Theo COSO 1992-2013: “KSNB là một quá trình do nhà quản lý, Hội đồng quản trị và các nhân viên của một đơn vị chi phối, được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện 3
Trang 2HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
Lương Thị Thanh Huyền
HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIAO NHẬN VẬN TẢI HÀNG HÓA
TOÀN CẦU HP
Hà Nội - 2017
Trang 3HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
Lương Thị Thanh Huyền
HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIAO NHẬN VẬN TẢI HÀNG HÓA
TOÀN CẦU HP Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Thanh Thủy
Hà Nội - 2017
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU 4
DANH MỤC SƠ ĐỒ 5
LỜI MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢNVỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ 8
1.1. Khái niệm và vai trò Kiểm soát nội bộ 8
1.1.1. Khái niệm Kiểm soát nội bộ 8
1.1.2. Vai trò Kiểm soát nội bộ 13
1.2. Các thành phần của KSNB 14
1.2.1. Môi trường kiểm soát 15
1.2.2. Quy trình đánh giá rủi ro 21
1.2.3. Hoạt động kiểm soát 23
1.2.4. Hệ thống thông tin và trao đổi thông tin 26
1.2.5. Giám sát các kiểm soát 28
1.3. Các nguyên tắc thiết kế Kiểm soát nội bộ 29
1.3.1. Nguyên tắc phân công, phân nhiệm 29
1.3.2. Nguyên tắc bất kiêm nhiệm 30
1.3.3. Nguyên tắc phê chuẩn, ủy quyền 31
1.4. Các hạn chế của Kiểm soát nội bộ 33
1.5. Bài học kinh nghiệm khi xây dựng và hoàn thiện Kiểm soát nội bộ tại các Doanh nghiệp Việt Nam 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIAO NHẬN VẬN TẢI HÀNG HÓA TOÀN CẦU HP 37
2.1. Tổng quan về Công ty Cổ phần giao nhận vận tải hàng hóa toàn cầu HP 37 2.1.1. Khái quát sự hình thành và phát triển của Công ty 37
2.1.2 Tổ chức bộ máy của Công ty 39
2.2 Thực trạng kiểm soát nội bộ tại Công ty 41
Trang 5bên thứ ba
2.2.1 Môi trường kiểm soát 41
2.2.2. Quy trình đánh giá rủi ro 49
2.2.3 Hoạt động kiểm soát 60
2.2.4 Hệ thống thông tin và trao đổi thông tin 64
2.2.5. Giám sát các kiểm soát 67
2.3. Đánh giá chung về kiểm soát nội bộ tại Công ty 68
2.3.1. Ưu điểm 68
2.3.2. Hạn chế 69
2.3.3 Nguyên nhân 72
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 73
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIAO NHẬN VẬN TẢI HÀNG HÓA TOÀN CẦU HP 74
3.1. Định hướng phát triển của Công ty 74
3.1.1 Định hướng và mục tiêu phát triển chung 74
3.1.2 Định hướng hoàn thiện công tác Kiểm soát nội bộ 78
3.2. Sự cần thiết phải hoàn thiện 78
3.3. Giải pháp về hoàn thiện Kiểm soát nội bộ tại Công ty 79
3.3.1. Môi trường kiểm soát 79
3.3.2. Quy trình đánh giá rủi ro 89
3.3.3. Giải pháp hoàn thiện hoạt động kiểm soát 90
3.3.4. Giải pháp hoàn thiện hệ thống thông tin và trao đổi thông tin 94
3.3.5. Giám sát các kiểm soát 95
3.4. Kiến nghị 96
3.4.1 Kiến nghị với Ban Giám đốc 96
3.4.2 Kiến nghị với các phòng ban 97
3.4.3 Kiến nghị với Nhà Nước 98
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 100
KẾT LUẬN 101
PHỤ LỤC 102
DANH MỤC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp Doanh thu năm 2014, 2015 và 2016 41
Bảng 2.2: Quy trình đối với dịch vụ bán hàng 50
Bảng 2.3 Quy trình đối với dịch vụ mua hàng 54
Bảng 3.1 Thông báo tuyển dụng 81
Bảng 3.2 Phiếu đánh giá nhân viên 82
Bảng 3.3 Quy định hình thức xử lý các hành vi vi phạm 85
Bảng 3.4 Bảng mô tả công việc 87
Bảng 3.5 Bảng mô tả công việc 88
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức Công ty Cổ phần giao nhận vận tải hàng hóa quốc tếtoàn cầu HP 40
Sơ đồ 2.2: Quy trình thanh lý hợp đồng và thu tiền 52
Sơ đồ 2.3 Quy trình thanh toán 55
Sơ đồ 2.4 Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán Công ty Cổ phần giao nhận vận tải
hàng hóa quốc tế toàn cầu HP 64
Sơ đồ 2.5 Quy trình luân chuyển chứng từ kế toán 65
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Kiểm soát nội bộ (KSNB) được đánh giá là một công cụ hữu ích của nhàquản lý điều hành thực hiện các chiến lược Trong xu hướng hội nhập nền kinh tếquốc tế, sự cạnh tranh trên thị trường toàn cầu ngày càng khốc liệt, áp lực suy thoái
và những khó khăn nhiều chiều từ nền kinh tế, các doanh nghiệp ngày càng nhậnthức được vai trò của KSNB trong quản lý và điều hành doanh nghiệp Kiểm soátnội bộ vững mạnh sẽ đem lại cho doanh nghiệp các lợi ích như: Giảm bớt nguy cơrủi ro tiềm ẩn trong sản xuất kinh doanh (sai sót vô tình gây thiệt hại, các rủi ro làmchậm kế hoạch, tăng giá thành, giảm chất lượng sản phẩm ), bảo vệ tài sản tránh bị
hư hỏng, mất mát do hao hụt, gian lận, lừa gạt, trộm cắp, đảm bảo tính trung thực vàhợp lý của các số liệu kế toán và báo cáo tài chính (BCTC), đảm bảo mọi thành viêntuân thủ nội quy, quy chế, quy trình hoạt của tổ chức cũng như các quy định củaluật pháp, đảm bảo tổ chức hoạt động hiệu quả, sử dụng tối ưu các nguồn lực và đạtđược mục tiêu đặt ra KSNB còn có ảnh hưởng rất lớn đến niềm tin của các cổđông, các nhà đầu tư về sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Kiểm soát nội bộyếu kém thì việc đạt được các mục tiêu mà doanh nghiệp (DN) đặt ra là rất khókhăn
Xuất phát từ những lý do trên, hoàn thiện KSNB trở thành vấn đề có tính cấpbách trong quản lý tại các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các Doanh nghiệptrong ngành vận tải hàng hóa nói riêng, có ý nghĩa về cả lý luận lẫn thực tiễn tronggiai đoạn hiện nay ở Việt Nam Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, tôi
đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện Kiểm soát nội bộ tại Công ty cổ phần giao nhận vận tải hàng hóa Toàn cầu HP” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình.
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về KSNB tại các Doanh nghiệp Việt Nam.
- Phân tích, đánh giá thực trạng KSNB tại Công ty cổ phần giao nhận vận tải
hàng hóa Toàn cầu HP (HPW Cargo.,JSC)
- Đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của KSNB tại Công ty.
