đổi thiết kế.Một trong những nguyên nhân chính dẫn tới năng lực tài chính yếu kém củacác doanh nghiệp xây lắp Việt Nam đó là bỏ ra giá thầu thấp hơn so với năng lực tàichính có thể đáp ứ
Trang 2-^^ Q
^^ -THÁI THỊ NGỌC
HOÀN THIỆN KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ
SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN
SIGMA VIỆT NAM
•
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2017
Trang 3-^^ Q
^^ -THÁI THỊ NGỌC
HOÀN THIỆN KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ
SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN
SIGMA VIỆT NAM
•
CHUYÊN NGÀNH: KẾ TOÁN - KIỂM TOÁN
MÃ SỐ: 60.34.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS BÙI THỊ THỦY
HÀ NỘI - 2017
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng rôi.
Các số liệu trong luận văn đều có nguồn hợp pháp, rõ ràng và là kết quảnghiên cứu làm việc của tác giả Kết quả trong đề tài nghiên cứu là trung thực vàchưa được công bố trong các đề tài nghiên cứu khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả
Thái Thị Ngọc
Trang 5Tô1 xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo, TS Bùi Thị Thủy đã hết lòng
hướng dẫn, giúp đỡ và đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành Luận vănnày
Tôi vô cùng biết ơn các thầy cô giáo Học viện Ngân hàng đã truyền đạt cho tôinhững kiến thức quý báu trong suốt thời gian tôi học tập tại Trường
Tôi xin trân trọng cảm ơn Khoa Kế toán - Kiểm toán, Khoa Đào tạo Sau ĐạiHọc- Học viện Ngân hàng, các anh chị em đồng nghiệp tại Công ty TNHH SigmaViệt Nam đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thànhluận văn
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, bè bạn, đồng nghiệp, những người đã luônkhuyến khích, sẻ chia và không ngừng động viên tôi trong suốt thời gian qua
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả
Thái Thị Ngọc
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỞ ĐẦU 1
Tính cấp thiết của đề tài 1
Tổng quan nghiên cứu 3
Mục tiêu nghiên cứu 7
Câu hỏi nghiên cứu 7
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
Phương pháp nghiên cứu 8
Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 9
Kết cấu của đề tài nghiên cứu 10
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 11
1.1 Đặc điểm sản xuất xây lắp, mối quan hệ giữa chi phí và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp 11
1.1.1 Đặc điểm sản xuất xây lắp ảnh hưởng đến kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm 11
1.1.2 Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 14
1.1.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 20
1.2 Yêu cầu và nhiệm vụ, đối tượng và phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp 22
1.2.1 Yêu cầu và nhiệm vụ kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp 22
1.2.2 Đối tượng và phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp 24
1.3 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
29 1.3.1 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 29
1.3.2 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp 30
Trang 71.3.4 Ke toán chi phí sản xuất chung 33
1.3.5 Đánh giá sản phẩm dở dang 35
1.3.6 Kế toán giá thành sản phẩm xây lắp 37
1.4 Kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp xây lắp 41
1.4.1 Khái niệm kế toán quản trị chi phí 41
1.4.2 Đặc điểm cơ bản của kế toán quản trị chi phí 41
1.4.3 Nội dung của kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp xây lắp 42
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY TNHH SIGMA VIỆT NAM
45
2.1 Tổng quan về Công ty TNHH Sigma Việt Nam 45
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 45
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực kinh doanh chủ yếu 45
2.1.4 Đặc điểm tổ chức, bộ máy quản lý 49
2.1.5 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán 50
2.2 Thực trạng kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Sigma Việt Nam 54
2.2.1 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 55
2.2.2 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp 59
2.2.3 Kế toán chi phí sử dụng máy thi công 64
2.2.4 Kế toán chi phí sản xuất chung 68
2.2.5 Kế toán chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ 72
2.2.6 Kế toán giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Sigma Việt Nam 73
2.3 Đánh giá thực trạng kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty TNHH Sigma Việt Nam 75
2.3.1 Những kết quả đã đạt được 75
2.3.2 Một số tồn tại và nguyên nhân 76
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
tiếp
3.1 Giải pháp hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại
Công ty TNHH Sigma Việt Nam 85
3.1.1 Nâng cấp phần mềm kế toán nhằm đồng bộ hóa quy trình xử lý thông tin kế toán 85
3.1.2 Hoàn thiện hệ thống tài khoản kế toán đáp ứng yêu cầu quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 87
3.1.3 Hoàn thiện quy trình luân chuyển chứng từ 87
3.1.4 Hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí sản xuất 89
3.1.5 Áp dụng kế toán quản trị chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm
92 3.1.6 Nhóm giải pháp bổ trợ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chi phí 96
3.2 Kiến nghị hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Sigma Việt Nam 103
3.2.1 Ve phía Nhà nước và các đơn vị liên quan 103
3.2.2 Ve phía Hiệp hội các doanh nghiệp, Hiệp hội kế toán 105
3.2.3 Ve phía Công ty 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9DNSX Doanh nghiệp sản xuất
Trang 11DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
BẢNG
Bảng 2.1 Tình hình tăng giảm tài sản và nguồn vốn 46Bảng 2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá khái quát thực trạng tài chính và kết quả kinhdoanh của Công ty TNHH Sigma Việt Nam 47Bảng 2.3: Bảng kê máy móc, thiết bị tại Công ty 64Bảng 3.1: Bảng theo dõi hoạt động của máy thi công 91Bảng 3.2: Mau báo cáo quản trị chi phí sản xuất theo từng hạng mục, côngtrình 94
Bảng 3.3: Mau báo cáo quản trị chi phí sản xuất chung 94Bảng 3.4: Mau báo cáo quản trị giá thành sản xuất sản phẩm 95Bảng 3.5: Dự báo chi phí 100
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Với vai trò là ngành hỗ trợ cho sự phát triển của nền kinh tế, cũng là lĩnh vựctạo nên nền tảng cho phát triển của những ngành khác, các doanh nghiệp xây lắpViệt Nam luôn đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong công cuộc xây dựng và pháttriển đất nước
Hiện nay, ngành xây lắp VN đang đứng trước nhưng cơ hội rất lớn để pháttriển, khi triển vọng đầu ra các nhóm ngành xây lắp đều được đánh giá là khả quandưới tác động của những chính sách vĩ mô và kích cầu BĐS của Chính phủ Lãi suấtđược giữ ở mức thấp đã giúp các doanh nghiệp xây lắp tiết giảm chi phí đáng kể dođặc thù sử dụng phần lớn vốn là nợ vay, mặt khác, làm cho kênh đầu tư tiền gửi trởnên kém hấp dẫn hơn, do đó dòng tiền có thể sẽ đổ vào các kênh đầu tư khác hiệuquả hơn như bất động sản Nen kinh tế Trung Quốc suy yếu làm ảnh hưởng tới lựccầu của các nhóm kim loại cơ bản, nên giá đồng, nhôm, sắt, thép đều có xu hướng
đi xuống, đồng thời, giá năng lượng giảm mạnh cũng kéo theo các chi phí đầu vàokhác của các doanh nghiệp xây lắp giai đoạn này dự kiến giảm theo Việc kí kếthàng loạt các hiệp định kinh tế thế giới (FTAs) đã giúp Việt Nam thu hút một lượnglớn nguồn vốn FDI và ODA để phát triển cơ sở hạ tầng, thúc đẩy tăng trưởng củangành xây lắp
Cơ hội lớn nhưng cũng không ít thách thức, khi quá trình hội nhập dẫn đếncác doanh nghiệp Việt Nam không chỉ cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước
mà còn cả các doanh nghiệp nước ngoài - những nhà thầu quốc tế có trình độ kĩthuật cũng như phương pháp quản lý tiên tiến Do đó, các doanh nghiệp trong nướccần tìm ra chiến lược phát triển bền vững để nâng cao năng lực cạnh tranh và nănglực tài chính của mình
Báo cáo phân tích ngành xây dựng của Fpt Securities tháng 05/2015 chỉ ra 3vấn đề chính trong quy trình xây dựng ở Việt Nam gây ra sự chậm trễ và tăng chiphí đó là: (1) Năng lực quản lý yếu kém, (2) Năng lực tài chính yếu kém, (3) Thay
Trang 13đổi thiết kế.
