Kinh nghiệm quản lý đất nớc từ thời xa xa cho thấy: Nhân dân là cội nguồn, nhân dân quyết định sự hng vong của xã tắc, bởi thế, không bao giờ đợc xem nhẹ ý nguyện của nhân dân.Từ cơ sở đ
Trang 1Mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài
Khiếu nại tố cáo là hiện tợng khách quan trong đời sống xã hội Bởi
lẽ, trong xã hội nói chung, và trong quá trình quản lý nhà nớc nói riêng không thể tránh khỏi tình trạng những vi phạm pháp luật xâm phạm đến lợi ích Nhà nớc hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của công dân hay tổ chức, xã hội Từ xa tới nay, trong bất kì nhà nớc nào, dù phát triển theo xu hớng chính trị nào đi chăng nữa, thì các giai cấp thống trị, các nhà cầm quyền đều muốn chế độ của mình đợc trờng tồn Do đó, các nhà cầm quyền ở mức độ này hay mức độ khác, đều quan tâm và cho phép ngời dân đợc kêu oan đến cơ quan nhà nớc để
đợc xem xét và giải quyết, nhằm làm dịu lòng dân và ổn định xã hội Mặt khác, thông qua việc ngời dân khiếu nại, tố cáo và việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan nhà nớc có thẩm quyền, các hiện tợng tiêu cực và vi phạm pháp luật trong xã hội đợc kịp thời phát hiện và xử lý, góp phần giữ vững trật
tự, kỉ cơng xã hội
ở nớc ta, từ khi Cách mạng tháng Tám thành công, nhà nớc Việt nam dân chủ cộng hoà ra đời cho đến nay, Đảng và Nhà nớc luôn quan tâm đến công tác giải quyết khiếu nại tố cáo của của công dân và coi đây là nhiệm vụ thờng xuyên của các cấp, các ngành trong hoạt động quản lý Nhà nớc Tuy nhiên, từ khi nớc ta bớc vào thực hiện công cuộc đổi mới, nhiều cơ chế, chính sách, pháp luật và các điều kiện kinh tế - xã hội đợc đổi mới, tình hình khiếu nại tố cáo cũng đang có chiều hớng gia tăng cả về số lợng, qui mô và mức độ, đặt ra những vấn đề hết sức bức xúc, phức tạp Thậm chí còn xuất hiện nhiều "điểm nóng" gây ảnh hởng không nhỏ đến an ninh, chính trị, trật tự và
ổn định xã hội ở một số địa phơng trong cả nớc Đây là những vấn đề nhạy cảm, đòi hỏi phải giải quyết một cách thận trọng, chặt chẽ và toàn diện Mặc dù đã có luật khiếu nại, tố cáo và các văn bản hớng dẫn thi hành, song đến nay, luật khiếu nại, tố cáo mới thực hiện đợc hơn hai năm, đã bộc lộ những bất cập giữa lý luận và thực tiễn Luật cha
Trang 2phản ánh đợc sự đa dạng của khiếu nại, tố cáo Nh khiếu nại, tố cáo đông ngời; trình tự giải quyết khiếu nại, tố cáo đông ngời; thời hạn giải quyết khiếu nại, tốcáo; chế tài trách nhiệm cha rõ ràng, cha cụ thể và cha có tính khả thi; công tác quản lý và xử lý khiếu nại tố cáo của công dân còn nhiều lúng túng, thủ tục phiền hà cho dân Tình trạng đùn đẩy, né tránh, ngại va chạm, thiếu trách nhiệm cha đợc khắc phục triệt để Việc tổ chức tiếp dân ở nhiều cơ quan, đơn vị, cơ sở còn hình thức Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân trong một số trờng hợp còn bị vi phạm, có lúc, có nơi khá nghiêm trọng Tất cả những điều đó đang xói mòn đến lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nớc, ảnh hởng không nhỏ đến sự nghiệp xây dựng Nhà nớc pháp quyền ở nớc ta hiện nay Kinh nghiệm quản lý đất nớc từ thời xa xa cho thấy: Nhân dân là cội nguồn, nhân dân quyết định sự hng vong của xã tắc, bởi thế, không bao giờ đợc xem nhẹ ý nguyện của nhân dân.
Từ cơ sở đó, vấn đề "Hoàn thiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân trong điều kiện xây dựng nhà nớc pháp quyền ở nớc ta hiện nay" là vấn đề rất cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn Chọn vấn đề này làm luận văn thạc sĩ, tôi hy vọng
sẽ đợc đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào việc đảm bảo quyền khiếu nại, tố cáo của công dân, nhằm củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nớc, để hớng tới xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh
2- Tình hình nghiên cứu:
Cho đến nay, đã có một số bài viết, hay một vài công trình khoa học nghiên cứu dới góc độ khác nhau và ở mức độ này hay mức độ khác cũng có liên quan đến vấn đề này Chẳng hạn, vấn đề: " Giải quyết khiếu tố của nhân dân - thực trạng và những bài học kinh nghiệm" - đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Khoa Nhà nớc - Pháp luật, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ( Năm 1998-1999 ); "Một số vấn
đề đặt ra khi triển khai luật khiếu nại, tố cáo" của Vũ Văn trong tạp chí thanh tra số 3/1999; "Những yêu cầu đặt ra trong việc thực hiện các qui định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo" của Phạm Văn Khanh; và "Những kinh nghiệm rút ra qua công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo thời gian qua" của Ngô Đăng Huynh trong tạp chí thanh tra số
Trang 39/1999; "Một số ý kiến về đổi mới việc giải quyết khiếu nại tố cáo của chính quyền địa phơng" của Thạc sĩ Nguyễn Hạnh trên tạp chí Dân chủ - Pháp luật số 5/2000 Tất cả các công trình trên đều có đề cập đến vấn đề này, song nhìn chung cha có công trình nào nghiên cứu một cách trực tiếp và hệ thống vấn đề "Hoàn thiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân trong điều kiện xây dựng Nhà nớc pháp quyền ở nớc ta hiện nay" Đây là vấn đề mới mẻ, tuy nhiên luận văn có thể tiếp thu một cách có chọn lọc những hạt nhân hợp lý của các công trình khoa học pháp lý có liên quan, để phát triển và hoàn chỉnh vấn đề nghiên cứu của mình.
3- Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích của luận văn : làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân Từ đó đa ra những phơng h-ớng và giải pháp sát thực để hoàn thiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân, nhằm góp phần bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân trong điều kiện xây dựng Nhà nớc pháp quyền ở nớc ta hiện nay
- Nhiệm vụ của luận văn: để đạt đợc mục tiêu trên, luận văn có các nhiệm vụ sau đây:
+ Làm rõ quan niệm về khiếu nại, tố cáo và quyền khiếu nại, tố cáo của công dân ở nớc ta hiện nay
+ Phân tích, làm rõ vai trò của pháp luật đối với quyền khiếu nại, tố cáo của công dân
+ Làm rõ đặc trng cơ bản của Nhà nớc pháp quyền với yêu cầu hoàn thiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân
+ Phân tích quá trình hình thành và phát triền quyền khiếu nại, tố cáo của công dân qua Hiến pháp và pháp luật Việt Nam
+ Phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó tìm ra những phơng hớng và giải pháp cơ
Trang 4bản hoàn thiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân trong điều kiện xây dựng Nhà nớc pháp quyền ở nớc ta hiện nay
4- Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Pháp luật về khiếu nại, tố cáo có nội dung rất phong phú và đa dạng trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội (Hành chính, thuế, đất đai, nhà ở, xử lý vi phạm hành chính ) và với nhiều loại chủ thể khiếu nại, tố cáo (có thể là công dân, tổ chức hay ng-
ời nớc ngoài sống trên lãnh thổ Việt Nam ) Do vậy, trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các qui định pháp luật về quyền khiếu nại của công dân đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính và quyền tố cáo của công dân trong pháp luật hiện hành mà chủ yếu là Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 và Nghị định 67/1999/NĐ-CP ngày 7/8/1999 của Chính phủ về quy định chi tiết và hớng dẫn thi hành luật khiếu nại, tố cáo Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu có tham khảo quyền khiếu nại, tố cáo của một số triều đại phong kiến và quá trình hình thành quyền khiếu nại, tố cáo của công dân trong pháp luật Việt Nam đồng thời có mở rộng nghiên cứu một số vấn đề có liên quan để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu của luận văn
5- Phơng pháp nghiên cứu:
Luận văn vận dụng các phơng pháp triết học Mác- Lê nin: phơng pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phơng pháp lịch sử, đồng thời có sử dụng tổng hợp các phơng pháp phân tích - tổng hợp, phơng pháp so sánh, khảo sát thực tiễn trong quá trình giải quyết các vấn đề đặt ra của đề tài
6- Những điểm mới của luận văn:
Luận văn là công trình bớc đầu nghiên cứu vấn đề một cách có hệ thống việc hoàn thiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân trong Luật khiếu nại, tố cáo, do vậy luận văn có thể có những đóng góp mới sau đây:
- Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân
Trang 5- Phân tích đánh giá có hệ thống thực trạng về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân trong pháp luật khiếu nại, tố cáo Việt Nam
- Đề xuất đợc một số phơng hớng và giải pháp cơ bản góp phần hoàn thiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân trong điều kiện xây dựng Nhà nớc pháp quyền ở nớc ta hiện nay
7- Kết cấu của luận văn:
Luận văn gồm phần mục lục, mở đầu, 3 chơng, 7 tiết, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo
Trang 6Chơng 1
Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân và vai trò pháp luật trong việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của
công dân 1.1 Khái niệm khiếu nại, tố cáo và quyền khiếu nại, tố cáo của công dân
1.1.1 Khái niệm khiếu nại, tố cáo:
Nhà nớc ra đời trở thành công cụ bạo lực của giai cấp thống trị, thông qua việc sử dụng Nhà nớc, giai cấp thống trị đã điều hoà đợc những mâu thuẫn giai cấp trong xã hội, bảo vệ đợc quyền lợi của giai cấp mình Tuy nhiên bất kì Nhà nớc nào muốn tồn tại và phát triển đều phải an dân và ổn định xã hội Bởi, nếu không có dân thì cũng không có Nhà nớc Do vậy, trong hoạt động của mình, mọi Nhà nớc đều có những qui định trong luật việc bảo vệ công dân của mình Về phía ngời dân, dù ngời có hiểu biết cao đến hiểu biết thấp đều nhận thức rằng: dới sự bảo hộ của Nhà nớc thì mọi quyền lợi của mình mới đợc bảo đảm, đợc bảo vệ Song, do bản chất của mỗi kiểu Nhà nớc khác nhau nên mức độ bảo hộ cũng có khác nhau Mặt khác, bản thân Nhà nớc cũng luôn mong muốn bộ máy do mình lập ra, trong đó có đội ngũ quan chức Nhà nớc phải tuân thủ sự điều khiển, quản lý của Nhà nớc, không muốn bất kì ai, tổ chức nào trong bộ máy nhà nớc lại phá vỡ những qui định (pháp luật) mà Nhà nớc đã đặt ra Thế nhng, trong thực tiễn, từ nhiều lý do khác nhau, chẳng hạn, từ sự chi phối của lợi ích, của tình cảm hay từ sự yếu kém trong quản lý mà một bộ phận nào đó đã vô tình hoặc
