1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HOÀN THIỆN TỔ CHỨC HẠCH TOAN KE TOANNHẰM TẢNG CũỜNG KIEM SOAT NỘI BỘ TẠI CHI NHANHNGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHAT TRIENNÔNG THÔN BẮC HÀ NỘI

116 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 209,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổ chức hạch toán kế toán là một phương sách hữu hiệu trong việc tăngcường kiểm tra, kiểm soát tài chính nhằm quản lý chặt chẽ các nguồn vốn.Chi nhánh NHNo&PTNT Bắc Hà Nội đang tìm biện

Trang 2

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HOC VIEN NGÂN HÀNG

NGUyỄN THỊ THU HA A

HOÀN THIỆN TỔ CHỨC HẠCH TOAN KE TOAN

NHẰM TẢNG CũỜNG KIEM SOAT NỘI BỘ TẠI CHI NHANH

NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHAT TRIEN

NÔNG THÔN BẮC HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

CHUYÊN NGÀNH : TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

MÃ SỐ : 60.31.12

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS BÙI TÍN NGHỊ

Hà Nội, năm 2011

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của Đề tài

Kinh tế Việt Nam nói chung, ngành Ngân hàng nói riêng đang đứngtrước những cơ hội và thách thức to lớn Trong thời gian qua, ngành Ngânhàng đã đạt được những kết quả đáng kể Toàn ngành phát triển kinh tế ổnđịnh, tăng trưởng kinh tế về mọi mặt Tiến trình cơ cấu lại, hiện đại hoá hệthống Ngân hang cũng đang được tiến hành, tạo thuận lợi đáng kể cho hoạtđộng kinh doanh của toàn hệ thống Tuy nhiên, sự tăng trưởng nhanh chóng

đó chưa phải là dấu hiệu tốt Cuộc chạy đua lãi suất trong những tháng cuốinăm 2010 đầu năm 2011 chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn đối với hoạt độngkinh doanh của các Ngân hàng Tăng cường công tác quản lý rủi ro là vấn đềcấp thiết đặt ra với tất cả các Ngân hàng Trong đó cần đặc biệt chú trọngcông tác tổ chức hạch toán kế toán

Tổ chức hạch toán kế toán là một phương sách hữu hiệu trong việc tăngcường kiểm tra, kiểm soát tài chính nhằm quản lý chặt chẽ các nguồn vốn.Chi nhánh NHNo&PTNT Bắc Hà Nội đang tìm biện pháp phát huy tối đa cácnguồn vốn huy động đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đảm bảo antoàn về vốn, tài sản của ngân hàng, nên hệ thống kiểm soát càng hoàn thiện và

đủ mạnh để ngăn ngừa mọi rủi ro có thể xảy đến đối với hoạt động kinhdoanh đem lại hiệu quả bền vững trong kinh doanh

Nhận thức được ý nghĩa và sự cần thiết của vấn đề trên, qua thời gian

tìm hiểu thực tế tại NHNo&PTNT Bắc Hà Nội, tôi chọn Đề tài: “Hoàn thiện

tổ chức hạch toán kế toán nhằm tăng cường kiểm soát nội bộ tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bắc Hà Nội” làm đề tài

Luận văn thạc sĩ của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Trang 4

Đưa ra các giải pháp hoàn thiện tổ chức hạch toán kế toán nhằm tăngcường kiểm soát nội bộ tại Chi nhánh NHNo&PTNT Bắc Hà Nội, trên cơ sởnghiên cứu lý luận chung về kiểm soát nội bộ và tổ chức hạch toán kế toántrong các đơn vị ngân hàng cũng như mối quan hệ giữa tổ chức hạch toán kếtoán và kiểm soát nội bộ, phân tích thực trạng tổ chức hạch toán kế toán gắnvới kiểm soát nội bộ.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là Tổ chức hạch toán kế toán trong quan hệ kiểmsoát

nội bộ tại Chi nhánh NHNo&PTNT Bắc Hà Nội;

Phạm vi nghiên cứu là Chi nhánh NHNo&PTNT Bắc Hà Nội trong giaiđoạn từ năm 2007 đến 6 tháng đầu năm 2011

4 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và kinh nghiệm thực

tế qua thời gian công tác tại Chi nhánh NHNo&PTNT Bắc Hà Nội, luận văn

đi sâu vào tiếp cận công tác tổ chức hạch toán kế toán nhằm tăng cường kiểmsoát nội bộ tại Chi nhánh NHNo&PTNT Bắc Hà Nội

5 Kết cấu Luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dungLuận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về tổ chức hạch toán kế toán trong mối quan hệ với

kiểm soát nội bộ tại các ngân hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng tổ chức hạch toán kế toán với kiểm soát nội bộ tại

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bắc Hà Nội

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức hạch toán kế toán nhằm tăng cường

kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bắc HàNội

Trang 5

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN TRONG MỐI

QUAN HỆ VỚI KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Lý luận chung về tổ chức hạch toán kế toán và kiểm soát nội bộ

1.1.1 Lý luận chung về tổ chức hạch toán kế toán

1.1.1.1 Ý nghĩa, nhiệm vụ của tổ chức hạch toán kế toán

Có nhiều khái niệm khác nhau về hạch toán kế toán, nhưng có thể hiểu:

“Hạch toán kế toán là hệ thống thông tin và kiểm tra, kiểm soát tài sản và hoạtđộng của mỗi đơn vị” Đối tượng của hạch toán kế toán là tài sản trong mốiquan hệ với nguồn hình thành và quá trình vận động của tài sản Để nghiêncứu đối tượng của mình, hạch toán kế toán đã sử dụng hệ thống phương phápnghiên cứu khoa học gồm bốn yếu tố (phương pháp cụ thể) là chứng từ, đốiứng TK, tính giá, tổng hợp - cân đối kế toán Mỗi phương pháp có vị trí, chứcnăng nhất định song giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau tạo thànhmột hệ thống hạch toán kế toán Vì vậy, trong hạch toán kế toán, mỗi phươngpháp này là một yếu tố của hạch toán kế toán và được sử dụng một cách tổnghợp, đồng bộ

Với ý nghĩa tổ chức là mối liên hệ giữa các yếu tố của một hệ thống thì

tổ chức hạch toán kế toán là mối quan hệ qua lại theo một trật tự xác địnhgiữa các yếu tố chứng từ, đối ứng TK, tính giá và tổng hợp cân đối kế toántrong thông tin và kiểm tra kiểm soát các hoạt động kinh tế tài chính ở cácdoanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp và các cơ quan Đối tượng của tổ chức hạchtoán kế toán có thể xem xét trên các góc độ khác nhau: Xét trên góc độ quátrình xử lý thông tin, đối tượng tổ chức hạch toán kế toán bao gồm giai đoạnhạch toán ban đầu (xác định đối tượng tính giá và thiết kế sổ tương ứng), giaiđoạn ghi chép vào sổ TK, giai đoạn lập báo cáo kế toán; Xét trên góc độ cácđối tượng kế toán cụ thể thì đối tượng tổ chức hạch toán kế toán là các phần

Trang 6

hành kế toán; Xét trên góc độ cơ cấu tổ chức bộ máy thì đối tượng của tổchức hạch toán kế toán bao gồm các bộ phận kế toán và phân công lao độngtrong các bộ phận ấy (kế toán các phần hành).

Tổ chức hạch toán kế toán luôn có vai trò quan trọng và ý nghĩa thiếtthực đối với công tác quản lý của đơn vị thể hiện trên các mặt sau:

Thứ nhất, tổ chức hạch toán kế toán một cách khoa học và hợp lý đảm

bảo các thông tin kinh tế tài chính của đơn vị được cung cấp một cách kịpthời, chính xác, tin cậy cho các đối tượng sử dụng thông tin như: Cơ quanchức năng nhà nước, các nhà cung cấp, các khách hàng, công nhân viên, hộiđồng quản trị, các nhà quản lý doanh nghiệp, các nhà đầu tư ;

Thứ hai, tổ chức hạch toán kế toán khoa học sẽ cung cấp những bằng

chứng chính xác và đáng tin cậy, là cơ sở để kiểm tra, giám sát tình hình tàichính cũng như tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị, kiểm traviệc chấp hành các chính sách, chế độ về quản lý kinh tế tài chính của các tậpthể cũng như các cá nhân;

Thứ ba, tổ chức hạch toán kế toán khoa học cùng với sự ứng dụng

những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong quản lý sẽ góp phần tiết kiệm nguồnnhân lực, nâng cao chất lượng thông tin từ đó tiết kiệm chi phí cho đơn vị

Để công tác tổ chức hạch toán kế toán được thực hiện tốt thì trướchết cần phải dựa trên các nhiệm vụ cơ bản mà bản thân kế toán cần phảithực hiện Đó là: Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo đối tượng

và nội dung công việc kế toán; Kiểm tra, giám sát các khoản thu, chi tàichính, các nghĩa vụ, thu nộp thanh toán nợ; Kiểm tra việc quản lý, sửdụng tài sản và nguồn hình thành tài sản; phát hiện và ngăn ngừa các hành

vi vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán; Phân tích thông tin, s ố liệu kếtoán; Tham mưu, đề xuất các giải pháp phục vụ yêu cầu quản trị và quyết

Trang 7

định kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán; Cung cấp thông tin, số liệu kếtoán theo quy định của pháp luật.

Tổ chức hạch toán kế toán ở mỗi đơn vị cụ thể cần xác định khối lượngcông việc ở từng giai đoạn để xác định mô hình tổ chức hạch toán kế toántương ứng với mô hình quản lý của đơn vị, phân công bố trí lao động kế toánvào các bộ phận trong bộ máy, quy định các mối liên hệ giữa các cá nhân,giữa các bộ phận trong bộ máy tạo thành một thể thống nhất thực hiện chứcnăng thông tin và kiểm tra kiểm soát của hạch toán kế toán

1.1.1.2 Nội dung của tổ chức hạch toán kế toán

Tổ chức hạch toán kế toán có thể theo từng phần hạch toán cụ thể hoặctheo từng giai đoạn của quá trình hạch toán kế toán Dựa trên khái niệm về tổchức hạch toán kế toán ở mỗi đơn vị đã trình bày ở trên (Mục 1.1.1.1), tổchức hạch toán kế toán ở mỗi đơn vị cần tạo ra mối liên hệ giữa các yếu tố(chứng từ, đối ứng TK, tính giá, tổng hợp và cân đối) trên các phần hành kếtoán

Một là, tổ chức hệ thống chứng từ kế toán: Mọi nghiệp vụ kinh tế phát

sinh trong các đơn vị đều phải được phản ánh, ghi chép trong chứng từ kếtoán Cơ sở duy nhất để ghi vào TK kế toán hay sổ kế toán là các chứng từhợp lệ, hợp pháp Bản chứng từ vừa là phương tiện chứng minh tính hợp phápcủa nghiệp vụ kinh tế phát sinh, vừa là phương tiện thông tin về kết quảnghiệp vụ kinh tế đó Tổ chức vận dụng hợp lý hệ thống chứng từ và ghi chépban đầu có ý nghĩa quan trọng trong việc thu nhận được thực tế về các hoạtđộng sử dụng tài sản, vật tư và nguồn kinh phí trong quá trình hoạt động củacác đơn vị Tổ chức chứng từ kế toán cần xác định số lượng, chủng loại chứng

từ, quy định thủ tục lập, luân chuyển, bảo quản lưu trữ chứng từ

Trong thực tế, căn cứ vào hệ thống chứng từ kế toán do BTC ban hành,mỗi đơn vị lựa chọn những chứng từ kế toán cần vận dụng phù hợp với đặcđiểm hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị mình sao cho vừa đảm bảo

