LỜI MỞ ĐẦUTrong giai đoạn hiện nay, gần như tất cả các loại hình tổ chức, doanhnghiệp đều sử dụng các kiến thức về khoa học quản lý để tiến hành, tổ chức thựchiện các mục tiêu trong quá
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
PHẦN MỞ ĐẦU 2
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Phương pháp nghiên cứu 3
3 Mục đích 3
Trang 2CHƯƠNG 1: 4
LÝ LUẬN CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐẶC ĐIỂM CỦA 4
HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ 4
1.1 Khái quát chung về nguyên tắc: 4
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của nguyên tắc 4
1.1.2 Cơ chế vận dụng 11
1.2 Các quy luật cơ bản trong quản lý 11
1.2.1 Quy luật cung cầu 11
1.2.2 Quy luật cạnh tranh 12
1.2.3 Quy luật giá trị 12
1.2.4 Quy luật tâm lý 13
CHƯƠNG 2: 14
THỰC TRẠNG HIỆN NAY VỀ ĐẶC ĐIỂM CỦA QUẢN LÝ TẠI 14
CÔNG TY CỐ PHẦN SỮA VIỆT NAM (VINAMILK) 14
2.1 Khái quát chung 14
2.1.1 Giới thiệu chung về Công ty Cố phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) 14
2.1.2 Hoạt động 5 năm gần đây của Công ty Cố phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) 15
2.2 Đánh giá thực trạng 17
2.2.1 Thực trạng 17
2.2.2 Kết quả đạt được 22
2.2.3 Hạn chế 23
2.2.4 Nguyên nhân của hạn chế 25
Trang 3CHƯƠNG 3: 26
CÁC GIẢI PHÁP CHO NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ ĐẶC ĐIỂM CỦA 26
QUẢN LÝ TẠI CÔNG TY CỐ PHẦN SỮA VIỆT NAM (VINAMILK) 26
3.1 Nguyên nhân đề ra giải pháp 26
3.2 Các giải pháp cơ bản 26
3.2.1 Giải pháp về nguyên liệu 26
3.3.2 Giải pháp về quản trị chuỗi 27
KẾT LUẬN 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn hiện nay, gần như tất cả các loại hình tổ chức, doanhnghiệp đều sử dụng các kiến thức về khoa học quản lý để tiến hành, tổ chức thựchiện các mục tiêu trong quá trình hoạt động Khoa học quản lý góp phần quantrọng đối với mỗi tổ chức, doanh nghiệp, đối với sự phát triển nền kinh tế quốcdân, chính trị, văn hóa xã hội Chính vì vậy, bộ môn khoa học quản lý ra đời làmột tất yếu, trang bị cho người học những kiến thức cơ bản về quản lý nóichung, quản lý kinh doanh nói riêng như một khoa học, một nghệ thuật và mộtnghề
Nắm vững các nguyên lý quản lý, quy luật quản lý, các phạm trù các kháiniệm cơ bản của khoa học quản lý sẽ giúp cho người học, người làm lĩnh vựcquản lý có những cơ sở lý luận và phương pháp luận để nhận thức một cáchđúng đắn các môn khoa học khác Hơn nữa, vận dụng các nguyên tắc, phươngpháp quản lý tại đơn vị mình làm việc, giúp nâng cao hiệu quả quản lý, đáp ứngđược mục tiêu đề ra của tổ chức, doanh nghiệp nhằm đạt được những mục đích
đã đề ra một cách tối ưu nhất
Vai trò quan trọng của khoa học quản lý ngày càng được khẳng định trongthực tiễn Ngày nay những nhà hoạt động quản lý mang tính chuyên nghiệpkhông những trong các tổ chức kinh doanh mà cả các tổ chức phi kinh doanh.Hoạt động quản lý đã trở thành một nghề, có vị vai trò nhất định trong xã hội
Sự phát triển nhanh và rộng khắp các Trường đào tạo quản trị chính khóacũng như các chương trình huấn luyện các kỹ năng quản lý tại các doanh nghiệpcàng khẳng định tính chuyên nghiệp hóa của nghề quản lý Quản lý vừa là khoahọc và vừa là nghệ thuật nên ngoài kiến thức được đào tạo trong nhà trường, đểtrở thành những nhà quản lý giỏi cần phải biết sử dụng nghệ thuật quản lý.Trong thực tiễn có thể đào tạo được những nhà quản trị chuyên nghiệp hay nói