cố ý làm sai, thậm chí vi phạm nghiêm trọng những quy định của Nhà nớc, của pháp luật làm thiệt hại đến lợi ích của nhà nớc , quyền lợi hợp pháp của công dân, tổ chức, xã hội Những sai lầm, vi phạm đó cũng khó giữ kín, và nh vậy tố cáo xuất hiện ở góc
độ khác, mỗi công dân trong hoạt động thực tiễn của mình, dù ít, dù nhiều đều có quan
hệ với bộ máy chính quyền nhà nớc , với tổ chức xã hội và các công dân khác Trong các quan hệ đó, có lúc, có nơi với nhiều lý do khác nhau, những ngời trong bộ máy
Trang 7công quyền cũng đã vi phạm đến lợi ích hợp pháp của công dân, và nh vậy xuất hiện khiếu nại
Trong đời sống xã hội, khi quyền, lợi ích hợp pháp của công dân bị xâm phạm
từ phía các cơ quan nhà nớc, ngời dân có quyền khiếu nại các cơ quan nhà nớc đề đòi lại sự công bằng cho bản thân, đó là lẽ đơng nhiên mà bất kỳ ngời nào, thời đại nào cũng hiểu Trong xã hội cũ, những hành vi vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội có một số ngời cho qua, bởi họ không tin vào sự phân xử công minh, công bằng của Nhà nớc Nhng cũng có không ít ngời với trách nhiệm công dân đã dũng cảm ra khiếu nại,
tố cáo hành vi sai trái đó để bảo vệ lợi ích Nhà nớc, quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân, tập thể và xã hội Chính vì lẽ đó mà khiếu nại, tố cáo xuất hiện trong xã hội có giai cấp, có Nhà nớc là một tất yếu khách quan
Về mặt tâm lý, khiếu nại, tố cáo xuất hiện trong ý chí chủ quan của ngời đi
khiếu nại, tố cáo Trớc hết những hành vi, hiện tợng vi phạm đó tác động vào nhận thức của ngời ta và chỉ khi ngời ta thấy ức chế, cần giải toả bằng cách bày tỏ với cơ quan nào đó để hy vọng đợc giải quyết thì họ mới yên lòng Yếu tố tâm lý này cũng lớn dần theo thời gian nếu nh những kiến nghị, tố cáo đó không đợc xem xét giải quyết kịp thời Tuy nhiên trong nhận thức của mỗi ngời, do trình độ bản thân, nhã quan, t duy lô-gích về vấn đề mà có ngời cho là vi phạm trầm trọng, có ngời cho là không vi phạm Mặt khác, nhiều trờng hợp do không ở trong hoàn cảnh cụ thể nên có ngời không hiểu
đợc bản chất vấn đề, mới thấy hiện tợng đã suy luận ra bản chất theo t duy cá nhân của mình Trong xã hội có ngời nhút nhát, ngại va chạm, thậm chí đúng là lợi ích của mình
bị vi phạm nhng cũng không dám lên tiếng phản đối Ngợc lại, cũng có những ngời luôn tởng rằng, cho rằng mọi ngời đều sai, lợi ích của mình đã bị xâm phạm Chính vì vậy mà khiếu nại, tố cáo còn là yếu tố tâm lý của con ngời
Dới góc độ pháp lý, luật khiếu nại, tố cáo đợc Quốc hội nớc ta thông qua ngày
2/12/1998 , tại Điều 2 Luật đã giải thích các khái niệm:
" 1- Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức
theo thủ tục do luật này qui định đề nghị tổ chức có thẩm quyền xem xét lại quyết định
Trang 8hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỉ luật cán bộ, công chức khi có căn
cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích của mình
2- Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do luật này qui định báo cho cơ quan,
tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan,
tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích của Nhà nớc, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức" (Khoản 2 Điều 2 Luật khiếu nại, tố cáo)
10- Quyết định hành chính là quyết định bằng văn bản của cơ quan hành
chính nhà nớc hoặc của ngời có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nớc đợc áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tợng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt
động quản lý hành chính
11- Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nớc hoặc của
ngời có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nớc khi thực hiện nhiệm vụ theo qui
định của pháp luật "
Từ khái niệm trên chúng ta có thể thấy rằng, giữa khiếu nại và tố cáo có điểm chung là đều phát sinh khi có vi phạm pháp luật (hoặc bị ngời khiếu nại, tố cáo cho là
vi phạm pháp luật) của cơ quan, tổ chức, hoặc cá nhân và họ đề nghị cơ quan nhà nớc
có thẩm quyền xem xét, giải quyết, xử lý việc làm đó để khôi phục hoặc bảo vệ lợi ích của Nhà nớc, của tập thể; quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Tuy nhiên, giữa khiếu nại và tố cáo có những điểm khác nhau cơ bản sau đây :
Trang 9với mục đích cá nhân Để cá thể hoá trách nhiệm của ngời tố cáo, tạo điều kiện cho cơ quan nhà nớc có thể xử lý ngời cố tình tố cáo sai sự thật, Luật quy định chủ thể tố cáo phải là công dân (cá nhân) chứ không bao gồm cơ quan, tổ chức nh chủ thể khiếu nại.
Điểm khác nữa, chủ thể bị khiếu nại có thể đồng thời là chủ thể giải quyết khiếu nại còn chủ thể bị tố cáo không đơc phép làm nh vậy
- Về đối tợng:
Đối tợng khiếu nại bao gồm: quyết định hành chính, hành vi hành chính của các cơ quan hành chính nhà nớc hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức trong khi đối tợng của tố cáo rộng hơn nhiều, bao gồm: hành vi vi phạp pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nớc, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức
- Về nguyên nhân phát sinh:
Đối với khiếu nại là khi quyền, lợi ích của bản thân ngời khiếu nại bị xâm phạm, còn đối với tố cáo là khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợi ích không chỉ của cá nhân ngời tố cáo mà còn cả lợi ích của cơ quan, tổ chức và công dân khác Cũng có trờng hợp quyền và lợi ích của ngời tố cáo không nhất thiết phải gắn liền với vấn đề tố cáo
Trang 10sai sót để khắc phục, sửa chữa kịp thời, nhanh chóng Những sai sót trong khiếu nại ờng nhỏ, đơn giản hơn trong tố cáo, dễ khắc phục hơn so với trong tố cáo Tính chất tố cáo thờng nguy hiểm, phức tạp hơn, mức độ sai phạm nặng hơn, ảnh hởng đến danh dự
th-và phẩm chất của ngời bị tố cáo, do đó, ngời bị tố cáo bao giờ cũng hay lẫn tránh tránh nhiệm, có nhiều thủ đoạn để đối phó nhằm che giấu khuyết điểm và hành vi vi phạm pháp luật
Do có những điểm khác nhau cơ bản nêu trên nên luật quy định việc khiếu nại, tố cáo và xử lý khiếu nại, tố cáo cũng khác nhau: từ quyền và nghĩa vụ của ngời khiếu nại, tố cáo, ngời giải quyết, đến trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo đều
có những khác nhau căn bản Trên thực tế, nhiều khi nếu chỉ căn cứ vào hình thức đơn
th nhận đợc thì khó có thể xác định thuộc khiếu nại hay tố cáo Bởi lẽ, trong đơn th của mình, đơng sự có khi đề cập cả khiếu nại và tố cáo, nêu lên cả hai mặt cùng một lúc Nhiều trờng hợp do tố cáo mà phát sinh khiếu nại, lấy khiếu nại để yêu cầu giải quyết việc tố cáo hoặc ngợc lại Nhng với những tiêu chí phân tích ở trên, thì cơ quan, tổ chức, ngời có trách nhiệm có thể xác định đợc đó là khiếu nại hay tố cáo, từ đó có biện pháp xử lý kịp thời, đạt hiệu quả cao nhất nhằm đảm bảo cho quyền khiếu nại tố cáo của công dân đợc thực hiện tốt nhất Nhận thức đợc sự khác nhau trên giúp chúng ta có những luận cứ khoa học và giải pháp hữu hiệu trong việc bổ sung, hoàn thiện pháp luật
về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân ở nớc ta hiện nay
1.1.2 Khái niệm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân :
Hành vi khiếu nại, tố cáo là hiện tợng khách quan trong xã hội , và nó chỉ trở thành quyền một khi đợc Nhà nớc thể chế hoá thành pháp luật Vì thế, quyền khiếu nại, tố cáo của công dân bao giờ cũng mang bản chất giai cấp ở mỗi chế độ xã hội khác nhau, mỗi nhà nớc khác nhau thì quy định nội dung pháp luật về quyền khiếu nại,
tố cáo cũng khác nhau
Trong lịch sử các Nhà nớc bóc lột, pháp luật khiếu nại, tố cáo đợc đặt ra, suy cho cùng để phục vụ và bảo vệ lợi ích của giai cấp bóc lột Vì vậy, ngời dân dới chế độ Nhà nớc kiểu phong kiến, t sản họ không hiểu mình có những quyền gì để mà
Trang 11khiếu nại, tố cáo Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan có thẩm quyền hoặc thiên vị bên này, hoặc bên kia không theo sự công bằng, lẽ phải, mà thực tế cho thấy, lẽ phải thuộc về kẻ mạnh, kẻ giàu có trong xã hội Chính vì vậy, khiếu nại, tố cáo trong các chế độ xã hội của nhà nớc đó chỉ là hình thức, quyền pháp lý thì có nhng không đợc thực thi Thậm chí ngời dân nô lệ trong chế độ xã hội nô lệ, xã hội phong kiến còn không có một chút quyền nào ở chế độ T bản chủ nghĩa, về pháp lý, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nớc T sản công nhận các quyền tự do, bình đẳng, tố cáo.v.v cho mọi công dân Song, trên thực tế chỉ những kẻ giàu có thuộc giai cấp bóc lột mới có điều kiện để hởng quyền này, còn ngời lao động nghèo khổ bị áp bức bóc lột thì không thực hiện đợc quyền đó
Dới chế độ xã hội chủ nghĩa vị trí của nhân dân lao động và mối quan hệ của từng công dân đối với Nhà nớc có những thay đổi căn bản về chất Nhà nớc xã hội chủ nghĩa là Nhà nớc của nhân dân , do nhân dân và vì nhân dân, sức mạnh của Nhà n-
ớc bắt nguồn từ nhân dân, nhân dân lao động là ngời chủ Nhà nớc; lợi ích của Nhà nớc gắn liền với lợi ích của nhân dân , Nhà nớc là công cụ phục vụ lợi ích của nhân dân Do
đó, Nhà nớc luôn quan tâm đến việc bảo vệ và thực hiện các quyền, lợi ích chính đáng của nhân dân Trong Nhà nớc xã hội chủ nghĩa, quyền khiếu nại, tố cáo của công dân
đợc ghi nhận ở Hiến pháp và pháp luật, và đợc đảm bảo thực hiện trong thực tế Điều này thực chất là nhằm tôn trọng, bảo vệ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, là sự thừa nhận tính tối cao của quyền con ngời, quyền công dân trong xã hội Lê nin từng nói: "Chỉ có khi nào tin tởng vào nhân dân, dấn mình vào nguồn sáng tạo, sinh động của nhân dân mới là ngời chiến thắng, mới giữ đợc chính quyền"{17, tr 68-69] Nhvậy chỉ trong Nhà nớc xã hội chủ nghĩa, các quyền con ngời, quyền công dân nói chung, quyền khiếu nại, tố cáo của công dân nói riêng mới đợc đảm bảo thực hiện trên thực tế, đặc biệt là đảm bảo về mặt pháp lý
Tuy nhiên nếu nghiên cứu dới góc độ "thuật cai trị" nh đã nói ở trên, thì bất kỳ một nhà nớc nào muốn tồn tại và phát triển đều phải tìm "kế an dân" và ổn định xã hội
Do vậy, bằng cách này hay cách khác, dù ít, dù nhiều các nhà nớc trong lịch sử cũng
Trang 12nh hiện tại đều có những quy định pháp luật về việc bảo vệ công dân của mình trớc những hành vi vi phạm pháp luật với mục đích là "yên dân" để duy trì sự thống trị và phục vụ lợi ích của giai cấp mình.