Một trong những nguyên nhân chính dẫn tới năng lực tài chính yếu kém củacác doanh nghiệp xây lắp Việt Nam đó là bỏ ra giá thầu thấp hơn so với năng lực tàichính có thể đáp ứng do (1) Không đủ năng lực tính toán chi phí sản xuất & giáthành sản phẩm để đưa ra được giá thầu hợp lý, (2) Cố tình bỏ giá thầu thấp sau đólợi dụng các điều khoản trong hợp đồng có điều chỉnh giá để nâng giá xây dựng lên.Bởi vậy, để đưa ra được phương án kinh doanh tốt nhất, đảm bảo giá thành sảnphẩm được tính đủ chi phí sản xuất nhưng vẫn đảm bảo giá đầu ra của sản phẩmđược thị trường chấp nhận, doanh nghiệp cần phải áp dụng các biện pháp quản lýkhoa học tiên tiến, sử dụng hiệu quả các công cụ quản lý doanh nghiệp để giảm chiphí, hạ giá thành, nâng cao sức cạnh tranh trên thương trường Với chức năng cungcấp thông tin và kiểm tra các hoạt động kinh tế tài chính trong doanh nghiệp, kếtoán là một trong những công cụ quản lý hữu hiệu nhất, giúp nhà quản trị có nhữngthông tin chính xác, trung thực, khách quan để kịp thời đưa ra phương án kinhdoanh hiệu quả nhất, mà đóng góp vai trò vô cùng quan trọng là phần hành kế tóanchi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Đối với Sigma, hiện nay là một trong những doanh nghiệp xây lắp cơ điệnhàng đầu Việt Nam, tuy nhiên báo cáo tài chính những năm trước cho thấy vấn đềquản lý và thực hiện chi phí, kiểm soát tài chính của công ty không đạt hiệu quảcao Tại Sigma, giá vốn hàng bán năm 2015 chiếm tới 90% doanh thu thuần (so vớidoanh nghiệp cùng ngành là công ty cổ phần cơ điện lạnh REE là 68%), tỷ suất lợinhuận ròng năm 2015 là 2,05% so với mức trung bình chung của ngành là 6%, tỷ lệ
nợ phải trả trên tổng nguồn vốn ở mức cao lên tới 85% Ngoài ra, Phòng Kế toánSigma hiện nay đặt nặng mục tiêu phục vụ kế toán tài chính mà xem nhẹ mục tiêu
kế toán quản trị, tập trung vào bố trí nhân sự theo phần hành kế toán, bị đóng khungbởi các nghiệp vụ của kế toán tài chính Dưới áp lực cạnh tranh gay gắt như hiệnnay, đây là một hạn chế lớn cho sự phát triển của Công ty
Trang 14Quan sát thực tế và kết hợp với việc tìm hiểu lý thuyết, tác giả đã chọn đề tài
“Hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Sigma Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của mình.
Đe tài góp phần nâng cao hiệu quả quản lý chi phí, giá thành, nâng cao hiệu quảhoạt động cũng như khả năng tài chính của Công ty Sigma nói riêng và các doanhnghiệp xây lắp nói chung
2 Tổng quan nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, thu thập tài liệu, tác giả có tìm hiểu và phân tíchmột số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài của mình Nen kinh tế càng đisâu vào hội nhập kinh tế thì vai trò của việc quản lý chi phí, giá thành lại càng trởnên quan trọng, do đó thời gian qua có rất nhiều tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu
về kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm doanh nghiệp Với mỗi đề tài nghiêncứu, các tác giả đều đứng trên những quan điểm lý luận kế toán nói chung và đưa ranhững ý kiến phân tích đánh giá khác nhau về các đối tượng nghiên cứu
Một vài nghiên cứu về kế toán tài chính và kế toán quản trị trong các lĩnhvực sản xuất, xây lắp có thể kể đến như sau:
- Trần Thị Hòa (2016): “ Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp tại công ty Cổ phần VT Vạn Xuân””, Luận văn thạc sĩ, Đại học Lao
Trang 15(3) Đưa ra các giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thànhsản phẩm xây lắp tại công ty cổ phần Vạn Xuân thông qua quá trình phântích thực trạng.
Tác giả đã nêu rõ những vấn đề tồn tại trong công tác kế toán chi phí tại công
ty, với những bất cập về chế độ kế toán như chứng từ, tài khoản, sổ kế toán, báo cáo
kế toán trên phương diện kế toán tài chính và kế toán quản trị, đồng thời đưa ranhững giải pháp khắc phục Tuy nhiên, đánh giá thực trạng của tác giả vẫn còn sơsài, chưa sâu vào thực tiễn, các giải pháp hoàn thiện đưa ra vẫn còn chung chung,khó áp dụng vào thực tế Bởi vậy, việc áp dụng kết quả này cho các DN xây lắpkhác và đặc biệt là với DN xây lắp cơ điện nhiều đặc thù là rất khó
- Nguyễn Quang Hưng (2015):” Hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong các doanh nghiệp xây lắp thuộc Tập Đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam”, Luận án tiến sĩ, Học viện Tài Chính.
Nghiên cứu tập trung làm rõ cơ sở lý luận về tổ chức kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp Thông qua khảo sátthực tế về tổ chức kế toán trong một số DNXL thuộc Tập đoàn dầu khí Quốc giaViệt Nam, luận án đã phân tích những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của thựctrạng, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sảnxuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong các DNXL thuộc Tập đoàn dầu khíQuốc gia Việt Nam Tác giả đã đưa ra nhiều giải pháp, trong đó nhiều giải phápmang tính khả thi, cung cấp thông tin kịp thời đầy đủ, trung thực và khách quan chocác nhà quản trị doanh nghiệp để có thể đưa ra các quyết định kinh tế phù hợp vàđem lại hiệu quả cao, bao gồm” Hoàn thiện về tổ chức phân công nhiệm vụ của bộmáy kế toán, hoàn thiện về tổ chức lập và luận chuyển chứng từ kế toán, hoàn thiệnnội dung, phân loại chi phí xây lắp, hoàn thiện về tổ chức vận dụng tài khoản kếtoán tài chính và kế toán quản trị, hoàn thiện về phương pháp tính giá thành sảnphẩm
Tuy có nhiều đóng góp, song những giải pháp tác giả đưa trên điều kiện cơ
Trang 16bản thuộc về phía Nhà nước và Tập đoàn dầu khí, mang tính đặc thù khá cao, khó
áp dụng rộng rãi đối với các DNXL tư nhân khác, đặc biệt là các DNXL cơ điệnnhư Sigma Việt Nam
- Đỗ Thị Hồng Hạnh (2015): “Hoàn thiện kế toán chi phí, doanh thu, kết quả
kinh doanh trong các doanh nghiệp sản xuất thép thuộc Tổng công ty thép Việt Nam ”, Luận án tiến sĩ, Đại học kinh tế Quốc Dân.
Nghiên cứu tập trung làm rõ cơ sở lý luận về kế toán chi phí, doanh thu, kếtquả kinh doanh trong các doanh nghiệp sản xuất Cụ thể:
(1) Làm rõ vai trò, bản chất và yêu cầu của kế toán chi phí, doanh thu, kếtquả kinh doanh trong các doanh nghiệp sản xuất;
(2) Xác định rõ nội dung kế toán tài chính chi phí, doanh thu, kết quả kinhdoanh trong các doanh nghiệp sản
(3) Xác định rõ nội dung kế toán quản trị chi phí, doanh thu, kết quả kinhdoanh trong các doanh nghiệp sản xuất
Tác giả đã nêu rõ những vấn đề tồn tại trong công tác kế toán chi phí, doanhthu, kết quả kinh doanh tại các Công ty này Những bất cập đó thuộc về nhận diện
và phân loại chi phí, doanh thu, kết quả kinh doanh; việc thực hiện chế độ kế toán
về chứng từ, tài khoản, sổ kế toán, báo cáo kế toán trong công tác kế toán chi phí,doanh thu, kết quả kinh doanh trên phương diện KTTC; xây dựng định mức và lập
dự toán sản xuất, phân tích thông tin để kiểm soát và cung cấp thông tin chi phí,doanh thu, kết quả kinh doanh phục vụ ra quyết định trên phương diện KTQT.Nghiên cứu cũng đã xác định được nguyên nhân chủ quan khách quan của nhữngtồn tại đó xuất phát từ phía Nhà nước, các cơ quan chức năng và các Công ty sảnxuất thép
Trên cơ sở nghiên cứu chuẩn mực kế toán quốc tế về chi phí, doanh thu, kếtquả kinh doanh và mô hình kế toán của một số nước trên thế giới như Pháp, Đức,Anh, Mỹ, nghiên cứu đã đề xuất mô hình tổ chức bộ máy kế toán áp dụng cho cácdoanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam nên là mô hình kết hợp giữa kế toán tài chính và
Trang 17kế toán quản trị trên cùng một hệ thống kế toán, xây dựng định mức giá và lập dựtoán; phân tích biến động chi phí để kiểm soát chi phí và phục vụ ra quyết định.
