Nội dung và kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của đề tài được trìnhbày theo ba chương: Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về thẩm định dự án đầu tư ngành điệ
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HOÀNG XUÂN QUẾ
HÀ NỘI - 2011
Trang 3đã được chỉ rõ nguồn trích dẫn trong Danh mục tài liệu tham khảo.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS HoàngXuân Quế, các thầy cô trong Học viện Ngân hàng cùng với sự giúp đỡ của
Trịnh Thu Hằng
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU
Tư NGÀNH ĐIỆN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4 1.1 TỔNG QUAN VỀ CHO VAY Dự ÁN ĐẦU Tư NGÀNH ĐIỆN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1.1 Khái niệm cho vay theo dự án đầu tư của NHTM 4
1.1.2 Đặc trưng của hoạt động cho vay dự án đầu tư ngành điện của NHTM 6
1.1.3 Quy trình cho vay theo dự án đầu tư ngành điện của các NHTM 8
1.2 HOẠT ĐỘNG THẨM ĐỊNH Dự ÁN ĐẦU TƯ NGÀNH ĐIỆN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 9
1.2.1 Khái niệm thẩm định dự án đầu tư 9
1.2.2 Nội dung thẩm định dự án đầu tư ngành điện của NHTM 10
1.2.3 Quy trình thẩm định dự án đầu tư ngành điện tại NHCTVN 26
1.3 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH
Dự ÁN ĐẦU TƯ NGÀNH ĐIỆN CỦA NHTM 32
1.3.1 Nhân tố chủ quan 32
1.3.2 Nhân tố khách quan 34
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 37 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH Dự ÁN ĐẦU TƯ
NGÀNH ĐIỆN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẨN
CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM 38
Trang 5DA : Dự án
Nam
52 2.2.3 Thực trạng công tác thẩm định dự án đầu tư ngành điện tại NH TMCP CTVN 54
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG 69
2.3.1 Ket quả đạt được 69
2.3.2 Một số hạn chế cần khắc phục 72
2.3.3 Nguyên nhân 79
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 85 CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THẨM ĐỊNH Dự ÁN ĐẦU TƯ
NGÀNH ĐIỆN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM 86 3.1 ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGÀNH ĐIỆN CỦA NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM 86
3.1.1 Định hướng phát triển của NH TMCP Công Thương Việt Nam 86 3.1.2 Định hướng cho vay đối với ngành điện của NH TMCP Công Thương
Việt Nam 87
3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THẨM ĐỊNH Dự ÁN ĐẦU TƯ NGÀNH ĐIỆN TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM 88 3.2.1 Giải pháp chủ yếu 88 3.2.2 Giải pháp bổ trợ 94
3.3 ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
Trang 8Bảng 2.1: Nguồn vốn huy động của Ngân hàng Côngthương Việt Nam 43
Bảng 2.2: Phân loại nhóm nợ theo tiêu chuẩn quốc tế 46
Bảng 2.3: Các chỉ tiêu cơ bản thể hiện kết quả hoạt động kinh doanh 49
Bảng 2.4: Dư nợ cho vay ngành điện trong hệ thống NHCT VN 52
Bảng 2.5: Tổng mức đầu tư của dự án 56
Bảng 2.6: Tiến độ giải ngân nguồn vốn 58
Bảng 2.7: Khấu hao cơ bản hàng năm 60
Bảng 2.8: Dòng tiền hàng năm của dự án 61
Bảng 2.9: Phân tích độ nhạy 63
Bảng 2.10: Cân đối trả nợ 65
Bảng 2.11: Kế hoạch trả nợ ngân hàng Cơ sở tính lãi: Lãi suất cho vay 9,5% 66
Bảng 2.12: Kế hoạch trả nợ vốn vay Cơ sở tính lãi: Vay nhập máy móc thiết bị 7.5% 67
SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1: Sơ đồ quy trình thẩm định dự án đầu tư 31
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức và hoạt động của NHCTVN 39
Biểu 2.1: Cơ cấu cho vay theo thành phần kinh tế 44
Biểu 2.2: Cơ cấu cho vay có bảo đảm bằng tài sản 45
Biểu 2.3: Một số tỷ lệ trong cơ cấu dư nợ ngành điện 53
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế hội nhập nền kinh tế thế giới, Việt Nam đang từng bướcvươn lên tạo cho mình một vị thế vững mạnh trên trường quốc tế Nền kinh tế
có tốc độ tăng trưởng tăng mạnh qua mỗi năm, đất nước thay đổi trên mọiphương diện được bạn bè trên thế giới công nhận Đóng góp vào thành công
đó không thể không kể đến có sự nỗ lực, phấn đấu của ngành ngân hàng
NHTM đóng vai trò như chiếc cầu nối giữa người thừa vốn và ngườithiếu vốn NHTM là người đáp ứng vốn để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng,phát triển những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước như điện, bưu chínhviễn thông, Tuy nhiên hiện nay trong ngành điện, tình trạng đầu tư mộtcách dàn trải, tràn lan, nhiều dự án bất khả thi được triển khai thực hiện đang
là nguy cơ đe dọa đến sự tăng trưởng ổn định của nền kinh tế cũng như cácNHTM Do đó đòi hỏi phải có sự kiểm tra, thẩm định dự án chặt chẽ để việcđầu tư đảm bảo có hiệu quả cho cả ngân hàng và khách hàng
Việc thẩm định dự án đầu tư được thực hiện trên các phương diện thẩmđịnh kỹ thuật, thẩm định thị trường, thẩm định tài chính Trong đó thẩm địnhtài chính là căn cứ quan trọng để quyết định cho vay hay không cho vay đốivới dự án
Công tác thẩm định dự án đầu tư của NHCTVN trong những năm gầnđây đã được nâng cao, đáp ứng nhu cầu vốn cho các dự án đầu tư của cáckhách hàng thuộc mọi thành phần kinh tế trong đó có các doanh nghiệp ngànhđiện - một trong những ngành có nhu cầu vốn đầu tư lớn, góp phần xứngđáng vào thành tựu phát triển kinh tế xã hội của đất nước Tuy vậy, trongcông tác thẩm định dự án đầu tư nói chung và các dự án đầu tư ngành điện nóiriêng vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định đòi hỏi phải được nghiên cứu
Trang 10toàn diện để tìm ra những giải pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng côngtác thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động tín dụng.
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tác giả đã chọn đề
tài nghiên cứu: “Hoàn thiện thẩm định dự án đầu tư cho vay ngành điện tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam”
2 Mục đích nghiên cứu:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về dự án đầu tư, thẩm định dự ánđầu tư, đặc điểm riêng trong thẩm định dự án đầu tư ngành điện tronghoạt
động cho vay của NHTM
- Tìm ra những ưu điểm và hạn chế về nội dung thẩm định, phươngpháp thẩm định cũng như cách thức tổ chức thẩm định của công tácthẩm
định, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tácthẩm
định dự án đầu tư ngành điện tại Ngân hàng Thương mại cổ phần CôngThương Việt Nam trong thời gian tới
3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về nội dung thẩm định dự án đầu
tư ngành điện, được minh họa qua dự án “Dự án đường dây siêu cao áp500
KV tại khu vực các tỉnh miền Trung”
- Phạm vi nghiên cứu: là các dự án ngành điện mà Vietinbank tài trợcho vay và số liệu nghiên cứu của đề tài là công tác thẩm định các dự ánngành điện tại Vietinbank trong giai đoạn 2007-2010
- Phương pháp nghiên cứu: thống kê, tổng hợp, so sánh, phân tích,phương pháp tiếp cận hệ thống Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các bảng,
Trang 11định dự án đầu tư, đặc điểm riêng trong thẩm định dự án đầu tư ngành điệntrong hoạt động cho vay của NHTM.
