1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hệ thống triết lí trong truyện ngắn của nam cao trước cách mạng tháng tám

56 2,6K 23
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hệ thống triết lí trong truyện ngắn của Nam Cao trước cách mạng tháng Tám
Người hướng dẫn Thạc sĩ Nguyễn Văn Khương
Trường học Trường Đại học An Giang
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2008
Thành phố Long Xuyên
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 920,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những suy nghĩ, những nhận định có tính chất bao quát của Nam Cao về cuộc đời đã được nhà văn thể hiện trong tác phẩm bằng một giọng điệu tâm lí riêng hết sức thâm thúy, chứng tỏ ông là

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA SƯ PHẠM NGỮ VĂN

HỒ CẨM KIM LỚP DH5C2

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGÀNH NGỮ VĂN

HỆ THỐNG TRIẾT LÍ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

Giáo viên hướng dẫn Thạc sĩ NGUYỄN VĂN KHƯƠNG

Long Xuyên, 05/2008

Trang 2

X W

Trước hết em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến mẹ em, người đã sinh thành, dạy dỗ, tạo mọi điều kiện về vật chất lẫn tinh thần trong suốt quá trình học tập của em

Em cũng xin cảm ơn tập thể quí thầy cô trong bộ môn Ngữ văn đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành khoá luận

Đặc biệt, em xin tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến Thạc sĩ Nguyễn Văn Khương Thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến những người bạn đã hết lòng giúp đỡ, động viên em hoàn thành khoá luận này

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!

Hồ Cẩm Kim

Trang 3

A MỞ ĐẦU

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Văn học luôn phản ánh đời sống Nhờ văn học mà bộ mặt nước ta qua từng thời

kì đã hiện ra một cách chân thực và đầy đủ nhất Những nhà văn hiện thực phê phán giai đoạn 1930 -1945 đã có công rất lớn trong việc tái hiện một xã hội mà trong đó đầy rẫy những bất công tàn bạo vô nhân tính Bên cạnh Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan… thì Nam Cao nổi lên như một vì tinh tú sáng chói trên nền trời văn học

việt Nam thời kì thực dân nửa phong kiến “Sáng tác của Nam Cao đã vượt qua được

những thử thách khắc nghiệt của thời gian, càng thử thách càng ngời sáng” (Trần Đăng

Suyền, 2004:17) Có thể nói Nam Cao là một nhà văn lớn đã kết thúc vẻ vang trào lưu văn học hiện thực phê phán giai đoạn 1930 -1945 Ở Nam Cao, chúng ta bắt gặp một hiện tượng phổ biến trong tác phẩm của ông, đó là đề tài hẹp mà tư tưởng và chủ đề rộng lớn Vì thế, tác phẩm của Nam Cao chứa đựng những giá trị hiện thực sâu sắc, đã được khẳng định qua mọi thời đại Chính vì những điều đó, Nam Cao cùng nhiều tác phẩm của ông đã được đưa vào giảng dạy ở chương trình phổ thông và chiếm một thời lượng không ít Như vậy, tài năng của ông đã được khẳng định đúng với giá trị của nó

Qua các tác phẩm của mình, Nam Cao đã chứng tỏ là một nhà văn từng trải và

có kinh nghiệm sống rất phong phú Là một nhà văn có tầm nhân loại, “Nam Cao đi tìm

những chân lí, triết lí về cuộc đời tìm ngay trong cuộc sống lấm láp bộn bề với thực tế diễn ra hàng ngày và diễn đạt nó bằng hình thức nghệ thuật ngôn từ: truyện” (Phạm

Văn Phúc, 2000:381) Tác phẩm Nam Cao có rất nhiều khía cạnh có giá trị sâu sắc mang tính thời sự được khá nhiều người quan tâm Qua quá trình tìm hiểu và nghiên cứu lâu dài, chúng tôi nhận thấy triết lí sống trong truyện ngắn Nam Cao là một vấn đề hết sức thú vị Những suy nghĩ, những nhận định có tính chất bao quát của Nam Cao về cuộc đời đã được nhà văn thể hiện trong tác phẩm bằng một giọng điệu tâm lí riêng hết sức thâm thúy, chứng tỏ ông là một người có cái nhìn rất sâu sắc Nhận ra điều đó, chúng tôi

đã chọn đề tài “Hệ thống triết lí trong truyện ngắn của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám” để nghiên cứu, đi sâu, phân tích, lí giải, một cách hệ thống và toàn diện về vấn đề này Việc nghiên cứu sẽ giúp người viết có thêm nhiều kinh nghiệm trong việc cảm nhận cũng như phân tích các tác phẩm của Nam Cao nói chung và truyện ngắn nói riêng Như vậy nghiên cứu vấn đề này sẽ đem lại nhiều lợi ích cho công tác giảng dạy cũng như học tập sau này Đồng thời đề tài sẽ góp phần khẳng định thêm những đóng góp của Nam Cao trong suốt tiến trình phát triển của văn học hiện đại Việt Nam

Trang 4

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

Nội dung trong tác phẩm của Nam Cao rất đa dạng, phong phú, phản ánh nhiều lĩnh vực trong cuộc sống Ở đây, chúng tôi đi sâu nghiên cứu triết lí nhân sinh của Nam Cao về Đời về Kiếp của con người, về miếng ăn và lòng khinh trọng ở đời, về cái lương thiện và cái ác, cái xấu, về sự sung sướng và nỗi khổ đau, về tình yêu và hạnh phúc,… Đây hẳn là một vấn đề lí thú vì nó tập trung thể hiện những quan niệm, tư tưởng của nhà văn về cuộc sống