Trang 8

nguyên tắc thống nhất đồng thời đảm bảo được yêu cầu của công tác kiểmsoát nội bộ, công tác quản lý của đơn vị Đơn vị phải quy định, hướng dẫn các

bộ phận liên quan ghi chép đúng, chính xác, đầy đủ các yếu tố chứng từ kếtoán, đảm bảo cho các chứng từ kế toán được lập theo đúng yêu cầu của phápluật và chính sách chế độ kế toán của Nhà nước, làm căn cứ đáng tin cậy đểghi sổ kế toán Ngoài ra, các đơn vị cũng cần phải quy định trình tự luânchuyển chứng từ sao cho khoa học, phục vụ cho việc ghi sổ kế toán đồng thờiquy định lưu trữ, bảo quản an toàn chứng từ kế toán của đơn vị theo quy địnhcủa pháp luật

Việc tổ chức vận dụng hợp lý hệ thống chứng từ kế toán là điều kiệnthuận lợi cho việc xử lý và cung cấp thông tin chính xác phục vụ cho yêu cầuquản lý cũng như phục vụ cho kiểm tra, giám sát, đôn đốc các cá nhân, đơn vịthực hiện tốt cho các quy định trong quản lý, phát hiện kịp thời các sai sót,gian lận, tranh chấp trong quan hệ kinh tế

Hai là, tổ chức hệ thống TK kế toán: TK kế toán được sử dụng để phản

ánh tình hình biến động của từng tài sản, nguồn vốn của đơn vị Để đảm bảocung cấp đầy đủ các thông tin cho quản lý thì đơn vị phải xây dựng được một

hệ thống TK phù hợp với đặc điểm hoạt động của đơn vị Chính vì vậy, nộidung cơ bản của tổ chức hệ thống TK kế toán là lựa chọn những TK kế toán

mà Nhà nước ban hành phù hợp với điều kiện của đơn vị để sử dụng và bỏ đinhững TK không cần thiết Với các TK sử dụng cần thiết phải chi tiết choquản lý của đơn vị thì tiến hành mở chi tiết thành các TK cấp III, cấp IV Từ

đó hình thành hệ thống TK riêng cho đơn vị mình Việc tổ chức hệ thống TKphải đảm bảo thống nhất với hệ thống TK chung mà Nhà nước ban hành đồngthời đảm bảo phù hợp với đặc thù riêng đáp ứng được yêu cầu kiểm soát nội

bộ cũng như quản lý của đơn vị Việc quy định mức độ chi tiết cho các TKtùy thuộc vào yêu cầu quản lý, trình độ của cán bộ kế toán, phương tiện kỹ

Trang 9

thuật thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin kế toán của đơn vị Hiện nay, vớiviệc ứng dụng công nghệ thông tin vào tổ chức hạch toán kế toán, ở nhữngđơn vị thực hiện kế toán trên máy sẽ quy định được nhiều TK chi tiết hơn, cóthể theo dõi chặt chẽ hơn các đối tượng quản lý kinh tế tài chính.

Ba là, tổ chức hệ thống sổ kế toán: Tất cả các đơn vị thuộc mọi loại

hình, mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh và mọi thành phần kinh tế đều phải

mở, ghi chép, quản lý, lưu trữ và bảo quản sổ kế toán theo quy định của Luật

Kế toán và theo yêu cầu quản lý nội bộ Mỗi hình thức kế toán được quy địnhmột hệ thống sổ kế toán liên quan Do vậy, khi tổ chức hệ thống sổ kế toán,đơn vị cần phải lựa chọn hình thức kế toán phù hợp với đơn vị đồng thời đơn

vị cụ thể hóa các sổ kế toán theo hình thức kế toán đã lựa chọn, phù hợp vớiquy mô, đặc điểm hoạt động của sản xuất kinh doanh, yêu cầu quản lý, trình

độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán, điều kiện trang bị kỹ thuật tính toán

Các sổ tổng hợp theo hình thức kế toán đã được các đơn vị vận dụngphải tuân thủ mọi nguyên tắc cơ bản về các loại sổ, kết cấu các loại sổ, mốiquan hệ và sự kết hợp giữa các loại sổ, trình tự và kỹ thuật ghi chép các loại

sổ kế toán Các sổ chi tiết mang tính hướng dẫn, đơn vị cụ thể hóa để phảnảnh thông tin chi tiết theo yêu cầu quản lý của đơn vị Yêu cầu của việc thiết

kế hệ thống sổ chi tiết là phải đảm bảo thuận lợi cho việc ghi sổ kế toán tổnghợp, dễ kiểm tra, dễ đối chiếu đồng thời cung cấp được các thông tin để tínhgiá hàng hoá, dịch vụ và cho quản trị của đơn vị Tổ chức hệ thống sổ kế toánchi tiết khoa học sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động kế toán, hạn chế sựghi chép sai sót, trùng lặp, đảm bảo độ chính xác của thông tin, cung cấpthông tin kịp thời, đầy đủ, toàn diện cho quản lý ở đơn vị cơ sở

Bốn là, tổ chức hệ thống báo cáo kế toán: Hệ thống báo cáo kế toán của

đơn vị gồm hệ thống báo cáo kế toán tài chính và hệ thống báo cáo kế toánquản trị Báo cáo kế toán tài chính là báo cáo phản ánh số liệu tổng hợp, được

Trang 10

lập theo định kỳ nhằm cung cấp thông tin cho các đối tượng bên ngoài doanhnghiệp như các cơ quan quản lý, các nhà đầu tư có quan tâm đến hoạt độngcủa đơn vị Các đơn vị bắt buộc phải lập, cung cấp báo cáo tài chính cho cácđối tượng theo yêu cầu của Luật Kế toán, chuẩn mực kế toán và chế độ kếtoán Tổ chức lập báo cáo tài chính là dựa vào các quy định về biểu mẫu, cácquy định về phương pháp lập để tiến hành phân công cán bộ kế toán thực hiệntheo đúng quy định.

Báo cáo kế toán quản trị là báo cáo phản ánh số liệu kế toán chi tiết theotừng đơn vị Tuy nhiên, các báo cáo quản trị này có vai trò quan trọng trongviệc cung cấp thông tin phục vụ cho quản trị nội bộ đơn vị

Năm là, tổ chức bộ máy kế toán: Nội dung của tổ chức bộ máy bao gồm

xác định mô hình tổ chức bộ máy kế toán và phân công lao động trong bộmáy ấy Việc tổ chức thực hiện các chức năng nhiệm vụ hạch toán kế toántrong một đơn vị hạch toán kế toán do bộ máy kế toán đảm nhiệm Do vậy,cần thiết phải tổ chức hợp lý bộ máy kế toán cho đơn vị trên cơ sở định hìnhđược khối lượng công tác kế toán cũng như chất lượng cần phải đạt về hệthống thông tin kế toán Hiện nay tổ chức bộ máy kế toán ở các đơn vị được

tổ chức theo 2 mô hình cơ bản sau:

Mô hình I, tổ chức bộ máy kế toán tập trung: Tổ chức kế toán tập trung

còn gọi là tổ chức kế toán một cấp Theo mô hình này, toàn bộ việc tổ chứchạch toán kế toán được tập trung tại trung tâm Vì vậy, chỉ có một phòng kếtoán để đảm nhận tổ chức hạch toán kế toán của toàn đơn vị Phòng kế toánđơn vị phải thực hiện toàn bộ công tác kế toán từ thu nhận, ghi sổ, xử lý thôngtin trên hệ thống báo cáo phân tích và tổng hợp của đơn vị (tại các đơn vị, bộphận trực thuộc không mở sổ sách và hình thành bộ máy nhân sự, kế toánriêng) Mô hình kế toán tập trung phù hợp với các đơn vị hoạt động quản lýtheo cơ chế một cấp quản lý, phần lớn các đơn vị này có quy mô nhỏ, hoạt

Trang 11

động kinh doanh tập trung về mặt không gian và mặt bằng kinh doanh, có kỹthuật xử lý thông tin hiện đại, nhanh chóng.

Mô hình II, tổ chức bộ máy kế toán phân tán: Theo mô hình tổ chức kế

toán phân tán, bộ máy kế toán được phân cấp thành kế toán trung tâm và kếtoán trực thuộc Kế toán trung tâm và kế toán đơn vị trực thuộc đều có sổsách kế toán và bộ máy nhân sự tương ứng để thực hiện chức năng, nhiệm

vụ của kế toán theo sự phân cấp Phòng kế toán ở các đơn vị trực thuộc thựchiện toàn bộ khối lượng công tác kế toán phần hành từ giai đoạn hạch toánban đầu tới giai đoạn lập báo cáo kế toán lên báo cáo trung tâm theo s ự phâncấp, định kỳ gửi báo cáo về phòng kế toán trung tâm theo quy định Phòng

kế toán trung tâm thực hiện hạch toán kế toán các nghiệp vụ phát sinh tạitrung tâm đồng thời là nơi thực hiện khâu tổng hợp số liệu báo cáo của cácđơn vị trực thuộc, lập báo cáo tài chính chung toàn đơn vị Mô hình kế toánphân tán phù hợp với các đơn vị có quy mô kinh doanh lớn, cơ cấu kinhdoanh phức tạp và địa bàn kinh doanh rộng, phân tán

Từ hai mô hình cơ bản có thể hình thành mô hình hỗn hợp

Mô hình kế toán hỗn hợp: Mô hình kế toán hỗn hợp là sự kết hợp của

cả mô hình kế toán tập trung và mô hình kế toán phân tán Theo mô hìnhnày, những bộ phận ở xa văn phòng trung tâm có thể thực hiện theo kiểuphân tán và hoạt động của các bộ phận ở gần trung tâm sẽ do phòng kế toántrung tâm của đơn vị thực hiện cùng với công việc kế toán tổng hợp chung

số liệu của toàn đơn vị Mô hình kế toán hỗn hợp phù hợp với đơn vị cóquy mô lớn, có nhiều đơn vị xa cách nhau, trong đó có một số đơn vị trựcthuộc có bộ máy quản lý tương đối hoàn chỉnh được phân cấp quản lý tàichính và một số đơn vị phụ thuộc không khép kín chu trình tài chính kếtoán Căn cứ và đặc điểm hoạt động của mình, các đơn vị lựa chọn mô hình

tổ chức bộ máy kế toán cho phù hợp

Trang 12

Bộ máy kế toán trên góc độ tổ chức lao động kế toán là tập hợp đồng bộcác cán bộ, nhân viên kế toán để đảm bảo thực hiện khối lượng công tác kếtoán phần hành với đầy đủ các chức năng thông tin và kiểm tra hoạt động củađơn vị Mỗi cán bộ, nhân viên đều phải được quy định rõ chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn, để từ đó tạo thành mối liên hệ có tính vị trí, lệ thuộc, chế ướclẫn nhau Bộ máy kế toán hoạt động có hiệu quả là do sự phân công, tạo lậpmối liên hệ chặt chẽ giữa các loại lao động kế toán theo tính chất khác nhaucủa khối lượng công tác kế toán Quan hệ giữa các loại lao động trong bộ máy

kế toán có thể được thực hiện theo một trong ba cách sau:

