam 41
2.2.2 Thực trạng kế toán chi phí kinh doanh lữ hành tại Công ty Cổ phần Charter Du lịch Việt Nam 48
2.2.3 Thực trạng kế toán xác định kết quả kinh doanh lữ hành tại Công ty Cổ phần Charter Du lịch Việt Nam 54
2.3 Đánh giá thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh lữ hành tại Công ty Cổ phần Charter Du lịch Việt Nam 55
2.3.1 Ưu điểm 55
2.3.2 Một số hạn chế 58
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 63
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 64
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH LỮ HÀNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHARTER DU LỊCH VIỆT NAM 65
định kết quả kinh doanh lữ hành của Công ty Cổ phần Charter Du lịch Việt Nam65
Trang 7BCTC Báo cáo tài chính
doanh
BH &
3.2 Các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả
kinh doanh lữ hành tại Công ty Cổ phần Charter Du lịch Việt Nam 70
3.2.1 Hoàn thiện kế toán doanh thu hoạt động kinh doanh lữ hành tại Công ty Cổ phần Charter Du lịch Việt Nam 70
3.2.3 Hoàn thiện kế toán kết quả hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch lữ hành tại Công ty Cổ phần Charter Du lịch Việt Nam 75
3.3 Điều kiện thực hiện các giải pháp hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh lữ hành tại Công ty Cổ phần Charter du lịch Việt Nam 76
3.3.1 Về phía nhà nước và các cơ quan chức năng 76
3.3.2 Điều kiện đối với Công ty Cổ phần Charter Du lịch Việt Nam 82
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9Bảng 2.1: Bảng tổng hợp chi phí theo tour quý 3 năm 2016 51
Bảng 2.2: Bảng tính giá thành đơn vị của một khách du lịch quý 3 năm 2016 52
Bảng 2.3: Lợi nhuận gộp xác định theo tiêu thức phân bổ số lượng khách quý 3 năm 2016 52
Bảng 2.4: Trích Bảng cân đối kế toán năm 2016 của công ty 53
Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu về hoạt động sản xuất kinh doanh qua các năm 65
Hình 2.1: Hạch toán nhập liệu báo có ngân hàng khi hãng thanh toán 46
Hình 2.2: Hạch toán nhập liệu chi phí tour vào phần mềm kế toán 50
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong các doanh nghiệp kinh doanh du lịch 19
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp trong các doanh nghiệp kinh doanh du lịch 26
Sơ đồ 1.3: Sơ đồ kế toán chi phí nhân công trực tiếp trong các doanh nghiệp kinh doanh du lịch 27
Sơ đồ 1.4: Sơ đồ kế toán chi phí sản xuất chung trong các doanh nghiệp kinh doanh du lịch 27
Sơ đồ 1.5: Sơ đồ hạch toán xác định kết quả hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp kinh doanh du lịch 30
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ bộ máy quản lý Công ty Cổ phần Charter Du lịch Việt Nam 35
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ bộ máy kế toán Công ty Cổ phần Charter Du lịch Việt Nam 37
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới ngày càng sâu rộngđồng nghĩa với việc chúng ta cần đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát triển toàn diện,vững chắc và đa dạng hóa các ngành nghề kinh doanh hơn nữa
Đặt trong xu thế đó, trong thời gian gần đây, ngành du lịch Việt Nam có đãnhững bước tiến vượt bậc và đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận Các công ty
du lịch lữ hành không chỉ luôn đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động mà còn ngàycàng quan tâm hơn đến việc quản lý doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh.Ngành du lịch đã có nhiều cố gắng khai thác, cải tạo và mở rộng các điểm du lịch,loại hình du lịch Song, nó hiện vẫn đang còn tồn tại một số vấn đề: cơ cấu mặthàng của hầu hết các công ty du lịch đều khá giống nhau, mức độ hoạt động tourthường xuyên và phát sinh nhiều địa điểm khác nhau Điều đó dẫn đến khả năngcạnh tranh chưa cao, hiệu quả thực sự của các công ty lữ hành đôi khi còn chưađược thừa nhận; đến thời điểm khó khăn lại dựa vào sự bảo hộ của Tổng cục Dulịch hỗ trợ
Trong thời gian gần đây, việc Bộ Tài chính ban hành Thông tư BTC, hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp, thay thế Chế độ kế toán doanhnghiệp ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC được đánh giá là tiếp cậngần hơn các chuẩn mực quốc tế và bổ sung các nghiệp vụ kinh tế chưa được đề cậptrong các quy định trước đây, nhằm giảm thiểu những tranh luận và xử lý kế toánkhông nhất quán tại các doanh nghiệp, góp phần nâng cao tính minh bạch và sựchuẩn mực khi lập BCTC
200/2014/TT-Vận dụng vào một ngành kinh tế đặc thù như kinh doanh lữ hành với phạm
vi cho các điểm du lịch sâu rộng, đa dạng và khá phức tạp dẫn đến việc thực hiệntheo chuẩn mực, chế độ kế toán hiện vẫn đang gặp nhiều khó khăn, chưa thống nhấtgiữa các doanh nghiệp Do đó, công tác quản lý doanh thu, chi phí và kết quả kinhdoanh càng trở nên quan trọng đối với nhà quản trị tại các đơn vị này
Trang 11Thêm nữa, là một nhân sự trong bộ máy kế toán của công ty kinh doanh lữhành, tác giả nhận thấy đơn vị đang thực hiện ghi nhận một số giao dịch, sử dụng hệthống tài khoản chưa thực sự hợp lý đối với các văn bản hướng dẫn hiện hành.
Xuất phát từ cả lý luận và thực tiễn của hoạt động quản lý kinh doanh lữ
hành tại đơn vị công tác hiện nay, tác giả lựa chọn đề tài luận văn thạc sĩ “Kế toán
doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh lữ hành tại Công ty Cổ phần Charter Du lịch Việt Nam” để nghiên cứu, phân tích, đánh giá; từ đó đề xuất các
hướng giải pháp hữu hiệu giúp cho doanh nghiệp hoàn thiện hơn nữa phần hành kếtoán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh dịch vụ du lịch lữ hành
2 Tổng quan về các công trình nghiên cứu liên quan
Nghiên cứu về doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp
Nghiên cứu về hoạt động dịch vụ khách sạn, Ths Nguyễn Thị Hải Bình
(2011), với đề tài “Hoàn thiện công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại một số khách sạn trên địa bàn thành phố Huế” đã nghiên cứu
thực hiện tổ chức kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả hoạt động kinhdoanh đối với dịch vụ khách sạn ở thành phố Huế Phạm vi nghiên cứu khá rộng ởnhiều đơn vị nên các giải pháp tác giả đưa ra chỉ dừng lại ở mức chung nhất, nhưngđây cũng được xem là một đề tài có ý nghĩa thực tiễn đối với hoạt động kinh doanhkhách sạn nói riêng và ngành du lịch nói chung
Nghiên cứu về hoạt động vận tải, Ths Phạm Tuấn Anh (2012) đã nghiên cứu
đề tài “Hoàn thiện công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại công ty cổ phần giao nhận và vận tải quốc tế Hải Khánh ” Trên cơ sở
nghiên cứu thực trạng của đơn vị, tác giả chỉ ra những hạn chế trong kế toán chi tiết
và nhận thức được tầm quan trọng của kế toán quản trị; từ đó, đưa ra nhiều giảipháp hữu hiệu đối với công ty trong hoạt động quản lý kế toán và quản trị nội bộ
Nghiên cứu về doanh nghiệp du lịch
Nghiên cứu về doanh nghiệp du lịch, đã có Ths Trần Thị Thanh Huyền
(2013), “Hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại
Trang 12Công ty Cổ phần du lịch Việt Nam - Hà Nội” Với nghiên cứu này, tác giả đã
nghiên cứu, phân tích thị trường du lịch Việt Nam cũng như thực trạng kế toándoanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh tại công ty Trên cơ sở đó, tác giả chỉ đưa
ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán chung cả hoạt độngkinh doanh lữ hành và cả hoạt động tài chính