2 Phạm vi nghiên cứu

Trong đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu hệ thống triết lí trong phạm vi truyện ngắn của Nam Cao trước cách mạng tháng tám Bên cạnh đó, người viết còn tìm hiểu thêm những tác phẩm sau cách mạng Đó là cơ sở giúp người viết hiểu sâu sắc vấn

đề nghiên cứu

III MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu đề tài này để thấy được cái nhìn của tác giả về cuộc đời, nhận ra cái hay, cái sâu sắc của Nam Cao khi thể hiện những triết lí trong tác phẩm Đồng thời, người viết có thể nhận rõ một nét tiêu biểu trong phong cách sáng tác của Nam Cao Từ

đó đánh giá đúng vai trò của Nam Cao là đã góp phần làm nên sự đa dạng cho nền văn học nước nhà, giúp bổ sung cái nhìn toàn diện về những đặc sắc trong các sáng tác của Nam Cao

Bên cạnh đó nghiên cứu để củng cố kỹ năng phân tích, giúp người viết có thêm kiến thức về nhà văn Nam Cao và các tác phẩm của ông Ngoài ra nghiên cứu đề tài này cũng giúp phục vụ cho công tác giảng dạy sau này tốt hơn Đó cũng là tài liệu cho các bạn sinh viên quan tâm đến vấn đề này

IV NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

1 Tìm hiểu nội dung chi tiết hệ thống triết lí thể hiện trong truyện ngắn của Nam Cao trước cách mạng tháng tám: triết lí về sự sống cái chết, về Đời về Kiếp con người, triết lí về sự sung sướng và nỗi khổ đau, triết lí về cái lương thiện và cái ác, cái xấu, triết

lí về miếng ăn và lòng khinh trọng ở đời, triết lí về tình yêu và hạnh phúc Qua đó người viết có thể thấy được những tư tưởng, quan niệm của Nam Cao có nhiều điểm tiến bộ và khác biệt so với các nhà văn trước đó và cùng thời

2 Tìm hiểu nghệ thuật của Nam Cao khi thể hiện những triết lí sống trong các tác phẩm

Trang 5

V ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Triết lí sống là một mảng nội dung quan trọng trong truyện ngắn của Nam Cao Nghiên cứu đề tài này sẽ giúp hiểu sâu sắc hơn các tác phẩm của ông Ngoài ra, đề tài sẽ giúp ích rất nhiều cho công tác giảng dạy sau này, giúp học sinh hiểu được một khía cạnh trong truyện ngắn Nam Cao, tăng cường hiệu quả cảm thụ và phân tích tác phẩm

Bên cạnh đó, đề tài còn góp phần bổ sung cái nhìn toàn diện về những đóng góp của Nam Cao đối với nền văn học dân tộc Đề tài thành công, có thể là tài liệu hết sức bổ ích cho các bạn sinh viên, học sinh khi cần đi sâu tìm hiểu Nam Cao và các tác phẩm của ông

VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Phương pháp đọc tài liệu

Phương pháp này được tiến hành bằng cách đọc và chọn lọc những chi tiết, những từ ngữ, nhận định, ý kiến… có liên quan đến vấn đề nghiên cứu từ các nguồn tài liệu như: sách, báo, tạp chí…

2 Phương pháp thống kê

Sau quá trình đọc tài liệu người viết tiến hành tổng hợp, thống kê tài liệu đã sưu tầm được, minh chứng cho những vấn đề đã đưa ra

3 Phương pháp phân tích

Đây là phương pháp cơ bản khi tiến hành nghiên cứu đề tài Từ những tài liệu

đã tập hợp và thống kê đầy đủ, người viết tiến hành phân tích hệ thống triết lí và nghệ thuật thể hiện triết lí trong tác phẩm của Nam Cao Từ đó thấy được những chiêm nghiệm của Nam Cao về cuộc đời, đồng thời làm rõ giá trị nội dung và nghệ thuật trong các sáng tác của ông

4 Phương pháp so sánh

Trong quá trình vận dụng phương pháp phân tích, người viết tiến hành liên hệ những triết lí của Nam Cao với những tác gia khác Như vậy sẽ giúp cho đề tài thêm sức thuyết phục và khẳng định được tài năng cùng những đóng góp của Nam Cao trong tiến trình hiện đại hoá nền văn học Việt Nam

VII LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Nam Cao là một nhà văn hiện thực xuất sắc, điều này không một ai có thể phủ nhận Ngay từ khi tên tuổi của Nam Cao được khẳng định qua tác phẩm Chí Phèo, cho đến nay đã có hơn hai trăm bài báo và công trình nghiên cứu viết về Nam Cao cùng các sáng tác của ông Trong đó có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến hệ thống triết lí trong truyện ngắn của Nam Cao Chúng tôi đã tập hợp được một số ý kiến cơ bản xoay quanh vấn đề này

Nhiều nhà phê bình nghiên cứu đã thâm nhập sâu vào thế giới nghệ thuật của Nam Cao và nhận định: những triết lí sống trong truyện ngắn của Nam Cao là một

Trang 6

phong cách riêng của ông Có nhiều ý kiến đã gặp nhau khi nói về vấn đề này, có thể kể đến như sau:

Hà Minh Đức (1998: 234) đã chỉ ra rằng: “Chất suy nghĩ và triết lí trong sáng tác của Nam Cao là một mặt mạnh của ngòi bút góp phần tạo nên điểm riêng của tác phẩm”

