Luận văn Thạc sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Thị Thái Huy với đề tài “Nâng cao hiệu quả hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam ” được bảo vệ năm 2010 đã nghiên cứu một số nội dung trong
Trang 2NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
NGUYỄN HƯƠNG GIANG
HOẠT ĐỘNG CHI TRẢ BẢO HIỂM TIỀN GỬI CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - NĂM 2019
Trang 3NGUYỄN HƯƠNG GIANG
HOẠT ĐỘNG CHI TRẢ BẢO HIỂM TIỀN GỬI
CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM
Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Đình Lưu
HÀ NỘI - NĂM 2019
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài do chính tôi tìm hiểu và nghiêm túc thựchiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Đình Lưu Các nguồn dữ liệu, thôngtin sử dụng trong luận văn được thu thập từ thực tế, có nguồn gốc rõ ràng vàđược xử lý một cách khách quan và trung thực
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả
Nguyễn Hương Giang
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được tri ân và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn ĐìnhLưu - Phó Tổng giám đốc BHTGVN, là người đã tận tình chỉ bảo và hướngdẫn tôi tìm ra hướng nghiên cứu, tiếp cận thực tế, tìm kiếm tài liệu, giải quyếtvấn đề giúp tôi có định hướng đúng đắn và hoàn thành luận văn cao học củamình
Ngoài ra, sau quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài tôi cònđược tiếp thu những kiến thức quý báu từ các thầy cô và sự quan tâm, góp ý,
hỗ trợ của đồng nghiệp, bạn bè và người thân Tôi xin gửi lời cảm ơn chânthành đến:
• Khoa Sau đại học và các thầy cô tham gia giảng dạy Khóa cao học19.02 đã truyền đạt cho tôi những kiến thức, phương pháp nghiên cứu
bổ ích trong suốt hai năm học vừa qua
• Người thân và các bạn bè, đồng nghiệp luôn quan tâm động viên, hỗ trợtôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả
Nguyễn Hương Giang
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH, SƠ ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI VÀ HOẠT ĐỘNG CHI TRẢ BẢO HIỂM TIỀN GỬI 9
1.1 Tổng quan về bảo hiểm tiền gửi và tổ chức bảo hiểm tiền gửi 9
1.1.1 Một số khái niệm về bảo hiểm tiền gửi và tổ chức bảo hiểm tiền gửi 9 1.1.2 Mục đích của bảo hiểm tiền gửi 11
1.1.3 Vai trò của bảo hiểm tiền gửi và tổ chức bảo hiểm tiền gửi 12
1.1.4 Hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi 13
1.2 Tổng quan về hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi 14
1.2.1 Khái niệm về hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi 14
1.2.2 Sự cần thiết của hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi 14
1.2.3 Nội dung hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi 15
1.2.4 Đánh giá hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi 18
1.3 Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 26
1.3.1 Kinh nghiệm một số tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong hoạt động chi trả 26 1.3.2 Bài học cho Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHI TRẢ BẢO HIỂM TIỀN GỬI CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM 34
2.1 Khái quát về Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 34
2.1.1 Quá trình thành lập 34
Trang 72.1.2 Chức năng, nhiệm vụ 35
2.1.3 Bộ máy tổ chức 36
2.1.4 Một số kết quả hoạt động nghiệp vụ 37
2.2 Thực trạng hoạt động chi trả 42
2.2.1 Tổ chức bộ máy thực hiện hoạt động chi trả 42
2.2.2 Nội dung hoạt động chi trả 43
2.2.3 Kết quả hoạt động chi trả 46
2.3 Đánh giá hoạt động chi trả 47
2.3.1 Đánh giá chung 47
2.3.2 Đánh giá theo tiêu chuẩn của IADI 48
2.3.3 Những hạn chế 54
2.3.4 Nguyên nhân của những hạn chế 62
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 65
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG CHI TRẢ BẢO HIỂM TIỀN GỬI CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM 66
3.1 Định hướng phát triển hoạt động chung 66
3.2 Định hướng hoàn thiện hoạt động chi trả 67
3.3 Các giải pháp hoàn thiện hoạt động chi trả 68
3.3.1 Nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện các văn bản luật liên quan đến hoạt động chi trả 68
3.3.2 Nâng cao năng lực tài chính 69
3.3.3 Tăng cường phối hợp giữa nghiệp vụ chi trả và các nghiệp vụ khác 70
3.3.4 Nâng cao trình độ nguồn nhân lực 73
3.3.5 Cải tiến và hoàn thiện quy trình chi trả 75
3.3.6 Tăng cường hoạt động phối hợp giữa Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam với các đơn vị, cá nhân bên ngoài 76
3.3.7 Ứng dụng hiệu quả hệ thống công nghệ thông tin 77
Trang 8STT Từ viết tắt
Diễn giải
ngân hàng
Banking Supervision
Nam
tiền gửi Canada
Insurance Corporation
Liên bang Hoa Kỳ
Insurance Corporation
quốc tế
International Association of Deposit Insurers
Nam
3.4 Một số kiến nghị 79
3.4.1 Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 79
3.4.2 Đối với cấp ủy, chính quyền các địa phương 80
3.4.3 Đối với Chính phủ và Quốc hội 80
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 83
KẾT LUẬN 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 10tiền gửi Philippine Insurance Corporation
tiền gửi Malaysia
Deposit Malaysia
19 QLTP&CT Quản lý thu phí và chi trả
hiểm tiền gửi
Trang 12DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH, SƠ ĐỒ Danh mục bảng
Bảng 2.1: Số TCTGBHTG được kiểm tra giai đoạn 2010 - 2018 39
Bảng 2.2: Tổng hợp kết quả chi trả 39 QTDND 46
Bảng 2.3: Đánh giá hoạt động chi trả theo các tiêu chuẩn của IADI 49
Bảng 2.4: Vốn và quỹ dự phòng nghiệp vụ của BHTGVN 2016 -2018 57
Bảng 2.5: Tỷ lệ người gửi tiền được bảo hiểm toàn bộ 58
Danh mục biểu đồ Biểu đồ 2.1: Số liệu thu phí BHTG giai đoạn 2010 - 2018 38
Danh mục hình Hình 2.1: Hạn mức trả tiền bảo hiểm qua các thời kì 44
Hình 2.2: Quy trình chi trả 45
Danh mục sơ đồ Sơ đồ 1.1: Vai trò của BHTG trong chu kì hoạt độngcủa TCTD 13
Sơ đồ 2.1: Các nhiệm vụ chuyên môn của BHTGVN 36
Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức của BHTGVN 37
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Bảo hiểm tiền gửi là một công cụ quan trọng được triển khai ở nhiềuquốc gia nhằm bảo vệ NGT trước những rủi ro do TCTD không có khả nănghoàn trả tiền gửi cho NGT Hệ thống BHTG là một trong những bộ phận của
cơ chế bảo vệ hợp nhất hệ thống tài chính, giải quyết những khủng hoảng củacác TCTD giúp duy trì sự ổn định cho toàn bộ hệ thống tài chính đó Trong sựkiện khủng hoảng tài chính ở châu Á vào khoảng năm 1997, tình trạng “độtbiến rút tiền gửi” đã xảy ra và để lại hậu quả lớn tại ngân hàng ở nhiều quốcgia như Hàn Quốc, Indonesia và Thái Lan Sự kiện này cũng đã đem lại cácbài học chính sách quan trọng cho hệ thống các TCTD tại Việt Nam Diễnbiến của cuộc khủng hoảng cho thấy việc duy trì lòng tin đối với hệ thốngTCNH của NGT là đặc biệt quan trọng
Thứ nhất, tính cần thiết của đề tài xuất phát từ chức năng chủ chốt của TCBHTG.