Trang 5cách khác, quản lý là một nghề nghiệp và có thể truyền dạy kiến thức mà ngườihọc có thể tiếp thu
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đốitượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, cácthời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biếnđộng Quản lý là một chức năng lao động của xã hội bắt nguồn từ tính chất xãhội của lao động Quản lý nếu hiểu đơn giản đó là hoạt động điều phối của chủthể quản lý lên đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu của quản lý Ngay từ thờinguyên thủy xã hội loài người khi có hoạt động nhóm tổ chức sản xuất săn bắnhái lượm con người đã phải phối hợp phân công công việc để cùng thực hiện cáchoạt động nhằm mục tiêu duy trì và phát triển sự sống do vậy cần có sự quản lý.Ngày nay xã hội con người càng phát triển thì đòi hỏi về sự phối hợp điều hòacác hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội ngày càng cao từ đó yêu cầu về nghiêncứu khoa học quản lý càng được quan tâm nhiều hơn
Khoa học quản lý được chú trọng tất cả các hoạt động kinh tế , xã hội , cácchương trình dự án, các hoạt động tổ chức Công ty Cổ phần sữa Việt Nam(Vinamilk) là một trong các doanh nghiệp lớn trên thị trường Việt Nam và đượcHãng xếp hạng tín nhiệm Standard and Poor's (S&P's) đưa vào danh sách 100doanh nghiệp lớn nhất ASEAN về vốn hóa Công ty đã có vị thế thống trị trênthị trường sữa Việt Nam với độ nhận diện thương hiệu cao và lợi nhuận ổn định
5 năm qua Việc quản lý phải tuân theo những quy luật, việc nhận thức và vậndụng các quy luật quản lý sẽ giúp đưa ra các nguyên tắc trong quản lý Để đảmbảo hiệu quả công tác quản lý cần tuân thủ những nguyên tắc cơ bản trong quản
lý, trên cơ sở những nguyên tắc này để xây dựng nên nhận thức và hành động
Trang 6của người quản lý là cơ sở để xây dựng các phương pháp quản lý nhằm đạt tớimục tiêu của quản lý
Để hiểu sâu hơn về các nguyên tắc trong quản lý và vận dụng các nguyên tắcnày trong hoạt động quản lý, em lựa chọn đề tài “Đặc điểm của quản lý tại Công
ty Cố phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) trong quá trình hội nhập quốc tế” là tiểuluận môn Khoa học quản lý của mình
Trong quá trình nghiên cứu chuyên đề không thể tránh khỏi hạn chế ,thiếu sót Vì vậy, em mong được sự đóng góp ý kiến của thầy, cô để bài tiểu luậncủa em được hoàn chỉnh hơn Qua đây, cho phép em gửi lời cảm ơn đến Ban chủnhiệm khoa và các thầy cô trong khoa đã giảng dạy và hướng dẫn em trong quátrình học tập
2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sự dụng một số phương pháp cụ thể trong đó chủ yếu là phương phápluận nghiên cứu và tổng hợp, lịch sử và logic, thu thập thông tin, quan sát, thống
kê so sánh và phân tích
3 Mục đích
Nghiên cứu tìm hiểu về các nguyên tác cơ bản trong khoa học quản lý, từ đóvận dụng các nguyên tắc này vào các hoạt động quản lý trong Công ty Cố phầnSữa Việt Nam (Vinamilk) trong quá trình hội nhập quốc tế
4 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk)