Bùi Công Thuấn (1997: 65-68) thì nhận xét: “Khuynh hướng triết lí là một trong những yếu tố làm nên phong cách Nam Cao” Ông kết luận: “Nam Cao là một cây bút tâm lí, triết lí, đó là đặc trưng phong cách Nam Cao”

Trần Đăng Suyền (2004: 240) người có nhiều công trình nghiên cứu về Nam Cao và các tác phẩm của ông đã kết luận:

Đọc Nam Cao, ta bắt gặp tiếng nói của một con người mà vầng trán không bao giờ thanh thản còn tâm hồn thì nặng trĩu ưu tư Đặc điểm ấy của con người Nam Cao đã góp phần tạo nên giọng điệu triết lí suy ngẫm sâu xa, một giọng điệu làm nên phong cách độc đáo trong sáng tác của ông

Trong các tác phẩm của Nam Cao, những câu triết lí về những vấn đề bình thường trong cuộc sống được viết ra không quá phức tạp mà nó hết sức giản dị, rõ ràng,

dễ hiểu Triết lí của Nam Cao gắn liền với cuộc sống thường ngày Từ đó Nam Cao muốn đưa ra những quan điểm sống, những bài học nhân thế mà ông muốn gởi gắm đến cho mọi người Nhiều nhà nghiên cứu văn học đã nhận xét điều đó như sau:

Hà Minh Đức (1998: 264) nhận thấy ở những phương diện nào trong tác phẩm của Nam Cao cũng nổi lên tính triết lí: “Tác giả triết lí, nhân vật triết lí, câu chuyện tự

nó cũng toát lên tính chất triết lí Nam Cao không thuyết lí dài dòng, không biện luận một cách trừu tượng mà triết lí về cuộc sống và để cho cuộc sống gợi lên ý nghĩa triết lí của nó”

Trần Đăng Suyền (1998: 67) đã nhìn nhận “ Trước cách mạng tháng tám, không

có một nhà văn nào có cách nhìn sâu sắc, có tầm tâm lí, tổng hợp khái quát cao về tình trạng chết mòn của con người như nhà văn lớn Nam Cao”

Bùi Thị Anh Thơ (2005: 17-18) trong bài viết của mình có đề cập đến triết lí sống trong truyện ngắn Nam Cao “Nét riêng nhân vật Nam Cao là giàu suy lí, luôn triết

lí trong mọi cách suy nghĩ, hành động của mình” và đưa ra kết luận “Văn Nam Cao mang đầy sự chiêm nghiệm, triết lí”

Phong Lê (1997: 109) nhận xét về Nam Cao như sau: “Khi kiên nhẫn hoặc nhẩn nha dõi theo lịch sử một đời, hoặc thâu tóm một đời vào một khoảng hẹp thời gian, hoặc một tình huống truyện, tác giả như muốn nhằm vào một triết lí sống, một bài học nhân thế”

Lê Thị Đức Hạnh(1993: 112-119) thì cho rằng trong truyện ngắn Nam Cao, chất triết lí là “một đặc điểm phổ biến nổi đậm” và nói thêm “trong khi phản ánh hiện thực, Nam Cao thường hay đi vào những chủ đề mang tính suy ngẫm, thiên về truy tìm, đúc kết ra một triết lí cho cuộc sống”

Phan Diễm Phương (1992: 135) thì kết luận:

Trang 7

Khi đã khảm vào tâm trí người đọc thật nhiều những chi tiết có vẻ vụn vặt về các số phận, cảnh đời rồi, ông nhẹ nhàng đưa ra những câu khái quát, triết lí […] Những khái quát triết lí đó đã được chắt ra từ cuộc sống, là kết quả của cả một quá trình chiêm nghiệm đời sống đó

Giá trị của các yếu tố triết lí trong truyện ngắn của Nam Cao cũng đã đựơc nhiều nhà phê bình, nghiên cứu văn học nhận xét và đánh giá cao

Hà Minh Đức (1999: 415) nhấn mạnh:

Nam Cao không rơi vào lối viết luận đề Chủ đề và ý nghĩa triết học của sáng tác nổi lên nhưng không ở dạng sắp đặt trước Sức thuyết phục chủ yếu của câu chuyện là ở sự sống và phần máu thịt của câu chuyện Ý nghĩa triết lí như sợi chỉ nhỏ chạy xuyên từ ngọn nến nơi đặt điểm sáng của ngọn lửa sáng tạo tỏa ra tác phẩm

Nguyễn Đăng Mạnh (2001: 90) thì nhận xét:

Đọc Nam Cao, thấy ông hay triết lí, thích khái quát Dĩ nhiên sức hấp dẫn không thể có được nếu ông chỉ lặp lại những nguyên lí chung chung, quen nhàm Nói cho đúng, những lí lẽ ông nói ra không phải bao giờ cũng hay ho, chính xác cả, nhưng quả là những tìm tòi, những phát hiện của riêng ông về cuộc sống, nghĩa là nó mang đẫm mồ hôi của tâm não ông Cho nên triết lí

mà không khô khan, triết luận mà như mở ra những chân trời thơ bát ngát

Từ những ý kiến, nhận định trên, ta thấy yếu tố triết lí trong truyện ngắn Nam Cao là một vấn đề được nhiều người quan tâm và đã có sự nghiên cứu bước đầu Tuy nhiên những nghiên cứu đó còn riêng lẻ, chưa lập thành một hệ thống đầy đủ, sâu sắc và toàn diện Vấn đề đặt ra là cần có sự hoàn chỉnh hơn về hệ thống triết lí trong truyện ngắn Nam Cao trước cách mạng tháng tám Trên cơ sở hệ thống hóa, tiếp nhận ý kiến của các nhà nghiên cứu, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm tìm hiểu đầy đủ mọi nội dung, khía cạnh của triết lí trong các sáng tác của Nam Cao Qua đó làm rõ nét hơn một đặc trưng phong cách của nhà văn lớn Nam Cao, góp phần đánh giá đúng vai trò và những đóng góp của ông đối với nền văn học nước nhà