Trang 113 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Lý thuyết và thực trạng kiểm soát nội bộ tại Công ty
cổ phần giao nhận vận tải hàng hóa toàn cầu HP
- Phạm vi nghiên cứu:
tại Công ty HPW Cargo”
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp so sánh: so sánh khuôn khổ mô hình lý thuyết theo Chuẩn mực
kiểm toán việt nam (VSA 315) với mô hình kiểm soát nội bộ đang áp dụngtại Công ty
- Phương pháp khảo sát: tiến hành khảo sát thực tế công tác KSNB tại Công ty
từ cán bộ quản lý đến các nhân viên ở các phòng ban để tìm hiểu thực trạngKSNB tại Công ty
- Phương pháp phân tích: nghiên cứu và tìm hiểu thực trạng KSNB tại Công ty
nhằm nắm bắt rõ ràng và cụ thể những ưu điểm và nhược điểm của KSNB tạiCông ty, từ đó đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện KSNB
5 BỐ CỤC LUẬN VĂN
Ngoài lời mở đầu, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về Kiểm soát nội bộ
Chương 2: Thực trạng Kiểm soát nội bộ tại Công ty Cổ phần giao nhận vậntải hàng hóa Toàn cầu HP
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ và định hướng phát triểntại Công ty Cổ phần giao nhận vận tải hàng hóa Toàn cầu HP
Trang 12CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ
1.1.1 Khái niệm Kiểm soát nội bộ
Khái niệm ban đầu của kiểm soát nội bộ được sử dụng vào đầu thế kỷ 20trong các tài liệu về kiểm toán Từ thập niên 1940, các tổ chức kiểm toán nội bộHoa Kỳ đã xuất bản một loạt các báo cáo, hướng dẫn và tiêu chuẩn về tìm hiểuKSNB trong các cuộc kiểm toán
Đến thập niên 1970, KSNB được quan tâm đặc biệt trong các lĩnh vực thiết
kế hệ thống và kiểm toán, chủ yếu hướng vào cách thức cải tiến KSNB và vận dụngtrong các cuộc kiểm toán Đạo luật chống hành vi hối lộ ở nước ngoài vào năm
1977, các báo cáo của Cohen Commission và FEI (Financial Executive Institute)đều đề cập đến việc hoàn thiện hệ thống kế toán và KSNB Ủy ban chứng khoánHoa Kỳ (SEC) cũng đưa ra các điều luật bắt buộc các nhà quản trị phải báo cáo vềKSNB của tổ chức Năm 1979 Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa kỳ (AICPA)
đã thành lập một ủy ban tư vấn đặc biệt về kiểm toán nội bộ nhằm đưa ra các hướngdẫn về việc thiết lập và đánh giá KSNB
Giai đoạn từ năm 1980 đến 1985, Hiệp hội kế toán viên công chức Hoa kỳ đãtiến hành sàng lọc, ban hành và sửa đổi các chuẩn mực về sự đánh giá của kiểmtoán viên độc lập về KSNB và báo cáo về KSNB Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ(IIA) cũng ban hành chuẩn mực và hướng dẫn kiểm toán viên nội bộ về bản chấtcủa kiểm soát và vai trò của các bên liên quan trong việc thiết lập, duy trì và đánhgiá KSNB
Từ năm 1985 về sau, sự quan tâm tập trung vào KSNB càng mạnh mẽ hơn
Vì thế Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận khi lập Báo cáotài chính (COSO) đã được thành lập nhằm nghiên cứu KSNB:
- Thống nhất định nghĩa về KSNB để phục vụ cho nhu cầu của các đối tượng
khác nhau
Trang 13- Cung cấp đầy đủ một hệ thống tiêu chuẩn để giúp các đơn vị có thể đánh giá
KSNB để tìm giải pháp hoàn thiện
Báo cáo COSO năm 1992 đã tạo lập một nền tảng lý luận cơ bản về KSNB.Trên cơ sở đó, hàng loạt các nghiên cứu về KSNB ở nhiều lĩnh vực ra đời như:
- Phát triển theo hướng quản trị: năm 2001, COSO nghiên cứu hệ thống quản
trị rủi ro doanh nghiệp Hệ thống này được công bố vào tháng 7 năm 2003 vàchính thức ban hành vào năm 2004
- Phát triển theo hướng chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể: Báo cáo
Basle 1998 của Ủy ban Basle các Ngân hàng Trung ương công bố về khuônkhổ KSNB trong Ngân hàng, dựa vào lý luận cơ bản của báo cáo COSO1992
- Phát triển theo hướng quốc gia: nhiều quốc gia trên thế giới có khuynh
hướng xây dựng một khuôn khổ lý thuyết riêng về KSNB Điển hình là Báocáo COCO 1995 (Canada), Báo cáo Turnbull 1999 (Anh) Các báo cáo nàykhông có sự khác biệt lớn so với Báo cáo COSO 1992
Theo COSO (1992-2013): “KSNB là một quá trình do nhà quản lý, Hội đồng
quản trị và các nhân viên của một đơn vị chi phối, được thiết lập để cung cấp một
sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện 3 mục tiêu:
• Báo cáo Tài chính đáng tin cậy
• Các luật lệ, quy định được tuân thủ
• Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả ”
Theo Chuẩn mực kiểm toán quốc tế (ISA 315) do Liên đoàn kế toán quốc tế
(The International Federation of Accountant - IFAC) ban hành thì: “KSNB là kế
hoạch của đơn vị và toàn bộ các phương pháp, các bước công việc mà các nhà quản lý doanh nghiệp tuân theo Kiểm soát nội bộ trợ giúp cho các nhà quản lý đạt được mục tiêu một cách chắc chắn theo trình tự và kinh doanh có hiệu quả kể cả việc tôn trọng các quy chế quản lý; giữ an toàn tài sản, ngăn chặn, phát hiện sai phạm và gian lận; ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác, lập báo cáo tài chính kịp thời, đáng tin cậy”.
Trang 14COSO nhìn nhận kiểm soát nội bộ khá toàn diện, đây cũng là khái niệm đượcchấp nhận rộng rãi trên thế giới COSO nhấn mạnh vào bốn nội dung căn bản đó là:quá trình, con người, đảm bảo hợp lý và mục tiêu được cụ thể.
- Kiểm soát nội bộ là một quá trình, bởi tất cả các hoạt động của một đơn vị
đều phải thông qua một chuỗi các quá trình từ lập kế hoạch, thực hiện vàgiám sát Để đạt được mục tiêu mong muốn, các đơn vị phải kiểm soát đượchoạt động của mình, các hoạt động này được diễn ra hằng ngày và được hiệndiện trong mọi bộ phận, gắn chặt vào hoạt động của một tổ chức và là nộidung cơ bản trong các hoạt động của tổ chức
- Kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành bởi con người như: Hội đồng
quản trị, Ban Giám đốc, nhà quản lý (NQL) và các nhân viên trong đơn vị.Kiểm soát nội bộ là công cụ của nhà quản lý chứ không thay thế cho quản lý.Con người sẽ vạch ra mục tiêu đưa ra các biện pháp kiểm soát và vận hànhchúng Mỗi thành viên tham gia trong một tổ chức với những khả năng, kinhnghiệm, kiến thức khác nhau Việc hiểu rõ, trao đổi, hành động nhiều khikhông nhất quán Do vậy để KSNB có hiệu quả thì mọi thành viên trong một
tổ chức phải hiểu rõ về trách nhiệm và quyền hạn của mình, xác định đượcmối liên hệ, nhiệm vụ, cách thức thực hiện để đạt được mục tiêu của tổ chức
- Kiểm soát nội bộ đảm bảo tính hợp lý cho nhà quản lý, điều này khẳng định
KSNB chỉ đảm bảo tính hợp lý của việc thực hiện các mục tiêu của nhà quản
lý chứ không đảm bảo tuyệt đối Bởi KSNB khi vận hành vẫn còn có nhữnghạn chế vốn có như: sai lầm của con người khi đưa ra quyết định, sự thôngđồng của các cá nhân, sự lạm quyền của nhà quản lý Hơn nữa một nguyêntắc cơ bản trong quản lý là chi phí cho quá trình kiểm soát không thể vượtquá lợi ích được mong đợi từ quá trình kiểm soát đó Có rất nhiều mục tiêukiểm soát nội bộ cần đạt tới đó là: Mục tiêu về thông tin (tính trung thực vàđáng tin cậy của báo cáo tài chính); Mục tiêu tuân thủ (tuân thủ pháp luật vàcác qui định); Mục tiêu an toàn hoạt động (bảo vệ tài sản của Doanh nghiệp);Mục tiêu hoạt động (sự hữu hiệu và hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực)
Trang 15- Kiểm soát cần thiết trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người, tổ chức
cũng như trong toàn bộ xã hội và có liên quan mật thiết với quản lý Đíchcuối cùng mà quá trình quản lý hướng tới là việc đạt được mục tiêu đã đặt ratrong một khuôn khổ đơn vị nhất định Việc thực hiện các kế hoạch luôn phảiđối mặt với những thay đổi của môi trường bên trong và bên ngoài doanhnghiệp Nếu không có kiểm soát, nhà quản lý sẽ không có thông tin để đưa racác quyết định thích hợp nhằm thích ứng với môi trường, vì vậy khó có thểthực hiện các mục tiêu đặt ra Chính vì vậy nghiên cứu và thực hiện kiểmsoát hiệu quả luôn là nội dung gắn liền với quản lý
Nhằm theo kịp xu hướng quốc tế, ngày 06/12/2012, Bộ tài chính đã tái cơcấu và ban hành mới hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam Theo Chuẩn mực
do Ban Quản trị, Ban Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện
và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan Thuật ngữ kiểm soát được hiểu là bất cứ khía cạnh nào của một hoặc nhiều thành phần của kiểm soát nội bộ ”.
