CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Hiện nay, trên thế giới có nhiều tiêu thức để phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa, bao gồm vốn, lao động, doanh thu, lợi nhuận và giá trị gia tăng Tuy nhiên, mỗi quốc gia và nền kinh tế lại lựa chọn các tiêu thức khác nhau tùy thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quy mô vốn và lao động là hai tiêu thức phổ biến nhất Các quốc gia phát triển thường có quy định về chỉ tiêu, quy mô vốn và lao động cao hơn so với các quốc gia kém phát triển Cụ thể, ở các quốc gia phát triển như Mỹ, Pháp và Nhật Bản, doanh nghiệp có số lao động từ 500 trở xuống được coi là doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong khi doanh nghiệp có số lao động 200 trở xuống được xem là doanh nghiệp nhỏ.
Theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ được định nghĩa là doanh nghiệp có dưới 10 lao động Doanh nghiệp nhỏ có từ 10 đến 15 lao động, trong khi doanh nghiệp vừa có từ 50 lao động trở lên.
Theo Điều 6 Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của Thủ tướng Chính phủ, tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam được phân chia theo quy mô, bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.
Bảng 1.1 trình bày các chỉ tiêu xếp loại doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó doanh nghiệp siêu nhỏ được xác định là những doanh nghiệp có không quá 10 nhân viên và tổng doanh thu hoặc tổng nguồn vốn không vượt quá 3 tỷ đồng.
BHXH bình quàn năm không quá 10 người quá 10 tý đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng Doanli nghiệp nhò
Có số lao động tham gia
BHXH bình quàn nãm khòng quá
Tống doanh thu của nãm không quá 50 tỷ đồng ho⅞c tổng nguồn vốn không quá
Có số lao động tham gia BHXH binh quàn năm không quá 50 người
Tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng ho⅞c tồng nguồn vốn không quá
Có số lao động tham gia
BHXH bình quân năm không quá
Tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá
Có số lao động tham gia BHXH bình quàn năm không quá
Tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đổng ho⅞c tổng nguồn vốn không quá
Mặc dù hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, loại hình khác nhau nhung nhìn chung, DNNVV có những đặc điểm cơ bản sau :
1.1.2.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa luôn năng động, nhạy bén, dễ thích ứng với sự thay đổi của thị trường Đây là uu thế nổi bật của DNNVV so với các Doanh nghiệp lớn,cụ thể: bộ máy quản lý gọn nhẹ, quy mô vốn nhỏ, cơ sở vật chất không lớn Do vậy
DNNVV có khả năng thay đổi linh hoạt, chuyên môn hóa và đáp ứng nhu cầu thị trường ngày càng cao Chúng có thể phản ứng nhanh trước biến động của thị trường, điều chỉnh quy mô sản xuất để phù hợp với nhu cầu Đây là điểm mạnh của DNNVV, trong khi các doanh nghiệp lớn thường có kế hoạch sản xuất dài hạn và quy mô vốn khó có thể thay đổi nhanh chóng mà không gây tổn thất lớn.
1.1.2.2 Doanh nghiệp nhỏ và vừa có phạm vi hoạt động rộng khắp, lĩnh vực hoạt động phong phú, đa dạng, tạo điều kiện khai thác tối ưu tiềm lực trong nước
Hiện nay, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chiếm khoảng 97% tổng số doanh nghiệp cả nước, cho thấy sự hiện diện của chúng trong hầu hết các thành phần kinh tế Để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng, DNNVV thường cung cấp các sản phẩm và dịch vụ phù hợp, đặc biệt là những thứ mà doanh nghiệp lớn chưa cung cấp Với quy mô vừa và nhỏ, DNNVV có khả năng linh hoạt trong việc thay đổi ngành nghề và cơ cấu sản phẩm, từ đó thích nghi tốt với sự biến đổi của nền kinh tế và nhu cầu thị trường Nhờ đó, DNNVV có thể giảm thiểu rủi ro từ sự thay đổi môi trường Hoạt động cho vay của ngân hàng cũng góp phần phân tán rủi ro và tránh những tác động tiêu cực từ biến động môi trường khi hỗ trợ DNNVV vay vốn.
Thành công của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) phụ thuộc vào việc nắm bắt các điều kiện cụ thể của đất nước về tài nguyên và lao động Các DNNVV có lợi thế trong việc tuyển dụng lao động địa phương và tận dụng nguồn tài nguyên, vật liệu sản xuất sẵn có, từ đó phát huy tối đa lợi thế vùng kinh tế cho sản xuất và kinh doanh.
1.1.2.3 Doanh nghiệp nhỏ và vừa có vốn đầu tư ban đầu thấp, chu kỳ kinh doanh ngắn, hoạt động hiệu quả với chi phí cố định thấp
Vốn đăng ký của DNNVV là duới 10 tỷ đồng, do đó để thành lập một
DNNVV thì không cần đến một lượng lớn vốn đầu tư ban đầu.
Chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) thường ngắn, dẫn đến vòng quay vốn lưu động nhanh Khi doanh nghiệp sử dụng vốn vay ngân hàng để đáp ứng nhu cầu kinh doanh, khả năng thu hồi vốn nhanh cho phép doanh nghiệp hoàn trả đúng hạn Điều này giúp ngân hàng chủ động lập kế hoạch sử dụng vốn, đảm bảo tốc độ luân chuyển vốn và đạt được mục tiêu lợi nhuận.
1.1.2.4 Khả năng tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa còn hạn ch ế Đặc trưng của các DNNVV đó là vốn tự có tham gia vào các dự án SXKD thường rất thấp Nếu NH cho vay, rủi ro với NH rất lớn, do đó NH phải yêu cầu các điều kiện về tài sản đảm bảo (TSĐB) nghiêm ngặt hơn Tuy nhiên, phần lớn các DN lại thiếu TSĐB Thủ tục về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay tài sản gắn liền với đất cho DN gặp nhiều khó khăn, thời gian chờ rất lâu, đặc biệt khi DN chuyển đổi hình thức Vì thế, các DN thường dùng TSĐB cho khoản vay là tài sản cá nhân, trang thiết bị của chính
Tài sản cá nhân thường có giá trị thấp, dẫn đến khả năng vay vốn hạn chế Hơn nữa, do tài sản chủ yếu là trang thiết bị, nhiều ngân hàng vẫn còn e ngại trong việc cho vay vì khó khăn trong việc kiểm soát tài sản.