1.1.2.1 Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân trong các triều đại phong kiến
Việt Nam:
Nghiên cứu lịch sử Việt Nam cho thấy trong những thời kỳ hng thịnh của nhà nớc phong kiến, các triều đại phong kiến Việt Nam luôn biết "dựa vào dân" và thực hiện nhiều kế sách để "an dân" Nguyễn Trãi đã từng viết: "Việc nhân nghĩa cốt để yên dân" [1, tr.90] Bởi Ông đã nhận thấy: "Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân" Với thuật cai trị lấy dân làm gốc, ông cha chúng ta đã tính kế, tạo điều kiện cho mọi ngời dân đều có thể trình bày các nguyện vọng nỗi oan ức của mình đến nhà vua thông qua việc thỉnh cầu và cáo giác các hành vi bạo ngợc của quan lại, cờng hào
Sử cũ còn ghi, vua Lý Công Uẩn ( Lý Thái Tổ) lên ngôi (1909 - 1028) đã ra lệnh xây cung Long Đức làm nơi xử kiện Vua xuống chiếu: "Từ nay ai có việc tranh kiện, cho đến triều tâu bày, vua thân xét quyết" [18, tr.179] Vua Lý Thái Tông (1029 - 1054) thờng tổ chức các chuyến kinh lý về các vùng thôn dã để xem xét việc dân, việc quan Hay để biết việc dân "đời vua Lý Anh Tông (1138 -1175) vào năm Mậu Dần (1158) vua cho đặt một cái bàn gỗ ở giữa sân rồng để nhận đơn khiếu kiện của dân"[5, tr.344] Dới triều vua Trần Nhân Tông (1271 - 1293) cho phép dân thờng đợc tâu bày những điều oan ức trực tiếp với nhà vua khi nhà vua xa giá kinh lý Sau này, năm
1747, chúa Trịnh Doanh cũng cho "đặt chuông mõ ở cửa phủ đờng để ngời tài tiến cử
và ngời bị ức hiếp đến khiếu nại "[3, tr.23], và năm 1751, Trịnh Doanh còn cho dân
đ-ợc viết th dán kín, ghi rõ họ tên, địa chỉ và nỗi oan khuất của mình gửi thẳng lên phủ Chúa Đời chúa Nguyễn ánh cũng áp dụng biện pháp này vào năm 1788 Năm 1803, vua Gia Long cho đặt một số trạm ở các trấn lị để các quan đại thần đi kinh lý đến nhận đơn kêu oan của dân Từ thời vua Minh Mệnh (1820 -1840) trở đi, Nhà Nguyễn
đặt ra Ty Tam Pháp gồm Bộ hình, Đại lý tự và viện Đô Sát để xét những vụ án quan trọng, thụ lý hồ sơ các vụ kiện về oan ức của dân Tại cửa Ty Tam Pháp có đặt một
Trang 13chiếc trống đăng văn để vào các ngày 6, 16, 26 (âm lịch) ai có điều gì oan ức cần đệ
đơn, đợc đến đánh trống để nhân viên ra nhận đơn và chuyển cho quan nghị xét Ngoài
ra, những khi địa phơng nào có nhiều đơn kêu oan của dân, triều đình liền cử các phái
đoàn thanh tra đặc biệt (gọi là kinh lợc đại sử ) gồm các đại thần có uy tín đến giải quyết [24, tr.12-13]
ở triều đại nhà Lê Sơ (1428 -1527) việc giải quyết khiếu tố của dân có quy
định chặt chẽ hơn Vua ban hành "Quốc triều khám tụng điều lệ", quy định về trình tự khiếu kiện; trong đó đã có quy định cấm việc khiếu nại vợt cấp: "Các việc kiện tụng cha kinh qua lần khám nào đã dẫn dắt khiếu nại vợt cấp thì các nha môn đều không đ-
ợc nhận khám", tuy nhiên "mọi trờng hợp bị ngời quyền quý ức hiếp thiệt hại nặng, cùng các trờng hợp oan ức, không biết khám lệ ở nha môn nào, không còn đờng nào có thể kêu cầu, cùng các trờng hợp đã qua công luận, phúc đình nhng cha giải tỏ đợc lý, mới cho khua chông gióng mõ mà kêu lên" [26, tr.113] Sở dĩ có quy định nh vậy, là vì trong Quốc triều hình luật có quy định từng loại việc kiện đợc giải quyết ở từng cấp hành chính, ai làm trái thì xử bằng đánh trợng và biếm chức Điều 672 Quốc triều Hình luật, chơng Đoán ngục nêu: "Dân trong lộ, trong huyện có việc tranh kiện nhau, việc rất nhỏ kiện đến xã quan; việc nhỏ đến kiện ở lộ quan; việc trung bình đến kiện ở quan phủ; các quan kể trên phải xét xử cho công bằng, đúng pháp luật; còn việc lớn thì phải
đến kinh Nếu trái luật này thì xử tội trợng hoặc tội biếm Tố cáo những việc mu phản nghịch thì không theo luật này"
Thời Lê - Trịnh, năm 1683 chúa Trịnh Căn cũng ban lệnh việc khiếu tố phải theo đúng cấp quy định
Về thời hiệu khiếu tố, từ thời Lý đã có quy định từng loại việc có thời hiệu khác nhau Chẳng hạn, đối với việc tranh chấp ruộng đất bỏ hoang bị ngời khác cày cấy, trồng trọt trong vòng một năm thì còn đợc quyền để nhận lại, quá hạn ấy thì không đợc kêu kiện nữa Nhng có những việc thì pháp luật nhà Lý không giới hạn thời gian khiếu kiện, nh việc tố cáo bộ máy quan lại tham nhũng, thu sai thuế, ăn chặn thuế [18, tr.173]
Trang 14Về thời hạn giải quyết khiếu tố, thời Nhà Lê sơ có quy định: " phân việc kiện tụngvề ruộng đật, trộm cớp đều hạn 3 tháng; kiện tụng về mu giết 4 tháng; kiện tụng về
hộ khấu, hôn thú là 2 tháng, đều lấy ngày bắt đợc bị cáo làm ngày đầu tiên "[25, tr.13]
Về tổ chức cơ quan làm nhiệm vụ giải quyết khiếu tố của dân, trên cơ sở phân loại việc khiếu tố, pháp luật quy định trách nhiệm cho từng cấp giải quyết Nh đã nêu ở phần trên, hầu nh các xã quan, lộ quan, huyện quan đều trực tiếp xét xử khiếu kiện của dân; còn ở các kinh (hay trấn) do quan thừa ty, trấn ty, trấn thủ giải quyết "Nếu còn cha phục tình thì mới phúc thẩm ở Ngự sử đài, nếu có tình lý thiệt hại, cha đợc giải bày
rõ ràng mới cho làm đầy đủ tờ khai, cung kết phúc kêu ở chánh đờng " [25, 274]
tr.270-Nhìn chung, để thực hiện tốt quyền khiếu nại, tố cáo của công dân, một số triều đại phong kiến Việt Nam đã ban hành nhiều loại văn bản luật qui định việc gửi
đơn th và trách nhiệm của quan lại trong việc xem xét giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân Đáng kể nhất là Bộ Hình th đời Lý (1042), Bộ Quốc triều Hình th và Quốc triều Hình luật (1341) đời Trần; Bộ luật Hồng Đức (1483) và Khám tụng điều lệ (1777) thời Lê; Bộ luật Gia Long thời Nguyễn (1815) trong đó có nhiều điều khoản qui định
về các quyền và trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân Ngoài ra các vua còn ban các văn bản đơn lẻ nh Lệnh, Lệ, Dụ, Chỉ để qui định cụ thể, chi tiết việc giải quyết khiếu kiện của ngời dân
Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng, triều đại nào mà ngời cầm quyền biết thông cảm với nỗi khổ của dân, biết lắng nghe và hỏi ý kiến của dân, biết tôn trọng và giải quyết những nguyện vọng, khiếu nại của dân thì thời đó đất nớc thanh bình và thịnh vợng, "vua tôi đồng lòng, cả nớc hợp sức " tạo nên một sức mạnh vô địch vợt mọi khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù
1.1.2.2 Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân trong t tởng Hồ Chí Minh và
của Đảng ta.