- Thời gian: 5 năm
5 Kết cấu đề tài
Ngoài Phần mở đầu ra, đề tài chia làm 3 chương:
Trang 7- Chương 1: Lý luận chung liên quan đến đặc điểm của hoạt động quản lý
- Chương 2: Thực trạng hiện nay về đặc điểm của quản lý tại Công ty Cố phần Sữa Việt Nam (Vinamilk)
- Chương 3: Các giải pháp cho những vấn đề về đặc điểm của quản lý tại Công ty Cố phần Sữa Việt Nam (Vinamilk)
CHƯƠNG 1:
LÝ LUẬN CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐẶC ĐIỂM CỦA
HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ 1.1 Khái quát chung về nguyên tắc:
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của nguyên tắc
1.1.1.1 Khái niệm
Do vai trò đặc biệt quan trọng của quản lý đối với sự phát triển kinh tế, từnhững năm 1950 trở lại đây đã xuất hiện rất nhiều công trình nghiên cứu về lýthuyết và thực hành quản lý với nhiều cách tiếp cận khác nhau Có thể nêu ramột số cách tiếp cận sau:
a Tiếp cận kiểu kinh nghiệm
Cách tiếp cận này phân tích quản lý bằng cách nghiên cứu kinh nghiệm,
mà thông thường là thông qua các trường hợp cụ thể Những người theo cáchtiếp cận này cho rằng, thông qua việc nghiên cứu những thành công hoặc nhữngsai lầm trong các trường hợp cá biệt của những nhà quản lý, người nghiên cứu sẽhiểu được phải làm như thế nào để quản lý một cách hiệu quả trong trường hợptương tự
Trang 8b Tiếp cận theo hành vi quan hệ cá nhân
Cách tiếp cận theo hành vi quan hệ cá nhân dựa trên ý tưởng cho rằng quản lý làlàm cho công việc được hoàn thành thông qua con người, và do đó, việc nghiêncứu nó nên tập trung vào các mối liên hệ giữa người với người
c Tiếp cận theo lý thuyết quyết định
Cách tiếp cận theo lý thuyết quyết định trong quản lý dựa trên quan điểmcho rằng, người quản lý là người đưa ra các quyết định, vì vậy cần phải tập trungvào việc ra quyết định Sau đó là việc xây dựng lý luận xung quanh việc ra quyếtđịnh của người quản lý
d Tiếp cận toán học
Các nhà nghiên cứu theo trường phái này xem xét công việc quản lý trướchết như là một sự sử dụng các quá trình, ký hiệu và mô hình toán học Nhóm nàycho rằng, nếu như việc quản lý như xây dựng tổ chức, lập kế hoạch hay ra quyếtđịnh là một quá trình lôgich, thì nó có thể biểu thị được theo các ký hiệu và các
mô hình toán học Vì vậy, việc ứng dụng toán học vào quản lý sẽ giúp ngườiquản lý đưa ra được những quyết định tốt nhất
e Tiếp cận theo các vai trò quản lý
Cách tiếp cận theo vai trò quản lý là một cách tiếp cận mới đối với lýthuyết quản lý thu hút được sự chú ý của cả các nhà nghiên cứu lý luận và cácnhà thực hành Về căn bản, cách tiếp cận này nhằm quan sát những cái mà thực
tế các nhà quản lý làm và từ các quan sát như thế đi tới những kết luận xác địnhhoạt động (hoặc vai trò) quản lý là gì
Trang 9Từ những cách tiếp cận khác nhau đó, có nhiều khái niệm khác nhau vềquản lý như:
- Quản lý là nghệ thuật nhằm đạt mục đích thông qua nỗ lực củangười khác
- Quản lý là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm đưa ra cácquyết định
- Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của nhữngcộng sự trong cùng một tổ chức
- Quản lý là quá trình phối hợp các nguồn lực nhằm đạt được nhữngmục đích của tổ chức