Trang 8

VIII KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài nghiên cứu bao gồm các nội dung chính sau: Chương I: Cội nguồn triết lí và triết lí trong văn học

I Cội nguồn của triết lí

II Văn học, một phương tiện triết lí

Chương II: Tính triết lí trong truyện ngắn của Nam Cao trước cách mạng tháng tám

I Hệ thống triết lí trong truyện ngắn của Nam Cao trước cách mạng tháng tám

1 Triết lí về sự sống –cái chết

2 Triết lí về Đời, về Kiếp của con người

3 Triết lí về sự sung sướng và nỗi khổ đau

4 Triết lí về cái lương thiện và cái ác, cái xấu

5 Triết lí về miếng ăn và lòng khinh trọng ở đời

6 Triết lí về tình yêu và hạnh phúc

7.Triết lí về nghệ thuật

II Nghệ thuật thể hiện triết lí trong truyện ngắn của Nam Cao trước cách mạng tháng tám

1.Triết lí của nhân vật

2.Triết lí của người dẫn chuyện

3.Triết lí của cả tác phẩm

Trang 9

B NỘI DUNG

CHƯƠNG I CỘI NGUỒN TRIẾT LÍ VÀ TRIẾT LÍ

TRONG VĂN HỌC

I CỘI NGUỒN TRIẾT LÍ

Theo Đại từ điển Tiếng việt, “triết lí” là “quan niệm chung và sâu sắc nhất của con người về những vấn đề nhân sinh và xã hội” Cùng với sự ra đời của triết lí là sự xuất hiện các khái niệm về triết gia, triết học Triết học là môn học nghiên cứu những qui luật chung nhất của sự phát triển tự nhiên, xã hội và tư duy.Triết gia là người nghiên cứu sâu về triết học

Như vậy triết lí là một vấn đề được sự quan tâm và nghiên cứu rất nhiều

1 Triết lí của dân gian

Việt Nam là một đất nước bốn nghìn năm văn hiến, có một bề dày lịch sử chống giặc ngoại xâm khiến nhiều quốc gia láng giềng phải khâm phục Trên thế giới, Việt Nam được cho là một đất nước giàu đẹp Tuy nhiên, đất nước ta cũng đã phải chịu những hậu quả nặng nề do thiên tai, dịch họa kéo dài Chính những điều đó đã gây biết bao khó khăn trong quá trình tồn tại và sinh sống của con người Việt Nam Nhưng với trí thông minh và đầu óc nhanh nhạy sẵn có, người Việt Nam đã sáng tạo ra những cách ứng phó với các hiện tượng thiên nhiên như mưa bão, lũ lụt, hạn hán… và chống giặc ngoại xâm Con người Việt Nam không bao giờ chịu khuất phục trước mọi gian khổ, nguy hiểm và khó khăn Không những vậy, với trí tuệ siêu việt, người Việt Nam đã khái quát những kinh nghiệm từ các hiện tượng riêng lẻ, tạo nên một kho triết lí tồn tại trong dân gian Người xưa đã không nhìn sự vật hiện tượng một cách đơn giản bình thường như nó vốn có mà luôn nhìn nhận nó ở một khía cạnh khác một cách rất thâm thúy và sâu xa Cha ông ta đã rất thông thái khi đúc kết nên những triết lí sống có giá trị Không chỉ có giá trị về mặt nội dung mà hình thức thể hiện cũng hết sức độc đáo (có vần, có nhịp nên rất dễ nhớ) Đây là một kho tàng quí báu mà cha ông ta đã tốn biết bao công sức để tạo nên và truyền lại cho con cháu đời sau Những triết lí của người xưa luôn dạy cho con người những điều hay lẽ phải, những kinh nghiệm bổ ích trong cuộc sống

1.1 Triết lí về khối đại đoàn kết

Trải qua hàng ngàn năm, người xưa đã nhận thấy để chiến thắng giặc ngoại xâm và chinh phục được thiên nhiên, điều cần thiết là con người cần phải gắn bó, đoàn kết chặt chẽ với nhau thành một khối thống nhất, đó chính là sức mạnh giúp chiến thắng tất cả Trong văn học dân gian, câu chuyện bó đũa đã được lưu truyền cho đến tận ngày nay về sức mạnh của tình đoàn kết Mỗi con người chúng ta nếu là một chiếc đũa lẻ loi, đơn độc thì sẽ rất dễ dàng bị các thế lực khác bẻ gãy, đánh gục Nhưng nếu con người

Trang 10

biết đoàn kết lại với nhau giống như một bó đũa chắc chắn thì không bao giờ bị thất bại Tinh thần này, nhiều lần được đề cập đến trong tục ngữ, chẳng hạn:

“Đoàn kết là sống chia rẽ là chết”

“Đoàn kết là sức mạnh”

Đây là những kinh nghiệm vô cùng quí báu mà chúng ta cần giữ gìn và phát huy Trong những cuộc kháng chiến ác liệt chống giặc ngoại xâm cũng như vật lộn với thiên nhiên để tồn tại, chính đoàn kết là sức mạnh vô biên giúp cho người Việt Nam đủ sức chống lại và chiến thắng tất cả Đoàn kết có thể không là yếu tố quyết định nhất nhưng nó có một vai trò quan trọng không thể thiếu Sức mạnh của sự đoàn kết không gì

so sánh được Ca dao cũng đã có câu:

“Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”

Bất kì thời kì nào, sự đoàn kết vẫn giữ nguyên sức mạnh và giá trị của nó Thiếu đi sự đoàn kết, con người không thể nào vượt qua được những khó khăn thử thách

“Thương người như thể thương thân”

“Lá lành đùm lá rách”

Đó là những lời động viên, kêu gọi tinh thần đoàn kết của mỗi con người Nó

có ý nghĩa vô cùng to lớn, nhất là trong những lúc hoạn nạn, khó khăn Thông điệp ấy là một chiếc cầu nối liền mối quan hệ giữa người và người Mỗi người hãy làm một viên gạch nhỏ góp phần tạo dựng nên bức tường thành đoàn kết to lớn không gió mưa giông bão nào có thể quật ngã được Lời khuyên của cha ông có giá trị thật to lớn Triết lí về khối đại đoàn kết là nền tảng làm nên sức mạnh giúp cho con người vượt qua mọi hoàn cảnh khó khăn

1.2 Triết lí về lối sống và cách sống

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, nhân dân ta đã đúc kết lại hiểu biết và kinh nghiệm sống quí báu, truyền đạt từ đời này đến thế hệ sau Văn học dân gian là một phương tiện quan trọng và chủ yếu chuyên chở những quan niệm, triết lí của cha ông ta

Xuất phát từ tấm lòng nhân ái, hiền hậu, và có ảnh hưởng ít nhiều bởi giáo lí đạo Phật, nhân dân ta đã cổ vũ cho cái thiện và lên án cái ác cái xấu Ông cha ta yêu cầu con người sống trong cộng đồng cần phải tích cực hành thiện, không gian dối lọc lừa,

mà phải yêu thương giúp đỡ nhau, có tấm lòng nhân hậu… Quan niệm này đã được thể hiện như sau qua các câu ca dao, tục ngữ:

“Ác giả ác báo, thiện giả thiện lai”

“Ở hiền thì lại gặp lành Nếu ai ở ác tội đành vào thân”

Ông cha ta khuyên dạy mọi người:

“Ai ơi hãy ở cho lành Kiếp này chẳng gặp để dành kiếp sau”

Trang 11

làm người nên

“Ăn ngay ở thật”

“Cải ác hoàn lương”

và sống sao phải đạo để lưu lại cái đức cho con cháu đời sau, bởi:

“Đời cha ăn mặn, đời con khát nước”

“Một đời làm hại, bại hoại ba đời”

Điều răn dạy của cha ông ta có ý nghĩa ở mọi thời đại, nhất là trong xã hội thực dân nửa phong kiến, khi mà các giá trị đã bị đảo lộn, không còn phân biệt được giữa thiện và ác, giữa lành và dữ, con người bị trượt trên hố sâu hủy hoại nhân tính

Việt Nam là một đất nước sống giàu tình nghĩa và rất mực thủy chung Bất kì những ai thuộc dòng giống tiên rồng đều nhớ rõ những lời giáo huấn của cha ông ngàn đời trước:

“Ăn quả nhớ kẻ trồng cây Uống nước thì phải nhớ nguồn chảy ra”

“Ăn cây nào, rào cây ấy”

“Uống nước nhớ nguồn”

Qua những câu ca dao, tục ngữ mang ý nghĩa biểu trưng, nhân dân ta quan niệm con người sống phải luôn hướng về cội nguồn Đây là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta cần được kế thừa và phát huy Bên cạnh đó, người Việt Nam luôn đề cao chữ hiếu, coi trọng công ơn sinh thành của cha mẹ:

“Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”

Ngoài ra, “Các câu chuyện cổ tích còn dạy con người về các giá trị quí báu, như

truyện trầu cau giáo dục tình nghĩa thủy chung giữa anh em, vợ chồng, truyện cây khế là

bài học lòng vị tha và thói tham lam” ( Phương Lựu, 2002:108)

Cha ông ta chủ trương “dĩ hòa vi quí”, con người cần chung sống hòa thuận, bởi “một câu nhịn chín câu lành”, điều này đã trở thành một nét tâm lí của nhân dân ta

“Tâm lí ưa hòa thuận khiến người Việt Nam luôn chủ trương nhường nhịn:

Một sự nhịn chín sự lành, Chồng giận thì vợ bớt lời Cơm sôi nhỏ lửa có đời nào khê” ( Phương Lựu, 2002:159)

Sự tôn trọng tinh thần hòa thuận đã giúp cho đất nước Việt Nam luôn sống

Trang 12

công nhận là một nước có trật tự vào bậc nhất trên thế giới Có thể thấy quan niệm tư tưởng của cha ông ta luôn giữ được nguyên vẹn giá trị của nó trong mọi thời đại

Mặt khác, cha ông ta đề cập đến sự ảnh hưởng của hoàn cảnh đối với nhân cách con người, khuyên con cháu nên tránh xa cái xấu, cái ác, chỉ nên sống trong môi trường tích cực có thể giáo dục con người theo chiều hướng tốt Bởi trong nhiều trường hợp, ảnh hưởng của hoàn cảnh là rất lớn:

“Đi với bụt mặc áo cà sa

Đi với ma mặc áo giấy”

“Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”

“Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”