Do khả năng tài chính hạn chế và quy mô kinh doanh nhỏ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) gặp khó khăn trong việc huy động vốn trên thị trường Hệ quả là phần lớn DNNVV luôn trong tình trạng thiếu vốn, điều này không chỉ hạn chế khả năng thu lợi nhuận mà còn cản trở cơ hội mở rộng sản xuất Tình trạng này dẫn đến khả năng tích lũy của DNNVV cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
1.1.2.5 Trình độ khoa học - công nghệ trong các Doanh nghiệp nhỏ và vừa còn lạc hậu
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) ở Việt Nam thường xuất phát từ nguồn vốn hạn chế và quy mô đầu tư ban đầu không lớn, dẫn đến trình độ khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, lạc hậu từ 20 - 50 năm so với các nước trong khu vực Chỉ một số ít doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài được trang bị công nghệ hiện đại, trong khi phần lớn DNNVV gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng trung và dài hạn cần thiết để đổi mới công nghệ và nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm Hơn nữa, các DNNVV thiếu thông tin về thị trường công nghệ và gặp khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ tư vấn hỗ trợ lựa chọn công nghệ phù hợp Việc nhập khẩu máy móc và thiết bị cũng gặp phải thuế suất cao, gây thêm khó khăn cho DNNVV.
1.1.2.6 Chất lượng nguồn nhân lực của các Doanh nghiệp nhỏ và vừa còn yếu kém Để tồn tại và phát triển trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi các DN phải có đội ngũ lao động với trình độ chuyên môn và tay nghề cao Tuy nhiên, đây lại là một trong những hạn chế lớn nhất tại hầu hết các DNNVV do các DNNVV thường tận dụng lao động thay thế cho máy móc, đặc biệt là với các nước có nguồn lao động dồi dào và nhân công rẻ như nước ta Mặt khác, ban lãnh đạo DNNVV vừa là người quản lý DN vừa tham gia trực tiếp vào sản xuất nên mức độ chuyên môn hóa trong quản lý không cao.
HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Các ngân hàng thương mại đang áp dụng nhiều chiến lược khác nhau để tiếp cận và thu hút các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) nhằm mở rộng hoạt động cho vay Kinh nghiệm cho vay DNNVV của các ngân hàng thương mại hiện nay rất đa dạng và phong phú.
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) cung cấp các sản phẩm cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu vốn lưu động và vốn đầu tư trung dài hạn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), với điểm nhấn là giảm bớt điều kiện tài sản bảo đảm và tỷ lệ tài sản đảm bảo dựa trên xếp hạng tín dụng Vietcombank cũng nỗ lực tối ưu hóa quy trình vay vốn, giúp DNNVV tiếp cận dịch vụ ngân hàng nhanh chóng Lãi suất cho vay ngắn hạn bắt đầu từ 6,5%/năm, với các lĩnh vực ưu tiên có mức lãi suất tối thiểu 6%/năm Đặc biệt, với nguồn ngoại tệ mạnh, Vietcombank áp dụng lãi suất cho vay USD từ 2,8%/năm Để hỗ trợ các dự án đầu tư và nhu cầu vốn trung dài hạn, ngân hàng triển khai các chương trình ưu đãi với lãi suất cố định trong 2, 3 và 5 năm, giúp DNNVV quản lý chi phí hiệu quả và yên tâm trong sản xuất kinh doanh.
Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank) duy trì lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa 6,5%/năm cho 5 lĩnh vực ưu tiên của Chính phủ Ngoài ra, VietinBank còn triển khai nhiều chương trình tín dụng nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, bao gồm Chương trình tín dụng Đồng hành cùng KHDN nhỏ và vừa và Gói tín dụng “Cho vay linh hoạt - lãi suất cố định”.
VietinBank đã triển khai gói vay 10.000 tỷ đồng nhằm hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp tại TP Hồ Chí Minh, cùng với chương trình ưu đãi lãi suất 3.000 tỷ đồng dành cho doanh nghiệp khởi nghiệp và cho vay phát triển nông nghiệp công nghệ cao Đặc biệt, VietinBank giới thiệu gói sản phẩm Combo 6 in 1, cung cấp nhiều ưu đãi về dịch vụ tài khoản, tiền gửi, và quản lý dòng tiền Để nâng cao dịch vụ, ngân hàng đã điều chỉnh biểu phí linh hoạt theo rủi ro giao dịch Ngoài ra, VietinBank ra mắt VietinBank SME Club với thông điệp “Hội tụ cùng phát triển”, mang đến cho các thành viên nhiều ưu đãi tài chính, như lãi suất cho vay và tiền gửi hấp dẫn, cùng với dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp từ đội ngũ tư vấn tài chính cao cấp.
1.2.1.Khái niệm cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng thương mại
Hoạt động cho vay là một phần quan trọng trong chức năng của Ngân hàng thương mại (NHTM), chiếm tới 65-70% tổng lợi nhuận của ngân hàng, với cho vay khách hàng doanh nghiệp là chủ yếu, khoảng 70% tổng hoạt động cho vay Dù các doanh nghiệp tại Mỹ có thể huy động vốn qua phát hành trái phiếu hay cổ phiếu, nhưng vốn vay từ ngân hàng vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn vay Tại Việt Nam, việc huy động vốn từ cá nhân và tổ chức tín dụng phi ngân hàng gặp nhiều khó khăn do tâm lý ngại rủi ro và khả năng thu hồi nợ Thị trường chứng khoán Việt Nam chưa phát triển mạnh mẽ và không phải doanh nghiệp nào cũng có thể huy động vốn qua kênh này do những quy định nghiêm ngặt Do đó, việc vay vốn từ ngân hàng vẫn là ưu tiên hàng đầu của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) Theo Luật các tổ chức tín dụng 2010, cho vay đối với DNNVV tại NHTM là hình thức cấp tín dụng, trong đó ngân hàng cam kết giao một khoản tiền cho DNNVV để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định, với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
1.2.2 Đặc điểm cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại.Với vai trò là trung gian tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế, thông qua các hoạt động của mình điều tiết và định hướng các hoạt động đầu tư,trong đó hoạt động tín dụng là một công cụ dùng để hướng các nguồn vốn từ nhiều nguồn khác nhau vào các hoạt động kinh tế hiệu quả Xuất phát từ đặc điểm của các DNNVV nhu quy mô vốn và tài sản nhỏ bé, sổ sách và báo cáo kế toán không rõ ràng minh bạch, sử dụng công nghệ lạc hậu trong sản xuất kinh doanh; trình độ tay nghề công nhân viên cũng nhu trình độ quản lý của chủ doanh nghiệp còn ở mức thấp, do đó quan hệ tín dụng giữa DNNVV với các NHTM có những đặc điểm sau đây:
1.2.2.1 về quy mô hợp đồng cho vay Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Mặc dù quy mô khoản vay thường nhỏ khi tính trên bình quân một doanh nghiệp, nhưng ngân hàng vẫn phải thực hiện đầy đủ các thủ tục cho vay như tìm hiểu thông tin khách hàng và thẩm định trước khi cấp vốn, điều này dẫn đến việc tăng chi phí vay.