Ngoài ra, còn có Ths Đặng Thị Ngọc (2011) với nghiên cứu “Hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh tại công ty cổ phần thực phẩm nông sản và du lịch Thanh Hóa” cũng đã đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công
tác kế toán tại đơn vị trên cơ sở phân tích thực trạng Song, những giải pháp nàymang tính vĩ mô khá lớn và chung cho cả hoạt động kinh doanh thực phẩm nôngsản cùng với hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch
3 Mục tiêu nghiên cứu
Ve lý luận: Luận văn nghiên cứu, làm sáng tỏ khái niệm và đặc điểm củadịch vụ du lịch lữ hành; làm rõ được đặc điểm hoạt động kinh doanh du lịch lữ hànhtác động đến tổ chức kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh của dịch vụ
du lịch lữ hành; hệ thống hóa, phân tích làm sáng tỏ những lý luận cơ bản về tổchức kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp dịch vụ
du lịch lữ hành
Về thực tiễn: Phân tích đặc điểm và thực trạng tổ chức hoạt động kinh doanh
du lịch lữ hành, tổ chức quản lý công tác kế toán tại Công ty Cổ phần Charter Dulịch Việt Nam trên cả góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị Qua đó, đưa racác giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinhdoanh lữ hành cho chính đơn vị mà tác giả thực hiện nghiên cứu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả hoạtđộng kinh doanh lữ hành của Công ty Cổ phần Charter Du lịch Việt Nam đối vớihoạt động kinh doanh chương trình du lịch xét trên khía cạnh kế toán tài chính
Trang 13Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian và phạm vi nội dung nghiên cứu: Luận văn thực hiệnnghiên cứu tổ chức công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinhdoanh tại Công ty Cổ phần Charter Du lịch Việt Nam Luận văn chỉ nghiên cứu tổchức công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh dịch vụ dulịch lữ hành theo chương trình du lịch (tour); hoạt động kinh doanh đại lý lữ hànhkhông thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn Luận văn nghiên cứu tổ chức côngtác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh lữ hành ở góc độ kếtoán tài chính Luận văn nghiên cứu kết quả kinh doanh là chỉ tiêu lợi nhuận ròng từhoạt động kinh doanh lữ hành sau khi đã bù đắp các chi phí quản lý, chi phí thịtrường phục vụ cho hoạt động này Doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh của hoạtđộng tài chính cũng như các hoạt động khác và các chi phí quản lý, chi phí thịtrường liên quan đến chung không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Phạm vi thời gian nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu, khảo sát thực tế, thuthập thông tin số liệu về tổ chức thu nhận, hệ thống hóa thông tin và cung cấp thôngtin kế toán (bao gồm tổ chức chứng từ kế toán, tài khoản kế toán, sổ kế toán và báocáo kế toán) về doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh lữ hành của Công ty Cổphần Charter Du lịch Việt Nam trong 03 năm là năm 2014, năm 2015 và năm 2016
5 Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp luận: Đề tài được nghiên cứu và thực hiện dựa trên phépduy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp với tư duy và khoa học logic
Về kỹ thuật: Luận văn đã sử dụng kết hợp một số phương pháp tổng hợp,phân tích, so sánh, thống kê số học để xử lý các số liệu có liên quan đến thực trạngcông tác kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh dịch vụ du lịch lữ hành ởViệt Nam
Phương pháp khảo sát thực tế, thu thập thông tin, số liệu từ công việc hàngngày của bản thân tác giả kết hợp phỏng vấn, điều tra tại Công ty Cổ phần Charter
Du lịch Việt Nam; kết hợp với phương pháp đối chiếu, hệ thống hóa để đưa ranhững nhận xét, đánh giá và kiến nghị về vấn đề thuộc đề tài nghiên cứu
Trang 146 Những đóng góp của luận văn
Những đóng góp với về mặt lý luận: phân tích cụ thể đặc điểm hoạt động
kinh doanh lữ hành trong các doanh nghiệp du lịch nói chung và tại Công ty Cổphần Charter Du lịch Việt Nam nói riêng; nguyên tắc hạch toán và nội dung kế toándoanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh lữ hành tại đơn vị Ngoài ra, trên
cơ sở nghiên cứu chuẩn mực kế toán quốc tế về doanh thu, chi phí và xác định kếtquả kinh doanh cũng như mô hình kế toán của hai nước Mỹ, Pháp; luận văn chỉ ra
sự kết hợp chung để có thể áp dụng phù hợp với Việt Nam - một quốc gia đangphát triển
Những đề xuất mới rút ra từ kết quả nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu thựctrạng kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty cổ phầnCharter Du lịch Việt Nam, luận văn đưa ra những điểm hạn chế đang tồn tại ở đơnvị: thực hiện chế độ kế toán doanh nghiệp về chứng từ, tài khoản, sổ kế toán,BCTC; phương pháp xác định giá bán tour Luận văn cũng chỉ ra những điểm bấtcập trong công tác tổ chức bộ máy kế toán; từ đó, đưa ra một số giải pháp hoànthiện những nội dung này góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh lữhành của công ty
7 Ket cấu của đề tài
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dungcủa luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quảkinh doanh lữ hành trong doanh nghiệp kinh doanh du lịch
Chương 2: Thực trạng kế toán doanh thu, chí phí và xác định kết quả kinhdoanh lữ hành tại Công ty Cổ phần Charter Du lịch Việt Nam
Chương 3: Hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinhdoanh lữ hành tại Công ty Cổ phần Charter Du lịch Việt Nam
Trang 15CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN DOANH
THU, CHI PHÍ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH LỮ HÀNH TRONG DOANH NGHIỆP KINH DOANH DU LỊCH
1.1 Khái niệm và đặc điểm hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch
1.1.1 Khái niệm dịch vụ du lịch
Hoạt động du lịch đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử xã hội loài người vàngày càng phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Ban đầu, đó chỉ làhoạt động mang tính tự phát của một nhóm người ở thời kì cổ đại Sau đó, khi nềnkinh tế - xã hội ở các nước châu Âu phát triển, các lĩnh vực như thông tin, giaothông vận tải và du lịch cũng theo đó phát triển hơn Đến nay, ngành du lịch đã thực
sự đóng một vị trí không nhỏ trong sự phát triển chung của toàn xã hội
Mặc dù có một lịch sử hình thành và phát triển lâu dài, tuy nhiên, hiện nay,vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm “du lịch”
Định nghĩa của Đại học Kinh tế Praha (Cộng hòa Séc): “Du lịch là tập hợpcác hoạt động kỹ thuật, kinh tế và tổ chức liên quan đến cuộc hành trình của conngười và việc lưu trú của họ ngoài nơi ở thường xuyên với nhiều mục đích khácnhau, loại trừ mục đích hành nghề và thăm viếng có tổ chức thường kỳ” [22]
Ông Michael Coltman (Mỹ) cho rằng: “Du lịch là sự kết hợp và tương táccủa bốn nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: du khách, nhàcung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền địa phương nơi đón khách
du lịch” [20]
Tổ chức Du lịch Thế giới định nghĩa: “Du lịch bao gồm tất cả các hoạt độngcủa một cá nhân đi đến và lưu trú tại những điểm ngoài nơi ở thường xuyên của họtrong thời gian không dài hơn một năm với mục đích nghỉ ngơi, công vụ và mụcđích khác” [29]
Ở Việt Nam, theo Luật Du lịch năm 2005, “du lịch là các hoạt động có liênquan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm
Trang 16đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thờigian nhất định”[21].