Qua những câu tục ngữ, thành ngữ trên, cha ông ta muốn nhấn mạnh vai trò của hoàn cảnh đối với tính cách con người Vấn đề này cũng trở nên ám ảnh trong nhiều tác phẩm của Nam Cao mà chúng tôi sẽ đề cập đến ở phần sau

Song song với vấn đề trên, cha ông ta không nhìn nhận một cách chủ quan, phiến diện, một chiều mà nhận ra rằng sự cao đẹp trong tâm hồn con người có thể chiến thắng hoàn cảnh và không bị hoàn cảnh tác động làm mất đi những giá trị tốt đẹp:

“Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng Nhị vàng bông trắng lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”

Điều này cũng được thể hiện rõ nét trong nhiều sáng tác của Nam Cao, nói lên tinh thần nhân đạo của tác giả

Ngoài ra, nhân dân ta còn nêu lên những quan niệm sống, những tư tưởng, triết

lí thể hiện sự khôn ngoan của trí tuệ Câu tục ngữ “bắt đứa có tóc ai bắt đứa trọc đầu” là

một triết lí sống có nhiều ý nghĩa đã được nhân vật của Nam Cao kế thừa và phát huy

một cách triệt để trong truyện ngắn Chí Phèo Cha ông ta cũng giúp cho mọi người hiểu

rõ một chân lí hết sức đơn giản mà rất sâu sắc: “mạnh được yếu thua” Trong cuộc sống,

nếu có được thế mạnh về nhiều mặt: tiền bạc, sức mạnh, quyền thế, sự khôn ngoan… con người ta ắt hẳn sẽ có được ưu thế trong nhiều lĩnh vực

Những triết lí sống mà lớp người đi trước để lại cho con cháu đời sau thể hiện bằng văn học: truyện, ca dao, tục ngữ, thành ngữ, … luôn mang một ý nghĩa răn dạy hoặc phê phán Tất cả đều hướng con người đến những giá trị đạo đức tốt đẹp, giúp mọi người có cuộc sống tốt hơn

2 Triết lí của người Việt trong quan hệ với những luồng tư tưởng ở Việt Nam

Tôn giáo là một hợp thể bao gồm những lí tính và cách thức hành đạo, thường gắn liền với quyền lực siêu nhiên hình thành hoặc chi phối qui luật sinh tử của con người Theo một tôn giáo (hay theo đạo) hàm nghĩa là tin vào một lực lượng thần thánh

và tuân theo những chỉ dẫn đạo đức mà tôn giáo đó đưa ra cho tín hữu

Trang 13

Tam giáo Nho, Phật, Lão được du nhập vào nước ta cách đây gần hai ngàn năm Cả Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo đều có những yếu tố bổ sung cho nhau và trong mỗi học thuyết đều chứa đựng những giá trị mang tính phổ quát Qua quá trình tiếp biến với các yếu tố bản địa, dần dần tam giáo đã trở thành những trụ cột của tư tưởng Việt Nam truyền thống

2.1 Đạo Phật

Đạo Phật (buddha, tiếng Ấn là giác ngộ) phát sinh và thế kỉ VI –V TCN ở miền bắc Ấn Độ, trong vương quốc Kavilavasttu gần biên giới Nêpan Người sáng lập đạo Phật là Siddharthagautama (Tất Đạt Đa Cồ Đàm), ông sinh năm 624 TCN Tất Đạt Đa xuất thân từ gia đình quyền quí Ấn Độ Ngài được trông chờ sẽ trở thành lãnh đạo của dân chúng và gắn kết với cuộc sống nhung lụa quyền thế Lúc này ở Ấn Độ, đạo Bà la môn (Brahmaanism) đang thống trị với sự phân chia đẳng cấp sâu sắc trong xã hội Do

sự bất bình về phân chia đẳng cấp, kì thị màu da và đồng cảm với nỗi khổ của muôn dân, Tất Đạt Đa đã từ bỏ của cải, địa vị cao sang để sống đời đạo hạnh, mong đạt đến giác ngộ để thoát khỏi vòng luân hồi của sinh tử, đầu thai dẫn đến sự hình thành một tôn giáo mới Đạo Phật phản ánh lòng bất bình của quần chúng đối với chế độ đẳng cấp hà khắc

và quyền uy độc đoán của đẳng cấp thống trị Bà La Môn

Phật giáo là tôn giáo duy nhất bàn trực diện đến con người, lấy con người làm trung tâm, phân tích ngọn nguồn cuộc sống tâm lí tinh thần của nó để tìm ra phương sách tự giải thoát, giải thoát cho con người và cho cả chư thiên Đạo Phật chủ trương pháp tính bình đẳng, tất cả chúng sinh đều có Phật tính và đều có thể thành Phật Phật khuyên mọi người nên tiết chế dục vọng, có tinh thần vô ngã, vị tha, làm điều lành tránh

sự ác Phật là biểu tượng của sáng suốt và từ bi

Đức Phật là người đã chỉ cho chúng sinh phương cách thoát khỏi vòng luân hồi của sự chết và đầu thai bằng việc đạt đến giác ngộ Để làm được như vậy, đức Phật dạy các môn đồ về Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo, kết hợp lời giảng dạy đạo lí với những hướng dẫn về suy niệm và thiền định

Tứ Diệu Đế (bốn chân lí kì diệu) hay Tứ Thánh Đế (bốn chân lí thánh) chính là: Khổ Đế, Nhân Đế, Diệt Đế, Đạo Đế

Bát Chánh Đạo (tám nẻo đường chân chính) là: Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh niệm, Chánh định, Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh tinh tấn