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác thẩm định dự án đầu tư chovay ngành điện tại NHCTVN
- Trên cơ sở thực trạng đã nêu, đề xuất những giải pháp nhằm nâng caochất lượng công tác thẩm định dự án đầu tư cho vay ngành điện tạiNHCTVN
5 Nội dung và kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của đề tài được trìnhbày theo ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về thẩm định dự án đầu tư ngành điện
của Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng công tác thẩm định dự án đầu tư ngành điện tại
Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện thẩm định dự án đầu tư ngành điện tại
Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
Trang 12CHƯƠNG 1 MỘT SỚ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THẢM ĐỊNH
DỰ ÁN ĐẦU TƯ NGÀNH ĐIỆN CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1 TỔNG QUAN VỀ CHO VAY Dự ÁN ĐẦU TƯ NGÀNH
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm cho vay theo dự án đầu tư của NHTM
Mỗi hoạt động đầu tư được tiến hành với nhiều công đoạn và có nhữngđặc điểm kinh tế đa dạng, thường được thực hiện dưới dạng một hay nhiều dự
án đầu tư Một số dự án đòi hỏi nguồn lực cần huy động lớn, thời gian thựchiện dài, việc quản lý vận hành dự án thường phức tạp Một số dự án đầu tưkhác lại tập trung vốn vào một thời điểm nhất định, do vậy, hoạt động đầu tưcần có quá trình chuẩn bị nghiêm túc và phải thực hiện theo dự án mới đạt kếtquả mong muốn Có thể xem xét dự án đầu tư dưới nhiều góc độ khác nhau:
Về mặt nội dung: dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động và chi phí cầnthiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểmxác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất địnhnhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai Theo góc độ nàythì có bốn vấn đề quan trọng của một dự án đầu tư:
Mục tiêu của dự án: được thể hiện ở hai mức: mục tiêu phát triển
(những lợi ích kinh tế-xã hội do việc thực hiện dự án đem lại) và mục tiêutrước mắt (các mục đích cụ thể cần đạt được)
Kết quả của dự án: là những kết quả cụ thể, có thể định lượng và được
tạo ra từ các hoạt động khác nhau của dự án
Trang 13Các hoạt động: là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện
trong dự án để tạo ra các kết quả nhất định
Các nguồn lực: là những nguồn vật chất, tài chính, con người cần thiết
để tiến hành các hoạt động của dự án Giá trị hoặc chi phí của các nguồn lựcnày chính là vốn đầu tư cần cho dự án
Về mặt hình thức: Dự án đầu tư là một tập hồ sơ, tài liệu trình bày mộtcách chi tiết, có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạtđược những kết quả và thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai
Đối với doanh nghiệp nói chung, dự án đầu tư là tổng hợp các hoạtđộng có liên quan đến nhau, được kế hoạch hóa nhằm thực hiện các mục tiêuxác định bằng việc tao ra các kết quả cụ thể trong một khoảng thời gian xácđịnh thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định
Trên góc độ quản lý: Dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụngvốn vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế - xã hội trong mộtthời gian dài
Trên góc độ kế hoạch hóa: Dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kếhoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh
tế - xã hội, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ
Đối với các NHTM, dự án đầu tư là dự án được tài trợ trên cơ sở nghiệp
vụ tín dụng của NHTM hay nói cách khác đó chính là khoản tiền mà NHTMcho các doanh nghiệp hay chủ đầu tư vay theo những điều khoản mà hai bên
đã thỏa thuận nhằm thực hiện một dự án đầu tư nào đó của chủ đầu tư
Cho vay theo dự án đầu tư là việc các NHTM hỗ trợ các khách hàng có
đủ nguồn lực tài chính để thực hiện các dự định đầu tư mà thời gian thu hồivốn đầu tư vượt quá 12 tháng
Trang 14Trên thế giới, hoạt động cho vay theo dự án đầu tư đã trở thành mộthoạt động tín dụng cơ bản của hầu hết các NHTM Với khả năng và uy tíntrong
lĩnh vực kinh doanh tiền tệ của mình, các NHTM có thể thực hiện cho vay đơnlẻ
nhưng cũng có thể cho vay theo hình thức đồng tài trợ đối với những khoảnvay
lớn nhằm chia sẻ rủi ro Dù tài trợ dưới hình thức nào thì một công việc quantrọng không thể thiếu được trước khi thực hiện cho vay đó là việc thẩm địnhhiệu
quả của dự án đầu tư
1.1.2 Đặc trưng của hoạt động cho vay dự án đầu tư ngành điện của
NHTM
Điện là hàng hóa không thể thiếu đối với hoạt động của toàn xã hội Nó
có độc quyền tự nhiên do không thể thay thế nên các dự án đầu tư ngành điệnluôn được sự hỗ trợ của Nhà nước bằng nhiều cơ chế chính sách ưu tiên nhưcác bảo lãnh vay vốn của Bộ Tài chính, chỉ định vay vốn của Chính phủ tạicác Ngân hàng thương mại với lãi suất và thời hạn vay ưu đãi
Trong quá trình quản lý và khai thác các công trình điện, hiện có rấtnhiều các vấn đề cần nghiên cứu, phân tích, đánh giá Thực tế đã cho thấyhiệu ích của các dự án điện đối với sự phát triển của nền kinh tế Việc khaithác hiệu quả các công trình điện mang lại lợi ích cho chủ đầu tư và toàn xãhội Do đó thẩm định dự án đầu tư ngành điện có vai trò hết sức quan trọngtrong quá trình đầu tư phát triển hệ thống điện lực quốc gia Trong quá trìnhthẩm định cần quan tâm đến các vấn đề chủ yếu sau:
Thứ nhất, tổng chi phí của dự án trong cả đời kinh tế của dự án bao
Trang 15đoạn đầu tư nhằm đảm bảo đủ vốn và đúng theo tiến độ thực hiện dự án.Đồng thời phải thường xuyên cập nhật thông tin, đánh giá, dự báo các hạngmục công trình phát sinh ngoài dự kiến, biến động về giá vật tư, thiết bị, thuế
sử dụng tài nguyên làm tăng tổng vốn đầu tư dự án, tăng giá thành sảnphẩm và giảm hiệu quả dự án
Thứ ba, cần tìm hiểu kỹ các phê duyệt về nguồn, lưới điện, đường dây
đấu nối với hệ thống điện quốc gia Bám sát các qui hoạch, định hướngphát triển, tỷ lệ của các hình thức nguồn điện (BOT, BOO), các vấn đề vềcông nghệ, thiết bị, tiến độ triển khai thị trường điện để có định hướng đầu tưphù hợp
Thứ tư, kiểm tra kỹ năng lực, kinh nghiệm của nhà thầu thi công để
tránh rủi ro chậm tiến độ do năng lực thi công không đáp ứng được khốilượng công việc
Thứ năm, các công trình điện (đặc biệt là thủy điện) thường có diện tích
đất sử dụng lớn, thuộc nhiều địa bàn khác nhau nên công tác giải phóng mặtbằng có thể kéo dài trong nhiều năm dẫn đến phát sinh chi phí, kéo dài thờ igian thi công ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của dự án
Thứ sáu, đối với đầu ra của dự án do chưa có thị trường bán buôn cạnh
tranh nên khi thẩm định cần quan tâm đến giá bán điện của các dự án, so sánhvới giá bán điện bình quân của các dự án điện khác có cùng đặc điểm, qui mô.Đồng thời cần theo dõi các quyết định điều hành giá bán điện của Chính phủ
để có cơ sở đánh giá hiệu quả của các dự án
Thứ bảy, đối với các dự án lưới điện khi thẩm định cần tính toán, cân
đối
công suất nguồn điện và phụ tải điện trong khu vực, đảm bảo tính đồng bộ,phù
Trang 161.1.3 Quy trình cho vay theo dự án đầu tư ngành điện của các NHTM
