Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nângcao hiệu quả phúc thẩm các vụ án hình sự ở nước ta.Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài: luận án tập trung giải quyết một số nhiệm vụ cơ bản sau đây:
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đổi mới bộ máy nhà nước nói chung và các cơ quan tư pháp nóiriêng là một trong những nội dung quan trọng của công cuộc xây dựng Nhànước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa Nghị quyết Trung ương 8khoá VII của Đảng đã đề ra các quan điểm cơ bản về đổi mới bộ máy nhànước nói chung và các cơ quan tư pháp nói riêng Các quan điểm này đượctiếp tục khẳng định và phát triển trong các văn kiện Đại hội và các Nghịquyết Trung ương của Đảng ta trong những năm gần đây
Về hoàn thiện hệ thống pháp luật và cải cách tư pháp, trong văn kiệnĐại hội VIII của Đảng đã chỉ rõ:
… Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn bảnpháp luật làm cơ sở cho tổ chức và hoạt động của hệ thống các cơquan tư pháp trước yêu cầu đổi mới như các Bộ luật: dân sự, tốtụng dân sự, tố tụng hình sự (sửa đổi) và các luật, pháp lệnh về
xử phạt vi phạm hành chính, bảo đảm cho mọi vi phạm đều bị
xử lý, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, bảo đảmquyền làm chủ của công dân, [11, tr 130]
Đại hội IX của Đảng đã đề ra các biện pháp tiến hành cải cách tưpháp ở nước ta là:
Tiếp tục cải cách, kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạtđộng của các cơ quan tư pháp theo nguyên tắc nâng cao tinh thầntrách nhiệm, làm tốt công tác điều tra, bắt, giam, giữ, truy tố, xét
xử, không để xảy ra những trường hợp oan sai Sắp xếp tại hệthống TAND, phân định thẩm quyền một cách hợp lý theonguyên tắc tổ chức TA theo cấp xét xử, tăng cường thẩm phán ở
Trang 2những địa bàn trọng điểm, quy định rõ tiêu chuẩn, trách nhiệm vàthẩm quyền của hội thẩm nhân dân TANDTC làm nhiệm vụhướng dẫn áp dụng pháp luật và thực hiện công tác giám sát xét
xử các bản án, quyết định đã có HLPL [13, tr 295-296]
Các yêu cầu về cải cách tư pháp và nhiệm vụ trọng tâm công tác tưpháp trong giai đoạn hiện nay được Bộ Chính trị Ban chấp hành Trungương Đảng ta chỉ rõ trong Nghị quyết số 08/NQ/TƯ ngày 02/01/2002:
Khi xét xử phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳngtrước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan, thẩm phán và hộithẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyếtcủa TA phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòatrên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến củakiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyênđơn, bị đơn, người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản
án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thờihạn pháp luật quy định [2]
Các quan điểm trên của Đảng về cải cách tư pháp ở nước ta đã từngbước được thể chế hóa trong các văn bản pháp luật được Quốc hội thôngqua trong thời gian gần đây như BLHS 1999, BLTTHS sửa đổi năm 2000,Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2002, Luật tổ chức TAND và Luật tổ chứcVKSND năm 2002, BLTTHS sửa đổi năm 2003, Đây là cơ sở pháp lý đểchúng ta tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp nóichung và các TAND nói riêng
BLTTHS đầu tiên của nước ta được ban hành năm 1988 và có hiệulực thi hành từ 01/01/1989 là kết quả tổng kết kinh nghiệm của hơn 40 hoạtđộng tư pháp hình sự Bước đầu Bộ luật đã thể hiện đường lối đổi mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV Bộ luật đãphát huy tác dụng tích cực trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm,
Trang 3bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm cho hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng đạt được mục đích và nhiệm vụ đặtra: " phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọihành vi phạm tội không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội , bảo
vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân " BLTTHS đã ba lần đượcsửa đổi, bổ sung (7/1990, 12/1992 và 6/2000) để đáp ứng kịp thời yêu cầucủa thực tiễn
Tuy nhiên, sau 15 năm áp dụng, bên cạnh những kết quả đạt được,nhiều quy định của BLTTHS hiện hành nói chung và các quy định về phúcthẩm nói riêng đã bộc lộ nhiều bất cập Trong thực tiễn, các TA cấp phúcthẩm rất vướng mắc khi áp dụng các quy định BLTTHS về phạm vi xét xửphúc thẩm, về bổ sung, thay đổi và rút kháng cáo, kháng nghị; giải quyếtvấn đề kháng cáo quá hạn; áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngănchặn tạm giam, Việc quy định một thủ tục xét xử phúc thẩm áp dụngchung đối với tất cả các vụ án đã làm cho hoạt động xét xử phúc thẩm trởthành quá tải, quá thời hạn luật định dẫn đến sự tồn đọng án trong nhữngnăm gần đây ở các TA cấp phúc thẩm, đặc biệt là ở TANDTC Điều đó ảnhhưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả đấu tranh phòng, chống tộiphạm của các cơ quan tiến hành tố tụng, không bảo vệ kịp thời lợi ích củaNhà nước, của xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Nguyên nhân của tình trạng này là do một số quy định của BLTTHS
về phúc thẩm chưa đầy đủ, cụ thể và rõ ràng Cơ quan có thẩm quyền cũngchưa hướng dẫn kịp thời, đầy đủ về việc áp dụng các quy định BLTTHSdẫn đến nhận thức và áp dụng có nhiều vướng mắc Mặt khác, hệ thống tổchức và hoạt động của các TA cấp phúc thẩm; trình độ nghiệp vụ và nănglực của đội ngũ thẩm phán và kiểm sát viên và các bảo đảm khác cho hoạtđộng của các TA và VKS cấp phúc thẩm cũng còn nhiều hạn chế
BLTTHS (sửa đổi) được thông qua ngày 18/11/2003 tại kỳ họp thứ 4Quốc hội khóa XI là một bước phát triển mới trong quá trình hoàn thiện hệ
Trang 4thống pháp luật nước ta nói chung và pháp luật TTHS nói riêng Việc sửađổi bổ sung BLTTHS lần này được tiến hành tương đối đồng bộ, toàn diện
và về cơ bản đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta theo tinhthần Nghị quyết số 08/NQ-TƯ của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ươngĐảng Tuy nhiên, về cơ bản các quy định về phúc thẩm trong BLTTHS sửađổi vẫn như trước đây, do đó chưa khắc phục được những bất cập, tồn tại
và vướng mắc trong thực tiễn Vì vậy, việc nghiên cứu làm sáng tỏ về mặt
lý luận và các quy định pháp luật TTHS về phúc thẩm; chỉ ra những bấtcập, vướng mắc trong thực tiễn và nguyên nhân, trên cơ sở đó đưa ra đượccác căn cứ khoa học nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định về phúc thẩmvẫn là một yêu cầu cấp thiết của khoa học luật TTHS hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Phúc thẩm trong TTHS là một vấn đề có nội dung rộng và phức tạpcủa khoa học luật TTHS Vấn đề này đã được một số nhà khoa học pháp lý
ở nước ta và trên thế giới quan tâm nghiên cứu Trong sách báo pháp lý củanước ta đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này ở những mức độ
và phạm vi khác nhau Có thể chia các công trình này thành ba nhóm sau:
Các công trình nghiên cứu trực tiếp về phúc thẩm trong TTHS như:
"Một số vấn đề về luật tố tụng hình sự" của tác giả Võ Thọ, Nxb Pháp lý,
Hà Nội, 1985; "Giáo trình Luật tố tụng hình sự" của Trường Đại học Luật
Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, 1999; "Thủ tục phúc thẩm trong luật tố tụng hình sự Việt Nam" của Đinh Văn Quế, Nxb Chính trị quốc gia, 1998; một số luận văn thạc sĩ luật học như "Thủ tục xét xử phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam" của Nguyễn Gia Cương, 1998; "Phúc thẩm trong
tố tụng hình sự Việt Nam" của Phan Thị Thanh Mai, 1998; "Thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm trong tố tụng hình sự" của Nguyễn Văn Tiến, 1998; "Giai đoạn xét xử phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn" của Huỳnh Lập Thành, 2001;
Trang 5Các công trình nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của phúc
thẩm trong TTHS như: Luận án tiến sĩ luật học "Thẩm quyền của Tòa án các cấp trong tố tụng hình sự" của Nguyễn Văn Huyên, 2002; "Những vấn
đề cần trao đổi từ thực tế xét xử phúc thẩm về hình sự" của TS Từ Văn Nhũ (Tạp chí TAND, số 3/2001); "Những vấn đề tồn tại trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự và những kiến nghị nhằm hoàn thiện" của TS Dương Ngọc Ngưu (Tạp chí TAND, số 11/2000 và số 01/2001); "Thủ tục phiên tòa phúc thẩm có gì khác với phiên tòa sơ thẩm" của ThS Mai Bộ (Tạp chí TAND, số 9/1995); "Quyền hạn của Tòa án khi xét xử phúc thẩm" và "Sửa bản án sơ thẩm theo Điều 221 Bộ luật tố tụng hình sự" của Hoàng Thị Sơn (Tạp chí Luật học, số 6/1997 và 5/1999);
"Hoàn thiện pháp luật về xét xử phúc thẩm trong tố tụng hình sự" của ThS Nguyễn Nông (Tạp chí TAND, số 8/1994); "Việc Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm từ không có tội thành có tội theo khoản 3 Điều 221 Bộ luật
tố tụng hình sự" của Phạm Văn Khánh (Tạp chí Kiểm sát, số 7/1999);
Các công trình nghiên cứu về các vấn đề có liên quan đến phúc thẩm
trong TTHS: "Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành Tòa án nhân dân" của tác giả Phạm Hưng (Tạp chí TAND, số 10 và số 11/1997);
"Vấn đề thực tiễn, lý luận và yêu cầu hoàn thiện thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm các vụ án hình sự của Tòa án các cấp" và "Vấn đề giới hạn xét
xử của Tòa án nhân dân" của TS Nguyễn Văn Hiện (Tạp chí TAND, số 4/1997 và số 8/1999); "Về các căn cứ đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án các cấp" của PGS.TS Trần Văn Độ (Tạp chí Luật học, số 3/1997);
"Vai trò của Tòa án trong hệ thống các cơ quan tư pháp" của PGS.TS Phạm Hồng Hải (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 1/2001); "Vài nét về quá trình hình thành và phát triển của Tòa án nhân dân" của TS Đặng Quang Phương (Tạp chí TAND, số 6/1995);
Một số nhà khoa học pháp lý trên thế giới cũng nghiên cứu về vấn
đề này và quan điểm của họ cũng rất khác nhau, trong số đó có các nhà
Trang 6khoa học pháp lý Xô viết như: "Giáo trình tố tụng hình sự Xô viết" của GS.TS Stơrogovích M C., Nxb Khoa học pháp lý, Matxcơva, 1980; "Phúc thẩm trong tố tụng hình sự Xô viết" của GS.TS Pêrơlốp V Đ., Nxb Pháp lý, Mátxcơva, 1968; "Bảo vệ quyền lợi của bị cáo trong xét xử phúc thẩm" của
GS.TS Martưnchích E G., Nxb Kisinhốp, 1979;
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cáchtoàn diện, đầy đủ và có hệ thống về phúc thẩm trong TTHS, chưa đưa rađược khái niệm hoàn chỉnh, đầy đủ và chính xác về phúc thẩm trongTTHS
Tất cả các luận điểm nêu trên là lý do để tác giả lựa chọn "Phúc thẩm trong tố tụng hình sự" làm đề tài luận án tiến sĩ luật học của mình.