Có thể thấy mỗi quan điểm về du lịch đang đứng trên một góc độ riêng,song, một cách chung nhất, chúng ta có thể hiểu du lịch là hoạt động liên quan đếnmột cá nhân, một nhóm hay một tổ chức đi ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của họbằng các cuộc hành trình (gọi là chuyến đi) ngắn ngày hoặc dài ngày lưu trú ở mộtnơi khác với mục đích tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng hay mục đích khác
“Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưutrú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằmđáp ứng nhu cầu của khách du lịch”
1.1.2 Khái niệm dịch vụ du lịch lữ hành và phân loại hoạt động kinh doanh
lữ hành
1.1.2.1 Khái niệm dịch vụ du lịch lữ hành
Lữ hành được hiểu một cách chung nhất đó là sự đi lại di chuyển của conngười từ nơi này sang nơi khác Với cách hiểu này, hoạt động du lịch sẽ bao gồmyếu tố lữ hành, nhưng không phải tất cả hoạt động lữ hành là du lịch
Xét trong phạm vi ngành du lịch, kinh doanh dịch vụ du lịch (DVDL) lữhành là hoạt động kinh doanh gồm một hay nhiều công việc trong quá trình tạo ra
và chuyển giao DVDL từ nhà cung ứng DVDL tới khách du lịch với mục đích lợinhuận, hưởng hoa hồng
Theo Điều 4 Luật Du lịch Việt Nam năm 2005, “lữ hành là việc xây dựng,bán, tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch cho khách dulịch” [21] Qua đó cho thấy khái niệm “lữ hành” theo Luật Du lịch Việt Nam đãmang nghĩa hẹp hơn, nó xác định luôn sản phẩm của hoạt động DVDL lữ hành làchương trình du lịch
Cũng trong Luật Du lịch Việt Nam 2015, chương trình du lịch được giảithích là lịch trình, các dịch vụ và giá bán chương trình được định trước cho chuyến
đi của khách du lịch từ nơi xuất phát đến điểm kết thúc chuyến đi Trong khi đó,theo Giáo trình Quản trị kinh doanh lữ hành - chủ biên: Nguyễn Văn Mạnh và
Trang 17Phạm Hồng Chương, “chương trình du lịch là một tập hợp các dịch vụ, hàng hóađược sắp đặt trước, liên kết với nhau, để thỏa mãn ít nhất hai nhu cầu khác nhautrong quá trình tiêu dùng du lịch của khách với mức giá gộp xác định trước và bántrước khi tiêu dùng của khách” [22].
Trên cơ sở kế thừa các cách hiểu này, có thể khái quát chung về chương trình
du lịch như sau: “Chương trình du lịch là một dịch vụ tổng hợp, được tạo nên từ sựliên kết mang tính trọn vẹn giữa các hoạt động du lịch riêng lẻ của các nhà cung cấpkhác nhau để thỏa mãn các nhu cầu khác nhau của khách du lịch.”
Hoạt động kinh doanh chương trình du lịch bao gồm bốn nội dung: nghiêncứu thị trường và thiết kế các chương trình du lịch, quảng cáo và tổ chức bánchương trình, tổ chức thực hiện chương trình du lịch theo hợp đồng đã kí kết vàthanh quyết toán hợp đồng, rút kinh nghiệm về việc thực hiện hợp đồng tiếp theo
1.1.2.2 Phân loại hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch lữ hành
Căn cứ vào tính chất của hoạt động để tạo ra sản phẩm, hoạt động kinh doanh du lịch lữ hành bao gồm: Kinh doanh đại lý lữ hành, kinh doanh chương trình du lịch và kinh doanh lữ hành tổng hợp.
Kinh doanh đại lý lữ hành: đại lý lữ hành đóng vai trò làm trung gian giớithiệu, tiêu thụ sản phẩm của các nhà cung cấp sản phẩm du lịch liên quan như kháchsạn, vận tải, hàng không cho các khách du lịch để hưởng hoa hồng theo hợp đồngđại lý với công ty du lịch Bên đại lý không được tổ chức thực hiện chương trình dulịch mà chỉ nhận các dịch vụ đơn lẻ, không có sự gắn kết với nhau và phục vụ nhucầu riêng của từng đối tượng khách hàng Nói một cách đơn giản, kinh doanh đại lý
lữ hành được hiểu đơn giản đó là việc sắp đặt và cung ứng các dịch vụ của nhiềunhà cung cấp khác nhau một cách đơn lẻ hoặc kết hợp nhằm thỏa mãn nhu cầu củakhách du lịch để hưởng hoa hồng
Kinh doanh chương trình du lịch là liên kết các sản phẩm đơn lẻ như dịch vụkhách sạn, vé máy bay, tàu xe của các nhà cung cấp độc lập thành một sản phẩm
du lịch xuyên suốt và hoàn chỉnh
Trang 18Kinh doanh lữ hành tổng hợp là sự kết hợp đồng thời cả hai loại hình này vớinhau một cách linh hoạt trong từng trường hợp cụ thể Đây là hoạt động vừa mangtính sản xuất trực tiếp từng loại dịch vụ vừa kết hợp các dịch vụ thành sản phẩmmang tính nguyên chiếc, vừa bán buôn vừa bán lẻ Đây chính là kết quả của quátrình liên kết, hợp tác từ nhiều chủ thể kinh doanh du lịch với nhau.
Căn cứ vào phương thức hoạt động, hoạt động kinh doanh du lịch lữ hành bao gồm: Kinh doanh lữ hành gửi khách, kinh doanh lữ hành nhận khách và kinh doanh lữ hành kết hợp.
Kinh doanh lữ hành g ửi khách: thu hút khách du l ịch một cách trực tiếp
và đưa khách đến điểm du lịch Loại hình này phù h ợp với những nơi có cầu
du lịch lớn
Kinh doanh lữ hành nhận khách: xây dựng chương trình du lịch, quan
hệ hợp tác với các công ty lữ hành gửi khách để bán và t ổ chức các chươngtrình du lịch này Loại hình kinh doanh này thích hợp với những nơi có tàinguyên du lịch n ổi tiếng
Sự kết hợp giữa hai loại hình này được gọi chung đó là kinh doanh lữ hànhkết hợp Loại hình kinh doanh này phù hợp với các doanh nghiệp lữ hành có quy
mô lớn, đủ nguồn lực để thực hiện cả hoạt động gửi và nhận khách
Căn cứ phạm vi địa lý hoạt động, hoạt động kinh doanh du lịch lữ hành bao gồm: Kinh doanh lữ hành nội địa và kinh doanh lữ hành quốc tế.
Kinh doanh lữ hành nội địa gắn với phạm vi hoạt động du lịch chỉ diễn ratrên lãnh thổ một quốc gia, còn kinh doanh lữ hành quốc tế có hai hướng đó là nhậnkhách du lịch quốc tế vào trong nước và đưa khách ở trong nước đi ra nước ngoài
Trang 191.1.3 Đặc điểm hoạt động kinh doanh lữ hành và những ảnh hưởng đến công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh lữ hành trong doanh nghiệp kinh doanh du lịch
Kinh doanh DVDL lữ hành là một loại hình kinh doanh đặc biệt từ quá trìnhxây dựng, bán và tổ chức thực hiện các chương trình du lịch trọn gói cho khách dulịch; từ đó ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác địnhkết quả kinh doanh DVDL lữ hành ở các điểm sau:
Thứ nhất, quá trình cung cấp và sử dụng DVDL lữ hành diễn ra đồng thời
và theo một quá trình, trong một thời gian, địa điểm nhất định
Quá trình thực hiện luôn có sự tham gia của đơn vị cung cấp DVDL vàkhách du lịch Đây được xem là điểm khác biệt cơ bản với các hoạt động sản xuấtsản phẩm thông thường Ngoài ra, cũng do tính đồng thời của việc sản xuất và tiêudùng DVDL, đơn vị cung ứng không thể kiểm tra được chất lượng của DVDL trướckhi cung cấp cho khách du lịch Các đơn vị cung cấp loại hình sản phẩm này phảixây dựng được các chuẩn mực và quản lý tốt việc thực hiện chúng nhằm đạt đượcchất lượng dịch vụ tốt nhất
Quá trình sản xuất và tiêu dùng DVDL lữ hành diễn ra trong cùng một thờigian Vì thế, các đơn vị kinh doanh lữ hành chỉ tiến hành phục vụ khách du lịch khi
có sự tham gia của khách trong quá trình phục vụ và có thể xem khách du lịch làyếu tố “nguyên liệu đầu vào” trong quá trình kinh doanh ấy
Quá trình sản xuất và tiêu dùng DVDL lữ hành diễn ra trong cùng một khônggian Các sản phẩm lữ hành không thể vận chuyển tận nơi để phục vụ khách hàng
mà khách hàng phải tự vận động đến đó Như vậy, khách hàng là bộ phận tham giatrực tiếp không thể tách rời trong quá trình sản xuất dịch vụ
Với đặc trưng này, đối với công tác kế toán doanh thu, chi phí và kết quảkinh doanh DVDL lữ hành, kế toán phải xác định được thời điểm ghi nhận doanhthu, chi phí của từng hợp đồng cung cấp dịch vụ Đối với một hợp đồng cung cấpDVDL lữ hành được thực hiện trong một khoảng thời gian dài, sự khác biệt giữathời điểm doanh nghiệp nhận tiền từ khách du lịch và thời điểm kết thúc quá trình
Trang 20cung cấp dịch vụ đòi hỏi kế toán phải lựa chọn thời điểm ghi nhận doanh thu theođúng các tiêu chuẩn quy định Những tour có thời gian thực hiện dài liên quan đếnnhiều kỳ kế toán, kế toán sẽ phải xác định được doanh thu, chi phí, kết quả kinhdoanh và ghi nhận nó tương ứng đúng theo từng kỳ.