Tuy có nhiều đóng góp, song về phạm vi nghiên cứu, đề tài của tác giả ĐỗThị Hồng Hạnh chỉ tập trung vào các doanh nghiệp sản xuất ngành thép thuộc tổngcông ty Thép Việt Nam với nhiều đặc thù riêng Việc áp dụng kết quả này cho các
DN xây lắp cần phải được nghiên cứu, điều chỉnh mới phù hợp và vận dụng được
- Trần Thị Thu Hường (2014): “Xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí
trong các doanh nghiệp sản xuất xi măng Việt Nam”, Luận án tiến sĩ, Đại học kinh
tế Quốc Dân
Tiếp cận từ khái niệm về mô hình mang tính khái quát nghiên cứu của tác giảTrần Thị Thu Hường đã luận giải và đưa ra khái niệm về mô hình kế toán quản trịchi phí trong các doanh nghiệp sản xuất từ đó phân tích bản chất và các yếu tố cấuthành của mô hình Tác giả tập trung phân tích các yếu tố trọng tâm của mô hình làcác phương pháp kế toán quản trị chi phí như: Các phương pháp phân loại chi phíđặc thù của kế toán quản trị; Xây dựng định mức và dự toán chi phí; Phương phápxác định chi phí trong doanh nghiệp sản xuất; Phương pháp phân tích thông tinngắn hạn Đồng thời, tác giả phân tích bài học kinh nghiệm từ các mô hình kếtoán quản trị chi phí tại các quốc gia phát triển, khảo sát thực trạng kế toán quản trịchi phí tại các doanh nghiệp sản xuất xi măng ở Việt Nam, từ đó định hướng việcthiết kế mô hình kế toán quản trị chi phí cho các doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam
- Nguyễn Duy Hòa (2007): “Hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm tại công ty dệt may Thành Công”, Luận văn thạc sĩ, Đại
học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Nghiên cứu tập trung về mặt lý luận kế toán chi phí sản xuất và các phươngpháp tính giá thành sản phẩm cũng như phương pháp quản lý chi phí sản xuất vàtính giá thành sản phẩm của công ty Dệt may Thành Công, từ đó đưa ra các giảipháp đổi mới thông qua quá trình phân tích thực trạng và được kiểm nghiệm thực tếtrong suốt quá trình triển khai đề tài như điều chỉnh phương pháp tính giá thành sản
Trang 18phẩm, các giải pháp tin học hóa công tác kế toán để tăng hiệu quả quản lý chi phí vàđiều hành sản xuất, xây dựng lại mô hình tổ chức bộ máy kế toán mới phù hợp vớinhu cầu quản lý của Công ty, trong đó hoàn chính được bộ máy kế toán quản trị củacông ty, kể cả tổ chức nhân sự và phương pháp thực hiện kế toán quản trị Những đềxuất mới của tác giả Nguyễn Duy Hòa trong nghiên cứu của mình đã có những ýnghĩa thực tiễn to lớn cho công tác kế toán của công ty Dệt may Thành Công, vàđưa ra nhiều gợi ý để các DN sản xuất gần với ngành Dệt may có thể áp dụng.
Như vậy, các công trình nghiên cứu trên đã có những đóng góp đáng kể cả
về mặt khoa học và thực tiễn trong công tác kế toán chi phí và tính giá thánh sảnphẩm Tuy nhiên, chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về các doanh nghiệp xây lắp
và đặc biệt là doanh nghiệp đặc thù chỉ xây lắp mảng cơ điện như Sigma Việt Nam
Do vậy, đề tài “Hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm tại công ty TNHH Sigma Việt Nam” là một công trình nghiên cứu độc lập,
không trùng khớp với bất cứ nghiên cứu nào đi trước
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sảnphẩm trong các DN xây lắp; qua đó làm rõ đặc điểm sản xuất xây lắp ảnh hưởngđến kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm trong các DN xây lắp
- Tìm hiểu và đánh giá thực trạng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giáthành sản phẩm tại Công ty TNHH Sigma Việt Nam
- De xuất các giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩmtại Công ty TNHH Sigma Việt Nam
4 Câu hỏi nghiên cứu
De tài nghiên cứu đã từng bước giải quyết và trả lời các câu hỏi sau:
- Cơ sở lý luận về kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm bao gồm nhữngnội dung cơ bản nào?
- Dặc điểm sản xuất xây lắp có ảnh hưởng gì tới kế toán tập hợp chi phí sảnxuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp?
Trang 19- Thực trạng kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHHSigma Việt Nam như thế nào?
- Kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm của Công ty TNHH Sigma ViệtNam có những điểm mạnh và điểm yếu nào?
- Đe xuất các giải pháp nào để hoàn thiện kế toán chi phí và tính giá thànhsản phẩm tại Công ty TNHH Sigma Việt Nam?
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thànhsản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp
- Chế độ kế toán áp dụng: Thông tư 200/2014/TT-BTC Hướng dẫn chế độ kếtoán doanh nghiệp thay thế chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo QĐ15/2006/QĐ-BTC, Thông tư số 53/2016/TT-BTC về hướng dẫn, bổ sung một sốđiều của TT200/2014/ TT-BTC
6 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được nghiên cứu và thực hiện với phương pháp duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp điều tra, phân tích, hệ thống hóa;phương pháp khảo sát, ghi chép việc thống kê; phương pháp tổng hợp, thống kê
để nghiên cứu, phân tích, đánh giá, trình bày các vấn đề có liên quan đến kế toán chiphí và tính giá thành sản phẩm trong các DN xây lắp nói chung và tại công tyTNHH Sigma Việt Nam nói riêng
- Nguồn dữ liệu và phương pháp thu nhập dữ liệu:
+ Đối với dữ liệu sơ cấp:
Trang 20Để thu thập thông tin phục vụ cho nghiên cứu, tác giả sử dụng Bảng khảo sátđược chuẩn bị trước, nội dung chứa đựng thông tin liên quan đến công tác kế toánchi phí tính giá thành sản phẩm để phỏng vấn các kế toán viên, kế toán trưởng thuộccông ty TNHH Sigma Việt Nam.
Tác giả cũng thực hiện phỏng vấn đối với lãnh đạo công ty Sigma để thu thậpcác dữ liệu liên quan đến công tác kế toán chi phí và tính giá thánh sản phẩm củacông ty
Tác giả cũng sử dụng phương pháp khảo sát, ghi chép để nghiên cứu đối với
hệ thống sổ sách, cơ sở vật chất thực hiện công tác kế toán chi phí và tính giá thànhsản phẩm tại công ty TNHH Sigma Việt Nam
+ Đối với dữ liệu thứ cấp:
Các dữ liệu về cơ sở lý luận về kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm tácgiả lấy từ các giáo trình, bài giảng, sách báo
Hệ thống BCTC các năm 2013, 2014, 2015 được cung cấp từ ban tài chính
kế toán của công ty và được kiểm toán bởi các kiểm toán viên độc lập của Công tyTNHH Tài chính & kiểm toán Việt Nam
Các chỉ tiêu bình quân ngành xây lắp Tác giả đã thu thập nguồn thông tin từcác website cũng như BCTC của một số doanh nghiệp cùng ngành đang hoạt động
ở Việt Nam
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Số liệu thu được từ điều tra, quan sát, phỏng
vấn, ghi chép được tác giả tổng hợp lại, sử dụng phương pháp phân tổ thống kê
để sử dụng xử lý thông tin Trên cơ sở đó, tác giả thực hiện đánh giá, phân tích thựctrạng công tác kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại công ty TNHH SigmaViệt Nam để từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện
- Phương pháp trình bày dữ liệu: Luận văn được tác giả trình bày dưới dạng
lời văn kết hợp với bảng, biểu, sơ đồ, đồ thị phân tích
7 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu.