- Hoặc đơn giản hơn nữa, quản lý là sự có trách nhiệm về một cái gìđó
Theo cách tiếp cận hệ thống, mọi tổ chức (cơ quan quản lý nhà nước, đơn
vị sự nghiệp, doanh nghiệp ) đều có thể được xem như một hệ thống gồm haiphân hệ: chủ thể quản lý và đối tượng quản lý Mỗi hệ thống bao giờ cũng hoạtđộng trong môi trường nhất định (khách thể quản lý)
Từ đó có thể đưa ra khái niệm: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng địch của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động
Trang 10Sơ đồ: Lôgich của khái niệm quản lý
Với khái niệm trên, quản lý phải bao gồm các yếu tố (điều kiện) sau:
- Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động
và ít nhất một đối tượng quản lý tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý
và các khách thể có quan hệ gián tiếp với chủ thể quản lý Tác động có thểchỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần
- Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng quản
lý và chủ thể quản lý Mục tiêu này là căn cứ để chủ thể quản lý đưa ra cáctác động quản lý
- Chủ thể phải thực hành việc tác động và phải biết tác động Vì thế,đòi hỏi chủ thể phải biết tác động và điều khiển đối tượng một cách có hiệuquả
- Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, hoặc một cơ quan quản lýcòn đối tượng quản lý có thể là con người (một hoặc nhiều người) giới vôsinh hoặc sinh vật
Trang 11- Khách thể là các yếu tố tạo nên môi trường của hệ thống
1.1.1.2 Đặc điểm
1.1.1.2.1 Quản lý là hoạt động dựa vào quyền uy của chủ thể quản lý
Để có thể tiến hành có hiệu quả hoạt động quản lý, chủ thể quản lý (Các tổchức và cá nhân làm nhiệm vụ quản lý) phải có quyền uy nhất định Quyền uycủa chủ thể quản lý bao gồm:
- Quyền uy về tổ chức hành chính
- Quyền uy về kinh tế
- Quyền uy về trí tuệ
- Quyền uy về đạo đức
Một cơ quan quản lý mạnh , một nhà quản lý giỏi phải hội đủ cả bốn yếu
tố quyền uy nêu trên
1.1.1.2.2 Quản lý là hoạt động chủ quan của chủ thể quản lý
Các quyết định quản lý bao giờ cũng được xây dựng và ban hành bởinhững tập thể và cá nhân những người quản lý cụ thể Trong khi đó , đối tượngquản lý (nền kinh tế, doanh nghiệp) tồn tại và vận động theo những quy luậtkhách quan, vì vậy, hiệu quả của các quyết định quản lý tuỳ thuộc vào năng lựcnhận thức vận dụng các quy luật khách quan vào điều kiện kinh tế - xã hội cụ thểcủa chủ thể quản lý Từ đây đặt ra yêu cầu phải lựa chọn những người có đủphẩm chất và năng lực tham gia quản lý ở tầm vĩ mô và tầm vĩ mô
1.1.1.2.3 Quản lý bao giờ cũng liên quan đến việc trao đổi thông tin và đều
Trang 12có mối liên hệ ngược
Quản lý được tiến hành nhờ có thông tin Thông tin chính là các tín hiệumới được thu nhận, được hiểu và được đánh giá là có ích cho các hoạt độngquản lý (tức là cho cả chủ thể quản lý và đối tượng quản lý) Chủ thể quản lýmuốn tác động lên đối tượng quản lý thì phải đưa ra các thông tin (mệnh lệnh,chỉ thị, nghị quyết, quyết định ), đó chính là thông tin điều khiển Đối tượngquản lý muốn định hướng hoạt động của mình thì phải tiếp nhận các thông tinđiều khiển của chủ thể cùng các đảm bảo vật chất khác để tính toán và tự điềukhiển mình (nhằm thực khi mệnh lệnh của chủ thể quản lý) Vì vậy, quá trìnhquản lý là một quá trình thông tin