1.2.2.2 về thời hạn cho vay Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Chủ yếu là cho vay ngắn hạn và cho vay trung hạn.
1.2.2.3 về đảm bảo tín dụng cho vay Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) cần có tài sản đảm bảo khi vay vốn từ ngân hàng thương mại Tuy nhiên, do hạn chế về khả năng tài chính và vốn tự có thấp, giá trị tài sản đảm bảo của DNNVV thường nhỏ Khi gặp khó khăn, tình trạng mất tính thanh khoản xảy ra, khiến ngân hàng gặp khó khăn trong việc thu hồi nợ vay.
1.2.2.4 về mục đích sử dụng vốn cho vay Doanh nghiệp nhỏ và vừa:
Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chủ yếu sử dụng vốn vay để bổ sung vốn lưu động, nhưng một số lại sử dụng sai mục đích cho nhu cầu cá nhân và gia đình, dẫn đến rủi ro mất vốn cho ngân hàng.
1.2.2.5 về lãi suất cho vay Doanh nghiệp nhỏ và vừa
DNNVV thường gặp khó khăn trong việc thương lượng lãi suất vay do thiếu tín nhiệm từ các ngân hàng thương mại, dẫn đến việc phải chấp nhận lãi suất ấn định Hơn nữa, các doanh nghiệp này còn phải gánh chịu chi phí cho các thủ tục vay, khiến lãi suất thực tế mà họ phải trả thậm chí cao hơn so với các doanh nghiệp lớn Mặc dù vậy, DNNVV lại là nhóm cần sự hỗ trợ lãi suất nhất vì họ đang đối mặt với nhiều khó khăn về vốn Với đặc thù kinh doanh, DNNVV có mối quan hệ giao dịch liên tục và nhu cầu vay vốn lớn, dẫn đến việc tạo ra nhiều khoản vay với giá trị nhỏ, nhưng tổng thể vẫn yêu cầu số lượng tài khoản vay lớn để đáp ứng nhu cầu.
Quản lý tài khoản cho vay của cán bộ tín dụng gặp nhiều khó khăn do NH, vì vậy việc cho vay cho DNNVV cần cán bộ tín dụng có kinh nghiệm và khả năng sắp xếp, quản lý khoản vay hợp lý để giảm thiểu sai sót và nâng cao chất lượng cho vay.
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) thường dựa vào mối quan hệ quen biết trong kinh doanh, dẫn đến việc ngân hàng khó phát hiện rủi ro sau khi giải ngân Với vốn chủ sở hữu thấp và năng lực quản lý yếu, DNNVV gặp khó khăn trong việc xây dựng các phương án sản xuất kinh doanh khả thi Hơn nữa, báo cáo tài chính không minh bạch và thiếu thuyết phục cũng góp phần làm gia tăng tình trạng thông tin bất cân xứng, khiến ngân hàng không nắm bắt đầy đủ các dấu hiệu rủi ro Điều này dẫn đến việc ngân hàng ít tin tưởng trong việc cấp vốn cho doanh nghiệp, đồng thời mang đến rủi ro cho chính ngân hàng khi quyết định cho vay.
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại.
1.2.3.1 Các chỉ tiêu định tính: Đây là nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay trên cơ sở pháp lý; việc tuân thủ các quy chế, quy trình nghiệp vụ của NHTM; việc thực hiện theo đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng: a) Chấp hành các quy định pháp lý: Hoạt động cho vay có hiệu quả nếu chấp hành đúng pháp luật của Nhà nuớc, các quy chế cho vay, các văn bản chỉ đạo của Chính phủ và NHNN và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan, luôn tuân thủ quy chế cho vay, quy trình nghiệp vụ cho vay của từng NHTM Từ những đặc điểm riêng có của mình, hầu hết các NH đều nghiên cứu và đưa ra các quy chế cho vay phù hợp nhất Cụ thể là các NH lập ra sổ tay tín dụng, trong đó đưa ra các khái niệm, quy định, quy trình và các hướng dẫn cụ thể dành cho các cán bộ NH Các quy định trong quy trình cho vay được áp dụng cụ thể cho từng trường hợp xin vay ở mỗi NHTM là nhằm thực hiện việc cho vay có hiệu quả Do vậy, việc tuân thủ những quy trình là một điều kiện quan trọng, tiền đề của một khoản cho vay có hiệu quả. b) Thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng cho vay Khi tiến hành hoạt động cho vay, NH và khách hàng sẽ lập nên một hợp đồng tín dụng (HĐTD). Trong HĐTD sẽ quy định chi tiết về các yếu tố quan trọng như thời hạn vay, mục đích sử dụng vốn vay, số tiền vay, phương thức hoàn trả gốc, trả lãi và được thể hiện ở dạng những cam kết Một khoản vay được coi là có hiệu quả khi nó được thực hiện đúng những cam kết đã kí trong hợp đồng tín dụng.
Các nhóm chỉ tiêu định tính đã phản ánh một phần hiệu quả cho vay và là tiêu chí thiết yếu để đánh giá khoản vay Tuy nhiên, để có cái nhìn cụ thể, cẩn thận và toàn diện hơn, cần xem xét thêm các chỉ tiêu định lượng.
1.2.3.2 Các chỉ tiêu định lượng:
Nhóm chỉ tiêu định lượng đánh giá chất lượng khoản vay thông qua phân tích và so sánh các chỉ tiêu Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) cũng cần được đánh giá hiệu quả cho vay dựa trên các chỉ tiêu tương tự như doanh nghiệp lớn Có nhiều chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cho vay, trong đó chỉ tiêu tỷ lệ dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa là một yếu tố quan trọng.