- Giá trị khoa học: Luận văn đã góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về kế
Trang 21toán chi phí và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp, cụ thể: làm
rõ đặc điểm sản xuất xây lắp ảnh hưởng tới kế toán chi phí và tính giá thành sảnphẩm, yêu cầu, phương pháp và nội dung kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩmtrong các doanh nghiệp xây lắp
- Giá trị ứng dụng thực tiễn:
Qua phân tích thực trạng, Luận văn đề xuất hoàn thiện kế toán chi phí và tínhgiá thành sản phẩm tại Sigma Việt Nam Trên góc độ quản trị công ty, Luận văn đềxuất gắn kết kế toán tài chính với kế toán quản trị trong việc hoàn thiện xây dựngđịnh mức giá và lập dự toán, phân tích biến động chi phí để kiểm soát chi phí vàphục vụ ra quyết định.
8 Ket cấu của đề tài nghiên cứu
Ngoài các danh mục, tài liệu tham khảo, phụ lục, phần mở đầu và phần kếtluận, đề tài nghiên cứu được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp.
Chương 2: Thực trạng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Sigma Việt Nam.
Chương 3: Một số giải pháp, kiến nghị hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Sigma Việt Nam.
Trang 221.1.1 Đặc điểm sản xuất xây lắp ảnh hưởng đến kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm
Xây lắp cơ bản (XDCB) là ngành sản xuất vật chất quan trọng mang tính chất
công nghiệp nhằm tạo cơ sở vật chất kĩ thuật cho nền kinh tế quốc dân Một bộ phậnlớn của nền kinh tế quốc dân, của quỹ tích lũy cùng với vốn đầu tư của nước ngoàiđược sử dụng trong lĩnh vực xây dựng cơ bản
So với các ngành sản xuất khác, ngành XDCB có những đặc điểm về kinh tế
-kĩ thuật riêng biệt, thể hiện rất rõ nét ở sản phẩm xây lắp và quá trình tạo ra sảnphẩm của ngành Điều này đã chi phối đến công tác kế toán chi phí sản xuất và tínhgiá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp
Sản xuất xây lắp là hoạt động xây lắp mới, mở rộng, khôi phục, cải tạo lại,
hay hiện đại hóa các công trình hiện có thuộc mọi lĩnh vực trong nền kinh tế quốcdân (như giao thông thủy lợi, khu công nghiệp, các công trình quốc phòng, các côngtrình dân dụng khác) Đây là hoạt động tạo ra cơ sở vật chất kĩ thuật cho mọi ngànhtrong nền kinh tế
Doanh nghiệp xây lắp là đơn vị kinh tế cơ sở, là nơi trực tiếp sản xuất kinh
doanh, gồm một tập thể lao động nhất định có nhiệm vụ sử dụng các tư liệu laodộng và đối tượng lao động để sản xuất ra các sản phẩm xây lắp và tạo nguồn tíchlũy cho Nhà Nước
Đối với doanh nghiệp xây lắp, việc tổ chức công tác kế toán phải đảm bảo ghichép đầy đủ, kịp thời tình hình về hoạt động xây lắp nhằm ghi nhận doanh thu, chiphí theo hợp đồng xây lắp, xác định lợi nhuận kế toán của hoạt động xây lắp, trên
Trang 23cơ sở đó cung cấp thông tin cho người sử dụng để đưa ra các quyết định về quản lý,đầu tư Để thực hiện điều này, trước hết việc tổ chức kế toán ở doanh nghiệp phảiđảm bảo phù hợp với những đặc điểm của sản xuất xây lắp, cụ thể:
Thứ nhất, sản xuất xây lắp là một loại sản xuất công nghiệp đặc biệt theo đơn đặt hàng Sản phẩm xây lắp mang tính đơn chiếc, riêng lẻ.
Mỗi đối tượng xây lắp là từng công trình, hạng mục công trình, đòi hỏi yêucầu kĩ thuật, kết cấu, hình thức, địa điểm xây lắp thích hợp, được xác định cụ thểtrên từng thiết kế dự toán của từng đối tượng xây lắp riêng biệt Vì vậy, khi thi côngxây lắp, nhà thầu phải luôn thay đổi phương thức tổ chức thi công, biện pháp thicông sao cho phù hợp với đặc điểm của từng sản phẩm xây lắp, đảm bảo cho việcthi công mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất và sản xuất được liên tục
Do tính chất đơn chiếc, đơn lẻ, nên chi phí bỏ ra để thi công xây lắp các côngtrình có nội dung và cơ cấu không đồng nhất như các loại sản phẩm công nghiệp
Từ đặc điểm này, kế toán phải tính đến việc theo dõi ghi nhận chi phí, tính giá thành
và tính kết quả thi công cho từng sản phẩm xây lắp riêng biệt (từng công trình, hạngmục công trình) hoặc từng nhóm sản phẩm xây lắp nếu chúng được xây lắp theocùng một thiết kế mẫu và trên cùng một địa điểm nhất định
Thứ hai, đối tượng xây lắp thường có khối lượng lớn, giá trị lớn, thời gian thi công tương đối dài.
Kì tính giá thành sản phẩm xây lắp không xác định hàng tháng như trong cácdoanh nghiệp sản xuất công nghiệp, mà được xác định tùy thuộc vào đặc điểm kĩthuật của từng công trình, điều này thể hiện qua phương thức thanh toán giữa haibên nhà thầu và khách hàng Trong xây lắp, do chu kì sản xuất dài, nên đối tượngtính giá thành là sản phẩm xây lắp hoàn chỉnh, cũng có thể là sản phẩm xây lắphoàn thành đến giai đoạn quy ước (có dự toán riêng)
Do vậy, việc xác định đúng đắn đối tượng chi phí giá thành và kì tính giáthành sẽ đáp ứng yêu cầu quản lý kịp thời và chặt chẽ chi phí, đánh giá đúng đắntình hình quản lý và thi công trong từng thời kì nhất định, và còn tránh tình trạng
Trang 24căng thẳng vốn cho nhà thầu.
Thứ ba, sản xuất xây lắp thường diễn ra ngoài trời, chịu tác động trực tiếp của các yếu tố môi trường, thời tiết, do vậy thi công mang tính thời vụ.
Các yếu tố môi trường, thời tiết có ảnh hưởng đến kĩ thuật thi công, tốc độ,tiến độ thi công, đồng thời nhà thầu còn phải chú ý đến những biện pháp bảo quảnmáy thi công và vật liệu ngoài trời
Thời gian thi công dài và diễn ra ngoài trời còn tạo nhiều nhân tố gây nênnhững khoản thiệt hại bất ngờ như thiệt hại phá đi làm lại, thiệt hại ngừng sản xuất
Kế toán phải chọn những phương pháp hợp lý để xác định những chi phí mangtính chất thời vụ và những khoản thiệt hại một cách đúng đắn
Thứ tư, sản xuất xây lắp được thực hiện trên các địa điểm biến động Sản phẩm xây lắp mang tính chất cố định, gắn liền với địa điểm xây lắp, khi hoàn thành không nhập kho như các ngành sản xuất vật chất khác.
Trong quá trình thi công, nhà thầu thường xuyên phải di chuyển địa điểm Do
đó sẽ phát sinh các chi phí cần thiết khách quan như chi phí điều động công nhân,điều động máy thi công, chi phí xây lắp các công trình tạm phục vụ công nhân vàthi công, chi phí chuẩn bị mặt bằng và san dọn mặt bằng sau khi thi công xong
Kế toán phải ghi nhận các chi phí này và tổ chức phân bổ hợp lý Mặt khác, sảnphẩm xây lắp cố định, được thi công theo đơn đặt hàng của khách hàng, nên khi tiêuthụ chỉ qua thủ tục bàn giao giữa hai bên nhà thầu và khách hàng trên cơ sở kiểmnhận khối lượng, chất lượng công việc theo đúng thiết kế dự toán đã quy định, dựatrên hợp đồng xây lắp đã kí kết
Thứ năm, đặc điểm tiêu thụ trong xây lắp.
Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ tại chỗ, không nhập kho Sản phẩm tiêu thụtrong xây lắp vừa là sản phẩm hoàn chỉnh (công trình, hạng mục công trình hoànthành), vừa là sản phẩm theo giai đoạn quy ước Quá trình tiêu thụ sản phẩm trongxây lắp là quá trình bàn giao sản phẩm xây lắp hoàn thành cho khách hàng
Từ những đặc điểm trên đây, đòi hỏi công tác kế toán vừa phải đáp ứng những
Trang 25yêu cầu chung về chức năng, nhiệm vụ kế toán một Doanh nghiệp sản xuất vừa phảiđảm bảo phù hợp đặc trưng riêng của ngành XDCB nhằm cung cấp thông tin chínhxác, kịp thời, cố vấn cho lãnh đạo cho việc tổ chức quản lí để đạt hiệu quả cao trongsản xuất - kinh doanh của Doanh nghiệp.
