1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀN về NGƯỜI THỪA kế KHÔNG PHỤ THUỘC vào nội DUNG DI CHÚC THEO bộ LUẬT dân sự năm 201 5

24 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 665,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khác với các quan hệ dân sự khác, quan hệ thừa kế chỉ phát sinh khi có cá nhân bị chết nên pháp luật quy định rõ, thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết đồng thời kể từ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA



BÀI TẬP LỚN MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

Chủ đề 3

BÀN VỀ NGƯỜI THỪA KẾ KHÔNG PHỤ THUỘC

Giảng viên hướng dẫn: Lê Mộng Mơ

Sinh viên thực hiện Mã số sinh viên

Trương Quý Phát 1910435

Võ Thị Uyên Nhi 2014031 Trịnh Phú Phát 1813495 Ngô Phan Văn Pháp 1910427

Trang 2

BÁO CÁO PHÂN CÔNG NHI ỆM VỤ VÀ KT QU Ả

1 Trương Quý Phát 1910435 Phần mở đầu;

2.3; Phần kết luận; Tổng hợp nội dung

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU……… 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Nhiệm vụ của đề tài 2

PHẦN NỘI DUNG! 4

CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI THỪA KẾ KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO NỘI DUNG DI CHÚC THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 4

1.1 Chế định thừa kế theo di chúc trong Bộ luật Dân sự 4

1.2 Khái quát chung về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc 8

CHƯƠNG II NGƯỜI THỪA KẾ KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO NỘI DUNG DI CHÚC THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 201 5- TỪ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP ĐẾN KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT 12

2.1 Vấn đề pháp lý phát sinh trong vụ việc và quan điểm của các cấp Tòa án 13

2.2 Nhận xét của nhóm nghiên cứu về tranh chấp và một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành 15

2.3 Thực tiễn giải quyết các tranh chấp liên quan thừa kế bắt buộc tại Việt Nam hiện nay 16

PHẦN KẾT LUẬN !! 20

DANH M C TÀI LI U THAM KHỤ Ệ ẢO 21

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Quan hệ thừa kế xuất hiện từ rất sớm, song song với quan hệ sở hữu trong đời sống xã hội; cùng với sự phát triển của xã hội những vấn đề về pháp luật thừa kế, tranh chấp thừa kế và giải quyết tranh chấp thừa kế luôn tồn tại, thay đổi phù hợp từng hình thái xã hội tương ứng, truyền thống, văn hoá ở mỗi quốc gia Con người là thực thể xã hội nhưng đồng thời là thực thể sinh học mà sự sống, chết của con người chịu tác động bởi quy luật sinh học Cái chết của một con người làm chấm dứt sự tồn tại con người sinh học đồng thời làm chấm dứt năng lực chủ thể (đời sống pháp lý) của con người trong xã hội Tuy nhiên, cái chết của con người không làm chấm dứt tất cả các quan hệ

xã hội mà họ tham gia, đặc biệt là các quan hệ về tài sản bao gồm quyền và nghĩa vụ pháp lý của họ, bởi sự tồn tại của các quan hệ này phụ thuộc vào sự vận động các quy luật kinh tế trong xã hội Khác với các quan hệ dân sự khác, quan hệ thừa kế chỉ phát sinh khi có cá nhân bị chết nên pháp luật quy định rõ, thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết đồng thời kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền và nghĩa vụ tài sản do người chết để lại Chính sự khác biệt này của quan hệ thừa

kế mà một số nội dung trong quan hệ này cũng có tính chất đặc thù như quy định cho thai nhi được bảo lưu tư cách hưởng di sản thừa kế, mặc dù chưa có năng lực chủ thể; người thừa kế thực hiện quyền và nghĩa vụ mà người chết để lại và thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản của người chết để lại