Thứ hai, DVDL lữ hành là sự liên kết của nhiều DVDL, mà mỗi DVDL lại
có đặc trưng khác nhau
Thông thường, mỗi gói DVDL lữ hành bao gồm từ dịch vụ vận chuyển, dịch
vụ ăn uống, dịch vụ phòng nghỉ đến nhiều dịch vụ giải trí khác được liên kết vớinhau Mỗi chương trình du lịch được thực hiện đều có mối quan hệ tương tác giữadoanh nghiệp kinh doanh DVDL lữ hành với nhiều đối tượng khác cùng lúc, đó làkhách du lịch với điểm du lịch, với chính quyền địa phương nơi thực hiện tổ chức
và các đơn vị cung cấp dịch vụ phục vụ chương trình du lịch Vì thế, các chi phíphát sinh trong một gói sản phẩm DVDL lữ hành luôn đa dạng với nhiều khoản nhỏ
lẻ, đồng thời lại phát sinh ở những không gian và địa điểm khác nhau, do vậy việctập hợp chi phí để xác định chi phí gốc cho một gói DVDL lữ hành cũng như xácđịnh giá cung cấp gói DVDL lữ hành luôn có nhiều khó khăn và phức tạp
Thứ ba, giá bán của DVDL lữ hành là giá gộp của các dịch vụ có trong chương trình
Đó là giá trọn gói trong hợp đồng cung cấp DVDL lữ hành và cũng là cơ sở
kế toán xác định doanh thu cung cấp DVDL lữ hành
Thứ tư, DVDL lữ hành không đồng nhất giữa các lần cung cấp dịch vụ do nhu cầu của khách du lịch khác nhau cũng như chất lượng dịch vụ cấu thành không như nhau.
Điều đó phụ thuộc vào trạng thái tâm lý, tình cảm của cả người phục vụ lẫnngười cảm nhận Các yếu tố này thay đổi và chịu tác động của nhiều nhân tố trongnhững thời điểm khác nhau Ví dụ cùng là đi máy bay nhưng lại có khung giá vékhác nhau theo từng lứa tuổi Cùdng là dịch vụ phòng nghỉ nhưng lại có nhiều loạiphòng phục vụ cho từng nhu cầu khác nhau Cùng là dịch vụ ăn uống nhưng nhucầu của người già, trẻ em là khác nhau Khách du lịch là người quyết định chất
Trang 21lượng dịch vụ dựa vào cảm nhận của riêng họ Trong từng thời gian, không giankhác nhau, sự cảm nhận của họ cũng khác nhau Những khách du lịch khác nhaucũng có thể đánh giá khác nhau về chất lượng của cùng sản phẩm dịch vụ Sự thỏamãn của khách du lịch phụ thuộc rất lớn vào tâm lý của họ khi sử dụng sản phẩm.Bởi vậy, người cung ứng dịch vụ cần biết cách phán đoán tâm lý của khách du lịch
để cung cấp dịch vụ phù hợp với mong đợi của họ
Đối tượng tập hợp chi phí trong hoạt động kinh doanh DVDL lữ hànhthường gắn với từng đơn đặt hàng, theo từng hợp đồng riêng lẻ phù hợp với đặcđiểm của riêng nó Doanh nghiệp cung cấp DVDL lữ hành phải có phương phápkhoa học để xác định giá cung cấp dịch vụ nhằm đảm bảo đơn vị có lãi cũng nhưnâng cao khả năng cạnh tranh của mình trong ngành Bên cạnh đó, chi phí cấu thànhnên giá thành của DVDL lữ hành cũng không giống nhau đối với từng đơn đặthàng Vì vậy kế toán phải thực hiện phân loại chi phí cho phù hợp và đảm bảo đúngcác nguyên tắc kế toán
Thứ năm, DVDL lữ hành không có hình thái vật chất cụ thể, không có sản phẩm lưu kho, không tích trữ được
Khác với kinh doanh sản phẩm vật chất thông thường, DVDL lữ hành khôngthể lưu kho hoặc tích trữ được Kết quả của hoạt động cung cấp DVDL lữ hành lànhững lợi ích vô hình mà khách du lịch cảm nhận được sau khi trải nghiệm Do tính
vô hình của DVDL nên các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành thường tạo ấn tượngvới khách hàng qua các yếu tố hữu hình như cơ sở vật chất, con người, các hoạtđộng quảng cáo dịch vụ Bởi DVDL nếu không được tiêu thụ thì doanh thu sẽ mất
đi Ví dụ, phòng nghỉ khách sạn, chỗ ngồi trong nhà hàng, chỗ ngồi trên máy bay nếu không có khách thì sẽ không thu được tiền, mà không thể chuyển dịch vụ đósang ngày hôm sau được Vì vậy, hiệu quả kinh doanh du lịch nằm trong chính quátrình tổ chức hoạt động du lịch Gắn với đặc điểm này, kế toán càng phải thận trọng
để xác định thời điểm nào sẽ ghi nhận doanh thu cung cấp DVDL lữ hành khi dịch
vụ không có hình thái vật chất nên không xác định được thời điểm chuyển giaoquyền kiểm soát và quyền sở hữu sản phẩm cho người mua
Trang 22Ở góc độ xem xét hình thái vật chất của hoạt động cung cấp dịch vụ thìDVDL lữ hành không có sản phẩm dở dang, tuy nhiên ở góc độ tổ chức công tác kếtoán thì doanh nghiệp vẫn tồn tại chi phí kinh doanh dở dang Đó là trường hợp ghinhận chi phí kinh doanh tập hợp cho từng hợp đồng cung cấp chương trình du lịch,nhưng đến cuối kỳ kế toán chi phí đó chưa được xác định đáng tin cậy nên chưa thểxác định là giá vốn hàng bán trong kỳ Lúc này, đây chính là chi phí dở dang đượctrình bày ở bên tài sản của doanh nghiệp.