1.1.2 Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
1.1.2.1 Chi phí sản xuất
❖ Khái niệm chi phí sản xuất
Theo Chuẩn mực kế toán số 01- Chuẩn mực chung thì chi phí là tổng giá trị
các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kì kế toán dưới hình thức các khoản tiềnchi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảmvốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữudoanh nghiệp [2]
Trong kinh tế học vi mô, chi phí sản xuất chiếm một vị trí quan trọng và cóquan hệ với nhiều vấn đề khác nhau của một doanh nghiệp cũng như của xã hội Chiphí sản xuất không chỉ là mối quan tâm của doanh nghiệp, của nhà sản xuất mà còn
là mối quan tâm của người tiêu dùng và của xã hội Giảm chi phí sản xuất làm tănglợi nhuận của doanh nghiệp, tăng tính cạnh tranh của hàng hóa, đồng thời cũng làmtăng lợi ích cho người tiêu dùng
Xét ở phạm vi hẹp hơn, chi phí sản xuất trong XDCB là biểu hiện bằng tiền
của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá cùng các chi phí khác mà doanh nghiệp phải bỏ ra trong quá trình phát sinh và cấu thành nên một sản phẩm xây lắp.
Chi phí sản xuất XDCB gồm hai bộ phận:
- Lao động sống: Là các chi phí về tiền công, trích BHXH, BHYT, KPCĐ,BHTN tính vào chi phí sản phẩm xây lắp
- Lao động vật hóa: Bao gồm chi phí sử dụng TSCĐ, chi phí NVL, nhiên liệu,công cụ, dụng cụ Trong chi phí về lao động vật hóa bao gồm hai yếu tố cơ bản là
tư liệu lao động và đối tượng lao động
Trang 26Trên thực tế, trong quá trình hoạt động SXKD, doanh nghiệp còn phải bỏ ranhiều loại chi phí khác ngoài chi phí về lao động sống và lao động vật hóa Vì vậy,hiểu theo một cách đầy đủ, chi phí sản xuất là số tiền mà một nhà sản xuất haydoanh nghiệp phải chi để mua các yếu tố đầu vào cần thiết cho quá trình sảnxuất hàng hóa nhằm mục đích thu lợi nhuận.
❖ Phân loại chi phí sản xuất:
Phân loại CPSX là việc sắp xếp CPSX vào từng loại, từng nhóm khác nhautheo những nội dung nhất định Trong XDCB, CPSX bao gồm nhiều loại có nộidung kinh tế, công dụng và yêu cầu quản lí đối với từng loại khác nhau Việc quản
lí chi phí không chỉ dựa vào số liệu tổng hợp mà còn căn cứ vào số liệu cụ thể củatừng loại chi phí theo từng công trình, hạng mục công trình Do đó, phân loại CPSX
là một yêu cầu tất yếu để hạch toán chính xác CPSX và tính giá thành sản phẩm
Thứ nhất, phân loại theo yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp Theo cách phân loại này, CPSX của doanh nghiệp được chia thành:
- Chi phí ban đầu: là chi phí mà ngay từ đầu quá trình sản xuất doanh nghiệp
phải tổ chức chuẩn bị Chi phí này phát sinh trong mối quan hệ giữa doanh nghiệpvới môi trường kinh tế bên ngoài, nên còn gọi là chi phí ngoại sinh Chi phí ban đầuđược chia thành các yếu tố chi phí có nội dung kinh tế khác nhau và không thể phânchia được nữa về nội dung kinh tế, vì vậy mỗi yếu tố được gọi là chi phí đơn nhất
- Chi phí luân chuyển nội bộ: là các khoản chi phí phát sinh trong quá trình
phân công lao động trong nội bộ doanh nghiệp Các chi phí này phát sinh do có sựkết hợp các yếu tố đầu vào sau một quá trình sản xuất kinh doanh nhất định Do đó,chi phí luân chuyển nội bộ là các chi phí tổng hợp được cấu thành bởi nhiều khoảnchi phí ban đầu nên còn gọi là chi phí hỗn hợp
Cách phân loại theo tiêu thức này cho biết chi phí sản xuất đơn nhất theo từngyếu tố, đồng thời xác định được nội dung của từng khoản chi phí, tạo điều kiện choviệc xác định phương pháp và trình tự tính giá thành sản phẩm của doanh nghiệp
Thứ hai, phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng của chi phí.
Trang 27Theo cách phân loại này, CPSX của doanh nghiệp bao gồm các mục chính:
- CPNVLTT: Gồm toàn bộ trị giá nguyên vật liệu sử dụng trực tiếp cho thi
công công trình mà đơn vị xây lắp bỏ ra (vật liệu chính, vật liệu phụ, cấu kiện bêtông chế sẵn ) chi phí này không bao gồm thiết bị do Chủ đầu tư bàn giao
- CPNCTT: Gồm toàn bộ tiền lương chính, lương phụ, phụ cấp và các khoản
trích theo lương (BHXH, BHYT, BHTN) của công nhân trực tiếp sản xuất, côngnhân vận chuyển vật liệu thi công, công nhân làm nhiệm vụ bảo dưỡng, dọn dẹptrên công trường
- CPSDMTC: Gồm chi phí trực tiếp liên quan đến việc sử dụng máy thi công
để thực hiện công tác xây lắp và lắp đặt các công trình, hạng mục công trình baogồm: Tien lương công nhân điều khiển máy, nguyên nhiên liệu sử dụng cho máy,khấu hao máy thi công
- CPSXC: Bao gồm các chi phí có liên quan đến tổ, đội xây lắp, tức là liên
quan đến nhiều công trình, hạng mục công trình Nội dung của các khoản chi phínày gồm: lương nhân viên tổ, đội, các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý
và công nhân sản xuất, lương phụ của công nhân sản xuất; chi phí vật liệu dùngchung cho phân xưởng sản xuất, các đội sản xuất để quản lý các hoạt động sản xuất
ở phân xưởng; chi phí về công cụ, dụng cụ được sử dụng ở phân xưởng để phục vụsản xuất và quản lý sản xuất; khấu hao TSCĐ (không phải là khấu hao máy móc thicông); chi phí dịch vụ mua ngoài (điện, nước, văn phòng phẩm ), chi phí bằng tiềnkhác: chi tiếp khách, nghiệm thu bàn giao công trình
Cách phân loại này phục vụ cho yêu cầu quản lý CPSX theo định mức, cungcấp số liệu cho công tác tính giá thành sản phẩm và phân tích tình hình thực hiện kếhoạch giá thành, từ đó lập định mức CPSX và kế hoạch giá thành cho kì sau Đồngthời, đây cũng là cơ sở để lập Báo cáo CPSX theo yếu tố trên Bảng thuyết minhBCTC, xây dựng định mức Vốn lưu động, lập kế hoạch mua sắm vật tư, tổ chức laođộng tiền lương, thuê máy thi công
Do đặc điểm của sản phẩm xây lắp và phương pháp lập dự toán cho từng đối
Trang 28tượng theo các khoản mục giá thành trong XDCB nên cách phân loại chi phí theokhoản mục là phương pháp sử dụng phổ biến trong các doanh nghiệp XDCB.
Trên đây là các cách phân loại chi phí sản xuất thường dùng trong doanhnghiệp XDCB, ngoài ra chi phí sản xuất còn được phân loại thành: Định phí và biếnphí, chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
Thứ ba, phân loại theo quan hệ của chi phí với khối lượng công việc, sản phẩm hoàn thành Theo cách phân loại này chi phí được chia thành:
- Chi phí khả biến (biến phí): là những chi phí thau đổi về tổng số khi có sự
thay đổi mức độ hoạt động của doanh nghiệp
- Chi phí bất biến (định phí): là những chi phí không thay đổi về tổng số khi
có sự thay đổi mức độ hoạt động của doanh nghiệp
- Chi phí hỗn hợp: là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả các yếu tố của định
- Chi phí gián tiếp: là những chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng kế toán
tập hợp chi phí khác nhau nên không thể quy nạp trực tiếp cho từng đối tượng tậphợp chi phí được mà phải tập hợp theo từng nơi phát sinh chi phí khi chúng phátsinh, sau đó phân bổ cho từng đối tượng
Cách phân loại này giúp ích rất nhiều trong kĩ thuật hạch toán và các báo cáoquản trị
Thứ năm, phân loại theo dự toán.