Việc cho vay theo dự án đầu tư ngành điện của các NHTM thôngthường gồm 3 giai đoạn: thẩm định dự án, giải ngân và cuối cùng là thu nợ
a Thẩm định dự án đầu tư:
Khách hàng có nhu cầu vay vốn gửi hồ sơ đến ngân hàng bao gồm hồ
sơ pháp lý, hồ sơ về tình hình tài chính, hồ sơ về dự án và các hồ sơ khác Saukhi nhận hồ sơ đề nghị cấp tín dụng do khách hàng gửi, NHTM phải thực hiệnthẩm định dự án trên ba mặt là các phương diện kỹ thuật, phương diện kinh tế
- xã hội và phương diện tài chính để xem xét tính khả thi của dự án đầu tư.Nếu dự án không khả thi, NHTM sẽ trả lời khách hàng bằng văn bản trong đó
có nêu rõ lý do từ chối cấp tín dụng Còn nếu dự án có tính khả thi thì NHTM
sẽ nhận hồ sơ và tiến hành ký kết hợp đồng cho vay
b Thực hiện cho vay:
Sau khi ký kết hợp đồng và công bố khoản đầu tư, NHTM phải chuẩn
bị sẵn sàng các khoản vốn để giải ngân theo đúng tiến độ thỏa thuận tronghợp đồng Trong quá trình thực hiện đầu tư, NHTM phải luôn giám sát việctriển khai dự án của chủ đầu tư để có biện pháp xử lý kịp thời khi xảy ra điềubất trắc
Trong 3 giai đoạn trên thì giai đoạn thẩm định dự án đầu tư được coi làgiai đoạn quan trọng nhất và là nền tảng của quá trình đầu tư cho vay đặc biệt
là việc thẩm định tài chính của dự án
Trang 171.2 HOẠT ĐỘNG THẨM ĐỊNH Dự ÁN ĐẦU TƯ NGÀNH ĐIỆN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Khái niệm thẩm định dự án đầu tư
Theo quan niệm thông thường, thẩm định dự án đầu tư là việc tổ chứcxem xét một cách khách quan, khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản ảnhhưởng trực tiếp đến tính khả thi của một dự án, từ đó ra quyết định đầu tư vàcho
phép đầu tư
Các dự án đầu tư khi soạn thảo dù đã được nghiên cứu kỹ vẫn mới chỉ
là đứng trên quan điểm của nhà đầu tư Do vậy, quá trình thẩm định phải đượctiến hành một cách độc lập, khách quan để đảm bảo đánh giá chính xác hiệuquả kinh tế xã hội mà nó mang lại Thẩm định được coi là quá trình phản biệncủa quá trình lập dự án
Dưới những giác độ xem xét khác nhau thì mục tiêu đánh giá dự áncũng khác nhau Đối với chủ đầu tư, thẩm định nhằm đảm bảo tính xác thựccủa các thông tin về hiệu quả mà dự án đem lại trước khi trình xin phê duyệt.Đối với các nhà tài trợ, thẩm định dự án đầu tư là căn cứ quan trọng nhất để điđến quyết định tài trợ cho dự án hay không dựa trên cơ sở tính khả thi, khảnăng hoàn trả nợ của dự án và những qui định của ngành về đối tượng chovay nhằm hạn chế thấp nhất rủi ro, đảm bảo đem lại lợi nhuận Đối với các
cơ quan quản lý, thẩm định dự án nhằm xem xét những lợi ích kinh tế - xã hội
mà dự án đem lại có phù hợp với mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế - xãhội của quốc gia hay không để ra quyết định cấp phép cho dự án hoạt động.Đối với những dự án lớn có mức độ ảnh hưởng đối với nhiều ngành, nhiều địaphương thì yêu cầu thẩm định dự án trước khi ra quyết định càng phải chi tiết,chặt chẽ và toàn diện
Theo quan điểm của các NHTM, thẩm định dự án đầu tư là việc xem xét một cách khách quan, khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản liên
Trang 18quan đến dự án đầu tư, có ảnh hưởng trực tiếp tới tính khả thi về mặt tài chính và khả năng trả nợ của dự án để phục vụ cho việc xem xét, quyết định cho khách hàng vay vốn đầu tư dự án hay không.
Như vậy, trên quan điểm của các ngân hàng thương mại, vấn đề quantrọng nhất, được quan tâm nhất trong quá trình thẩm định là tính khả thi vềmặt tài chính và khả năng trả nợ của dự án Tuy nhiên, các thông số đầu vàophục vụ cho việc tính toán hiệu quả tài chính và khả năng trả nợ của dự án lạiphụ thuộc vào kết quả thẩm định về các khía cạnh thị trường, kỹ thuật của dự
án Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với các chủ thể thẩm định là cần phải có nhữngkiến thức cũng như kinh nghiệm vừa tổng hợp, vừa chuyên sâu đối với mỗilĩnh vực đầu tư Do đó, rất nhiều trường hợp các chủ đầu tư phải thuê các đơn
vị tư vấn thẩm định bên ngoài có chuyên môn hơn để thẩm định cho dự áncủa mình
1.2.2 Nội dung thẩm định dự án đầu tư ngành điện của NHTM
Thẩm định dự án đầu tư được xem xét trên các phương diện khác nhaunhằm đảm bảo dự án có đủ độ tin cậy và tính thuyết phục cao Muốn vậy quátrình thẩm định phải xem xét đầy đủ, chính xác các nội dung của dự án đầu tư.Quá trình đó thường bao gồm các nội dung chính như sau:
1.2.2.1 Thẩm định tính pháp lý của dự án đầu tư
Tính pháp lý của dự án là yếu tố quan trọng để dự án được triển khai vàvận hành thông suốt Yêu cầu về mặt pháp lý nhằm đảm bảo dự án không tráivới mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội nói chung có liên quan đến đối tượngcủa dự án, phù hợp với quy hoạch phát triển theo ngành, vùng, lãnh thổ đượccấp có thẩm quyền phê duyệt Các đối tượng mà dự án hướng tới sản xuấtkinh doanh không thuộc danh mục hàng hóa cấm mà pháp luật qui định Khitiến hành thẩm định cần xem xét các yếu tố pháp lý thông qua các văn bản
Trang 19của các cơ quan nhà nước như quyết định thành lập, giấy phép đầu tư, quyếtđịnh phê duyệt thiết kế, các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện dự án như kếtquả thăm dò địa chất, môi trường, giấy phép khai thác tài nguyên
1.2.2.2 Thẩm định kỹ thuật của dự án đầu tư
Trong khi xây dựng dự án việc nghiên cứu kỹ thuật công nghệ của dự
án đầu tư có vị trí quan trọng Đây là tiền đề cho việc tiến hành nghiên cứu vềkinh tế - tài chính của các dự án đầu tư Không có số liệu của nghiên cứu kỹthuật, công nghệ thì không thể tiến hành nghiên cứu kinh tế - tài chính tuyrằng các thông số kinh tế có ảnh hưởng đến các quyết định về mặt kỹ thuật.Các dự án không khả thi về mặt kỹ thuật phải được bác bỏ để tránh những tổnthất trong quá trình thực hiện đầu tư và vận hành kết quả đầu tư sau này.Chính vì vậy khi thẩm định dư án đầu tư thì khâu thẩm định kỹ thuật của dự
án cũng hết sức quan trọng
Thẩm định kỹ thuật là việc thẩm định các mặt của dự án bao gồm:
- Thẩm định sự cần thiết của dự án: Xác định mức độ cần thiết của dự
án đối với doanh nghiệp, với ngành và nền kinh tế, xem xét sự phù hợpcủa
dự án với quy hoạch phát triển ngành, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đôthị
- Thẩm định quy mô của dự án: Thẩm định mức độ phù hợp giữa quy
mô, công suất sử dụng với khả năng chấp nhận sản phẩm của thị trường,với
khả năng đáp ứng vốn, khả năng cung ứng nguyên vật liệu, máy móc,
cũng như khả năng quản lý dự án của các nhà quản lý
- Thẩm định công nghệ và trang thiết bị: Thiết bị là bộ phận chủ lực của
Trang 20- Thẩm định nguồn nguyên liệu và các yếu tố đầu vào khác: Đâylà yếu
tố quan trọng nhất của dự án, quyết định đến hiệu quả đầu tư của dự án, dovậy cần có sự nghiên cứu và phân tích kỹ lưỡng và đầy đủ
- Thẩm định phương án địa điểm xây dựng: thẩm định tính hợp lý củađịađiểm xây dựng dựa trên phân tích cơ bản về điều kiện tự nhiên, xã hội,qui
hoạch ngành, vùng Kiểm tra mức độ thuận tiện về hệ thống giao thông, cơ sở