Bộ máy kế toán tổ chức theo kiểu trực tuyến: Theo kiểu tổ chức này, bộ

máy kế toán hoạt động theo phương thức trực tiếp, nghĩa là kế toán trưởngtrực tiếp điều hành các nhân viên kế toán phần hành không thông qua khâutrung gian nhận lệnh Với cách tổ chức bộ máy kế toán trực tuyến, mối quan

hệ phụ thuộc trong bộ máy kế toán trở nên đơn giản, thực hiện trong một cấp

kế toán tập trung, sản xuất kinh doanh và hoạt động quy mô nhỏ

Bộ máy kế toán tổ chức theo kiểu trực tuyến tham mưu: Theo kiểu tổ

chức này, bộ máy kế toán được hình thành bởi mối liên hệ trực tuyến nhưphương thức trực tiếp trên và mối liên hệ có tính chất tham mưu giữa Kế toántrưởng với các kế toán phần hành (quan hệ chỉ đạo nghiệp vụ trực tiếp) vàgiữa Kế toán trưởng với các bộ phận tham mưu

Bộ máy kế toán theo kiểu chức năng: Bộ máy kế toán theo phương thức

tổ chức này được chia thành những bộ phận độc lập, đảm bảo những hoạtđộng riêng rẽ, thường gọi là ban, phòng kế toán Kế toán trưởng của đơn vịchỉ đạo kế toán nghiệp vụ thông qua các trưởng ban (phòng) kế toán Đầu mốiliên hệ chỉ đạo từ Kế toán trưởng trong phương thức tổ chức bộ máy này giảmnhiều và tập trung hơn so với hai phương thức trên

Trang 13

1.1.1.3 Những nguyên tắc của tổ chức hạch toán kế toán

Tổ chức hạch toán kế toán khoa học sẽ có tác dụng quan trọng trong việctiết kiệm lao động kế toán, giảm chi phí hạch toán kế toán nhưng vẫn đảm bảothực hiện tốt các chức năng thông tin và kiểm tra ở đơn vị Muốn vậy, tronghoạt động thực tiễn tổ chức hạch toán kế toán phải tuân thủ những nguyên tắcnhất định, dựa trên những nguyên tắc bản thân hoạt động kế toán và quan hệgiữa kế toán với các phân hệ khác trong hoạt động quản lý Như vậy, trướchết tổ chức hạch toán kế toán cần phải tuân thủ các nguyên tắc kế toán chung

đã được thừa nhận như: Nguyên tắc thực thể kinh doanh, nguyên tắc hoạtđộng liên tục, nguyên tắc thước đo tiền tệ, nguyên tắc kỳ kế toán, nguyên tắckhách quan, nguyên tắc chi phí, nguyên tắc doanh thu thực hiện, nguyên tắcphù hợp, nguyên tắc nhất quán, nguyên tắc công khai, nguyên tắc thận trọng,nguyên tắc trọng yếu Ngoài ra, để thực hiện tốt được vai trò của mình trongcông tác quản lý, đòi hỏi tổ chức hạch toán kế toán ở đơn vị còn phải tuântheo các nguyên tắc sau:

Thứ nhất, tổ chức hạch toán kế toán phải đáp ứng yêu cầu hội nhập, phát

triển và tuân thủ những quy định, phù hợp với yêu cầu quản lý vĩ mô của Nhànước, tuân thủ theo các chuẩn mực kế toán, chính sách, chế độ thể lệ về tàichính, kế toán do Nhà nước ban hành;

Thứ hai, tổ chức hạch toán kế toán phải phù hợp với đặc điểm hoạt động

sản xuất kinh doanh, đặc điểm tổ chức quản lý, quy mô và địa bàn hoạt độngcủa đơn vị;

Thứ ba, tổ chức hạch toán kế toán phải phù hợp với yêu cầu và trình độ

chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kế toán trong đơn vị;

Thứ tư, tổ chức hạch toán kế toán phải đảm bảo tiết kiệm và hiệu quả.

Trang 14

1.1.2 Lý luận chung về kiểm soát nội bộ

1.1.2.1 Tổng quan về kiểm soát nội bộ trong quản lý

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về quản lý Một cách chung nhất,quản lý là một quá trình định hướng và tổ chức thực hiện các hướng đã địnhtrên cơ sở những nguồn lực xác định nhằm đạt hiệu quả cao nhất Quá trìnhnày bao gồm nhiều chức năng và có thể chia thành nhiều giai đoạn: Lập kếhoạch, tổ chức, cung cấp các nguồn lực, điều hành (kể cả điều chỉnh), hoạtđộng Trong mọi trường hợp, để đảm bảo hiệu quả hoạt động, tất yếu ở mỗiđơn vị đều phải tự kiểm tra mọi hoạt động của mình trong tất cả các khâu: Ràsoát các tiềm năng, xem xét lại các dự báo, các mục tiêu và định mức, đốichiếu và truy tìm các thông số về sự kết hợp, soát xét lại các thông tin thựchiện để điều chỉnh kịp thời trên quan điểm đảm bảo hiệu năng của mọi nguồnlực và hiệu quả kinh tế cuối cùng của các hoạt động Công việc rà soát nàyđược gọi là kiểm soát Một cách chung nhất, có thể hiểu kiểm soát là một quytrình rà soát các hoạt động để đảm bảo các hoạt động này được thực hiện theo

kế hoạch và chỉnh sửa các sai lệch quan trọng Như vậy, kiểm soát luôn luôntồn tại và được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quá trình quản lý Do đó,kiểm soát không phải là một giai đoạn của quá trình quản lý mà là một chứcnăng gắn với mọi giai đoạn của quá trình quản lý Kiểm soát có thể theo nhiềuchiều gắn với các cấp quản lý như: Cấp trên kiểm soát cấp dưới thông qua cácchính sách hoặc biện pháp cụ thể; Đơn vị này kiểm soát đơn vị khác thôngqua việc chi phối đáng kể về quyền và lợi ích tương ứng; Nội bộ đơn vị kiểmsoát lẫn nhau thông qua quy chế và thủ tục quản lý Tuy nhiên, thông dụngnhất vẫn là kiểm soát nội bộ đơn vị

Hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị có thể hiểu là toàn bộ các chínhsách, các bước kiểm soát và thủ tục kiểm soát được thiết lập nhằm điều hànhcác hoạt động của đơn vị Một hệ thống kiểm soát hữu hiệu đảm bảo mọi hoạt

Trang 15

động được hoàn tất theo những cách thức đưa đến việc đạt được mục tiêu củađơn vị Các mục tiêu là: Đảm bảo tính trung thực và toàn vẹn của các thôngtin; Đảm bảo sự tuân thủ các chủ trương, chính sách, kế hoạch, luật lệ và quytắc của đơn vị; Bảo vệ tài sản và sử dụng một cách tiết kiệm và hiệu quả;Đảm bảo thực hiện các mục tiêu đã để ra của đơn vị Tuy nhiên, chức năngnày được thể hiện khác nhau tùy thuộc vào cơ chế kinh tế, cấp quản lý và đặcthù của đơn vị cụ thể.

Để kiểm soát một cách hữu hiệu, toàn diện các hoạt động thì quá trìnhkiểm soát phải tuân theo trình tự sau:

Thứ nhất, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn có thể đo lường dựa trên các

mục tiêu của đơn vị Bước đầu tiên, cần xác định chúng ta có những mục tiêu

gì Mục tiêu này có thể là một mục tiêu ở một cấp rất cao, hoặc nó có thể làrất chi tiết và rõ ràng Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, đặc điểm chung củamọi hoạt động là luôn có một mục tiêu xác định Căn cứ vào những mục tiêu

đã xác định cần xây dựng một hệ thống tiêu chuẩn có thể đo lường được Hiệuquả của quá trình kiểm soát trực tiếp sẽ gắn với tình hình các mục tiêu cơ sở

đã được xây dựng;

Thứ hai, so sánh kết quả thực hiện với các mục tiêu và phân tích nguyên

nhân chênh lệch Chúng ta cần xem thực tế chúng ta đã hoàn thành trong tiếntrình thực hiện các mục tiêu đã đề ra Bằng cách này, chúng ta sẽ có cơ sởđúng đắn để so sánh và phân tích, đánh giá và đề xuất biện pháp quản lý đểtiến hành điều chỉnh cần thiết ở từng khâu, từng giai đoạn để quá trình tácnghiệp tuân thủ theo ý chí của chúng ta hoặc theo mục tiêu của hệ thống Qua

so sánh xác định được sự chênh lệch và xác định được nhân tố và nguyênnhân của sự chênh lệch này Những nhân tố gây chênh lệch cần được tínhtoán mức độ ảnh hưởng cụ thể của từng nhân tố Từ đó, cần xác định rõ

Trang 16

nguyên nhân trực tiếp và những nguyên nhân cơ bản, đồng thời cũng cần tínhđến mức độ ảnh hưởng của những nhân tố cá biệt quan trọng;

Thứ ba, đưa ra hành động quản lý thích hợp Phân tích mức độ chênh

lệch để đi đến việc đưa ra các hướng hành động thích hợp của quản lý Nhữnghành động cần thiết được đưa ra sẽ được xem xét dựa trên tính cấp bách của

nó, dựa trên trình độ của các nhân viên thừa hành và tính phức tạp của hànhđộng được đưa ra Hành động cần thực hiện có thể nhanh như sửa chữa mộtsai lầm hoặc phải có một thời gian điều chỉnh như một hệ thống phức tạp.Trong một số tình huống, hành động xác định cần được thực hiện có thể sẽkhông được thực hiện vì chi phí sửa sai cao hơn rủi ro Tuy nhiên, trongtrường hợp bình thường không đề ra hành động cũng là một quyết định đúngđắn;

Thứ tư, tiếp tục đánh giá lại Bước cuối cùng trong quá trình kiểm soát là

đánh giá lại kết quả sau khi các hành động nói trên đã hoàn thành Đây chính

là việc kiểm tra tiếp sự đúng đắn của việc xác định hành động cần thiết trướcđây và cách thức tiến hành những hành động đó Việc đánh giá lại này sẽ giúpnhà

quản lý có thêm kinh nghiệm để đưa ra các quyết định phù hợp trong tươnglai

1.1.2.2 Các loại kiểm soát nội bộ

Kiểm soát gắn liền với quản lý trong từng cấp, từng đơn vị cụ thể Do đókiểm soát có thể có nhiều cách phân loại khác nhau Trong quan hệ với Đề tài

có thể khái quát các phân loại chủ yếu sau:

Thứ nhất, trong quan hệ với quản lý một đơn vị cụ thể, kiểm soát đượcphân thành kiểm soát tổ chức và kiểm soát kế toán

Kiểm soát tổ chức là loại hình kiểm soát dựa trên những nguyên lý cơbản của tổ chức, là trật tự của mối liên hệ giữa các thành viên Theo đó, cácthủ tục tổ chức được dựa trên ba nguyên tắc cơ bản là phân công phân nhiệm,

uỷ quyền phê chuẩn và bất kiêm nhiệm Những nguyên tắc trên được cụ thể

Trang 17

hoá thành những quy định cụ thể Những quy định này cũng chính là nhữngtiêu chuẩn đánh giá trong hoạt động kiểm soát tổ chức.