Để lập dự toán công trình người ta phân loại chi phí sản xuất thành các khoảnsau: chi phí xây lắp, chi phí mua sắm, chi phí khác và chi phí dự phòng
Trang 291.1.2.2 Giá thành sản phẩm xây lắp
❖ Khái niệm giá thành sản phẩm xây lắp
Trong sản xuất, CPSX chỉ là một mặt thể hiện sự hao phí, để đánh giá chấtlượng SXKD của một doanh nghiệp, CPSX phải được xem xét trong mối quan hệchặt chẽ với kết quả sản xuất Quan hệ so sánh đó hình thành nên khái niệm giáthành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lượng công tác, sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành.
Đối với doanh nghiệp xây lắp giá thành sản phẩm là toàn bộ chi phí tính bằngtiền để hoàn thành khối lượng xây lắp theo quy định
Giá thành sản phẩm xây lắp là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ảnh chất lượng của hoạt động xây lắp, kết quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, lao động, tiền vốn, trong quá trình sản xuất cũng như cá giải pháp kinh tế kĩ thuật mà đơn vị đã thực hiện nhằm đạt được mục đích sản xuất sản phẩm, tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm, là căn cứ để tính toán hiệu quả kinh tế hoạt động xây lắp của đơn vị.
Giá thành sản phẩm xây lắp bao gồm toàn bộ chi phí sản xuất tính cho từngcông trình, hạng mục công trình, khối lượng xây lắp hoàn thành theo quy ước là đãhoàn thành, nghiệm thu, bàn giao và được chấp nhận thanh toán Quá trình sản xuất
là quá trình hoạt động liên tục, ghi nhận sự gia tăng liên tục của chi phí, tuy nhiên,việc tính giá thành sản phẩm chỉ diễn ra tại một thời điểm (thường là cuối kì) Tại
đó có thể một khối lượng sản phẩm chưa hoàn thành nhưng nó đã chứa đựng mộtlượng chi phí nhất định, đó chính là chi phí của sản phẩm làm dở cuối kì trướcchuyển sang Do đó, giá thành sản phẩm hoàn thành trong kì gồm chi phí sản xuấtcủa kì trước chuyển sang và chi phí phát sinh của kì này trừ đi chi phí của sản phẩmlàm dở cuối kì
Trang 30sinh trong kì
Chức năng vốn có của giá thành sản phẩm xoay quanh các vấn đề:
- Chức năng bù đắp chi phí: mỗi doanh nghiệp khi sản xuất kinh doanh cần
phải bỏ ra một lượng hao phí nhất định, hao phí này cần được bù đắp một cách đầy
đủ, kịp thời để đảm bảo yêu cầu tái sản xuất
- Chức năng thước đo hiệu quả SXKD: khi giá thành sản phẩm hạ trong điều
kiện giá bán sản phẩm không thay đổi, doanh nghiệp sẽ có lợi nhuận, thể hiện kếtquả và hiệu quả của việc sử dụng các biện pháp kinh tế, kĩ thuật mà doanh nghiệp
đã thực hiện trong quá trình SXKD
- Chức năng lập giá: giá cả của sản phẩm tiêu thụ trên thị trường phải được
xác định căn cứ vào hao phí lao động xã hội cần thiết Việc hình thành giá cả sảnphẩm dựa vào giá thành bình quân của ngành, của địa phương trong điều kiện sảnxuất kinh doanh bình thường Do đó, cần phải xác định được những hao phí hợp lýtạo nên giá thành sản phẩm
❖ Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp
Trong XDCB, giá thành sản phẩm thường được phân loại như sau:
Thứ nhất, căn cứ vào thời điểm tính giá thành và cơ sở số liệu:
- Giá trị dự toán: Là phần còn lại sau khi lấy giá trị dự toán xây lắp công trình
trừ đi phần thuế và lãi định mức; Là giá trị sản phẩm xây lắp được xây lắp trên cơ
sở thiết kế kĩ thuật đã được duyệt, các định mức kĩ thuật do Nhà Nước qui định, tínhtheo đơn giá tổng hợp từng khu vực thi công và phần lợi nhuận định mức của nhàthầu (giá trị dự toán có thể cộng thêm thuế GTGT)
- Giá thành dự toán: là toàn bộ các chi phí trực tiếp, gián tiếp tạo nên sản
phẩm xây lắp theo đơn giá tổng hợp cho từng khu vực và theo các định mức kinh tế
kĩ thuật do Nhà Nước ban hành để xây lắp công trình
Giá thành dự Giá trị dự toán
toán sản phẩm = sản phẩm xây - Lãi định mức - Thue GTGT
Trang 31- Giá thành kế hoạch: Là giá thành được xây lắp trên cơ sở những điều kiện
cụ
thể của doanh nghiệp về các định mức đơn giá, biện pháp thi công Giá thành kếhoạch được xác định theo công thức:
Giá thành kế hoạch Giá thành dự toán Mức hạ giá
sản phẩm xây lắp sản phẩm xây lắp thành kế hoạch
- Giá thành thực tế: Là biểu hiện bằng tiền của những chi phí thực tế để hoàn
thành khối lượng xây lắp và được xác định theo số liệu kế toán Giá thành sản phẩmthực tế chỉ tính được khi quá trình sản xuất xây lắp đã kết thúc và tạo ra sản phẩm.Tùy theo nỗ lực của DN mà giá thành thực tế có thể cao hơn hoặc thấp hơn sovới giá thành dự toán và giá trị dự toán
Nói chung, để đảm bảo có lãi, về nguyên tắc khi xây lắp kế hoạch giá thành
và tổ chức thực hiện kế hoạch giá thành phải đảm bảo mối quan hệ sau:
Giá thành thực tế < Giá thành kế hoạch < Giá thành dự toán
Thứ hai, căn cứ vào phạm vi tính giá thành:
- Giá thành sản phẩm hoàn chỉnh: Là giá thành của các công trình, hạng mục
công trình đã hoàn thành đảm bảo yêu cầu kĩ thuật, chất lượng theo thiết kế, hợpđồng được Chủ đầu tư chấp nhận thanh toán
- Giá thành công tác xây lắp hoàn thành quy ước: Là giá thành của khối
lượng
hoàn thành đến một giai đoạn nhất định và phải đảm bảo điều kiện:
+ Phải nằm trong thiết kế và đảm bảo chất lượng qui định;
+ Khối lượng phải được xác định một cách cụ thể, được Chủ đầu tư nghiệmthu và chấp nhận thanh toán;
+ Phải đạt được đến điểm dừng kĩ thuật hợp lý
- Giá thành là khối lượng xây lắp hoàn thành do DN xây lắp tự xác định: DN
được thanh toán theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây lắp
1.1.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
CPSX và giá thành sản phẩm là hai mặt biểu hiện của quá trình sản xuất, cómối quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình tạo ra sản phẩm xây lắp CPSX phản
Trang 32ánh mặt hao phí của quá trình sản xuất còn giá thành sản phẩm phản ánh mặt kếtquả sản xuất Chi phí là điều kiện cơ sở để tính giá thành.