hạ tầng, mức độ đảm bảo vệ sinh môi trường, phương án xử lý chất thải, yêucầu về đền bù giải phóng mặt bằng
- Thẩm định phương án kiến trúc: mức độ đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật,
độ bền vững, việc áp dụng các quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn xâydựng
1.2.2.3 Thẩm định về mặt kinh tế - xã hội của dự án đầu tư
Bất kỳ chủ đầu tư nào khi bỏ vốn để thực hiện dự án đầu tư đều có mụctiêu chủ yếu là thu được nhiều lợi nhuận Khả năng sinh lợi của một dự án làthước đo chủ yếu để thu hút các nhà đầu tư, mức sinh lợi càng cao thì sức hấpdẫn càng lớn Tuy nhiên trong thực tế không phải dự án đầu tư nào có khảnăng sinh lợi lớn và mức an toàn tài chính cao thì đều có lợi ích về mặt kinh
tế, xã hội và môi trường cao Tính kinh tế của dự án đầu tư chính là những lợiích xã hội được thụ hưởng từ chính dự án đó mang lại Do đó, bất kỳ dự ánđầu tư nào cũng đều phải được thẩm định về mặt kinh tế - xã hội
Thẩm định kinh tế nhằm rà soát lại mục tiêu của dự án về các mặt kinh
tế và xã hội Mục tiêu kinh tế của dự án chính là lợi ích trực tiếp cần đạt đượccủa chủ đầu tư Mục tiêu xã hội chính là lợi ích xã hội có được do thực hiện
dự án Chẳng hạn dự án thực hiện góp phần tăng thu ngân sách nhà nước, tạocông ăn việc làm và thu nhập cho người lao động, lơi ích về môi trường haycác mục tiêu phát triển một ngành sản xuất, một địa phương nào đó Một dự
án thành công phải đảm bảo hài hòa lợi ích chung và lợi ích chính đáng của
Trang 21Đối với NHTM việc thẩm định kinh tế - xã hội của dự án là một căn cứ
để quyết định có tài trợ vốn hay không Nếu dự án không chứng minh đượccác lợi ích kinh tế - xã hội thì rất khó nhận được giấy phép đầu tư của cơ quan
có thẩm quyền và tài trợ của ngân hàng
1.2.2.4 Thẩm định tài chính của dự án
Thẩm định tài chính của dự án là việc tổ chức, xem xét, phân tích đánhgiá một cách khoa học và toàn diện mọi khía cạnh tài chính của dự án trênnhững giác độ: tính pháp lý, tính khả thi, hiệu quả và khả năng trả nợ của dự
án đầu tư nhằm đưa ra những quyết định đúng đắn nhất
Thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của NHTM là việc
tổ chức một cách khoa học, hợp lý và tiến hành xem xét khách quan, toàndiện mọi khía cạnh về tài chính liên quan đến tính khả thi của dự án từ đó đưa
ra quyết định cho vay hay không cho vay đối với chủ đầu tư dự án đó
Mục đích của thẩm định tài chính dự án đầu tư là để đánh giá kháchquan
tính khả thi về mặt tài chính của dự án, từ đó lựa chọn và không bỏ sót dự ántốt
đồng thời loại bỏ những dự án có rủi ro cao, không hiệu quả và không đảmbảo
khả năng trả nợ cho Ngân hàng Bên cạnh đó, thẩm định tài chính dự án cònđánh giá được mức độ rủi ro của dự án để tư vấn cho khách hàng những giảipháp nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động của dự án và giảm thiểu rủi ro chokhoản vay Trên cơ sở kết quả thẩm định và đánh giá mức độ rủi ro có thể đưara
các quyết định về số tiền cho vay, thời gian, lãi suất cho vay, kế hoạch thu nợvà
biện pháp bảo đảm tiền vay
Trang 22Tổng mức vốn đầu tư là toàn bộ chi phí đầu tư và xây dựng (kể cả vốnsản xuất ban đầu) và là giới hạn chi phí tối đa của dự án được xác định trongquyết định đầu tư Đây là giá trị của toàn bộ tài sản cần thiết để thiết lập vàđưa dự án vào hoạt động và là số vốn cần thiết để thực hiện dự án.
Việc thẩm định tổng vốn đầu tư là rất quan trọng nhằm tránh việc khithực hiện vốn đầu tư tăng lên hoặc giảm đi quá lớn so với dự kiến ban đầudẫn đến việc không cân đối được nguồn, ảnh hưởng đến hiệu quả và khả năngtrả nợ của dự án Cơ sở thẩm định tổng vốn đầu tư của dự án tùy thuộc vàoquy mô dự án, mức độ hiện đại của trang thiết bị và hình thức cấp vốn Theoqui định hiện nay tổng vốn đầu tư của dự án bao gồm vốn cố định, vốn lưuđộng và vốn dự phòng
Vốn cố định bao gồm chi phí chuẩn bị đầu tư, chi phí xây lắp và muasắm thiết bị và chi phí khác Chi phí chuẩn bị đầu tư là các chi phí không trựctiếp tạo ra tài sản cố định mà liên quan gián tiếp đến việc tạo ra và vận hành,khai thác các tài sản đó để đạt được mục tiêu đầu tư như chi phí điều tra, khảosát để lập dự án và trình duyệt dự án, chi phí tư vấn thiết kế dự án Chi phíxây lắp và mua sắm thiết bị như chi phí ban đầu về mặt bằng, chi phí đền bù,chi phí san lấp mặt bằng, chi phí xây dựng công trình tạm, chi phí mua sắmthiết bị, phương tiện vận tải mới Chi phí khác như chi phí quản lý dự án,chi phí đào tạo huấn luyện, chi phí thuê chuyên gia, chi phí bảo hiểm, chi phítrả lãi vay
Vốn lưu động là khoản vốn đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên sau khikết thúc giai đoạn thực hiện đầu tư huy động vào sản xuất theo các điều kiệnkinh tế kỹ thuật để đạt công suất đề ra Nhu cầu vốn lưu động cho dự án thôngthường được xác định trên cơ sở dự trù tài sản lưu động trong các năm vậnhành của dự án như nhu cầu dự trữ bình quân của các yếu tố tiền mặt, nguyênnhiên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm
Trang 23Vốn dự phòng là khoản chi phí chỉ để dự trù cho các đối tượng phátsinh do thay đổi thiết kế theo yêu cầu của chủ đầu tư được cấp có thẩm quyềnchấp thuận, đối tượng phát sinh mà không lường trước được, hay là khoản dựphòng do trượt giá trong quá trình thực hiện dự án
Việc thẩm định lại tổng mức vốn đầu tư của Ngân hàng không chỉ đơngiản là tính toán cộng trừ về mặt số học các số liệu khách hàng cung cấp màphải đánh giá mức độ tin cậy của các số liệu đó để tính toán lại nhu cầu vốnđầu tư trên quan điểm của Ngân hàng
Trên cơ sở tính toán tổng mức vốn đầu tư, vốn chủ sở hữu và vốn từ cácnguồn khác tham gia vào dự án cũng như năng lực tài chính của doanhnghiệp, Ngân hàng sẽ xác định lại nhu cầu vốn vay để thực hiện dự án
Vốn vay = Tổng nhu cầu vốn - Vốn chủ sở hữu - Vốn khác
Ngân hàng thẩm định lại tổng mức vốn đầu tư đảm bảo cho việc tài trợvốn đúng, đủ, kịp thời, tránh tình trạng tính tổng vốn đầu tư quá thấp có thểlàm cho dự án không tiến hành được hoặc tính quá cao sẽ dẫn đến phản ánhsai lệch hiệu quả tài chính của dự án, đồng vốn được sử dụng lãng phí, kémhiệu quả Tổng vốn đầu tư cần được xem xét theo từng giai đoạn của quá trìnhthực hiện dự án Đối với Ngân hàng đó là cơ sở để xác định tiến độ giải ngânphù hợp, từ đó chủ động về nguồn vốn và sử dụng vốn Bên cạnh đó, Ngânhàng còn theo dõi được các hoạt động đầu tư và đánh giá được mức độ hiệuquả của những đồng vốn đã đầu tư
Các nguồn tài trợ cho dự án bao gồm vốn chủ sở hữu, vốn vay Ngânhàng hoặc vốn huy động từ các nguồn khác Do đó, khi thẩm định cơ cấunguồn vốn đầu tư, NHTM phải phân tích tính hiện thực, tính sẵn có và tínhkhả thi của từng nguồn vốn Đối với nguồn vốn tự có cần đánh giá khả năngrút vốn cho dự án từ vốn lưu động hoặc các tài sản đã được đầu tư bằngnguồn vốn tự có, tính thanh khoản và giá trị của những tài sản này để xác định
Trang 24doanh nghiệp có vốn để bỏ vào dự án hay không Đối với nguồn vốn vay hoặchuy động khác cần xem xét các hợp đồng vay vốn hoặc cam kết tài trợ củabên thứ ba cho dự án.
