Nhất là đối với Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nền văn hóa Trung Quốc, việc nghiên cứu tư tưởng-chính trị của Mạnh Tử và làm rõ vai trò của nó trong lịch
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài: Tư tưởng chính trị của Mạnh Tử và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay
Họ & Tên GV giảng dạy: Tiến sĩ Bùi Xuân Thanh
Họ & Tên học viên: Tô Mai Chi
Lớp: TỐI T7_21C1PHI61000416
Mã số học viên: 212111010
Ngày sinh học viên: 20/8/1995
Trang 2I MỞ ĐỀ
Nho giáo ra đời ở Trung Quốc thời Xuân Thu - Chiến Quốc do Khổng Tử sáng lập ra
và Mạnh Tử phát triển được gọi là Nho giáo Khổng - Mạnh Khổng Tử được coi là ông tổ của Nho giáo còn Mạnh Tử là người đã kế thừa và phát triển xuất sắc tư tưởng của Khổng Tử
Sống trong thời Chiến quốc, là giai đoạn xã hội loạn lạc, Mạnh Tử đi chu du khắp nơi đem học thuyết của mình để khuyến cáo các vua chư hầu nhằm yên định thiên hạ, thống nhất quốc gia về một mối, tuy nhiên các vua chư hầu đã không sử dụng học thuyết của ông Cuối cùng, Mạnh tử đành lui về nước Lỗ, noi gương Khổng Tử mở trường dạy học để truyền bá tư tưởng của mình
Cũng như bất kỳ học thuyết nào, triết học và tư tưởng chính trị-xã hội của ông nói riêng không phái là sự tự biện thuần túy của tư duy Nó được ra đời và hình thành từ bối cảnh kinh tế-xã hội Trung Quốc đầy biến động thời Xuân Thu-Chiến Quốc Tư tưởng ấy cũng là kết quả của sự kế thừa và phát triển học thuyết của các nhà tư tưởng trước đó, đặc biệt là tư tưởng đức trị của Khổng Tử Mặt khác, nó còn hình thành trực tiếp trên cơ sở thuyết tính thiện, là tư tưởng đặc sắc của Mạnh Tử về đạo đức nhân sinh
Tư tường chính trị - xã hội của Mạnh Từ được truyền vào nước ta hàng ngàn năm nay Trong suốt quá trình hình thành và phát triển của xã hội phong kiến Việt Nam, đặc biệt từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX, các triều đại phong kiến Việt Nam đã tiếp thu và sử dụng tư tưởng chính trị- xã hội của Mạnh Tử làm hệ tư tưởng và công cụ trị nước,đào tạo ra những con người phù hợp với yêu cầu và mục đích của giai cấp phong kiến thống trị Từ nửa cuối thế kỷ XIX trở lại đây, mặc dù cái nền tảng của Nho giáo nói chung và của tư tưởng Mạnh Từ nói riêng là chế độ phong kiến không còn nữa nhưng một số nội dung của tư tưởng chính trị - xã hội của Mạnh Tử vẫn còn ảnh hưởng ở một số lĩnh vực trong đời sống xã hội ở nước ta
Hiện nay, chủ trương “lấy dân làm gốc” “con người là trung tâm” đều có liên quan đến tư tưởng “nhân chính” và “dân vi quý - xã tắc thứ chi - quân vi khinh” của Mạnh
Trang 3Tử Tư tưởng chính trị-xã hội của Mạnh Tử có ý nghĩa to lớn để chúng ta tiếp thu xây dụng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Vì vậy, tìm hiểu về tư tưởng chính trị của Mạnh Tử và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay là vô cùng cần thiết Nhất là đối với Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nền văn hóa Trung Quốc, việc nghiên cứu tư tưởng-chính trị của Mạnh Tử và làm rõ vai trò của nó trong lịch sử cũng như trong hiện tại sẽ giúp chúng ta chọn lọc được những tinh hoa trí thức về xây dựng nhà nước trong hiện tại cũng như trong qúa khứ, trên bình diện tổ chức hành chính, xây dựng pháp luật cũng như trên bình diện đạo đức
II NỘI DUNG CHÍNH
1 Thuyết “nhân chính” trong tư tưởng chính trị-xã hội của Mạnh Tử