Kiểm soát kế toán là kiểm soát qua các yếu tố cấu thành hệ thống kếtoán: chứng từ, đối ứng TK, tính giá và tổng hợp cân đối kế toán Các yếu tốnày được biểu hiện qua các hình thức vật chất, hệ thống chứng từ và chươngtrình luân chuyển chứng từ; Hệ thống TK (sổ tổng hợp) và các quan hệ đốiứng; Hệ thống sổ chi tiết chi phí, vật tư và hệ thống báo cáo kế toán

Thứ hai, trong quan hệ với thời điểm thực hiện hoạt động có kiểm soáttrước, kiểm soát hiện hành và kiểm soát sau

Kiểm soát trước (hay có thể gọi là kiểm soát phòng chặn) là loại hìnhkiểm soát mong muốn nhất, loại hình này ngăn chặn các vấn đề đã dựkiến Nó được gọi là kiểm soát phòng chặn bởi lẽ nó xảy ra trước khi bắtđầu hoạt động Nó là một biện pháp hướng đến tương lai: Đó là sự tự liệunhững diễn biến có thể xảy ra để đề phòng những rủi ro và các khó khăntiềm ẩn Loại kiểm soát này đặc biệt quan trọng đòi hỏi cán bộ quản lýphải có trình độ, phải có kinh nghiệm thực tiễn công tác và phải có tầmnhìn chiến lược Do vậy thực tế hiện nay việc thực hiện kiểm soát này cònnhiều vấn đề cần phải quan tâm hơn

Kiểm soát hiện hành (kiểm soát đồng thời) là loại kiểm soát xảy ra trongkhi một hành động khác đang diễn ra Kiểm soát được thực hiện trong lúccông việc tác nghiệp đang được thi hành, chúng ta có thể chỉnh sửa các vấn đềtrước khi chúng trở nên quá tốn kém Hình thức kiểm soát hiện hành này phổbiến nhất là giám sát trực tiếp Loại kiểm soát này có tác dụng lớn trong việclàm giảm các rủi ro, các sai sót, đảm bảo hiệu quả của công việc

Kiểm soát sau (kiểm soát phản hồi) là loại hình kiểm soát xảy ra saukhi hành động hoàn thành, phổ biến nhất là dựa vào sự phản hồi Nhượcđiểm l ớn nhất của loại kiểm soát này là khi nhà quản lý nhận được thông

Trang 18

tin, thì thiệt hại đã xảy ra rồi Nhưng đối với nhiều hoạt động, kiểm soátsau là loại hình kiểm soát duy nhất có được Mặc dù bị độ trễ về thời gian,song bù lại kiểm soát sau lại có đầy đủ căn cứ để đánh giá đo lường kếtquả của quá trình tác nghiệp, đồng thời cho phép lãnh đạo đơn vị tìm giảipháp khắc phục thiệt hại (nếu có) từ đó tìm được cách kiểm soát có hiệuquả tránh thiệt hại trong tương lai.

1.1.2.3 Các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ

Hệ thống kiểm soát nội bộ được hình thành trong các đơn vị có quy môlớn và được cấu thành bởi ba yếu tố cơ bản

Thứ nhất, môi trường kiểm soát: Môi trường kiểm soát bao gồm toàn bộ

nhân tố bên trong đơn vị và bên ngoài đơn vị có tính môi trường tác động đếnviệc thiết kế, hoạt động và xử lý dữ liệu của các loại hình kiểm soát nội bộ.Các nhân tố bên trong môi trường kiểm soát bao gồm đặc thù về quản lý,

cơ cấu tổ chức, chính sách nhân sự, công tác kế hoạch, ủy ban kiểm soát,kiểm soát nội bộ

Đặc thù về quản lý đề cập tới nhận thức các quan điểm và hành động củacác nhà quản lý cấp cao về kiểm soát nội bộ Các quan điểm này sẽ ảnhhưởng trực tiếp đến chính sách, chế độ, các quy định và cách thức tổ chứckiểm tra, kiểm soát trong đơn vị;

Cơ cấu tổ chức được xây dựng hợp lý trong đơn vị sẽ góp phần tạo ramôi trưởng kiểm soát tốt Cơ cấu tổ chức được xây dựng hợp lý trong đơn

vị sẽ đảm bảo một hệ thống xuyên suốt từ trên xuống dưới trong việc banhành các quyết định, triển khai cũng như kiểm tra, giám sát việc thực hiệncác quyết định, triển khai cũng như kiểm tra, giám sát việc thực hiện cácquyết định đó trong toàn đơn vị;

Chính sách nhân sự của đơn vị có ảnh hưởng rất lớn tới đội ngũ cán bộnhân viên - một nhân tố quan trọng trong một môi trường kiểm soát cũng như

Trang 19

chủ thể trực tiếp mọi thủ tục kiểm soát trong hoạt động của đơn vị Các nhàquản lý cần có những chính sách cụ thể và rõ ràng, hợp lý về tuyển dụng, đàotạo, sắp xếp, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật để xây dựng một đội ngũ nhân viên

có năng lực và đáng tin cậy để hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị phát huytối đa hiệu quả;

Công tác kế hoạch có ảnh hưởng lớn và là nhân tố quan trọng trong môitrường kiểm soát Công tác kế hoạch bao gồm lập các kế hoạch và dự toánnhư: Kế hoạch sản xuất, tiêu thụ, thu chi quỹ, kế hoạch dự toán hay đầu tư,sửa chữa TSCĐ, kế hoạch tài chính Trong thực tế, các nhà quản lý thườngquan tâm xem xét tiến độ thực hiện kế hoạch, theo dõi những nhân tố ảnhhưởng đến kế hoạch đã lập nhằm phát hiện những vấn đề bất thường và xử lý,điều chỉnh kế hoạch kịp thời;

Ủy ban kiểm soát gồm những người trong bộ máy lãnh đạo cao nhấtcủa đơn vị như thành viên Hội đồng Quản trị nhưng không kiêm nhiệmcác chức vụ quản lý và những chuyên gia am hiểu lĩnh vực kiểm soát Ủyban kiểm soát có nhiệm vụ giám sát sự chấp hành luật pháp của đơn vị;Kiểm tra và giám sát công việc của kiểm toán viên nội bộ; Giám sát tiếntrình l ập báo cáo tài chính

Kiểm toán nội bộ là bộ phận đánh giá độc lập về hiệu lực của kiểm soátnội bộ, giúp kiểm soát nội bộ có được kinh nghiệm và từng bước hoàn thiện

Môi trường bên ngoài là một hệ thống các nhân tố bên ngoài có ảnh

hưởng đến sự vận hành các quy chế và các thủ tục kiểm soát nội bộ Thuộcnhóm các nhân tố này gồm có: Sự kiểm soát của các cơ quan chức năng củaNhà nước, ảnh hưởng của các chủ nợ, môi trường pháp lý, đường lối pháttriển đất nước

Thứ hai, hệ thống thông tin kế toán

Trang 20

Trong hệ thống kiểm soát nội bộ, kế toán cung cấp cho các nhà quản lýnhững thông tin tài chính đáng tin cậy Ngoài ra nó còn giúp tổng hợp, lưu trữthông tin một cách có hệ thống, khoa học, đóng vai trò quan trọng trong hệthống kiểm soát nội bộ Hệ thống kế toán của đơn vị bao gồm hệ thống chứng

từ kế toán, hệ thống TK kế toán, hệ thống sổ kế toán, hệ thống báo cáo kếtoán Trong đó, quá trình lập và luân chuyển chứng từ đóng vai trò quan trọngtrong công tác kiểm soát nội bộ của đơn vị Thông qua việc quan sát, đốichiếu, tính toán và ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, hệ thống kế toánkhông những cung cấp các thông tin cho việc quản lý mà còn có tác dụngkiểm soát nhiều mặt hoạt động của đơn vị Một hệ thống kế toán hữu hiệuphải bảo đảm các mục tiêu kiểm soát chi tiết: Không ghi chép những nghiệp

vụ không có thực; Mọi nghiệp vụ phải được phê chuẩn hợp lý; Các nghiệp vụkinh tế phát sinh phải được phản ánh trọn vẹn, kịp thời và ghi chép đúng theo

sơ đồ TK cũng như ghi nhận đúng đắn trên các loại sổ sách; Số liệu kế toánđược phản ánh chính xác trên báo cáo tài chính của đơn vị

Thứ ba, các thủ tục kiểm soát

Thủ tục kiểm soát là những kỹ thuật (cách thức) kiểm soát được thựchiện theo một trình tự xác định Thủ tục kiểm soát do Ban Giám đốc đơn vịthiết lập và thực hiện nhằm đạt được mục tiêu quản lý cụ thể Thủ tục kiểmsoát thường ở các đơn vị có thể khác nhau tuỳ thuộc vào đặc thù ở mỗi đơn vị

và tùy vào loại nghiệp vụ Tuy nhiên, các thủ tục kiểm soát ở các đơn vị đượcxây dựng đều phải dựa trên ba nguyên tắc cơ bản là: Nguyên tắc phân công,phân nhiệm, nguyên tắc bất kiêm nhiệm, nguyên tắc ủy quyền và phê chuẩn.Ngoài những nguyên tắc cơ bản đã nêu, các thủ tục kiểm soát vật chấtđối với tài sản, sổ sách và kiểm soát độc lập các hoạt động của đơn vị

Trang 21

1.1.3 Mối quan hệ giữa kiểm soát nội bộ với tổ chức hạch toán kế toán

Trong mọi hoạt động của đơn vị, chức năng kiểm tra, kiểm soát luôn giữvai trò quan trọng trong quá trình quản lý và được thực hiện chủ yếu bởi hệthống kiểm soát của đơn vị Để thực hiện chức năng của mình kiểm soát nội

bộ được tiến hành bằng nhiều cách thức và thực hiện trên mọi lĩnh vực cũngnhư trong tất cả các giai đoạn của quá trình quản lý, trong mọi bộ phận trong

đó có cả bộ phận kế toán của đơn vị Hệ thống kế toán của đơn vị cũng là mộtmắt xích, một yếu tố quan trọng của hệ thống kiểm soát nội bộ Tổ chức hạchtoán kế toán khoa học có tác dụng tạo ra mối liên hệ chặt chẽ mật thiết giữacác giai đoạn của hạch toán kế toán từ giai đoạn lập chứng từ đến giai đoạncuối cùng là đưa ra các báo cáo, thông tin phục vụ quản lý Trong quá trình

đó, bản thân tổ chức hạch toán kế toán với việc tạo ra mối liên hệ tối ưu giữacác phương pháp riêng của nó đã xác lập sự kiểm tra, kiểm soát hữu hiệu Tổchức hạch toán kế toán tốt sẽ cung cấp các thông tin tin cậy, kịp thời phục vụcho việc quản lý đồng thời còn có tác dụng kiểm soát chặt chẽ nhiều mặt hoạtđộng của đơn vị, từ đó giúp cho hoạt động kiểm soát nội bộ chặt chẽ hơn, đầy

đủ và toàn diện hơn, giúp cho các quyết định của nhà quản lý đưa ra có hiệuquả, thiết thực hơn