Như vậy, về mặt định nghĩa có sự tương đồng giữa COSO 2013 và VSA.Tuy nhiên, COSO cho rằng KSNB là quy trình chịu ảnh hưởng từ Hội đồng quản trị
và nhà quản lý trong khi VSA cho rằng KSNB lại là quy trình mà Hội đồng quản trịthiết kế, thực hiện và duy trì
Theo COSO 2013 kiểm soát nội bộ bao gồm:
- Môi trường kiểm soát
- Đánh giá rủi ro
- Các hoạt động kiểm soát
- Thông tin và truyền thông
- Các hoạt động giám sát
Theo VSA 315 kiểm soát nội bộ bao gồm:
Trang 16- Môi trường kiểm soát
- Quy trình đánh giá rủi ro
- Hệ thống thông tin và trao đổi thông tin
- Hoạt động kiểm soát
- Giám sát các kiểm soát
về cơ bản, thành phần của KSNB theo định nghĩa của COSO và VSA đềutương đối giống nhau Tuy nhiên VSA tập trung chủ yếu vào các thành phần có liênquan đến cuộc kiểm toán báo cáo tài chính, trong khi đó COSO lại đưa ra quanđiểm dựa trên KSNB nói chung của các doanh nghiệp
Trong quá trình phát triển nhanh và mạnh của nền kinh tế hiện nay, hầu hếtcác doanh nghiệp đều mong muốn có thể vượt qua được sự cạnh tranh và hướngđến việc đạt được một sự tăng trưởng nhất định trong sản xuất kinh doanh Với bốicảnh nền kinh tế mở và có nhiều biến cố cũng như cơ hội từ khách quan đến chủquan tác động thì vấn đề tầm nhìn chiến lược trong kinh doanh được xem là yếu tốthen chốt quyết định sự thành bại của doanh nghiệp Thiếu tầm nhìn chiến lượctrong kinh doanh là một trong những hậu quả dẫn đến việc thua lỗ của doanh nghiệpViệt Nam hiện nay Tuy nhiên, thực tế hiện nay nhiều doanh nghiệp trong nướcchưa nhìn nhận được ý nghĩa của vấn đề này Bằng chứng là ngày càng có nhiềudoanh nghiệp bỏ qua giá trị kinh doanh cốt lõi và thay vào đó là hoạt động kinhdoanh đa ngành Hậu quả của việc này là nhiều doanh nghiệp tự bước chân vào conđường không có lối thoát khi không có sự chuẩn bị và am hiểu về môi trường kinhdoanh mới Vấn đề nằm ở chính năng lực và chiến lược của chính doanh nghiệpViệt Nam đang thiếu tầm nhìn và tư duy chiến lược Nên khi đầu tư trái ngành họkhông thể phân bố nguồn lực hợp lý, dẫn đến không hiệu quả và thua lỗ Ở đây,trách nhiệm lớn nhất thuộc về tầm nhìn chiến lược và khả năng của lãnh đạo củadoanh nghiệp, thêm vào đó, các đơn vị chưa xây dựng được cho mình những nhân
tố trong nội bộ để có thể tăng trưởng bền vững, mà một trong những vấn đề đóchính là kiểm soát nội bộ cũng như công tác giám sát những chiến lược đã đề xuất.Với những ý nghĩa trên, các doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay đã bắt đầu biết áp
Trang 17dụng những nội dung cơ bản trong hướng dẫn về kiểm soát nội bộ theo COSO 2013
và VSA 315, qua đó thiết lập cơ chế kiểm soát quá trình thi hành các chiến lượckinh doanh cũng như các mục tiêu mà đơn vị đã thiết lập
1.1.2 Vai trò Kiểm soát nội bộ
Theo VSA 315, kiểm soát nội bộ được thiết kế, thực hiện và duy trì nhằmgiải quyết các rủi ro kinh doanh đã được xác định, gây ra nguy cơ đơn vị không đạt
được một trong các mục tiêu liên quan đến:
- Độ tin cậy của quy trình lập và trình bày báo cáo tài chính (mục tiêu thông tin)
Thông tin kế toán, tài chính do bộ máy kế toán xử lý và tổng hợp là căn cứ quan trọng cho việc hình thành các quyết định của các nhà quản lý Như vậy các thông tin cung cấp phải đảm bảo tính kịp thời về thời gian, tính chính xác và tin cậy
về thực trạng hoạt động và phản ánh đầy đủ, khách quan các nội dung chủ yếu của mọi hoạt động kinh tế, tài chính.
- Việc tuân thủ pháp luật và các quy định hiện hành (mục tiêu tuân thủ).
KSNB được thiết kế trong doanh nghiệp phải đảm bảo các quyết định và chế
độ pháp lý liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải được tuân thủ đúng mức Cụ thể KSNB sẽ duy trì và kiểm tra việc tuân thủ các chính sách, quy định đến các hoạt động của Doanh nghiêp; ngăn chặn và phát hiện kịp thời cũng như xử lý các sai phạm và gian lận trong mọi hoạt động của doanh nghiêp.
- Hiệu quả và hiệu suất hoạt động (mục tiêu hoạt động bao gồm các mục tiêu
về hiệu quả hoạt động và lợi nhuận)
Các thủ tục kiểm soát trong doanh nghiệp được thiết kế nhằm ngăn ngừa sự lặp lại không cần thiết các nghiệp vụ, gây ra sự lãng phí trong hoạt động và sử dụng kém hiệu quả các nguồn lực trong doanh nghiệp.
Dưới góc nhìn của một nhà quản lý, trong doanh nghiệp cần có hai hệ thốngchạy song song Một là hệ thống đáp ứng yêu cầu kinh doanh, bao gồm các phòngban chức năng, các quy trình thủ tục, các công việc cần thiết để phục vụ cho nhu
Trang 18cầu kinh doanh của tổ chức Tuy nhiên, bất kỳ doanh nghiệp hoạt động trong lĩnhvực nào, quy trình nào thực hiện ở trên cũng đều đối diện với những rủi ro khôngngừng thay đổi, nguy cơ, hay sự cố tác động làm ảnh hưởng đến khả năng hoànthành mục tiêu đã đặt ra, và tùy theo mức độ, ảnh hưởng từ thiệt hại trong mức chấpnhận được đến nguy cơ phá sản cho doanh nghiệp Nhằm giảm các rủi ro đó ở mứcchấp nhận được, hệ thống thứ hai, Kiểm soát nội bộ, được thiết lập trên cơ sở cácbiện pháp, chính sách, thủ tục, tinh thần, giá trị, chức năng, thầm quyền của nhữngngười liên quan và trở thành một phần thiết yếu của công tác quản lý doanh nghiệpmột cách có hiệu quả Điều này sẽ giúp Ban Giám đốc đạt được các mục tiêu kinhdoanh của doanh nghiệp và ngăn chặn các hoạt động bất hợp lệ.
KSNB không chỉ là các tài liệu hướng dẫn quy trình mà nhân sự ở mọi cấpcủa tổ chức cũng phải tham gia thực hiện Đó là một quá trình được thiết kế chặtchẽ, một phương tiện để đạt được mục đích, nhưng tự nó không dừng lại ở đó vìphải đưa ra sự đảm bảo hợp lý về việc cần phải đạt được các mục tiêu kinh doanhcủa doanh nghiệp
Một KSNB yếu kém hoặc không hiệu quả sẽ đem lại rủi ro cao cho doanhnghiệp Các điểm yếu trong KSNB sẽ gây tổn thất cho doanh nghiệp về khía cạnhhoạt động và ngăn cản doanh nghiệp đạt được nhiệm vụ, mục tiêu của mình
Theo quan điểm của COSO 2013 và VSA 315, kiểm soát nội bộ bao gồm 5yếu tố:
- Môi trường kiểm soát.
- Quy trình đánh giá rủi ro.
- Hệ thống thông tin và trao đổi thông tin.
- Hoạt động kiểm soát.
- Giám sát các kiểm soát.
Trang 19Theo đó, các hoạt động diễn ra luôn phải được kiểm soát và có sự kiểm soátchặt chẽ để đảm bảo độ tin cậy về kết quả kiểm soát cho những đối tượng quan tâm,nhất là các đối tượng ở bên ngoài.
Chính vì vậy, tất cả các đơn vị được tài trợ khi lập báo cáo tài chính phảikèm theo báo cáo về kiểm soát nội bộ của đơn vị, cùng với những báo cáo kiểmtoán nội bộ và báo cáo kiểm toán độc lập của các tổ chức kiểm toán có uy tín vàdanh tiếng để có minh chứng cho việc tuân thủ và tôn trọng kiểm soát nội bộ theocác quy định đặt ra
Hiện nay, quan điểm về kiểm soát nội bộ đang bao trùm cả kiểm soát nội bộcùng với các phương tiện, thiết bị kỹ thuật, con người Phương tiện thiết bị phục vụkiểm soát càng khách quan, hiệu quả càng tin cậy Ở đâu, bộ phận kiểm soát càng
sử dụng các phương tiện thiết bị kỹ thuật hiện đại, càng hạn chế sự chi phối, tácđộng của con người thì ở đó kiểm soát có độ tin cậy cao
Về con người, người kiểm soát phải trung thực, minh bạch, có năng lực vàluôn đảm bảo được sự phát triển, đáp ứng yêu cầu kiểm soát trong các điều kiệnthay đổi Việc tổng hợp kết quả kiểm soát, phân tích, đánh giá và điều chỉnh cácchính sách, quy định, thủ tục kiểm soát sau hoạt động kiểm soát để có được nhữngkinh nghiệm, những điều chỉnh kịp thời cho những thủ tục kiểm soát tiếp theo, đemlại kết quả kiểm soát cao hơn, hiệu lực hơn, đúng với mục tiêu, mong muốn và yêucầu đặt ra là một trong những yếu tố cấu thành của kiểm soát nội bộ hiện đại ngàynay
1.2.1 Môi trường kiểm soát
Là những yếu tố của Công ty ảnh hưởng đến hoạt động của kiểm soát nội bộ
và là các yếu tố tạo ra môi trường mà trong đó toàn bộ thành viên của Công ty nhậnthức được tầm quan trọng của kiểm soát nội bộ Phản ánh sắc thái chung của đơn vị,chi phối ý thức kiểm soát của mọi thành viên trong đơn vị, là nền tảng đối với các
bộ phận khác của kiểm soát nội bộ Một môi trường kiểm soát tốt sẽ là nền tảng cho
sự hoạt động hiệu quả của kiểm soát nội bộ
Trang 20Môi trường kiểm soát bao gồm các chức năng quản trị và quản lý, các quanđiểm, nhận thức và hành động của Ban quản trị và Ban Giám đốc liên quan đếnkiểm soát nội bộ và tầm quan trọng của kiểm soát nội bộ đối với hoạt động của đơn
vị Môi trường kiểm soát tạo nên đặc điểm chung của một đơn vị, có tác động trựctiếp đến ý thức của từng thành viên trong đơn vị về công tác kiểm soát