Tư tưởng nhân chính, tức làm chính trị bằng nhân nghĩa là điểm đặc sắc nhất trong tư tưởng chính trị-xã hội của Mạnh Tử Xuất phát từ đó, ông vận dụng nhân nghĩa vào công việc chính trị của nhà cầm quyền, hình thành nên tư tưởng nhân chính với nội dung cơ bản: xây dựng đường lối chính trị nhân nghĩa, hoàn thiện đạo đức vua quan,
đề cao vai trò của dân theo tính thần dân bản, dưỡng dân gắn liền với giao hóa dân, cùng với những quan điểm về kinh tế, chiến tranh…Tư tưởng ấy chính là tâm điểm của toàn bộ triết học Mạnh Tử nói chung và tư tưởng chính trị-xã hội của ông nói riêng Mạnh Tử khẳng định “Nhân giả dã, nhân dã Hiệp ngôn chi, đạo dã: Chữ nhân (đức nhân) đồng với chữ nhân (người) vậy hễ là người thì phải làm nhân Nói cho hợp nghĩa, nhân tức là đạo làm người vậy” Theo ông, đức nhân có thể chiến thắng tất cả những tật xấu của con người Xuất phát từ đó, ông còn tin vào sự chiến thắng của đức nhân đối với sự bất nhân ngay trong tâm mỗi người cũng như trong một nước và trong
cả thiên hạ Trong suy nghĩ của ông, sự hiện hữu và tỏa sáng của đức nhân sẽ chi phối mọi suy nghĩ, hành vi của con người
Tuy nhiên, Mạnh Tử không gắn chặt “nhân” với “lễ” Trong tư tưởng của ông, “kính người” và “thương người” không quy định nhau, ràng buộc nhau chặt chẽ như trong tư tưởng của Khổng Tử
Trang 4Bên cạnh đó, Mạnh Tử rất quan tâm đến “nghĩa” và đề cao “nghĩa” nhằm thi hành đức
“nhân” Theo ông, điều hổ thẹn là đầu mối của đức “nghĩa” “Nghĩa” là điều nên nói, việc nên làm Như vậy, “nghĩa” không chỉ là đức tính cá nhân mà nghĩa còn là một đức tính xã hội Với đức tính cá nhân, “nghĩa” bao hàm tính cảm và phẩm các cá nhân, nhờ đó người ta biết tự hổ thẹn khi làm việc bất thiện, Còn với tư cách la đức tính xã hội, “nghĩa” là con đường ngay thẳng mà mỗi người cần phải đi theo nhằm tránh đau khổ cho đồng loại
Trong bốn đức lớn do tứ đoan, vốn có tâm ở con người là: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín Mạnh Tử ít đề ập tới “trí” và “lễ”, mà đặc biệt đề cao “nhân” và “nghĩa”, kết hợp chúng lại thành phạm trù “nhân nghĩa” “Nhân nghĩa” cần thiết cho tất cả mọi người từ quần chúng nhân dân đến nhà cầm quyền Khi nhà cầm quyền đem “nhân nghĩa” ứng dụng trong việc trị nước thì thành “nhân chính” Nếu đem lòng “nhân” mà thi hành
“nhân chính” thì mọi việc sẽ trôi chảy, thiên hạ thái bình
Cũng như Khổng Tử, Mạnh tử thường xuyên đề cập đến phạm trù “chính” trong tư tưởng chính trị-xã hội của Mạnh Tử, “chính” gắn liền với “chính sự” Con người thi hành “chính sự” là vua, nói rộng ra là nhà cầm quyền Họ có nhiệm vụ đề ra đường lối trị quốc, dẫn dắt quần chúng nhân dân, thống nhất ý chí và hành động nhân dân vào việc giải quyết những vấn đề then chốt và đạt đến những mục tiêu cụ thể
Trong xã hội hiện đại, chúng ta sử dụng phổ biến phạm trù “chính trị” Dù MạnhTử không nói đến “chính trị”, những các từ “chính”, “vi chính” hay “chính sự” mà ống ử dụng đều có nghĩa “chính trị” theo cách hiểu của chúng ta ngày nay Như vậy, nhân chính tức là làm chính trị bằng nhân nghĩa Nói cách khác, là lấy “nhân nghĩa” làm gốc trong công việc chính trị của nhà cầm quyền
Nói mội cách ngắn gọi, trong toàn bộ các phạm trù đạo đức của Nho giáo, Mạnh tử chú yếu nói tới các phạm trù “nhân” và “nghĩa”, Ông đã thêm vào các phạm trù này những nội hàm, những ý tưởng mới mẻ, trên cơ sở đó kết hợp chúng thành phạm trù