Nhiệm vụ đặc trưng nhất của TCBHTG nói chung là giúp NGT có thểnhận lại khoản tiền gửi khi TCTD đổ vỡ Hoạt động của TCBHTG trong việcchi trả bồi hoàn cho NGT đóng vai trò không nhỏ đối với việc duy trì lòng tincủa họ vào hệ thống các TCTD cũng như đảm bảo ổn định hệ thống TCNH.Hoạt động chi trả cần đạt được những mục tiêu chi trả kịp thời, đầy đủ vàchính xác Như vậy, việc đánh giá hoạt động chi trả là công việc phức tạp cầnđược nghiên cứu toàn diện và kỹ lưỡng
Nắm bắt xu thế thành lập TCBHTG ở các nước, việc thành lậpTCBHTG ở Việt Nam là thực sự cần thiết BHTGVN ra đời và chính thứchoạt động từ năm 2000, gắn với một giai đoạn quan trọng trong công cuộc đổimới kinh tế đất nước và phát triển toàn hệ thống TCNH Nhiệm vụ trọng tâmcủa BHTGVN là bảo vệ quyền lợi của NGT, góp phần quan trọng đảm bảo sự
Trang 14ổn định của các TCTGBHTG và sự phát triển an toàn, lành mạnh trong hoạtđộng ngân hàng.
Thứ hai, tính cần thiết của đề tài xuất phát từ thực tế hoạt động chi trả của BHTGVN.
Trài qua quá trình hoạt động và phát triển, BHTGVN đã hoàn thànhviệc chi trả BHTG cho NGT tại 39 TCTGBHTG là các QTDND bị giải thểbắt buộc tại 11 tỉnh, thành phố trên cả nước Tuy nhiên, BHTGVN chưa triểnkhai chi trả cho NGT tại bất kỳ NHTM nào, hoạt động chi trả không diễn rathường xuyên và BHTGVN mới chi trả cho NGT tại các QTDND quy mô nhỏ
bị đổ vỡ Thời gian qua, hệ thống các NHTM ở Việt Nam đã trải qua quátrình tái cơ cấu, nhưng không có ngân hàng nào phá sản Bên cạnh đó, hoạtđộng chi trả của BHTGVN còn tồn tại những hạn chế về nguồn lực cần thiếtứng phó với khủng hoảng hệ thống trong nước; việc phát triển tổng thể mọimặt từ bồi dưỡng nhân sự, ứng dụng hệ thống CNTT hiện đại, xây dựng vàtiến hành định kỳ các bài tập mô phỏng tình huống chi trả, đưa chính sáchBHTG tới đông đảo công chúng và tăng cường phối hợp với các đơn vị, cánhân có liên quan bên ngoài còn nhiều hạn chế
Như vậy, khi có đổ vỡ xảy ra với các TCTD quy mô lớn, hoạt động chitrả của BHTGVN sẽ gặp một số khó khăn Việc nghiên cứu hoạt động chi trả
là căn cứ quan trọng nhằm đưa ra những biện pháp hoàn thiện nghiệp vụ này,không những áp dụng tốt với hệ thống QTDND quy mô nhỏ mà còn áp dụng
có hiệu quả đối với các NHTM quy mô lớn trong tương lai
Nhận thức được tầm quan trọng của việc nghiên cứu hoạt động chi trảBHTG tại Việt Nam xuất phát từ các thực tiễn nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài
“Hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam” để
nghiên cứu
Trang 152 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam, hoạt động BHTG và chi trả BHTG của Bảo hiểm tiền gửiViệt Nam đã dành được sự quan tâm và đánh giá của nhiều học giả qua các đềtài nghiên cứu
Luận văn Thạc sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Thị Thái Huy với đề tài
“Nâng cao hiệu quả hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam ” được bảo vệ
năm 2010 đã nghiên cứu một số nội dung trong hoạt động BHTG, thực trạng
hoạt động và những khó khăn của BHTGVN khi áp dụng “Bộ nguyên tắc cơ
bản phát triển hệ thống BHTG hiệu quả” do BCBS và IADI ban hành, để từ
đó đề ra những giải pháp, kiến nghị giúp nâng cao hiệu quả hoạt động củaBHTGVN Cũng trong năm 2010, luận văn Thạc sĩ kinh tế của tác giả Bùi
Thu Hương với đề tài “Hoàn thiện hoạt động nghiệp vụ của Bảo hiểm tiền
gửi Việt Nam trong thời kỳ hội nhập” được bảo vệ tại Học viện ngân hàng đã
nghiên cứu hoạt động nghiệp vụ của BHTGVN từ đó đưa ra các giải pháp vềđịa vị pháp lý để phát huy hiệu quả các nghiệp vụ tại BHTGVN Đây lànhững đề tài được nghiên cứu trong giai đoạn trước khi Luật BHTG ViệtNam được ban hành, cơ sở pháp lý đối với các nghiệp vụ nói chung chưađược hoàn thiện
Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Xuân Bắc năm 2017 với đề tài
“Hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi của Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại Thành phố Hà Nội” đã hệ thống các lý luận cơ bản về hoạt động chi
trả, đánh giá thực trạng hoạt động chi trả của Chi nhánh Hà Nội làm căn cứ đềxuất những giải pháp để hoàn thiện hoạt động chi trả của chi nhánh cho giaiđoạn đến năm 2025 Tuy nhiên, tác giả mới tập trung nghiên cứu trong phạm
vi một chi nhánh của BHTGVN, một số nội dung quan trọng về mục tiêu rútngắn thời hạn chi trả, ứng dụng CNTT hỗ trợ và sự phối hợp hoạt động giữaChi nhánh Hà Nội với Trụ sở chính, các đơn vị bên ngoài chưa được làm rõ
Trang 16Luận án Tiến sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Đăng Quân năm 2018, với
đề tài “Hoạt động bảo hiểm tiền gửi theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn các
ngân hàng thương mại” đã phân tích các vấn đề lý luận pháp luật về BHTG,
đánh giá thực tiễn pháp luật BHTG tại Việt Nam; đánh giá những ưu điểm vànhững vấn đề bất cập trong các quy định pháp luật của pháp luật về BHTGhiện hành Những giải pháp hoàn thiện pháp luật về BHTG trong luận ánhướng tới các quy định về chủ thể tham gia BHTG; phí BHTG; đối tượngBHTG; sự kiện BllTG nhằm tạo cơ sở pháp lý toàn diện, đầy đủ cho hiệuquả điều chỉnh bằng pháp luật các quan hệ BHTG ở Việt Nam
Trong năm 2018, nhóm nghiên cứu của BHTGVN cũng đã hoàn thiện
đề tài “Nâng cao hiệu quả nghiệp vụ chi trả tiền bảo hiểm của Bảo hiểm tiền
gửi Việt Nam nhằm bảo vệ tốt quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền ”.
Đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá nghiệp vụ chi trả giai đoạn trước và saukhi có Luật BHTG, tập trung vào mục tiêu bảo vệ tốt nhất quyền lợi củaNGT Tuy nhiên đây là đề tài nghiên cứu ứng dụng nội bộ của BHTGVN vàkhông công bố cho cá nhân hay tổ chức nào ở bên ngoài
Bên cạnh các công trình nghiên cứu nêu trên, một số tài liệu như các
bài viết đăng trên các tạp chí, website ngành ngân hàng như: Bài viết “Việt
Nam: Công cụ bảo hiểm tiền gửi hiệu quả cần được phát huy tối đa” của tác
giả TS Nguyễn Thị Kim Oanh, bài viết đã nhấn mạnh tầm quan trọng củacông cụ BHTG trong việc giải quyết ngân hàng có vấn đề, các giải pháp màcác quốc gia sử dụng để xử lý các TCTGBHTG bị đổ vỡ trong khuôn khổchính sách BHTG và thực tiễn chính sách BHTG ở Việt Nam; Bài viết
“Những thay đổi trong nguyên tắc chi trả bảo hiểm tiền gửi hiệu quả và khuyến nghị với Việt Nam ” của tác giả Liên Hương - Hải Yến, trong đó các
tác giả đã đề cập đến nội dung chi trả cho NGT ở nguyên tắc số 15 - “Bộ
nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả ” của IADI
Trang 17đồng thời đưa ra một số khuyến nghị nhằm góp phần tăng cường hiệu quảcông tác chi trả tại BHTGVN.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về BHTG trong nước đã làmsáng tỏ được những nội dung lý luận cơ bản về BHTG, thực trạng hoạt độngcủa BHTGVN và những giải pháp hoàn thiện các hoạt động nghiệp vụ củaBHTGVN, bảo đảm quyền lợi của NGT, góp phần bảo đảm an toàn cho cả hệthống TCNH Việt Nam trong giai đoạn hội nhập Đó là những tri thức có giátrị rất lớn trong lĩnh vực kinh tế Phần lớn các nghiên cứu sinh mới tìm hiểuhoạt động nghiệp vụ BHTG nói chung mà chưa có đề tài nào tập trung nghiêncứu về hoạt động chi trả của BHTGVN
Ngoài ra, tác giả cũng tìm đọc và nghiên cứu tài liệu nước ngoài như tài
liệu của IADI: “IADI Core Principles for Effective Deposit Insurance
Systems ” (“Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu
quả”); “IADI Enhanced Guidance Paper for Deposit Insurance Systems
-Reimbursement Systems and Processes” (“Tài liệu hướng dẫn nâng cao về
phát triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả - Hệ thống và quy trình chitrả”) Hệ thống các nguyên tắc đã được các quốc gia sử dụng như một khunghướng dẫn để đánh giá hoạt động của TCBHTG, phát hiện những mặt hạn chếtrong thực tiễn hoạt động và biện pháp khắc phục, đồng thời hỗ trợ triển khaihiệu quả các thông lệ về BHTG
Kết quả nghiên cứu của các tài liệu, đề tài nghiên cứu đã được công bốnêu trên sẽ là những tiền đề, nội dung gợi mở mà tác giả kế thừa có chọn lọc
để thực hiện nghiên cứu đề tài “Hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam”.