CPSX và giá thành sản phẩm đều bao gồm các hao phí về lao động sống vàlao động vật hóa mà doanh nghiệp bỏ ra trong quá trình sản xuất Tuy nhiên về mặtphạm vi, CPSX bao gồm cả CPSX sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm, còn giá thànhsản phẩm chỉ bao gồm CPSX ra sản phẩm (CPSX trực tiếp và CPSX chung) Mặtkhác, CPSX luôn gắn với từng thời kì phát sinh chi phí còn giá thành lại đồng thờiliên quan tới cả chi phí phát sinh trong kì và chi phí kì trước (chi phí dở dang đầu kìchuyển sang) Giá thành sản phẩm gắn với khối lượng sản phẩm công việc, lao vụ
đã sản xuất hoàn thành trong kì mà không tính đến chi phí đó phát sinh ở kì nào,còn CPSX bao gồm toàn bộ chi phí bỏ ra trong một kì sản xuất kinh doanh màkhông tính đến chi phí đó liên quan đến khối lượng sản phẩm hoàn thành hay chưa
Theo quan điểm truyền thống, giá thành sản phẩm được xác định như sau:
thành sản = xuất dở dang + xuất phát sinh xuất dở dang
Theo đó, muốn tính được giá thành sản xuất cần phải xác định được phầnCPSX của sản phẩm dở dang cuối kì
Theo Chuẩn mực kế toán số 15 - Hợp đồng xây lắp, để xác định được giá
thành công trình hạng mục công trình hoàn thành bàn giao từ tổng chi phí phát sinh
có thể áp dụng phương pháp tỷ lệ phần trăm giữa chi phí thực tế phát sinh của phầncông việc đã hoàn thành tại một thời điểm so với tổng chi phí dự toan của hợp đồng,hay phương pháp đánh giá phần công việc hoàn thành hoặc phương pháp tỷ lệ phầntrăm giữa khối lượng xây lắp đã hoàn thành so với khối lượng xây lắp phải hoànthành của hợp đồng [2]
Việc xác định đúng đối tượng, vận dụng đúng phương pháp, tập hợp CPSXđầy đủ, chính xác, loại bỏ những chi phí không cần thiết để tính đúng giá thành sảnphẩm có ý nghía quan trọng đối với các doanh nghiệp sản xuất nói chung và doanhnghiệp xây lắp nói riêng, đảm bảo cho doanh nghiệp tránh được lãi giả, lỗ thật hoặc
Trang 33ngược lại, phục vụ cho công tác quản trị doanh nghiệp cũng như định hướng chohoạt động kinh doanh Theo cả ba cách tính giá thành như trên, ta đều xác địnhđược phần chi phí tương ứng với doanh thu của hợp đồng xây lắp, từ đó lấy tổng chiphí phát sinh trừ đi phần chi phí tương ứng với doanh thu của hợp đồng xây lắp sẽ
ra chi phí xây lắp dở dang cuối kì Theo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi
phí, việc xác định giá thành theo Chuẩn mực 15 - Hợp đồng xây lắp sẽ tuân thủ theo
nguyên tắc phù hợp hơn và tin cậy hơn
1.2 Yêu cầu và nhiệm vụ, đối tượng và phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp
1.2.1 Yêu cầu và nhiệm vụ kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp
❖ Yêu cầu của quản lý:
Với doanh nghiệp xây lắp, hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm là vấn
đề trọng tâm của công tác kế toán hoạt động xây lắp Tập hợp chi phí và thườngxuyên kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của từng loại chi phí phát sinh sẽ góp phầnquản lý tài sản, lao động, vật tư, tiền vốn có hiệu quả, nắm bắt được tình hình thựchiện các định mức về chi phí là bao nhiêu so với dự toán để từ đó có biện pháp phấnđấu hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm Đó là điều kiện quan trọng đểdoanh nghiệp xây lắp tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường Ngoài ra,hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành ảnh hưởng trực tiếp tới tính chính xáccủa giá thành sản phẩm và cuối cùng là ảnh hưởng tới tính trung thực hợp lý của cácthông tin trên BCTC, cũng như cung cấp thông tin đúng đắn, kịp thời phục vụ côngtác quản trị doanh nghiệp
Với Nhà nước, hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong cácdoanh nghiệp xây lắp là cơ sở để Nhà nước kiểm soát vốn đầu tư xây lắp cơ bản vàthu thuế Do đó, công tác quản lý hệ thống kế toán chi phí và tính giá thánh sảnphẩm là một công tác hạch toán trọng tâm, với những yêu cầu cơ bản như sau:
- Phân loại chi phí theo từng tiêu thức hợp lý như phân loại theo yếu tố chi phí
Trang 34kết hợp với phân loại theo khoản mục trong giá thành để nắm được nguyên nhântăng giảm của từng yếu tố trong các khoản mục để có kế hoạch điều chỉnh.
- Mỗi công trình hạng mục đều phải được lập dự toán chi tiết theo từng khoảnmục, từng yếu tố chi phí, theo từng loại vật tư tài sản
- Thường xuyên đối chiếu chi phí thực tế với dự toán để tìm nguyên nhânvượt
chi so với dự toán và có hướng khắc phục
❖ Nhiệm vụ:
Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại doanh nghiệpxây lắp có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Tham gia lập dự toán chi phí xây lắp trên nguyên tắc phân loại chi phí;
- Xác định đúng đối tượng hạch toán chi phí là các công trình, hạng mục côngtrình, các giai đoạn công việc từ đó xác định phương pháp hạch toán chi phí thíchhợp theo đúng các khoản mục quy định và kì tính giá thành đã xác định;
- Xác định chính xác đối tượng tính giá thành là các công trình, hạng mụccông trình, giai đoạn công việc đã hoàn thành Trên cơ sở đó xác định phươngpháp tính giá thành sản phẩm hợp lý;
- Tổ chức tập hợp chi phí và phân bổ chi phí theo đúng đối tượng, cung cấpkịp thời các thông tin, số liệu tổng hợp về các khoản mục chi phí sản xuất và cácyếu tố chi phí quy định, xác định đúng đắn chi phí phân bổ cho các sản phẩm dởdang cuối kì;
- Ghi chép tính toán phản ánh đầy đủ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩmcủa hoạt động xây lắp, xác định hiệu quả từng phần và toàn bộ hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp;
- Định kì cung cấp báo cáo về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cholãnh đạo doanh nghiệp, tiến hành phân tích các định mức chi phí, dự toán, tình hìnhthực hiện kế hoạch giá thành và kế hoạch hạ giá thành sản phẩm, phát hiện kịp thờinhững yếu tố làm tăng chi phí sản xuất để có những biện pháp khắc phục
Trang 351.2.2 Đối tượng và phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
1.2.2.1 Đối tượng và phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất
❖ Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất:
Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi, giới hạn để tập hợp chiphí nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm soát chi phí và tính giá thành sản phẩm theo cácphạm vi, giới hạn đó Như vậy, thực chất của việc xác định đối tượng kế toán tậphợp chi phí sản xuất là việc xác định giới hạn tập hợp chi phí hay xác định nơi phátsinh chi phí và nơi chịu chi phí
Xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí căn cứ vào các yếu tố:
+ Đặc điểm và công dụng của chi phí trong quá trình sản xuất;
+ Đặc điểm, cơ cấu tổ chức sản xuất và quy trình công nghệ, chế tạo sản phẩm(giản đơn hay phức tạp, liên tục hay song song );
+ Loại hình sản xuất sản phẩm (đơn chiếc hay hàng loạt );
+ Yêu cầu kiểm tra, kiểm soát chi phí và yêu cầu hạch toán kế toán nội bộdoanh nghiệp;
+ Năng lực quản lí nói chung và hạch toán nói riêng của doanh nghiệp
Từ đặc điểm hoạt động sản xuất xây lắp dẫn đến đối tượng kế toán chi phí sảnxuất trong xây lắp có thể là: hợp đồng xây lắp, công trình, hạng mục công trình, khuvực thi công
❖ Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất xây lắp
Thứ nhất, tập hợp CPSXxây lắp theo công trình, hạng mục công trình:
Theo phương pháp này, hàng kì (quý, tháng), các chi phí phát sinh có liênquan đến công trình, hạng mục công trình nào thì tập hợp cho công trình, hạng mụccông trình đó Giá thành thực tế của đối tượng đó chính là tổng chi phí được tập hợp
kể từ khi bắt đầu thi công đến khi công trình, hạng mục công trình hoàn thành.Phương pháp này được sử dụng khi đối tượng tập hợp chi phí là toàn bộ công trình,hạng mục công trình
Trang 36Thứ hai, tập hợp CPSXxây lắp theo đơn đặt hàng:
Theo phương pháp này, hàng kì chi phí phát sinh được phân loại và tập hợptheo từng Đơn đặt hàng riêng Khi đơn đặt hàng được hoàn thành thì tổng chi phíphát sinh được tập hợp chính là giá thành thực tế Phương pháp này được sử dụngkhi đối tượng tập hợp chi phí là các đơn đặt hàng riêng
Thứ ba, tập hợp CPSXxây lắp theo đơn vị thi công:
Theo phương pháp này, các chi phí phát sinh được tập hợp theo từng đơn vịthi công công trình Trong từng đơn vị thi công đó, chi phí lại được tập hợp theotừng đối tượng chịu chi phí như: công trình, hạng mục công trình Cuối tháng tậphợp chi phí ở từng đơn vị thi công để so sánh với dự toán Trên thực tế có nhiều yếu
tố chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng, khi đó chi phí cần được phân bổcho từng đối tượng chịu chi phí một cách chính xác và hợp lí, có thể sử dụng cácphương pháp tập hợp sau:
+ Phương pháp tập hợp trực tiếp: kế toán căn cứ vào các chứng từ gốc để tậphợp trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí nên độ chính xác cao hơn
+ Phương pháp phân bổ gián tiếp: áp dụng khi một loại chi phí có liên quanđến nhiều đối tượng kế toán toán tập hợp CPSX, không thể tập hợp trực tiếp chotừng đối tượng Trường hợp này phải lựa chọn tiêu thức hợp lý để tiến hành phân bổchi phí cho từng đối tượng liên quan theo công thức:
C i = (C/T i ) x t i
Trong đó: - C i : Chi phí sản xuất phân bổ cho đối tượng thứ i
- C: Tổng chi phí sản xuất cần phân bổ
- Ti: Tổng đại lượng tiêu chuẩn dùng để phân bổ
- ti: Đại lượng của tiêu chuẩn dùng để phân bổ của đối tượng i
1.2.2.2 Đối tượng và phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp
❖ Đối tượng tính giá thành sản phẩm xây lắp
Để đo lường hiệu quả hoạt động của mình, các Doanh nghiệp phải xác địnhđúng, đủ, chính xác giá thành sản phẩm và công việc đầu tiên là xác định được đúng
Trang 37đối tượng tính giá thành.