Môi trường kiểm soát bao gồm cả yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài Cácnhân tố bên trong là thái độ và đánh giá (hành động, chế độ, thể thức) của lãnh đạo
về quá trình kiểm soát nội bộ và tầm quan trọng của hệ thống này đối với đơn vị.Các nhân tố bên ngoài là các nhân tố không chịu sự kiểm soát của các nhà quản lýnhưng lại có ảnh hưởng đến quan điểm, thái độ, phong cách điều hành cũng nhưthiết lập các thủ tục kiểm soát bao gồm: sự kiểm soát của các cơ quan chức năngcủa Nhà Nước, ảnh hưởng của chủ nợ, môi trường pháp lý, nhà đầu tư, các chínhsách kinh tế xã hội
Trong các yếu tố của môi trường kiểm soát, một Hội đồng quản trị độc lập vàtích cực có thể ảnh hưởng đến triết lý và tác phong làm việc của các thành viên BanGiám đốc Tuy nhiên, một số yếu tố khác của môi trường kiểm soát có thể chỉ cóhiệu quả hạn chế Ví dụ, các chính sách và thông lệ về nhân sự nhằm tuyển dụngcác nhân sự tài chính, kế toán và công nghệ thông tin có năng lực có thể làm giảmrủi ro sai sót trong quá trình xử lý thông tin tài chính nhưng không thể loại bỏ xuhướng Ban Giám đốc báo cáo lợi nhuận cao hơn thực tế
Một môi trường kiểm soát thỏa đáng có thể giúp giảm rủi ro do gian lậnnhưng không thể ngăn chặn hoàn toàn gian lận Ngược lại, những khiếm khuyếttrong môi trường kiểm soát có thể làm giảm hiệu quả của các kiểm soát, nhất là đốivới gian lận Ví dụ, việc Ban Giám đốc không bố trí đủ nguồn lực để xử lý các rủi
ro về an toàn công nghệ thông tin có thể gây ảnh hưởng bất lợi đến kiểm soát nội
bộ, bằng cách cho phép tạo ra những thay đổi không phù hợp trong chương trìnhmáy tính, thay đổi dữ liệu hoặc xử lý giao dịch không đúng thẩm quyền
Bản thân môi trường kiểm soát không thể tự ngăn chặn hoặc tự phát hiện vàsửa chữa một sai sót trọng yếu Tuy nhiên, môi trường kiểm soát có thể ảnh hưởng
Trang 21đến đánh giá của kiểm toán viên về tính hữu hiệu của các kiểm soát khác (ví dụ,việc giám sát các kiểm soát và sự vận hành của các hoạt động kiểm soát cụ thể) và
do đó, ảnh hưởng đến đánh giá của kiểm toán viên về rủi ro có sai sót trọng yếu
Các yếu tố cấu thành môi trường kiểm soát:
1.2.1.1 Tính chính trực và giá trị đạo đức
Tính chính trực và giá trị đạo đức là kết quả của chuẩn mực về đạo đức vàcách cư xử mà nhà quản lý đặt ra cho tất cả mọi người trong Công ty nhằm ngăncản và hạn chế nhân viên thực hiện các hành vi bị coi là phạp pháp và thiếu đạođức Tính chính trực và giá trị đạo đức bao gồm những hoạt động làm gương củangười quản lý để làm giảm và xoá bỏ những động cơ và sự cám dỗ mà có thể khiếncho các nhân viên sẽ không trung thực, phi pháp, hoặc có những hành động phi đạođức Chúng cũng bao gồm giá trị truyền đạt thông tin của một đơn vị và chuẩn mực
cư xử với nhân viên thông qua việc thiết lập các chính sách, điều lệ quản lý Ngườilãnh đạo gương mẫu, có hành vi liêm chính, đúng đắn, chuẩn mực trong việc ra cácquyết định quản lý và cư xử với nhân viên là căn cứ quan trọng để thiết lập nền nếp
mực về đạo đức đồng thời thực hiện nghiêm túc để làm gương cho toàn thể nhânviên trong Công ty
1.2.1.2 Triết lý quản lý và phong cách điều hành của nhà quản lý
Triết lý quản lý được thể hiện qua quan điểm và nhận thức của NQL Cácquan điểm và phong cách điều hành của nhà quản lý sẽ ảnh hưởng đến chính sách,chế độ và việc duy trì thực hiện chính sách đó, bởi chính họ là người thiết lập ra cácchính sách, thủ tục và phê chuẩn để áp dụng tại đơn vị Có những nhà quản lý chútrọng đến việc hoàn thành một cách nhanh chóng kế hoạch để đạt được lợi nhuận tối
đa, xem nhẹ rủi ro nên các thủ tục kiểm soát có thể xây dựng đơn giản, nhanhchóng, họ ít quan tâm đến vai trò của KSNB Nhưng cũng có nhà quản lý lại rấtthận trọng, xem xét đánh giá rủi ro, thiết lập các thủ tục kiểm soát chặt chẽ trước khiđưa ra quyết định Đặc thù về quản lý còn thể hiện ở việc phân bổ quyền lực, nếumột đơn vị tập trung quyền lực vào một người thì cần phải chú ý đến phẩm chất và
Trang 22năng lực của người đó, còn nếu đơn vị mà quyền lực phân tán cho nhiều người thìquan tâm đến việc phân quyền tránh lạm dụng quyền.
Nếu như người quản lý coi kiểm soát là quan trọng và thông qua hoạt độngcủa mình cung cấp những mệnh lệnh rõ ràng cho các nhân viên về sự quan trọngcủa kiểm soát thì những thành viên khác trong tổ chức sẽ nhận thức được điều đó và
sẽ đáp lại bằng việc tuân theo một cách cẩn thận KSNB đã được thiết lập Mặt khácnếu như những thành viên của Công ty hiểu rằng kiểm soát không phải là vấn đềquan trọng đối với người quản lý cấp cao nhất và họ không nhận được sự hỗ trợtrong công việc kiểm soát từ phía người lãnh đạo thì hầu như chắc chắn mục tiêukiểm soát của người quản lý sẽ không thể đạt được một cách hữu hiệu
Triết lý và phong cách điều hành của NQL được thể hiện qua các yếu tố điểnhình như:
- Tính chất các rủi ro kinh doanh được chấp nhận Cụ thể, các NQL sẵn sàng
dấn thân vào các dự án rủi ro các hay có thái độ bảo thủ với việc chấp nhậnrủi ro
- Sự tương tác thường xuyên giữa quản lý cấp cao và các trưởng phó phòng
ban, hay các văn phòng đại diện ở tỉnh khác
- Thái độ và hành động đối với BCTC, bao gồm cả các thảo luận về ứng dụng
các cách xử lý kế toán
Một khía cạnh khác của cách thức điều hành là công tác kế hoạch Hệ thống
kế hoạch trong đơn vị thường bao gồm: kế hoạch sản xuất, kinh doanh; kế hoạchtiêu thụ; kế hoạch khai thác, chăm sóc khách hàng; kế hoạch cung ứng nguyên vậtliệu; kế hoạch đầu tư; kế hoạch tài chính; kế hoạch giá thành Kế hoạch là mục tiêu
để phấn đấu, là căn cứ để ra các quyết định quản lý, đánh giá kết quả công việc vàquan trọng là căn cứ kiểm soát các hoạt động của đơn vị, như kiểm soát thực hiện
kế hoạch doanh thu, kiểm soát chi phí thực tế theo doanh thu thực hiện Hệ thống kếhoạch được xây dựng tốt thể hiện cách thức điều hành khoa học của người quản lýDoanh nghiệp
1.2.1.3 Cách thức thiết lập quyền hạn và trách nhiệm
Trang 23Phân định quyền hạn và trách nhiệm được xem là phần mở rộng của cơ cấu
tổ chức, nó cụ thể hóa quyền hạn và trách nhiệm của từng thành viên trong các hoạtđộng của đơn vị, giúp họ hiểu rằng họ có những nhiệm vụ gì và hành vi của họ sẽảnh hưởng đến tổ chức như thế nào Cần phải thiết lập cơ cấu tổ chức trên toàn bộhoạt động của đơn vị, có sự độc lập tương đối giữa các bộ phận, tránh chồng chéo,
bỏ trống Trong quá trình thực hiện công việc tạo ra khả năng kiểm tra và kiểm soátlẫn nhau
1.2.1.4 Chính sách nguồn nhân lực
Chính sách nhân sự là toàn bộ các là toàn bộ các phương pháp quản lý nhân
sự và các qui chế của đơn vị với các nhân viên như: qui chế chế tuyển dụng, sắpxếp, đào tạo, khen thưởng, kỷ luật và đề bạt đối với nhân viên Sự phát triển củamột đơn vị luôn gắn liền với đội ngũ nhân viên, họ là chủ thể trực tiếp thực hiện cácthủ tục kiểm soát, vì vậy nhà quản lý phải có những biện pháp đào tạo nhân viêncủa mình có đủ năng lực và phẩm chất đạo đức, bố trí họ phù hợp với công việc, vớinăng lực chuyên môn để họ có thể phát huy tối đa khả năng vào công việc KSNB
có thiết kế tốt bao nhiêu, nhưng người vận hành nó lại kém về năng lực và phẩmchất đạo đức thì KSNB cũng không thể phát huy hiệu quả
Khía cạnh quan trọng nhất của kiểm soát nội bộ là nhân sự Nếu những nhânviên có năng lực và trung thực, những nội dung kiểm soát khác có thể không có,nhưng những báo cáo tài chính tin cậy vẫn có thể đạt được kết quả Những nhânviên trung thực và làm việc hiệu quả có thể làm việc ở trình độ cao thậm chí khi chỉ
có rất ít nội dung kiểm soát hỗ trợ cho họ Thậm chí ngay cả khi có nhiều nội dungkiểm soát hỗ trợ mà những nhân viên không trung thực và không có năng lực thì họvẫn có thể lúng túng và làm giảm hiệu lực của KSNB Mặt khác cho dù nhân viên
có thể có năng lực và trung thực thì họ chắc chắn vẫn có những khuyết điểm mangtính bản năng Ví dụ như họ có thể trở nên buồn chán hoặc không hài lòng, các mốiquan hệ nhân sự có thể làm gián đoạn hoạt động của họ, hoặc mục tiêu của họ cóthể bị thay đổi Do vậy, điều rất quan trọng là Công ty phải xây dựng được chínhsách thích hợp, thỏa đáng về đánh giá, đào tạo, thăng chức và đối đãi nhân sự để có
Trang 24được những nhân viên có năng lực, đáng tin cậy trong việc tạo nên sự kiểm soát cóhiệu quả.