3 Mục đích, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài: trên cơ sở phân tích các quan điểm
khác nhau về phúc thẩm trong TTHS, các xu hướng điều chỉnh vấn đề nàytrong pháp luật của các nước và ở nước ta trước và sau khi ban hànhBLTTHS 1988, những tồn tại và vướng mắc trong thực tiễn phúc thẩmnhững năm gần đây, tác giả đặt ra cho mình mục đích nghiên cứu một cáchđầy đủ, toàn diện và có hệ thống các nội dung của phúc thẩm trong TTHSnhằm làm sáng tỏ về mặt lý luận, đồng thời chỉ ra những khiếm khuyết vềmặt lập pháp, những tồn tại, vướng mắc trong nhận thức và áp dụng cácquy định hiện hành về phúc thẩm Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải phápnhằm nâng cao hiệu quả phúc thẩm các vụ án hình sự ở nước ta
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: phúc thẩm là vấn đề có nội dung
rộng và phức tạp của khoa học luật TTHS Vì vậy, trong phạm vi của luận
án không thể xem xét toàn diện tất cả các nội dung của vấn đề Tác giả chỉdừng lại ở việc nghiên cứu một số nội dung cơ bản của phúc thẩm màchúng chưa được làm sáng tỏ một cách toàn diện và có hệ thống về mặt lýluận; các quy định pháp luật TTHS của nước ta về phúc thẩm từ 1945 đến
Trang 7nay; thực trạng phúc thẩm các vụ án hình sự ở nước ta, những tồn tại,vướng mắc và nguyên nhân Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nângcao hiệu quả phúc thẩm các vụ án hình sự ở nước ta.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài: luận án tập trung giải quyết một số
nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Làm rõ bản chất pháp lý, chức năng, nhiệm vụ và vai trò của phúcthẩm trong việc thực hiện mục đích và nhiệm vụ đặt ra của TTHS; làmsáng tỏ về mặt lý luận một số nội dung cơ bản của phúc thẩm: bản chất củaphúc thẩm; thẩm quyền của TA cấp phúc thẩm và thủ tục xét xử phúc thẩm
Từ đó đưa ra khái niệm đầy đủ, hoàn chỉnh và khoa học về phúc thẩm;
- Khái quát về quá trình phát triển của pháp luật TTHS Việt Nam vềphúc thẩm trước khi ban hành BLTTHS 1988; phân tích làm sáng tỏ nộidung các quy định pháp luật TTHS hiện hành về phúc thẩm có so sánh vớiBLTTHS sửa đổi mới được thông qua ngày 18/11/2003 tại kỳ họp thứ 4Quốc hội khóa XI;
- Khái quát về thực trạng phúc thẩm ở nước ta những năm gần đây;chỉ ra những tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn và nguyên nhân để từ đó đềxuất một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật TTHS về phúc thẩm vànâng cao hiệu quả phúc thẩm
4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận củachủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng vàNhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, về cải cách tưpháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Tácgiả đã vận dụng các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vậtlịch sử để phân tích làm sáng tỏ các nội dung nghiên cứu
Trang 8Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở kết hợp với một số phương phápnghiên cứu cụ thể như: phương pháp hệ thống, so sánh, phân tích - tổnghợp, thống kê, lịch sử, lôgíc - pháp lý, để phân tích có phê phán các quanđiểm khác nhau về vấn đề nghiên cứu Tác giả đã tiến hành khảo sát và thuthập số liệu thống kê về thực tiễn phúc thẩm các vụ án hình sự ở TANDTC,một số TA cấp tỉnh và Viện phúc thẩm I VKSNDTC những năm gần đây.
Những luận điểm khoa học trong luận án của tác giả được phát triểndựa trên các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học pháp lý ở nước ta
và một số nước khác trên thế giới
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Đề tài có ý nghĩa lớn về lý luận và thực tiễn Trước hết, đây là côngtrình chuyên khảo đầu tiên trong sách báo pháp lý nước ta nghiên cứu mộtcách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống về phúc thẩm trong TTHS Kết quảnghiên cứu của luận án góp phần phát triển lý luận về phúc thẩm trong TTHS
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài là đã đưa ra được các luận cứ khoa học
và các giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật TTHS về phúc thẩm vànâng cao hiệu quả phúc thẩm các vụ án hình sự ở nước ta Luận án có thể
sử dụng làm tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập và giảng dạytrong các trường chuyên luật Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng
để tham khảo trong quá trình tiếp tục hoàn thiện BLTTHS sửa đổi và trongthực tiễn
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụlục, nội dung của luận án gồm ba chương, 7 mục
Trang 9Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÚC THẨM
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1 BẢN CHẤT CỦA PHÚC THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1.1 Khái niệm phúc thẩm trong tố tụng hình sự
1.1.1.1 Sự ra đời của chế định phúc thẩm và ý nghĩa của nó
Tư pháp hình sự là một lĩnh vực hoạt động đặc thù của các cơ quannhà nước có thẩm quyền nhằm thực hiện quyền lực nhà nước - quyền tưpháp Đây cũng là lĩnh vực rất nhạy cảm, bởi vì, nó trực tiếp đụng chạmđến các quyền tự do và dân chủ (kể cả tính mạng) của công dân Mọi sailầm dù lớn hay nhỏ trong quá trình xử lý đối với người thực hiện hành vi bịcoi là tội phạm đều có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, thậm chí
có thể không bao giờ khắc phục được Bởi vậy, bảo vệ các quyền và lợi íchhợp pháp của công dân, đặc biệt là của bị can, bị cáo là một trong nhữngnhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằm đạt được mục đích đặt ra của TTHS là
"phát hiện nhanh chóng, chính xác và xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội,… bảo vệ các quyền và lợi ích của công dân" Đây cũng là một nội dung cấp
thiết của việc bảo vệ quyền con người nói chung mà mỗi quốc gia cũng nhưcộng đồng quốc tế đều quan tâm giải quyết
Trong Tuyên ngôn Viên và chương trình hành động được thông quangày 25/6/1993 tại Hội nghị thế giới về Nhân quyền đã nhấn mạnh:
Quyền con người và các quyền tự do cơ bản là quyền củamọi người được hưởng khi sinh ra; việc thúc đẩy và bảo vệ cácquyền đó là trách nhiệm trước tiên của các chính phủ Việc đềcao và bảo vệ quyền con người và các quyền tự do cơ bản phải
Trang 10được coi là một mục tiêu ưu tiên của Liên hợp quốc , là mốiquan tâm chính đáng của cộng đồng quốc tế [25, tr 657]
Vì vậy, các quốc gia đều chú ý điều chỉnh bằng pháp luật quá trìnhtruy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội, đặcbiệt là hoạt động xét xử các vụ án hình sự, nhằm tạo ra một cơ chế kiểmtra, giám sát chặt chẽ có hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp, pháthiện và khắc phục kịp thời các sai sót về xét xử của các TA cấp dưới Phúcthẩm trong TTHS là một trong các hình thức, phương tiện được các nước
sử dụng nhằm đạt được mục đích này
Sự hình thành và phát triển của chế định phúc thẩm trong TTHS gắnliền với sự hình thành và phát triển các tư tưởng, các nguyên tắc dân chủ vàtiến bộ của TTHS như: nguyên tắc công bằng; nhân đạo; suy đoán vô tội;bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo; xét xử công khai, trực tiếp vàbằng lời nói; Vì vậy, chế định phúc thẩm trong TTHS không thể tồn tạitrong xã hội mà ở đó không có nền dân chủ
Cùng với sự phát triển của xã hội loài người theo xu hướng ngàycàng dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội (trong đó bao gồm cả lĩnh vựcTTHS), các nguyên tắc nói trên ngày càng được bổ sung và hoàn thiện.Đến lượt mình, các nguyên tắc này tác động trở lại ở mức độ và phạm vikhác nhau đối với sự ra đời, phát triển và ngày càng hoàn thiện các chếđịnh của TTHS, trong đó có chế định phúc thẩm
Bản chất dân chủ và tiến bộ là một trong những thuộc tính quantrọng của hệ thống tư pháp hình sự hiện đại Sự ra đời của chế định phúcthẩm là một nhu cầu tất yếu khách quan xuất phát từ bản chất của TTHSnhằm bảo vệ ngày càng có hiệu quả hơn quyền con người, các quyền tự do
cơ bản của công dân trong lĩnh vực đặc thù này Nền tư pháp không thể gọi
là dân chủ và tiến bộ, nếu trong đó thiếu các bảo đảm pháp lý cần thiết để
Trang 11bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân cả ở phương diện cánhân người phạm tội cũng như ở phương diện Nhà nước
Với tính cách là nguyên tắc chung của pháp luật, nguyên tắc công bằngtác động mạnh mẽ đối với lĩnh vực áp dụng pháp luật hình sự PGS.TS VõKhánh Vinh đã rất có lý khi cho rằng, nguyên tắc công bằng đòi hỏi khiquyết định hình phạt phải bảo đảm sự tương xứng của hình phạt được tuyênvới tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện,với các đặc điểm của nhân thân người phạm tội, với các tình tiết tăng nặng
và giảm nhẹ trách nhiệm, với dư luận xã hội, với ý thức pháp luật [78, tr 105].Mặt khác, nguyên tắc công bằng cũng đòi hỏi trong những điều kiện vàhoàn cảnh phạm tội giống nhau, thì người phạm tội phải bị kết án và xửphạt như nhau Tuy nhiên, trên thực tế đòi hỏi này lại rất khó đạt được donhững nguyên nhân khách quan và chủ quan rất khác nhau: không thốngnhất giữa các thẩm phán, giữa các TA về nhận thức và áp dụng pháp luật,đặc biệt là các quy định mang tính chất đánh giá tùy nghi Để giảm bớt sựkhác biệt trong việc tuyên phạt đối với người phạm tội giữa các TA và giữacác thẩm phán với nhau, cần có một trình tự (thủ tục tố tụng) mà theo đónếu bị cáo và đương sự không đồng ý với bản án (quyết định) chưa cóHLPL của TA cấp dưới, thì có thể yêu cầu TA cấp cao hơn xem xét lạiphán quyết đó Thủ tục tố tụng này chính là thủ tục xét xử phúc thẩm