Thứ sáu, DVDL lữ hành mang tính thời vụ rõ nét
Ở các thời gian khác nhau trong năm, nhu cầu của khách du lịch cũng khácnhau Chẳng hạn, vào mùa hè nhu cầu du lịch nghỉ biển tăng rất cao nhưng vào mùađông thì ngược lại, vào mùa xuân nhu cầu du lịch lễ hội cũng tăng mạnh nên có thểthấy hoạt động kinh doanh lữ hành có tính thời vụ rõ nét Đặc điểm này đòi hỏi cácnhà quản trị phải nắm bắt được tính thời vụ để có những biện pháp hạn chế phùhợp, duy trì nhịp độ phát triển đều đặn và nâng cao hiệu quả kinh doanh lữ hành.Ngoài ra, nó cũng sẽ ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán, đòi hỏi hạch toán kếtoán phải chú ý đến việc triển khai phần hành kế toán chi phí và giá thành, cụ thể đó
là đặc điểm kỹ thuật tính toán, phân bổ chi phí giữa các kỳ để đảm bảo giá thànhđược tính toán thận trọng và phù hợp
1.2 Kế toán doanh thu, chi phí, xác định kết quả kinh doanh lữ hành trong doanh nghiệp kinh doanh du lịch
1.2.1 Kế toán doanh thu hoạt động kinh doanh lữ hành trong doanh nghiệp
Trang 23Hệ thống chuẩn mực kế toán Mỹ lại cho rằng: “Doanh thu là một dòng vàodoanh nghiệp của tiền, các khoản phải thu của khách hàng hay giá trị hàng đổi được
từ phía các khách hàng để đổi lấy việc được sử dụng, được cung cấp các dịch vụhay sản phẩm từ phía doanh nghiệp” [42]
Qua các khái niệm về doanh thu nói chung như trên, đối với riêng hoạt độngkinh doanh lữ hành, có thể đưa ra một khái niệm chung như sau: “Doanh thu cungcấp dịch vụ lữ hành là tổng giá trị lợi ích kinh tế mà nhà cung cấp dịch vụ lữ hànhthu được trong kỳ từ tổ chức thực hiện cung cấp các chương trình du lịch” Tức làdoanh thu hoạt động kinh doanh lữ hành phải làm tăng lên tổng giá trị các lợi íchkinh tế trong kỳ kế toán cho doah nghiệp, làm tăng vốn chủ sở hữu của họ nhưngkhông bao gồm các khoản vốn góp ban đầu từ cổ đông hay chủ sở hữu
1.2.1.2 Nguyên tắc ghi nhận các khoản doanh thu hoạt động kinh doanh lữ hành trong doanh nghiệp kinh doanh du lịch
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) số 01, khi ghi nhận doanh thu,doanh nghiệp cần phải tuân thủ một số nguyên tắc sau:
Nguyên tắc doanh thu thực hiện: Doanh thu là số tiền thu được và được ghinhận khi quyền sở hữu hàng hóa bán ra được chuyển giao và khi các dịch vụ đượcthực hiện chuyển giao Trong một số trường hợp đặc biệt như mua bán bất độngsản, bán hàng trả góp hay một số trường hợp đặc biệt khác, doanh thu có thể đượcxác định theo những phương pháp khác nhau như: theo số tiền thực thu, theophương thức trả góp, theo phần trăm hoàn thành
Nguyên tắc thận trọng: Mỗi số liệu của kế toán đều liên quan đến quyền lợi
và nghĩa vụ của nhiều phía khác nhau, mà trong lĩnh vực kinh tế thì có nhiều trườnghợp không thể lường trước được, từ đó đòi hỏi kế toán phải thận trọng Nguyên tắcthận trọng đòi hỏi doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắcchắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế Còn chi phí phải được ghi nhận khi cóbằng chứng có thể về khả năng phát sinh
Không hạch toán vào doanh thu bán hàng trong các trường hợp: Số tiền thu
được về nhượng bán, thanh lý TSCĐ; trị giá hàng hóa đang gửi bán, dịch vụ hoàn
Trang 24thành đã cung cấp cho khách hàng nhưng chưa được người mua chấp thuận thanhtoán; trị giá hàng gửi bán theo phương thức gửi bán đại lý, ký gửi chưa được xácđịnh là tiêu thụ; không thỏa mãn các điều kiện ghi nhận doanh thu; các khoản thunhập khác không được coi là doanh thu BH & CCDV.
1.2.1.3 Điều kiện ghi nhận doanh thu lữ hành trong doanh nghiệp kinh doanh
du lịch
Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 (VAS14) quy định: “Doanh thu bánhàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn tất cả năm (5) điều kiện sau: (a) doanhnghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sảnphẩm hoặc hàng hóa cho người mua; (b) doanh nghiệp không còn nắm giữ quyềnquản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa; (c) doanh thu được xác định tươngđối chắc chắn; (d) doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giaodịch bán hàng; (e) xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng” [3]
Là một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh thông thường, việc ghi nhậndoanh thu tại các đơn vị kinh doanh lữ hành cũng phải đảm bảo những điều kiệntrên Song, đối với doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, cung cấp DVDL lữ hành chokhách du lịch vốn đã bao gồm một chuỗi các hoạt động khác nhau trong quá trìnhtạo ra lợi ích kinh tế Vì vậy, ghi nhận doanh thu cung cấp DVDL lữ hành khá phứctạp Gắn với bản chất của hoạt động cung cấp DVDL lữ hành, có thể chỉ ra sự khácnhau về thời điểm ghi nhận doanh thu trong từng trường hợp sau:
- Nếu việc cung cấp DVDL lữ hành chỉ bao gồm một hoạt động đơn lẻ thìdoanh thu được ghi nhận khi hoạt động này xảy ra và hoàn thành
- Nếu việc cung cấp DVDL lữ hành bao gồm nhiều hoạt động mà vai trò củacác hoạt động trong việc tạo ra thu nhập là tương đương nhau thì về nguyên tắc,doanh thu được ghi nhận trên cơ sở từng phần hoàn thành (phương pháp tỷ lệ phầntrăm hoàn thành) Ngược lại, nếu trong các hoạt động thực hiện dịch vụ mà hoạtđộng ở giai đoạn cuối cùng có ý nghĩa quyết định trong việc tạo ra lợi ích kinh tế thìdoanh thu được ghi nhận khi các hoạt động này đã hoàn thành
Trang 25Dù trong trường hợp nào, kết quả cung cấp DVDL chỉ được xác định mộtcách đáng tin cậy khi thỏa mãn đồng thời những điều kiện: (1) doanh thu được xácđịnh tương đối chắc chắn, (2) có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cungcấp dịch vụ này, (3) xác định được phần công việc đã hoàn thành vào ngày lậpBCTC và (4) xác định được chi phí phát sinh tương ứng để hoàn thành giao dịch đó.Chỉ khi thỏa mãn đủ những yêu cầu này, doanh thu của một giao dịch cung cấpDVDL mới được ghi nhận tương ứng với phần chi phí bỏ ra.
1.2.1.4 Phân loại doanh thu hoạt động kinh doanh lữ hành trong doanh nghiệp kinh doanh du lịch
Tùy theo mục đích sử dụng, kế toán có thể phân loại doanh thu DVDL lữhành theo nhiều cách khác nhau
Thứ nhất, phân loại theo phương thức thanh toán:
- Doanh thu DVDL lữ hành thu tiền ngay: Là doanh thu hoạt động du lịch lữhành được thu ngay bằng tiền tại thời điểm đơn vị cung cấp dịch vụ và ghi nhậndoanh thu
- Doanh thu DVDL lữ hành chưa thu tiền ngay: Là trường hợp doanh nghiệpthực hiện cung cấp DVDL lữ hành theo hợp đồng trong nhiều kỳ và có thỏa thuận
về việc thanh toán khi kết thúc hợp đồng
Mục đích của việc phân loại theo phương thức này nhằm xác định tỷ lệdoanh thu đã thu trên tổng phải thu trong kỳ, nó hướng đến luồng tiền vào để đảmbảo khả năng thanh toán cho đơn vị
Thứ hai, phân loại theo phạm vi lãnh thổ thực hiện chương trình du lịch:
- Doanh thu DVDL lữ hành nội địa: Là doanh thu của các chương trình dulịch được thực hiện toàn bộ trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia
- Doanh thu DVDL lữ hành đưa khách du lịch trong nước ra nước ngoài dulịch (outbound)
- Doanh thu DVDL lữ hành đưa khách du lịch từ nước ngoài về trong nước
du lịch (inbound)
Trang 26Phân loại theo cách này sẽ cung cấp thông tin tài chính giúp định hướng pháttriển thị trường khách du lịch cho nhà quản trị đơn vị.
Theo thời điểm ghi nhận doanh thu DVDL lữ hành:
- Doanh thu DVDL lữ hành theo dự toán: Là doanh thu DVDL lữ hành được
dự báo cho kỳ kinh doanh sắp tới trên cơ sở phân tích thông tin về cầu thị trường
- Doanh thu DVDL lữ hành theo kế hoạch: Là doanh thu DVDL lữ hànhđược xây dựng dựa trên năng lực hoạt động trong kỳ kế hoạch của đơn vị
- Doanh thu DVDL lữ hành thực hiện: Là doanh thu DVDL thực tế đạt đượctrong kỳ kinh doanh của doanh nghiệp
Cách phân loại này giúp nhà quản lý thực hiện kinh doanh có kế hoạch, trình
tự tốt hơn cũng như kiểm tra, đánh giá được hiệu quả của nó một cách thườngxuyên và kịp thời; từ đó có sự điều chỉnh nếu cần một cách hợp lý
1.2.1.5 Nội dung kế toán doanh thu hoạt động kinh doanh lữ hành trong doanh nghiệp kinh doanh lữ hành
Quá trình tổ chức ghi nhận doanh thu cung cấp DVDL lữ hành được thực
hiện gồm năm bước:
- Nhận diện hợp đồng và đối tượng của hợp đồng DVDL lữ hành: Hợp đồnggiữa công ty du lịch và khách du lịch với nội dung là việc cung cấp tour du lịch
- Xác định nghĩa vụ riêng mỗi bên theo hợp đồng cung cấp dịch vụ lữ hành:Điều này được xem như một “cam kết” của công ty du lịch về việc cung cấp đúng
và đầy đủ các dịch vụ trong hợp đồng Đây là cơ sở để đảm bảo cho việc ghi nhậndoanh thu sau này chính xác
- Xác định giá trị của hợp đồng DVDL lữ hành: Giá trị của hợp đồng là sốtiền mà công ty du lịch nhận được hoặc sẽ nhận được từ khách hàng bằng việc cungcấp dịch vụ theo hợp đồng ký kết
- Phân bổ giá trị hợp đồng theo từng nghĩa vụ riêng biệt đối với các hợp đồngthực hiện ở đa quốc gia hay trong nhiều kỳ kinh doanh khác nhau Bởi luôn cónhững biến động từ thị trường làm ảnh hưởng đến giá trị hợp lý của các khoảnthanh toán khi khác nhau về thời điểm
Trang 27- Ghi nhận doanh thu của hợp đồng cung cấp dịch vụ lữ hành: Doanh thuđược ghi nhận khi nghĩa vụ thực hiện trong hợp đồng đã hoàn thành.