1.2.1.5 Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức là sự phân chia trách nhiệm và quyền hạn giữa các bộ phậntrong đơn vị, một cơ cấu phù hợp là cơ sở để lập kế hoạch, điều hành, kiểm soát vàgiám sát các hoạt động Cơ cấu tổ chức được thể hiện qua sơ đồ tổ chức, và cần phùhợp với quy mô và đặc thù hoạt động của đơn vị
Cơ cấu tổ chức của một đơn vị được hiểu như là một hệ thống trách nhiệm vàquyền lực đang tồn tại Một cơ cấu tổ chức tốt phải xác định rõ, đầy đủ chức năngnhiệm vụ của các bộ phận trong hệ thống, mối quan hệ phối hợp và sự phân chiaquyền lực và trách nhiệm rõ ràng Đối với công việc kiểm soát, phải xác định rõnhiệm vụ, quyền hạn kiểm soát của các cấp kiểm soát trong đơn vị, như nhiệm vụ,quyền hạn của phòng kế hoạch, Phòng kế toán và lãnh đạo đơn vị trong việc kiểmsoát quá trình mua vật tư nguyên liệu và xuất vật tư, nguyên liệu cho sản xuất, kinhdoanh
1.2.1.6 Sự tham gia của Ban quản trị
Ban quản trị có ảnh hưởng đáng kể đến nhận thức về kiểm soát của đơn vị.Ban quản trị có trách nhiệm quan trọng và trách nhiệm đó được đề cập trong cácchuẩn mực nghề nghiệp, pháp luật và quy định khác, hoặc trong các hướng dẫn doBan quản trị ban hành Ngoài ra, Ban quản trị còn có trách nhiệm giám sát việc thiết
kế và hiệu quả hoạt động của các thủ tục báo cáo sai phạm và các thủ tục soát xéttính hiệu quả của kiểm soát nội bộ của đơn vị
Khi tìm hiểu về sự tham gia của Ban quản trị, cần xem xét các yếu tố sau:
- Độc lập đối với Ban Giám đốc đơn vị.
- Có kinh nghiệm và vị thế.
- Mức độ tham gia của Ban quản trị, những thông tin Ban quản trị nhận được
và sự xem xét kỹ lưỡng các hoạt động
Trang 25- Tính hợp lý trong hành động của Ban quản trị, gồm mức độ phức tạp của các
câu hỏi đã được đặt ra và theo sát việc xử lý của Ban Giám đốc, và cách làmviệc của Ban Giám đốc với kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập
1.2.1.7 Cam kết về năng lực
Năng lực là kiến thức và các kỹ năng cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ thuộcphạm vi công việc của từng cá nhân Cam kết về năng lực là sự cân nhắc của BanGiám đốc về các mức độ năng lực cần đáp ứng cho mỗi nhiệm vụ cụ thể, các kỹnăng và kiến thức cần thiết tương ứng
1.2.2 Quy trình đánh giá rủi ro
Quy trình đánh giá rủi ro của doanh nghiệp hình thành nên cơ sở để BanGiám đốc xác định các rủi ro cần được quản lý Một quy trình đánh giá rủi ro phùhợp với hoàn cảnh, bản chất, quy mô và mức độ phức tạp của đơn vị có thể giúpdoanh nghiệp phát hiện được các rủi ro có sai sót trọng yếu
Không lệ thuộc vào quy mô, cấu trúc, loại hình hay vị trí địa lý, bất kỳ tổchức, doanh nghiệp nào trong quá trình sản suất kinh doanh đếu phải đối mặt với rủi
ro Những rủi ro này có thể do bản thân doanh nghiệp hay từ môi trường kinh tế,chính trị, xã hội bên ngoài tác động Đối với mọi hoạt động của đơn vị đều có phátsinh những rủi ro và khó có thể kiểm soát tất cả Vì vậy, các NQL phải đánh giá vàphân tích những nhân tố ảnh hưởng tạo nên rủi ro làm cho những mục tiêu có thểkhông đạt được và cố gắng kiểm soát để tối thiểu hóa những tổn thất do các rủi ronày gây ra
- Xác định mục tiêu của đơn vị: Mục tiêu là điều kiện tiên quyết để đánh giá
rủi ro Rủi ro ở đây được xác định là rủi ro tác động khiến cho mục tiêu đó
có khả năng không thực hiện được
- Nhận diện rủi ro: rủi ro có thể tác động đến tổ chức ở mức độ toàn đơn vị (sự
đổi mới kỹ thuật, nhu cầu khách hàng thay đổi, sự cải tiến sản phầm, chínhsách nhà nước ) hay chỉ ảnh hưởng đến từng hoạt động cụ thể (hoạt độngbán hàng, mua hàng, kế toán.) rồi liên quan đến mức độ rộng hơn NQL cóthể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau: phương tiện dự báo, phân tích dữ
Trang 26liệu, rà soát hoạt động thường xuyên Với các doanh nghiệp nhỏ, NQL có thểtiếp xúc với khách hàng, ngân hàng, các buổi họp nội bộ.
- Phân tích nguyên nhân và đánh giá rủi ro: đây là công việc khá phức tạp vì
rủi ro rất khó định lượng và có nhiều phương pháp khác nhau Một quy trìnhbao gồm: ước lượng tầm cỡ của rủi ro có thể ảnh hưởng đến mục tiêu, xemxét khả năng xảy ra rủi ro và những biện pháp có thể sử dụng đối phó với rủiro
Các rủi ro liên quan đến độ tin cậy của báo cáo tài chính bao gồm các sự kiệntrong hay ngoài đơn vị, các giao dịch hoặc các tình huống có thể phát sinh và có ảnhhưởng bất lợi đến khả năng tạo lập, ghi chép, xử lý và báo cáo dữ liệu tài chính phùhợp với các cơ sở dẫn liệu của Ban Giám đốc trong báo cáo tài chính Ban Giámđốc có thể lập các chương trình, kế hoạch hoặc hành động để xử lý những rủi ro cụthể hoặc quyết định chấp nhận rủi ro do tính đến hiệu quả kinh tế hay do xem xétcác yếu tố khác Các rủi ro có thể phát sinh hoặc thay đổi trong các tình huống như:
- Những thay đổi trong môi trường hoạt động: Những thay đổi trong môi
trường pháp lý hoặc môi trường hoạt động có thể dẫn đến những thay đổi về
áp lực cạnh tranh và các rủi ro khác nhau đáng kể
- Nhân sự mới: Những nhân sự mới có thể có hiểu biết và những trọng tâm
khác về kiểm soát nội bộ
- Hệ thống thông tin mới hoặc được chỉnh sửa: Những thay đổi quan trọng và
nhanh chóng trong hệ thống thông tin có thể làm thay đổi các rủi ro liên quanđến kiểm soát nội bộ
- Tăng trưởng nhanh: Việc mở rộng đáng kể hoạt động một cách nhanh chóng
có thể tạo áp lực đối với các kiểm soát và làm tăng rủi ro kiểm soát bị thấtbại
- Công nghệ mới: Việc áp dụng các công nghệ mới vào quá trình sản xuất
hoặc vào hệ thống thông tin có thể làm thay đổi rủi ro trong kiểm soát nội bộ
Trang 27- Các hoạt động, sản phẩm, mô hình kinh doanh mới: Việc tham gia vào các
lĩnh vực kinh doanh hoặc các giao dịch mà đơn vị có ít kinh nghiệm có thểdẫn tới những rủi ro mới liên quan đến kiểm soát nội bộ
- Tái cơ cấu đơn vị: Việc tái cơ cấu có thể dẫn đến giảm biên chế, thay đổi
quản lý hay thay đổi sự phân nhiệm làm thay đổi rủi ro liên quan đến kiểmsoát nội bộ
- Mở rộng các hoạt động ở nước ngoài: Việc mở rộng hay mua lại các hoạt
động ở nước ngoài dẫn đến các rủi ro mới và khác thường, mà có thể ảnhhưởng đến kiểm soát nội bộ Ví dụ gia tăng hoặc thay đổi các rủi ro từ cácgiao dịch ngoại tệ
- Áp dụng các quy định kế toán mới: Việc áp dụng nguyên tắc kế toán mới
hoặc thay đổi nguyên tắc kế toán có thể ảnh hưởng đến các rủi ro trong quátrình lập và trình bày báo cáo tài chính
1.2.3 Hoạt động kiểm soát
Những chính sách và những thủ tục đối phó rủi ro để đảm bảo đạt được cácmục tiêu, nhiệm vụ của đơn vị và các chỉ thị của NQL được thực hiện
Để đạt được hiệu quả, hoạt động kiểm soát phải phù hợp, nhất quán giữa cácthời kỳ, có hiệu quả, dễ hiểu, đáng tin cậy và liên hệ trực tiếp đến mục tiêu kiểmsoát
Hoạt động kiểm soát có mặt xuyên suốt trong các hoạt động của doanhnghiệp Hoạt động kiểm soát bao gồm các loại hoạt động kiểm soát phòng ngừa vàphát hiện rủi ro
- Phân chia nhiệm vụ:
Đây là việc tách biệt giữa các chức năng trong cùng một công việc:
Trang 28Bản thân việc phân chia trách nhiệm là một yếu tố tạo nên cơ chế kiểm soáthữu hiệu Mục đích để cho các nhân viên kiểm soát lẫn nhau, tránh các hành vi gianlận.