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
Ngân hàng Kiến Thiết (1957 - 1980) đánh dấu giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và chống chiến tranh; Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng (1981-1990) là thời kỳ khôi phục sau chiến tranh và tái thiết đất nước; Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (1991 - 2011) ghi nhận bước chuyển mình trong giai đoạn đổi mới; Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (2012 - nay) thể hiện sự hội nhập sâu rộng vào kinh tế quốc tế Qua từng giai đoạn lịch sử, BIDV luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần tích cực vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và phát triển đất nước.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam được thành lập vào ngày 27 tháng 4 năm 2012 theo Giấy phép số 84/GP-NHNN, do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp Ngân hàng chính thức hoạt động dưới hình thức Công ty cổ phần từ ngày 01 tháng 05 năm 2012, sau khi có Giấy chứng nhận Đăng ký DN số 0100150619, được cấp bởi Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội vào ngày 19 tháng 6 năm 2014.
Vào ngày 28/12/2011, BIDV đã thành công trong việc thực hiện chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) trên Sàn giao dịch Chứng Khoán Hà Nội (HNX) Sau IPO và việc bán cổ phần ưu đãi cho người lao động, giá trị vốn điều lệ đạt 23.011.705 triệu đồng, trong đó Nhà nước nắm giữ 95,76%, người lao động nắm giữ 0,56%, và cổ đông khác nắm giữ 3,68%.
Ngày 24/01/2014, NH đã niêm yết cổ phiếu trên Sàn giao dịch Chứng Khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE), mã chứng khoán BID.
Ngân hàng có tên đầy đủ: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM.
Tên giao dịch quốc tế: Joint Stock Commercial Bank for Investment and Development of Vietnam
Tên gọi tắt: BIDV. Địa chỉ: Tháp BIDV, 35 Hàng Vôi, Quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội, Điện thoại: 04.2220.5544 - 19009247 Fax: 04 2220.0399
Email: Info@bidv.com.vn Được thành lập ngày 26/4/1957, BIDV là NH lâu đời nhất Việt Nam.
Từ một NH chuyên ngành, BIDV đã trở thành một tập đoàn tài chính đa năng Tính đến 31/12/2018, BIDV đã phát triển mạng lưới rộng khắp phủ kín
63 tỉnh thành phố trên cả nước.
BIDV kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực về tài chính, tiền tệ, dịch vụ
Sản phẩm dịch vụ của BIDV đã nhanh chóng được khách hàng đánh giá cao, thể hiện qua nhiều danh hiệu giải thưởng lớn mà ngân hàng này đã nhận được trong năm 2019.
■ Ghi nhận và giải thưởng quốc tế:
Tổ chức tư vấn phát hành trái phiếu hàng đầu tại Việt Nam trong hai năm liên tiếp (2018 và 2019) đã được Tạp chí Global Banking and Finance Review vinh danh với giải thưởng Giao dịch phát hành trái phiếu tốt nhất Việt Nam.
- Ngân hàng có tỷ lệ thanh toán thẳng cao; do JP Morgan Chase, Bank of New York Mellon, Citibank, Wells Fargo trao tặng hàng năm.
BIDV has been recognized as having the best credit card in Vietnam for four consecutive years from 2016 to 2019 Additionally, it has earned the title of best POS/ATM payment service three times during the years 2016, 2017, and 2019 The bank's BIDV SmartBanking program also received the Best Mobile Banking Support award from International Finance magazine.
- Ngân hàng dẫn đầu về tỷ lệ kích hoạt thiết bị thanh toán thẻ không tiếp xúc, do VISA trao tặng; Và nhiều giải thưởng khác.
■ Ghi nhận và giải thưởng trong nước.
Trong giai đoạn 2017-2019, Vietnam Report phối hợp cùng Báo VietNamNet đã công bố Bảng xếp hạng VNR500, ghi nhận danh sách Top 500 Doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam Đây là một trong những bảng xếp hạng uy tín nhất, phản ánh sự phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp hàng đầu trong nước.
Doanh nghiệp đã đạt danh hiệu phát triển bền vững trong hai năm liên tiếp (2018-2019) do Hội đồng Phát triển bền vững Việt Nam và VCCI bình chọn Ngoài ra, doanh nghiệp cũng được công nhận là thương hiệu mạnh Việt Nam bởi Thời báo Kinh tế Việt Nam Đặc biệt, dịch vụ thu hộ học phí của BIDV đã nhận được sự tin tưởng và đánh giá cao từ Ban tổ chức chương trình Tin & Dùng.
& Dùng Việt Nam trao tặng; Ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín, xếp hạng của Vietnam Report.
- Ngân hàng Bán lẻ Tiêu biểu, 4 năm liên tiếp (2016-2019), Ngân hàng Điện tử Tiêu biểu, lần thứ 3 (2014, 2015, 2019), do VNBA và IDG phối hợp trao tặng.
- Doanh nghiệp chuyển đổi số xuất sắc với giải pháp BIDV iBank, do VDCA trao tặng.
Giải thưởng Sao Khuê, do VINASA trao tặng, vinh danh ba sản phẩm xuất sắc: Ứng dụng công nghệ tự động hóa RPA trong nghiệp vụ thanh toán theo bảng kê tại BIDV, Chương trình Cổng thanh toán kiều hối cho khách hàng cá nhân, và Quản lý doanh thu bảo hiểm BIC qua hệ thống BIDV, cùng với nhiều giải thưởng khác.
Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức hệ thống BIDV
(Nguồn: Website chính thức của BIDV)
BIDV là một trong ba ngân hàng thương mại lớn nhất tại Việt Nam, sở hữu mạng lưới rộng khắp với tổng cộng 190 chi nhánh trong nước và một chi nhánh quốc tế tại Myanmar Ngân hàng còn có 871 phòng giao dịch, 2 đơn vị trực thuộc, 2 văn phòng đại diện trong nước và 5 văn phòng đại diện ở nước ngoài.
BIDV sở hữu 13 công ty con, giúp ngân hàng này tiếp cận một lượng lớn khách hàng trên toàn quốc và các khu vực lân cận Nhờ vào mạng lưới rộng rãi, BIDV cung cấp dịch vụ đa dạng, phục vụ nhiều đối tượng khách hàng khác nhau.
BIDV hiện là thành viên của nhiều hiệp hội ngân hàng quốc tế như Hiệp hội Ngân hàng Châu Á, Hiệp hội Ngân hàng ASEAN, và Hiệp hội các định chế tài chính phát triển Châu Á - Thái Bình Dương, cũng như Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam Tỷ trọng của nhóm chỉ tiêu quy mô (%) bao gồm cá nhân, hộ gia đình và các loại hình tổ chức, doanh nghiệp, thể hiện sự đa dạng và phát triển trong cấu trúc tổ chức của ngân hàng.