Việc tổ chức hạch toán kế toán khoa học, hợp lý sẽ góp phần đảm bảothực hiện được các mục tiêu của kiểm soát nội bộ Như vậy, tổ chức hạch toán

kế toán có vai trò quan trọng trong quá trình cung cấp thông tin phục vụ quản

lý, điều hành của đơn vị cũng như góp phần quan trọng trong việc tăng cườngkiểm soát nội bộ nhằm đảm bảo thực hiện có hiệu quả các mục tiêu của đơn vị

đã đề ra Chính vì vậy, việc xác lập và duy trì tổ chức hạch toán kế toán thíchhợp, kết hợp với những yếu tố kiểm soát nội bộ khác là bổn phận của các nhàlãnh đạo đơn vị

Trang 22

1.2 Tổng quan về tổ chức hạch toán kế toán với việc tăng cường kiểm soát nội bộ tại các ngân hàng thương mại

1.2.1 Đặc điểm chung về tổ chức và hoạt động của các ngân hàng thương mại có ảnh hưởng đến tổ chức hạch toán kế toán và kiểm soát nội bộ

Khác với các ngành kinh tế khác, hoạt động ngân hàng gồm cácnghiệp vụ nhận gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán chokhách hàng Trên th ế giới hiện nay, hệ thống ngân hàng được chia thành 2cấp: Ngân hàng trung ương (ngân hàng cấp 1) và các ngân hàng trunggian (ngân hàng c ấp 2) Ngân hàng trung ương bản chất là thực hiện chứcnăng độc quyền phát hành tiền, là ngân hàng của các ngân hàng, ngânhàng của Chính phủ và chịu trách nhiệm trong việc quản lý nhà nước vềcác hoạt động về tiền tệ, tín dụng cho mục tiêu phát triển và ổn định củacộng đồng Ở Việt Nam, Ngân hàng trung ương là cơ quan của Chính phủgọi là NHNN NHNN có chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạtđộng ngân hàng, là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các ngânhàng và làm d ịch vụ tiền tệ cho Chính phủ Ban lãnh đạo NHNN bao gồmThống đốc và Phó Thống đốc Thống đốc NHNN là thành viên của Chínhphủ, chịu trách nhiệm trước Chính phủ về các vấn đề tiền tệ và hoạt độngngân hàng của quốc gia NHNN được tổ chức thành hệ thống tập trungthống nhất, có trụ sở chính đặt tại Thủ đô Hà Nội và các chi nhánh NHNNtỉnh, thành phố Các chi nhánh này th ực hiện chức năng ngân hàng trungương trong phạm vi tỉnh và chịu sự lãnh đạo của NHNN trung ương về tổchức cũng như hoạt động nghiệp vụ Tại NHNN, nguồn vốn chủ yếu làtiền gửi của các NHTM, các TCTD, vốn vay của các TCTD, vốn vay củacác TCTC quốc tế, nguồn vốn phát hành và vốn pháp định; tài sản chủyếu là cho vay các TCTD, các NHTM

Trang 23

Các ngân hàng trung gian là các ngân hàng không được phát hành tiền,chỉ làm trung gian tín dụng và trung gian thanh toán trong nền kinh tế, đây làmột mắt xích quan trọng nối giữa Ngân hàng trung ương với nền kinh tế cũngnhư là cầu nối để những người có vốn với người cần vốn trong xã hội gặpnhau.

Ở Việt Nam, các loại hình ngân hàng trung gian gồm: Các NHTM và cácngân hàng trung gian khác như: Ngân hàng Phát triển, Ngân hàng Chính sách

- Xã hội và các TCTD hợp tác Các ngân hàng trung gian cũng có nhữngđiểm khác nhau, đó là: NHTM hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận là chủ yếu;NHTM hoạt động mang tính chất phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triểnđất nước trên cơ sở tập trung vốn cho những khu vực kinh tế thiết yếu có tínhchất quyết định đến sự phát triển KTXH của quốc gia, mục tiêu lợi nhuận làthứ yếu; Ngân hàng Chính sách - Xã hội hoạt động không vì mục tiêu lợinhuận mà phục vụ cho các đối tượng chính sách nhằm thực hiện các chínhsách KTXH nhất định của quốc gia; các TCTD hợp tác được thành lập theonguyên tắc tự nguyện bằng vốn góp của các thành viên và chủ yếu cho cácthành viên vay nhằm mục tiêu tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh

và đời sống Tại các ngân hàng trung gian (ngân hàng cấp 2), nguồn vốn chủyếu là tiền gửi các TCKT, dân cư, ngoài ra có vốn huy động thông qua pháthành các GTCG, vốn vay NHNN, vay các TCTD trong và ngoài nước, vốnchủ sở hữu; tài sản chủ yếu là cho vay đối với nền kinh tế, ngoài ra còn cótiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại NHNN, tại các TCTD khác, đầu tư chứng khoán,TSCĐ Tổ chức bộ máy quản lý điều hành của các ngân hàng trung gian nàygồm: Hội đồng quản trị hoặc (Hội đồng quản lý), Ban kiểm soát và Bộ máyđiều hành Bộ máy điều hành gồm: HSC, sở giao dịch, sở giao dịch và các chinhánh tại các tỉnh, thành phố hoặc khu vực

Trang 24

Tuy có khác biệt giữa ngân hàng cấp 1 và ngân hàng cấp 2 song cácngân hàng đều có những đặc điểm chung ảnh hưởng đến kiểm soát nội bộ và

tổ chức hạch toán kế toán Đó là:

Thứ nhất, hoạt động của ngân hàng không chỉ có ảnh hưởng đến bản

thân ngân hàng mà còn liên quan đến đại bộ phận hoạt động kinh tế, tài chínhcủa nền kinh tế thông qua các quan hệ tiền tệ, tín dụng, thanh toán giữa cácngân hàng với các doanh nghiệp, các đơn vị TCKT, các cá nhân Do vậy,những chỉ tiêu thông tin kế toán ngân hàng cung cấp những chỉ tiêu thông tintài chính quan trọng giúp quản lý, điều hành nền kinh tế Từ đặc điểm này đòihỏi ngoài việc thực hiện các phương pháp, các chuẩn mực chung thì ngànhngân hàng cần xây dựng một chế độ kế toán phù hợp để vừa phản ánh đầy đủhoạt động của bản thân ngân hàng, vừa phản ánh được hoạt động của nền kinh

tế Đồng thời cũng do hoạt động đa dạng của ngân hàng mà chứng từ kế toán

có khối lượng lớn, chủng loại đa dạng và tổ chức luân chuyển phức tạp Vìvậy, trong mọi hoạt động của ngân hàng cũng như trong quá trình tổ chứchạch toán kế toán công tác kiểm soát nói chung và kiểm soát nội bộ nói riêngcần được quan tâm đúng mức đảm bảo các thông tin kế toán ngân hàng cungcấp chính xác và trung thực

Thứ hai, hoạt động của ngân hàng đã dẫn đến ngân hàng tập trung được

một khối lượng vốn tiền tệ rất lớn của xã hội, số vốn này thường xuyên biếnđộng Vì vậy, tổ chức hạch toán kế toán ngân hàng phải đảm bảo có độ chínhxác và kịp thời rất cao đáp ứng yêu cầu hạch toán của ngân hàng cũng nhưtoàn bộ nền kinh tế Các đơn vị, TCKT, các doanh nghiệp khi thực hiện cácnghiệp vụ kinh tế phát sinh thì không nhất thiết phải vào sổ kế toán ngay (cóthể để ngày hôm sau) hoặc định kỳ tiến hành vào sổ kế toán thì ngược lại, tạingân hàng công việc này phải tiến hành đồng thời Khi tiếp nhận chứng từ,nhân viên kế toán ngân hàng kiểm soát chứng từ, nếu chứng từ đảm bảo hợp

Trang 25

lệ, hợp pháp thì cho hoàn thành nghiệp vụ và phản ánh ngay vào sổ kế toánthích hợp để kiểm soát số dư TK hạn mức tín dụng để chuẩn bị sẵn sàng chogiao dịch mới Như vậy, tổ chức hạch toán tại các đơn vị ngân hàng sẽ tiếnhành đồng thời giữa kiểm soát, ghi sổ kế toán ngay khi có nghiệp vụ kinh tếphát sinh.

Các đặc điểm về tổ chức bộ máy cũng như hoạt động của các ngân hàngcũng có ảnh hưởng nhất định, làm cho hệ thống kiểm soát nội bộ cũng như tổchức hạch toán kế toán tại các ngân hàng có những đặc trưng riêng Có thểthấy điều này qua phần trình bày tiếp theo về kiểm soát nội bộ và tổ chứchạch toán kế toán tại các NHTM

1.2.2 Đặc điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các ngân hàng

thương mại

Hệ thống kiểm soát nội bộ của các ngân hàng cũng được cấu thành bởicác yếu tố như: Môi trường kiểm soát, hệ thống thông tin kế toán và thủ tụckiểm soát

Thứ nhất, môi trường kiểm soát của NHTM cũng chịu tác động của các nhân tố bên trong đơn vị.

Một là, đặc thù quản lý và cơ cấu tổ chức: Tại NHTM, chịu trách nhiệmcao nhất là hội đồng quản trị hội đồng quản trị có trách nhiệm phê duyệt vàxem xét định kỳ các chiến lược kinh doanh chung và các chính sách quantrọng của ngân hàng; Nắm bắt các rủi ro quan trọng và đặt ra các mức độ cóthể chấp nhận được đối với các rủi ro này; Phê duyệt cơ cấu tổ chức của cácngân hàng Ban lãnh đạo ngân hàng chịu trách nhiệm thực thi các chiến lược

và các chính sách được Hội đồng quản trị phê duyệt; Xây dựng các quy trình

để nhận biết theo dõi và kiểm soát các rủi ro Cơ cấu tổ chức của các ngânhàng với bộ máy điều hành phù hợp thống nhất từ trung ương đến các chinhánh đã tạo thuận lợi cho hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động có hiệu quả

Trang 26

Hai là, chính sách nhân sự: Các ngân hàng là một trong những ngành cóchính sách nhân sự tốt nhất trong nền kinh tế Ngân hàng có chính sách tuyểndụng hợp lý và trả lương cao nên đã thu hút được phần lớn những cán bộ cótrình độ cao vào làm việc Chính sách đào tạo, tập huấn luôn được đề cao, dovậy ngân hàng đã xây dựng được một đội ngũ nhân viên có năng lực vàchuyên nghiệp Chính sách khen thưởng, kỷ luật gắn với chế độ đãi ngộ vềvật chất đã tạo ra tinh thần làm việc hăng say, phát huy tối đa năng lực củađội ngũ nhân viên tạo ra hiệu quả cao trong công việc.