Sự ra đời của TA cấp phúc thẩm còn xuất phát từ quan niệm của cácnhà lập pháp cho rằng việc xét xử lại các vụ án có kháng cáo, kháng nghị ở
TA cấp trên sẽ hạn chế được những sai sót về xét xử của các thẩm phánTòa sơ thẩm TA cấp trên sẽ xử đúng công lý hơn vì Tòa này gồm nhữngthẩm phán cao niên, có kinh nghiệm hơn và ở xa các đương sự nên khôngchịu ảnh hưởng địa phương Nguyên tắc hai cấp xét xử còn bắt buộc cácthẩm phán Tòa cấp dưới phải thận trọng trong việc xét xử, nếu không ánvăn sẽ bị Tòa cấp trên tiêu hủy [27, tr 67]
Trang 12Như vậy, có thể thấy rằng, sự ra đời của chế định phúc thẩm trongTTHS là một nhu cầu tất yếu khách quan của xã hội loài người phát triểnđến một trình độ nhất định Nó gắn liền với sự hình thành và phát triển củacác tư tưởng, các nguyên tắc dân chủ và tiến bộ của TTHS Trong điều kiệnngày nay, dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội đang trở thành xu hướngphát triển tất yếu của các quốc gia, chế định phúc thẩm trong TTHS ngày
càng được hoàn thiện và trở thành một trong các hình thức, phương tiện
pháp lý hữu hiệu được các nước sử dụng rộng rãi nhằm bảo vệ có hiệu quảhơn các quyền và tự do cơ bản của công dân
Với ý nghĩa đó, phúc thẩm có vai trò vô cùng quan trọng thể hiện ởmột số điểm cơ bản sau đây:
Một là, phúc thẩm là một trong những hình thức giám đốc xét xử chủ
yếu của TA cấp trên đối với TA cấp dưới Thông qua việc xét xử lại vụ án
mà bản án hoặc quyết định chưa có HLPL bị kháng cáo, kháng nghị, TA cấpphúc thẩm không chỉ kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án(quyết định) sơ thẩm chưa có HLPL mà còn có phát hiện và khắc phục kịpthời các vi phạm nghiêm trọng về xét xử của TA cấp dưới Theo thống kê,
số vụ án hình sự được xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm trung bình hàngnăm chiếm gần 30% số vụ án đã xét xử sơ thẩm, trong số đó, các TA cấpphúc đã sửa, hủy án sơ thẩm hoặc tuyên bị cáo vô tội đối với khoảng 25 -30% số bị cáo (xem Phụ lục số 2 và 3) Bằng quyền hạn của mình, TA cấpphúc thẩm ngăn chặn việc đưa ra thi hành các bản án, quyết định có viphạm pháp luật, góp phần pháp chế XHCN
Hai là, phúc thẩm là một trong những chế định thể hiện rõ nét nhất
bản chất dân chủ và tiến bộ của TTHS Chế định này buộc các TA cấp sơthẩm phải thận trọng và tuân thủ nghiêm chỉnh các yêu cầu về tính hợppháp và có căn cứ khi ra bản án hoặc quyết định về vụ án Nó không chophép người đã kháng cáo hoặc VKS đã kháng nghị được bổ sung, thay đổi
Trang 13kháng cáo theo hướng làm xấu hơn tình trạng của bị cáo; không cho phép
TA cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng làm xấu hơn tình trạngcủa bị cáo, nếu không có kháng cáo của người bị hại hoặc kháng nghị theohướng đó
Ba là, khi có kháng cáo hoặc kháng nghị đối với bản án, quyết định
chưa có HLPL, TA cấp phúc thẩm phải đưa vụ án ra xét xử trong thời hạnnhất định Vì vậy, phúc thẩm còn là một trong các phương tiện hữu hiệu đểbảo vệ kịp thời và có hiệu quả lợi ích của Nhà nước, của xã hội, các quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân, đặc biệt là của bị cáo
Bốn là, thông qua việc xét xử các vụ án, TA cấp phúc thẩm hướng
dẫn cho các TA cấp dưới và các cơ quan tiến hành tố tụng khác trong việcnhận thức và áp dụng đúng đắn, thống nhất pháp luật; góp phần nâng caochất lượng xét xử các vụ án hình sự, tăng cường hiệu quả giáo dục phápluật và củng cố niềm tin vào công lý cho quần chúng nhân dân, đấu tranhphòng và chống tội phạm
1.1.1.2 Khái niệm phúc thẩm trong TTHS
Trong khoa học luật TTHS, khái niệm phúc thẩm có thể được hiểu ởcác góc độ khác nhau cả ở nghĩa hẹp và nghĩa rộng Theo nghĩa hẹp, thìkhái niệm phúc thẩm có thể được hiểu với một trong các nghĩa sau đây:phúc thẩm là một giai đoạn của TTHS (giai đoạn phúc thẩm); phúc thẩm làmột chế định (chế định phúc thẩm) của TTHS và phúc thẩm là một thủ tục
tố tụng (thủ tục xét xử phúc thẩm) Theo nghĩa rộng, khái niệm phúc thẩmđược hiểu cả ở ba nghĩa (nội dung) nêu trên: phúc thẩm là một giai đoạn,một chế định của TTHS đồng thời là một thủ tục xét xử Hay nói cáchkhác, khái niệm phúc thẩm trong TTHS bao gồm các yếu tố (nội dung) cấu
thành nêu trên Như vậy, xét về nội hàm, thì "phúc thẩm" là khái niệm rộng nhất, trong đó bao hàm các khái niệm hẹp: "Giai đoạn phúc thẩm", "chế định phúc thẩm" và "thủ tục xét xử phúc thẩm" Khi nói về phúc thẩm với
Trang 14nghĩa là một giai đoạn, một chế định của TTHS hoặc một thủ tục xét xử,tức là mới chỉ xem xét ở một góc độ nào đó của phúc thẩm (theo nghĩa hẹpcủa khái niệm này) Vì vậy, để có khái niệm đầy đủ về phúc thẩm hình sự,
cần phải làm sáng tỏ các nội dung (yếu tố) cấu thành khái niệm "phúc thẩm"
1- Giai đoạn phúc thẩm: Quá trình giải quyết các vụ án hình sự (quá
trình TTHS) được phân thành các giai đoạn có tính độc lập tương đối kếtiếp và liên quan chặt chẽ với nhau Giai đoạn tố tụng trước là tiền đề chogiai đoạn tố tụng sau Ví dụ, để có thể đưa một vụ án ra xét xử thì phải cóquyết định truy tố của VKS đối với các bị cáo trong vụ án đó và muốn truy
tố thì phải có kết luận của cơ quan điều tra về vụ án Ngoài các đặc điểmchung, mỗi giai đoạn tố tụng có một số dấu hiệu đặc trưng của riêng mình
So với các giai đoạn tố tụng khác, giai đoạn phúc thẩm có một số đặc điểmđặc trưng sau đây:
- Nhiệm vụ trực tiếp của phúc thẩm là kiểm tra tính hợp pháp và cócăn cứ của các bản án, quyết định sơ thẩm chưa có HLPL đồng thời xemxét lại vụ án về nội dung;
- Giai đoạn phúc thẩm có phạm vi xác định các chủ thể tiến hành vàtham gia tố tụng đặc trưng bao gồm: TA cấp phúc thẩm, VKS cấp phúcthẩm; những người có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật; nhữngngười có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị và những người tham gia tốtụng khác mà TA cấp phúc thẩm thấy cần thiết triệu tập tham gia phiên tòa.Ngoài ra, ở một mức độ nhất định, chủ thể tham gia ở giai đoạn tố tụng nàycòn bao gồm cả TA cấp sơ thẩm (trong việc thông báo kháng cáo, khángnghị, xác minh lý do kháng cáo quá hạn) và VKS cấp sơ thẩm (trong việckháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm chưa có HLPL);
- Các thủ tục tố tụng được tiến hành ở giai đoạn phúc thẩm có nhữngđặc thù: về thủ tục kháng cáo, kháng nghị và thông báo kháng cáo, kháng
Trang 15nghị; thành phần HĐXX phúc thẩm chỉ bao gồm các thẩm phán chuyênnghiệp (trừ trường hợp cần thiết mới có hội thẩm nhân dân tham gia); ngoàicác thủ tục giống như phiên tòa sơ thẩm, thủ tục phiên tòa phúc thẩm cómột số đặc thù: phiên tòa phúc thẩm được khai mạc không phải đọc quyếtđịnh đưa vụ án ra xét xử; trước khi tiến hành xét hỏi, việc công bố cáotrạng của kiểm sát viên được thay thế bằng việc một thành viên HĐXXphúc thẩm tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dungkháng cáo, kháng nghị; việc luận tội của kiểm sát viên ở phần tranh luậnđược thay thế bằng việc trình bày kết luận của VKS về hình thức và nộidung kháng cáo, kháng nghị; về tính hợp pháp và có căn cứ của bản án(quyết định) sơ thẩm; đề nghị chấp nhận hay bác kháng cáo, kháng nghị
- Đặc điểm đặc trưng của các quan hệ pháp luật tố tụng giữa các cơquan tiến hành tố tụng: giữa TA cấp sơ thẩm và TA cấp phúc thẩm (trongviệc thông báo kháng cáo, kháng nghị; xác minh lý do kháng cáo quáhạn, ; giữa VKS cấp sơ thẩm và VKS cấp phúc thẩm (trong việc khángnghị bản án sơ thẩm); TA cấp phúc thẩm và VKS cấp phúc thẩm trong quátrình giải quyết vụ án;
- Hình thức thể hiện kết quả giải quyết vụ án ở giai đoạn tố tụng này:bản án phúc thẩm hoặc quyết định phúc thẩm (đình chỉ việc xét xử phúcthẩm, đình chỉ vụ án, )
Với tư cách là một giai đoạn độc lập và bắt buộc của quá trìnhTTHS, giai đoạn phúc thẩm tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào việcbản án sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hay không Đây là giai đoạn tiếptheo của giai đoạn xét xử sơ thẩm Nó được bắt đầu ngay sau khi bản án sơthẩm được tuyên và kết thúc khi bản án, quyết định sơ thẩm có HLPL hoặcđược thay thế bằng bản án, quyết định phúc thẩm
Có ý kiến cho rằng, phúc thẩm không phải là một giai đoạn độc lậpcủa quá trình TTHS mà phụ thuộc vào việc có hay không có kháng cáo,
Trang 16kháng nghị đối với bản án (quyết định) sơ thẩm trong thời hạn luật định.Bởi vì, sau khi xét xử sơ thẩm, không phải tất cả các vụ án hình sự, mà chỉ
có những vụ án mà bản án có kháng cáo, kháng nghị mới được đưa ra xét
xử phúc thẩm [102, tr 9] Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, ý kiến này đã sai
lầm khi đồng nhất "giai đoạn phúc thẩm" với "thủ tục xét xử phúc thẩm".