(Nguồn: Website chính thức của BIDV)
2.1.2 Khái quát kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam giai đoạn năm 2017- 2019.
Với phương châm “Kỷ cương - Trách nhiệm - Hiệu Quả”, BIDV đã nỗ lực chuyển dịch cơ cấu tài sản có và tài sản nợ một cách bền vững và an toàn, nhằm nâng cao chất lượng tài sản và lành mạnh hóa tình hình tài chính Đến nay, hệ thống BIDV đã ghi nhận sự thay đổi mạnh mẽ cả về chất lượng lẫn số lượng, cũng như cải tiến phương thức hoạt động.
Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh doanh toàn hệ thống BIDV:
Bảng 2.1: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của BIDV Đơn vị: Tỷ đồng, %
Tỷ lệ nợ xấu toàn cầu thấp hơn kỳ vọng, đạt 1.62%, chủ yếu do tăng trưởng chậm ở các nền kinh tế phát triển và căng thẳng thương mại Mỹ - Trung Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam vẫn khả quan với GDP tăng trưởng 7,02%, nhờ vào sản xuất công nghiệp và tiêu dùng ổn định Lạm phát được kiểm soát tốt với CPI bình quân thấp trong 3 năm qua, cùng với chính sách tiền tệ và tài khóa phối hợp chặt chẽ, góp phần vào ổn định kinh tế vĩ mô Năm 2019, BIDV đã hoàn thành xuất sắc tất cả các chỉ tiêu kế hoạch, với việc chào bán thành công hơn 603 triệu cổ phiếu cho KEB Hana Bank, đánh dấu bước tiến quan trọng trong hội nhập quốc tế Tính đến cuối năm 2019, tổng tài sản của BIDV đạt 1,489,957 tỷ đồng, tăng trưởng 13.49% so với năm trước.
Năm 2018, tỷ trọng tài sản sinh lời trong tổng tài sản đạt 97%, với cho vay khách hàng chiếm 75% Theo Tạp chí The Asian Banker, BIDV xếp thứ 147 trong số 500 ngân hàng mạnh nhất Châu Á Thái Bình Dương về tổng tài sản, dẫn đầu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam Đến năm 2019, nguồn vốn huy động của ngân hàng đạt trên 1,111,162 tỷ đồng, tăng trưởng 7.5% so với năm trước.
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU Tư VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2017-2019
Trong giai đoạn 2017-2019, tác giả đã tiến hành đánh giá thực trạng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) Phân tích này tập trung vào hiệu quả cho vay DNNVV thông qua các chỉ tiêu cụ thể, nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình hoạt động cho vay trong giai đoạn này.
2.2.1 Quy mô và cơ cấu dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam
2.2.1.1 Quy mô dư nợ cho vay
Quy mô dư nợ đối với DNNVV giai đoạn 2017-2019 đã tăng lên cụ thể
Bảng 2.3: Quy mô dư nợ cho vay đối với DNNVV Đơn vị: tỷ đồng; % cuối kỳ trọng (%) cuối kỳ trọng (%) cuối kỳ
Dư nợ KH là DNNVV 220,56
Dư nợ KH là DN lớn và khác
(Nguồn: Báo cáo Ban Khách hàng DNNVV- Hội sở)
Bảng trên chỉ ra rằng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đã tăng trưởng đồng bộ với xu hướng chung của ngành ngân hàng và nền kinh tế Nguồn vốn huy động đã có sự gia tăng đáng kể qua các năm, cụ thể năm 2017 tăng 18,081 tỷ đồng so với năm 2016 với tốc độ tăng trưởng đạt 23,94% Tiếp theo, năm 2018, nguồn vốn huy động tiếp tục tăng 21,924 tỷ đồng so với năm 2017, tương ứng với tốc độ tăng trưởng 23,42%.
Năm 2019, vốn huy động của BIDV tăng 26.770 tỷ đồng so với năm 2018, với tốc độ tăng trưởng đạt 24,9% Mặc dù có sự tăng trưởng mạnh mẽ, nhưng vốn huy động từ khách hàng DNNVV vẫn không đủ để đáp ứng nhu cầu vốn của họ, buộc BIDV phải sử dụng nguồn vốn huy động toàn hệ thống để hỗ trợ cho vay cho DNNVV.
Trong giai đoạn 2017 đến 2019, dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) ghi nhận sự tăng trưởng đáng kể Cụ thể, năm 2017, dư nợ cho vay DNNVV tăng 59,160 tỷ đồng, tương ứng với mức tăng 37% so với năm 2016 Năm 2018, con số này tiếp tục tăng thêm 27,201 tỷ đồng, đạt tổng dư nợ 247,762 tỷ đồng, tương ứng với mức tăng 12% so với năm trước Đến năm 2019, dư nợ cho vay DNNVV đạt 310,039 tỷ đồng, tăng 62,277 tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng 25.13% so với năm 2018.
Năm 2019, Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã thiết lập quan hệ tín dụng với 292,000 khách hàng là doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) Mặc dù mỗi khoản vay của DNNVV không có dư nợ lớn như doanh nghiệp lớn, nhưng việc gia tăng cho vay cho DNNVV trong những năm gần đây cho thấy BIDV đã chuyển dịch cơ cấu cho vay để đáp ứng nhu cầu của khách hàng Sự tăng trưởng dư nợ cho vay của DNNVV phản ánh nỗ lực của BIDV trong việc chủ động tiếp cận và đầu tư vào DNNVV, đồng thời thực hiện đúng định hướng của Ngân hàng Nhà nước, hỗ trợ phát triển kinh tế đất nước và phù hợp với khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế.
2.2.1.2 Cơ cấu dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Bảng 2.4: Cơ cấu dư nợ đối với DNNVV trong tổng dư nợ của BIDV Đơn vị: tỷ đồng; %
-Nợ trung và dài hạn 57.346 26% 61.941 25% 74,410 24%
(Nguôn: Báo cáo Ban KHDNNVV- Hội sở)
Bảng số liệu cho thấy tỷ trọng dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đã tăng lên qua các năm Cụ thể, vào năm 2017, dư nợ cho vay DNNVV đạt 220,561 tỷ đồng, chiếm 25.44% tổng dư nợ toàn hệ thống Đến năm 2018, tỷ trọng này giảm nhẹ còn 25.06%, nhưng đã phục hồi và tăng lên 27.76% vào năm 2019, cho thấy sự phát triển tích cực của dư nợ cho vay đối với DNNVV trong hệ thống ngân hàng.