3 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống một số lý thuyết cơ bản về BHTG, hoạt động chi trả BHTG.
- Làm sáng tỏ các tiêu chí đánh giá và các điều kiện ảnh hưởng tới hoạt
động chi trả BHTG
Trang 18- Phân tích chính xác về thực trạng hoạt động chi trả của BHTGVN
căn
cứ vào các tiêu chí
- Đánh giá kết quả, phân tích những điều kiện ảnh hưởng và hạn chế,
khó khăn còn tồn tại trong triển khai hoạt động chi trả của BHTGVN
- Đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động chi
trả của BHTGVN trong thời gian tới
3.2 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1 (dưới góc độ lý luận): Các tiêu chí đánh giá hoạt động chi trả
BHTG là gì?
Câu hỏi 2 (dưới góc độ thực tiễn): Các điều kiện thực tế đã ảnh hưởng
đến hoạt động chi trả của BHTGVN là gì?
Câu hỏi 3 (dưới góc độ đề xuất): Các giải pháp nào để hoàn thiện hoạt
động chi trả BHTG tại BHTGVN?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động chi trả BHTG.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Một số TCBHTG trên thế giới và tại BHTGVN.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2010 đến hết năm 2018, các giải pháp đến
năm 2025
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Nguồn dữ liệu sẽ được chọn lọc từ:
- Các luận văn, luận án và các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước
có
liên quan đến đề tài luận văn
- Số liệu của BHTGVN (Báo cáo thường niên các năm, báo cáo tổng
hợp
liên quan đến hoạt động chung và hoạt động chi trả của BHTGVN)
- Kế thừa và sử dụng chọn lọc kết quả nghiên cứu của luận văn, luận án,
Trang 19các thông tin trên sách báo, tạp chí khoa học, các trang thông tin điện tử.
Nguồn dữ liệu này được sử dụng để:
- Xây dựng khung lý thuyết của đề tài.
- Xác định các tiêu chí đánh giá và điều kiện tác động đến hoạt động chi
trả BHTG
- Nghiên cứu kinh nghiệm về hoạt động chi trả của các quốc gia.
- Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động chi trả của BHTGVN.
- Định hướng và khuyến nghị giải pháp đối với hoạt động chi trả của
BHTGVN trong giai đoạn tới
5.2 Phương pháp xử lý dữ liệu
- Phương pháp phân tích được sử dụng ở tất cả các nội dung của luận
văn nhằm phân tích và tìm hiểu khung lý thuyết, thực trạng hoạt động chi trảcủa BHTGVN, những đề xuất hoàn thiện hoạt động chi trả theo mục đích luậnvăn đã đặt ra
- Phương pháp so sánh được sử dụng nhằm đối chiếu giữa quy định
pháp luật về BHTG ở Việt Nam với quy định BHTG tại các quốc gia kháctrên thế giới; giữa thực tế hoạt động chi trả của BHTGVN với các tiêu chíđánh giá hoạt động chi trả BHTG
- Phương pháp tổng hợp được sử dụng nhằm chỉ ra những nhận định
chung, ý kiến đánh giá sau nội dung phân tích ở từng tiểu mục, đặc biệtphương pháp tổng hợp được sử dụng để tóm tắt các chương và kết luận chungcủa luận văn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
về mặt lý luận, đề tài làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về BHTG,
hoạt động chi trả BHTG đặc biệt là những tiêu chí đánh giá và những điềukiện ảnh hưởng đến hoạt động chi trả BHTG
về mặt thực tiễn, đề tài đánh giá thực trạng hoạt động chi trả của
Trang 20BHTGVN; đề xuất định hướng và các giải pháp hoàn thiện hoạt động BHTGcủa BHTGVN trong thời gian tới Kết quả nghiên cứu đề tài góp phần vàoviệc hoàn thiện hoạt động chi trả BHTG ở Việt Nam, là tài liệu có giá trị thamkhảo trong học tập và nghiên cứu về lĩnh vực TCNH.
7 Kết cấu của đề tài
Đề tài được trình bày theo 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo hiểm tiền gửi và hoạt động chi trả bảohiểm tiền gửi
Chương 2: Thực trạng hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi của Bảohiểm tiền gửi Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi củaBảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Trang 21CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI VÀ HOẠT
ĐỘNG CHI TRẢ BẢO HIỂM TIỀN GỬI 1.1 Tổng quan về bảo hiểm tiền gửi và tổ chức bảo hiểm tiền gửi
1.1.1 Một số khái niệm về bảo hiểm tiền gửi và tổ chức bảo hiểm tiền gửi 1.1.1.1 Bảo hiểm tiền gửi
Trong lĩnh vực TCNH tại mỗi quốc gia luôn tiềm ẩn sự rủi ro và nhạycảm, do đó để ổn định kinh tế - xã hội trong tình huống xảy ra đổ vỡ ngânhàng, tại mỗi quốc gia luôn có một tổ chức đứng ra bảo vệ NGT Trong quákhứ, tại các nước phát triển, mặc dù chưa có một hệ thống BHTG nhưngChính phủ tại quốc gia đó cũng đã sử dụng công cụ “bảo hiểm ngầm” - dùkhông công khai cam kết việc bảo vệ tiền gửi của người dân nhưng trong tìnhhuống có bất kỳ một ngân hàng nào đổ vỡ thì Chính phủ sẽ đứng ra chi trảcho NGT
Tuy nhiên, chính sách “bảo hiểm ngầm” này đã không đem lại đủ lòngtin cho người dân đối với hệ thống TCNH, vì vậy BHTG ra đời và chuyển từ
“bảo hiểm ngầm” sang công cụ bảo vệ tiền gửi công khai Hoạt động BHTGcông khai được thực hiện lần đầu tiên tại New York (Hoa Kỳ) vào năm 1892với tên gọi “Chương trình bảo hiểm trách nhiệm ngân hàng”, nhằm giải quyết
sự đổ vỡ mang tính chất định kỳ của các ngân hàng Hoa Kỳ giai đoạn thế kỷXIX Sau thời gian hoạt động thử nghiệm hiệu quả đến năm 1933, Chính phủHoa Kỳ đã chính thức thành lập FDIC và mô hình này đã được nhiều quốc giatham khảo và vận dụng Đến nay, hệ thống BHTG đã được thành lập tại hơn
100 quốc gia
Trải qua thời gian hoạt động và phát triển của các hệ thống BHTG, khái
niệm bảo hiểm tiền gửi có thể hiểu khái quát: “Bảo hiểm tiền gửi là một sự
đảm bảo rằng số dư gốc và lãi cộng dồn của các tài khoản tiền gửi nhất định
sẽ được thanh toán tới một giới hạn nhất định” [10], với tác dụng chính là
Trang 22giúp các nhà hoạch định chính sách duy trì các chiến lược BHTG để duy trìniềm tin của NGT đối với mạng ATTC mỗi quốc gia, giảm nguy cơ đồng loạt
rút tiền - rủi ro chính dẫn đến khủng hoảng kinh tế tài chính.
Luật BHTG Việt Nam quy định: “Bảo hiểm tiền gửi là sự bảo đảm
hoàn trả tiền gửi cho người được bảo hiểm tiền gửi trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản” [17].