Chứng từ kế toán sử dụng
Trong doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, khi phát sinh doanh thu BH &CCDV, kế toán căn cứ vào các chứng từ: Hóa đơn bán hàng, hóa đơn thuế GTGT,giấy báo có, phiếu thu, hợp đồng, thanh lý hợp đồng để ghi nhận và hạch toándoanh thu trong kỳ kinh doanh
Hệ thống tài khoản và sổ kế toán sử dụng
Chế độ kế toán Việt Nam, cụ thể là Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày22/12/2014 và Quyết định 48/2006/QĐ-BTC hướng dẫn chế độ kế toán doanhnghiệp có quy định về việc theo dõi và hạch toán doanh thu BH & CCDV như sau:Doanh nghiệp sử dụng TK “511-Doanh thu BH & CCDV” để phản ánh tổng sốdoanh thu BH & CCDV đã thực hiện trong một kỳ kế toán, bao gồm cả doanh thu
BH & CCDV cho công ty mẹ, công ty con trong cùng tập đoàn Tài khoản này phảnánh doanh thu từ việc bán sản phảm do đơn vị sản xuất ra, hàng hóa mua vào và bánra; thực hiện cung cấp dịch vụ theo hợp đồng trong một hay nhiều kỳ kế toán nhưvận tải, du lịch, xây dựng Như vậy, hoạt động kinh doanh lữ hành cũng nằmtrong những loại hình cung cấp dịch vụ mà khi tổ chức hạch toán theo dõi doanh thucủa nó, kế toán sẽ thực hiện trên TK 511 đúng với hướng dẫn của Thông tư200/2014/TT-BTC
Bên cạnh đó, kế toán doanh thu còn sử dụng các TK liên quan là TK “521 Các khoản giảm trừ doanh thu” để phản ánh các khoản được điều chỉnh giảm trừdoanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ phát sinh trong kỳ bao gồm: Chiết khấuthương mại, giảm giá hàng bán và hàng bán bị trả lại
-Từ hai TK trên, kế toán tính ra doanh thu thuần về tiêu thụ sản phẩm trong
kỳ kinh doanh
Trình tự hạch toán doanh thu BH & CCDV theo sơ đồ 1.1:
Trang 28Sơ đồ 1.1: Sơ đồ kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong các
doanh nghiệp kinh doanh du lịch
(Nguồn: Thông tư 200/2014/TT-BTC)
Chú thích:
(1) Doanh thu BH & CCDV trong kỳ và thuế GTGT tương ứng phải nộp(2) Các khoản giảm trừ doanh thu: Chiết khấu thương mại, giảm giá hàngbán, hàng bán bị trả lại và thuế GTGT tương ứng
(3) Kết chuyển các khoản giảm trừ doanh thu
(4) Kết chuyển doanh thu thuần để xác định kết quả kinh doanh
Đối với hoạt động kinh doanh DVDL liên quốc gia, sự khác biệt về tỷ giá hốiđoái tại thời điểm ghi nhận doanh thu và thời điểm thanh toán dẫn đến doanh nghiệpkinh doanh lữ hành có lãi/lỗ do chênh lệch tỷ giá Khi đó, phần chênh lệch sẽ đượchạch toán vào bên nợ TK 635 (lỗ) và 515 (lãi) Chênh lệch tỷ giá ngoại tệ này đượcphân loại thuộc hoạt động tài chính của đơn vị kinh doanh lữ hành
Sổ kế toán liên quan
Sổ kế toán là những tờ sổ được xây dựng theo mẫu nhất định, có liên quanchặt chẽ với nhau, sử dụng để ghi chép, hệ thống hóa thông tin về hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp
Theo Điều 122 Thông tư 200/2014/TT-BTC hướng dẫn chế độ kế toán doanhnghiệp của Bộ Tài chính ngày 22/12/2014, doanh nghiệp được tự xây dựng mẫu sổ
kế toán và hình thức ghi sổ kế toán nhưng phải đảm bảo cung cấp thông tin về giaodịch kinh tế một cách minh bạch, phản ánh đầy đủ, kịp thời, dễ kiểm tra, kiểm soát
Trang 29và đối chiếu Nếu không tự xây dựng được thì doanh nghiệp có thể áp dụng cáchình thức ghi sổ kế toán được hướng dẫn trong phụ lục của Thông tư 200/2014/TT-BTC để lập BCTC nếu phù hợp với đặc điểm quản lý và hoạt động kinh doanh củamình (Phụ lục 1.1).
Tùy theo mỗi hình thức kế toán mà hệ thống sổ khác nhau cả về số lượng,kết cấu mẫu sổ, mối quan hệ giữa các loại sổ để doanh nghiệp có thể lựa chọnnhững hình thức kế toán và các sổ sách kế toán liên quan phù hợp với đặc điểm,tính chất của riêng mình
Đối với việc ghi nhận doanh thu BH & CCDV, dù lựa chọn hình thức kế toánnào, căn cứ dựa vào chứng từ liên quan và hệ thống TK theo dõi, kế toán thực hiện
mở sổ chi tiết TK 511, 521 (nếu có) để theo dõi các khoản liên quan đến doanh thu
Xác định giá bán DVDL lữ hành
Việc xác định giá bán sản phẩm có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếpđến doanh thu và kết quả kinh doanh của hoạt động đó Gắn với những đặc thùriêng của hoạt động kinh doanh lữ hành, định giá bán tour du lịch phải luôn chú ýđến một số điểm sau:
- Giá bán chương trình du lịch không thể là một giá cố định tuyệt đối nếu đó
là một hợp đồng lớn, trong một thời gian dài
- Giá bán có thể giảm mà doanh nghiệp vẫn tăng doanh thu nếu đơn vị thuđược khối lượng hợp đồng lớn
- Doanh nghiệp cân đối doanh thu ước tính có được và chi phí dự kiến bỏ ra
để xác định giá bán một cách hợp lý nhất
Hầu hết các công ty du lịch hiện nay đều xây dựng giá bán dựa trên chi phíchương trình du lịch: Giá bán chương trình du lịch = chi phí gốc chương trình dulịch + (tỷ lệ chi phí cộng thêm*chi phí gốc chương trình du lịch) Tỷ lệ chi phí cộngthêm này được xác định trên cơ sở đảm bảo bù đắp các chi phí phục vụ cho hoạtđộng này của doanh nghiệp và mức hòa vốn mong muốn của nhà quản trị
Trang 301.2.2 Kế toán chi phí hoạt động kinh doanh lữ hành trong doanh nghiệp
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) số 01, “Chi phí là tổng giá trị cáckhoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi
ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc làm phát sinh các khoản nợ phải trả dẫn đến làmgiảm vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp, không bao gồm khoản phân phối cho cổđông hoặc chủ sở hữu” [3]
Trên cơ sở kết thừa hai quan điểm trên, có thể thấy rằng chi phí hoạt độngkinh doanh lữ hành có hai đặc trưng cơ bản: Giá trị được chuyển dịch từ các yếu tốđầu vào như các khoản tiền, tương đương tiền đã chi ra, khấu hao TSCĐ, công cụdụng cụ hoặc các khoản nợ phải trả trong kỳ kế toán Chi phí phát sinh này sẽ làmgiảm tương ứng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp nhưng không bao gồm khoảnphân phối cho họ
1.2.2.2 Nguyên tắc ghi nhận chi phí hoạt động kinh doanh lữ hành trong doanh nghiệp kinh doanh du lịch
Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 01, để xác định đúng, chính xáccác khoản mục chi phí phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệpcần phải tôn trọng các nguyên tắc như sau:
Chi phí sản xuất kinh doanh và chi phí khác được ghi nhận trong Báo cáoKQHĐKD khi các khoản chi phí này làm giảm bớt lợi ích kinh tế trong tương lai cóliên quan đến việc giảm bớt tài sản hoặc nợ phải trả và chi phí phải xác định đượcmột cách đáng tin cậy