Trang 15Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công ngày 2/9/1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà tại quảng tr-ờng Ba Đình, Hà Nội, một nhà nớc dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Châu á; theo đó, một hệ thống chính quyền nhân dân đợc thành lập từ Trung ơng đến địa phơng cơ sở, bản, làng Việt Nam Trong quá trình xây dựng và quản lý đất nớc, với sự nhạy bén về chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận rõ sự cần thiết của công tác kiểm tra, giám sát các hoạt động của bộ máy chính quyền, kế thừa truyền thống quý báu của
ông cha ta về lĩnh vực này, kết hợp với lý luận và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của mình Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú trọng ngay tới biện pháp tăng cờng hiệu lực quản
lý nhà nớc bằng việc thành lập "ban thanh tra đặc biệt " có chức năng giúp chính phủ
và nhận những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể, trong đó các nhiệm vụ, quyền hạn đầu tiên là; "nhận các đơn khiếu nại của nhân dân, điều tra hội chứng, xem xét các giấy tờ, tài liệu của Uỷ ban nhân dân hoặc các cơ quan của Chính phủ cần thiết cho việc giám sát"[22, tr.13 - 16]
Qua nghiên cứu các tác phẩm của Hồ Chí Minh, chúng ta thấy rõ rằng: ở
Ng-ời, vấn đề khiếu nại, tố cáo của công dân thuộc nội hàm của quyền con ngNg-ời, quyền công dân và điều đó đợc thể hiện qua những vấn đề nổi bật sau đây:
Một là: quan niệm của Hồ Chí Minh về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân
luôn nhấn mạnh một khía cạnh trách nhiệm và nghĩa vụ của Nhà nớc trong mối quan
hệ với nhân dân Ngời viết: "Chúng ta phải hiểu rằng cơ quan của Chính phủ từ Trung
ơng đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân chứ không phải đè đầu nh trong thời kỳ thống trị của Pháp, Nhật "[11, tr.56] Không những nh vậy, Ngời còn nêu ra các nguyên nhân của những khuyết điểm của các cấp chính quyền, của cán bộ, dẫn đến các khiếu nại, tố cáo của nhân dân: một phần do kinh nghiệm của chúng ta còn ít, tài năng của chúng ta còn kém mà công việc thì nhiều; song một nguyên nhân rất quan trọng là do thiếu kiểm tra giám sát kịp thời "Có thể nói rằng, chín phần mời khuyết điểm trong công việc của chúng ta vì thiếu sự kiểm tra" [11, tr 56] Từ đó, Ngời nhắc nhở các cấp chính quyền, nhất là với cơ quan làm công
Trang 16tác thanh tra: "Về công tác xét các việc khiếu nại, tố giác, nhiệm vụ các ban thanh tra
là phải làm cho nghiêm chỉnh, cho kịp thời, làm sớm chừng nào hay chừng ấy Đồng bào có oan ức, có thắc mắc mới khiếu nại Ta giải quyết tốt các việc khiếu nại , đồng bào thấy Đảng và Chính phủ quan tâm, lo lắng đến họ, do đó mối quan hệ giữa quần chúng nhân dân với Đảng và Chính phủ đợc củng cố tốt hơn" [12, tr.726-727]
Từ lời dạy của Bác, chúng ta chỉ thấy đó là sự biểu hiện đức tính hết lòng vì nhân dân mà còn thể hiện sự nhìn nhận vô cùng sâu sắc, sát thực tế, cảm thông với đời sống của nhân dân Theo Bác, dân có oan mới phải khiếu nại với chính quyền, hay có khi ngời ta cha hiểu rõ chính sách của Đảng, pháp luật nhà nớc mà có thắc mắc Cho nên Bác yêu cầu với công tác này "phải làm cho nghiêm chỉnh, cho kịp thời"; không chỉ nh vậy, Ngời còn nhấn mạnh: "Làm sớm chừng nào, hay chừng ấy" Theo Ngời,
đây không chỉ là trách nhiệm của chính quyền với nhân dân, mà qua đó còn kịp thời phát hiện những sai sót, hạn chế để sửa chữa, uốn nắn những chính sách, pháp luật của
Đảng, Nhà nớc cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống Cũng qua khiếu nại, tố cáo của công dân, Đảng và Nhà nớc biết đợc năng lực, trình độ phẩm chất của cán bộ của nhân viên Nhà nớc nói riêng, của đội ngũ cán bộ công chức nói chung để từ đó có những biện pháp khắc phục, sửa chữa thì hiệu lực quản lý nhà nớc sẽ không ngừng đợc nâng lên
Hai là: quan niệm của Hồ Chí Minh về việc nâng cao hiệu lực giải quyết khiếu
nại, tố cáo của công dân không chỉ là trách nhiệm của Nhà nớc mà còn là trách nhiệm của công dân Ngời luôn luôn đòi hỏi mọi tổ chức Đảng, chính quyền không một ai
đứng trên hay đứng ngoài pháp luật , Ngời nói: "Dù sao Chính phủ đã hết sức làm
g-ơng, và nếu làm gơng không xong thì sẽ dùng pháp luật mà trị những kẻ ăn hối lộ - đã trị, đơng trị và sẽ trị cho kỳ hết" [13, tr.158] Đối với nhân dân Ngời nhắc nhở: "Nhà nớc bảo đảm quyền tự do dân chủ cho công dân, nhng nghiêm cấm lợi dụng các quyền
tự do dân chủ để xâm phạm đến lợi ích của nhà nớc, của nhân dân" [14, tr.593]
T tởng công dân, ý thức công dân hài hoà trong nhân cách công dân của Hồ Chủ Tịch và luôn là mẫu mực trong đời sống Điều này đợc biểu hiện trong suốt cuộc
Trang 17đời hoạt động của Ngời Đặc biệt là từ những ngày đầu cách mạng Tháng Tám năm
1945 và trong kháng chiến chống thực dân Pháp, mặc dù bận trăm công nghìn việc,
nh-ng mỗi khi nhân đợc đơn th khiếu tố của nhân dân, Hồ Chủ Tịch xem xét rất kỹ rồi chuyển ngay đến cơ quan có thẩm quyền yêu cầu giải quyết và báo cáo kết quả cho ng-
ời biết Thể hiên sự sát xao, tránh nhiệm với công việc đến cùng; dù là công việc nhỏ nhng liên quan đến lợi ích của dân, Bác cũng đều rất thận trọng và chu đáo Bác rất chú
ý đến giữ gìn kỷ cơng phép nớc, tăng cờng hiệu lực trong quản lý nhà nớc , Bác thờng nhắc nhở chúng ta: "không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên" Quan điểm của Bác xuất phát từ quan điểm lấy dân làm gốc, dân
là chủ, cán bộ là đầy tớ của dân Với Bác, dân bao giờ cũng là trung tâm, là xuất phát
điểm của mọi suy nghĩ và hoạt động Quyền khiếu nại, tố cáo trong t tởng Hồ Chí Minh là biểu hiện cụ thể của quyền con ngời, quyền công dân trong điều kiện Việt Nam Đó là truyền thống nhân ái của dân tộc Việt Nam đợc kết tinh trong t tởng của Ngời, cùng với Chủ nghĩa Mác - Lê nin - nguồn sáng trí tuệ của nhân loại đã thấm sâu trong tâm trí Hồ Chủ Tịch để trở thành kim chỉ nam cho hành động cách mạng của
điều kiện phát hiện, đề xuất, kiến nghị giúp cho hoạt động giám sát có hiệu quả " [ 8,
Trang 18tr.130 - 131] Cụ thể hoá quan điểm này, Nghị quyết Hội nghị Trung ơng 3 ( Khoá VIII ) chỉ rõ: cần "xác định rõ trách nhiệm của thủ trởng cơ quan trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân , xử lý nghiêm minh các hành vi trì hoãn làm chậm trễ, sai lệch, can thiệp trái pháp luật hoặc lẩn tránh trách nhiệm đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo Cần có qui chế tạo thuận lợi để ngời dân trình bày ý nguyện, thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của mình" [ 10, tr.45 ] Để tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của công dân xác định trách nhiệm của các cơ quan nhà nớc trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo Nhà nớc ta đã thể chế hoá đờng lối, quan điểm của Đảng về khiếu nại, tố cáo của công dân thành Hiến pháp và pháp luật, đồng thời ban hành nhiều nghị quyết, nghị định, chỉ thị nhằm thực hiện trong thực tế quyền khiếu nại, tố cáo của công dân, nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo Đặc biệt
là sự ra đời của Luật khiếu nại, tố cáo (Quốc hội khoá X thông qua ngày 2/12/1998) đã
đánh dấu một bớc tiến quan trọng trong việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của công dân, coi đây là một trong những công tác góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng và quản lý đất nớc, là cơ sở pháp lý quan trọng, để công dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của Nhà nớc và của tập thể Đồng thời
là phơng tiện để công dân thực hiện quyền làm chủ và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nớc, góp phần làm trong sạch bộ máy nhà nớc, loại trừ những biểu hiện tiêu cực của cán bộ ,công chức nhà nớc nh quan liêu, hách dịch, sách nhiễu, cửa quyền, những hành vi vi phạm pháp luật, tham nhũng, thoái hoá, biến chất.v.v
Quyền khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân đợc ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật hiện hành, ngời công dân nào cũng có quyền sử dụng vì lợi ích chung, lợi ích của chính mình Đây là cơ sở pháp lý để củng cố thực hiện một bớc địa vị pháp lý của công dân trong xã hội Về phía Nhà nớc, mọi cơ quan, cán bộ công chức nào cũng cần quán triệt, tôn trọng, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo đúng pháp luật; mặt khác nghiêm cấm mọi hành vi cản trở việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo; đe doạ trả thù ngời khiếu nại, tố cáo; cố tình không giải quyết hoặc giải quyết khiếu nại, tố cáo trái
Trang 19pháp luật Đồng thời cũng nghiêm trị những ai cố tình khiếu nại, tố cáo sai sự thật, lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để xuyên tạc, vu khống, vu cáo làm hại ngời khác, không tôn trọng pháp luật và làm cản trở hoạt động bình thờng của cơ quan nhà nớc
Xét về bản chất pháp lý , quyền khiếu nại, tố cáo tự nó không có nội dung và
xuất xứ cụ thể, thờng phát sinh do vi phạm các quyền khác, và do đó, nó mang trong lòng những nội dung của các quyền khác Khiếu nại để đòi khôi phục quyền lợi bị ngời khác xâm phạm; còn tố cáo là để tố giác những hành vi trái pháp luật khi lợi ích của Nhà nớc, của tập thể hoặc của công dân bị xâm phạm hay đe doạ xâm phạm, trong khi chính quyền này đã đợc Hiến pháp, pháp luật ghi nhận, Nh vậy, từ những việc làm trái pháp luật, vi phạm quyền và lợi ích của công dân, cơ quan, tổ chức, đã đợc pháp luật thừa nhận và bảo vệ sẽ làm nảy sinh quyền khiếu nại, tố cáo nói chung, quyền khiếu nại, tố cáo của công dân nói riêng
Xét về mặt ý nghĩa, quyền khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản
của công dân đợc Hiến pháp ghi nhận, phản ánh bản chất của Nhà nớc và của chế độ Xã hội chủ nghĩa, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân đối với Nhà nớc và xã hội Những quyền đó là cơ sở pháp lý cần thiết để công dân thực hiện việc giám sát hoạt
động của các cơ quan nhà nớc , góp phần làm trong sạch bộ máy nhà nớc; loại trừ những biểu hiện quan liêu, cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu nhân dân của cán bộ, công chức nhà nớc; thực hiện tốt quyền khiếu nại, tố cáo không những bảo vệ đợc quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, của Nhà nớc mà còn góp phần sửa chữa các sai phạm, khuyết điểm trong hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nớc, kiện toàn chủ trơng, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nớc; phát hiện và xử lý kip thời các vi phạm pháp luật từ phía cơ quan, nhân viên nhà nớc, làm cho bộ máy nhà nớc hoạt động ngày càng có hiệu lực và hiệu quả, thực sự là Nhà nớc của dân, do dân, vì dân
1.1.3 Nội dung pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân:
Quyền khiếu nại, tố cáo thuộc nội hàm quyền công dân, quyền con ngời, không tách rời bản chất của chế độ chính trị của sự phát triển nền kinh tế và truyền thống văn hoá và đợc ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật của mỗi nớc Vì vậy, nó
Trang 20có vị trí, vai trò quan trọng trong việc bảo vệ, phát triển quyền công dân, quyền con ngời ở mỗi nớc cũng nh trong thế giới hiện đại Nội dung và những diễn biến của pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân gắn liền với sự phát triển nền chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia Những thay đổi về chế độ kinh tế, chế độ chính trị, về
tổ chức bộ máy nhà nớc đều tác động sâu sắc đến pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân; đem lại cho nó những nội dung mới Những nội dung đó đợc thể hiện tập trung nhất trong mối quan hệ biện chứng giữa Nhà nớc và công dân, nó phản ánh quyền dân chủ trực tiếp của công dân đối với hoạt động của Nhà nớc, nó đợc qui định trong Hiến pháp và pháp luật hiện hành
Theo nghĩa rộng, pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân gồm:
hệ thống những quy định mang tính pháp lý về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội (khi các quyền và lợi ích hợp pháp của họ
bị xâm hại), cùng với những thiết chế tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nớc và các qui định về trình tự, thủ tục tiến hành khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo
Theo nghĩa hẹp, pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân bao gồm: hệ thống
các qui định về quyền và nghĩa vụ của ngời khiếu nại, tố cáo, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo, trình tự, thủ tục tiến hành khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trong pháp luật khiếu nại, tố cáo và các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật hiện hành Đây là vấn đề rất rộng Do đó, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân theo nghĩa hẹp trong phạm vi Luật khiếu nại, tố cáo và Nghị định số 67/1999/NĐ-CP ngày 7/8/1999 của Chính phủ
về qui định chi tiết hớng dẫn thi hành Luật khiếu nại, tố cáo Có nghĩa là luận văn chỉ xem xét và hoàn thiện các qui định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của ngời khiếu nại,
tố cáo, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo, trình tự, thủ tục tiến hành khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo, về xử lý vi phạm pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân trong Luật khiếu nại, tố cáo và Nghị định 67/1999/NĐ-CP Do vậy, hoàn thiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân chính là đi rà soát, đánh giá thực trạng các qui định pháp luật đó, tìm ra những điểm bất cập, không hợp lý để
Trang 21đa ra những phơng hớng và giải pháp hoàn thiện nhằm tạo ra một hệ thống các qui định pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân phù hợp và đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống, đồng thời mang tính dự báo nhất định, đảm bảo thực thi và có hiệu lực, hiệu quả hơn.