Đối với một vụ án cụ thể, thủ tục xét xử phúc thẩm không phải là bắt buộc.Thủ tục xét xử phúc thẩm chỉ phát sinh khi có kháng cáo, kháng nghị đốivới bản án (quyết định) sơ thẩm theo quy định của pháp luật Trong trườnghợp bản án sơ thẩm không bị kháng cáo hoặc kháng nghị, thì mặc dù khôngphải tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án đó, nhưng đối với vụ án đó giai đoạnphúc thẩm vẫn tồn tại và được bắt đầu ngay sau khi bản án sơ thẩm đượctuyên và kết thúc khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị và bản án cóHLPL
Giai đoạn phúc thẩm có thể dài, ngắn khác nhau tùy thuộc vào việckháng cáo, kháng nghị của các chủ thể và quá trình giải quyết đối với từng
vụ án cụ thể Ví dụ, đối với vụ án được xét xử trong trường hợp có mặt đầy
đủ những người có quyền kháng cáo tại phiên tòa sơ thẩm, thì giai đoạnphúc thẩm sẽ kết thúc, nếu hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩmtheo quy định (30 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm) không có ai khángcáo, kháng nghị Đối với trường hợp vụ án tuy có kháng cáo hoặc khángnghị, nhưng sau đó người đã kháng cáo hoặc VKS kháng nghị rút toàn bộkháng cáo, kháng nghị trước khi mở phiên tòa, thì giai đoạn phúc thẩm sẽkết thúc ở thời điểm TA cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ việc xét xửphúc thẩm vụ án Còn đối với các vụ án khác thì giai đoạn phúc thẩm kếtthúc sau khi tuyên án phúc thẩm
2- Chế định phúc thẩm: Về mặt lý luận, pháp luật của mỗi quốc gia
nói chung và pháp luật của Việt Nam nói riêng, là một hệ thống những quytắc xử sự (các quy phạm pháp luật) do Nhà nước ban hành để điều chỉnh
Trang 17các quan hệ xã hội trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Hệthống này được phân thành các tiểu hệ thống nhỏ hơn - các ngành luật Mỗingành luật là một tiểu hệ thống các quy tắc xử sự (quy phạm pháp luật)điều chỉnh một loại quan hệ xã hội trong một lĩnh vực nhất định của đờisống xã hội (hình sự, dân sự, kinh tế, ) Đến lượt mình, mỗi ngành luật lạiđược chia thành các chế định pháp lý và mỗi chế định này bao gồm các quyphạm pháp luật điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội cùng tính chất
Pháp luật TTHS cũng bao gồm các chế định pháp lý khác nhau Với
tư cách là một chế định của pháp luật TTHS, phúc thẩm là một tiểu hệthống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữacác chủ thể tham gia vào giai đoạn tố tụng này Các quy phạm pháp luậtnày không chỉ bao gồm các quy định trong BLTTHS của mỗi quốc gia mà
cả các quy phạm trong các văn bản luật và dưới luật khác Ví dụ: ở nước tachế định phúc thẩm trong TTHS không chỉ bao gồm các quy phạm ở Phần
thứ tư "Xét lại bản án và quyết định chưa có HLPL theo thủ tục phúc thẩm", mà cả các quy định khác của BLTTHS như: các nguyên tắc cơ bản;
các quy định về thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm (các điều 159, 163,171-194, 196, BLTTHS) được áp dụng khi xét xử phúc thẩm Một sốlượng khá lớn quy phạm về phúc thẩm trong TTHS còn được chứa đựngtrong các văn bản luật (như Luật tổ chức TAND, Luật tổ chức VKSND, )
và văn bản dưới luật (như Pháp lệnh tổ chức TAQS, Pháp lệnh tổ chứcVKSQS; các thông tư liên tịch, các nghị quyết của HĐTP TANDTC, vềviệc hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLTTHS)
Trang 18được xem xét lại theo thủ tục này Thủ tục phúc thẩm sẽ kết thúc sau khi
TA cấp phúc thẩm ra bản án hoặc quyết định về vụ án đó
Như vậy, thời điểm bắt đầu của giai đoạn phúc thẩm và thời điểm bắtđầu của thủ tục xét xử phúc thẩm là khác nhau Thời điểm bắt đầu của giaiđoạn phúc thẩm là cố định, không thay đổi và sớm hơn: ngay sau khi tuyênbản án (quyết định) sơ thẩm Còn thời điểm bắt đầu thủ tục phúc thẩm phụthuộc vào ý chí của các chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị theo quyđịnh của pháp luật và được xác định từ thời điểm TA nhận được kháng cáo,kháng nghị Còn thời điểm kết thúc giai đoạn phúc thẩm và thời điểm kếtthúc thủ tục phúc thẩm chỉ trùng nhau trong trường hợp vụ án có khángcáo, kháng nghị: ngay sau khi TA cấp phúc thẩm ra bản án hoặc quyết địnhphúc thẩm Đối với vụ án không có kháng cáo, kháng nghị, thủ tục phúcthẩm không phát sinh, vì vậy, không thể có thời điểm bắt đầu và kết thúcthủ tục này
Những nội dung nêu trên về phúc thẩm mới chỉ khái quát được cácyếu tố (nội dung) cơ bản cấu thành khái niệm phúc thẩm Để làm sáng tỏbản chất pháp lý của phúc thẩm trên cơ sở đó đưa ra một khái niệm đầy đủ,chính xác về phúc thẩm trong TTHS, cần làm sáng tỏ các vấn đề khác củaphúc thẩm như tính chất của phúc thẩm, thẩm quyền của TA cấp phúc thẩm
và thủ tục xét xử phúc thẩm
1.1.2 Tính chất của phúc thẩm trong tố tụng hình sự
Tính chất của phúc thẩm là vấn đề quan trọng và quyết định bản chấtcủa phúc thẩm trong TTHS và các nội dung khác như: phạm vi xét xử phúcthẩm, quyền hạn và thủ tục xét xử phúc thẩm của chế định này Đây cũng làvấn đề được các nhà khoa học cũng như cán bộ thực tiễn chú ý và tranh cãikhá gay gắt, kéo dài những năm gần đây với những quan điểm rất khácnhau Có thể chia các quan điểm này thành hai nhóm chính sau đây:
Trang 19Quan điểm thứ nhất cho rằng, phúc thẩm không phải là một cấp xét
xử mà chỉ là một thủ tục tố tụng mà theo đó TA cấp trên trực tiếp xét lạicác bản án, quyết định chưa có HLPL bị kháng cáo hoặc kháng nghị Điều
đó có nghĩa là tính chất của phúc thẩm chỉ là "xét lại" chứ không phải là "xét
xử lại" [73, tr 262], [74, tr 287], [104, tr 408]; …
Quan điểm thứ hai cho rằng, TA cấp phúc thẩm không chỉ có nhiệm
vụ kiểm tra hoạt động xét xử sơ thẩm mà còn xét xử cả về nội dung vụ
án [46, tr 144] Vì vậy, tính chất của phúc thẩm không phải là xét lại mà là
xét xử lại các vụ án [41, tr 10-11], mà bản án (quyết định) chưa có HLPL
bị kháng cáo hoặc kháng nghị
Thực chất sự khác nhau cơ bản giữa hai quan điểm nêu trên về tínhchất của phúc thẩm chủ yếu là ở chỗ xác định phúc thẩm có phải là một cấpxét xử hay không? Chúng tôi cho rằng, vấn đề này liên quan trực tiếp đến
nguyên tắc "hai cấp xét xử" Sự tồn tại hay không tồn tại (tức là thừa nhận
hay phủ nhận) nguyên tắc này là cơ sở để khẳng định trong TTHS có tồntại hay không chế định phúc thẩm và tính chất của nó: nếu trong TTHS tồntại nguyên tắc này thì có phúc thẩm và khi đó TA cấp phúc thẩm phải làcấp xét xử thứ hai, tức là cấp xét xử lại vụ án, mà bản án (quyết định) chưa
có HLPL bị kháng cáo hoặc kháng nghị Ngược lại, nếu trong TTHS không
nhiệm vụ "xét lại" những bản án, quyết định đã có HLPL.