Trang 31Các chi phí được ghi nhận trong Báo cáo KQHĐKD phải tuân thủ nguyêntắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí Khi lợi ích kinh tế dự kiến thu được trongnhiều kỳ kế toán có liên quan đến doanh thu và thu nhập khác được xác định mộtcách gián tiếp thì các chi phí liên quan được ghi nhận trong Báo cáo KQHĐKD trên
cơ sở phân bổ theo hệ thống hoặc theo tỷ lệ Một khoản chi phí được ghi nhận ngayvào Báo cáo KQHĐKD trong kỳ khi chi phí đó không đem lại lợi ích kinh tế trongcác kỳ sau
1.2.2.3 Đặc điểm và phân loại chi phí hoạt động kinh doanh lữ hành trong doanh nghiệp kinh doanh lữ hành
Đặc điểm của chi phí hoạt động kinh doanh lữ hành
Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ với sản phẩm không mang hình tháivật chất, quá trình sản xuất ra sản phẩm cũng đồng thời là quá trình tiêu thụ Bởivậy, trong cơ cấu giá thành của các đơn vị này, đại bộ phận chi phí đó là từ lao độngsống, khấu hao TSCĐ Hơn nữa, đặc điểm của hoạt động kinh doanh lữ hành là chỉtính được giá thành thực tế của khối lượng dịch vụ đã thực hiện (đã tiêu thụ) Do đó,
kế toán chi phí phải phản ánh và giám sát toàn bộ hoạt động kinh doanh, các chi phíthực tế phát sinh trong kỳ để tính được giá thành sản phẩm thực tế và chi tiêu mộtcách tiết kiệm, hiệu quả Trong kinh doanh du lịch cũng không có bán thành phẩmhay sản phẩm dở dang như trong các doanh nghiệp sản xuất, nên đối tượng tính giáthành là sản phẩm cuối cùng của quy trình cung ứng dịch vụ và đã được chấp nhậnthanh toán
Mỗi hoạt động kinh doanh có những đặc điểm khác nhau, thực hiện nhữngcông việc, dịch vụ khác nhau nên cần phải lựa chọn đối tượng tính giá hợp lý.Chẳng hạn như đối với hoạt động dịch vụ vận chuyển thì đối tượng tính giá thành làhành khách vận chuyển, số ki lô mét xe chạy ; đối với hoạt động hướng dẫn dulịch thì đối tượng tính giá thành là từng tour du lịch
Phân loại chi phí hoạt động kinh doanh lữ hành
Trong hoạt động kinh doanh DVDL, chi phí hết sức đa dạng và phong phú.Muốn quản lý chí phí một cách chặt chẽ từ đó có biện pháp tiết kiệm chi phí, hạ
Trang 32thấp giá thành thì người ta phải tiến hành phân loại chi phí sao cho phù hợp với thực
tế của đơn vị nhưng vẫn đảm bảo tính chính xác khoa học
Các cách phân loại chi phí thường được sử dụng ở doanh nghiệp nói chung
và doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nói riêng:
Thứ nhất, phân loại theo mối quan hệ giữa chi phí và tập hợp chi phí:
- Chi phí trực tiếp: Là chi phí liên quan đến đối tượng chịu chi phí chẳng hạntheo từng hoạt động kinh doanh cụ thể, theo từng sản phẩm kinh doanh cụ thể
- Chi phí gián tiếp: Là những chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng do vậychi phí này cần được phân bổ cho các đối tượng chịu chi phí khác nhau
Gắn với hoạt động kinh doanh lữ hành, chi phí lương của hướng dẫn viên làchi phí trực tiếp, còn chi phí lương của ban quản lý đơn vị lại là chi phí gián tiếp
Việc phân loại chi phí này giúp cho doanh nghiệp có thể đánh giá được tínhhợp lý của chi phí và tìm ra biện pháp nhằm giảm chi phí gián tiếp và nâng cao hiệuquả sử dụng tài sản của doanh nghiệp
Thứ hai, phân loại theo khoản mục chi phí: Căn cứ vào công dụng kinh tế và địa điểm phát sinh chi phí
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm toàn bộ chi phí nguyên vật liệudùng trực tiếp cho quá trình cung ứng dịch vụ như chi phí về nguyên vật liệu, nhiênliệu, năng lượng, công cụ dụng cụ cụ thể với một tour du lịch đó là chi phí kháchsạn, vé thăm quan vui chơi
- Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm toàn bộ chi phí về tiền lương, tiềncông, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn của nhân viên trực tiếptạo ra sản phẩm DVDL Đó là lương hướng dẫn viên, điều hành tour
- Chi phí sản xuất chung: Bao gồm chi phí liên quan trực tiếp đến quá trìnhcung ứng dịch vụ nhưng không thuộc hai loại trên như chi phí khấu hao TSCĐ, tiềnthuê TSCĐ, chi phí sửa chữa TSCĐ
Việc phân loại này tạo điều kiện cho doanh nghiệp xác định mức độ ảnhhưởng của các nhân tố khác nhau vào quá trình cung ứng dịch vụ phục vụ công tác
kế hoạch hóa và tính giá thành sản phẩm DVDL
Thứ ba, phân loại theo mối quan hệ giữa chi phí và khối lượng DVDL: Căn
Trang 33cứ vào mối tương quan giữa chi phí và khối lượng dịch vụ tạo ra
- Chi phí cố định (định phí): Là những chi phí không biến đổi khi mức độhoạt động thay đổi, nhưng khi tính cho một đơn vị cụ thể thì định phí thay đổi Danchứng: chi phí hướng dẫn viên không đổi khi số lượng khách trong chương trìnhtour thay đổi Nhưng khi số lượng khách của tour tăng lên thì chi phí hướng dẫnviên trên một khách du lịch sẽ giảm xuống
- Chi phí biến đổi (biến phí): Là chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận với mức độhoạt động, biến phí cho một đơn vị thì ổn định không thay đổi
Trong kinh doanh lữ hành, biến phí chiếm một số lượng lớn trong tổng sốcác loại chi phí gắn với chương trình tour: chi phí phòng ở, ăn uống, vé thắngcảnh Với các chi phí này, khi số lượng khách của một chương trình tăng lên sẽdẫn đến các chi phí này tăng lên tương ứng và ngược lại
- Chi phí hỗn hợp: Là chi phí mà bản thân nó bao gồm các yếu tố định phílẫn biến phí Chẳng hạn đối với chi phí thuê xe: thông thường tương ứng mỗichương trình du lịch, các nhà xe sẽ cung cấp giá xe trước và phần chi phí này là cốđịnh với tour đó Tuy nhiên, nếu chương trình đó chạy quá số giới hạn ki lô métnày, nhà xe sẽ tính thêm một mức phí đối với phần này và đây là phần chi phí biếnđổi của tour mà công ty du lịch phải chịu
Cách phân loại này có ý nghĩa trong việc phân tích, dự toán và xác định điểmhòa vốn, nhưng nó lại mang tính chất tương đối
Hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nói chung và khối doanhnghiệp kinh doanh lữ hành nói riêng, chi phí hoạt động kinh doanh DVDL thườngđược phân loại có sự kết hợp của hai cách thứ nhất và thứ hai; đó là chi phí trực tiếp
và chi phí gián tiếp Trong đó, chi phí trực tiếp lại được chia thành chi phí nguyênvật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung
1.2.2.4 Nội dung kế toán chi phí hoạt động kinh doanh lữ hành trong doanh nghiệp kinh doanh du lịch
Chứng từ sử dụng
Khi phát sinh các khoản về chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, doanh nghiệpcăn cứ vào hóa đơn bán hàng, hóa đơn GTGT, biên bản kiểm nghiệm vật tư, sản
Trang 34Cũng dựa trên cơ sở bảng chấm công, bảng lương, biên bản giao nhậnTSCĐ, bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ của bộ phận sản xuất chung, bộ phậnquản lý, bộ phận bán hàng để ghi nhận và hạch toán chi phí tương ứng đúng đốitượng vào chi phí hoạt động kinh doanh trong kỳ.