1.1.1.2 Tổ chức bảo hiểm tiền gửi
Tổ chức BHTG là loại hình tổ chức được thành lập và có thể hoặckhông phải là một phần của NHTW, một số TCBHTG là các tổ chức tư nhân
có sự ủng hộ của Chính phủ hoặc là tổ chức tư nhân hoàn toàn, được Chínhphủ cho phép tiếp nhận đóng góp tài chính từ TCTGBHTG theo quy định tạiquốc gia đó
Theo định nghĩa của IADI: “Tổ chức bảo hiểm tiền gửi là một thực thể
pháp lý chịu trách nhiệm cung cấp bảo hiểm tiền gửi, đảm bảo tiền gửi hoặc các cơ chế bảo vệ tiền gửi tương tự khác” [26].
Luật BHTG Việt Nam quy định: “Tổ chức bảo hiểm tiền gửi là tổ chức
tài chính nhà nước, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, thực hiện chính sách bảo hiểm tiền gửi, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng” [17].
1.1.1.3 Đối tượng được bảo hiểm tiền gửi
Đối với TCBHTG, đối tượng được BHTG là người có khoản tiền gửi
tại TCTGBHTG “Người gửi tiền không phải đóng góp tài chính cho
TCBHTG nhưng có quyền yêu cầu TCBHTG thanh toán tiền gửi kể cả tiền lãi tích lũy trên tiền gửi đó trong hạn mức chi trả tiền gửi của TCBHTG có thể là toàn bộ hoặc một phần tiền gửi do chính sách của mỗi quốc gia” [2].
Trang 231.1.1.4 Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
“Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi là các ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng có hoạt động huy động tiền gửi Theo thông lệ quốc
tế, hiện nay trên thế giới có hai xu hướng tham gia BHTG, đó là các tổ chức tham gia BHTG có thể tham gia BHTG một cách bắt buộc hoặc tham gia tự nguyện’” [2].
Dù là hình thức nào thì vẫn còn những hạn chế tồn tại, song hình thứcgia nhập bảo hiểm bắt buộc được đánh giá là có nhiều ưu điểm hơn nên phầnlớn được các quốc gia áp dụng
Ở Việt Nam, “Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi là tổ chức tín dụng,
chi nhánh ngân hàng nước ngoài thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng được nhận tiền gửi của cá nhân” [17] Bên cạnh đó, cơ chế
tham gia BHTG là bắt buộc và TCTGBHTG phải đóng phí trên tổng số dưtiền gửi theo tỷ lệ theo luật định
1.1.1.5 Phí bảo hiểm tiền gửi
Phí BHTG là khoản tiền mà TCTGBHTG phải nộp cho TCBHTG,hay được hiểu là một khoản đóng góp tài chính Mục đích của việc thu phíBHTG nhằm hình thành nguồn quỹ BHTG sẵn sàng để xử lý TCTD đổ vỡ khicần thiết và đảm bảo mục tiêu bảo vệ NGT
Các TCBHTG thu phí từ các TCTGBHTG thường lựa chọn giữa hìnhthức thu phí đồng hạng hoặc hệ thống thu phí phân biệt trên cơ sở rủi ro củatừng TCTGBHTG Mặc dù các hệ thống thu phí đồng hạng có lợi thế là tương
đối dễ thiết kế và quản lý, song “hệ thống thu phí đồng hạng được đánh giá
là không công bằng vì các ngân hàng rủi ro thấp trả mức phí giống như các ngân hàng rủi ro cao” [24].
1.1.2 Mục đích của bảo hiểm tiền gửi
Bản chất hoạt động BHTG dựa theo “nguyên tắc số đông bù số ít” thể
Trang 24hiện tính tương trợ, tính xã hội trước những rủi ro của các TCTGBHTG Theo
đó, TCBHTG có nghĩa vụ chi trả các khoản tiền gửi cho NGT tại cácTCTGBHTG khi các tổ chức này gặp rủi ro dẫn đến tình trạng mất khả năngthanh toán Thông qua BHTG, NGT được cung cấp thông tin minh bạch, sửdụng các dịch vụ tư vấn của BHTG để hạn chế những thiệt hại trong trườnghợp TCTGBHTG phá sản Mỗi một hệ thống BHTG đều có những mục đích
cụ thể riêng biệt nhưng nhìn chung đều nhằm mục đích:
Một là, bảo vệ số đông NGT;
Hai là, đảm bảo ổn định hoạt động của hệ thống TCNH và ngăn chặn
sự đổ vỡ của TCTD thông qua các hoạt động nghiệp vụ của TCBHTG;
Ba là, “góp phần xây dựng thị trường tài chính lành mạnh, có tính cạnh tranh bình đẳng giữa các tổ chức tài chính với quy mô và loại hình khác nhau” [2];
Bốn là, giảm gánh nặng cho Chính phủ trong tình huống giải quyết, xử
lý TCTD đổ vỡ.
1.1.3 Vai trò của bảo hiểm tiền gửi và tổ chức bảo hiểm tiền gửi
Vai trò của BHTG - tương tự vai trò của TCBHTG được thể hiện quacác khía cạnh sau:
Thứ nhất, TCBHTG thực hiện chi trả cho NGT nếu TCTD bị đổ vỡ
không có khả năng làm việc đó;
Thứ hai, TCBHTG góp phần bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh
hoạt động của TCTD từ khi TCTD được cấp phép đến khi chấm dứt hoạtđộng;
Thứ ba, BHTG thúc đẩy quá trình huy động vốn nhằm phát triển kinh
tế và duy trì an ninh xã hội;
Thứ tư, TCBHTG có vai trò quan trọng trong tình huống xảy ra khủng
hoảng TCNH Việc các quốc gia nâng HMCT hoặc tuyên bố bảo hiểm toàn
Trang 25bộ tiền gửi của người dân góp phần ngăn ngừa được tình trạng rút tiền độtbiến, nâng cao niềm tin của NGT vào hệ thống TCNH,
2 TCTD đang hoạt động
1 TCTD băt đâu được cap phép IiOiIt động
3 TCTD bị chain dứt hoạt động
bắc cẩu chi trà tiền
gửi được bào 111 èm
BHTG thực hiện kiềm tra giam sát thường xuyên, đua ra cành báo kịp thời, tham gia tái càu trúc hệ thòng ngàn hang
BHTG tham gia thẩm
định điêu kiện được
càp phép hoạt động
cùa TC 1 TD
Sơ đồ 1.1: Vai trò của BHTG trong chu kì hoạt động của TCTD
1.1.4 Hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi
TCBHTG được hoạt động theo một trong ba mô hình:
- TCBHTG “có nhiệm vụ chi trả đơn thuần” [26]: theo đó TCBHTG
chỉ chịu trách nhiệm thanh toán cho tiền gửi
- TCBHTG “có nhiệm vụ chi trả mở rộng” [26]: TCBHTG có thêm
Trang 26và xử lý, trong một số trường hợp có cả chức năng giám sát an toàn.
Tùy thuộc mức độ phát triển hoạt động của hệ thống TCNH, tình hìnhkinh tế, chính trị ở mỗi quốc gia mà việc chọn lựa mô hình hoạt động củaTCBHTG ở mỗi nước cũng khác nhau
1.2 Tổng quan về hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi
1.2.1 Khái niệm về hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi
Theo định nghĩa của IADI, “Chi trả bảo hiểm tiền gửi là một trong
những nhiệm vụ chính của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Theo đó, TCBHTG phải
có trách nhiệm chi trả tiền bảo hiểm kịp thời cho người gửi tiền khi một ngân hàng bị cơ quan chức năng tuy ên bố đóng cửa” [25].