Sau đây là một số nội dung cơ bản của pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân trong Luật khiếu nại, tố cáo và Nghị định 67/1999/ NĐ-CP của Chính phủ:
- Về khiếu nại, Luật khiếu nại, tố cáo qui định ngời khiếu nại gồm hai đối
tợng: công dân và cơ quan hay tổ chức , cán bộ hoặc công chức đều có quyền khiếu nại Công dân là chủ thể chính của quyền khiếu nại ,công dân theo Hiến pháp 1992 là ngời có quốc tịch Việt Nam (kể cả ngời phạm tội hình sự bị hạn chế quyền công dân
nh quyền tự do đi lại, quyền bầu cử họ vẫn là những công dân Việt Nam và vẫn có quyền khiếu nại) Khi thực hiện quyền khiếu nại, Luật qui định công dân phải có các
điều kiện đảm bảo, có năng lực hành vi Trờng hợp công dân có nhu cầu khiếu nại mà không có năng lực hành vi thì Luật qui định đợc khiếu nại thông qua ngời đại diện hợp pháp
Pháp luật qui định chỉ có ba cơ quan gồm : Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Hội
đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (gồm Uỷ ban mặt trận và các tổ chức thành viên ), cơ quan báo chí khi nhận đợc khiếu nại có trách nhiệm nghiên cứu và kịp thời chuyển khiếu nại đến cơ quan nhà nớc có thẩm quyền giải quyết, và đôn đốc, theo dõi việc giải quyết, đồng thời báo cho ngời khiếu nại biết việc chuyển đơn đó Trong trờng hợp ngời khiếu nại gửi khiếu nại của mình đến nhiều cơ quan thì cơ quan có thẩm quyền giải quyết tiến hành thụ lý giải quyết Nhà nớc không giao các cơ quan khác phải chuyển đơn th khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình mà chỉ cần "thông báo và chỉ dẫn cho ngời khiếu nại bằng văn bản" Thông báo "chỉ thực hiện một lần đối với một vụ việc khiếu nại" (Điều 5 Nghị định 67/1999/NĐ-CP ngày 7/8/1999 của Chính phủ) Việc không khuyến khích chuyển đơn th khiếu nại trong nội
bộ trong cơ quan nhà nớc (trừ 3 cơ quan vừa nói trên) nhằm làm cho việc quản lý đánh
Trang 22giá đúng đắn tình hình hơn tránh tình trạng nhận xét căng thẳng giả, dẫn đến tình trạng luân chuyển đơn th lòng vòng, tiết kiệm chi phí cho cơ quan nhà nớc Trờng hợp dân trực tiếp đến cơ quan nhà nớc khiếu nại thì cơ quan nhà nớc có trách nhiệm hớng dẫn ngời khiếu nại đến đúng cơ quan nhà nớc có thẩm quyền để trình bầy khiếu nại của mình (Điều 54, Nghị định 67/1999/NĐ-CP).
Đối với ngời khiếu nại, Điều 17 Luật khiếu nại, tố cáo qui định ngời khiếu nại
có quyền nhận văn bản trả lời về việc thụ lý để giải quyết khiếu nại; đợc nhận quyết
định giải quyết khiếu nại; đợc khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm, đợc bồi thờng thiệt hại theo qui định của pháp luật; đợc quyền rút lại khiếu nại trong bất kì giai đoạn nào của quá trình giải quyết Ngoài ra, luật còn qui định ngời khiếu nại có quyền khởi kiện ra toà án hành chính hay kiện lên cơ quan hành chính nhà nớc cấp trên trực tiếp của cấp đó sau khi khiếu nại lần đầu của mình đợc giải quyết không thoả đáng hoặc sau khi khiếu nại 30 ngày nhng không đợc cơ quan nhà nớc có thẩm quyền giải quyết; Ngời khiếu nại đợc quyền đa ra các bằng chứng hoặc phản ánh về tình hình có liên quan đến nội dung khiếu nại
Đi đôi với quyền của ngời khiếu nại, Luật khiếu nại, tố cáo cũng qui định
ng-ời khiếu nại có các nghĩa vụ: khiếu nại đến đúng ngng-ời có thẩm quyền giải quyết, trình bày trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu cho ngời giải quyết khiếu nại, chịu trách nhiệm trớc pháp luật về nội dung trình bày và việc cung cấp các thông tin, tài liệu
đó; chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật
- Về tố cáo, Luật khiếu nại, tố cáo qui định: chủ thể của tố cáo chỉ là công dân,
còn cơ quan, tổ chức không có quyền này Phạm vi tố cáo cũng rất rộng: mọi hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức ở đây vấn đề tố cáo không nhất thiết phải gắn liền với lợi ích của ngời tố cáo
Đối với ngời tố cáo, Điều 57 Luật khiếu nại, tố cáo qui định ngời tố cáo có các quyền sau đây: quyền đợc gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ; có quyền yêu cầu các cơ quan nhà nớc giữ bí mật về tên, địa chỉ,
Trang 23bút tích của mình và có quyền yêu cầu đợc thông báo kết quả giải quyết tố cáo; có quyền yêu cầu các cơ quan nhà nớc đảm bảo an toàn cho họ, tránh sự trù dập, đe doạ, trả thù Đi đôi với quyền tố cáo, Luật qui định ngời tố cáo có nghĩa vụ: phải trình bày trung thực về nội dung tố cáo; nêu rõ họ tên, địa chỉ của mình; chịu trách nhiệm trớc pháp luật về việc tố cáo sai sự thật.
- Về thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo, pháp luật qui
định nh sau :
+ Đối với khiếu nại thì quyết định hành chính và hành vi hành chính của cơ
quan nào bị khiếu nại thì thủ trởng cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết lần đầu Nếu giải quyết lần đầu không thoả đáng, vẫn bị khiếu nại thì cơ quan cấp trên trực tiếp là cơ quan có thẩm quyền giải quyết (hoặc kiện ra Toà án hành chính thì theo thủ tục giải quyết các vụ án hành chính), cứ nh vậy cho đến khi có quyết định giải quyết cuối cùng thì chấm dứt khiếu nại Những khiếu nại có nội dung liên quan đến hai cơ quan quản lý thì cơ quan nào đợc giao nhiệm vụ quản lý chính có thẩm quyền giải quyết
+ Đối với tố cáo, thẩm quyền giải quyết tố cáo đợc giao cho thủ trởng cơ quan
có nội dung bị tố cáo trực tiếp giải quyết nếu việc tố cáo không liên quan đến thủ tr ởng cơ quan đó Trờng hợp thủ trởng cơ quan có liên quan đến nội dung tố cáo thì thủ trởng cơ quan cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết
-Tổ chức thanh tra nhà nớc là cơ quan giúp thủ trởng cùng cấp quản lý nhà nớc
về khiếu nại, tố cáo Các tổ chức thanh tra nhà nớc có thẩm quyền giải quyết khiếu nại,
tố cáo khi đợc thủ trởng cùng cấp uỷ quyền, và đơng nhiên có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo phát sinh trong nội bộ ngành cũng nh các cơ quan khác theo trình tự nêu trên Riêng tổng thanh tra nhà nớc có thẩm quyền giải quyết khiếu nại mà thủ tr-ởng cơ quan thuộc Chính phủ (trừ Bộ trởng) đã giải quyết nhng còn khiếu nại Thanh tra nhà nớc các cấp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình thanh tra việc thực hiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo
Trang 24Về cơ bản, việc xác định cấp giải quyết cuối cùng đợc dựa trên nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nền hành chính nhà nớc ta , đó là nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ Vì thế, luật qui định cơ quan có thẩm quyền giải quyết ra quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng đó là :Chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng; Bộ trởng;thủ trởng cơ quan ngang bộ; Tổng thanh tra nhà n-ớc; Thủ tớng chính phủ.
- Về thủ tục thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của công dân :
Thủ tục thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của công dân là một loại thủ tục hành chính, vì nó phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nớc , có đầy đủ các
đặc điểm của thủ tục hành chính
Thủ tục thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo bao gồm thủ tục khiếu nại, tố cáo và thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo Các thủ tục này đợc quy định cụ thể trong Luật khiếu nại, tố cáo , và chúng có thể đợc chia thành các giai đoạn sau:
Giai đoạn thứ nhất: Tiếp nhận và thụ lý khiếu nại, tố cáo
Luật khiếu nại, tố cáo quy định thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ khi nhận
đợc quyết định hành chính hoặc biết đợc hành vi hành chính, công dân có quyền khiếu nại với cơ quan nhà nớc có thẩm quyền Trong trờng hợp ốm đau, thiên tại địch hoạ hoặc vì những trở ngại khách quan khác thì thời gian trở ngại không tính vào thời hiệu khiếu nại ( Điều 31 )
Đối với tố cáo thì không có thời hiệu Nếu phát hiện việc làm có vi phạm pháp luật đã, đang và sẽ xảy ra thì công dân có quyền tố cáo với cơ quan nhà nớc có thẩm quyền
Hình thức khiếu nại, tố cáo đợc viết bằng đơn hoặc trình bày trực tiếp với cơ quan nhà nớc Nếu khiếu nại, tố cáo gửi bằng đơn thì trong đơn phải thể hiện những nội dung: họ tên, địa chỉ ngời khiếu nại, tố cáo ; nội dung vụ việc khiếu nại, tố cáo : Họ tên, địa chỉ, chức vụ ngời khiếu nại, tố cáo ; yêu cầu của ngời khiếu nại, tố cáo Kèm
Trang 25theo đơn, ngời khiếu nại, tố cáo phải gửi kèm theo hồ sơ , tài liệu và cung cấp các chứng cứ về vụ việc bị khiếu nại, tố cáo
Nhận đợc tài liệu, chứng cứ này, cơ quan nhà nớc phải ghi biên nhận cho ngời khiếu nại, tố cáo Nếu khiếu nại, tố cáo trực tiếp bằng lời nói với cơ quan có thẩm quyền thì cán bộ tiếp nhận phải ghi lại nội dung nh đối với khiếu nại, tố cáo bằng đơn
Kể cả khiếu nại, tố cáo bằng đơn hay bằng lời trực tiếp đều phải có chữ ký của ngời khiếu nại , tố cáo vào đơn hoặc văn bản ghi lại nội dung khiếu nại, tố cáo Đối với tố cáo, cán bộ tiếp nhận tố cáo phải có trách nhiệm giữ bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích của ngời tố cáo ( Điều 57 Luật khiếu nại, tố cáo )
Trong 10 ngày, kể từ ngày tiếp nhận khiếu nại, tố cáo , nếu vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, thì ngời giải quyết khiếu nại, tố cáo phải ra quyết định thụ
lý giải quyết Nếu vụ việc không thuộc thẩm quyền của cơ quan ( không thụ lý) thì phải nêu rõ lý do Cả hai trờng hợp thụ lý hoặc không thụ lý, cơ quan tiếp nhận khiếu nại, tố cáo đều phải thông báo bằng băn bản cho ngời khiếu nại biết (nếu là khiếu nại ), hoặc cơ quan đó phải có trách nhiệm chuyển cho cơ quan , tổ chức có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho ngời tố cáo biết nếu họ yêu cầu (đối với tố cáo )
Giai đoạn thứ hai: Giải quyết khiếu nại, tố cáo
Sau khi thủ trởng cơ quan hành chính nhà nớc có thẩm quyền ra quyết định thụ
lý giải quyết thì giao cho cán bộ thanh tra thẩm tra, xác minh vụ việc và kiến nghị giải quyết
Đối với khiếu nại : thời gian giải quyết lần đầu là không quá 30 ngày, đối với
vụ việc phức tạp thì có thể kéo dài hơn nhng không quá 45 ngày Nếu vùng sâu, vùng
xa thì thời hạn giải quyết lần đầu không quá 45 ngày, nếu vụ việc phức tạp thì có thể kéo dài hơn nhng không quá 60 ngày Kể từ ngày thụ lý để giải quyết (Điều 36 Luật khiếu nại, tố cáo )
Trang 26Sau khi có kết quả thẩm tra, xác minh vụ việc và kiến nghị giải quyết của cán
bộ thanh tra.Thủ trởng cơ quan ra quyết định giải quyết khiếu nại , đồng thời phải gửi quyết định khiếu nại cho ngơì khiếu nại
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết hạn giải quyết khiếu nại lần đầu mà không đợc giải quyết, hoặc kể từ ngày nhận đợc quyết định giải quyết khiếu nại lần
đầu mà ngời khiếu nại không đồng ý với quyết định đó, thì có quyền khiếu nại đến
ng-ời có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại toà
án theo thủ tục tố tụng Đối với vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn thì thời hạn nói trên
có thể kéo dài hơn nhng không quá 45 ngày ( Điều39 Luật khiếu nại, tố cáo)
Thời hạn thụ lý mỗi lần tiếp theo cũng trong vòng 10 ngày; các thủ tục nh giải
quyết khiếu nại lần đầu.Nhng thời hạn giải quyết khiếu nại mỗi lần tiếp theo là:45
ngày, đối với vụ việc phức tạp thì có thể kéo dài hơn, nhng không quá 60 ngày Kể từ ngày thụ lý để giải quyết ở vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết mỗi lần tiếp theo không quá 60 ngày, đối với vụ việc phức tạp thì có thể kéo dài hơn , nhng không quá 70 ngày Kể từ ngày thụ lý để giải quyết (Điều 43 Luật khiếu nại, tố cáo )
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết ( quy định tại Điều
43 Luật khiếu nại, tố cáo) mà khiếu nại không đợc giải quyết hoặc kể từ ngày nhận đợc quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 mà ngời khiếu nại không đồng ý, thì có quyền tiếp tục khiếu nại ( Lần 3) đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo Trừ trờng hợp quyết định đó là quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng Đối với vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn thì thời hạn trên có thể kéo dài hơn nhng không quá 45 ngày ( Điếu 46 Luật khiếu nại, tố cáo )
Đối với tố cáo :
Thời hạn giải quyết tố cáo không quá 60 ngày kể từ ngày thụ lý để giải quyết ,
đối với những vụ việc phức tạp thì có thể kéo dài hơn nhng không quá 90 ngày Trong quá trình tiếp nhận tố cáo nếu phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan, tổ chức tiếp
Trang 27nhận, giải quyết tố cáo phải chuyển tin báo, chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra, viện kiểm sát để giải quyết theo qui định của pháp luật tố tụng hình sự (Điều 71 Luật khiếu nại, tố cáo ).