BIDV đang tích cực phát triển cho vay cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) theo chỉ đạo của chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Với hơn 60 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực ngân hàng, BIDV đã thiết lập mối quan hệ tín dụng vững chắc với nhiều tổ chức kinh tế và doanh nghiệp lớn Mặc dù số lượng doanh nghiệp lớn giao dịch với ngân hàng ít hơn so với DNNVV, nhưng khối lượng vốn vay của DNNVV lại rất lớn nhờ vào lợi thế cạnh tranh, nguồn vốn dồi dào và giá trị tài sản đảm bảo cao Cơ cấu dư nợ cho vay DNNVV được phân loại theo thời hạn, với số liệu cụ thể được trình bày trong Bảng 2.5.
Dư nợ đối với KHDNNVV
Nông, lâm nghiệp và thủy sản
Công nghiệp chế biến, chế tạo
Sản xuất, phân phối điện, khí đốt và nước
Dựa trên số liệu từ bảng và hình, có thể thấy rằng phần lớn các khoản cho vay của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chủ yếu là cho vay ngắn hạn, trong khi khối lượng cho vay trung và dài hạn thường thấp hơn Tình hình này đã được ghi nhận qua các năm từ 2017.
Trong giai đoạn 2018-2019, dư nợ cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đều tăng, tuy nhiên tỷ trọng cho vay ngắn hạn có xu hướng tăng và tỷ trọng cho vay trung và dài hạn giảm Cụ thể, năm 2017, tỷ trọng cho vay ngắn hạn chiếm 74%, năm 2018 tăng nhẹ lên 75%, và năm 2019 đạt 76% tổng dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) Ngược lại, tỷ trọng cho vay trung và dài hạn giảm từ 26% năm 2017 xuống 25% năm 2018 và 24% năm 2019 Nguyên nhân chính là do BIDV thực hiện nghiêm túc Thông Tư 19/2017/TT-NHNN, dẫn đến việc giảm tỷ lệ cho vay trung và dài hạn, đồng thời tăng cường cho vay ngắn hạn nhằm hỗ trợ DNNVV trong việc cân đối dòng vốn và củng cố hoạt động sản xuất kinh doanh.
Bảng 2.6: Dư nợ cho vay DNNVV phân theo ngành kinh tế Đơn vị: tỷ đồng; %
6 Bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác
Vận tải, kho bãi 5,713 2.60 6,420 2.59 8,125 2.62 ɪ Dịch vụ 12,64
Hình 2.4: Cơ cấu dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa phân theo ngành kinh tế
Hoạt động Ngành khác kinh doanh
Bất Dịch vụ động 6% sản 2% Vận tải, kho bãi
Tổng Nông, lâm cộng 2017 nghiệp và
Công nghiệp chế biến, chế tạo 20%
Bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác
Sản xuất, phân phối điện, khí đốt và nước 3%
Hoạt động kinh doanh Bất động sản Dịch vụ Vận tải, kho bãi
Công nghiệp chế biến, chế tạo
Nông, lâm nghiệp và thủy sản
Bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác
Sản xuất, phân phối điện, khí đốt và nước Xây dựng
Hoạ T t ổn đ g ộng Nông, lâm kinlc^j⅜nh 2019 nghiệp và
- Bất 1độ ng thủy sản- sản 2% Công nghiệp chế
Bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ
Sản xuất, phân phối điện, khí đốt và nước 4% khác
Nhóm ngành thương mại bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy hiện chiếm tỷ trọng cao nhất, trên 40% trong dư nợ cho vay DNNVV của BIDV, tiếp theo là ngành công nghiệp chế biến chế tạo trên 20% và ngành xây dựng hơn 17% Điều này cho thấy nhu cầu vốn cao trong các ngành chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế, phản ánh quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa của đất nước BIDV, với vai trò là ngân hàng kiến thiết, luôn chú trọng đến các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm phát triển xã hội và đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế Ngân hàng cũng thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và NHNN để hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là DNNVV, trong khi giảm tỷ trọng cho vay cho một số ngành như khai khoáng (1.73%), nông lâm nghiệp và thủy sản (1.76%), và bất động sản (2.3%) Tăng trưởng dư nợ cho vay DNNVV giai đoạn 2017-2019 đã tuân thủ định hướng của BIDV, tập trung vào các ngành có lợi thế và kiểm soát rủi ro tín dụng.
2.2.2 Tình hình nợ xấu trong cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa Vấn đề nợ quá hạn và nợ xấu luôn là mối quan ngại lớn nhất bởi vì việc thẩm định giải quyết một món vay đã khó, việc thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi vay là công việc còn khó hơn Hoạt động cho vay đối với DNNVV tại BIDV không tránh khỏi tình trạng phát sinh nợ xấu do những nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến khách hàng trả nợ không đúng thời hạn Chỉ tiêu nợ xấu cũng là một chỉ tiêu cơ bản phản ánh chất luợng và mức độ an toàn của hoạt động cho vay của ngân hàng thuơng mại Tình hình du nợ xấu trong cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại BIDV giai đoạn 2017 - 2019 đuợc thể hiện cụ thể qua bảng sau :
Bảng 2.7: Tình hình nợ xấu trong cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa Đơn vị: tỷ đồng, %
Nợ xấu cho vay trong hệ thống BIDV 14,42
Nợ xấu trong cho vay
Tỷ lệ nợ xấu trong cho vay hệ thống BIDV 1.99% 1.62% -0.37 1.91
Tỷ lệ nợ xấu trong cho vay DNNVV 1.42% 1.30% - 0.12 1.16
Tỷ lệ nợ xấu cho vay
DNNVV/ nợ xấu trong hệ thống BIDV
Tỷ lệ nợ xấu trong cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa đã có sự thay đổi qua các năm Cụ thể, năm 2017, nợ xấu đạt 2,859 tỷ đồng, chiếm 1.30% tổng dư nợ cho vay DNNVV Đến năm 2018, nợ xấu tăng nhẹ lên 2,864 tỷ đồng, chiếm 1.16% tổng dư nợ Tuy nhiên, năm 2019, nợ xấu đã gia tăng đáng kể lên 4,092 tỷ đồng, cho thấy sự biến động trong tình hình tài chính của các doanh nghiệp này.
1,228 tỷ đồng, chiếml.32% tổng dư nợ cho vay DNNVV.