Việc xem xét tính khả thi của các nguồn tài trợ là rất quan trọng vì nóảnh hưởng lớn đến hiệu quả cũng như khả năng trả nợ Ngân hàng của dự án
Việc thiếu vốn hay mất cân đối nguồn vốn hoặc không phù hợp về thờihạn có thể khiến cho một dự án có hiệu quả về mặt tài chính nhưng vẫn tiềm
ẩn rủi ro không trả được nợ cho Ngân hàng Vì thế cần xem xét, đánh giá vềtiến độ thực hiện của dự án và nhu cầu vốn hợp lý cho từng giai đoạn, đảmbảo tiến độ thi công của dự án Đây cũng là căn cứ cho Ngân hàng trong việcxây dựng kế hoạch giải ngân và thu nợ
Ngoài vốn đầu tư bỏ ra ban đầu, để vận hành dự án hàng năm cần phải
bổ sung một lượng vốn lưu động nhất định Nếu không dự kiến được mộtcách tương đối chính xác nhu cầu vốn lưu động tăng lên hàng năm và cân đốinguồn tài trợ có thể khiến cho một dự án được đánh giá là có hiệu quả nhưngtrên thực tế lại không vận hành được
Dòng tiền ra của dự án bao gồm chi phí bỏ ra để đầu tư dự án và chi phíthực hiện dự án và chi phí vận hành hàng năm
Trang 25Hầu hết các doanh nghiệp đi vay để đầu tư sản xuất kinh doanh và dòngtiền của dự án đó là dòng tiền từ hoạt động kinh doanh Khi đó dòng tiền đượcxác định như sau:
Dòng tiền hoạt động kinh doanh = Lợi nhuận sau thuế năm t + Khấu hao
TSCĐ + Lãi vay - Vốn đầu tư ban đầu.
Thông thường dòng tiền của dự án có giá trị âm trong những năm đầucủa dự án khi các khoản đầu tư ban đầu đã được thực hiện và dự án chưa thuđược nhiều lợi ích từ việc bán các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của dự án Saumột thời gian, khi sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của dự án đã được tiêu thụrộng rãi trên thị trường, dòng thu của dự án sẽ lớn hơn dòng chi phí bỏ ra vàdòng tiền của dự án sẽ dương Dòng tiền của dự án có xu hướng tăng dầntrong những năm tiếp theo của dự án
Về mặt lý thuyết, thẩm định các tiêu chuẩn tài chính là dễ dàng, tuynhiên trên thực tế việc xác định các chỉ tiêu này không đơn giản Việc xácđịnh doanh thu qua các năm khi dự án đi vào hoạt động chịu ảnh hưởng củanhiều yếu tố như tăng trưởng kinh tế, giá cả, thái độ của người tiêu dùng,phản ứng của đối thủ cạnh tranh Sai lầm trong xác định dòng tiền cụ thể sẽdẫn đến những kết luận sai về chất lượng tài chính dự án đầu tư và hậu quả làmột quyết định đầu tư sai lầm Chính vì vậy, để công tác thẩm định chấtlượng tài chính dự án đầu tư có hiệu quả, cán bộ thẩm định không chỉ đơnthuần xem xét đánh giá và tính toán các chỉ tiêu trên phương diện tài chính
mà còn tiến hành xem xét, đánh giá các yếu tố thuộc phương diện thị trường,
kỹ thuật có ảnh hưởng đến dòng tiền của dự án
- Thẩm định tỷ lệ chiết khấu (DR - Discount Rate):
Tỷ lệ chiết khấu là lãi suất sinh lời cần thiết mà nhà đầu tư yêu cầu đốivới dự án, nó cũng là cơ sở để chiết khấu các dòng tiền của dự án trong việc
Trang 26tính giá trị hiện tại Nếu dự án được tài trợ từ nhiều nguồn vốn, tỷ lệ chiếtkhấu được chọn là lãi suất trung bình rWACC:
- Thẩm định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của dự án:
Việc quyết định đầu tư một dự án đòi hỏi phải cân nhắc trên nhiều mặt
Để xem xét hiệu quả kinh tế của dự án có nhiều tiêu chuẩn khác nhau được sửdụng để đánh giá Thông thường khi thẩm định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quảtài chính của dự án người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau đây:
+ Chỉ tiêu giá trị hiện tại thuần (NPV - Net Present Value)
Giá trị hiện tại thuần của một dự án đầu tư là số chênh lệch giữa giá trịhiện tại của các khoản thuần do đầu tư đưa lại trong tương lai với giá trị hiệntại của vốn đầu tư bỏ ra và được xác định theo công thức sau :
t=00(1 + r )t
Bt: Thu nhập của DA năm t
Ct: Chi phí của DA năm t (bao gồm cả chi phí đầu tư, chi phí vận hành
và thuế TNDN)
n: Số năm hoạt động của DA
r: Tỷ lệ chiết khấu được chọn
Dự án được chấp nhận khi NPV ≥ 0, khi đó tổng các khoản thu của dự
án ≥ tổng các khoản chi phí sau khi đã qui đổi về mặt bằng hiện tại NPVcàng lớn thì hiệu quả tài chính càng cao, dự án càng hấp dẫn
Trang 27Dự án không được chấp thuận khi NPV < 0, khi đó tổng thu nhập của
dự án không đủ bù đắp chi phí bỏ ra
Trường hợp NPV ≥ 0 cần xem xét nếu các dự án độc lập, tức là các dự
án được lập ra để thực hiện các công việc khác nhau, do đó khi lựa chọn dự ánnày sẽ không ảnh hưởng đến dự án kia thì đều có thể chấp nhận được Trongtrường hợp các dự án thuộc loại loại trừ nhau và đều có thời gian hoạt độngnhư nhau thì dự án nào có NPV dương lớn nhất là dự án được lựa chọn
Giá trị hiện tại thuần thể hiện giá trị tăng thêm của khoản đầu tư có tínhđến yếu tố giá trị thời gian của tiền đầu tư Nó cho phép nhìn nhận hiệu quảcủa dự án xác đáng hơn, giúp cho việc đánh giá và lựa chọn dự án phù hợpvới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp Tuy nhiên, chỉ tiêu giá trịhiện tại thuần không phản ánh được mức sinh lời của đồng vốn đầu tư và mốiliên hệ giữa mức sinh lời của vốn đầu tư với chi phí sử dụng vốn
NPV phản ánh qui mô tiền lãi ròng thu được của cả đời dự án và đãđược qui đổi về hiện tại Đối với Ngân hàng, vấn đề được quan tâm là khảnăng thu hồi vốn vay đầy đủ, đúng hạn chứ không phải dòng tiền ròng suốtđời dự án Vì vậy, NPV chỉ là bước đầu đánh giá hiệu quả của dự án, khôngphải là yếu tố quyết định đối với việc tài trợ dự án Nhiều dự án có NPV nhỏnhưng vẫn được cho vay nếu chủ dự án có đầy đủ khả năng hoàn trả nợ vaycho Ngân hàng
+ Chỉ tiêu tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR - Internal Rate of Return)
Tỷ suất hoàn vốn nội bộ là tỷ suất chiết khấu đó làm cho giá trị hiện tạicủa các khoản thu trong tương lai do đầu tư đưa lại bằng với giá trị hiện tạicủa vốn đầu tư Như vậy, tỷ suất hoàn vốn nội bộ cũng chính là một tỷ suấtchiết khấu mà với tỷ suất chiết khấu đó làm cho giá trị hiện tại thuần của dự
án bằng không
Trang 28Thông thường IRR được tính bằng phương pháp nội suy tuyến tínhhoặc xử lý sai số Các phương pháp tính thủ công này hiện nay ít được sửdụng vì phức tạp, mất nhiều thời gian mà độ chính xác không cao Việc tínhtoán chỉ tiêu IRR được tính bằng phần mềm Excel cho kết quả nhanh và giảmđược sai số trong quá trình tính toán.