Trong hoạt động xây lắp, đối tượng tính giá thành tùy thuộc vào:
- Đối tượng lập dự toán: thường lập cho công trình, hạng mục công trình.
- Phương thức dự toán giữa hai bên nhà thầu và khách hàng: Thanh toán một
lần sau khi công trình hoàn thành toàn bộ hay thanh toán nhiều lần tương ứng vớitừng bộ phận công trình, hạng mục công trình hoàn thành hoặc thanh toán theo tiến
độ kế hoạch hợp đồng xây lắp
- Đối tượng tính giá thành là sản phẩm hoàn chỉnh: Nếu đối tượng lập dự
toán
là công trình và được thanh toán theo công trình, hạng mục công trình
- Đối tượng tính giá thành là sản phẩm hoàn thành theo giai đoạn quy ước:
nếu đối tượng lập dự toán là các đối tượng xây lắp chưa kết thúc toàn bộ công tácquy định trong thiết kế kĩ thuật mà chỉ kết thúc việc thi công đến một giai đoạn nhấtđịnh và được thanh toán theo từng giai đoạn
- Đối tượng tính giá thành là khối lượng xây lắp hoàn thành nhất định do
doanh nghiệp xây lắp tự xác định: Trong trường hợp nhà thầu được thanh toán theo
tiến độ kế hoạch hợp đồng xây lắp
❖ Kì tính giá thành sản phẩm xây lắp
Kì tính giá thành sản phẩm là thời kì bộ phận kế toán giá thành cần phải tiếnhành công việc tính giá thành cho các đối tượng tính giá thành Việc xác định kìtính giá thành hợp lý sẽ giúp cho việc tổ chức công tác giá thành sản phẩm khoahọc, đảm bảo cung cấp số liệu về giá thành của sản phẩm, lao vụ kịp thời, phát huyđầy đủ chức năng giám sát tình hình thực hiện kế hoạch giá thành của Kế toán.Căn cứ vào đặc điểm tổ chức và chu kì sản xuất sản phẩm, kì tính giá thànhtrong Doanh nghiệp XDCB thường là:
+ Đối với những sản phẩm được coi là hoàn thành khi kết thúc mọi công việctrong thiết kế thì kì tính giá thành của sản phẩm đó là khi hoàn thành
+ Đối với những sản phẩm khối lượng lớn, thời gian thi công dài, kì tính giáthành là khi hoàn thành bộ phận sản phẩm có giá trị sử dụng được nghiệm thu hoặc
Trang 38khi từng phần công việc xây lắp đạt đến điểm dừng kĩ thuật hợp lý theo thiết kế kĩthuật có ghi trong Hợp đồng thi công được bàn giao thanh toán
❖ Các phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp
Phương pháp tính giá thành là phương pháp sử dụng số liệu CPSX đã tập hợpđược của kế toán để tính tổng giá thành và giá thành đơn vị sản phẩm hoặc lao vụ
đã hoàn thành trong kì theo các yếu tố hoặc khoản mục giá thành trong kì tính giáthành đã xác định
Tuỳ theo đặc điểm của từng đối tượng tính giá thành, mối quan hệ giữa các đốitượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành mà kế toán sẽ sử dụng phươngpháp thích hợp để tính giá thành cho từng đối tượng Trong các Doanh nghiệp xâylắp thường áp dụng các phương pháp tính giá thành sau:
Thứ nhất, phương pháp trực tiếp (giản đơn):
Theo phương pháp này, tập hợp tất cả các CPSX phát sinh trực tiếp cho mộtcông trình, hạng mục công trình từ khi khởi công đến khi hoàn thành chính là giáthành thực tế của nó, trên cơ sở số liệu CPSX đã tập hợp trong kì và chi phí của sảnphẩm dở dang đã xác định, giá thành sản phẩm tính cho từng khoản mục chi phítheo công thức sau:
Z = D dk + C - D CK
Trong đó :
D dk : Trị giá sản phẩm dở dang đầu kì
C : Chi phí sản xuất phát sinh trong kì
D ck : Trị giá sản phẩm dở dang cuối kì
Nếu các hạng mục công trình có thiết kế khác nhau, dự toán khác nhau nhưngcùng thi công trên một địa điểm do một công trình sản xuất đảm nhận nhưng không
có điều kiện theo dõi việc sử dụng các loại chi phí khác nhau cho từng hạng mụccông trình thì từng loại chi phí đã được tập hợp trên toàn công trình đều phải tiếnhành phân bổ cho từng hạng mục công trình Khi đó, giá thành thực tế của từnghạng mục công trình sẽ là:
Trang 39Ztt = Gdt 1 × HTrong đó:
H là tỷ lệ phân bổ giá thành thực tế
_ ∑C ×100
H -—
∑Gdt
∑C : tổng chi phí thực tế của các công trình
∑ Gdt : tổng dự toán của tất cả các công trình
∑ Gdti : giá trị dự toán của hạng mục công trình
Ztt : giá thành thực tế của từng hạng mục
Thứ hai, phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng:
Phương pháp này áp dụng cho trường hợp Doanh nghiệp nhận thầu theo Đơnđặt hàng CPSX thực tế phát sinh được tập hợp theo từng Đơn đặt hàng và giá thànhthực tế của Đơn đặt hàng đó chính là toàn bộ CPSX tập hợp từ khi khởi công đếnkhi hoàn thành Đơn đặt hàng
Thứ ba, phương pháp tổng cộng chi phí:
Phương pháp này áp dụng với công việc xây lắp các công trình lớn, phức tạp
và quá trình xây lắp sản phẩm có thể chia ra các đối tượng sản xuất khác nhau Khi
đó đối tượng tập hợp CPSX là từng đội sản xuất, còn đối tượng tính giá thành sảnphẩm hoàn thành Để tính giá thành cuối cùng phải tổng hợp CPSX trừ đi chi phíthực tế của SPDD cuối kì của từng đội và cộng thêm chi phí thực tế của sản phẩm
dở dang đầu kì
Công thức: Z = D dk + C∣ + C 2 + + C n - DCK
Trong đó: C i (i=(1,n )) : CPSX ở từng đội sản xuất hay từng hạng mục côngtrình của một công trình
Thứ tư, phương pháp tính giá thành theo định mức:
Phương pháp này, việc tính giá thành sản phẩm được được áp dụng với cácDoanh nghiệp thoả mãn điều kiện sau:
- Phải tính được giá thành định mức trên cơ sở các định mức và đơn giá tại
Trang 40thời điểm tính giá thành.
- Chỉ ra một cách chính xác các thay đổi định mức trong quá trình thực hiệnthi công công trình
- Xác định được các chệnh lệch so với định mức và nguyên nhân gây ra chênhlệch đó
Giá thành thực tế của sản phẩm xây lắp được xác định theo công thức:
+ Phương pháp tính giá thành theo hệ số
+ Phương pháp tính giá thành theo tỷ lệ
1.3. Ke toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
1.3.1 Ke toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Phương pháp hạch toán: Trong các doanh nghiệp sản xuất nói chung có hai
phương pháp quản lý hàng tồn kho là: Phương pháp kê khai thường xuyên; Phươngpháp kiểm kê định kì Nhưng đối với các doanh nghiệp xây lắp, do đặc điểm sảnphẩm, ngành nghề riêng biệt: Các sản phẩm xây lắp thường mang tính đơn chiếc vớiquy mô lớn, quy trình công nghệ phức tạp nên thông thường các doanh nghiệp cơ