“nhân nghĩa”
Có thể nói, từ tư tưởng “nhân nghĩa” đến đường lối “nhân chính”, Mạnh Tử đã mở rộng đạo đức đến chính trị, làm cho đạo đức hóa thân vào chính trị, làm cho tư tưởng đức trị trở nên sâu sắc hơn, rõ ràng hơn, có ý nghĩa thiết thực hơn đối với đương thời
Trang 52 Đường lối dân bản trong tư tưởng chính tri-xã hội của Mạnh Tử
2.1 Tư tưởng tôn dân - “dân vi quý” trong đường lối dân bản
Mạnh Tử đề cao tầm quan trọng của dân, ông cho rằng nhà cầm quyền là thuyền còn dân là nước Chính vì thế mối quan hệ giữa nhà cầm quyền với dân mật thiết như cha với con
Mạnh Tử đưa ra mệnh đề nổi tiếng khi đánh giá về vị trí, vai trò của dân “Dân vi quý,
xã tắc thứ chi, quan vi khinh” Mệnh đề này chỉ rõ các yếu tố dân, nước và vua thì dân
là quan trọng nhất Mặt khác, nó cũng cho thấy Mạnh Tử chủ truong nhà cầm quyền phải tôn trọng dân quyền
Có thể nói, tư tưởng này là tư tưởng cơ bản chi phối các chính sách cụ thể trong việc thực hiện đường lối “nhân chính” đó cũng thể hiện tư tưởng tiến bộ của ông so với phần lớn các nhà tư tưởng Trung Quốc đường thời
Như vậy, tranh thủ sức dân - được lòng dân - lo cho dân đã trở thành phương pháp trị quốc Mạnh Tử đã nhìn thấy sức mạnh to lớn của dân, sự sông còn của một chế độ xã hội do dân quyết định Khi dân ủng hộ thì nhà nước tồn tại, xã hội ổn định, khi dân không ủng hộ, sớm muộn nhà nước cũng bị lật đổ, nên kẻ cai trị phải biết dựa vào sức dân và phát huy sức dân Ngược lại nếu kẻ cai trị không biết dựa vào dân, xa rời dân là
tự gây tai họa cho mình Nhà cầm quyền phải biết lo lắng cho dân, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, chia sẻ niềm vui với nhân dân, vui với sự vui của dân, buồn với sự buồn của dân
2.2 Tư tưởng dưỡng dân trong đường lối dân bản
Chủ trương bảo dân, khoan thư sức dân, lo cho đời sống của dân là một trong những tư tưởng đặc sắc, thể hiện rõ nét tinh thần dân bản của Mạnh Tử
Xuất phát từ tư tưởng nhân nghĩa, một mặt Mạnh Tử đòi hỏi nhà cầm quyền phải giữ gìn sinh mệnh cho dân, mặt khác ông yêu cầu họ không được lạm dụng sức dân và phải giữu gìn của cải cho dân Ông phê phán gay gắt sự vơ vét tham lam của vua chúa đương thời, đồng thời lên án những kẻ giúp vua vơ vét, gây chiến tranh Đương thời, Mạnh Tử gọi những kẻ đó là “dân tặc” - giặc của dân
Trang 6Có thể nói, việc lấy đạo đức nhân nghĩa làm tư tưởng chủ đạo trong đường lối cai trị
và những việc làm cụ thể của nhà cầm quyền, nhằm bảo dân, khoan thư sức dân không chỉ là chuyện của những thời đại trước, của những hình thái kinh tế-xã hội đã qua Không phải là trong mỗi thời đại, cuộc sống có những sắc thái riêng biệt, thay đổi hình thái kinh tế-xã hội là chúng ta thay đổi mọi mệnh đề của cuộc sống, cũng như thay đổi toàn bộ phương pháp trị quốc Khi xã hội hội càng phát triển, trình độ dân trí càng cao, thì việc bảo dân, quan tâm đến đời sống của dân thì lại càng trở nên quan trọng và vẫn
là cái gốc của đạo trị nước
2.3 Điều kiện hiện thức hóa tư tưởng dân bản
Thực hiện “nhân chính” là công việc ủa nhà cầm quyền nên trước hết nhà cầm quyền phải là người có nhân đức Mạnh Tử cho rằng, khi vua chúa cũng như nhà cầm quyền
là kẻ bất nhân thì quốc gia sẽ rơi vào tính trạng nội loạn