Như đã đề cập ở mục 1.1.1, sự hình thành và phát triển nguyên tắc
"hai cấp xét xử" (và các nguyên tắc khác như: nguyên tắc công bằng; suy
Trang 20đoán vô tội; bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo; ) của TTHS gắnliền với sự hình thành và phát triển các tư tưởng dân chủ và tiến bộ tronglịch sử xã hội loài người Để bảo đảm dân chủ và công bằng, kịp thời bảo
vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời tạo sự thống nhất
ở mức độ nhất định trong nhận thức và áp dụng pháp luật giữa các thẩmphán, giữa các TA với nhau, cần thiết phải có một trình tự (thủ tục tố tụng)
để xem xét lại các phán quyết chưa có HLPL của TA cấp dưới khi có yêucầu (kháng cáo) của bị cáo và đương sự hoặc yêu cầu (kháng nghị) của
VKS Như vậy, trong TTHS nguyên tắc "hai cấp xét xử" ra đời cùng với
TA thực hiện nhiệm vụ này là TA cấp phúc thẩm
Cùng với xu hướng dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội, trong đó
có lĩnh vực TTHS, nguyên tắc "hai cấp xét xử" ngày càng được bổ sung,
hoàn thiện Ngày nay, nguyên tắc này được hầu hết các quốc gia trên thếgiới thừa nhận và trong hệ thống tư pháp nói chung và tư pháp hình sự nóiriêng của mỗi nước đều có các Tòa phúc thẩm hoạt động để thực hiện chứcnăng xét xử lại các vụ án hình sự, mà bản án (quyết định) chưa có HLPL bịkháng cáo hoặc kháng nghị Tuy nhiên, nguyên tắc này được áp dụng ởnhững phạm vi và mức độ khác nhau tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnhcủa mỗi nước trong từng giai đoạn cụ thể Do những điều kiện, hoàn cảnh
cụ thể (chiến tranh, trình độ kinh tế, văn hóa, xã hội chưa phát triển, ),trong một giai đoạn nhất định ở một số nước chưa áp dụng hoặc áp dụnghạn chế nguyên tắc "hai cấp xét xử" trong tố tụng nói chung và TTHS nóiriêng Ví dụ, trong giai đoạn từ 1945 - 1957, ở nước ta theo Sắc lệnh số 21/
Trang 21Còn đối với các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của hệ thống TA thườngthì chế độ hai cấp xét xử vẫn được thực hiện đầy đủ [46, tr 147]
Nguyên tắc "hai cấp xét xử" và tính chất xét xử lại của phúc thẩm đã
được ghi nhận ngay trong các văn bản pháp luật đầu tiên do Nhà nước ViệtNam dân chủ cộng hòa ban hành Tại Điều 41 Sắc lệnh số 13/SL ngày24/01/1946 quy định thẩm quyền của Tòa thượng thẩm như sau:
Sau khi nghe bị can, các người chứng, cáo trạng của ôngChưởng lý và sau cùng nghe lời cãi của các bị can, ông Chánh án,hai hội thẩm và hai phụ thẩm nhân dân lui vào phòng nghị xử đểcùng quyết nghị về tất cả các vấn đề thuộc về tội trạng, hình phạt,trường hợp tăng nặng và trường hợp giảm tội [8, tr 195]
Luật tổ chức TAND năm 1960 được ban hành trên cơ sở Hiến pháp
1959 đã chính thức ghi nhận nguyên tắc "hai cấp xét xử": "Đương sự có quyền chống bản án hoặc quyết định của TAND cấp sơ thẩm lên TAND trên một cấp VKS cùng cấp và trên một cấp có quyền kháng nghị bản án hoặc quyết định sơ thẩm của TAND " (Điều 9)
Thông tư số 03/NCPL ngày 19/5/1967 và Thông tư số 19/TATC
ngày 02/10/1974 của TANDTC cũng đều xác định "chức năng của TAND cấp phúc thẩm là xét xử lại những vụ án đã được xét xử theo trình tự sơ thẩm, khi bản án chưa có HLPL bị kháng cáo hay kháng nghị" [48, tr 207-
208] Trong Luật tổ chức TAND năm 1981 và 1993, mặc dù nguyên tắc haicấp xét xử không chính thức được ghi nhận lại, nhưng trên thực tế, nguyêntắc "hai cấp xét xử" vẫn được thừa nhận và TA cấp phúc thẩm vẫn xét xửlại vụ án về mặt nội dung Luật tổ chức TAND năm 2002 (được thông quangày 02/4/2002 tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa X) đã quy định nguyên tắc
"TAND thực hiện chế độ hai cấp xét xử" (Điều 11) Điều 20 BLTTHS sửa
đổi (được thông qua ngày 18/11/2003 tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XI)
đã ghi nhận nguyên tắc này
Trang 22Pháp luật của các nước đều trực tiếp hoặc gián tiếp ghi nhận nguyêntắc "hai cấp xét xử" Tại Điều 5 BLTTHS mới của CHLB Nga (được Đumaquốc gia thông qua ngày 22/11/2001 và Hội đồng Liên bang Nga phê chuẩn
ngày 05/12/2001) [80] xác định cấp phúc thẩm là "TA giải quyết vụ án
hình sự theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định của TA cấp sơthẩm và TA cấp chống án chưa có HLPL bị kháng cáo, kháng nghị" Theopháp luật của Đan Mạch, thì TA cấp cao xét xử phúc thẩm những vụ án docác TA cấp khu vực xét xử sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị; TATC xét xửphúc thẩm những bản án sơ thẩm của TA cấp cao bị kháng cáo, kháng nghị[90, tr 71-74] Ở CHLB Đức, TA khu vực cấp cao (TA bang) có thẩm quyềnxét xử phúc thẩm những vụ án sơ thẩm của TA khu vực có kháng cáo, khángnghị [90, tr 122] Tại Australia, TA tối cao bang có thẩm quyền xét xử phúcthẩm các bản án, quyết định của TA cấp dưới có kháng cáo, kháng nghị;
TA tối cao liên bang có thẩm quyền xét xử phúc thẩm các bản án có khángcáo, kháng nghị của Tòa Thượng thẩm của các bang [90, tr 109-115] TạiNhật Bản, TA cấp trên xem xét theo trình tự phúc thẩm các bản án sơ thẩm,nếu có kháng cáo của bị cáo hoặc kháng nghị của công tố viên [90, tr 25-42],
Ngoài ra, pháp luật của các nước còn gián tiếp xác định TA cấp phúcthẩm là cấp xét xử thứ hai thông qua việc cho phép áp dụng tại phiên tòaphúc thẩm các quy định về thủ tục tố tụng ở phiên toà sơ thẩm, nếu không
có quy định khác Về vấn đề này, chúng tôi sẽ đề cập đầy đủ hơn ở mục 1.3của luận án
Từ phân tích trên có thể khẳng định rằng, tính chất của phúc thẩm trong TTHS là xét xử lại các vụ án, mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có HLPL bị kháng cáo, kháng nghị Việc xác định tính chất của phúc thẩm trong BLTTHS 1988 và BLTTHS sửa đổi của nước ta là "xét lại " (như
tính chất của giám đốc thẩm) là không chính xác, mâu thuẫn với nguyên tắc
Trang 23"TA thực hiện chế độ hai cấp xét xử" quy định tại Điều 20 BLTTHS sửađổi Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với ý kiến của TS Nguyễn Văn Hiện khicho rằng: "Việc đồng nhất tính chất của giám đốc thẩm và phúc thẩm làkhông có căn cứ cả về lý luận và thực tiễn, bởi vì đây là hai giai đoạn tốtụng khác nhau về bản chất và yêu cầu tố tụng" [21, tr 171].
1.1.3 Thẩm quyền xét xử phúc thẩm và đối tượng của xét xử phúc thẩm
1.1.3.1 Thẩm quyền xét xử phúc thẩm
Theo Từ điển tiếng Việt, thì thẩm quyền xét xử là "sự phân địnhthẩm quyền xét xử (giải quyết) các vụ án giữa các TA với nhau" [97, tr.459] Từ khái niệm này đó có thể thấy rằng, thẩm quyền xét xử phúc thẩmcũng là sự phân định thẩm quyền giải quyết các vụ án mà bản án, quyếtđịnh sơ thẩm chưa có HLPL bị kháng cáo, kháng nghị giữa các TA cấptrên Nó xác định TA cấp trên nào xét xử lại các vụ án theo thủ tục phúcthẩm Sau khi xét xử sơ thẩm, nếu có kháng cáo, kháng nghị đối với bản
án, quyết định sơ thẩm của những người có quyền kháng cáo, kháng nghịtrong thời hạn luật định, thì vụ án sẽ được xem xét lại ở TA cấp cao hơn.Như vậy, khác với thẩm quyền xét xử sơ thẩm được xác định trực tiếptrong pháp luật, thẩm quyền xét xử phúc thẩm TA được xác định gián tiếptrên cơ sở thẩm quyền xét xử sơ thẩm TS Nguyễn Văn Huyên đã có nhậnxét rất đúng khi cho rằng, thẩm quyền xét xử sơ thẩm là cơ sở để xác địnhthẩm quyền của TA các cấp Vì vậy, muốn xác định thẩm quyền của TAcác cấp, trước hết phải xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm [22, tr 22]
Nói chung, pháp luật của hầu hết các nước đều quy định TA có thẩmquyền xét xử phúc thẩm vụ án là TA cấp trên trực tiếp của TA đã xét xử sơthẩm vụ án mà bản án, quyết định chưa có HLPL có kháng cáo, kháng
Trang 24nghị Bên cạnh đó, pháp luật của một số nước (Nhật Bản, Hàn Quốc, ) còncho phép TA tối cao (TA cấp trên không trực tiếp) có thể xem xét vụ ántheo trình tự phúc thẩm trong một số trường hợp nhất định Ví dụ: BLTHScủa Hàn Quốc [83] quy định:
Trong các trường hợp sau đây có thể kháng cáo lên TA tối cao màkhông cần qua TA cấp cao đối với bản án sơ thẩm:
1 Khi TA không áp dụng đúng luật và văn bản dưới luật đối với các
sự kiện đã được công nhận trong bản án sơ thẩm hoặc có sai sót trong việc
áp dụng các đạo luật và văn bản dưới luật;
2 Khi hình phạt đã bị hủy bỏ hoặc thay đổi hoặc lệnh tổng ân xá đãđược công bố sau khi đã có bản án sơ thẩm (Điều 372)
Tuy nhiên, trong trường hợp nếu đơn kháng cáo này đã gửi đến TAcấp cao, thì TA tối cao sẽ không xem xét (Điều 373)
1.1.3.2 Đối tượng của xét xử phúc thẩm
Sau khi xét xử sơ thẩm trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị, nếubản án sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị, thì vụ án hình sự được xem xétlại theo thủ tục phúc thẩm ở TA cấp cao hơn Tuy nhiên, về đối tượng củaxét xử phúc thẩm trong khoa học TTHS còn có nhận thức không thống nhấttập trung ở hai loại quan điểm sau đây:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, đối tượng của xét xử phúc thẩm là
những bản án (quyết định) sơ thẩm chưa có HLPL bị kháng cáo, kháng
nghị [73, tr 262], [74, tr 287], [104, tr 408] Quan điểm này dựa trên cơ
sở quy định của BLTTHS nước ta (Điều 204) và BLTTHS của một số nướckhác (Australia, Nhật Bản, ) Quan điểm thứ hai cho rằng, đối tượng của
xét xử phúc thẩm là những vụ án mà bản án (quyết định) sơ thẩm chưa có
HLPL bị kháng cáo, kháng nghị
Trang 25Chúng tôi cho rằng, quan điểm thứ hai về đối tượng của xét xử phúcthẩm chính xác và có căn cứ hơn Theo quy định các điều 19, 24, 28 và 30Luật tổ chức TAND năm 1993; các điều 20, 24, Điều 30 Luật tổ chức TANDnăm 2002; Điều 18 và Điều 22 Pháp lệnh tổ chức TAQS năm 2002, thì đối
tượng của phúc thẩm được xác định là những vụ án mà bản án (quyết định) chưa có HLPL của TA cấp dưới bị kháng cáo hoặc kháng nghị Pháp luật của
một số nước: Điều 5 BLTTHS (2001) CHLB Nga [80], CHLB Đức [90, tr.122] cũng xác định đối tượng của xét xử phúc thẩm trong TTHS là nhữngvụ
án hình sự mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có HLPL bị kháng cáo,kháng nghị