Đối với chủ thể quản lý, sau khi đã đưa ra các quyết dịnh cùng các đảmbảo vật chất cho đối tượng quản lý thực hiện, thì họ phải thường xuyên theo dõikết quả thực hiện các quyết định của đối tượng quản lý thông qua các thông tinphản hồi (được gọi là các mối liên hệ ngược) của quản lý
Quá trình quản lý thường bị đổ vỡ vì các luồng thông tin phản hồi bị áchtắc (bị bóp méo, bị cắt xén, bị ngăn chặn)
1.1.1.2.4 Quản lý là một khoa học, một nghệ thuật, một nghề
a Quản lý là một khoa học
Nói quản lý là một khoa học và quản lý có đối tượng nghiên cứu riêng làcác mối quan hệ quản lý Quan hệ quản lý là quan hệ tác động qua lại giữa chủthể quản lý và đối tượng quản lý trong toàn bộ nền kinh tế cũng như từng lĩnhvực riêng biệt Các quan hệ quản lý Thang tính chất kinh tế, chính trị, tâm lý, xãhội , tổ chức, hành chính
Trang 13Quản lý có phương pháp luận nghiên cứu riêng và chung, đó là quan điểmtriết học Mác- Lênin, quan điểm hệ thống và các phương pháp cụ thể: phân tích,toán kinh tế, xã hội học
Tính khoa học của quản lý thể hiện ở quan điểm và tư duy hệ thống, tôntrọng quy luật khách quan, lý luận gắn với thực tiễn Chỉ có nắm vững khoa họcthì người quản lý mới có đầy đủ bản lĩnh, vững vàng trong mọi tình huống, nhất
là trong điều kiện đầy biến động và phức tạp của nền kinh tế thị trường
Gọi là một khoa học còn là kết quả của hoạt động nhận thức đòi hỏi phải
có một quá trình , phải tổng kết rút ra bài học và không ngừng hoàn thiện Khoahọc là những lý luận quản lý đã được hệ thống hoá Vì vậy, để quản lý có hiệuquả nhà quản lý phải không ngừng học tập để nâng cao trình độ của mình
kế, kinh nghiệm của người xưa Nghệ thuật do kinh nghiệm tích luỹ được và do
sự mẫn cảm, tài năng của từng nhà quản lý Thực tiễn cho thấy, nếu nhà quản lýchỉ đơn thuần nắm vững lý thuyết quản lý mà không nhanh nhạy xử lý các tìnhhuống bằng tài nghệ của mình thì sẽ dẫn đến giáo điều, bảo thủ, bỏ lỡ thời cơkhông đạt được hiệu quả cao trong công việc Ngược lại, nếu chỉ có nghệ thuậtbằng kinh nghiệm và khả năng của mình mà thiếu căn cứ khoa học và cơ sở
Trang 14thông tin thì mặc dù trong một số tình huống có thể giải quyết nhanh chóng côngviệc, nhưng về cơ bản và lâu dài kết quả sẽ thiếu vững chắc và sẽ bó tay khi cónhững vấn đề cần giải quyết vượt ra khỏi tầm kinh nghiệm
Như vậy, trong quản lý cũng như các lĩnh vực thực hành khác, khoa học
và nghệ thuật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Khoa học càng tiến bộ thì nghệthuật càng hoàn thiện Có thể nói rằng, cho tới nay ngành khoa học làm cơ sởcho công tác quản lý còn khá sơ sài trong khi tình huống trong thực tế phải xử lýcực kỳ phức tạp buộc người quản lý phải vận dụng nhiều hơn tài năng, kinhnghiệm Thực trạng này đòi hỏi các thà khoa học phải tiếp tục đi sâu nghiên cứunhững vấn đề lý luận quản lý để không ngừng nâng cao tính khoa học của quản
lý Mặt khác, các nhà quản lý cần học tập và vận dụng kiến thức quản lý để hoànthiện hoạt động quản lý của mình, phải chú ý đúc rút kinh nghiệm từ nhữngthành công và thất bại, rèn luyện kỹ năng xử lý các tình huống trong quản lý