Chỉ tiêu này phản ánh lãi suất mà dự án đầu tư có thể mang lại Do vậykhi sử dụng chỉ tiêu này để đánh giá, lựa chọn thì cần so sánh với tỷ lệ chiếtkhấu hoặc so sánh với lãi suất vay vốn thay cho tỷ lệ chiết khấu Nếu IRR <chi phí sử dụng vốn thì dự án cần loại bỏ Nếu IRR = chi phí sử dụng vốn thìtùy điều kiện cụ thể và sự cần thiết của dự án mà chủ đầu tư có thể quyết địnhloại bỏ hay chấp thuận dự án Nếu IRR > chi phí sử dụng vốn, trường hợp các
dự án đầu tư độc lâp thì đều có thể chấp nhận được Nếu các dự án thuộc loạiloại trừ nhau thì không thể căn cứ trực tiếp vào IRR để lựa chọn vì dự án cóIRR lớn hơn chưa chắc đã hiệu quả hơn
Chỉ tiêu này cho phép so sánh mức sinh lời của dự án với chi phí sửdụng vốn, thấy được mối liên hệ giữa việc huy động vốn và hiệu quả sử dụngvốn trong việc thực hiện dự án đầu tư Sử dụng phương pháp này còn giúp ta
có thể tính toán được mức lãi vay cao nhất mà dự án có khả năng thanh toán.Tuy nhiên IRR lại không đề cập đến qui mô, độ lớn của dự án đầu tư vàkhông giả định đúng tỷ lệ tái đầu tư nên nhà đầu tư có thể bỏ qua những dự án
có giá trị lợi nhuận cao nhưng tỷ lệ sinh lời thấp
+ Chỉ số doanh lợi (PI - Profit Index)
Chỉ số sinh lời PI cho biết thu nhập được tạo ra từ một đồng vốn đầu tư,
do đó dự án chỉ được chấp nhận khi PI ≥ 1 Đây là một thước đo khả năngsinh lợi của dự án đầu tư có tính đến giá trị thời gian của tiền tệ PI được tínhbằng tỷ lệ giá trị hiện tại của các khoản thu nhập do đầu tư mang lại với giá trịhiện tại của vốn đầu tư Tỷ số này được tính như sau:
Trang 29PVOC: Giá trị hiện tại của các khoản chi.
Bt: Thu nhập của DA năm t
OCt: Chi phí vận hành
: Giá trị hiện tại của vốn đầu tư(1 +<y
r: Tỷ lệ chiết khấu của DA
Chỉ số PI phản ánh mối quan hệ giữa các khoản thu nhập do đầu tư đemlại và số vốn đầu tư đã bỏ ra để thực hiện dự án Ngân hàng có thể căn cứ vàochỉ số này so sánh với các dự án có vốn đầu tư khác nhau để thấy được mứcsinh lời của dự án Tuy nhiên do PI không phản ánh khối lượng lợi nhuậnròng của dự án nên nếu sử dụng chỉ số này nhiều khi dẫn đến những kết luậnkhông thỏa đáng do đó phải kết hợp chỉ tiêu này với một số chỉ tiêu khác để
có những đánh giá kết luận tổng quan hơn về dự án đầu tư
+ Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn đầu tư (Tp - The Payback period)
Thời gian hoàn vốn đầu tư là khoảng thời gian cần thiết để dự án đầu tưtạo ra dòng tiền thu nhập bằng chính số vốn đầu tư để thực hiện dự án Nóchính là khoảng thời gian để hoàn vốn đầu tư ban đầu bằng khoản lợi nhuận
và khấu hao thu được hàng năm Nếu lợi nhuận và khấu hao hàng năm nhưnhau thì thời gian thu hồi vốn đầu tư được xác định như sau:
T= K
Trang 30T: Thời gian thu hồi vốn đầu tư
K: Vốn đầu tư ban đầu
P: Lợi nhuận thu được bình quân năm
D: Khấu hao hàng năm
Nếu khấu hao và lợi nhuận ròng của các năm khác nhau, người ta tính
Tp bằng cách lấy vốn đầu tư trừ dần thu nhập mỗi năm cho đến khi thu hồihết vốn Khi số vốn đầu tư còn phải thu hồi nhỏ hơn số thu nhập của năm kếtiếp thì lấy số vốn đầu tư chưa thu hồi chia cho số thu nhập bình quân 1 thángcủa năm kế tiếp để tính ra số tháng còn phải tiếp tục thu hồi vốn đầu tư
Tp là một chỉ tiêu mà Ngân hàng rất quan tâm khi xác định thời hạn trả
nợ vốn vay Cùng với thời gian đầu tư xây dựng cần phải xác định thời hạncho vay hợp lý, phù hợp với dòng tiền của dự án Một dự án có Tp càng nhỏcàng tốt vì vốn đầu tư nhanh chóng được thu hồi để tái đầu tư Mặt khác Tpnhỏ sẽ hạn chế được rủi ro thua lỗ có thể xảy ra nhất là trong điều kiện sảnxuất kinh doanh phải chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ Trong thực tế Ngân hàngthường cho vay đúng bằng thời gian hoàn vốn đầu tư để đảm bảo khách hàng
có khả năng trả nợ, đồng thời tránh tình trạng khách hàng sử dụng nguồn trả
nợ ngân hàng để tiếp tục đầu tư, sử dụng vào mục đích khác do xác định thờigian cho vay quá dài
+ Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận bình quân vốn đầu tư
Tỷ suất lợi nhuận bình quân vốn đầu tư là mối quan hệ giữa số lợinhuận bình quân hàng năm thu được do đầu tư mang lại trong suốt thời gian
bỏ vốn đầu tư và số vốn đầu tư bỏ ra ban đầu
Số lợi nhuận bình quân hàng năm do đầu tư mang lại trong suốt thờigian đầu tư được tính theo bình quân số học kể từ lúc bắt đầu bỏ vốn đầu tưcho đến khi kết thúc dự án
Trang 31Với các dự án khác nhau, dự án nào có tỷ suất bình quân vôn đầu tư caohơn là dự án tôt hơn Chỉ tiêu này tính toán đơn giản nhưng lại chưa tính đếncác thời điểm khác nhau nhận được lợi nhuận trong tương lai của mỗi dự án.
+ Chỉ tiêu tỷ sô lợi ích và chi phí (BCR):
Chỉ tiêu tỷ sô lợi ích và chi phí đươc xác định bằng tỷ sô giữa lựi nhuậnthu được và chi phí bỏ ra Lợi nhuận và chi phí của dự án có thể tính về thờiđiểm hiện tại hoặc thời điểm tương lai Thông thường chỉ tiêu BCR được xácđịnh theo công thức sau:
Bt: Thu nhập của DA trong năm t
Ct: Chi phí của DA năm t
r: Tỷ lệ chiết khấu
PV(B): Giá trị hiện tại của các khoản thu gồm thu nhập ở các năm củaDA
PV(C): Giá trị hiện tại của các khoản chi
Dự án được chấp thuận khi B/C ≥ 1 Khi đó tổng các khoản thu của dựán
đủ để bù đắp các chi phí phải bỏ ra của dự án và dự án có khả năng sinh lợicao
Chỉ tiêu B/C được sử dụng như một tiêu chuẩn trong so sánh, lựa chọncác dự án đầu tư độc lập Trường hợp phải lựa chọn giữa các dự án xung khắcthì không thể sử dụng chỉ tiêu BCR được
- Thẩm định mức độ rủi ro của dự án :
Rủi ro là sự không chắc chắn, nó chính là sự sai biệt giá trị thực tế sovới giá trị kỳ vọng Rủi ro của dự án có thể hiểu là sự sai biệt lợi nhuận thực
Trang 32Một dự án thường có tuổi thọ từ 10 đến 50 năm Các dự án được lập vàtính toán hiệu quả tài chính trên cơ sở dự tính quá trình kinh doanh và thu lợinhuận sẽ diễn ra trong tương lai Trong nền kinh tế thị trường, các số liệu dựbáo luôn có sự biến đổi, đặc biệt là trong tương lai xa nên khả năng dự án gặpphải những rủi ro là khó tránh khỏi Trong phân tích trên, các yếu tố doanhthu và chi phí mới chỉ thể hiện một giá trị duy nhất Tính bất định và rủi rocủa dự án xảy ra khi mà tại bất kỳ một thời điểm nào của dự án thì dự án cóthể tạo ra nhiều hơn một kết quả Vì vậy, khi đánh giá và phân tích dự ánchúng ta cần xem xét các khả năng mà dự án có thể gặp phải để có biện phápphòng ngừa và hạn chế rủi ro, đảm bảo khả năng thu hồi và sinh lãi của dự án.Đặc biệt đối với ngân hàng là người cho vay thì việc các rủi ro ngoài dự kiếnxảy ra làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của dự án và có nguy cơ mất vốncủa ngân hàng Do đó, phân tích rủi ro trở nên hết sức cần thiết trong thẩmđịnh dự án Việc đánh giá được mức độ rủi ro dự án cũng là một thông tin rấtquan trọng trong việc ra quyết định đầu tư.