Ba là, công tác kế hoạch: Với đặc thù là ngành kinh doanh ti ền tệ nêncác kế hoạch của ngân hàng rất được chú trọng Bên cạnh các kế hoạchnhư thu chi quỹ, kế hoạch đầu tư TSCĐ, kế hoạch huy động vốn, kế hoạch

sử dụng vốn thì kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực của các ngân hàngcũng rất cần được quan tâm Chính vì v ậy mà đội ngũ của nhân viên ngânhàng là một trong những đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, hiện đại nhấttrong các ngành kinh tế

Bốn là, Ủy ban kiểm soát: Tại các NHTM, ban kiểm soát độc lập với bộmáy điều hành của ngân hàng, trực thuộc hội đồng quản trị và chịu tráchnhiệm trước hội đồng quản trị kiểm soát toàn bộ hoạt động của ngân hàng.Ban kiểm soát có nhiệm vụ và quyền hạn sau: Kiểm tra, giám sát việc chấphành chủ trương, chính sách, chế độ thể lệ nghiệp vụ trong hoạt động củangân hàng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng, đảm bảo antoàn tài sản nhà nước, tài sản của ngân hàng, báo cáo với hội đồng quản trị kếtquả kiểm tra, giám sát và kiến nghị các biện pháp xử lý

Năm là, môi trường kiểm soát bên ngoài: NHNN chịu sự giám sát củaChính phủ còn các ngân hàng trung gian theo điều lệ tổ chức và hoạt độngchịu chỉ đạo, giám sát của NHNN Ngoài ra, các ngân hàng còn phải tuân thủcác chế độ tài chính, kế toán do NHNN hoặc BTC ban hành; đồng thời chịu

Trang 27

sự kiểm tra, thanh tra tài chính của Chính phủ, chịu sự kiểm tra, giám sát củaNHNN và các bộ, ngành chức năng khác theo quy định của pháp luật.

Sáu là, môi trường pháp lý, chịu ảnh hưởng của các luật liên quan đếnlĩnh vực tín dụng như Luật Các TCTD, Luật NHNN Việt Nam, các luật thuế,Luật Đầu tư, Luật Xây dựng, Luật Đất đai và chính sách tiền tệ, tín dụngcũng như chính sách đầu tư phát triển của Nhà nước trong từng thời kỳ

Thứ hai, hệ thống thông tin kế toán trong các NHTM

Các NHTM với chức năng kinh doanh, trực tiếp phục vụ nền kinh tếnên đặc trưng của đối tượng hạch toán kế toán là tạo vốn khả dụng và cáchoạt động kinh doanh phục vụ khách hàng Chính vì v ậy, ngành ngân hàngkhông những không thể sử dụng hệ thống TK thống nhất trong nền kinh tế

Hai là, phân loại nghiệp vụ, tổng hợp số liệu nhằm cung cấp thông tinmột cách đầy đủ, chính xác và kịp thời phục vụ cho công tác quản lý, điềuhành hoạt động của ngân hàng

Ba là, giám sát quá trình sử dụng vốn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụngvốn, góp phần tăng cường kỷ luật tài chính, củng cố chế độ hạch toán kinh tếtrong toàn bộ nền kinh tế

Bốn là, tổ chức giao dịch phục vụ hàng hóa một cách khoa học, vănminh, cung cấp các dịch vụ thanh toán nhanh chóng, kịp thời

Thứ ba, các thủ tục kiểm soát

Trang 28

Để điều hành và kiểm soát các hoạt động trong toàn hệ thống, các ngânhàng cũng có những nguyên tắc riêng về hệ thống kiểm soát nội bộ Dựa trêncác nguyên tắc chung của việc xây dựng thủ tục kiểm soát nội bộ như nguyêntắc phân công, phân nhiệm; bất kiêm nhiệm; ủy quyền và phê chuẩn phù hợpvới đặc thù của lĩnh vực có nhiều rủi ro nên các nguyên tắc cơ bản trên cũngcần được cụ thể hóa thêm Cụ thể, trong hệ thống ngân hàng đã quy định thựchiện kiểm soát nội bộ như:

Một là, các đơn vị phải ban hành quy chế làm việc của lãnh đạo đơn vị,quy định cụ thể quyền hạn, trách nhiệm của từng cán bộ lãnh đạo trong điềuhành và xử lý công việc Thủ trưởng đơn vị thực hiện ủy quyền và phân cấptrách nhiệm đảm bảo kiểm soát toàn diện hoạt động của đơn vị;

Hai là, Ban lãnh đạo có trách nhiệm phổ biến thường xuyên, kịp thời cácvăn bản chế độ của Nhà nước liên quan đến hoạt động ngân hàng, các quychế, quy trình đến tất cả các cán bộ, nhân viên trong đơn vị;

Ba là, trong việc phân công nhiệm vụ phải đảm bảo mọi công việc đều

có người thực hiện và có người kiểm tra lại, mỗi cá nhân đều phải tự kiểmsoát và chịu trách nhiệm về công việc được giao;

Bốn là, lãnh đạo từng cấp phải đánh giá đúng mức độ rủi ro của từngnghiệp vụ để đề ra các biện pháp phù hợp

1.2.3 Tổ chức hạch toán kế toán với hệ thống kiểm soát nội bộ tại các ngân hàng thương mại

1.2.3.1 Yêu cầu của tổ chức hạch toán kế toán tại ngân hàng thương mại

Tổ chức hạch toán kế toán tại ngân hàng là việc vận dụng Luật Kế toán,các chuẩn mực, chế độ kế toán cho phù hợp với điều kiện về tổ chức hoạtđộng của ngân hàng, trình độ quản lý, trình độ nghiệp vụ cụ thể của đơn vị

Tổ chức tốt hạch toán kế toán ở ngân hàng đảm bảo cho việc thu nhận, hệthống hóa thông tin kế toán đầy đủ, kịp thời, đáng tin cậy phục vụ cho công

Trang 29

tác quản lý kinh tế tài chính ở tầm vĩ mô và giúp ngân hàng quản lý chặt chẽcủa bản thân ngân hàng, của xã hội gửi và bảo quản tại ngân hàng, ngăn ngừađược hành vi làm tổn thất tài sản của ngân hàng.

Tổ chức hạch toán kế toán tại ngân hàng khoa học và hợp lý cần phảiđáp ứng các yêu cầu sau:

Thứ nhất, tổ chức hạch toán kế toán phải đảm bảo thu nhận và hệ thống

hóa thông tin về toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính ở ngân hàng nhằm cungcấp thông tin kế toán đáng tin cậy phục vụ cho công tác quản lý về hoạt độngtiền tệ, dịch vụ ngân hàng và quản trị ngân hàng, đáp ứng nhu cầu sử dụngthông tin của mọi đối tượng bên ngoài ngân hàng

Thứ hai, tổ chức hạch toán kế toán phải phù hợp với quy mô và đặc điểm

tổ chức hoạt động kinh doanh, phân cấp quản lý của đơn vị ngân hàng

Thứ ba, tổ chức hạch toán kế toán phải phù hợp với trình độ, khả năng

của đội ngũ cán bộ kế toán và trình độ trang bị các phương tiện kỹ thuật tínhtoán, ghi chép của đơn vị ngân hàng

Thứ tư, tổ chức hạch toán kế toán phải phù hợp với chế độ kế toán ngân

hàng hiện hành

Việc quán triệt các yêu cầu nói trên trong tổ chức hạch toán kế toán sẽđảm bảo hoàn thành tốt được nhiệm vụ của kế toán ngân hàng với chi phíthấp, đạt hiệu quả cao Sau đây Tác giả xin được trình bày khái quát nội dungchủ yếu của tổ chức hạch toán kế toán với việc tăng cường kiểm soát nội bộtại ngân hàng

1.2.3.2 Nội dung của tổ chức hạch toán kế toán với việc tăng cường kiểm

soát nội bộ tại các ngân hàng

Tổ chức hạch toán kế toán trong các NHTM tuy có những khác biệt sovới các ngành kinh tế khác, song nội dung chủ yếu của tổ chức hạch toán kế

Trang 30

toán theo giai đoạn kết hợp với các phương pháp kế toán trong các phần hành

kế toán trong các ngân hàng cũng gồm có các công việc sau:

Thứ nhất, tổ chức bộ sổ kế toán phù hợp với hệ thống phương pháp kế toán Cụ thể:

Một là, tổ chức hệ thống chứng từ kế toán: Chứng từ kế toán ngân hàng

là những giấy tờ, vật mang tin chứng minh tính pháp lý của các nghiệp vụkinh tế, tài chính phát sinh và đã hoàn thành tại các ngân hàng Nó là căn cứpháp lý cho việc hạch toán hàng ngày trong quá trình hoạt động của ngânhàng Đặc trưng của chứng từ ngân hàng là có khối lượng lớn, đa chủng loại

và luân chuyển phức tạp Theo nguồn gốc, có chứng từ do khách hàng lập,chứng từ do ngân hàng lập và chứng từ do ngân hàng khác chuyển giao Dođối tượng hạch toán kế toán của ngân hàng là tiền, một sai sót cũng có thể gâyhậu quả lớn, vì vậy, các chứng từ ngân hàng trước khi hạch toán vào các loại

sổ sách luôn được kiểm soát kỹ về tính hợp lệ, hợp pháp của nghiệp vụ kinh

tế, tài chính phát sinh, tính chính xác của số liệu ghi trên chứng từ, kiểm tra

ký hiệu mật ghi trên chứng từ và kiểm soát đối chiếu dấu, chữ ký trên chứng

từ Đặc biệt, quá trình luân chuyển chứng từ luôn được chú trọng và được quyđịnh cụ thể từ khâu tiếp nhận và kiểm soát chứng từ, xử lý chứng từ, xử lýchứng từ, hạch toán vào sổ sách kế toán, đóng chứng từ, xử lý chứng từ thànhtập nhật ký đến khâu cuối cùng là lưu trữ, bảo quản chứng từ Việc quy định

hệ thống chứng từ phù hợp đã đảm bảo các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đượckiểm soát chặt chẽ và xử lý kịp thời, đảm bảo độ chính xác góp phần cung cấpcác thông tin nhanh và chính xác phục vụ kiểm soát nội bộ tại các ngân hàng.Hai là, tổ chức hệ thống TK và sổ kế toán tổng hợp: Hệ thống TK kếtoán ngân hàng là công cụ để ghi chép phản ánh hàng ngày đối với hoạt độngnguồn vốn và sử dụng vốn tại các ngân hàng Hệ thống TK kế toán áp dụngcho NHNN riêng và hệ thống TK áp dụng cho các ngân hàng trung gian

Trang 31

riêng: NHNN áp dụng Hệ thống TK Kế toán NHNN ban hành theo Quyếtđịnh Số 425/1998/QĐ-NHNN ngày 17/12/1998 của Thống đốc NHNN (đượcsửa đổi bổ sung theo Quyết định Số 1638/2003/QĐ-NHNN ngày 26/12/2003);NHTM áp dụng theo Hệ thống TK Kế toán các TCTD ban hành theo Quyếtđịnh Số 479/2004/QĐ-NHNN ngày 29/04/2004 và Quyết định Số807/2005/QĐ-NHNN ngày 01/06/2005 của Thống đốc NHNN (được sửa đổi,

bổ sung theo Quyết định số 29/2006/QĐ-NHNN ngày 10/07/2006 Hiện nay,tuy Hệ thống TK của từng ngân hàng có thể không giống nhau, song hệ thống