Như vậy, thực chất của đạo Phật là một học thuyết về nỗi khổ và sự giải thoát Theo triết lí của nhà Phật, con người cần phải tu tâm dưỡng tính, làm nhiều việc thiện, tránh điều ác để tạo được nghiệp tốt Từ đó, con người mới có sự tốt đẹp lâu dài về sau, thoát được vòng luân hồi khổ ải

Với những ưu điểm và những nét tích cực đó, giáo lí của nhà Phật đã được mọi người tiếp nhận rộng rãi Tư tưởng Đạo Phật đã ăn sâu vào tiềm thức của hầu hết người dân Việt Nam Chính vì vậy, trong kho tàng văn học dân gian và văn học truyền miệng

đã xuất hiện rất nhiều những câu triết lí về hành động làm điều thiện, tránh điều ác,…

Trang 14

2.2 Đạo Nho

Trong xã hội Trung Hoa cổ đại, “nho” là một danh hiệu chỉ những người có học thức, biết lễ nghi Nho giáo là một hệ thống những tư tưởng triết lí, đạo đức, thể chế cai trị đã có ở Trung Hoa từ đời Tây Chu với sự đóng góp rất lớn của Chu Công Đán Đến cuối đời Xuân Thu (thế kỉ VI-V TCN), Nho Giáo được Khổng Tử và các môn đệ của ông hệ thống hóa rồi sau này ổn định lại trong Ngũ kinh: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu và Tứ Thư: Luận ngữ, Đại Học, Trung Dung, Mạnh Tử, tạo thành những kinh điển của Nho gia

Nho giáo (còn gọi là Khổng giáo) từ đời Hán trở đi dần dần trở thành ý thức tư tưởng chính thống của giai cấp thống trị Trung Hoa Nho giáo chủ trương “tôn quân, đạo thống nhất” Ba cương lĩnh cơ bản của Nho giáo (tam cương) là: đạo vua –tôi, đạo cha –con, đạo chồng –vợ Cùng với tam cương là ngũ thường (năm phép ứng xử luân lí và đạo đức): nhân, lễ, nghĩa, trí, tín Lễ được đặc biệt đề cao, “tiên học lễ”, tức là tôn trọng trật tự đẳng cấp xã hội hiện hành Người mẫu của đạo Nho là người quân tử, tức là người tuân theo mệnh trời (Thiên mệnh), trung với vua, hiếu với cha mẹ

Bổn phận của người quân tử là “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” Sau khi

tu sửa, chỉnh đốn bản thân, người quân tử cần hành động Kim chỉ nam cho mọi hành động trong công việc cai trị là hai phương châm:

1 Phương châm thứ nhất là nhân trị Nhân là tình người; nhân trị là cai trị bằng tình người, coi người như bản thân mình

2 Phương châm thứ hai là chính danh: chính danh là sự vật phải ứng với tên gọi, mỗi người phải làm đúng với chức phận của mình Chính danh trong cai trị là phải làm sao để “vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con” (luận ngữ)

Khổng Tử nói: con em ở trong nhà thì hiếu, ra ngoài thì kính trọng người tôn trưởng (đễ), nói năng phải cẩn thận và tín thực, yêu thương rộng rãi mọi người mà thân cận người nhân Làm những điều đó dễ dàng (có thừa năng lực) thì cho học văn; kẻ quân

tử học rộng rãi ở văn, kết thúc bằng lễ thì có thể không trái đạo nghĩa

Như vậy, quan tâm hàng đầu trong mục tiêu đào tạo con người của Khổng Tử là

có đạo đức, trước hết là trung, tín, hiếu, đễ, cao hơn là yêu thương mọi người, là hướng

về điều Nhân Theo Khổng Tử, gia đình hạnh phúc sẽ tạo nên cuộc sống yên bình, Khổng giáo quan niệm sự trợ giúp và tôn trọng lẫn nhau sẽ làm cho gia đình êm ấm,

thuận hoà rồi từ đó xã hội sẽ có tôn ti trật tự, thanh bình Nói chung “Nho giáo là một

học thuyết đạo đức, nhấn mạnh đến đạo nghĩa chỉ hướng vào cõi người, chú mục hàng đầu những nguyên tắc ứng xử xã hội” ( Trần Ngọc Vương, 1998:70)

Đạo Nho có ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng và có khoảng thời gian tồn tại lâu dài trong hệ tư tưởng của người Việt Những triết lí của Đạo Nho chủ yếu phục

vụ cho quyền lợi của giai cấp thống trị phong kiến Vì vậy, nó không có sức ảnh hưởng sâu sắc như giáo lí của Đạo Phật Khi thời thịnh trị của giai cấp phong kiến đã qua, nó phần nào đã trở nên lạc hậu

Trang 15

Đạo cùng với Đức làm nên nền tảng của thế giới mà Lão Tử gọi là Trời và Đất Đạo và Đức chính là thiên nhiên, thiên nhiên này sẽ đem lại cho con người một tác lực phi thường nếu con người biết thuận theo tự nhiên