Tranh chấp thừa kế ở nước ta được xem là loại án dân sự phổ biến, phức tạp, có những vụ án tranh chấp thừa kế kéo dài hàng chục năm Một nguyên nhân quan trọng làm cho tranh chấp thừa kế phức tạp vì đây là tranh chấp giữa những người thân thích

có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng Tính chất phức tạp của loại án tranh chấp về thừa kế có nhiều nguyên nhân, một nguyên nhân quan trọng làm cho tranh chấp thừa kế phức tạp vì đây là tranh chấp giữa những người thân thích có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng; mặt khác di sản thừa kế thường là quyền sử dụng đất và nhà ở vốn đã là những đối tượng tranh chấp có tính chất gay gắt, bức xúc từ sau khi Luật đất đai năm 1993 có hiệu lực; sự chi phối, ảnh hưởng của các giá trị truyền thống về văn hoá, đạo lý trong gia đình; và khi giải quyết tranh chấp thừa kế, ngoài chế định thừa kế

Trang 5

trong Bộ luật dân sự còn liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật như pháp luật về sở hữu, về hôn nhân và gia đình, về đất đai… cần được nghiên cứu áp dụng

Kiểm s át việc giải quyết các vụ án dân sự nói chung và tranh chấp trong lĩnh vực thừa o

kế nói riêng là một trong những công tác thực hiện chức năng kiểm sát tư pháp đã được quy định trong Hiến pháp của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân nhằm bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Khi kiểm s át việc giải quyết các vụ việc dân sự nói chung và các o

vụ án về tranh chấp trong lĩnh vực thừa kế nói riêng, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm

vụ, quyền hạn: Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu; kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụ, việc; thu thập chứng cứ, tài liệu trong trường hợp pháp luật quy định; tham gia phiên tòa, phiên họp, phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về việc giải quyết vụ, việc theo quy định của pháp luật; kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án; kiểm sát hoạt động tố tụng của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật; kháng nghị, kiến nghị bản án, quyết định của tòa án có vi phạm pháp luật; kiến nghị, yêu cầu tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tố tụng; thực hiện nhiệm

vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát việc giải quyết vụ, việc dân sự theo quy định của pháp luật

Vậy nên, nhóm tác giả thự hiện việc nghiên cứu đề tài “Bàn về người thừa kế c không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo ộ luật ân sự năm 2015” cho Bài tập lớn B Dtrong chương trình học môn Pháp luật Việt Nam Đại cương

2 Nhiệm vụ của đề tài

Một là, làm rõ những vấn đề lý luận chung về thừa kế, quyền thừa kế theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 Đặc biệt trong đó là quyền thừa kế theo di chúc

Hai là , làm sáng tỏ từng trường hợp và những điều kiện để được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung chúc được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015.di

Ba là, làm rõ phần di sản được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015

Trang 6

Bốn là, phân tích để làm sáng tỏ cơ sở và ý nghĩa của việc pháp luật quy định những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

Năm là, nhận xét vấn đề từ góc độ thực tiễn, phát hiện những bất cập của quy định hiện hành

Sáu là, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chế định thừa kế không phụ thuộc vào

nội dung di chúc theo Bộ luật Dân sự 2015

Trang 7

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI THỪA KẾ KHÔNG PHỤ THUỘC

VÀO NỘI DUNG DI CHÚC THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

1.1 Chế định thừa kế theo di chúc trong Bộ luật Dân sự

Thừa kế được hiểu là sự chuyển dịch tài sản của người chết để lại cho những người còn sống

Quyền thừa kế là quyền của chủ thể về việc lập di chúc để lại tài sản của mình cho người khác hưởng sau khi chết và quyền của chủ thể được phép hưởng di sản của người chết để lại, là một trong những quyền cơ bản của công dân Có thể hiểu rằng bản chất sâu xa của thừa kế là bảo vệ quyền tài sản của công dân

Tại điều 613 Bộ luật Dân sự 2015 đã đưa ra những quy định về liên quan đến việc thừa kế như sau:

Thứ nhất, người thừa kế có thể là cá là cá nhân hoặc tổ chức Nếu là cá nhân thì đó phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc cá nhân là thai nhi thì phải thành thai trước khi người để lại di sản chết, được sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa

kế Trường hợp người thừa kế là cơ quản tổ chức thì cơ quan tổ chức đó phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế

Thứ hai, người để lại thừa kế là người đã lập di chúc về việc để lại tài sản của mình cho người khác sau khi chết, phần tài sản đó được gọi là di sản, nếu không có di chúc thì di sản sẽ được chia theo pháp luật Di sản thừa kế bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tải sản của người chết trong khối tài sản chung với chủ thể khác Người để lại di sản thừa kế chỉ có thể là cá nhân, có tài sản riêng, không phân biệt thành phần xã hội hay mức độ năng lực hành vi,