Tại Việt Nam, chi trả BHTG được biết đến là một trong những phươngpháp xử lý các TCTD đổ vỡ mà theo đó TCBHTG trả số tiền được bảo hiểmcho từng NGT theo một hạn mức Đây là hoạt động cơ bản nhất của tất cả môhình TCBHTG để bảo vệ quyền lợi của NGT
1.2.2 Sự cần thiết của hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi
Hoạt động chi trả ra đời nhằm hạn chế các diễn biến tiêu cực khi TCTD
đổ vỡ cũng như giảm thiểu được những tổn hại khi TCTD đổ vỡ gây ra Sauđây là các ảnh hưởng chính của hiện tượng TCTD đổ vỡ:
- Rút tiền hàng loạt: NGT nhận thức rằng khi một TCTD phá sản thì
người rút tiền đầu tiên sẽ không bị mất tiền của họ, những người chậm trễ sẽmất đi một phần tiền của mình do TCTD không còn đủ tiền Chính vì vậy họ
đổ xô ra TCTD rút tiền hàng loạt gây ra tình trạng mất ổn định
- Tính lan truyền: Sự lan truyền có thể xảy ra một cách trực tiếp hoặc
gián tiếp Lan truyền trực tiếp xảy ra khi TCTD đổ vỡ có những mối liên hệchặt chẽ với tổ chức khác ví dụ như các giao dịch nghiệp vụ, các hoạt độnggóp vốn, cổ phần, Lan truyền gián tiếp xảy ra khi một TCTD đổ vỡ, NGT
và các tổ chức sẽ có tâm lý e ngại khi tham gia vào các giao dịch đối với
Trang 27TCTD khác mà họ cho rằng cũng sẽ bị chịu tổn hại Ví dụ: Khi ngân hàngBaring sụp đổ, một loạt các ngân hàng khác đều báo cáo rằng họ phải đối mặtvới việc rút tiền mặc dù không có bằng chứng nào cho rằng họ sẽ bị đổ vỡnhư Baring.
- Chi phí xử lý đổ vỡ: Chi phí dành cho xử lý đổ vỡ có thể đo lường
được bằng số liệu và thường là rất lớn Nghiên cứu của Caprio (1996) tại 14quốc gia cho thấy các nước này phải chi hơn 10% GDP cho việc xử lý ngânhàng đổ vỡ Khủng hoảng 1980 tại Mỹ, tổn thất ước tính từ 2-4% GDP.Trường hợp Credit Lyonnais gây tổn thất 2% GNP Nghiên cứu của Honohan(1996) đánh giá chi phí xử lý khủng hoảng tại các nước đang phát triển là
$250 tỷ Lindgren et al (1995) chỉ ra rằng 3/4 thành viên của mình đối mặt vớinhững tổn thất nghiêm trọng tại khu vực ngân hàng và 1/3 thành viên coi đó
là khủng hoảng Một phần của chi phí xử lý của các cuộc khủng hoảng nàyđều xảy ra tại hệ thống TCNH và ngân sách chính phủ phải chi ra là rất lớn
- Sự bất ổn định của hệ thống tài chính: Ngoài tác động trực tiếp của
tình trạng bất ổn tài chính trong hoạt động kinh tế, còn có hậu quả gián tiếpcho sự phát triển tiềm năng dài hạn khi các tổ chức trung gian tài chính yếukém Khi người cho vay mất niềm tin vào sự ổn định liên tục của các tổ chức
mà họ đã đầu tư, họ sẽ tìm cách giới hạn các giao dịch và đặt tài sản của họ ởnơi khác Thậm chí họ có thể lựa chọn dùng tiền cho việc tiêu dùng thay vìtiết kiệm hoặc có thể đặt tiền của họ trong những tài sản không sinh lời antoàn Hậu quả của việc này là ngân hàng không huy động được tiền gửi vàkéo chậm lại nền kinh tế
1.2.3 Nội dung hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi
1.2.3.1 Hạn mức chi trả
Mỗi quốc gia lại quy định hạn mức BHTG khác nhau Nhìn chung,
“Hạn mức chi trả BHTG phải được giới hạn nhưng phải đáng tin cậy Hạn
Trang 28mức chi trả BHTG phải bảo vệ phần lớn người gửi tiền để đáp ứng mục tiêu chính sách công của hệ thống và nhất quán với các đặc điểm hệ thống bảo hiểm tiền gửi khác” [26] Trên thế giới hiện áp dụng hai mức chi trả là chi trả
Chi trả một phần là hình thức chi trả được thực hiện theo một HMCT
cụ thể Thực tiễn pháp luật BHTG quốc tế cho thấy, có hai trường hợp chi trả
có giới hạn gồm: Trường hợp số dư tiền gửi (và khoản tiền lãi) thuộc đốitượng được bảo hiểm nhỏ hơn hoặc bằng HMCT thì NGT được hoàn trả toàn
bộ số tiền gửi của họ cùng khoản lãi trên số tiền gửi; Còn trường hợp số dưtiền gửi nhiều hơn HMCT thì NGT chỉ được nhận khoản tiền bảo hiểm từTCTGBHTG bằng HMCT NGT sẽ nhận được phần tiền còn lại trong giaiđoạn thanh lý tài sản của TCTGBHTG
“Mục đích của việc thiết lập hạn mức BHTG là để phần lớn người gửi tiền được bảo hiểm đầy đủ và không có động lực rút khỏi tổ chức nhận tiền gửi, trong khi vân duy trì một tỷ lệ giá trị các khoản tiền gửi chưa được bảo hiểm” [26].
1.2.3.2 Thời gian chi trả
Thời gian chi trả cho NGT thường được tính khởi điểm là từ lúcTCTGBHTG mất khả năng thanh toán hoặc phá sản và kết thúc là lúc việcchi trả hoàn tất Khung thời gian để hoàn thành chi trả phải diễn ra nhanhchóng và được công bố rõ ràng
Sau khi TCTGBHTG bị đổ vỡ, NGT phải được cung cấp thông tin về
Trang 29thời gian và với điều kiện nào TCBHTG sẽ bắt đầu quá trình hoàn trả và khinào quá trình này dự kiến sẽ kết thúc đồng thời TCBHTG phải cung cấpthông tin về HMCT và thông tin về quá trình chi trả sẽ được thanh toán trướchay thanh toán tạm thời.
1.2.3.3 Hình thức chi trả
Hiện nay các nước đang áp dụng chủ yếu hai hình thức chi trả cơ bản làChi trả trực tiếp và Chi trả theo ủy quyền Ngoài ra có thể kết hợp cả hai hìnhthức Chi trả trực tiếp và Chi trả theo ủy quyền
- Chi trả trực tiếp: TCBHTG trực tiếp chi trả cho từng NGT.
- Chi trả theo ủy quyền (Chi trả gián tiếp): một tổ chức trung gian đứng
ra với tư cách như một đại diện cho TCBHTG để chi trả cho NGT
- Chi trả trực tiếp kết hợp Chi trả theo ủy quyền: TCBHTG vừa trực
tiếp chi trả, vừa ủy quyền cho một TCTGBHTG chi trả, hình thức này thườngđược áp dụng chi trả cho TCTGBHTG có quy mô lớn, rộng
TCBHTG có thể thông qua một hoặc kết hợp nhiều phương thức để bảođảm việc chi trả diễn ra một cách nhanh chóng và thuận tiện như: thanh toánséc, chuyển tiền điện tử, qua đại lý thanh toán, tiền mặt, Các phương thứcthanh toán được lựa chọn tùy thuộc vào điều kiện vị trí địa lý, số tiền được bồithường, hồ sơ của NGT, độ hiệu quả và tốc độ của các phương thức thanhtoán
Trang 30ii) Lựa chọn các phương thức chi trả: Chi trả trực tiếp, chi trả theo ủyquyền Phương thức thanh toán tiền: qua tài khoản, tiền mặt, séc ;
iii) Chuẩn bị ký thỏa thuận với các bên nhận ủy quyền chi trả;
iv) Các chuẩn bị khác: chuẩn bị công bố thông tin
- Bước 2: Nhận đơn yêu cầu chi trả và xử lý
i) TCBHTG nhận đơn yêu cầu chi trả và kiểm tra để đảm bảo rằng việcchi trả đúng đối tượng và đúng số tiền được chi trả Việc nhận yêu cầu chi trảbảo hiểm từ các TCTGBHTG có nhiều hình thức: nhận tại các địa điểm củaTCTD đổ vỡ, nhận tại trụ sở của TCBHTG, nhận qua hình thức bưu điện,hoặc bằng các phương pháp điện tử
ii) TCBHTG phải bảo đảm cung cấp đầy đủ các thông tin cũng như hỗtrợ, giải đáp thắc mắc cho NGT về các quy định cũng như thủ tục tiến hànhchi trả Các yêu cầu chi trả của NGT sau đó sẽ được chuyển về trung tâm xử
lý Việc xử lý thông tin được hỗ trợ bằng các hệ thống CNTT hiện đại nhằmbảo đảm xử lý nhanh và chính xác
- Bước 3: Tiến hành chi trả
Sau khi đã kiểm tra và xác nhận yêu cầu chi trả của NGT là chính xác,TCBHTG tiến hành chi trả cho NGT Phương thức thanh toán tiền bảo hiểmthực hiện theo đăng ký nhận tiền của người nhận tiền là bằng tiền mặt hoặcbằng thẻ, hoặc chuyển khoản vào tài khoản của cá nhân
1.2.4 Đánh giá hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi
IADI được thành lập với mục đích nâng cao hiệu quả của hoạt độngBHTG thông qua việc thúc đẩy hướng dẫn và trao đổi hợp tác quốc tế Tầmnhìn của IADI là giúp chia sẻ thông tin, kiến thức về BHTG trên toàn thế giới.Một phần công việc của IADI là thực hiện các dự án nghiên cứu để xây dựngtài liệu hướng dẫn các nội dung về BHTG
Trang 31Trước đây, công tác chi trả được đề cập tại nguyên tắc số 17 trong tài
liệu “Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu
quả” do IADI phối hợp cùng BCBS nghiên cứu và phát hành vào năm 2009.