Mặt khác, theo Từ điển tiếng Việt, thì "đối tượng" được hiểu là "vật,
hiện tượng mà con người nhằm vào trong suy nghĩ và hành động" [97, tr.328] Hoạt động xét xử của TA là nhằm xác định sự thật khách quan về vụ
án Để đạt được mục đích đó, TA nói chung và TA cấp phúc thẩm nóiriêng, phải xem xét, đánh giá toàn bộ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơcũng như các chứng cứ mới được đưa ra tại phiên tòa, trong đó có bản án,quyết định sơ thẩm chưa có HLPL Bản án, quyết định sơ thẩm chỉ là mộttrong các văn bản tố tụng phản ánh kết quả giải quyết vụ án của TA cấp sơthẩm và chỉ là một trong những nguồn chứng cứ có giá trị chứng minh về
vụ án được TA cấp phúc thẩm xem xét cùng với các chứng cứ khác khi xét
xử lại vụ án tại phiên tòa Do đó, đối tượng của xét xử nói chung và xét xửphúc thẩm nói riêng chỉ có thể là các vụ án
Từ phân tích trên, có căn cứ để khẳng định rằng đối tượng của xét xử
phúc thẩm chỉ có thể là những vụ án mà bản án (quyết định) sơ thẩm chưa có HLPL bị kháng cáo, kháng nghị (chứ không phải và không thể là
những bản án (quyết định) chưa có HLPL bị kháng cáo, kháng nghị)
Trang 261.1.4 Phân biệt phúc thẩm với cấp giám đốc thẩm, tái thẩm
Sự khác nhau cơ bản giữa phúc thẩm và giám đốc thẩm hoặc táithẩm chủ yếu thể hiện ở tính chất xét xử và thủ tục tố tụng Các yếu tố khácnhư phạm vi xem xét và quyền hạn giữa cấp phúc thẩm và các thủ tục tốtụng đặc biệt này chỉ khác nhau về chi tiết
1- Về tính chất (nhiệm vụ): Đây là căn cứ cơ bản và quan trọng nhất
để phân biệt phúc thẩm và các thủ tục đặc biệt Phúc thẩm là "cấp xét xử thứ hai" có nhiệm vụ không chỉ xem xét về mặt áp dụng luật (kiểm tra tính
hợp pháp và có căn cứ của bản án) mà còn xét xử lại vụ án về nội dung.Còn cấp giám đốc thẩm, tái thẩm chỉ là những thủ tục tố tụng đặc biệt đểkiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của các bản án, quyết định đã có HLPL
bị kháng nghị (hoặc kháng cáo) Các cấp này chỉ xem xét về mặt áp dụngluật mà không xét xử vụ án về nội dung
2- Về đối tượng xem xét: Sự khác nhau giữa phúc thẩm và giám đốc
thẩm, tái thẩm thể hiện ở chỗ đối tượng của xét xử phúc thẩm chỉ có thể lànhững vụ án mà bản án (quyết định) chưa có HLPL, còn đối tượng củagiám đốc thẩm, tái thẩm chỉ có thể những vụ án mà bản án (quyết định) đã
có HLPL
3- Về phạm vi xem xét (giới hạn xét xử): Sự khác nhau giữa phúc
thẩm và giám đốc thẩm không rõ ràng Pháp luật TTHS của một số nướccho phép cả cấp phúc thẩm và giám đốc thẩm xem xét vụ án không phụthuộc vào nội dung kháng cáo, kháng nghị (Điều 332 và Điều 380BLTTHS 1993 của CHLB Nga; Điều 134 và 149 BLTTHS Cộng hòa nhândân Trung Hoa, ) Pháp luật của một số nước khác (BLTTHS của Cộnghòa Pháp, BLTTHS Hàn Quốc, BLTTHS 2001 của CHLB Nga (Điều
cho phép Tòa phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị Nhưng
Trang 27đối với cấp giám đốc thẩm thì có quyền xem xét toàn bộ vụ án mà khôngphụ thuộc vào nội dung của kháng nghị Riêng phạm vi xem xét của cấp tái thẩm chỉ xoay quanh các tình tiết mới mà chúng là căn cứ để tái thẩm
vụ án
4- Về quyền hạn của TA cấp phúc thẩm, cấp giám đốc thẩm, tái thẩm:
* Quyền hạn của TA cấp phúc thẩm được pháp luật các nước quy
định về cơ bản là giống nhau và bao gồm các quyền sau đây:
- Bác kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm, nếu xétthấy không có căn cứ để thỏa mãn kháng cáo, kháng nghị;
- Sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hoặc tăng nặng đối với bịcáo, nếu có căn cứ mà pháp luật quy định Riêng về quyền hạn này của TAcấp phúc thẩm, cũng có nước không cho phép TA cấp phúc thẩm sửa án sơthẩm theo hướng tăng nặng đối với bị cáo, kể cả trong trường hợp có khángcáo, kháng nghị (Điều 387 BLTTHS 2001 của CHLB Nga) [80];
- Hủy án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại hoặc đình chỉ vụ án, nếu cócăn cứ mà pháp luật quy định
* Quyền hạn của TA cấp giám đốc thẩm được pháp luật của các
nước quy định tương đối giống nhau bao gồm các quyền sau:
- Bác kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm, nếu xét thấy không
có căn cứ;
- Hủy án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại hoặc đình chỉ vụ án, nếu cócăn cứ Riêng quyền hạn này, cũng có nước cho phép sửa bản án theohướng giảm nhẹ cho người bị kết án (Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, )
* Quyền hạn của TA cấp tái thẩm được pháp luật của các nước quy
định hoàn toàn giống nhau bao gồm các quyền sau:
Trang 28- Bác kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm, nếu xét thấy không
5- Về thủ tục tố tụng: Pháp luật của phần lớn các nước đều quy định
việc xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự được tiến hành tại phiên tòa côngkhai và về cơ bản, thì các quy định về thủ tục phiên tòa sơ thẩm đều được
áp dụng đối với phiên tòa phúc thẩm (xét xử công khai, trực tiếp, liên tục
và bằng lời nói; trình tự phiên tòa phúc thẩm cũng giống như phiên tòa sơthẩm; các bên tranh tụng với nhau về các nội dung kháng cáo, khángnghị, ) Tuy nhiên, cũng có một số nước (Hàn Quốc, Nhật Bản,Philippin, ) cho phép trong một số trường hợp nhất định, TA cấp phúcthẩm xét xử vụ án không phải mở phiên tòa (phúc thẩm theo bút lục)
Giám đốc thẩm, tái thẩm đều được các nước coi là những thủ tục tốtụng đặc biệt Phiên tòa giám đốc thẩm (tái thẩm) không phải là phiên tòatheo đúng nghĩa (xét xử) của nó, mà được tiến hành như một phiên họp đểkiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm trên cơ
sở hồ sơ và các tài liệu đã có sẵn Các nguyên tắc như xét xử công khai,trực tiếp, liên tục và bằng lời nói; nguyên tắc tranh tụng;… không thể ápdụng đối với thủ tục này Việc triệu tập bị cáo và các đương sự không bắtbuộc Vì vậy, các thủ tục này còn được gọi là thủ tục xét xử bút lục
Trang 291.2 THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN CẤP PHÚC THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.2.1 Khái niệm thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm
1.2.1.1 Khái niệm chung về thẩm quyền của TA
Thẩm quyền của TA nói chung là một khái niệm rất rộng và có nộidung phức tạp của khoa học pháp lý Thẩm quyền của TA cấp phúc thẩmtrong TTHS chỉ là một nội dung nhỏ của khái niệm này Đây là mối quan
hệ giữa "cái chung" và "cái riêng", giữa cái "tổng thể" và cái "bộ phận" Vì
vậy, để làm rõ các khái niệm này phải xuất phát từ các nguyên tắc tổ chức
và hoạt động của bộ máy nhà nước
Bất kỳ quyền lực nhà nước nào cũng đều bao gồm ba quyền năng cótính độc lập tương đối với nhau là quyền lập pháp, quyền hành pháp vàquyền tư pháp Dù được tổ chức theo nguyên tắc phân quyền hay tậpquyền, thì các cơ quan trong bộ máy nhà nước cũng được phân công thamgia vào việc thực hiện một trong ba nhánh quyền lực đó Bộ máy nhà nước
ta được tổ chức theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất khôngphân chia, nhưng có sự phân công, phân nhiệm rành mạch giữa ba quyền:
lập pháp, hành pháp và tư pháp
Quyền tư pháp có thể hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theonghĩa rộng, quyền tư pháp bao gồm hoạt động của các cơ quan điều tra,VKS, TA và các cơ quan bổ trợ tư pháp Trong hệ thống các cơ quan tưpháp, thì TA là cơ quan xét xử, là chức năng trung tâm [95, tr 117], nơibiểu hiện tập trung nhất của quyền tư pháp [23, tr 1-2] Theo nghĩa hẹp,quyền tư pháp được hiểu là quyền xét xử và là thẩm quyền riêng biệt chỉthuộc về một hệ thống cơ quan trong bộ máy quyền lực nhà nước (TA)chuyên thực hiện chức năng tài phán nhân danh nhà nước để xét xử các vụ
Trang 30án [7, tr 12] Để bảo đảm cho TA có thể thực hiện được chức năng này,nhà nước đã quy định trong pháp luật những quyền năng pháp lý của TAtrong việc xem xét và giải quyết các vụ án ở một phạm vi (giới hạn) nhấtđịnh Tổng hợp các quyền năng pháp lý của TA được pháp luật quy địnhgọi là thẩm quyền của TA.
Thẩm quyền của TA là một khái niệm có nội dung rộng bao gồmnhiều quyền của TA trong quá trình giải quyết các vụ án Thẩm quyềncủa TA trong mỗi lĩnh vực tố tụng (TTHS, TTDS, kinh tế, hành chính,…)không giống nhau Ngay trong TTHS, khái niệm thẩm quyền của TA cũngđược xem xét ở những góc độ khác nhau Theo Từ điển Luật học, thì thẩmquyền của TA là "quyền xem xét để kết luận và định đoạt một vấn đề phápluật" [77, tr 890] ThS Nguyễn Văn Tiến cho rằng, thẩm quyền của TAbao gồm thẩm quyền xét xử, phạm vi (giới hạn) xét xử và quyền hạn quyếtđịnh của TA đối với các vụ án [47, tr 8] Khi đề cập về thẩm quyền của TAcấp giám đốc thẩm, TS Nguyễn Văn Hiện cho rằng, thẩm quyền này là
"tập hợp các quy định pháp luật TTHS liên quan đến việc giao vụ án chocấp TA nào giải quyết, phạm vi các vấn đề cần giải quyết và quyền ra cácquyết định của TA trong quá trình giải quyết vụ án" [20, tr 7] Theo TS.Nguyễn Văn Huyên, thì thẩm quyền xét xử và quyền quyết định của TA làhai nội dung quan trọng có mối liên hệ hữu cơ mật thiết với nhau tạo thànhthẩm quyền của TA [22, tr 19]
Như vậy, có thể thấy rằng, tuy xem xét ở các góc độ khác nhau, nhưngcác tác giả đều thừa nhận khái niệm thẩm quyền của TA bao gồm các quyềnkhác nhau của TA trong quá trình giải quyết vụ án Theo tính chất, có thể
phân thẩm quyền của TA thành thẩm quyền về hình thức (quyền xem xét)
và thẩm quyền về nội dung (quyền quyết định) đối với các vụ án cụ thể.
Đây là hai nội dung (hai yếu tố) có mối liên hệ chặt chẽ và tác động qua lạivới nhau một cách biện chứng để tạo nên thẩm quyền của TA Hay nói
Trang 31cách khác, thẩm quyền của TA là một thể thống nhất bao gồm hai yếu tố(nội dung) có liên quan chặt chẽ với nhau đó là thẩm quyền về hình thức(quyền xem xét) và thẩm quyền về nội dung (quyền quyết định) Thiếu mộttrong hai yếu tố này thì thẩm quyền của TA sẽ trở nên vô nghĩa Bởi vì, TAchỉ có thể ra các quyết định về vụ án sau khi đã xem xét nó, và ngược lại,việc xem xét vụ án chỉ có ý nghĩa khi có những quyết định cụ thể về vụ án.