Vua chúa không chỉ chịu trách nhiệm trước lương tri của mình mà còn phải chịu trách nhiệm trước dân chúng Vì vậy vua phải biết tu tâm, dưỡng tính, phát triển nhân, nghĩa,
lễ, trí, người quân tử phải biết giữ lòng mình Mạnh Tử luôn luôn nhấn mạnh sự cần thiết tu thân, dưỡng tính của con người, nhất là đối với nhà cầm quyền Theo ông, nhà cầm quyền phải là những bậc đại nhân không ngừng tu thân, sửa mình, làm gương cho mọi người
Tại sao nhà cầm quyền phải tu thân để giữu gìn nhân đức? Bởi vì nếu “Thân bất thành đạo, bất hành ư thê tử Sử nhân bất dĩ đạo, bất năng hành ư thê tử”, tức là tự mình chẳng noi theo đạo lý ấy, mình chăng thể buộc người khác phải theo đạo lý, cho dù người đó là vợ con mình
Thi hành nhân chính không chỉ là việc của vua mà còn là việc của quan khanh - những người giúp vua trị nước Ông đòi hỏi các quan khanh phải biết tu thân, sửa mình, dốc lòng vì việc nghĩa Thế nên, ông yêu cầu họ phải can gián những lỗi lầm của vua, nếu can gián nhiều lần mà vua không nghe, thì quan khanh nên trả chức lại cho vua
Mong ước, ca ngợi chế độ chính trị lý tưởng là chế độ mà ở đó ngôi “Thiên tử” phải thuộc về người tài đức, trị nước theo mệnh trời, Mạnh Tử chủ trương phế bỏ những ông vua vô đạo, hại nước, hại dân Việc phế bỏ ngôi vua có ba trường hợp: Trường hợp thứ nhất, “Quan hữu đại quá, tắc gián; phản phúc chi, nhi bất thính, tắc dịch vị:
Trang 7Như vua có phạm lỗi lớn, thì quan khanh phải can gián Nếu như can gián nhiều lần,
mà vua chẳng nghe, ắt quan khanh phải buộc lòng hội triều đình và công tộc để tôn một người khác trong họ có tài đức hơn mà thay thế” Trường hợp thứ hai, là trường hợp một quan khanh lên nhiếp chính sau khi vua băng hà, nếu như vị vua kế nhiệm không biết tôn trọng nhân nghĩa, không có tài đức Trường hợp thứ ba là bậc hiền thần thấy vua quá hung bạo, tàn ác thì có thể giết vua mà lên ngôi
Mạnh Tử không coi trọng tập quán duy trì ngôi vua theo huyết thống, mà tấn công trực diện vào tập quán ấy Với ông, điều quan trọng nhất là sau khi phế bỏ ngôi vua, người nối ngôi pải thực sự là người hiền tài, được dân ủng hộ và tin tưởng
3 Chính sách kinh tế và giáo dục trong tư tưởng chính trị-xã hội của Mạnh Tử
3.1 Chính sách kinh tế trong tư tưởng chính trị của Mạnh Tử:
Trong tư tưởng chính trị-xã hội của Mạnh Tử, chủ trương dưỡng dân gắn liền với tư tưởng kinh tế Với Mạnh Tử, phát triển kinh tế là nhằm dưỡng dân một cách tốt nhất; ngược lại, muốn dưỡng dân thì phải phát triển kinh tế Không nên làm chậm trễ công việc làm ăn của dân, nếu dân có của cải bền vững thì lòng dạ họ mới bền vững Nếu lòng dạ họ chẳng bền vững, thì họ trở nên lung lay, không có việc ác nào mà họ không dám làm
Theo Mạnh Tử, trách nhiệm của nhà cầm quyền là giúp đỡ, tạo điều kiện cho dân có
“hằng sản”.“Hằng sản” là nhà cửa, ruộng vườn, là cơm ăn áo mặc, là điều kiện để
“hằng tâm” Để cho dân có “hằng sản”, Mạnh Tử đề xuất những chính sách kinh tế cần thiết một cách chi tiết, cụ thể như đo đạc đất đai để vạch ra ranh giới ruộng đất cho phân minh, công bằng Theo ông, muốn làm “nhân chính” thì trước hết nhà cầm quyền phải sắp đặt ranh giới ruộng đất cho phân minh
Tuy nhiên, trong xã hội có giai cấp, sự tập trung tài sản trong tay một số người là điều không thể tránh khỏi Khi tới một ngày, sự chênh lệch giàu nghèo qúa lớn, nhà cầm quyền phải phân chia lại tài sản bằng bạo lực, hoặc bằng cách ôn hòa Chủ trương