Do những thay đổi trong thực tế hoạt động của các TCBHTG, tài liệu “Bộ
nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả ” đã được
sửa đổi và ban hành phiên bản mới vào năm 2014
Nguyên tắc số 15 trong “Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống bảo
hiểm tiền gửi hiệu quả ” phiên bản mới của IADI có đề cập tới tiêu chuẩn đối
với hoạt động chi trả cho NGT như sau: “Hệ thống bảo hiểm tiền gửi cần chi
trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền ngay lập tức, nhằm đóng góp vào sự ổn định tài chính Cần phải có một kế hoạch cụ thể và rõ ràng đối với việc chi trả cho người gửi tiền” [26] Nguyên tắc số 15 cũng khuyến nghị 10 tiêu
chuẩn cơ bản để đánh giá hoạt động chi trả tại các TCBHTG
1.2.4.1 Tiêu chí đánh giá hoạt động chi trả
Hoạt động chi trả của TCBHTG có thể thông qua được đánh giá quacác tiêu chí sau:
(1) Chi trả kịp thời
Ý nghĩa của tiêu chí: Hoạt động chi trả thỏa mãn điều kiện về thời
gian Tiêu chí đánh giá về tính kịp thời là khi NGT nhận được tiền của họ(toàn bộ hoặc từng phần) trong thời hạn quy định Tính kịp thời được xem xétkhác nhau tại mỗi khu vực pháp lý và sẽ phụ thuộc vào chế độ xử lý phá sảntại quốc gia đó Tuy nhiên, thông lệ quốc tế đang tiến tới rút ngắn giai đoạnquá trình chi trả Mỗi quốc gia đều có những quy định riêng về thời hạn chitrả Nếu TCBHTG có thể chi trả càng sớm hơn so với thời gian quy định thìcàng giảm thiểu được các rủi ro có thể xảy ra Tuy nhiên, thời gian giải quyếtchi trả thực tế còn chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện khác như số lượng hồ sơNGT tại TCTGBHTG, số lượng người làm việc, chi phí để đảm bảo chi trảhết cho tất cả số người được bảo hiểm, từng sự việc chi trả cụ thể,
Trang 32Tiêu chí này được thể hiện ở các tiêu chuẩn của IADI như: “chi trả cho
phần lớn người gửi tiền trong vòng 07 ngày làm việc” (tiêu chuẩn 1); “có
khung thời gian cụ thể cho việc thực hiện kế hoạch chi trả và có cơ sở pháp
lý, hướng dẫn rõ ràng” (tiêu chuẩn 2); “có cơ chế tạm ứng chi trả, chi trả tạm thời hoặc thanh toán từng phần khẩn cấp” (tiêu chuẩn 3); “nhanh chóng tiếp cận hồ sơ người gửi tiền để đẩy nhanh việc chi trả” (tiêu chuẩn 4); “có nguồn lực và năng lực thực hiện chi trả ngay lập tức” (tiêu chuẩn 5) [25].
(2) Chi trả đầy đủ
Ý nghĩa của tiêu chí: Hoạt động chi trả bảo đảm chi trả đủ cho tất cả
số người được bảo hiểm và đủ số tiền cho từng cá nhân được bảo hiểm theoHMCT quy định Số người được chi trả có thể nhỏ hơn hoặc bằng số NGTthuộc đối tượng BHTG tại TCTGBHTG do có trường hợp hồ sơ, chứng từ gửitiền còn có những vướng mắc (thông tin không khớp đúng, thiếu thông tinhoặc có dấu hiệu vi phạm quy định của pháp luật), NGT chưa đủ điều kiệnđược chi trả Số người được chi trả, số tiền chi trả đầy đủ sẽ bảo vệ đượcquyền lợi của NGT, hạn chế khiếu nại và xáo trộn trật tự an ninh trên địa bàn
có TCTGBHTG bị đổ vỡ
Tiêu chí này được thể hiện ở các tiêu chuẩn của IADI như: “tiếp cận hồ
sơ, có quyền thực hiện các biện pháp kiểm tra trước nhằm chuẩn bị về tính
chính xác của hồ sơ người gửi tiền” (tiêu chuẩn 4); “tổ chức bảo hiểm tiền gửi
cần có hệ thống thông tin nhằm xử lý thông tin người gửi tiền một cách hệ
thống và chính xác” (tiêu chuẩn 5) [25].
(3) Chi trả chính xác
Ý nghĩa của tiêu chí: Hoạt động chi trả phải đảm bảo đúng người và
đúng số tiền bảo hiểm mà cá nhân đó được hưởng Tính chính xác thể hiện ởhai thời điểm thực hiện: i) Thời điểm kiểm tra số liệu, dữ liệu để xác minh
Trang 33được đúng người và đúng số tiền chi trả và ii) Thời điểm tiến hành chi trả chongười được bảo hiểm.
Tiêu chí này được thể hiện ở các tiêu chuẩn của IADI như: “tiếp cận hồ
sơ, có quyền thực hiện các biện pháp kiểm tra trước nhằm chuẩn bị về tính
chính xác của hồ sơ người gửi tiền” (tiêu chuẩn 4); “TCBHTG cần có hệ
thống thông tin nhằm xử lý thông tin người gửi tiền một cách hệ thống và
chính xác” (tiêu chuẩn 5); “kiểm toán độc lập nhằm giảm thiểu những sai sót của TCBHTG trong việc chi trả” (tiêu chuẩn 7); “việc bù trừ nợ (nếu có) của tiền gửi phải được áp dụng nhằm đảm bảo tính chính xác” (tiêu chuẩn 8) [25].
Ngoài ra, các tiêu chuẩn còn lại được đề cập gắn với những công việcsau hoạt động chi trả, bao gồm: “việc đánh giá các yếu tố thành công hay thất
bại của hoạt động chi trả” (tiêu chuẩn 6); “có sẵn cơ chế hoặc thỏa thuận làm
việc với các cơ quan thanh toán và thanh lý để đảm bảo các yếu tố chuyển
tiếp được xử lý một cách phù hợp, thống nhất và kịp thời” (tiêu chuẩn 9) và
“cơ chế xử lý tài sản, hỗ trợ quá trình thanh lý” (tiêu chuẩn 10) [25].