TK mà các ngân hàng đang áp dụng cũng như hệ thống TK kế toán của cácngành kinh tế khác cũng gồm có các TK nội Bảng và TK ngoại Bảng và cũngđược phân thành TK tổng hợp và TK chi tiết Hệ thống TK tổng hợp doNHNN quy định từ cấp I đến cấp III; các ngân hàng trung gian tùy theo yêucầu nghiệp vụ của mình quy định các TK cấp IV, cấp V và các TK chi tiếtmột cách phù hợp Trong hệ thống đó NHNN quản lý tới TK cấp III để đảmbảo thống nhất chỉ tiêu báo cáo, lập bảng cân đối thống kê tiền tệ và bảng cânđối thanh toán quốc tế của toàn ngành Việc quy định hệ thống TK kế toántổng hợp và chi tiết trong các ngân hàng cùng với việc ứng dụng công nghệtin học trong tổ chức hạch toán kế toán đã giúp cung cấp các thông tin tổnghợp và chi tiết một cách nhanh chóng và chính xác phục vụ cho việc đạt đượccác mục tiêu hiệu quả hoạt động và mục tiêu thông tin của hệ thống kiểm soátnội bộ trong các NHTM

Hạch toán tổng hợp là hình thức tập hợp số liệu của hạch toán chi tiếttheo các chỉ tiêu TK tổng hợp (từ cấp I đến cấp III) để cung cấp những thôngtin kinh tế tổng hợp phục vụ cho việc chỉ đạo điều hành hoạt động của ngânhàng và kiểm tra trở lại đối với hạch toán chi tiết Các sổ của hình thức này là:Nhật ký chứng từ, bảng kết hợp TK, sổ cái và bảng cân đối TK ngày Để hìnhdung rõ hơn có thể xem sơ đồ tổ chức hạch toán tại ngân hàng trong điều kiện

Trang 32

công nghệ kế toán ngân hàng ở trình độ thấp (Sơ đồ 1.1) Trong điều kiệncông nghệ kế toán hiện đại, kế toán tổng hợp có thể thực hiện đồng thời Từ

cơ sở dữ có khi được nhập số liệu của các nghiệp vụ phát sinh vào máy tính,

sổ kế toán tổng hợp và chi tiết sẽ có được từ kết quả xử lý của hệ thống Nhưvậy, mối quan hệ giữa sổ tổng hợp và chi tiết trong các ngân hàng đảm bảo sựchính xác giữa thông tin tổng hợp và chi tiết sẽ có được kết quả xử lý của hệthống Như vậy, mối quan hệ giữa thông tin tổng hợp và chi tiết, cung cấp cácthông tin cho quản lý cũng như kiểm soát nội bộ đơn vị từ chi tiết đến tổnghợp một cách chính xác giữa thông tin tổng hợp và chi tiết, cung cấp cácthông tin cho quản lý cũng như kiểm soát nội bộ đơn vị chi tiết đến tổng hợpmột cách chính xác, đầy đủ

Sơ đồ 1.1: Tổ chức hạch toán kế toán tại một ngân hàng

Ghi sổ hàng ngày -►

Ghi sổ định kỳ

1 Căn cứ chứng từ vào sổ hạch toán phân tích (sổ phụ)

2 Căn cứ chứng từ sau khi vào sổ phụ để lập nhật ký chứng từ

Trang 33

3 Cuối ngày khóa sổ phụ để lập bảng kết hợp TK cấp I

4 Đối chiếu số liệu giữa nhật ký chứng từ và bảng kết hợp TK

5 Căn cứ bảng kết hợp TK để vào sổ tổng hợp

6 Căn cứ sổ tổng hợp để lập bảng cân đối TK ngày

7 Cuối tháng cộng doanh số hoạt động trong tháng để lên kết hợp TKtháng

8 Căn cứ bảng kết hợp TK tháng để lên cân đối TK tháng

Ba là, tổ chức hệ thống sổ kế toán chi tiết chi phí, lãi suất vay: Hạch toánchi tiết là hình thức kế toán phản ánh một cách chi tiết các nghiệp vụ kinh tếphát sinh theo từng loại vốn, từng loại tài sản, từng mặt nghiệp vụ, theo từngkhách hàng Các sổ trong hình thức này gồm: Sổ chi tiết thông thường như sổ

TK tiền gửi, TK cho vay; sổ chi tiết nhật ký nghiệp vụ; dùng chứng từ nhưmột sổ chi tiết (thẻ thanh toán, sổ tiết kiệm)

Bốn là, tổ chức hệ thống báo cáo kế toán: Hệ thống báo cáo kế toáncủa ngân hàng cũng gồm có báo cáo tài chính và báo cáo qu ản trị Báo cáotài chính là một phương pháp dùng để tổng hợp số liệu từ sổ kế toán theocác chỉ tiêu kinh tế, tài chính nhằm phản ánh một cách tổng quát tình hìnhnhận vốn, sử dụng vốn cho vay, thu hồi nợ vay, thu lãi, thu phí và kết quảhoạt động nghiệp vụ của các ngân hàng Với đặc điểm là các ngân hàng đã

áp dụng máy vi tính vào công tác tổ chức hạch toán kế toán nên ngoài việcgửi các báo cáo bằng giấy thì các ngân hàng còn phải gửi cho NHNN cácfile dữ liệu qua đường truyền tin hoặc bằng đĩa mềm Các báo cáo tài chính

mà các ngân hàng phải lập định kỳ theo tháng, quý, năm gồm: Bảng cânđối TK kế toán, bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáolưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính Ngoài ra, để đáp ứngviệc chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng cũngnhư chức năng ngân hàng trung ương của NHNN, các ngân hàng còn phảilập các báo cáo thống kê cung cấp thông tin cho NHNN theo Quyết định

Trang 34

477/2004/QĐ-NHNN ngày 28/04/2006 của Thống đốc NHNN Ngoài cácbáo cáo tài chính và báo cáo th ống kê được NHNN quy định, tùy theo yêucầu quản trị nội bộ đơn vị, các ngân hàng cũng có quy định thêm các mẫubáo cáo quản trị phục vụ công tác quản lý điều hành nội bộ đơn vị Các báocáo quản trị phản ánh chi tiết tình hình hoạt động của đơn vị như: Báo cáonguồn vốn, báo cáo cho vay, báo cáo s ố dư tiền gửi khách hàng, Các báocáo quản trị này có vai trò hết sức quan trọng trong việc kiểm soát và quản

lý điều hành trong các ngân hàng, giúp Ban lãnh đạo ngân hàng kịp thời racác quyết định phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngânhàng Hệ thống báo cáo của các ngân hàng trong điều kiện ứng dụng côngnghệ thông tin đã tạo ra một hệ thống thông tin đáng tin cậy, đảm bảo cácthông tin kế toán cung cấp chính xác, đầy đủ và cập nhật, rất thuận lợi chokiểm soát nội bộ tại các ngân hàng

Thứ hai, tổ chức bộ máy kế toán với việc tăng cường kiểm soát nội bộ

Tổ chức bộ máy kế toán khoa học chính là yếu tố quyết đinh nâng caohiệu suất công tác và chất lượng thông tin kế toán với việc tiết kiệm tối đa chiphí cho công tác kế toán Mô hình tổ chức bộ máy kế toán trong các phápnhân NHTM có thể thực hiện theo một trong các hình thức sau: Mô hình kếtoán phân tán, mô hình kế toán tập trung, mô hình kế toán vừa tập trung, vừaphân tán

Tại các NHTM: Toàn bộ hệ thống từng NHTM là một đơn vị hạch toánkinh tế độc lập, các chi nhánh ngân hàng tại các tỉnh, thành phố hoặc khu vực

là các đơn vị hạch toán báo sổ Tại các HSC (cấp chủ quản) tuỳ theo từng môhình có Ban tài chính kế toán hoặc phòng tài chính kế toán đứng đầu là kếtoán trưởng, tại chi nhánh có phòng tài chính kế toán đứng đầu là trưởngphòng tài chính kế toán

Trang 35

Tại các chi nhánh ngân hàng tỉnh, thành phố, khu vực (đơn vị cơ sở)thông thường theo hai mô hình sau: Mô hình bố trí theo mảng nghiệp vụ,khách hàng giao dịch “nhiều cửa”: là mô hình tổ chức truyền thống của cácngân hàng, kế toán chỉ làm nhiệm vụ kiểm soát chứng từ và hạch toán vào sổsách kế toán theo quy định, khách hàng phải qua nhiều khâu, cửa để hoànthành giao dịch của mình Mô hình giao dịch “một cửa”: Là mô hình cho phépkhách hàng khi đến giao dịch với ngân hàng chỉ giao dịch với một cán bộngân hàng vẫn có thể giải quyết toàn bộ các nhu cầu của mình về tiền gửi,thanh toán, mua bán ngoại tệ, tiền vay Cán bộ kế toán giao dịch với kháchhàng vừa làm nhiệm vụ kế toán viên, vừa là thủ quỹ thực hiện thu, chi tiềntheo hạn mức quy định.

Lao động trong bộ máy kế toán được bố trí theo các nguyên tắc là bấtkiêm nhiệm, nguyên tắc kiểm soát nội bộ, nguyên tắc kế toán trưởng vànguyên tắc an toàn tài sản Nghĩa là không bố trí một người phụ trách cáccông việc khác nhau mà có thể lợi dụng để tham ô công quỹ, bố trí nhân viênđảm bảo mỗi hoạt động của ngân hàng đều phải được kiểm tra qua ít nhất haingười và bộ phận kế toán ngân hàng được đặt dưới sự chỉ đạo thống nhấtcông tác kế toán trong từng đơn vị Như vậy, có thể thấy các nguyên tắc được

áp dụng trong việc tổ chức bộ máy kế toán của các đơn vị ngân hàng cũngnhư việc bố trí, phân công lao động trong tổ chức bộ máy kế toán đã góp phầnkiểm tra, kiểm soát chặt chẽ các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng đồng thờiđảm bảo các nghiệp vụ được tuân thủ theo các quy định của ngân hàng giúpthực hiện tốt các mục tiêu vầ tuân thủ pháp luật, đảm bảo hiệu quả hoạt độngcũng như mục tiêu thông của thống kiểm soát nội bộ tại các ngân hàng

1.3 Kinh nghiệm của các ngân hàng ở một số nước Châu Á

Hệ thống tài chính ngân hàng Hàn Quốc cho đến nay bao gồm Ngânhàng trung ương, các ngân hàng thương mại, các ngân hàng chuyên doanh và

Trang 36

năm 1950, Luật ngân hàng Hàn Quốc đã có hiệu lực Bước qua thập niên 70,hàng loạt các ngân hàng thương mại ra đời góp phần đa dạng hóa nghiệp vụkinh doanh, huy động, cho vay, đầu tư chứng khoán, dịch vụ ngân hàng Đếnnăm 1995, Hàn Quốc đã có 25 ngân hàng thương mại với 209 chi nhánh ngânhàng ở nước ngoài, 7 ngân hàng lớn của Hàn Quốc được xếp vào trong danhsách 200 ngân hàng đứng đầu thế giới Ngay từ khi mới ra đời cho đến nay,

hệ thống ngân hàng Hàn Quốc vẫn đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Chínhphủ, ngân hàng trở thành kênh cung ứng vốn quan trọng cho nền kinh tế

Hệ thống ngân hàng Thái Lan bao gồm Ngân hàng trung ương TháiLan (Bank of Thailand -BOT), ngân hàng thương mại, ngân hàng chuyêndoanh nhà nước, các công ty tài chính Ngân hàng Thái Lan được thành lập

từ năm 1942 được coi như là ngân hàng trung tâm của cả nước; giữ vai tròngân hàng của các ngân hàng và chịu ảnh hưởng rất lớn của các chi nhánhngân hàng phương Tây.Hệ thống ngân hàng ở Thái Lan phát triển mạnh theo

xu hướng xây dựng mô hình tập đoàn ngân hàng, nhiều ngân hàng trong nước

đã mở được các chi nhánh ở nước ngoài hoặc liên doanh với các ngân hàng ởnước ngoài Đến năm 1997, Thái Lan có 63 ngân hàng trong số đó có 10 ngânhàng thuộc sở hữu nhà nước Hoạt động của các ngân hàng thương mại đãđóng góp quan trọng đối với nền kinh tế Thái Lan