“nhân chính” của Mạnh Tử đã phản đối bạo lực và đề xuất nhà cầm quyền phương án cải cách ôn hòa
Để dưỡng dân và phát triển kinh tế, ngoài việc phân chia ranh giới ruộng đất, Mạnh Tử còn nhắc nhở nhà cầm quyền bổn phận không được làm trái thời cấy gặt của dân và
Trang 8phải có biện pháo ngăn chặn tình trạng dùng lưới quá to để đánh bắt cá, cũng như tình trạng chặt phá rừng bừa bãi để bảo vệ nguồn lợi thiên nhiên
Như vậy, chính sách kinh tế của nhà cầm quyền phải được xây dựng trên cơ sở là đời sống kinh tế và thực tiễn sản xuất của dân Những chính sách ấy phải khuyến khích được sức lực của dân, hướng dân tới lợi ích lâu dài, bền vững
3.2 Tư tưởng giáo dục theo đường lối nhân chính của Mạnh Tử
Dưỡng dân và giáo dân là hai chuyện không thể tách rời nhau Theo Mạnh Tử, dân vi phạm pháp luật không phải do lỗi của họ, mà chính là tội của nhà cầm quyền không biết giáo hóa họ Xuất phát từ đó, ông cho rằng cai trị giỏi không bằng giáo hóa giỏi Cai trị giỏi làm cho dân được giàu có no đủ, giáo hóa hay thì được lòng dân
Giáo hóa dân là một trong những niệm vụ trọng yếu của phép trị nước theo đạo “nhân chính” Mạnh Tử tin rằng, kẻ cai trị nếu biết thi hành nhân đức là dạy dân nhân đức thì không lo gì nước và thiên hạ vô đạo
4 Tư tưởng chính trị-xã hội của Mạnh Tử đối với xã hội hiện đại
4.1 Mạnh Tử mở rộng đạo đức đến chính trị, hình thành nên tư tưởng nhân chính, quan tâm sâu sắc tới cuộc sống con người
Mạnh Tử nhấn mạnh vấn đề xã hội hóa nhân và gắn chặt nhân với nghĩa thành phạm trù nhân nghĩa Việc ông nhấn mạnh vai trò nhân nghĩa trong đời sống xã hội và chủ trương dùng nhân nghĩa trong chính trị xuất phát từ sự đề cao và coi trong con người của ông
Khi đề xuất đường lối nhân chính trong đạo trị nước, Mạnh Tử còn thể hiện khát vọng của riêng ông về sự hiện hữu của một xã hội mà nhân đức thấm sâu, lan tỏa tới tất cả các lĩnh vưc khác nhau nhau của đời sống xã hội; ở đó, nhân nghĩa chứ không phải pháp luật sẽ điều chỉnh hành vi của mỗi người trong cuộc sống
Phản đối bạo lực, căm ghét sự áp bức và cường quyền trong xã hội, Mạnh Tử đã đặt việc giáo dục đạo đức và cảm hóa lòng người lên tren hình phạt, Điều đó cho thấy trong tư tưởng của ông, triết lý vè sự tu thân, sửa mình và giáo dục đạo đức không có ranh giới với tư tưởng trị quốc bình thiên hạ Với ông, đạo đức đã hóa thân vào chính
Trang 9trị nên tư tưởng nhân văn đã được nâng lên một tầm cao mưới thành lý luận chính trị, đạo đức
4.2 Tư tưởng dân bản - lấy dân làm gốc
Bên cạnh việc đề cao vai trò của nhân dân, giá trị tư tưởng dân bản của Mạnh Tử còn thể hiện ở câu trả lời cho câu hỏi Làm thế nào để được lòng dân? Mạnh Tử quan tâm đến lợi ích vật chất - một trong những động lực chi phối hành vi con người, ông đòi hỏi nhà cầm quyền phải biết dưỡng dân và giáo hóa dân
Mạnh Tử cho rằng,dưỡng dân là nhà cầm quyền pahir cho dân “hằng sản”, nghĩa là có nhà cửa, ruộng vườn….Tư tưởng ấy của ông nói lên trách nhiệm của nhà cầm quyền với dân, là tư tưởng của một người có tầm nhìn xa, trông rộng trong công việc Tư tưởng này có tính chất nguyên lý cho các triều đại vua chúa nào muốn tranh thủ được sức dân và muốn giữ được lòng tin vưới dân
4.3 Nhà cầm quyền cần chú trọng xây dựng chính sách kinh tế phát triển sản xuất vật chất