Để có thể dự đoán được mức độ rủi ro của dự án Ngân hàng thường sửdụng các phương pháp sau :
+ Phương pháp phân tích độ nhạy của dự án (Sensitivity Analysis)
Hiệu quả của dự án phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố được dự báotrong
khi lập dự án Đã là dự báo thì có thể có sự sai lệch nhất là những biến độngxảy
ra trong tương lai Vì vậy, khi thẩm định dự án cần phải đánh giá được sự ổnđịnh của các chỉ tiêu hiệu quả của dự án khi các nhân tố đầu vào, đầu ra của dự
án có sự biến động, nói khác đi là phải phân tích độ nhạy của dự án theo cácnhân tố biến động đó
Trong khi phân tích độ nhạy, người ta dự kiến một số tình huống thayđổi, những rủi ro trong tương lai làm cho giá nguyên vật liệu tăng, giá thuêcông nhân tăng, sản lượng và doanh thu giảm Từ đó tính lại các chi tiêu
Trang 33coi là ổn định và chấp nhận được Ngược lại dự án bị coi là không ổn địnhbuộc phải xem xét điều chỉnh tính toán lại mới đầu tư Phân tích độ nhạy của
dự án thông thường được thực hiện qua 4 bước sau:
Bước 1: Xác định xem những nhân tố nào có khả năng biến động theochiều hướng xấu, mà để xác định được xu hướng này cần căn cứ vào các sốliệu thống kê trong quá khứ, các số liệu dự báo và đặc biệt là kinh nghiệmthực tế của các chuyên gia phân tích
Bước 2: Trên cơ sở các nhân tố đã lựa chọn, dự đoán biên độ biến động
có thể xảy ra tối đa là bao nhiêu so với giá trị chuẩn ban đầu
Bước 3: Chọn một chỉ tiêu hiệu quả của dự án để đánh giá độ nhạy,chẳng hạn phân tích độ nhạy theo chỉ tiêu NPV hay IRR
Bước 4: Tiến hành xác định lại NPV và IRR theo các biến số mới, trên
cơ sở cho các biến số tăng, giảm cùng một tỷ lệ phần trăm nào đó
∆Filà mức biến động (%) của chỉ tiêu hiệu quả
∆Xilà mức biến động (%) của nhân tố ảnh hưởng
Kết quả của việc phân tích độ nhạy cho ta biết nhân tố nào trong dự áncần được nghiên cứu kỹ, cần thu thập đủ thông tin để phòng ngừa và hạn chếrủi ro xảy ra trong quá trình khai thác và vận hành dự án Tuy nhiên phươngpháp này cũng có một số hạn chế như : Khi phân tích độ nhạy không tính đếnxác suất xảy ra sự kiện, mối quan hệ tương quan giữa các biến số và việc thayđổi giá trị các biến số nhạy cảm theo một tỷ lệ phần trăm nhất định khôngphải lúc nào cũng có mối liên hệ với sự biến thiên của các biến số hiệu quảquan sát được
Trang 34+ Phương pháp phân tích tình huống (Scenario Alalysis)
Mặc dù phân tích độ nhạy là kỹ thuật phân tích rủi ro khá phổ biến, tuynhiên nó cũng có những hạn chế như đã phân tích ở trên Do đó trong thẩmđịnh rủi ro của dự án người ta còn sử dụng phương pháp phân tích tình huống.Đây là phương pháp phân tích kết hợp cả hai nhân tố là tính đến xác suất xảy
ra của các biến rủi ro và sự tác động của chính biến đó đối với dự án Trong
sự phân tích này đòi hỏi phải xét đến cả một tập hợp những tình huống tốt vàxấu từ đó so sánh với các giá trị cơ sở Tuy nhiên phương pháp phân tích nàyvẫn tồn tại một số hạn chế như không thể xác định được tất cả các trường hợpkết hợp lẫn nhau của các yếu tố và chỉ phân tích được một vài khả năng (biếncố) rời rạc, trong khi thực tế có thể có vô số khả năng kết hợp có thể xảy ragiữa các biến cố của dự án
+ Phương pháp phân tích Monter Carlo
Phương pháp phân tích này có tính đến xác suất và mối tương quanđồng thời nhận biết những tác động có thể có của một biến cố đến kết quả dự
án Nó cũng có thể xét đến sự trì hoãn hoặc các sự kiện khác có động chạmđến kết quả dự án Quan trọng hơn là nó giúp cho việc đánh giá giá trị hiện tạiròng của dự án, phân phối xác suất của kết quả và xác suất dự án thất bại Vàbằng cách xếp hạng các biến cố theo tác động của chúng đến kết quả dự án vàxác suất xảy ra, phương pháp phân tích Monter Carlo giúp cho các nhà tàichính phân tích dự án được tốt hơn và nhận diện được các biến cố cần phảitheo dõi trong quá trình vận hành dự án Ngày nay, với sự phát triển và ứngdụng của công nghệ tin học trong ngân hàng kỹ thuật phân tích Monter Carlorất tiện dụng dưới dạng các bảng tính và trở thành công cụ phân tích rủi rođược ưa chuộng của nhiều ngân hàng hiện đại trên thế giới
1.2.3 Quy trình thẩm định dự án đầu tư ngành điện tại NHCTVN
Mỗi ngành có những đặc thù khác nhau, tuy nhiên khi thẩm định dự ánđầu tư trong hoạt động cho vay của NHCTVN đều được thực hiện theo những
Trang 35quy trình nguyên lý và cơ chế đã ban hành Hiện nay, quy trình thẩm định chovay dự án đầu tư tại NHCTVN được thực hiện theo quyết định số 2207/QĐ-NHCT5 ngày 18/12/2006 về việc: Ban hành qui trình cho vay theo dự án đầu
tư của Hội đồng quản trị NHCTVN
Bước 1: Hướng dẫn, tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ vay vốn
Cán bộ tín dụng hướng dẫn khách hàng lập và hoàn thiện hồ sơ
Tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ vay vốn: cán bộ tín dụng tiếp nhận hồ sơkhách hàng, đối chiếu và kiểm tra tính xác thực, đầy đủ, hợp pháp, hợp lệ của
hồ sơ Nếu hồ sơ đủ cán bộ sẽ báo cáo lãnh đạo và thực hiện các bước tiếptheo, nếu hồ sơ còn thiếu yêu cầu khách hàng bổ sung hoàn thiện cho đến khiđầy đủ Nhận hồ sơ khách hàng có phiếu giao nhận
Sau khi tiếp nhận hồ sơ, cán bộ thẩm định tiến hành thu thu thập thôngtin từ CIC bao gồm các thông tin về khách hàng, quan hệ tín dụng của khác hhàng tại các tổ chức tín dụng tính đến thời điểm gần nhất
Hồ sơ khách hàng được gửi đến phòng quản lý rủi ro, và tiến hành thẩmđịnh tín dụng độc lập nếu cần thiết theo quy định của tổng giám đốc, các tàiliệu gửi đến phòng quản lý rủi ro bao gồm: hồ sơ pháp lý khách hàng, hồ sơ
dự án đầu tư, hồ sở tài sản đảm bảo, các báo cáo tài chính Trong thời hạn tối
đa 2 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, phòng quản lý rủi ro xem xét
hồ sơ và đề nghị phòng khách hàng bổ sung các hồ sơ, thông tin liên quan cònthiếu Sau đó phòng khách hàng làm việc lại với khách hàng để bổ sung hồ sơ
và giải thích các vấn đề, thông tin còn chưa rõ
Bước 2: Thẩm định những nội dung cần thiết
Căn cứ vào các tài liệu do khách hàng, các chi nhánh cung cấp, thôngtin thu thập được được thông qua quá trình phỏng vấn, kiểm tra và các nguồnthông tin khác (CIC, cơ quan quản lý doanh nghiệp ) các cán bộ thẩm địnhtiến hành thẩm định các nội dung:
Thẩm định về khách hàng vay vốn: Dựa trên hồ sơ vay vốn của khách
Trang 36hàng và các thông tin liên quan, cán bộ thẩm định sẽ thẩm định khách hàngvay vốn bao gồm:
Thẩm định tư cách và năng lực pháp lý, năng lực điều hành và năng lựcquản lý kinh doanh, mô hình tổ chức bố trí lao động trong doanh nghiệp
Phân tích, đánh giá tình hình hoạt động và khả năng tài chính, xem xétquan hệ tín dụng của doanh nghiệp với các tổ chức tín dụng khác cả trong quákhứ và hiện tại
Thẩm định dự án đầu tư bao gồm thẩm định về hồ sơ pháp lý của dự án,
sự cần thiết của dự án, mục tiêu của dự án, về nhu cầu thị trường, phươngdiện kỹ thuật, phương án sản xuất kinh doanh của dự án, phương án địa điểm,
kế hoạch triển khai dự án và thẩm định phương diện kinh tế tài chính và khảnăng trả nợ
Thẩm định về biện pháp bảo đảm tiền vay: Dựa trên hồ sơ tài sản đảmbảo, cán bộ thẩm định tiến hành thẩm định tài sản bảo đảm tiền vay tùy thuộcvào biện pháp nhận bảo đảm Đối với các tài sản đảm bảo khó định giá cáccán bộ thẩm định có thể thuê tư vấn - bên thứ 3 để có thể định giá chính xáccác tài sản đó, đảm bảo độ an toàn cho khoản vay của ngân hàng
Cán bộ phòng quản lý rủi ro sẽ tiến hành thẩm định rủi ro tín dụng Từ
hồ sơ khách hàng sẽ phát hiện dấu hiệu rủi ro, đánh giá mức độ rủi ro và đềxuất biện pháp giảm thiểu rủi ro tương ứng và chịu trách nhiệm về các đề xuấtcủa mình
Xác định mức lãi suất cho vay hợp lý
Cán bộ thẩm định tiến hành đánh giá khả năng về nguồn vốn nhằm mụcđích cân đối lại nguồn vối đối với những khoản vay có quy mô lớn và bêncạnh đó đưa ra mức ước tính về khả năng chuyển đổi sang ngoại tệ đối vớinhững khoản vay thanh toán nước ngoài
Từ những đánh giá về nguồn vốn, các thông tin cần thiết kết hợp vớicác phương pháp phân tích các cán bộ thẩm định phải đưa ra được mức lãi
Trang 37suất cho vay phù hợp với mỗi khoản vay để các cấp lãnh đạo xem xét, đánhgiá, phê duyệt và thông qua.