Ví dụ như thủ quỹ và kế toán phải tách biệt với nhau, kế toán kho và thủ khophải tách biệt, người phê chuẩn nghiệp vụ phải tách biệt với chức năng bảo quản tàisản
Thủ tục phê duyệt cho một nghiệp vụ phát sinh hay sự tiếp cận sử dụng tàisản, tài liệu hay thông tin của Công ty thì sẽ xác lập được cơ chế kiểm soát phù hợpvới quy chế và chính sách của Công ty
Khi phê duyệt cần tuân thủ các quy định như:
Kiểm soát về mặt vật chất là các kiểm soát bao gồm:
sử dụng các phương tiện bảo đảm an toàn cho việc tiếp cận tài sản và hồ
sơ tài liệu
trong sổ sách (ví dụ: so sánh kết quả kiểm kê tiền mặt, chứng khoán vàhàng tồn kho thực tế với sổ kế toán)
trộm cắp tài sản có liên quan tới mức độ tin cậy của việc lập báo cáo tàichính, và do đó, liên quan đến cả chất lượng kiểm toán, phụ thuộc vàoviệc tài sản có dễ bị mất cắp hay không
Trang 29Việc so sánh, đối chiếu giữa số sách kế toán và tài sản hiện có trên thực tếbắt buộc phải được thực hiện định kỳ Điều tra nguyên nhân, qua đó phát hiệnnhững yếu kém tồn tại trong đơn vị Hoạt động này thực hiện cho các loại sổ sách
và tài sản, kể cả những ấn chỉ thuế đã được đánh số thứ tự trước nhưng chưa sửdụng, hạn chế các nhân viên không phận sự tiếp cận phần mềm, tài sản của đơnvị Nhờ có thủ tục này sẽ tránh được sự mất mát, lãng phí, lạm dụng, hư hỏng sửdụng sai mục đích của tài sản trong Công ty
Trang 30sử dụng các tính năng hệ thống có thể làm thay đổi dữ liệu tài chính hay thay đổicác ghi chép mà không để lại dấu vết.
1.2.4 Hệ thống thông tin và trao đổi thông tin
Hệ thống thông tin là hệ thống trợ giúp, trao đổi thông tin, mệnh lệnh,chuyển giao kết quả trong một đơn vị, nó được truyền đạt từ cấp trên xuống cấpdưới và thông tin từ cấp dưới lên, giữa các bộ phận với nhau trong một thể thốngnhất Thông tin là yếu tố quyết định để ra các quyết định quản lý, kiểm soát chỉ cóthể thực hiện được khi thông tin trung thực, đáng tin cậy, kịp thời và thông suốt
Hệ thống thông tin của một đơn vị có thể được xử lý trên máy tính, qua hệthống thủ công hoặc kết hợp cả hai, miễn là bảo đảm các yêu cầu chất lượng củathông tin là thích hợp, cập nhật, chính xác và truy cập thuận tiện Trong đó, cần chú
ý các khía cạnh sau:
- Mọi thành viên của đơn vị phải hiểu rõ công việc của mình, tiếp nhận đầy đủ
và chính xác các chỉ thị từ cấp trên, hiểu rõ mối quan hệ với các thành viênkhác và sử dụng được những phương tiện truyền thông trong đơn vị
- Các thông tin từ bên ngoài cũng phải được tiếp nhận và ghi nhận trung thực,
đầy đủ để đơn vị có những phản ứng kịp thời
Hệ thống thông tin liên quan đến mục tiêu lập và trình bày báo cáo tài chính,trong đó có hệ thống kế toán, bao gồm các thủ tục và tài liệu được thiết kế và xâydựng để:
- Tạo lập, ghi chép, xử lý và báo cáo các giao dịch của đơn vị (cũng như các
sự việc và các điều kiện) và duy trì trách nhiệm liên quan đối với tài sản, nợphải trả và nguồn vốn chủ sở hữu
- Giải quyết các giao dịch đã bị xử lý sai, ví dụ theo dõi và tất toán các khoản
Trang 31- Thu thập thông tin liên quan đến báo cáo tài chính về các sự việc và các điều
kiện khác ngoài các giao dịch phát sinh, như việc khấu hao tài sản và cácthay đổi trong khả năng thu hồi các khoản phải thu
- Đảm bảo những thông tin cần thuyết minh theo khuôn khổ về lập và trình
bày báo cáo tài chính được áp dụng đã được thu thập, ghi chép, xử lý, tóm tắt
và trình bày phù hợp trên báo cáo tài chính
Trong hệ thống thông tin (HTTT), thì hệ thống thông tin kế toán là một phân
hệ quan trọng, bao gồm HTTT kế toán tài chính và HTTT kế toán quản trị, tổng hợpghi nhận tất cả các sự kiện kinh tế phát sinh Hai bộ phận này phần lớn sử dụngchung dữ liệu đầu vào nhưng sản phẩm đầu ra khác nhau Hệ thống thông tin kếtoán bao gồm: hệ thống chứng từ kế toán, hệ thống sổ sách kế toán, hệ thống tàikhoản và các báo cáo kế toán Hệ thống thông tin kế toán có vai trò trung tâm kếtnối các hệ thống khác (để cung cấp thông tin về tình mua hàng, bộ phận kế toánphải phối hợp với bộ phận lập kế hoạch mua hàng, để cung cấp thông tin về tìnhhình tiêu thụ, bộ phận kế toán phải phối hợp với Phòng kinh doanh hay bộ phận bánhàng, để cung cấp tình hình về lương thì bộ phận kế toán phải phối hợp với phòng
tổ chức ) Hệ thống thông tin kế toán có mối liên hệ mật thiết và chi phối tới mọi
hệ thống thông tin của các bộ phận khác, sự chậm chễ, thiếu chính xác của hệ thốngthông tin kế toán sẽ kéo theo một loạt các hoạt động của đơn vị bị ảnh hưởng,không chỉ là các hoạt động bên trong mà còn ảnh hưởng cả đến các hoạt động bênngoài đơn vị (kế toán lạm dụng quyền hạn, chậm chễ trong khâu xử lý chứng từ,ảnh hưởng đến nhà cung cấp không bán hàng, ảnh hưởng đến quá trình sản xuất Sựcung cấp thông tin không chính xác cho các nhà đầu tư dẫn đến mất niềm tin.)