Trong suy nghĩ của Mạnh Tử, sự hưng thịnh của một quốc gia phụ thuộc nhiều vào các chính sách phát triển kinh tế của nhà cầm quyền nên tính đúng đắn của chính sách kinh
tế là một trong những tiêu chuẩn đánh giá giá trị cũng như tài năng của họ
Quan điểm của Mạnh Tử về sự công bằng, minh bạch trong việc thu thuế và phân chia ruộng đất nhằm chống quan tham là một trong những quan điểm có thể vận dụng vào thực tiễn xã hội ngày nay Ngoài tính nhân đạo, tư tưởng ấy còn chứng tỏ Mạnh Tử hiểu rõ những bất cập tất yếu nảy sinh từ bộ máy cai trị và cố gắng tìm cách khắc phục
nó không chỉ ở bình diện giáo dục đạo đức, quan lại Ông chỉ ra rằng: Sự bất cập của
cơ chế kinh tế cũng là một trong những nguyên nhân làm nảy sinh tình trạng tham nhũng Do đó để hạn chế tình trạng tham nhũng, nhà nước cần quan tâm đến tính rõ ràng, chặt chẽ của các chính sách nói chung và chính sách kinh tế nói riêng
Trong tư tưởng kinh tế của Mạnh Tử, ngoài các tư tưởng đã đề cập trên đây, còn có những tư tưởng mang tính chiến lược và vẫn có ý nghĩa trong xã hội hiện đại như chủ trưởng “nuôi dưỡng ngồn lợi thiên nhiên” Với tầm nhìn xa, trông rộng, Mạnh Tử khuyến cáo nhà cầm quyền phải có những biện pháp cụ thể ngăn chặn tình trạng chặt
Trang 10phá rừng trái mùa, hay dùng lưới to đánh bắt cá… Đây là điều rất đáng trân trọng trong tư tưởng Mạnh Tử
Từ phương diện kinh tế-xã hội, Mạnh Tử đã thấy được sự cần thiết của sự phân công lao động xã hội Ông phê phán gay gắt thuyết “trọng nông”, “vua tôi cùng cày ruộng” Theo ông, một người không thể tự trồng lúa, dệt vải, làm mũ, sản xuất đồ dùng…Mạnh Tử thể hiện quan điểm mang dấu ấn phân chia giai cấp, danh phận, biên
hộ cho quyền thống trị của giai cấp thống trị, những Mạnh Tử cũng có cơ sở khi chỉ ra rằng: con người không thể có sự bình đẳng về trí tuệ, tài năng, nên tất yếu sẽ không có
sự bình đẳng giữa người với người trên thang bậc xã hội
Như vậy, tư tưởng về phân công lao động xã hội của Mạnh Tử nhằm tạo nên những con người nghĩa vụ Tư tưởng ấy hoàn toàn xa lạ với thói vô trách nhiệm của nhà cầm quyền Nó từng có vai trò nhất định trong lịch sử, trong việc xây dựng nên những con người biết quan tâm tới người khác, tới cộng đồng và được cộng đồng quan tâm lại, tạo cho con người có cuộc sống hòa đồng, tránh được cảm giác cô đơn, mặc cảm trong công việc và trong cuộc sống
4.4 Giáo dân bằng phương pháp phản tỉnh nội tâm
Việc Mạnh Tử chủ trương nhà cầm quyền phải quan tâm đến đời sống kinh tế của dân làm cơ sở cho giáo dục tri thức, đạo đức…một lần nữa cho thấy tính thiết thực trong đường lối chính trị của ông Những quan điểm của Mạnh Tử về sự cần thiết phải linh hoạt, mềm dẻo trong phương pháp giáo dục cũng như về việc khuyến khích sự tự giáo dục và phản tỉnh nội tâm ở mỗi người đến nay vẫn còn những giá trị gợi mở nhất định
về phương pháp và nội dung giáo dục
Một xã hội tiến bộ là xã hội đặt con người ở vị trí trung tâm Tư tưởng chính trị-xã hội của Mạnh Tử với đường lối “nhân chính” coi con người là trung tâm của xã hội, của đất nước là tư tưởng chính trị nhân bản Ông luôn coi hạnh phúc và niềm vui của dân
là thước đo giá trị của kẻ cai trị Đối vưới ông, sự ổn định và hưng thịnh của một chế
độ xã hội không phải là mục tiêu mà là phương tiện để đảm bảo cho đời sống của dân được no đủ, sung túc