Thời điểm mở thừa kế là thời điểm mà người có tài sản chết, nếu một người được Tòa án tuyên bố là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày mà Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết Thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế là kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ đối với tài sản do người chết để lại

Trang 8

Theo điều 611 của Bộ luật Dân sự 2015: “Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm

mở thừa kế là nơi có toàn bộ di sản hoặc nơi có phần lớn di sản.” Việc xác định địa điểm mở thừa kế có ý nghĩa hết sức quan trọng trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp

về thừa kế bởi vì người thừa kế cần phải thực hiện các thủ tục pháp lí liên quan tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xác nhận các quyền của mình đối với di sản thừa kế Trường hợp không có hoặc không xác định được người thừa kế thì cơ quan nhà nước sẽ

kế đang quản lý di sản thì di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản; di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản

Tiếp đến, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế Cuối cùng là thời hiệu thực hiện nghĩa vụ với di sản, yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế Như vậy,so với quy định của Bộ luật Dân sự 2005, Bộ luật Dân sự 2015 đã phân biệt rõ thời hiệu khởi kiện về thừa kế đối với di sản thừa kếđộng sản và bất động sản (10 năm đối với động sản và 30 năm đối với bất động sản) Đồng thời, Bộ luật Dân sự

2015 cũng đưa ra quy định mới về việc xử lí di sản sau khi hết thời hiệu thừa kế, kể từthời điểm mở thừa kế mà di sản chưa được chia thì sẽ thuộc về người thừa kế đang quản

lí di sản đó, người đang chiếm hữu hoặc Nhà nước, theo thứ tự ưu tiên Những đổi mới này rất phù hợp với tính chất quan trọng của từng loại di sản thừa kế và tương thích vớiquy định về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu

Trang 9

1.1.2 Khái niệm về thừa kế theo di chúc

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân lúc còn sống nhằm chuyển tài sản của mình sau khi chết cho người khác một cách tự nguyện, di chúc chỉ có hiệu lực sau khi người lập di chúc chết

Di chúc được thể hiện thông qua một hình thức nhất định, bao hàm những đặc điểm:

Thứ nhất, di chúc thể hiện ý chí đơn phương của cá nhân Vì người lập di chúc toàn quyền định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho người khác sau khi chết, không phụ thuộc vào ý chí của các chủ thể khác Thông qua việc lập di chúc, cá nhân xác lập một giao dịch dân sự về thừa kế với quyết định chuyển giao một phần hoặc toàn

bộ di sản của mình cho người đã được xác định trong di chúc Việc xác định này không dựa trên việc người nhận di sản thừa kế chắc chắn sẽ nhận phần di sản được giao trong

di chúc mà chỉ là ý chí đơn phương của người lập di chúc Khác với các giao dịch dân

sự khác như hợp đồng, nếu hợp đồng là sự thỏa thuận ý chí giữa các bên, thì trong di chúc, chỉ có ý chí của một bên

Thứ hai, mục đích của di chúc là dịch chuyển di sản của người chết cho những người khác đã được xác định trong di chúc Đây là một căn cứ quan trọng để xác định việc dịch chuyển tài sản của người chết sang cho những người khác có hợp pháp không Người thừa kế theo di chúc phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế

Thứ ba, thời điểm có hiệu lực của di chúc là kể từ thời điểm mở thừa kế Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người lập di chúc chết Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày Tòa án xác định ngày chết của người

bị tuyên bố là đã chết

Từ khái niệm và những đặc điểm của di chúc, ta kết luận thừa kế theo di chúc là sự dịch chuyển di sản của người chết cho những người còn sống (người thừa kế) dựa trên những nội dung mà di chúc để lại

Quyền của người lập di chúc được quy định tại Điều 626 và điều 640 của Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

Người lập di chúc có quyền chỉ định hoặc truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; phân định phần di sản cho từng người thừa kế hay dành một phần tài sản trong khối