Để hệ thống thông kế toán vận hành một cách thông suốt thì điều đầu tiên vàcũng là khâu quan trọng nhất là thiết kế được quá trình lập và luân chuyển chứng từ.Bất kỳ một sự luân chuyển nào cần phải đưa ra các yêu cầu và thời gian hoàn thành
để đảm bảo sự thông suốt và chính xác Mục đích của hệ thống thông tin kế toán là
sự nhận biết, thu thập, phân loại, ghi sổ và báo cáo các nghiệp vụ kinh tế tài chínhcủa một tổ chức, thỏa mãn chức năng thông tin và kiểm tra của hoạt động kế toán
Trang 32Một hệ thống kế toán hữu hiệu phải đảm bảo các mục tiêu kiểm soát chi tiết: Tính
có thực (không được ghi chép nghiệp vụ không có thực vào sổ sách kế toán); sự phêchuẩn (đảm bảo mọi nghiệp vụ phải được phê chuẩn hợp lý); tính đầy đủ (đảm bảoviệc phản ánh trọn vẹn các nghiệp vụ kinh tế phát sinh); sự đánh giá (đảm bảokhông có sai phạm trong việc tính toán và đánh giá); sự phân loại (đảm bảo việc ghichép vào đúng tài khoản và sổ sách theo chế độ); tính đúng kỳ (ghi nhận các nghiệp
vụ kinh tế phát sinh trên nguyên tắc cơ sở dồn tích; Quá trình chuyển sổ và tổnghợp phải chính xác (số liệu ghi trên sổ phải được cộng số phát sinh, rút ra số dưcuối kỳ, chuyển sổ chính xác, tổng hợp và trình bày trên báo cáo tài chính một cáchchính xác)
1.2.5 Giám sát các kiểm soát
Giám sát quá trình mà người quản lý đánh giá chất lượng của kiểm soát nội
bộ Xác định KSNB có vận hành đúng như thiết kế hay không và có cần sửa đổi chophù hợp với từng thời kỳ hay không Giám sát thường xuyên (tiếp cận các ý kiếngóp ý từ khách hàng, nhà cung cấp, các biến động bất thường ) hay định kỳ (cáccuộc kiểm toán định kỳ do kiểm toán nội bộ, hoặc do kiểm toán độc lập thực hiện)
Trách nhiệm quan trọng của Ban Giám đốc là thiết lập và duy trì kiểm soátnội bộ một cách thường xuyên Việc Ban Giám đốc giám sát các kiểm soát bao gồmviệc xem xét liệu các kiểm soát này có đang hoạt động như dự kiến và liệu có đượcthay đổi phù hợp với sự thay đổi của đơn vị hay không Việc giám sát các kiểm soát
có thể bao gồm các hoạt động như: Ban Giám đốc soát xét liệu bảng đối chiếu vớingân hàng đã được lập kịp thời hay chưa, kiểm toán viên nội bộ đánh giá sự tuânthủ của nhân viên Phòng kinh doanh đối với các quy định của đơn vị về hợp đồngbán hàng, bộ phận pháp lý giám sát sự tuân thủ các chuẩn mực đạo đức và chínhsách hoạt động của đơn vị Việc giám sát cũng là để đảm bảo rằng các kiểm soáttiếp tục hoạt động một cách hiệu quả theo thời gian Ví dụ: nếu không giám sát việclập bản đối chiếu với ngân hàng thì các nhân sự chịu trách nhiệm có thể sẽ khônglập tài liệu này
Trang 33Các hoạt động giám sát có thể bao gồm việc sử dụng thông tin có được quatrao đổi với các đối tượng ngoài đơn vị mà những thông tin đó có thể cho thấy cácvấn đề hoặc các khu vực cần được cải thiện Khách hàng thường xác minh cácthông tin trong hóa đơn thông qua việc thanh toán hóa đơn hoặc khiếu nại về số tiềnphải trả Ngoài ra, các cơ quan quản lý cũng có thể thông tin cho đơn vị về các vấn
đề có thể ảnh hưởng tới hoạt động của kiểm soát nội bộ, ví dụ như, các thông tinliên quan đến cuộc kiểm tra của cơ quan quản lý ngân hàng Đồng thời, khi thựchiện hoạt động giám sát, Ban Giám đốc cũng có thể xem xét các trao đổi thông tin
từ kiểm toán viên độc lập liên quan đến kiểm soát nội bộ
Một số các hoạt động giám sát như:
- Thường xuyên rà soát và báo cáo về chất lượng, hiệu quả hoạt động của kiểm
soát nội bộ
- Đánh giá và theo dõi việc ban lãnh đạo cũng như tất cả nhân viên có tuân thủ
các chuẩn mực ứng xử của Công ty
- Kiểm tra, giám sát tính chính xác và tuân thủ quy định của các sổ sách kế
toán, báo cáo tài chính đưa ra
Kiểm soát nội bộ luôn phải tuân thủ các nguyên tắc kiểm soát sau đây:
- Nguyên tắc phân công, phân nhiệm
- Nguyên tắc bất kiêm nhiệm
- Nguyên tắc phê chuẩn, ủy quyền
- Nguyên tắc “bốn mắt”
- Nguyên tắc cân nhắc lợi ích, chi phí
- Nguyên tắc toàn diện
- Nguyên tắc chứng từ và sổ sách kế toán đầy đủ
- Nguyên tắc bảo vệ tài sản vật chất và sổ sách
- Nguyên tắc kiểm tra độc lập
- Nguyên tắc phân tích rà soát
1.3.1 Nguyên tắc phân công, phân nhiệm
Trang 34Nguyên tắc này đòi hỏi trách nhiệm và công việc cần được phân chia cụ thể
và rõ ràng cho từng bộ phận cho từng cá nhân, từ đó tạo nên sự chuyên môn hóatrong công việc, sai sót nếu có xảy ra thì đã có kiểm tra chéo lẫn nhau để xử lý kịpthời Sự phân công, phân nhiệm cũng xác định trách nhiệm của từng bộ phận, cánhân, từng bộ phận sẽ hiểu rõ công việc của mình để phát huy hiệu quả liên quanđến công việc của mình Ngoài ra đây cũng là cơ sở để khen thưởng, động viên kịpthời khi một bộ phận làm việc tốt, phát huy tình thần trách nhiệm, tăng cường hiệuquả hoạt động của đơn vị
Mục đích của nguyên tắc này là không để cho cá nhân hay bộ phận nào cóthể kiểm soát được mọi mặt của nghiệp vụ Khi đó, công việc của người này đượckiểm soát tự động bởi công việc của một nhân viên khác Phân công công việc làmgiảm rủi ro xảy ra gian lận và sai sót, đồng thời tạo điều kiện nâng cao chuyên môncủa nhân viên
Ví dụ: Nếu doanh nghiệp giao toàn bộ công tác bán hàng cho một nhân viên
từ khâu nhận phiếu đặt hàng, quyết định bán chịu, lập phiếu xuất kho và giao hàng,đến lập hóa đơn, ghi chép sổ sách kết toán, lập phiếu thu và nhận tiền Trongtrường hợp nhân viên tính nhầm giá bán hay giao hàng số lượng nhiều hơn thì sựbất cẩn này sẽ gây thiệt hại cho doanh nghiệp Mặt khác còn tạo thêm cơ hội chonhân viên thực hiện hành vi gian lận
1.3.2 Nguyên tắc bất kiêm nhiệm
Nguyên tắc này qui định phải có sự phân tách thích hợp về trách nhiệm trongcác nghiệp vụ có liên quan, cho phép kiểm tra lẫn nhau trong việc thực hiện nhiệm
vụ, tránh tình huống một người mắc sai sót, không tuân thủ qui định lại là người cóthể che dấu sự sai sót đó, việc phát hiện ra sai sót không thuộc trách nhiệm của ai(không có sự kiểm soát) Việc phân chia các chức năng phụ thuộc vào qui mô củadoanh nghiệp, song cần cố gắng tách chức năng phê chuẩn và chức năng thực hiện,chức năng thực hiện và chức năng kiểm soát, chức năng ghi sổ và bảo quản tài sản(Kế toán không được kiêm nhiệm thủ kho, thủ quỹ Kế toán trưởng không được là
vợ, chồng của giám đốc, không được kiêm trưởng ban kiểm soát) Việc phân tách
Trang 35chức năng này cho phép kiểm tra đối chiếu lẫn nhau để tăng cường tính kiểm soát
và giảm khả năng gian lận Trong một số trường hợp đặc biệt sự phân công, phânnhiệm phải đảm bảo phải bất kiêm nhiệm trong đó người phê duyệt không phải làngười thực hiện, người thực hiện không phải là người kiểm soát
Ví dụ: Trong tổ chức nhân sự không thể bố trí kiêm nhiệm các nhiệm vụ phêchuẩn và thực hiện, thực hiện và kiểm soát, ghi sổ và bảo quản tài sản
Đặc biệt, trong những trường hợp sau, nguyên tắc này cần phải được tôntrọng:
- Bất kiêm nhiệm trong việc bảo vệ tài sản với kế toán.
- Bất kiêm nhiệm trong việc phê chuẩn các nghiệp vụ kinh tế với việc thực
hiện các nghiệp vụ đó
- Bất kiêm nhiệm giữa việc điều hành với trách nhiệm ghi sổ.
1.3.3 Nguyên tắc phê chuẩn, ủy quyền
Nguyên tắc ủy quyền và phê chuẩn, uỷ quyền là cấp dưới được cấp trên giaocho quyết định giải quyết một số công việc trong phạm vi nhất định Cấp trên vẫnphải chịu trách nhiệm về công việc mà mình uỷ quyền và phải duy trì một sự kiểmtra nhất định Quá trình ủy quyền tiếp tục mở rộng xuống các cấp thấp hơn tạo nênmột hệ thống phân chia trách nhiệm và quyền hạn nhưng vẫn tạo nên sự thống nhất
và tập trung trong toàn bộ đơn vị
- Để thỏa mãn các mục tiêu kiểm soát thì tất cả các nghiệp vụ kinh tế phải
được phê chuẩn đúng đắn Trong một tổ chức, nếu ai cũng làm mọi việc thì
sẽ xảy ra hỗn loạn, phức tạp Phê chuẩn là biểu hiện cụ thể của việc quyếtđịnh và giải quyết một công việc trong phạm vi nhất định Sự phê chuẩnđược thực hiện qua hai loại:
- Phê chuẩn chung: Được thực hiện thông qua việc xây dựng các chính sách
chung về những mặt hoạt động cụ thể cho các cán bộ cấp dưới tuân thủ
Ví dụ: Xây dựng và phê chuẩn bảng giá sản phẩm cố định, hạn mức tín dụngcho khách hàng
Trang 36- Phê chuẩn cụ thể: Được thực hiện cho từng nghiệp vụ kinh tế riêng biệt Phê
chuẩn cụ thể được áp dụng đối với những nghiệp vụ có số tiền lớn hoặc quantrọng, những nghiệp vụ không thường xuyên xảy ra
Ví dụ: Phê chuẩn của kế toán trưởng về ngân sách xây dựng cơ sở mới củaDoanh nghiệp
1.3.4 Nguyên tắc “bốn mắt”
Bất kỳ hoạt động nghiệp vụ nào cũng có hai người cùng tiến hành (một thựchiện, một duyệt), phụ thuộc vào mức độ sai phạm xảy ra nhiều hay ít mà lựa chọnnhiều người hơn
Ví dụ: tại các ngân hàng thương mại, các bộ phận kiểm soát làm nhiệm vụkiểm tra chéo phần việc của các bộ phận khác; thêm nữa định kỳ bộ phận kiểm toánnội bộ kiểm tra hoạt động của tất cả các phòng ban và cuối cùng là nhóm làm việc
về rủi ro nhóm họp hàng tháng nhằm thảo luận và đưa ra phương hướng giải quyếtcác vấn đề rủi ro hoạt động trọng yếu của ngân hàng
1.3.5 Nguyên tắc cân nhắc lơi ích, chi phí
Cân nhắc giữa lợi ích và chi phí của hoạt động kiểm soát sao cho lợi ích đemlại cao nhất mà chi phí bỏ ra lại thấp nhất Theo đó, yêu cầu của nhà quản lý trongthiết kế và hoạt động kiểm soát là những chi phí cho kiểm tra phải hiệu quả, nghĩa
là phải ít hơn tổn thất do những sai phạm gây ra Tuy nhiên, thực tế cho thấy khôngphải lúc nào chi phí cũng nhỏ hơn lợi ích mà các hoạt động kiểm soát mang lại
1.3.6 Nguyên tắc toàn diện
Hệ thống kiểm soát phải được thiết kế bao trùm các nghiệp vụ của Doanhnghiệp, thường xuyên thay đổi, sửa chữa để phù hợp với tình hình thực tế củaDoanh nghiệp
1.3.7 Nguyên tắc chứng từ và sổ sách kế toán đầy đủ
Các nghiệp vụ phát sinh bắt buộc phải lưu chứng từ đầy đủ để kiểm soát sựvận động của tài sản và đảm bảo ghi sổ chính xác
Ví dụ: Khi phát sinh các nghiệp vụ mua, bán hàng hóa kế toán bắt buộc phảilưu giữ hóa đơn chứng từ bởi nếu không có hóa đơn, chứng từ đầy đủ thì số liệu sổ
Trang 37sách kế toán sẽ khó có thể chứng minh và thiếu tính xác thực, dễ gây ra những rủi rođạo đức về các hàng vi gian lận, cố ý vi phạm của kế toán và nhân viên quản lýkho.