Kết thúc giai đoạn này là việc công bố quyết định giải quyết khiếu nại , tố cáo
và gửi cho đơng sự, những ngời liên quan, đồng thời đề ra các biện pháp thực hiện
Giai đoạn ba: Tổ chức thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo
Giai đoạn này bắt đầu từ khi giải quyết khiếu nại, tố cáo có hiệu lực thi hành Trong giai đoạn này, cơ quan nhà nớc có thẩm quyền đề ra các biện pháp theo dõi, tổ chức thực hiện quyết định , xử lý những cá nhân, tổ chức nào sai trái, đề nghị khắc phục tổn thất do việc làm trái pháp luật gây ra Giai đoạn này kết thúc khi các hành vi sai trái bị xử lý Khi quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân đợc khôi phục thoả đáng
1.2 Vai trò của pháp luật trong việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của công dân:
Quyền khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền con ngời, quyền công dân
và đã đợc ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật Việt Nam Do vậy, nếu quan niệm một cách biện chứng và trong trạng thái động với đầy đủ những thuộc tính và nội dung của nó, thì việc thực hiện quyền con ngời , quyền công dân nói chung, quyền khiếu nại,
tố cáo nói riêng là một quá trình ,và phụ thuộc vào tổng thể các điều kiện khác nhau của đời sống xã hội, nh điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục và pháp luật Trong
đó pháp luật chiếm vị trí, vai trò quan trọng nhất và đợc thể hiện cụ thể ở những điểm cơ bản sau đây :
1.2.1 pháp luật là phơng tiện chính thức hoá giá trị xã hội của quyền con ngời, quyền công dân trong đó có quyền khiếu nại, tố cáo.
Quyền - là điều mà pháp luật và xã hội công nhận, cho đợc hởng, đợc làm,
đợc đòi hỏi Quyền con ngời, quyền công dân nói chung và quyền khiếu nại, tố cáo nói riêng là những giá trị đợc xã hội hoá, tức là đợc xã hội thừa nhận và bảo vệ, phải thông
Trang 28qua phơng tiện pháp luật biểu hiện dới hình thức các quy phạm pháp luật, đợc nhà nớc chính thức hoá Nếu không có sự thừa nhận của xã hội thông qua các quy định của pháp luật thì những quyền tự nhiên vốn có của con ngời cha trở thành quyền, và đơng nhiên không đợc Nhà nớc bảo vệ Ngợc lại, quyền con ngời, quyền công dân trong đó
có quyền khiếu nại, tố cáo khi đã đợc quy định trong pháp luật thì sẽ trở thành quyền pháp định, là ý chí chung của toàn xã hội, đợc xã hội phục tùng, đợc nhà nớc bảo vệ và bảo đảm thực hiện bằng cả một cơ chế quyền lực, ai vi phạm quyền đó sẽ bị xử lý theo pháp luật Trong Nhà nớc pháp quyền, khi quyền con ngời, quyền công dân đợc quy
định trong Hiến pháp và Luật sẽ trở thành "tối thợng", có giá trị bắt buộc với bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào, ngay cả với cơ quan cao nhất của nhà nớc - cơ quan lập pháp - cũng không thể đứng trên hay đứng ngoài pháp luật
Nh vậy, pháp luật là phơng tiện chính thức hoá giá trị quyền con ngời, quyền công dân; chỉ thông qua pháp luật quyền con ngời, quyền công dân nói chung, quyền khiếu nại, tố cáo nói riêng mới trở thành ý chí, mục tiêu và có tính bắt buộc chung đối với toàn xã hội
1.2.2 Pháp luật là công cụ sắc bén của Nhà nớc trong việc thực hiện và bảo
vệ quyền khiếu nại, tố cáo của công dân.
Pháp luật là công cụ, phơng tiện thực hiện ý chí của Nhà nớc, có tính bắt buộc chung đối với toàn xã hội Vì thế, những quy định về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân cùng với những thiết chế nhằm thực hiện và bảo vệ các quyền đó trong Hiến pháp
và pháp luật, cũng bắt buộc mọi thành viên trong xã hội phải nghiêm chỉnh thi hành, kể cả các cơ quan , tổ chức, công chức nhà nớc Mặt khác, tính sắc bén của pháp luật trong việc thực hiện và bảo vệ quyền khiếu nại, tố cáo của công dân còn thể hiện ở chỗ các quy định về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân trong pháp luật đợc Nhà nớc
đảm bảo thực hiện bằng bộ máy, cách thức tác động của Nhà nớc, khi cần thiết, Nhà
n-ớc có thể sử dụng những biện pháp cỡng chế trên cơ sở tiến hành các biện pháp giáo dục thuyết phục đảm bảo cho nội dung quyền, nghĩa vụ của công dân và những lợi ích hợp pháp của họ đợc thực hiện và đợc bảo vệ Hơn nữa, nhờ vào pháp luật mà các cơ
Trang 29quan bảo vệ pháp luật tiến hành những hoạt động nghiệp vụ mà mọi hành vi vi phạm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân đều bị phát hiện và xử lý
Xét về mặt hiệu quả, pháp luật là thớc đo công lý, lấy lại sự công bằng, tạo ra mối quan hệ bình đẳng giữa công dân với cơ quan, chính quyền nhà nớc
Vì lẽ đó, pháp luật với t cách là công cụ pháp lý cơ bản, riêng có của Nhà nớc
sẽ tác động, tổ chức, điều chỉnh hành vi của mọi thành viên trong xã hội , hớng tới mục tiêu chung là thực hiện, bảo vệ quyền con ngời, quyền công dân Thông qua pháp luật, nhờ những thuộc tính của pháp luật, quyền khiếu nại, tố cáo của công dân đợc thực hiện một cách nhanh chóng, có hiệu quả trên qui mô toàn xã hội Không có công cụ, phơng tiện nào có đợc lợi thế nh pháp luật trong việc tổ chức, quản lý xã hội cũng nh trong việc thực hiện, bảo vệ quyền con ngời, quyền công dân nói chung, và quyền khiếu nại, tố cáo của công dân nói riêng một cách có hiệu lực vsf hiệu quả
1.2.3 Pháp luật tạo cơ sở pháp lý để công dân đấu tranh bảo vệ các quyền
và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình
ở đây, pháp luật đợc xem xét không chỉ với t cách là công cụ, phơng tiện của Nhà nớc, mà còn là công cụ, vũ khí của nhân dân trong việc thực hiện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của Nhà nớc và của xã hội; hay nói cách khác, pháp luật là
vũ khí để công dân thực hiện và bảo vệ quyền con ngời, quyền công dân của mình khi
nó bị xâm phạm
Pháp luật là đại lợng mang giá trị phổ biến, là chuẩn mực của sự công bằng, do
đó, có thể đo đợc hành vi của môĩ cá nhân, kể cả cơ quan, tổ chức, công chức nhà nớc
Nó là cơ sở, là căn cứ để công dân đánh giá, kiểm tra, đối chiếu các hành vi từ phía Nhà nớc và các thành phần khác trong xã hội, đấu tranh bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình Với ý nghĩa đó, theo Mác: "Đạo luật trở thành kinh thánh tự do của nhân dân " [2, tr.85 ]
Trên thực tế, quyền con ngời, quyền công dân có thể bị xâm hại từ phía các cơ quan, tổ chức, công chức nhà nớc trong khi thi hành công vụ; hoặc có thể bị xâm hại từ
Trang 30nhiều phía các thành viên của xã hội Nhng đáng lu ý là nguy cơ xâm hại từ phía cơ quan, tổ chức, công chức nhà nớc Bởi trong quan hệ với Nhà nớc, công dân vừa là chủ, vừa là đối tợng bị quản lý, vì thế quyền và lợi ích của họ có nguy cơ bị xâm hại Sự xâm hại đó có thể do trình độ non kém trong tổ chức, quản lý, do năng lực làm việc hoặc do thiếu tinh thần trách nhiệm, và cũng có thể do một bộ phận cán bộ công chức thoài hoá biến chất, vô đạo đức Đó là tình trạng không ai mong muốn nhng nó vẫn tồn tại.