Trang 10

di sản để di tặng, thờ cúng; giao nghĩa vụ cho người thừa kế; chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản Người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ di chúc đã lập vào bất cứ lúc nào Khi người lập di chúc bổ sung di chúc thì di chúc đã lập và phần bổ sung có hiệu lực pháp luật như nhau nhưng nếu một phần của di chúc đã lập và phần bổ sung mâu thuẫn nhau thì chỉ phần bổ sung có hiệu lực pháp luật Trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc mới thì di chúc trước sẽ bị hủy bỏ

Một di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

Thứ nhất, người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc, không

bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép Nội dung của di chúc không vi phạm pháp luật, đúng chuẩn mực đạo đức xã hội, hình thức di chúc không trái quy định

Thứ hai, di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý

Thứ ba, di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực Thứ tư, di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp nếu có đủ các điều kiện mà pháp luật quy định

Thứ năm, di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người lập di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người lập di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng phải ghi chép lại và cùng ký tên hoặc điểm chỉ Di chúc miệng phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày lập di chúc

Di chúc có hai hình thức là di chúc bằng văn bản và di chúc miệng Trong đó di chúc bằng văn bản bao gồm: di chúc bằng văn bản không có người làm chứng, di chúc bằng văn bản có người làm chứng và di chúc bằng văn bản có công chứng hoặc văn bản

có chứng thực Trường hợp người muốn lập di chúc bị đe dọa bởi cái chết và không có khả năng lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng, nếu sau 3 tháng người lập di chúc miệng vẫn còn sống, minh mẫn thì di chúc miệng sẽ mặc nhiên bị hủy bỏ

Trang 11

1.2 Khái quát chung về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

1.2.1 Quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về người được hưởng thừa kế và

không được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

Theo Điều 644 của Bộ luật Dân sự năm 2015 về các trường hợp được hưởng thừa

kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc như sau:

“1 Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp

họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.”

Vậy theo khoản 1 để được hưởng di sản trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc ít hơn hai phần ba được hưởng thì phải thuộc trường hợp là con chưa thành niên, là cha,mẹ, vợ, chồng của người lập di chúc hoặc con đã thành niên mà không có khả năng lao động, những trường hợp này sẽ được hưởng phần

di sản bằng hai phần ba phần tài sản được chia theo pháp luật

Theo Điều 644 của Bộ luật Dân sự năm 2015 về các trường hợp không được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc như sau:

“2 Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.”

Theo đó những người không được quyền hưởng di sản được qui định theo Điều

621, khoản 1 của Bộ luật Dân sự năm 2015:

“Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành

vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh

dự, nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

Trang 12

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.”

Vậy dựa vào khoản 2 Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 đã qui định thì người không

có quyền hưởng di sản thuộc các trường đã qui định ở Điều 621, khoản 1 của Bộ luật Dân sự 2015, những trường hợp như là: Đánh đập, ngược đãi người để lại di sản, gây thương tích ảnh hưởng đến tính mạng của những người thùa kế khác, cưỡng chế người lập di chúc, giả mạo di chúc,… thì sẽ bị liệt kê vào diện không có quyền hưởng thừa kế

1.2.2 Điều kiện hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy

định của Bộ luật Dân sự năm 2015

Theo Điều 644, khoản 1 của Bộ luật Dân sự năm 2015 đã qui định thì hai trường hợp dưới đây sẽ được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc:

“a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.”

Thứ nhất, con chưa thành niên

Theo Điều 21 Bộ luật Dân sự 2015 qui định:“ Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi,…” Chưa phát triển đầy đủ về mặt thể chất và chưa có đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của một công dân, có mối quan hệ rõ ràng với người để lại di sản thì

sẽ được hưởng hai phần ba phần tài sản được chia theo pháp luật kể cả cha, mẹ nuôi với con nuôi nếu có mối quan hệ chăm sóc và nuôi dưỡng được qui định ở Điều 653 và Điều 654 của Bộ luật Dân sự năm 2015

Thứ hai, con thành niên mà không có khả năng lao động

Nghĩa là con đã từ đủ 18 tuổi trở lên nhưng hạn chế về khả năng lao động không, căn cứ theo Nghị quyết số 03/2006/NQ HĐTP ngày 08/07/2006 có thể xem người mất -khả năng lao động như sau:

“Người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt

Ngày đăng: 23/04/2022, 07:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w