Quá trình phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao của Singaporecần phải kể đến sự thành công của lĩnh vực tài chính, ngân hàng, những toànhà chọc trời tập trung ở khu vực trung tâm kinh tế lớn trở thành biểu tượnghùng vĩ của ngành dịch vụ tài chính Singpore Đến cuối thập niên 80 ởSingapore đã có hơn 200 ngân hàng thương mại (commercial bank), và ngânhàng dịch vụ thương mại (merchant bank ) với vốn tự có lên đến 200 - 300 tỷUSD Đến giữa thập niên 90, Singapore đã có trên 140 ngân hàng thương mạisau giai đoạn cải cách sắp xếp lại hệ thống ngân hàng nhằm xây dựng hệ

Trang 37

thống ngân hàng vững mạnh có khả năng cung cấp đầy đủ dịch vụ tài chínhđáp ứng cho nền kinh tế cùng với sự phát triển của thị trường tài chính vữngmạnh Hệ thống ngân hàng Singapore bao gồm Ủy ban tiền tệ Singapore,ngân hàng thương mại, ngân hàng thương mại dịch vụ, ngân hàng tiết kiệmbưu điện, công ty tài chính Trong đó Ủy ban tiền tệ Singapore do Bộ tàichính Singapore thành lập từ năm 1971 để giám sát các tổ chức tài chính vàthực thi chính sách tiền tệ Ủy ban tiền tệ Singapore chịu trách nhiệm đối vớitất cả các chức năng ngân hàng trung ương Các định chế tài chính còn lạihoạt động đẩy mạnh việc lôi cuốn các tổ chức tài chính nước ngoài, để pháttriển ngân hàng thương mại theo hướng ngân hàng hiện đại, chú trọng đổi mớicông nghệ và đa dạng hoá sản phẩm đáp ứng yêu cầu dịch chuyển vốntrên thị trường.

Trong công tác hạch toán kế toán ở các nước phát triển như Singapore,Thái Lan, Hàn Quốc các ngân hàng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuậttrong quản lý nhằm góp phần tiết kiệm nguồn nhân lực, nâng cao chất lượngthông tin từ đó tiết kiệm chi phí cho đơn vị Ứng dụng những thành tựu khoahọc công nghệ thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán một cách hiệu quảnhất Kiểm tra, giám sát các khoản thu, chi tài chính, các nghĩa vụ, thu nộpthanh toán nợ; Kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài sản và nguồn hình thành tàisản; phát hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính, kếtoán; Phân tích thông tin, số liệu kế toán; Tham mưu, đề xuất các giải phápphục vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán;Cung cấp thông tin, số liệu kế toán theo quy định của pháp luật

Các ngân hàng nước ngoài chú trọng việc sử dụng nguồn nhân lực vàocác vị trí quản, phân công bố trí lao động kế toán vào các bộ phận trong bộmáy, quy định các mối liên hệ giữa các cá nhân, giữa các bộ phận trong bộmáy tạo thành một thể thống nhất thực hiện chức năng thông tin và kiểm trakiểm soát của hạch toán kế toán một cách chặt chẽ và chuyên nghiệp Ngân

Trang 38

hàng có những chính sách tuyển dụng hợp lý và trả lương cao và môi trườnglàm việc chuyên nghiệp cùng với chính sách đào tạo, tập huấn luôn được đềcao, do vậy ngân hàng đã xây dựng được một đội ngũ nhân viên có năng lực

và chuyên nghiệp Chính sách khen thưởng, kỷ luật gắn với chế độ đãi ngộ vềvật chất đã tạo ra tinh thần làm việc hăng say, phát huy tối đa năng lực củađội ngũ nhân viên tạo ra hiệu quả cao trong công việc

Môi trường pháp lý về kinh tế, chính trị, xã hội ở các nước trên là điềukiện quan trọng trong sự phát triển của hệ thống ngân hàng Hành langpháp lý đồng bộ, minh bạch giúp các ngân hàng có những chuẩn mực trongviệc điều hành, hoạt động kinh doanh

Ngân hàng ở các nước đã lựa chọn những tài khoản kế toán mà Nhànước ban hành phù hợp với điều kiện của đơn vị để sử dụng và bỏ đi những

TK không cần thiết Hình thành hệ thống tài khoản riêng và chi tiết cho từngđơn vị Việc tổ chức hệ thống tài khoản đảm bảo thống nhất với hệ thống tàikhoản chung mà Nhà nước ban hành đồng thời đảm bảo phù hợp với đặc thùriêng đáp ứng được yêu cầu kiểm soát nội bộ cũng như quản lý của đơn vị.Mức độ chi tiết cho các tài khoản dựa trên sự đánh giá phụ thuộc vào yêu cầuquản lý, trình độ của cán bộ kế toán, phương tiện kỹ thuật thu nhận, xử lý vàcung cấp thông tin kế toán Hiện nay, với việc ứng dụng công nghệ thông tinvào tổ chức hạch toán kế toán, ở những đơn vị thực hiện kế toán trên máy sẽquy định được nhiều tài khoản chi tiết hơn, có thể theo dõi chặt chẽ hơn cácđối tượng quản lý kinh tế tài chính

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1Trong chương 1, luận văn đã nghiên cứu những lý luận cơ bản về kếtoán Ngân hàng, một số nguyên tắc tổ chức hạch toán và mối quan hệ giữaviệc

tổ chức hạch toán kế toán với việc tăng cường kiểm soát tại NHTM, trong đónêu bật nội dung tổ chức hạch toán kế toán, các yếu tố cấu thành nên hệ thốngkiểm soát nội bộ tại các NHTM cũng như các yêu cầu và nội dung của tổ chứchạch toán kế toán với việc tăng cường kiểm soát tại NHTM, kinh nghiệm các

Trang 39

ngân hàng ở một số nước Châu Á Những cơ sở lý luận ở chương 1 là tiền đề

để phân tích thực trạng tổ chức hạch toán kế toán với kiểm soát nội bộ tạiNHNo&PTNT Bắc Hà Nội trong chương 2 và đưa ra một số giải pháp hoànthiện tổ chức hạch toán kế toán nhằm tăng cường kiểm soát nội bộ tạiNHNo&PTNT Bắc Hà Nội trong chương 3

Trang 40

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN VỚI KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN

NÔNG THÔN BẮC HÀ NỘI 2.1 Đặc điểm chung của Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bắc Hà Nội

2.1.1 Sự hình thành và phát triển của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển

Nông thôn Bắc Hà Nội.

NHNo&PTNT Bắc Hà Nội là một chi nhánh trực thuộc NHNo&PTNT Việt Nam Chi nhánh được thành lập theo quyết định số 342/QĐ/HĐQT -TTCB của Chủ tịch Hội đồng quản trị NHNo&PTNTVN ngày 05 tháng 09năm 2001 NHNo & PTNT Chi nhánh Bắc Hà Nội có trụ sở đặt tại số 266Đội Cấn- Ba Đình-Hà Nội Sau 10 năm hình thành và phát triển đến nayNHNo&PTNT Chi nhánh Bắc Hà Nội đã ngày càng phát triển lớn mạnh, từngbước hoàn thiện bộ máy tổ chức, mở rộng thêm các phòng ban, các phònggiao dịch Nhận thức rõ những thuận lợi và khó khăn tr- ớc mắt cũng nh- lâu dài, Ban giám đốc đã vạch ra chiến l- ợc kinh doanh và từng b- ớc lãnh đạo Chi nhánh vững bước trên con đường phát triển Lấy phương châm “Agribank mang phồn thịnh đến cho khách hàng” làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động, NHNo&PTNT Bắc Hà Nội đã từng b- ớc khẳng định đ- ợc vị thế của mình trên thị tr- ờng.

Trải qua nhiều khó khăn, d- ới sự lãnh đạo sáng suốt của Ban lãnh đạo cùng sự nỗ lực phấn đấu của toàn thể cán bộ công nhân viên chức, NHNo&PTNT Bắc Hà Nội đã không ngừng hoàn thiện, nâng cao chất l- ợng sản phẩm dịch vụ và đã trở thành một trong những Chi nhánh hàng đầu của NHNo&PTNT Việt Nam.

Ngày đăng: 23/04/2022, 07:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đổ 2.1. Mo hình tổ chức tại NHNo&PTNT Bắc HàNội - HOÀN THIỆN TỔ CHỨC HẠCH TOAN KE TOANNHẰM TẢNG CũỜNG KIEM SOAT NỘI BỘ TẠI CHI NHANHNGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHAT TRIENNÔNG THÔN BẮC HÀ NỘI
2.1. Mo hình tổ chức tại NHNo&PTNT Bắc HàNội (Trang 41)
Sơ đồ 2.4: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức Nhật ký chung - HOÀN THIỆN TỔ CHỨC HẠCH TOAN KE TOANNHẰM TẢNG CũỜNG KIEM SOAT NỘI BỘ TẠI CHI NHANHNGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHAT TRIENNÔNG THÔN BẮC HÀ NỘI
Sơ đồ 2.4 Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức Nhật ký chung (Trang 66)
12 09a/QT Báo cáo tình hình tăng, giảm tài sản cố định hữu hình 1309b/QT Báo cáo tình hình tăng giảm tài sản cố định vô hình - HOÀN THIỆN TỔ CHỨC HẠCH TOAN KE TOANNHẰM TẢNG CũỜNG KIEM SOAT NỘI BỘ TẠI CHI NHANHNGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHAT TRIENNÔNG THÔN BẮC HÀ NỘI
12 09a/QT Báo cáo tình hình tăng, giảm tài sản cố định hữu hình 1309b/QT Báo cáo tình hình tăng giảm tài sản cố định vô hình (Trang 70)
36 30/QT Bảng kê tài khoản tiền vay của các chi nhánh đối với Trụ sở chính NHNo - HOÀN THIỆN TỔ CHỨC HẠCH TOAN KE TOANNHẰM TẢNG CũỜNG KIEM SOAT NỘI BỘ TẠI CHI NHANHNGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHAT TRIENNÔNG THÔN BẮC HÀ NỘI
36 30/QT Bảng kê tài khoản tiền vay của các chi nhánh đối với Trụ sở chính NHNo (Trang 72)
dõi. Khi đó, chương trình sẽ xuất ra cho kế toán các bảng theo dõi luồng tiền hoán đổi đi và luồng tiền hoán đổi đến của giao dịch trên. - HOÀN THIỆN TỔ CHỨC HẠCH TOAN KE TOANNHẰM TẢNG CũỜNG KIEM SOAT NỘI BỘ TẠI CHI NHANHNGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHAT TRIENNÔNG THÔN BẮC HÀ NỘI
d õi. Khi đó, chương trình sẽ xuất ra cho kế toán các bảng theo dõi luồng tiền hoán đổi đi và luồng tiền hoán đổi đến của giao dịch trên (Trang 99)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w