Như vậy, hoạt động chi trả phải gắn với ba yếu tố quan trọng là tính kịpthời, tính chính xác và tính đầy đủ Để duy trì niềm tin của NGT vào hệ thốngBHTG, tránh tâm lý lo sợ dẫn đến việc đột biến rút tiền của NGT, hoạt độngchi trả phải đảm bảo minh bạch, chính xác, đầy đủ, an toàn, thuận tiện, tiếtkiệm chi phí; đồng thời đảm bảo quyền lợi hợp pháp của NGT
1.2.4.2 Các điều kiện ảnh hưởng đến hoạt động chi trả
Kể từ khi “Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi
hiệu quả ” ra đời, việc chuẩn hóa hoạt động chi trả cho NGT đã bộc lộ những
chênh lệch lớn giữa hoạt động thực tế diễn ra ở nhiều quốc gia Dựa trên khảosát và nghiên cứu thực tiễn từ các nhà chuyên môn và các tài liệu học thuật,IADI đã đưa ra những trở ngại mà TCBHTG phải đối mặt chung để phát triển
hệ thống và quy trình chi trả hiệu quả, cụ thể:
Trang 34(1) Thời hạn chi trả và các công việc chuẩn bị trước khi
TCTGBHTG bị đóng cửa
Trên thực tế, thời hạn chi trả cho NGT tại mỗi quốc gia khá khác biệt
và thường được tính từ lúc TCTGBHTG mất khả năng thanh toán/ phá sản vàkết thúc là lúc quá trình chi trả hoàn tất Thời hạn chi trả quy định có thể là
“sớm nhất có thể” như trường hợp Tổng công ty BHTG Canada hoặc đến
“không muộn hơn 6 tháng” như Tổng công ty BHTG Bahamas Hầu hết cácTCBHTG đều hoàn thành sớm hơn so với thời hạn chi trả mục tiêu FDIC cóthời hạn chi trả mục tiêu ngắn nhất, với khả năng trả trước toàn bộ trong vòngngày 02 làm việc Tổ chức BHTG ở Đài Loan cũng có thời hạn chi trả rấtnhanh chóng, với các kế hoạch chi trả NGT là 03 ngày sau khi ngân hàng bịđóng cửa Hệ thống BHTG tại Canada cho phép chi trả từng phần trong vòng
05 ngày sau sự kiện đổ vỡ và chi trả toàn bộ cho hầu hết các tài khoản trongvòng 14 ngày
Thời hạn chi trả cho NGT không bao gồm thời gian mà TCBHTG cần
để chuẩn bị cho việc chi trả trước khi TCTGBHTG bị đóng cửa Chi trả NGT
là một cam kết phức tạp và đòi hỏi việc thiết lập cơ sở hạ tầng gồm các bước
dự tính về nguy cơ đóng cửa TCTGBHTG Thậm chí khi sẵn có có các cơ sở
hạ tầng liên quan, nhiều hoạt động cần được triển khai trước khi TCTGBHTG
bị đóng cửa nếu như muốn đáp ứng việc chi trả ngay lập tức cho NGT Cáchoạt động chuẩn bị cần thiết bao gồm việc thiết lập cho TCBHTG quyền yêucầu TCTGBHTG nộp hồ sơ NGT; các chiến lược và hướng tiếp cận hồ sơNGT chính xác, sự hợp tác với thành viên khác trong mạng ATTC, cũng nhưcác chính sách, quyền kiểm soát và thẩm quyền trong phạm vi cơ cấu quản trịcủa TCBHTG để hướng dẫn quản lý quá trình chi trả
(2) Độ chính xác của thông tin về tiền gửi
Để chi trả kịp thời và chính xác cho NGT, TCBHTG cần có:
Trang 35- Quyền tiếp cận các dữ liệu cần thiết, bao gồm hồ sơ tài khoản tiền gửi,
hồ sơ NGT trước khi TCTGBHTG xảy ra đổ vỡ Việc cấp quyền truy cập,kiểm soát dữ liệu tiền gửi trước khi TCTGBHTG bị đóng cửa nhằm giảm tínhhuống sai sót thông tin, đẩy nhanh tiến trình chi trả của TCBHTG
- Quyền được xem xét trước (hoặc theo yêu cầu từ cơ quan giám sát) về
hồ sơ lưu trữ từ các TCTGBHTG để đảm bảo độ chính xác của hồ sơ, giảmthời gian cần tính toán và xác minh khiếu nại của NGT Chất lượng hồ sơNGT kém và việc TCTGBHTG không thể cung cấp các hồ sơ này đúng thờihạn là trở ngại lớn thứ hai Như vậy, việc chi trả ảnh hưởng bởi các quy định
về giám sát hoặc khả năng áp dụng các tiêu chuẩn về lưu giữ hồ sơ củaTCTGBHTG
(3) Các yêu cầu thanh toán bù trừ
Theo khảo sát của IADI, tính phức tạp của việc thanh toán bù trừ liên
quan tới việc so khớp các tài khoản tiền gửi với bất kỳ khoản vay nợ có liênquan của NGT đối với TCTGBHTG đổ vỡ
Độ phức tạp trong việc thanh toán bù trừ có thể ảnh hưởng lớn đến khảnăng chi trả nhanh và chính xác vì việc bù trừ tạo rủi ro chi trả thừa khi cácmối quan hệ thanh toán bù trừ không được xác nhận nhanh chóng và việckhông thể xác định khối lượng bù trừ trong thời gian ngắn Hậu quả là có thểtrì hoãn chi trả cho nhóm NGT trong quá trình chi trả và đòi hỏi việc xử lýđặc biệt với NGT để có các xác nhận thanh toán bù trừ phù hợp KhiTCBHTG không thể nhanh chóng xác định những NGT có khoản vay và nợkhác đối với ngân hàng đổ vỡ và tách riêng chúng để xử lý đặc biệt, TCBHTGnên nhờ đến sự hỗ trợ của cơ quan thanh lý nhằm định danh những NGT này.Trong việc xác định khoản bù trừ vào tài khoản của NGT, TCBHTG có thểxem xét ước lượng thận trọng khối lượng bù trừ cho phép chi trả một lượngnhất định cho NGT mà vẫn giảm được nguy cơ chi trả thừa
Trang 36(4) Năng lực tài chính
TCBHTG có năng lực tài chính đủ mạnh là tổ chức có đủ nguồn vốn đểthực hiện các chính sách BHTG và thực hiện đầu tư hiệu quả nhằm bảo toàn
và phát triển vốn ổn định Nguyên tắc 9 - “Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ
thống BHTG hiệu quả” nêu rõ: “TCBHTG phải có săn các quỹ, cơ chế cấp
vốn bảo đảm thanh khoản nhằm hô trợ chi trả một cách nhanh chóng” [26].
Kinh nghiệm và thực tế từ sự kiện khủng hoảng tài chính cho thấy, khả năngtài chính của TCBHTG không nên lệ thuộc vào ngân sách mà cần được tăngcường qua việc làm tốt chức năng đầu tư, hỗ trợ hiệu quả công tác xử lý sự cốtại các TCTGBHTG mà không cần hỗ trợ từ Chính phủ
Việc quy định các TCTGBHTG có trách nhiệm đóng phí BHTG (cơchế BHTG bắt buộc) giúp hệ thống BHTG có nguồn vốn (thu phí định kỳ) ổnđịnh và chi phí thấp để thực hiện nhiệm vụ Theo đó, TCBHTG cần cóphương án quản trị an toàn giúp phát triển ổn định nguồn vốn, dự báo nhu cầu
và xây dựng lộ trình tăng vốn giúp củng cố năng lực tài chính
lý đổ vỡ ngân hàng” [26].