c Quản lý là một nghề (Nghề quản lý)
Đặc điểm này đòi hỏi các nhà quản lý phải có tri thức qua tự học, tự tíchlũy và qua các quá trình được đào tạo ở các cấp độ khác nhau, hoặc ít nhất họphải có các chuyên gia về quản lý làm trợ lý cho họ Đồng thời nhà quản lý phải
có niềm tin và lương tâm nghề nghiệp
1.1.2 Cơ chế vận dụng
Cơ chế vận dụng quy luật gồm 4 khâu:
- Nhận thức các quy luật: Có 2 cách để nhận thức quy luật:
+ Nhận biết bằng kinh nghiệm
+ Nhận biết qua hệ thống lý luận khoa học
Trang 15- Lựa chọn và sử dụng các hình thức vận dụng cụ thể
- Xác định các phương pháp phối hợp các hoạt động chung của con người
1.2 Các quy luật cơ bản trong quản lý
1.2.1 Quy luật cung cầu
- Khái niệm: Thông qua sự điều chỉnh của thị trường, một giá mức cân bằng (còn gọi là mức giá thị trường) và một lượng giao dịch cân bằng lượng cung cấp bằng lượng nhu cầu) sẽ được xác định
- Tính chất:
+ Cung > cầu => giá giảm => sản xuất giảm
+ Cung < cầu => giá tăng => sản xuất tăng
+ Cầu là số lượng hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng sẵn sàng và
có khả năng mua tại các mức giá trong khoảng thời gian xác định phải hiểu hai yếu tố cơ bản: khả năng mua và ý muốn sẵn sàng mua hàng hóa
+ Lương cầu là lượng hàng hóa nào đó mà 1 cá thể có nhu cầu, họ có
đủ ngân sách nhà nước và mức giá cả xác định của nó và mức giá cả xác định của hàng hóa
+ 5 yếu tố quyết định lượng cầu thị yếu, giá (tỷ lệ nghịch), thu nhật(tỷ lệ thuận), giá cả kỳ hóa liên quan, kỳ vọng
- Ý nghĩa: Từ cơ chế tự điều tiết của thị trường cung - cầu, giá cả sẽ là tín hiệu
để người mua và người bán điều chỉnh hành vi của mình Từ đó đề người quản lý đưa ra phán đoán và quyết định về thị trường
1.2.2 Quy luật cạnh tranh
- Khái niệm: Cạnh tranh kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhàsản xuất, nhà phân phối, bán lẻ, người tiêu dùng, thương nhân )
Trang 16- Nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêuthụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế, thương mạikhác để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình
- Có 2 loại cạnh tranh: gồm cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lànhmạnh
- Ý nghĩa :
+ Cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt cho người tiêu dùng
+ Cạnh tranh sẽ đem đến cho khách hàng giá trị tối ưu nhất đối với nhữngđồng tiền mồ hôi công sức của họ
1.2.3 Quy luật giá trị
- Khái niệm: Quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và lưu thông hàng hóa, đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự tồn tại vàphát huy tác dụng của quy luật giá tri
- Yêu cầu của quy luật giá trị
+ Sản xuất hàng hóa được thực hiện theo hao phí lao động xã hội cần thiết, nghĩa là cần tiết kiệm lao động (cả lao động quá khứ và lao động sống)
+ Trong trao đổi phải tuân theo nguyên tắc ngang giá
- Tác động của quy luật giá trị
+ Thứ nhất, điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa
+ Thứ hai, kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất laođộng, thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển
+ Thứ ba, thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hoá người sản xuất hànghoá thành người giàu, người nghèo