Đặc biệt, trong hoạt động của bộ máy nhà nớc thì hoạt động của cơ quan hành chính nhà nớc và các cơ quan bảo vệ pháp luật nói chung rất dễ có nguy cơ làm phơng hại đến quyền con ngời, quyền công dân Bởi vì các quyết định quản lý của cơ quan hành chính nhà nớc, các phán quyết của cơ quan bảo vệ pháp luật đều trực tiếp đụng chạm đến quyền, lợi ích của công dân Hơn nữa, trong quan hệ với các cơ quan này, công dân với t cách là ngời bị quản lý và chịu sự phán quyết nên họ luôn ở vào vị thế bất lợi hơn Trong điều kiện đó, công dân không còn vũ khí, phơng tiện nào khác ngoài pháp luật để đấu tranh, tự bảo vệ các quyền và lợi ích của mình Chỉ có pháp luật, bằng các qui định chặt chẽ của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức nhà nớc; về quyền, nghĩa vụ của công dân,
là cơ sở pháp lý vững chắc để công dân đấu tranh chống lại hành vi xâm hại, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình
Xét trên phơng diện đó, pháp luật là vũ khí, là phơng tiện của nhân dân Bởi vậy, các qui định trong pháp luật không chỉ một chiều tạo thuận lợi cho các cơ quan, tổ chức, cán bộ công chức nhà nớc trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ mà còn phải
đủ, cụ thể, đơn giản, dễ hiểu, tạo điều kiện dễ dàng cho nhân dân sử dụng pháp luật bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của Nhà nớc và xã hội
Nếu một Nhà nớc có hệ thống pháp luật đồng bộ, chất lợng, với mục đích vì con ngời, vì công dân, cùng với xã hội có trình độ dân trí tơng đối cao, hiểu biết pháp luật, có hệ thống t vấn và dịch vụ pháp lý đợc tổ chức và quản lý chặt chẽ, thì pháp luật thực sự là chỗ dựa, là vũ khí sắc bén trong đấu tranh bảo vệ tự do dân chủ và công bằng
Trang 31trong xã hội Khi đó, quyền con ngời, quyền công dân nói chung, quyền khiếu nại, tố cáo nói riêng đợc phát huy ở trình độ cao, và chỉ khi đó - nh Hêra Clit đã nói - pháp luật mới là của nhân dân, vì nhân dân và "nhân dân phải đấu tranh bảo vệ pháp luật nh bảo vệ chỗ nơng thân của mình" [ 26, tr.6 ]
1.2.4 Vai trò quan trọng hàng đầu của pháp luật trong việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của công dân:
Vai trò quan trọng hàng đầu của pháp luật trong việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của công dân đợc thể hiện trong mối quan hệ giữa pháp luật và các điều kiện đảm bảo khác (nh điều kiện chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục ) Các điều kiện này phải thông qua pháp luật, thể hiện dới hình thức pháp luật mới trở thành giá trị xã hội ổn định, đợc hiện thực hoá trên qui mô toàn xã hội Và chỉ có nh vậy, các điều kiện
đó mới phát huy đợc vai trò của mình trong việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của công dân
Chẳng hạn về phơng diện chính trị: đờng lối, chính sách của Đảng và Nhà nớc nhằm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đảm bảo độc lập dân tộc gắn với Chủ nghĩa xã hội, xây dựng Nhà nớc pháp quyền của dân, do dân, vì dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong quản lý nhà nớc, quản lý xã hội.v.v thì phải đợc thể chế hoá trong Hiến pháp và pháp luật Hiến pháp qui định chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hoá, xã hội, qui định về tính chất và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nớc và các tổ chức xã hội Đó chính là cơ sở pháp lý để xây dựng một xã hội có cơ cấu tổ chức và chế độ chính trị hớng đích tôn trọng các quyền con ngời, bảo vệ và thực hiện các quyền con ngời, quyền công dân trong đó có quyền khiếu nại, tố cáo của công dân
ở nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đảng cộng sản Việt Nam là "lực lợng lãnh đạo nhà nớc và xã hội" [ 4, tr.14 ] Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện tiên quyết bảo đảm Nhà nớc thực sự là của dân, do dân, vì dân; xây dựng nền dân chủ, đảm bảo định hớng xã hội chủ nghĩa trong sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, tạo tiền đề, điều kiện đảm bảo thực hiện quyền con ngời, quyền công dân Cơng lĩnh, đờng
Trang 32lối, chính sách, các nghị quyết của Đảng muốn trở thành hiện thực phải đợc thể chế hoá thành pháp luật Nh vậy, trong điều kiện Đảng cầm quyền, pháp luật trở thành ph-
ơng tiện hữu hiệu chuyển tải đờng lối, chính sách, nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, cũng có nghĩa là bảo đảm vai trò chủ đạo của Đảng đối với nhà nớc và xã hội
Vì thế, điều kiện đảm bảo thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của công dân phải
đợc định hình trong pháp luật, biểu hiện dới hình thức pháp luật mới trở thành hiện thực và có hiệu lực đối với toàn xã hội
Xây dựng hệ thống chính trị dân chủ trong đó có Nhà nớc pháp quyền đều phải thông qua những qui định cụ thể trong Hiến pháp và pháp luật Phát triển kinh tế tạo cơ sở vật chất đảm bảo thực hiện và nâng cao chất lợng quyền con ngời là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo thực hiện tốt quyền công dân, trong đó có quyền khiếu nại, tố cáo của công dân Nhng muốn phát triển kinh tế phải có đờng lối chính sách, cơ chế quản lý kinh tế đúng đắn và phải đợc cụ thể hoá trong pháp luật Pháp luật tạo khuôn khổ, tạo môi trờng pháp lý thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phát huy tiềm năng, đảm bảo nền kinh tế phát triển theo định hớng xã hội chủ nghĩa, hạn chế đợc các mặt tiêu cực của cơ chế này, gắn việc phát triển kinh tế với thực hiện các chính sách xã hội, bảo vệ môi trờng, gìn giữ truyền thống và bản sắc dân tộc; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Chính vì thế, muốn phát triển kinh tế, Nhà nớc phải quản lý kinh tế bằng pháp luật Bên cạnh đó, những nội dung thực hiện và bảo vệ quyền con ngời, quyền công dân về kinh tế cũng đòi hỏi phải đợc qui định bằng pháp luật, đợc điều chỉnh bằng pháp luật ngay trong quá trình phát triển kinh tế
Đờng lối phát triển văn hoá, giáo dục, nâng cao dân trí cũng phải đợc thể chế hoá trong hệ thống pháp luật đảm bảo cho con ngời đợc phát triển tự do và toàn diện Pháp luật qui định, tạo điều kiện cho công dân đợc học tập, nâng cao kiến thức về nhiều mặt; đồng thời pháp luật tạo ra khuôn khổ, môi trờng của nền văn hoá, giáo dục mới, vừa tiếp thu tinh hoa của nền văn minh nhân loại, vừa gìn giữ và phát huy bản sắc, truyền thống dân tộc Mặt khác, thực hiện và bảo vệ các quyền đó trên thực tế, Nhà nớc
Trang 33đã đa ra những qui định để công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan nhà nớc những hành vi vi phạm pháp luật, xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ và những hành vi vi phạm đó phải đợc xử lý bằng pháp luật Pháp luật cũng có vai trò giáo dục mạnh mẽ đối với các thành viên xã hội, góp phần hình thành văn hoá pháp lý ở mỗi công dân và trong toàn xã hội, làm cho mọi ngời hiểu, biết pháp luật, sống và làm theo pháp luật, biết bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình bằng pháp luật, biết tôn trọng quyền và lợi ích của ngời khác, kiên quyết đấu tranh với những hành vi vi phạm pháp luật làm thiệt hại đến lợi ích Nhà nớc, tổ chức, xã hội
Tóm lại, xây dựng chế độ chính trị dân chủ, phát triển kinh tế, văn hoá, giáo
dục, nâng cao dân trí là điều kiện đảm bảo thực hiện quyền con ngời, quyền công dân nói chung, quyền khiếu nại, tố cáo của công dân nói riêng, nhng tiến trình phát triển chúng phải đợc định hình và đợc điều chỉnh bằng pháp luật, phải dựa trên cơ sở những qui định của pháp luật Nói cách khác, pháp luật đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong việc thực hiện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trên mọi lĩnh vực
và qui mô toàn xã hội
1.3 Nhà nớc pháp quyền và các yêu cầu hoàn thiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân
1.3.1 Quan niệm về nhà nớc pháp quyền:
Trớc hết cần phải khẳng định rằng: Nhà nớc pháp quyền không phải là một kiểu nhà nớc Trong lịch sử chỉ có 4 kiểu nhà nớc: chủ nô, phong kiến, t sản và xã hội chủ nghĩa
Nhà nớc pháp quyền, nói một cách khái quát, là hệ thống các t tởng, quan
điểm đề cao pháp luật, pháp chế trong tổ chức, hoạt động của bộ máy Nhà nớc và trong
đời sống xã hội Nhà nớc pháp quyền là Nhà nớc quản lý xã hội bằng pháp luật Đơng nhiên, cũng nh Nhà nớc, pháp luật bao giờ cũng mang bản chất giai cấp, phục vụ cho lợi ích của giai cấp cầm quyền
Trang 34Các t tởng, quam điểm liên quan đến Nhà nớc pháp quyền xuất hiện từ rất sớm, tiêu biểu là các nhà t tởng Hy Lạp và La Mã cổ đại.