1.3.8 Nguyên tắc bảo vệ tài sản vật chất và sổ sách
Nguyên tắc này nhằm bảo vệ tài sản tránh thất thoát do trộm cắp, thất thoát,
hư hỏng hay sử dụng sai mục đích
Ví dụ: các doanh nghiệp sẽ thiết kế các nhà kho, hầm chứa, két sắt chịu nhiệthay hệ thống báo động để bảo vệ tài sản không bị hư hỏng hay mất mát Ban hànhquy chế kiểm soát việc ra vào kho hàng, quy chế bảo trì và sửa chữa tài sản, kiểmsoát việc tham khảo các tài liệu kế toán, dữ liệu trong máy tính Và kiểm tra, đốichiếu thường xuyên số liệu sổ sách và thực tế để đảm bảo tài sản không bị mất mát,thiếu hụt
1.3.9 Nguyên tắc kiểm tra độc lập
Bộ phận kiểm tra, giám sát phải độc lập với các quy trình nghiệp vụ củadoanh nghiệp nhằm tránh việc thông đồng giữa các bộ phận thực hiện, đảm bảothông tin cung cấp là chính xác và đáng tin cậy
1.3.10 Nguyên tắc phân tích rà soát
Phân tích rà soát là sự so sánh giữa số liệu từ những nguồn gốc khác nhau.Tất cả mọi khác biệt cần phải làm rõ để mau chóng phát hiện những sai sót, gian lậnhoặc các biến động bất thường để kịp đối phó Các dạng phân tích thường gặp là:
- Đối chiếu giữa ghi chép của đơn vị với các số liệu từ bên ngoài.
- Đối chiếu giữa số liệu tổng hợp và sổ chi tiết.
- Đối chiếu số liệu kỳ này với kỳ trước, giữa thực tế với kế hoạch.
Kiểm soát nội bộ, dù hiệu quả đến mức nào, cũng chỉ có thể cung cấp chođơn vị một sự đảm bảo hợp lý để đạt được mục tiêu lập và trình bày báo cáo tàichính của đơn vị Khả năng đạt được mục tiêu chịu ảnh hưởng bởi những hạn chếvốn có của kiểm soát nội bộ Các hạn chế này bao gồm việc con người có thể có sailầm khi đưa ra quyết định và sự thất bại của kiểm soát nội bộ có thể xảy ra do sai
Trang 38sót của con người, ví dụ có thể có sai sót trong việc thiết kế hoặc thay đổi một kiểmsoát Tương tự, một kiểm soát có thể hoạt động không hiệu quả, như thông tin thuthập phục vụ việc kiểm soát nội bộ không được sử dụng hợp lý do người chịu tráchnhiệm rà soát thông tin này không hiểu rõ mục đích của thông tin hoặc không cónhững hành động phù hợp.
Ngoài ra, các kiểm soát có thể bị vô hiệu hóa do sự thông đồng của hai haynhiều người hoặc bị Ban Giám đốc khống chế
Ví dụ: Ban Giám đốc có thể có các “thỏa thuận phụ” với khách hàng nhằmthay đổi các điều khoản trong hợp đồng bán hàng mẫu của đơn vị, dẫn đến việc ghinhận doanh thu không chính xác Cũng như vậy, chức năng của phần mềm máy tínhgiúp phát hiện và báo cáo về các giao dịch vượt hạn mức tín dụng cho phép có thể
bị khống chế hoặc vô hiệu hóa
Bên cạnh đó, khi thiết kế và thực hiện các kiểm soát, Ban Giám đốc có thểthực hiện các xét đoán về phạm vi, mức độ các kiểm soát mà Ban Giám đốc lựachọn thực hiện và về phạm vi, mức độ rủi ro mà họ quyết định chấp nhận
Hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ không thể đảm bảo hoàn toàn đạt đượcmục tiêu quản lý là do những hạn chế tiềm tàng của hệ thống đó, như:
- Quan hệ lợi ích-chi phí: Yêu cầu thông thường là chi phí cho kiểm soát nội
bộ không được vượt quá những lợi ích mà hệ thống đó mang lại
- Những vấn đề về con người: Sai sót bởi con người thiếu chú ý, đãng trí khi
thực hiện chức năng, nhiệm vụ, hoặc do không hiểu rõ yêu cầu công việc
- Sự thông đồng: Khả năng người chịu trách nhiệm thực hiện thủ tục kiểm soát
nội bộ lạm dụng đặc quyền của mình
- Gian lận quản lý: Do thay đổi cơ chế và yêu cầu quản lý làm cho các thủ tục
kiểm soát bị lạc hậu hoặc bị vi phạm
- Những tình huống ngoài dự kiến: thủ tục kiểm soát nội bộ được thiết lập cho
các nghiệp vụ thường xuyên, lặp đi, lặp lại, hơn là các nghiệp vụ khôngthường xuyên
Trang 39Tóm lại, kiểm soát nội bộ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý chứ không phảiđảm bảo tuyệt đối các mục tiêu được thực hiện KSNB chỉ có thể ngăn ngừa và pháthiện những sai sót, gian lận nhưng không thể đảm bảo chúng không xảy ra Vì vậy,một KSNB dù hữu hiệu đến đâu cũng đều tồn tại những rủi ro nhất định Vấn đề lànhà quản lý (NQL) đã nhận biết, đánh giá và giới hạn những rủi ro này trong mức
độ chấp nhận được
1.5. Bài học kinh nghiệm khi xây dựng và hoàn thiện Kiểm soát nội bộ tại
các Doanh nghiệp Việt Nam
- Cần bố trí cơ cấu Hội đồng quản trị hợp lý với những thành viên độc lập bên
ngoài không tham gia điều hành để tạo lập một cơ chế kiểm soát khách quan
và công bằng
- Cần có sự thống nhất nhận thức về tính tất yếu khách quan và vai trò quan
trọng của hoạt động KSNB
- Hoạt động KSNB cần được quy định bởi các văn bản pháp lý cao và có hệ
thống các văn bản pháp luật hướng dẫn đầy đủ
- Cần lựa chọn mô hình tổ chức hoạt động KSNB phù hợp với thực tiễn.
- Xác định rõ thẩm quyền bổ nhiệm người đứng đầu bộ phận KSNB và kiểm
soát viên
- Cần tăng cường phối hợp giữa KSNB với việc kiểm tra kiểm soát của bên
thứ ba
Trang 40KẾT LUẬN CHƯƠNG 1Trong chương này tác giả đã tập trung làm rõ lý luận cơ bản về kiểm soát nội
bộ trong các doanh nghiệp dựa trên nền tảng của VSA 315 và COSO 2013 trên cáckhía cạnh sau:
- Kiểm soát là một chức năng không thể thiếu trong quá trình quản lý doanh
nghiệp
- Trình bày những vấn đề chung về KSNB, nội dung của các bộ phận cấu
thành KSNB, các nguyên tắc thiết kế và hạn chế cố hữu của KSNB
Dựa vào cơ sở lý luận ở chương 1, chương tiếp theo sẽ đi sâu phân tích thựctrạng KSNB tại Công ty cổ phần giao nhận vận tải hàng hóa toàn cầu HP (HPWCargo) để từ đó đưa ra các nhận xét, đánh giá ưu và nhược điểm của KSNB tạiCông ty