Như vậy nợ xấu DNNVV giai đoạn 2017-2019 luôn thấp hơn tỷ lệ 3% được ngân hàng nhà nước cho phép.
Trong giai đoạn 2017-2019, nợ xấu cho vay toàn hệ thống BIDV đã có những biến động đáng chú ý Cụ thể, năm 2019, nợ xấu của BIDV đạt 19,496 tỷ đồng, chiếm 1,75% tổng dư nợ cho vay Năm 2018, con số này là 18,802 tỷ đồng, tương ứng với tỷ lệ 1,90% Năm 2017, nợ xấu ghi nhận 14,065 tỷ đồng, chiếm 1,62% tổng dư nợ, trong khi năm 2016 là 14,429 tỷ đồng với tỷ lệ 1,99% Như vậy, nợ xấu của BIDV trong giai đoạn này có xu hướng giảm và luôn duy trì dưới mức 3% mà Ngân hàng Nhà nước cho phép.
Tỷ lệ nợ xấu cho vay DNNVV tại BIDV trong giai đoạn 2017-2019 cho thấy những biến động đáng chú ý Cụ thể, năm 2017 tỷ lệ nợ xấu cho vay DNNVV là 20.32%, giảm xuống 15.23% vào năm 2018, nhưng lại tăng lên 20.98% vào năm 2019 Trong khi đó, tỷ trọng dư nợ cho vay DNNVV trên tổng dư nợ của BIDV lần lượt là 25.44% (2017), 25.06% (2018) và 27.75% (2019) Điều này cho thấy tỷ trọng nợ xấu cho vay DNNVV luôn thấp hơn tỷ trọng cho vay DNNVV trong tổng dư nợ của BIDV, khẳng định rằng ngân hàng đang thực hiện đúng hướng trong việc phát triển cho vay DNNVV theo chỉ đạo của chính phủ và ngân hàng nhà nước.
KH có nợ xấu 7,560 3.33% 6,640 2.88% 7,278 2.50% đang trong vòng kiểm soát của BIDV và không vượt quả tỷ lệ 3% Ngân hàng Nhà nước cho phép.
BIDV đang đối mặt với tình trạng nợ quá hạn, điều này là không thể tránh khỏi trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Tỷ lệ nợ quá hạn là một yêu cầu khách quan, tuy nhiên, nguyên nhân chủ quan cũng góp phần vào vấn đề này Việc kiểm tra và giám sát các khoản vay của cán bộ khách hàng cũng như kiểm soát tín dụng của bộ phận giám sát chưa được thực hiện hiệu quả, dẫn đến một số khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích hoặc không đảm bảo giá trị tài sản cầm cố theo hợp đồng tín dụng Hệ quả là nợ quá hạn phát sinh và khó khăn trong việc thu hồi nợ.
ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
2.3.1 Kết quả đạt được Để tham mưu và quản lý các rủi ro trọng yếu trong hoạt động cho vay có hiệu quả, tháng 6/2015 BIDV đã thành lập Ban khách hàng Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại trụ sở chính trực tiếp quản lý và điều hành mảng nghiệp vụ đối với hoạt động cho vay khách hàng DNNVV; ban hành đầy đủ hệ thống chính sách, quy định, và xác lập hệ thống hạn mức để nhận diện đo lường kiểm soát và báo cáo rủi ro ở tất cả các nghiệp vụ gồm quản lý rủi ro thị trường, quản lý rủi ro tác nghiệp và quản lý rủi ro tín dụng Đặc biệt, đối với QLRR tín dụng,BIDV đã thực hiện các chính sách và quy định như quy chế cho vay đối với khách hàng, chính sách về quản lý hạn mức tập trung đối với khách hàng là Định chế tài chính; chính sách phận loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro; chính sách cấp tín dụng đối với khách hàng DN; quy định giao dịch bảo đảm trong cho vay; hướng dẫn về hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ Bên cạnh các hạn mức tuân thủ theo quy định của NHNN, BIDV còn xác lập hạn mức nội bộ như Giới hạn cấp tín dụng của 1 chi nhánh đối với một khách hàng, giới hạn cấp tín dụng của Trụ sở chính đối với 1 khách hàng; giới hạn tín dụng toànNH; giới hạn tín dụng theo ngành; tỷ trọng dư nợ ngành lớn nhất/ vốn cấp 1;mức tối đa của tỷ lệ nợ xấu, nợ nhóm 2, dư nợ cơ cấu/tổng dư nợ, mức tối đa của tỷ lệ dư nợ trung dài hạn, dư nợ ngoại tệ, dư nợ có TSBĐ/ tổng dư nợ.Với hệ thống tổ chức quản lý rủi ro tín dụng và các biện pháp nâng cao hiệu quả cho vay ngày càng hoàn thiện, hoạt động cho vay đối với DNNVV của BIDV đã thu đuợc những kết quả sau:
Nợ cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đã có sự tăng trưởng tích cực, với quy mô cho vay được mở rộng Điều này không chỉ nâng cao uy tín của ngân hàng mà còn thu hút ngày càng nhiều khách hàng có quan hệ tín dụng với ngân hàng.
Chất lượng khoản vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đã được cải thiện rõ rệt, với số lượng doanh nghiệp thuộc nhóm nợ xấu giảm và tổng số dư nợ xấu cũng đã giảm xuống dưới mức cho phép 3% Nợ quá hạn chủ yếu tập trung ở các khách hàng nhỏ, trong khi số dư nợ quá hạn vẫn ở mức thấp, cho thấy ngân hàng đang nỗ lực cải thiện chất lượng cho vay, đa dạng hóa các loại hình cho vay cho doanh nghiệp và phân tán rủi ro hiệu quả.
Lợi nhuận của BIDV luôn vượt trội so với mức trung bình ngành từ 2017 đến 2019, nhờ vào việc mở rộng mạng lưới chi nhánh và phòng giao dịch, cùng với việc tăng cường quy mô và chất lượng nhân sự Điều này cho thấy sự chú trọng của BIDV đối với lĩnh vực cho vay cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) BIDV đã lựa chọn những cán bộ có tài năng, trách nhiệm và nhiệt huyết, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, từ đó đảm bảo sự phát triển bền vững ngay cả khi lợi nhuận chung của ngành ngân hàng tăng trưởng chậm.
- Chính sách quản trị điều hành ngày càng hoàn thiện theo chuẩn mực, thông lệ quốc tế.