Trong phong trào đấu tranh lật đổ chế độ phong kiến tàn bạo, chuyên chế, độc tài, các t tởng, quan điểm về một Nhà nớc pháp quyền vẫn tiếp tục phát triển và ngày càng đợc hoàn thiện đầy đủ hơn, rõ nét hơn
Nói chung, các nhà t tởng trong lịch sử đều cho rằng Nhà nớc phải tuân thủ pháp luật, bị ràng buộc bởi pháp luật mặc dù pháp luật đó do chính Nhà nớc đặt ra nhằm bảo đảm quyền và lợi ích cho giai cấp thống trị
Nhà nớc ta là Nhà nớc xã hội chủ nghĩa, Nhà nớc của dân, do dân, vì dân, nên trong chiến lợc phát triển kinh tế, xã hội từ năm 2001 đến năm 2010, Đảng ta đã xác
định rõ mục tiêu "xây dựng Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa dới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam" [ 6, tr.131 ]
Có nhiều quan điểm, cách tiếp cận khác nhau khi đề cập đến vấn đề Nhà nớc pháp quyền, nhng tựu trung có thể khái quát một số dấu hiệu đặc trng thuộc nội hàm của khái niệm Nhà nớc pháp quyền Việt Nam theo quan điểm của Đại hội Đảng lần thứ IX nh sau:
Thứ nhất, Nhà nớc pháp quyền là Nhà nớc phải có hệ thống pháp luật đồng bộ,
hoàn chỉnh, chất lợng cao, thể hiện đợc ý chí, lợi ích, nguyện vọng của nhân dân, phù hợp với hiện thực khách quan, thúc đẩy tiến bộ xã hội, trong đó Hiến pháp và các bộ luật phải giữ vị trí tối cao Các cơ quan nhà nớc, cán bộ, công chức nhà nớc và mọi thành viên trong xã hội phải tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật
Thứ hai, Nhà nớc pháp quyền là Nhà nớc đảm bảo quyền lực nhà nớc thuộc về
nhân dân Nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua hình thức dân chủ đại diện (qua cơ quan nhà nớc do mình bầu ra) và hình thức dân chủ trực tiếp bằng các hoạt động giám sát, kiểm tra và các hoạt động khác đối với các cơ quan nhà nớc
Thứ ba, Nhà nớc pháp quyền là Nhà nớc thực hiện đợc quản lý xã hội bằng
pháp luật, tăng cờng đợc pháp chế trong xã hội, xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi
Trang 35phạm pháp luật, bảo đảm thực hiện và bảo vệ đợc các quyền tự do và lợi ích chính
đáng, hợp pháp của công dân, chịu trách nhiệm trớc công dân về mọi hành động của mình; bởi lẽ trong Nhà nớc pháp quyền con ngời là giá trị và mục tiêu cao quý nhất của Nhà nớc
Thứ t, Nhà nớc pháp quyền là Nhà nớc tổ chức theo nguyên tắc quyền lực nhà
nớc là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nớc trong việc thực hiện 3 quyền : lập pháp, hình pháp và t pháp, nhằm hạn chế sự lộng quyền, lạm quyền, xâm phạm tới lợi ích hợp pháp của công dân từ phía Nhà nớc
Với những dấu hiệu đặc trng nêu trên, Nhà nớc pháp quyền của chế độ ta thể hiện những t tởng, quan điểm tích cực, tiến bộ, phản ánh mơ ớc và khát vọng của nhân dân đối với công lý, tự do, bình đẳng trong một xã hội còn giai cấp Trong điều kiện
đổi mới hiện nay, chúng ta đặt vấn đề đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nớc theo định hớng xây dựng Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực chất là tiếp thu những quan điểm tích cực, tiến bộ và khoa học về Nhà nớc pháp quyền, nhằm xây dựng Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực sự là nhà nớc của dân, do dân và vì dân, dựa trên nền tảng là liên minh công nhân-nông dân-trí thức do
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Đó là Nhà nớc đảm bảo tất cả quyền lực nhà nớc thuộc về nhân dân, vì thế quyền lực nhà nớc là thống nhất, không tam quyền phân lập nhng có phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nớc về mặt lập pháp, hành pháp
và t pháp Đó là Nhà nớc thực hiện đợc quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cờng pháp chế, xử lý nghiêm minh kịp thời mọi trờng hợp vi phạm pháp luật, nhằm thực hiện và bảo vệ đợc các quyền tự do dân chủ, lợi ích hợp pháp của nhân dân, ngăn ngừa mọi sự tuỳ tiện lạm quyền từ phía cơ quan nhà nớc, cán bộ, công chức nhà nớc, ngăn ngừa hiện tợng dân chủ cực đoan, vô kỷ luật, kỷ cơng, đảm bảo hiệu lực , hiệu quả hoạt động của Nhà nớc Đó là Nhà nớc mà mọi tổ chức, hoạt động của Nhà nớc, của nhân viên nhà nớc phải dựa trên cơ sở pháp luật, tuân thủ pháp luật, chịu trách nhiệm trớc công dân về mọi hoạt động của mình
Trang 36Từ những quan điểm nêu trên chúng ta có thể nói một cách khái quát rằng : Nhà nớc pháp quyền là quan niệm, là t tởng về dân chủ, và về phơng thức tổ chức quyền lực trong đó vai trò pháp luật đợc đề cao Nh vậy, trong Nhà nớc pháp quyền , dân chủ và phơng thức tổ chức quyền lực là hai tổ hợp lớn nhất trong nội hàm khái niệm Nhà nớc pháp quyền , chúng liên quan hữu cơ với nhau, không thể thiếu một tổ hợp nào Dân chủ phải đợc thực hiện bằng nhiều hình thức, nhng hình thức cơ bản nhất, chủ yếu nhất là Nhà nớc Tổ chức nhà nớc có tốt thì mới bảo đảm cho dân chủ đ-
ợc xác định đúng và đi vào cuộc sống sinh động của xã hội
1.3.2 Hoàn thiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân là yêu cầu cần thiết khách quan trong điều kiện xây dựng Nhà nớc pháp quyền ở nớc ta hiện nay:
Nhà nớc pháp quyền mà chúng ta đang xây dựng là Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, là Nhà nớc của dân, do dân, vì dân, tất cả quyền lực nhà nớc thuộc về nhân dân, sứ mệnh của Nhà nớc là phục vụ lợi ích của nhân dân Trong mối quan hệ với công dân, Nhà nớc là sự đảm bảo quan trọng nhất, quyết định nhất, đối với các quyền tự do dân chủ của công dân, đặc biệt là quyền khiếu nại, tố cáo Sự đảm bảo ấy (nh đã nói ở phần tiết 1.2) đợc thể hiện trên tất cả các phơng diện từ tổ chức, kinh tế, t tởng đến pháp lý Trong đó đảm bảo pháp lý là quan trọng nhất
Do vậy, việc xây dựng và thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nớc ta mà việc đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của công dân không chỉ là mục tiêu lâu dài mà còn là một phơng thức, phơng pháp rất cơ bản để lôi cuốn đông đảo nhân dân vào sự nghiệp xây dựng đất nớc và phát triển mọi mặt của đời sống xã hội Đó cũng là một phơng pháp, phơng thức cơ bản, cấp bách để tiến hành thắng lợi cuộc đấu tranh chống tiêu cực, nhằm làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội, xây dựng và củng cố hệ thống chính trị ở nớc ta, đặc biệt là góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo t tởng Hồ Chí Minh - mà thực chất là Nhà nớc của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam
Trang 37Việc đảm bảo về pháp lý quyền khiếu nại, tố cáo của công dân nói chung, hoàn thiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân nói riêng vừa thể hiện bản chất Cách mạng, bản chất nhân dân và tính u việt của Nhà nớc và chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là sự khởi đầu để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủ đất n-
ớc, làm chủ xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, lợi ích của Nhà nớc và củacơ quan, tổ chức
Từ những đặc trng cơ bản của Nhà nớc pháp quyền nh trên, muốn xây dựng một Nhà nớc pháp quyền trong điều kiện ở nớc ta hiện nay, vấn đề hoàn thiện hệ thống pháp luật trong đó có pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân là một yêu cầu tất yếu Bởi vì, một trong những nội dung cơ bản của Nhà nớc pháp quyền là pháp luật, trớc hết Hiến pháp và các đạo luật, phải giữ vị trí tối cao; tính lập hiến phải trở thành nguyên tắc quan trọng của các thể chế, tổ chức, chính sách và toàn bộ hệ thống pháp luật nói chung, của từng văn bản pháp luật nói riêng Chỉ có trên cơ sở đó chúng ta mới
có thể định ra đợc một hệ thống thể chế, tổ chức, chính sách và pháp luật đồng bộ, ổn
định tạo thành môi trờng pháp lý và thể chế thống nhất cho các hoạt động của toàn xã hội - trong đó có hoạt động bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, của Nhà nớc Pháp luật đó phải có chất lợng tốt cả về luật nội dung cũng nh luật về thủ tục, nghĩa là pháp luật phải thể hiện đúng đắn ý chí, nguyện vọng của nhân dân, phù hợp với hiện thực khách quan, là đại lợng phổ biến và công bằng nhất, có tác dụng thúc đẩy tiến bộ xã hội Pháp luật đó phải đợc Nhà nớc, nhân viên các cơ quan nhà nớc, mọi ngời trong xã hội tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành Pháp luật đó phải tôn trọng, bảo vệ các quyền và tự do cơ bản, các lợi ích hợp pháp, danh dự, nhân phẩm của con ngời, của công dân Pháp luật đó phải qui định đúng đắn trách nhiệm qua lại giữa Nhà nớc
và công dân trong mối quan hệ quyền lực, Nhà nớc phải đảm bảo các quyền cơ bản của công dân, công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nớc, cộng đồng và xã hội
Trong Nhà nớc pháp quyền, vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của công dân phải đi liền với việc đấu tranh không khoan nhợng với các biểu hiện
Trang 38độc tài, quan liêu, hách dịch, cửa quyền và tham nhũng Vì thế, hệ thống pháp luật nói chung, đặc biệt là pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân phải thể hiện là vũ khí sắc bén của Nhà nớc, của công dân trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà n-ớc.
Mặt khác, hoàn thiện pháp luật trong đó có pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân là một việc làm có tính chất thờng xuyên bởi, pháp luật chẳng qua chỉ là sự phản ánh dới hình thức pháp lý các quan hệ xã hội Những biến đổi xã hội, nhất là những biến đổi trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, tất yếu dẫn đến sự lỗi thời của pháp luật, đối với nớc ta điều đó càng rõ nét Công cuộc đổi mới đất nớc từ đổi mới t duy, đổi mới toàn diện đời sống xã hội đã thực sự là một quá trình cải biến Cách mạng, làm thay đổi toàn bộ diện mạo xã hội, từ hạ tầng cơ sở đến thợng tầng kiến trúc, trong
đó có Nhà nớc, pháp luật Quá trình đổi mới vẫn đang trên đà phát triển thì Nhà nớc, pháp luật cũng phải đợc thờng xuyên hoàn thiện Ngợc lại, mức độ hoàn thiện của pháp luật nh thế nào cũng sẽ ảnh hởng trực tiếp đến quá trình đổi mới, hoàn thiện Nhà nớc Nhất là từ sau Đại hội Đảng lần thứ VIII, việc hoàn thiện pháp luật, đặc biệt là pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân lại càng trở nên quan trọng Bởi vì, một trong những quan điểm cơ bản hoàn thiện bộ máy nhà nớc của Đảng ta trong thời giam tới là: "tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu qủa, cán bộ, công chức nhà n-
ớc thực sự là công bộc, tận tuỵ phục vụ nhân dân" [10, tr.41] Nhà nớc pháp quyền có nghĩa vụ đảm bảo an toàn pháp lý cho công dân, nó trang bị cho công dân những quyền cơ bản, những cơ sở pháp luật để công dân có thể trở thành ngời chủ tham gia vào quản lý xã hội và kiểm soát hoạt động của Nhà nớc, chống lại chuyên quyền, chống lại những biểu hiện coi thờng pháp luật, vi phạm pháp luật Đó là những yếu tố, những tiền đề cơ bản để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và bảo vệ lợi ích của Nhà nớc, của tập thể
Pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân là công cụ pháp lý quan trọng đối với công dân, nó có ý nghĩa quan trọng đối với Nhà nớc pháp quyền Hớng về
Trang 39con ngời là mục tiêu của Nhà nớc pháp quyền, là ý tởng cao cả của cuộc đấu tranh giải phóng con ngời Để cho mọi hành vi vi phạm pháp luật đều đợc phát hiện, và bị xử lý, Nhà nớc phải tôn trọng, lắng nghe ý kiến từ nhân dân; tôn trọng, bảo đảm quyền khiếu nại - quyền tự vệ hợp pháp của công dân Cũng từ đó giá trị của Nhà nớc pháp quyền, quyền công dân, quyền con ngời đợc đảm bảo Thông qua khiếu nại, tố cáo của công dân, Nhà nớc thấy đợc tiếng nói của nhân dân từ cơ sở, thấy đợc sự phản ánh về chính bản thân mình; thông qua khiếu nại, tố cáo công dân có thể thực hiện quyền tự bảo vệ mình, thực hiện quyền kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật Do vậy có thể nói rằng tiến trình xây dựng Nhà nớc pháp quyền, trong việc đảm bảo quyền khiếu nại, tố cáo của công dân thì việc hoàn thiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân
là sự cần thiết khách quan Bởi lẽ, một là: thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo là công
dân thực hiện quyền tự vệ nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, lợi ích của Nhà nớc, của tập thể Quyền khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân đợc ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật của Nhà nớc, nó phản ánh giá trị dân chủ, mà dân chủ là mục tiêu cũng nh nền tảng cơ bản của Nhà nớc pháp quyền
Hai là: việc công dân sử dụng quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan nhà nớc thông qua
công cụ, phơng tiện pháp luật đối với bất kì vi phạm pháp luật nào mà trớc hết là những
vi phạm pháp luật của bản thân cơ quan hành chính nhà nớc, vốn là nơi thực hiện quyền cai trị, áp đặt các mệnh lệnh, các đòi hỏi đối với công dân Điều đó thể hiện tính tối cao của pháp luật Mọi vi phạm pháp luật đều bị xem xét, xử lý, không loại trừ một
ai - dù đó là vi phạm của bản thân Nhà nớc Ba là: ý nghĩa sâu rộng của khiếu nại, tố
cáo là công dân phát hiện, báo động cho Nhà nớc về những hạn chế của cơ chế chính sách, pháp luật khiếm khuyết của bộ máy nhà nớc, những hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức nhà nớc xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích của Nhà nớc, của cơ quan, tổ chức để Nhà nớc kịp thời xử lý, sửa đổi, làm cho
bộ máy nhà nớc ngày một trong sạch, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả hơn Đó cũng là một trong những điều kiện đảm bảo từng bớc xây dựng và hoàn thiện Nhà nớc pháp quyền ở nớc ta hiện nay