Thẩm quyền về hình thức của TA xác định các loại vụ việc nào (hình
sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính) thuộc thẩm quyền giải quyết của
TA và giới hạn (phạm vi) giải quyết của TA đối với các vụ việc đó Haynói cách khác, thẩm quyền về hình thức của TA là quyền của TA trong việcxem xét (giải quyết) các vụ án theo quy định của pháp luật Thẩm quyền vềhình thức của TA được thể hiện ở thẩm quyền xét xử và giới hạn (phạm vi)xét xử của các cấp TA đối với các vụ án Thẩm quyền xét xử của TA xácđịnh loại vụ việc nào thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp TA nào Còngiới hạn (hay phạm vi) xét xử xác định TA có quyền giải quyết ở mức độ(giới hạn) nào đối với các vụ án đang xem xét
Thẩm quyền về nội dung (hay quyền hạn) của TA xác định TA cóquyền quyết định các vấn đề cụ thể về các vụ án khi xem xét chúng Nó xácđịnh TA được làm những gì, trong điều kiện nào, tức là xác định các quyềnhạn của TA các cấp (sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm) trongviệc quyết định các vấn đề cụ thể về các vụ án
Thẩm quyền về hình thức của TA là cơ sở để xác định thẩm quyền
về nội dung Bởi vì, để xác định xem TA có quyền quyết định về vụ án haykhông, trước hết phải xác định vụ án đó có thuộc thẩm quyền xét xử của
TA hay không? Nếu thuộc thẩm quyền của TA thì được xem xét trongphạm vi (giới hạn) nào?
Trang 32Mặt khác, khi xét xử vụ án, TA phải giải quyết các quan hệ pháp luậtphát sinh từ vụ án đó trên cơ sở các quy định của pháp luật về nội dung Vìvậy, khi ra các quyết định cụ thể về vụ án, TA căn cứ không chỉ vào cácquy định của pháp luật tố tụng, mà cả các quy định của pháp luật nội dung(hình sự, dân sự, lao động, ) Ví dụ: khi xét xử vụ án hình sự về tội "giếtngười", ngoài việc quyết định về tội danh, áp dụng điều khoản BLHS vàhình phạt đối với bị cáo, TA còn giải quyết cả vấn đề bồi thường thiệt hại
do hành vi phạm tội gây ra, xử lý vật chứng, án phí,
Từ phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm chung về thẩm quyền của
TA như sau: Thẩm quyền của TA là toàn bộ các quyền năng pháp lý (quyền hạn) mà pháp luật dành cho TA trong việc xem xét và quyết định các vấn đề cụ thể về vụ án trong một giới hạn (phạm vi) nhất định.
Các TA đều thực hiện chức năng xét xử, nhưng mỗi cấp TA tham giavào việc thực hiện chức năng này ở những mức độ, phạm vi khác nhau Bởivậy, mỗi cấp TA được pháp luật dành cho các quyền hạn hay thẩm quyềnkhác nhau trong việc xét xử các vụ án Theo tính chất của các vụ án mà TAgiải quyết, có thể chia thẩm quyền của TA thành các loại sau:
- Thẩm quyền của TA trong TTHS (thẩm quyền về hình sự);
- Thẩm quyền của TA trong tố tụng dân sự (thẩm quyền về dân sự);
- Thẩm quyền của TA trong tố tụng kinh tế (thẩm quyền về kinh tế);
- Thẩm quyền của TA trong tố tụng lao động (thẩm quyền về laođộng);
- Thẩm quyền của TA trong tố tụng hành chính (thẩm quyền vềhành chính)
Theo cấp xét xử, có thể phân thẩm quyền của TA thành các loại sau:
- Thẩm quyền của TA cấp sơ thẩm;
Trang 33- Thẩm quyền của TA cấp phúc thẩm;
- Thẩm quyền của TA cấp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
1.2.1.2 Thẩm quyền của TA cấp phúc thẩm và các căn cứ xác định
1- Thẩm quyền của TA cấp phúc thẩm: trong TTHS thẩm quyền của
TA cấp phúc thẩm cũng bao gồm hai yếu tố (nội dung) cấu thành là thẩmquyền xem xét (thẩm quyền về hình thức) và thẩm quyền quyết định cácvấn đề về vụ án (thẩm quyền về nội dung)
Thẩm quyền xem xét của TA cấp phúc thẩm bao gồm thẩm quyềnxét xử phúc thẩm (đã xem xét ở mục 1.1.3 của luận án); phạm vi các vụ ánhình sự có thể được xem xét lại ở cấp thứ hai (các vụ án có thể kháng cáo,kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm) và phạm vi xét xử phúc thẩm (đối vớicác vụ án thuộc thẩm quyền) Thẩm quyền quyết định của TA cấp phúc
thẩm thể hiện ở các quyền hạn của TA khi xét xử theo thủ tục phúc thẩm
các vụ án bị kháng cáo hoặc kháng nghị (các vấn đề này chúng tôi sẽ đềcập đầy đủ hơn ở các mục 1.1.3 và 1.1.4 của luận án)
Từ phân tích trên, có thể rút ra khái niệm thẩm quyền của TA cấpphúc thẩm trong TTHS như sau:
Thẩm quyền của TA cấp phúc thẩm trong TTHS là toàn bộ các quyền hạn mà pháp luật dành cho TA cấp trên trực tiếp trong việc xem xét
và quyết định các vấn đề cụ thể về các vụ án hình sự do các TA cấp dưới xét xử, mà bản án (quyết định) chưa có HLPL bị kháng cáo hoặc kháng nghị.
2- Các căn cứ xác định thẩm quyền của TA cấp phúc thẩm: thẩm
quyền của TA cấp phúc thẩm trong TTHS được xác định trong pháp luậtcủa các nước rất khác nhau, nhưng đều dựa trên một số căn cứ chung sau đây:
- Các nguyên tắc cơ bản của TTHS;
Trang 34- Sự phân định các chức năng cơ bản trong TTHS;
- Sự phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự;
- Tính chất và nhiệm vụ của TA cấp phúc thẩm trong TTHS;
- Nội dung kháng cáo, kháng nghị
a) Các nguyên tắc cơ bản của TTHS là một trong những căn cứ quan
trọng để xác định thẩm quyền của TA nói chung và thẩm quyền của TA cấpphúc thẩm nói riêng Các nguyên tắc của TTHS liên hệ chặt chẽ với nhautạo thành một hệ thống thống nhất và là cơ sở để xây dựng toàn bộ hệthống pháp luật TTHS và các chế định cụ thể của nó, trong đó có chế định
về phúc thẩm Trong số các nguyên tắc này, thì các nguyên tắc: hai cấp xétxử; suy đoán vô tội; bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo; TA xét xửđộc lập và chỉ tuân theo pháp luật; có ý nghĩa quan trọng trong việc xácđịnh thẩm quyền của TA trong TTHS nói chung và của TA cấp phúc thẩmnói riêng Việc qui định thẩm quyền của TA cấp phúc thẩm trong việc xemxét và quyết định về vụ án hình sự phải phù hợp với các nguyên tắc củaTTHS
"Hai cấp xét xử" là một nguyên tắc được pháp luật của hầu hết các
nước thừa nhận và áp dụng trong lĩnh vực tư pháp hình sự Theo nguyêntắc này, sau khi xét xử sơ thẩm, nếu bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa
có HLPL bị kháng cáo hoặc kháng nghị, thì vụ án được xét xử lại ở TA cấptrên Khi xét xử lại vụ án, TA cấp phúc thẩm không chỉ xem xét về mặt ápdụng luật mà còn giải quyết về nội dung vụ án Như vậy, nguyên tắc haicấp xét xử không chỉ là một trong các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của
hệ thống TA, trong đó có TA cấp phúc thẩm, là một trong những bảo đảmquan trọng để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, các đương
sự, mà còn là căn cứ để xác định tính chất, nhiệm vụ và quyền hạn của TA
Trang 35cấp phúc thẩm (vấn đề này sẽ được đề cập đầy đủ hơn ở mục 1.2.2 của luận án).