BIDV không chỉ tuân thủ các quy định về an toàn hệ thống và chỉ tiêu chất lượng ngành, mà còn luôn tiên phong trong việc thực hiện các quy định của NHNN Ngân hàng này nâng cao chất lượng quản trị, hệ thống công nghệ thông tin và định hạng tín dụng theo quy chuẩn quốc tế BIDV cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các sách lược kinh tế của Chính phủ và hỗ trợ phát triển kinh tế cho các vùng, tỉnh thành địa phương.
Số Tỷ lệ % Số Tỷ lệ % Số Tỷ lệ %
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân
Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong thời gian qua, nhưng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tại BIDV vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục.
Tỷ trọng dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tại BIDV hiện còn thấp so với tổng dư nợ chung, cho thấy nhu cầu vay vốn của DNNVV vẫn rất lớn, đặc biệt là đối với vốn trung và dài hạn để đầu tư đổi mới công nghệ và xây dựng cơ sở hạ tầng Tuy nhiên, BIDV chưa thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu này do nhiều khách hàng không có tài sản đảm bảo cho khoản vay hoặc dự án đầu tư không khả thi.
Theo quy định hiện hành, doanh nghiệp tham gia dự án vay vốn trung dài hạn cần có vốn chủ sở hữu tối thiểu từ 15% đến 20% tổng nhu cầu vốn Điều này tạo ra khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) trong việc tiếp cận vốn vay, từ đó hạn chế khả năng mở rộng hoạt động vay vốn trung dài hạn của họ.
Giá trị các khoản cho vay tại BIDV hiện nay còn thấp, với dư nợ của DNNVV chỉ chiếm khoảng 25% tổng dư nợ toàn hệ thống Việc cho vay nhiều khoản nhỏ làm gia tăng chi phí quản lý giấy tờ, hồ sơ và thẩm định, dẫn đến hiệu quả thu được từ các khoản vay không cao Hơn nữa, hiệu quả cho vay DNNVV chưa được đánh giá đầy đủ, nên vai trò của hoạt động cho vay này chưa được nhận thức rõ ràng.
DNNVV trong hoạt động kinh doanh NH.
- Thứ hai, nợ xấu phân khúc khách hàng DNNVV có xu hướng tăng dần qua các năm.
Bảng 2.13: Nợ xấu các NHTM cùng quy mô giai đoạn 2017-2019 Đơn vị: Tỷ đồng
So sánh nợ xấu của BIDV với Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam và Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam cho thấy BIDV đang đối mặt với tỷ lệ nợ xấu cao Năm 2018, dù nợ xấu của BIDV thấp hơn CTG 2,299 tỷ đồng, nhưng lại tăng 1,940 tỷ đồng so với năm 2017 Đến năm 2019, nợ xấu của BIDV tiếp tục gia tăng cả về số tuyệt đối và tương đối Do đó, BIDV cần thực hiện các biện pháp quyết liệt hơn để thu hồi nợ xấu, giảm thiểu rủi ro mất vốn, đồng thời duy trì hiệu quả các biện pháp phòng ngừa rủi ro và xây dựng các phương án điều chỉnh nhằm hạn chế nợ quá hạn, nợ xấu ở mức thấp nhất, đảm bảo hoạt động tín dụng an toàn và hiệu quả Mặc dù tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng này vẫn chưa vượt ngưỡng quy định của NHNN.
Từ năm 2017 đến 2019, hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đã phát sinh nợ xấu, khiến ngân hàng phải tăng trích lập dự phòng rủi ro, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận từ cho vay Sự gia tăng nợ xấu cho thấy công tác kiểm tra và giám sát khoản vay chưa hiệu quả, đồng thời năng lực quản trị rủi ro trong cho vay DNNVV còn hạn chế Do đó, việc hạn chế nợ xấu và nợ quá hạn trở thành nhiệm vụ cấp thiết cho ban quản trị của BIDV trong giai đoạn hiện tại.
- Thứ ba, hiệu quả sử dụng vốn cho vay DNNVV dần được cải thiện.
Số lượng khách hàng là doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đang tăng lên qua các năm, trong khi ngân hàng (NH) cũng đang mở rộng cho vay trung và dài hạn Tuy nhiên, nguồn vốn huy động từ khách hàng nhỏ và vừa vẫn còn thấp BIDV cần thực hiện các biện pháp nhằm tăng cường huy động vốn, đảm bảo tính thanh khoản cho hệ thống, từ đó nâng cao chất lượng cho vay đối với DNNVV cũng như toàn bộ ngân hàng.
2.3.2.2 Nguyên nhân của những hạn chế a) Nguyên nhân từ phía Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Từ đầu năm 2018, Luật hỗ trợ DNNVV đã có hiệu lực, khiến các TCTD chú trọng hơn vào phân khúc này, dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt BIDV, trong khi đó, chủ yếu điều hành lãi suất dựa trên cân đối nguồn, không gắn với cạnh tranh thị trường, khiến việc giảm lãi suất cho vay chậm hơn so với các TCTD khác Đối với lãi suất USD, BIDV không cạnh tranh hiệu quả, gây khó khăn trong việc phát triển cho vay cho khách hàng xuất nhập khẩu và ảnh hưởng đến các dịch vụ tài chính khác như tài trợ thương mại và thanh toán Hệ quả là BIDV thường mất lợi thế cạnh tranh và khó thu hút khách hàng DNNVV.
Xu hướng phát triển sản phẩm công nghệ cao đang gia tăng, tuy nhiên trong lĩnh vực tín dụng, việc triển khai các sản phẩm này gặp nhiều khó khăn Những vướng mắc chủ yếu đến từ việc xây dựng các chương trình công nghệ thông tin kéo dài, phụ thuộc vào nền tảng công nghệ hiện có của ngân hàng.
Nhiều chi nhánh ngân hàng vẫn ưu tiên chăm sóc khách hàng doanh nghiệp lớn và cho vay dự án, trong khi lại nới lỏng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) Một số cán bộ tín dụng cho rằng cho vay DNNVV có rủi ro cao do khoản vay nhỏ lẻ và chi phí quản lý, thẩm định lớn Hơn nữa, vốn chủ sở hữu thấp và tài sản đảm bảo ít khiến DNNVV gặp khó khăn trong việc hoàn thành thủ tục vay Điều này dẫn đến việc tiếp cận vốn vay, đặc biệt là từ BIDV, trở nên khó khăn hơn cho DNNVV, mặc dù BIDV được coi là ngân hàng thương mại có vốn cổ phần Nhà nước lớn.