Hệ thống tài khoản kế toán sử dụng
Theo chế độ kế toán Việt Nam hiện hành, hướng dẫn của Thông tư200/2014/TT-BTC và vận dụng trong các doanh nghiệp kinh doanh du lịch, để thựchiện ghi chép, theo dõi chi phí hoạt động kinh doanh lữ hành tại đơn vị, kế toán sửdụng các TK: TK 621 đối với chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp, TK 622 đối vớichi phí nhân công trực tiếp, TK 627 đối với chi phí sản xuất chung và TK 632 chochi phí giá vốn hàng bán
Theo hướng dẫn tại Điều 84 Thông tư 200/2014/TT-BTC, TK “621-Chi phínguyên liệu, vật liệu trực tiếp” dùng để phản ánh chi phí nguyên liệu, vật liệu trựctiếp còn TK “622-Chi phí nhân công trực tiếp” được sử dụng để phản ánh chi phínhân công trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, thực hiện dịch vụ của ngành dulịch, khách sạn trong kỳ kinh doanh Cuối kì, kết chuyển hoặc phân bổ và kếtchuyển số phát sinh trong kỳ vào giá thành sản phẩm dựa trên các tiêu thức phân bổnhất định (nếu có) Đối với phần chi phí đã phát sinh vượt trên mức bình thườngcủa hai loại chi phí này không được tính vào giá thành sản phẩm, dịch vụ màchuyển ngay vào TK “632-Giá vốn hàng bán” trong kỳ kinh doanh
Điều 87 Thông tư 200/2014/TT-BTC hướng dẫn chi phí phục vụ sản xuấtchung phục vụ cho hoạt động sản xuất dịch vụ của các doanh nghiệp du lịch, dịch
vụ được phản ảnh ở TK “627-Chi phí sản xuất chung”
Tài khoản “632-Giá vốn hàng bán” phản ánh trị giá vốn của sản phẩm, dịch
vụ đã bán trong kỳ; chi phí nguyên liệu, vật liệu, chi phí nhân công vượt trên định
mức bình thường và chi phí sản xuất chung cố định không phân bổ được tính vàogiá vốn hàng bán trong kỳ Đối với các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàngbán nhận được thực hiện sau khi dịch vụ đã tiêu thụ cũng thực hiện điều chỉnh giảmtrên TK này khi phát sinh Trường hợp này thường xuyên diễn ra trong ngành dulịch nói chung và các đơn vị kinh doanh lữ hành nói riêng nhất là khi có sự liên kếthợp tác giữa chính những công ty lữ hành thì việc chiết khấu sau bán hàng càngnhiều, giá trị lớn Bởi một phần nào đó, đây là cách giúp các công ty du lịch duy trìmối quan hệ, hợp tác lâu dài của mình
Công tác hạch toán của mỗi loại chi phí được thể hiện cụ thể thông qua các
sơ đồ như sau:
Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và nhân công trực tiếp:
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp trong các doanh nghiệp
kinh doanh du lịch
TK 1 1 1,1 12,331 TKl 62 1 TK 154
Trang 36(2) Mua nguyên vật liệu xuất dùng trực tiếp trong kỳ và thuế GTGT tươngứng được khấu trừ
(3) Cuối kỳ, tính và kết chuyển các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
(4) Cuối kỳ, tính và kết chuyển các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp vượt trênmức bình thường
(5) Cuối kỳ, nguyên vật liệu sử dụng không hết nhập lại kho
Trang 37Sơ đồ 1.3: Sơ đồ kế toán chi phí nhân công trực tiếp trong các doanh nghiệp kinh
doanh du lịch
(Nguồn: Thông tư 200/2014/TT-BTC)
Chú thích:
(1) Tiền lương, tiền công, phụ cấp phải trả nhân công trực tiếp
(2) Các khoản trích về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp,kinh phí công đoàn
(3) Cuối kỳ, tính và kết chuyển các chi phí nhân công trực tiếp
(4) Cuối kỳ, tính và kết chuyển các chi phí nhân công trực tiếp vượt trên mứcbình thường
Hạch toán chi phí sản xuất chung
Sơ đồ 1.4: Sơ đồ kế toán chi phí sản xuất chung trong các doanh nghiệp kinh
doanh du lịch
(Nguồn: Thông tư 200/2014/TT-BTC)
Trang 38(5) Chi phí nguyên vật liệu xuất dùng cho bộ phận sản xuất chung(6) Cuối kỳ, tính và kết chuyển các chi phí sản xuất chung
(7) Chi phí sản xuất chung cố định được tính thẳng vào giá vốn (mức sảnxuất thực tế < công suất bình thường)
(8) Các khoản thu nhưng ghi nhận giảm chi phíCăn cứ vào các chứng từ liên quan, kế toán mở sổ chi tiết từng loại chi phítrên để theo theo dõi chúng
1.2.3 Kế toán xác định kết quả hoạt động kinh doanh lữ hành trong doanh
nghiệp kinh doanh du lịch 1.2.3.1 Khái niệm về kết quả hoạt động kinh doanh lữ hành
Trên thế giới hiện có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm kết quả hoạtđộng kinh doanh Song, tổng hợp lại, chúng đều có bản chất giống nhau, đó là kếtquả kinh doanh được xác định bằng tổng doanh thu và thu nhập trừ đi tổng chi phíphát sinh tương ưng ứng trong cùng một kỳ kế toán
Hoạt động kinh doanh lữ hành cũng không nằm ngoài quy luật chung này.Nói cách khác: kết quả hoạt động kinh doanh lữ hành được xác định bằng doanh thuhoạt động kinh doanh lữ hành trừ đi chi phí hoạt động kinh doanh lữ hành ra lợinhuận ròng từ hoạt động kinh doanh lữ hành Đây thường là hoạt động kinh doanhchính của các công ty du lịch nhưng không phải là hoạt động duy nhất nên kết quảkinh doanh được xác định là lợi nhuận ròng từ hoạt động kinh doanh lữ hành, khôngphải lợi nhuận trước thuế cuối cùng của doanh nghiệp Do đó, chỉ tiêu này chỉ là chỉtiêu tổng hợp phản ánh chất lượng hoạt động kính doanh lữ hành của công ty kinhdoanh du lịch, chưa thể là chỉ tiêu tốt nhất để đánh giá hiệu quả kinh doanh chungcủa toàn đơn vị
1.2.3.2 Nguyên tắc xác định kết quả hoạt động kinh doanh lữ hành trong doanh nghiệp kinh doanh du lịch
Phải phản ánh đầy đủ, chính xác KQHĐKD theo quy định hiện hành
KQHĐKD được hạch toán chi tiết theo từng loại hoạt động Trong kế toánhoạt động kinh doanh cần hạch toán chi tiết cho từng loại sản phẩm, từng ngành,từng loại dịch vụ
Các khoản doanh thu và thu nhập từ hoạt động kinh doanh lữ hành được kếtchuyển để xác định KQHĐKD lữ hành đó là doanh thu thuần và thu nhập thuần từhoạt động kinh doanh lữ hành
Kết quả kinh doanh lữ hành (lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh lữhành) là chỉ tiêu thể hiện kết quả nhận được từ hoạt động BH & CCDV kinh doanh
lữ hành trừ đi chi phi hoạt động kinh doanh lữ hành phát sinh cùng kỳ kinh doanh
Do vậy, trước khi tiến hành xác định KQHĐKD lữ hành, kế toán phải thực hiện soátxét, tổng hợp, đối chiếu với các bên liên quan (nếu cần) toàn bộ số liệu về doanhthu, chi phí liên quan đến hoạt động lữ hành Ngoài ra, thực hiện các bút toán nộisinh như phân bổ chi phí, doanh thu chưa thực hiện và kết chuyển cuối kỳ theoquy định Việc làm này không chỉ để xác định kết quả kinh doanh chung của đơn vịtrong kỳ mà còn phân bổ chi tiết theo từng chương trình du lịch cụ thể nhằm phục
vụ cho mục đích quản trị nội bộ
Hiện nay, có hai phương pháp trình bày kết quả kinh doanh lữ hành được ápdụng phổ biến đó là dựa trên cơ sở phân loại chi phí theo mục đích của chi phí hoặctheo nội dung của chi phí
- Với việc phân loại theo mục đích của chi phí, kết quả kinh doanh lữ hành