Nguyên tắc "bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo" có vai trò
rất quan trọng, là một trong những điều kiện cần thiết bảo đảm cho bị cáobảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước TA Việc xác địnhnguyên tắc này là một trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS là xuấtphát từ chỗ trong số các chủ thể tham gia vào quá trình TTHS, thì bị can, bịcáo là chủ thể trung tâm nhưng luôn ở địa vị pháp lý bất lợi nhất và số phậncủa họ phụ thuộc vào sự phán quyết của TA Quyền tự do kháng cáo của bịcáo theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án (quyết định) sơ thẩm chưa cóHLPL chính là sự cụ thể hóa nguyên tắc "bảo đảm quyền bào chữa của bịcan, bị cáo" Khi có kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định (thậm chí
cả khi quá hạn nhưng có lý do chính đáng), thì vụ án phải được xét xử ở
TA cấp cao hơn Quyền này của bị cáo không chỉ thể hiện bản chất nhânđạo và dân chủ của TTHS, mà còn là phương tiện để bị cáo có thể bảo vệcác quyền lợi hợp pháp của mình Xuất phát từ tinh thần đó, pháp luật củacác nước quy định thẩm quyền của TA cấp phúc thẩm theo hướng hạn chếcác quyền hạn của cấp phúc thẩm mà chúng có thể làm xấu hơn tình trạngcủa bị cáo, đồng thời mở rộng các quyền hạn của TA theo hướng có lợi cho bịcáo
Nguyên tắc "TA xét xử độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật" là
một trong các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của TA bảo đảm cho nóthực hiện tốt chức năng nhân danh nhà nước xét xử các vụ án nói chung vàcác vụ án hình sự nói riêng đúng người, bảo đảm đúng tội, đúng pháp luật,đồng thời không cho phép TA tham gia vào việc thực hiện các chức năngkhác trong TTHS (buộc tội, bào chữa) Khi xét xử TA có quyền độc lập,nhưng quyền độc lập của TA nói chung và TA cấp phúc thẩm nói riêng, bị
Trang 36hạn chế bởi các qui định của pháp luật "Độc lập xét xử" và "tuân theo pháp luật" là hai yếu tố, hai mặt thống nhất không thể tách rời nhau của
nguyên tắc "TA xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật"
Các nguyên tắc khác của TTHS (suy đoán vô tội, xác định sự thấtkhách quan về vụ án, ) cũng là các căn cứ để xác định thẩm quyền về nộidung - các quyền hạn của TA cấp phúc thẩm ở những phạm vi và mức độkhác nhau
b) Sự phân định các chức năng cơ bản trong TTHS: các chức năng
cơ bản trong TTHS cũng là một căn cứ quan trọng để xác định thẩm quyềncủa TA cấp phúc thẩm Trong TTHS luôn tồn tại ba chức năng cơ bản:buộc tội, bào chữa và xét xử, trong đó chức năng xét xử chỉ thuộc về mộtchủ thể duy nhất là TA Đây là nguyên tắc hiến định được ghi nhận trongHiến pháp của của các nước Điều 127 Hiến pháp 1992 - Chức năng xét xửcủa TA là căn cứ để xác định thẩm quyền về nội dung (quyền hạn) của TAnói chung và của TA cấp phúc thẩm nói riêng, khi quyết định các vấn đề cụthể về vụ án Việc xác định các quyền hạn của TA cấp phúc thẩm trước hếtphải bảo đảm để nó thực hiện tốt nhiệm vụ của mình là kiểm tra tính hợppháp và có căn cứ của các bản án (quyết định) sơ thẩm chưa có HLPL bịkháng cáo, kháng nghị, phát hiện và khắc phục kịp thời các vi phạm phápluật của TA cấp sơ thẩm Chức năng xét xử không cho phép TA nói chung
và TA cấp phúc thẩm nói riêng, thực hiện các quyền hạn thuộc về chứcnăng của các chủ thể khác: Buộc tội hay bào chữa Bởi vì, vai trò của TAtrong TTHS là người trọng tài đứng giữa bên buộc tội và bên bào chữa đểphân xử Một khi TA đứng về phía buộc tội hay bên bào chữa, thì sự bìnhđẳng giữa hai bên tranh tụng sẽ bị phá vỡ và điều đó tất yếu sẽ dẫn đến việckhông đạt được mục đích của TTHS là xác định sự thật khách quan về vụán
Trang 37c) Sự phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự: theo
quy định của pháp luật các nước, thì TA có thẩm quyền xét xử phúc thẩmcác vụ án hình sự mà bản án, quyết định chưa có HLPL bị kháng cáo hoặckháng nghị là TA cấp trên trực tiếp của TA đã xét xử sơ thẩm vụ án Nhưvậy, thẩm quyền xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự được xác định giántiếp thông qua thẩm quyền xét xử sơ thẩm TS Nguyễn Văn Huyên đãnhận xét rất đúng khi cho rằng, muốn xác định thẩm quyền của TA các cấp,trước hết phải xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm Thẩm quyền xét xử sơthẩm là cơ sở để xác định thẩm quyền của TA các cấp [22, tr 24]
Sự mở rộng hay thu hẹp thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án hình
sự ảnh hưởng trực tiếp đến thẩm quyền xét xử phúc thẩm của TA cũng nhưchất lượng xét xử phúc thẩm Vì vậy, việc phân định hợp lý các vụ án hình
sự thuộc thẩm quyền xét xử của TA cấp sơ thẩm là một trong những bảođảm sự cân đối trong hoạt động xét xử giữa các cấp TA, tạo điều kiệnthuận lợi để nâng cao chất lượng xét xử
d) Tính chất và nhiệm vụ của TA cấp phúc thẩm cũng là một căn cứ
quan trọng để xác định thẩm quyền của TA cấp phúc thẩm Nhiệm vụ TAcấp phúc thẩm là kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của các bản án (quyếtđịnh) sơ thẩm chưa có HLPL thông qua việc xét xử lại vụ án về nội dung.Ngoài việc khắc phục các vi phạm của TA cấp sơ thẩm được nêu trongkháng cáo, kháng nghị, TA cấp phúc thẩm còn có nhiệm vụ tự mình pháthiện các sai sót ở các phần của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, khángnghị và kịp thời khắc phục chúng Việc quy định thẩm quyền của TA cấpphúc thẩm trong TTHS một mặt phải bảo đảm để TA cấp phúc thẩm thựchiện có hiệu quả nhiệm vụ này, đồng thời không được quá mở rộng cácquyền hạn này để không dẫn đến tình trạng quá tải trong xét xử phúc thẩmhoặc biến cấp phúc thẩm thành Tòa thứ hai xét xử sơ thẩm lại vụ án
e) Nội dung kháng cáo và kháng nghị cũng là căn cứ để xác định
thẩm quyền của TA cấp phúc thẩm Kháng cáo của bị cáo và các đương sự,
Trang 38kháng nghị của VKS cùng cấp hoặc cấp trên trực tiếp đối với bản án (quyếtđịnh) chưa có HLPL không chỉ là căn cứ làm phát sinh thủ tục phúc thẩm,
mà còn xác định phạm vi hoạt động cũng như quyền hạn của các chủ thể;phạm vi xét xử phúc thẩm và quyền hạn của TA cấp phúc thẩm ở giai đoạn
tố tụng này
Việc kháng cáo, kháng nghị đối với toàn bộ hoặc một phần bản ánchưa có HLPL; việc rút một phần hay toàn bộ kháng cáo, kháng nghị, bổsung hoặc thay đổi kháng cáo, kháng nghị của các chủ thể đều ảnh hưởngtrực tiếp đến thẩm quyền của TA cấp phúc thẩm trong việc xem xét vàquyết định các vấn đề cụ thể về vụ án Ví dụ: việc không kháng cáo, khángnghị hay kháng cáo, kháng nghị không hợp lệ (quá hạn mà không có lý dochính đáng; kháng cáo của những người không có quyền kháng cáo, ) sẽkhông làm phát sinh trình tự phúc thẩm Khi đó TA cấp phúc thẩm sẽkhông có thẩm quyền xét xử vụ án Việc rút một phần kháng cáo, khángnghị theo hướng tăng nặng đối với bị cáo sẽ loại trừ khả năng TA cấp phúcthẩm ra quyết định theo hướng không có lợi đối với bị cáo,
Theo quy định pháp luật của một số nước (Pháp [34]; CHLB Nga [80];Việt Nam Cộng hòa [3], ), thì TA chỉ có quyền xem xét vụ án trong phạm
vi của kháng cáo, kháng nghị Pháp luật TTHS của một số nước (Cộng hòanhân dân Trung Hoa [81]; ) quy định rõ trách nhiệm của TA cấp phúcthẩm xem xét toàn bộ vụ án không phụ thuộc vào nội dung của kháng cáo,kháng nghị Ở nước ta, theo quy định tại Điều 214 BLTTHS, thì TA cấpphúc thẩm có thể xem xét cả các phần khác của bản án sơ thẩm không cókháng cáo, kháng nghị, nếu thấy cần thiết
Trong trường hợp rút toàn bộ kháng cáo, kháng nghị trước khi mởphiên tòa, thì vụ án hình sự sẽ không được xem xét theo thủ tục phúc thẩm;nếu rút toàn bộ kháng cáo, kháng nghị tại phiên tòa, thì việc xét xử phúcthẩm vụ án phải được đình chỉ
Trang 391.2.2 Các xu hướng điều chỉnh thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm trong pháp luật các nước
Việc quy định trong pháp luật TTHS của các nước về thẩm quyềncủa TA cấp phúc thẩm rất khác nhau phụ thuộc vào nhiều yếu tố: trình độphát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, các điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của đấtnước trong từng giai đoạn phát triển, đặc biệt là sự kiện toàn của hệ thốngcác cơ quan tư pháp và đội ngũ thẩm phán Các nhà làm luật của mỗi nướcphải lựa chọn cho mình một phương án hợp lý để điều chỉnh phạm vi thẩmquyền của TA cấp phúc thẩm cho phù hợp với các yếu tố nêu trên đồngthời kết hợp hài hòa giữa nguyên tắc "hai cấp xét xử" và các nguyên tắckhác của TTHS; bảo đảm công bằng xã hội Một vấn đề khác không kémphần quan trọng là phải cân nhắc đến tính khả thi của pháp luật, những ưuđiểm và hạn chế của việc điều chỉnh mở rộng thẩm quyền của TA cấp phúcthẩm (phúc thẩm mở rộng) hay thu hẹp thẩm quyền này (phúc thẩm thuhẹp)
1.2.2.1 Phúc thẩm mở rộng
Xu hướng này xuất phát từ quan niệm cho rằng phúc thẩm là một cấpxét xử, vì vậy, pháp luật phải đối xử với TA cấp phúc thẩm bình đẳng nhưđối với TA cấp sơ thẩm Điều đó có nghĩa là cho phép kháng cáo, khángnghị theo thủ tục phúc thẩm đối với tất cả các bản án sơ thẩm và không hạnchế thẩm quyền xem xét và quyền quyết định của TA cấp phúc thẩm theobất cứ hướng nào
Xu hướng điều chỉnh này có một số ưu điểm sau đây:
- Bảo đảm tính công khai dân chủ và công bằng xã hội của TTHS; bảođảm cho công dân (đặc biệt là bị cáo) có thêm khả năng, điều kiện thuận lợihơn trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước TA
Trang 40- Tạo điều kiện thuận lợi cho TA cấp trên trực tiếp xác định lại sựthật khách quan về vụ án, qua đó kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ cácbản án, quyết định sơ thẩm chưa có HLPL;
- Cho phép phát hiện và ngăn chặn kịp thời việc thi hành các bản án
sơ thẩm không hợp pháp hoặc có sai lầm nghiêm trọng trong áp dụng phápluật (xử phạt oan, sai người vô tội) Nhờ đó các quyền và lợi ích hợp phápcủa công dân, đặc biệt là bị cáo được bảo vệ kịp thời và có hiệu quả
Bên cạnh đó, xu hướng điều chỉnh mở rộng này cũng có mặt hạn chế
là làm cho hoạt động xét xử phúc thẩm trở thành nặng nề, quá tải và tốnkém; biến TA cấp phúc thẩm thành TA xét xử lại lần thứ đối với vụ án, làmcho quá trình giải quyết vụ án và thi hành án kéo dài Vì vậy, các lợi íchcủa Nhà nước, của xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dânkhông được kịp thời bảo vệ
1.2.2.2 Phúc thẩm thu hẹp
Theo quan niệm của xu hướng này, thì phúc thẩm là cấp xét xử thứ
hai chứ không phải là cấp xét xử lần thứ hai đối với vụ án Thông qua việcxét xử lại vụ án, Tòa phúc thẩm khắc phục những sai sót về xét xử của Tòa
sơ thẩm Bởi vậy, cần hạn chế phạm vi xem xét và quyền hạn của Tòa phúcthẩm để không biến cấp phúc thẩm thành Tòa sơ thẩm thứ hai xét xử lại vụ
án Mặt khác, để bảo đảm tính khả thi của pháp luật, phải xác định mộtphạm vi xem xét và quyền hạn của TA cấp phúc thẩm hợp lý để cấp TAnày có thể hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình
Hệ thống TA ở các nước đều được tổ chức theo hình chóp càng lêncao càng thu hẹp: các TA cấp cơ sở (quận, huyện) chiếm đa số tuyệt đối về
số lượng; các TA cấp tỉnh, thành phố (TA khu vực hoặc Tòa cấp cao) có sốlượng ít hơn và trên cùng chỉ có duy nhất một TATC Nếu cho phép khángcáo, kháng nghị đối với tất cả các bản án sơ thẩm; xét xử lại toàn bộ vụ án
và không hạn chế quyền hạn của Tòa phúc thẩm, thì hoạt động xét xử phúc