Bước 3: Lập tờ trình thẩm định
Sau khi đã đánh giá, xem xét các nội dung cần thiết các cán bộ thẩm địnhtiến hành lập tờ trình thẩm định theo biểu mẫu số MS06/TTTD- quy định vềcho vay đối với khách hàng là tổ chức kinh tế của hệ thống NHCT Việt Nam.Trong quá trình tiến hành lập tờ trình thẩm định các cán bộ thẩm định cũng cóthể tham khảo ý kiến tham gia của các cá nhân, các phòng ban khác để đảmbảo thông tin và các phân tích được chính xác, đầy đủ Tùy theo từng dự án
cụ thể các cán bộ thẩm định sẽ linh hoạt trong việc lựa chọn những nội dungchính, quan trọng để thê hiện rõ hiệu quả tài chính cũng như khả năng trả nợ(những yếu tố có tính chất quyết định của các khoản vay) của khách hàngtrong tờ trình thẩm định
Bước 4: Kiểm soát và trình duyệt tờ trình thẩm định
Khi hoàn thành xong tờ trình thẩm định các cán bộ thẩm định có nhiệm
vụ chuyển cho lãnh đạo phòng khách hàng kiểm soát và trình duyệt tờ trình.Lãnh đạo các phòng khách hàng có nhiệm vụ:
Kiểm tra, rà soát hồ sơ trình và nội dung thẩm định của các cán bộ thẩmđịnh đồng thời yêu cầu các cán bộ thẩm định chỉnh sửa và làm rõ các nộidung còn thiếu
Trình tờ trình thẩm định cũng như các hồ sơ liên quan đến khoản vaytheo quy định lên người có thẩm quyền quyết định cho vay đồng thời chuyển
1 bản sao tờ trình thẩm định và hồ sơ khoản vay cho phòng quản lý rủi ro đểthực hiện thẩm định, tái thẩm định rủi ro tín dụng độc lập
Bước 5: Thẩm định rủi ro tín dụng độc lập và trình duyệt báo cáo kết quả thẩm định rủi ro tín dụng
Các cán bộ phòng quản lý rủi ro tín dụng sau khi nhận được tờtrình thẩm định và hồ sơ vay vốn tiến hành thực hiện:
Trang 38Nghiên cứu hồ sơ qua đó đánh giá, phân tích phát hiện các dấuhiệu rủi ro, đánh giá mức độ rủi ro và đề xuất biện pháp giảm thiểu rủi
ro, đồng thời chịu trách nhiệm với các đề xuất của mình
Cán bộ quản lý rủi ro lập báo cáo kết quả thẩm định theo biểumẫu số MS09/BCRR - quy định về cho vay đối với khách hàng là tổchức kinh tế của hệ thống NHCT Việt Nam và trình lãnh đạo phòngquản lý rủi ro xét duyệt và thông qua
Sau đó lãnh đạo phòng quản lý rủi ro xem xét, đánh giá yêu cầucác cán bộ sửa đổi, bổ sung những chỗ còn thiếu và chuyển lại cho cáccấp có thẩm quyền ra quyết định cho vay thông qua
Bước 6: Tái thẩm định khoản vay
Tổ tiến hành tái thẩm định sẽ có ít nhất là 2 cán bộ trong đó không cóngười nào đã tham gia thẩm định lần đầu Các thành viên trong tổ này sẽ đượccác lãnh đạo đích thân chỉ định Trong quá trình tái thẩm định, tổ tái thẩmđịnh sẽ thực hiện tái thẩm định lại toàn bộ nội dung của hồ sơ vay vốn, tờtrình thẩm định và thẩm định rủi ro tín dụng sau đó sẽ ghi rõ ý kiến của mìnhvào tờ trình tái thẩm định trình lên các cấp có thẩm quyền xem xét
Thời gian tái thẩm định là không quá 5 ngày đối với những khoản vaytrung, dài hạn và không quá 3 ngày đối với các khoản vay ngắn hạn và thờigian này không được tính vào thời gian cho thẩm định lần đầu
Bước 7: Xét duyệt khoản vay
Người có thẩm quyền quyết định cho vay (có thể là giám đốc chi nhánh)sau khi có trong tay đầy đủ hồ sơ và các tờ trình thẩm định của khoản vay sẽtiến hành:
Yêu cầu bộ phận thẩm định thuộc phòng khách hàng, phòng giao dịch bổsung hồ sơ, thông tin và giải trình thêm các nội dung còn chưa rõ
Kiểm tra toàn bộ hồ sơ khoản vay và tờ trình thẩm định, phải có đầy đủchữ ký của lãnh đạo phòng khách hàng, phòng quản lý rủi ro sau đó ghi ý kiến
Trang 39đồng ý cho vay hay không đồng ý cho vay và các điều kiện (nếu có) vào tờtrình thẩm định cho vay.
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ quy trình thẩm định dự án đầu tư
Trang 401.3CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH
DỰ ÁN ĐẦU TƯ NGÀNH ĐIỆN CỦA NHTM
Nhìn chung việc thẩm định một dự án được coi là có chất lượng khiviệc thẩm định đó đạt được các mục tiêu thẩm định của Ngân hàng đồng thờithỏa mãn được yêu cầu của doanh nghiêp Ta có thể hiểu khái quát “Chấtlượng thẩm định dự án đầu tư là biểu hiện mức độ chính xác, khách quan, hợp
lý và linh hoạt trong việc đánh giá hiệu quả của dự án đầu tư”
Chất lượng thẩm định dự án đầu tư chịu ảnh hưởng của rất nhiều cácnhân tố chủ quan và khách quan Để nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu
tư cần phải nghiên cứu, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đó
1.3.1 Nhân tố chủ quan
Đây là những nhân tố nội tại của Ngân hàng, ảnh hưởng của các nhân tốnày tới chất lượng thẩm định dự án mang tính chất quyết định vì Ngân hàngtiến hành thẩm định dự án và kết quả của nó ảnh hưởng trực tiếp đến cácquyết định chấp thuận tài trợ cho dự án
Một là, tổ chức công tác thẩm định
Công tác thẩm định được thực hiện bởi nhiều công đoạn và có sự phốikết hợp của nhiều người, nhiều bộ phận khác nhau Do đó, để đạt được hiệuquả cao đòi hỏi phải có sự tổ chức quản lý chặt chẽ, khoa học trên cơ sở phâncông trách nhiệm cho từng cán bộ thẩm định đúng với khả năng và trình độchuyên môn và có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