Như vậy, các quốc gia cần quy định rõ cơ chế phối hợp giữa cácTCTGBHTG, TCBHTG và các thành viên khác trong mạng ATTC Nhữngthông tin trao đổi giữa các cơ quan này cần phải chính xác và kịp thời và cầnhiện thực hóa cơ chế chia sẻ và phối hợp thông tin một cách chính thức bằngvăn bản luật
Trang 37(6) Chất lượng nhân lực
Nguồn nhân lực được đánh giá là có chất lượng khi số lượng tương ứngvới số lượng công việc, có cơ cấu chuyên môn nghề nghiệp phù hợp, ngườilao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, kinh nghiệm công tác đáp ứngđược đòi hỏi công việc Để có được nguồn nhân lực tốt cần nhiều điều kiện,trong đó có công tác phát triển và bồi dưỡng chất lượng nguồn nhân lực thíchứng với những biến đổi của môi trường, thích ứng với chiến lược phát triểncủa TCBHTG trong tương lai
Hiệu quả của hoạt động chi trả phụ thuộc vào mức độ của công tácchuẩn bị của TCBHTG trước khi TCTD bị phá sản, điều này đòi hỏi một độingũ nhân lực có chuyên môn và kỹ năng thực hiện nghiệp vụ chi trả.TCBHTG có thể sử dụng nhân lực của bản thân tổ chức hoặc thuê ngoài tùyđiều kiện và quy mô chi trả
(7) Hệ thống CNTT
Việc chi trả cho NGT đòi hỏi xử lý hàng nghìn thậm chí hàng triệu tàikhoản một cách chính xác trong khung thời gian hạn chế Để đáp ứng khungthời gian chi trả, TCBHTG sẽ phải dựa trên hệ thống CNTT để chi trả Mộttrong các vấn đề lớn nhất đối với TCBHTG là thiếu một hệ thống CNTT thíchhợp để tương thích với các TCTGBHTG có quy mô khác nhau Khi cần chitrả,
nếu cần đánh giá điều kiện của mỗi NGT và mỗi sản phẩm tiền gửi một cáchthủ công thì TCBHTG không thể thực hiện chi trả nhanh chóng và hiệu quảđược Thậm chí trong các tình huống mà các TCTGBHTG áp dụng tốt hệthống sổ sách giấy tờ, TCBHTG vẫn cần dùng đến giải pháp công nghệ tiêntiến để xử lý dữ liệu, tra xét các khoản chi trả và tối thiểu hóa khả năng xảy rasai sót trong cả quá trình
Việc nghiên cứu và cải tiến để ứng dụng hệ thống CNTT trong chi trả
là rất cần thiết Một hệ thống CNTT phù hợp sẽ giúp hoạt động chi trả hiệuquả, đạt được mục tiêu chi trả chính xác và kịp thời cho NGT
Trang 38(8) Mô phỏng tình huống chi trả
TCBHTG cần tổ chức các đợt diễn tập mô phỏng tình huống định kỳ.Đây là các bài tập được xây dựng gần giống với thực tế khi xảy ra đổ vỡTCTD, giúp cho TCBHTG có thêm kinh nghiệm trong hoạt động chi trả Mụctiêu của diễn tập mô phỏng tình huống nhằm đảm bảo nguồn nhân lực thamgia hoạt động chi trả được đào tạo đầy đủ kiến thức và kỹ năng giải quyết,ứng phó khi phát sinh việc chi trả thực tế
Mỹ và Canada là các quốc gia có kinh nghiệm trong thực hiện cácchương trình mô phỏng tình huống chi trả bảo hiểm Trong giai đoạn 2002-
2007, FDIC đã thực hiện 5 tình huống mô phỏng ở những ngân hàng có tổnglượng tiền gửi từ 5 tỷ đến 43 tỷ USD Từ năm 2004 đến năm 2011, CDICthực hiện 8 tình huống mô phỏng hoàn chỉnh trên tất cả các quy trình Nhìnchung, nội dung và kết quả của các chương trình mô phỏng tình huống chi trảđược xem như một phần nội dung chương trình truyền thông của TCBHTGvới mục đích góp phần ổn định hệ thống, gây dựng hình ảnh và thương hiệuniềm tin vào TCBHTG
1.3 Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 1.3.1 Kinh nghiệm một số tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong hoạt động chi trả
1.3.1.1 Kinh nghiệm xử lý dữ liệu tiền gửi từ PIDM
PIDM ra đời từ năm 2005 PIDM nhận thức rõ tầm quan trọng của việcchi trả cho NGT ngay lập tức và chính xác khi ngân hàng bị đổ vỡ Chính vìvậy, PIDM đã liên tục hoàn thiện chức năng chi trả và áp dụng các giải phápnhằm ứng phó với những thách thức thường gặp đối với một hệ thống chi trả,
cụ thể:
(1) Tiếp cận thông tin dữ liệu về NGT
PIDM có thẩm quyền tiếp cận thông tin hiệu quả nhanh chóng baogồm: quyền truy cập thông tin NGT không bị giới hạn; ban hành quy định chi
Trang 39trả để tạo điều kiện cho hoạt động chi trả; kiểm tra trước các khoản tiền gửingân hàng khi chuẩn bị thực hiện chi trả Việc này giúp cho PIDM có đủthời gian để xác định các nguồn lực cần thiết nhằm sẵn sàng thực hiện chi trả,đưa ra các chiến lược truyền thông, chuẩn bị và hoàn thành chi trả.
(2) Hệ thống CNTT và kế hoạch chi trả phù hợp
- PIDM đã xây dựng chiến lược tổng hợp, các chính sách, quy trình vàthủ tục để thực hiện hoạt động chi trả Ngoài ra, PIDM định kỳ có bài tập giảđịnh và bài tập xác thực thông tin tiền gửi, tập huấn và đào tạo phát triển nhânlựccũng như đánh giá các chính sách và quy trình thủ tục
- PIDM đã xây dựng một hệ thống CNTT phục vụ cho hoạt động chitrả
hoàn toàn tự động và tích hợp với các module chức năng cụ thể:
+ Hệ thống quản lý thông tin các khoản tiền gửi của NGT (DLIMS)nhằm xử lý dữ liệu tiền gửi, từ đó tạo ra danh sách cuối cùng để thực hiện chitrả cho NGT;
+ Hệ thống đăng ký sản phẩm (PRS) lấy thông tin về tất cả các loại tiềngửi từ các ngân hàng PRS cũng là nơi lưu trữ các loại tiền gửi có xác nhậncủa PIDM có đủ điều kiện để được BHTG PIDM và các ngân hàng có thểtruy cập trực tuyến vào PRS bất kỳ lúc nào để xác nhận danh sách các khoảntiền gửi
+ Hệ thống quản lý hỗ trợ NGT (DSMS) tương tác với DLIMS để chophép các trung tâm hỗ trợ khách hàng có thể truy cập thông tin của NGT
+ Hệ thống quản lý chi trả (PPMS) chi trả thông qua các phương thứcthanh toán khác nhau, ví dụ như thanh toán bằng séc, chuyển tiền gửi sangmột ngân hàng khác để thực hiện thanh toán, và thanh toán thông qua máy rúttiền tự động của hệ thống
+ Hệ thống quản lý yêu cầu (RMS) tương tác với DSMS, PPMS vàDLIMS, sẽ xử lý các yêu cầu hoặc truy vấn từ NGT thông qua DSMS / Trung
Trang 40tâm hỗ trợ Hệ thống này sẽ ghi nhận, theo dõi và cập nhật tình trạng củanhững yêu cầu cho DSMS ở từng giai đoạn Tùy thuộc từng loại yêu cầu, saukhi Nhóm quản lý khiếu nại xác minh và nghiên cứu, yêu cầu sẽ được chuyểnđến DLIMS để tính toán lại khoản tiền được bảo hiểm hoặc sẽ được dẫn đếnPPMS để đề nghị cấp lại khoản tiền bảo hiểm.
Với hệ thống CNTT hỗ trợ chi trả tiến tiến đang tiếp tục được phát triển
và việc quy định các TCTGBHTG cung cấp thông tin chi tiết về tiền gửi choPIDM đã tạo cơ chế để PIDM luôn luôn sẵn sàng ứng phó với những trườnghợp bất thường xảy ra, giúp hoạt động chi trả nhanh chóng, tiết kiệm chi phí
(3) Xác định yêu cầu chi trả của NGT và các khoản vay/ khoản nợ liên quan
Tại PIDM, các quy định bảo hiểm được thiết kế với nội dung đơn giản,
cụ thể:
- Không yêu cầu về bù trừ;
- Yêu cầu các ngân hàng tính lãi hàng ngày;
- Không phân tách các tài khoản đồng sở hữu PIDM quy định các tàikhoản đồng sở hữu là những loại tiền gửi tách biệt và khác nhau Chi trả đượcthực hiện theo tên đồng sở hữu của NGT như quy định trong tài khoản đồng
sở hữu;
- Yêu cầu các ngân hàng sử dụng hệ thống quản lý dữ liệu để lưu trữthông tin tài khoản ủy thác, bao gồm người hưởng lợi và thứ tự kế thừa và cậpnhật những dữ liệu này theo định kỳ
1.3.1.2 Kinh nghiệm triển khai hoạt động chi trả và xử lý ngân hàng từ PDIC
PDIC được thành lập vào tháng 06/1963, là cơ quan trực thuộc Bộ Tàichính PDIC đã đã tiến hành chi trả cho 688 TCTD bị đổ vỡ (tính đến12/2016), 06 lần điều chỉnh hạn mức BHTG Hiện tại, PDIC cung cấp hạnmức chi trả tối đa 500.000 PHP (khoảng 10.000 USD) cho mỗi NGT tại mỗi