Triết lí Đạo gia quan niệm mọi vật trong vũ trụ là do âm và dương cấu thành

Để có cuộc sống thư thái, con người cần hai yếu tố này hài hoà và cân bằng Cách sống

lí tưởng của Đạo gia là sống hoà hợp theo Đạo, không bận tâm đến vật chất, hoà nhập với thiên nhiên và hoà hợp với cơ thể của mình Như vậy, Đạo của Đạo gia không giống Đạo của Nho gia Nho gia đề cao “Trung chính”, Đạo của Lão –Trang là Đạo tự nhiên Nho gia quan niệm về xã hội cũng khác Đạo gia Nho gia cho rằng kẻ trị vì theo đường lối chân chính sẽ có nhiều người về theo, con người sống có đức sẽ hạnh phúc lớn, còn bổng lộc gắn liền với danh vọng, muốn đạt được danh vọng con người cần phải học, đi

từ tu thân, đến tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Trong đó Đạo gia quan niệm xã hội lí tưởng là xã hội dân ít, nước nhỏ, con người phải sống nhu thuận, không nên tranh giành nhau Đặc biệt, điểm tích cực có ý nghĩa muôn thuở của Đạo gia là tư tưởng chống chiến tranh, tức là chống sự tàn phá thiên nhiên, chống mọi nguyên nhân gây ra do con người tính tham, tính tranh giành và tiêu diệt nhau

Triết lí sống tối ưu của Lão Tử suy ra là muốn làm việc gì phải đi từ điểm đối lập, phải “vô vi” Vô vi không phải có nghĩa là hoàn toàn không làm gì, mà là hoà nhập với tự nhiên, đừng làm gì thái quá Vì làm thái quá thì theo luật âm dương “Vật cực tắc phản”, kết quả thu được còn tệ hại hơn là không làm gì Theo quan niệm của Đạo gia, phúc hoạ luôn ỷ phục trong nhau, ranh giới giữa chúng rất khó phân biệt, muốn biết phải

có lòng chí thành

Quan niệm của Đạo gia phần nào hợp với qui luật của cuộc sống Tiếp thu những triết lí sống tích cực của Đạo gia, con người sẽ sống trong hòa bình, không có chiến tranh Đây là những triết lí đã được mọi người tiếp nhận và đã đi và đời sống tinh thần của không ít người dân Việt Nam

Trang 16

II VĂN HỌC, MỘT PHƯƠNG TIỆN TRIẾT LÍ

Qua cả một quá trình đấu tranh chinh phục thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm, ông cha ta đã tích lũy được những kinh nghiệm sống, những triết lí sống vô cùng quí báu Để lưu truyền lại cho con cháu đời sau, tổ tiên ta đã dùng hình thức truyền miệng là chủ yếu Hình thức này đã tạo ra nhiều biến dị trong nhiều câu thành ngữ, quán ngữ… Đến khi có sự ra đời của văn học dân gian, tất cả những triết lí sống đã được văn học dân gian thể hiện một cách đầy đủ nhất

Văn học dân gian có nhiều thể loại: vè, ca dao, phong dao, tục ngữ, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn… Và hầu như ở thể loại nào, đề tài nào cũng đều có triết lí Như vậy có thể nói văn học dân gian là phương tiện thể hiện những tư tưởng triết lí của người Việt Đi sâu tìm hiểu văn học dân gian, cụ thể là ở những câu tục ngữ, ca dao, ta sẽ nhận

ra nhiều nội dung triết lí hết sức thâm thúy, sâu xa, mang đầy ý nghĩa của người xưa

Họa tòng khẩu xuất,

Đa ngôn đa quá, Sai một li đi một dặm, Sai con toán bán con trâu, Tích tiểu thành đa, Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ…

Đó là những bài học quí báu mà cha ông ta muốn gởi gắm đến thế hệ sau Điều răn dạy đó luôn có ý nghĩa trong mọi thời đại, giúp con người có cuộc sống tốt đẹp Những vấn đề đó không phải dễ dàng đúc kết nên được mà phải trải qua một quá trình thử thách đầy gian khổ

Với vai trò là một phương tiện thể hiện tư tưởng tình cảm của con người, văn học dân gian có một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân Có thể với một lời khuyên răn bình thường lại không đem đến hiệu quả cao, nhưng khi ở hình thức

là một thể loại của văn học dân gian, con người lại dễ dàng tiếp nhận hơn

Bên cạnh thơ ca đã được đề cập đến ở phần trên thì truyện ngụ ngôn, truyện cổ tích cũng là một phương tiện không thể thiếu để thể hiện triết lí của cha ông ta Về truyện cổ tích, đã có hàng trăm câu chuyện khác nhau được người xưa sáng tạo ra và ẩn trong đó là những vấn đề dễ hiểu về sức mạnh của cái thiện, sự diệt vong của cái ác, là

những bài học kinh nghiệm quí báu ở đời Truyện Tấm Cám là một ví dụ tiêu biểu cho

sự chiến thắng của cái thiện Cô Tấm, một nhân vật tượng trưng cho sự lương thiện có lúc tưởng chừng như đã bị các thế lực hiểm ác đánh bại Nhưng thật ra, đó chỉ là những hóa thân của Tấm để chống trả lại những mưu mô xảo quyệt của mẹ con Cám Sự trở về của nàng Tấm xinh đẹp và kết cục bi thảm của mẹ con Cám như là một minh chứng sinh động về sức mạnh của cái thiện Nó cổ vũ mọi người hãy làm điều thiện, tránh điều ác

để có những kết cục tốt đẹp về sau Chủ đề nổi bật trong câu chuyện Cây Khế lại là một bài học về sự tham lam Cây Khế toát lên ý nghĩa triết lí giáo dục mọi người từ bỏ tính tham, biết hài lòng với những gì mình có Ngoài ra, truyện Thạch Sanh – Lý Thông, Cây

Tre Trăm Đốt, Sự Tích Trầu Cau,… còn ẩn chứa những bài học răn dạy con người về sự

thật thà, lòng lương thiện, tình nghĩa thủy chung,…

Trang 17

Bên cạnh đó, truyện ngụ ngôn tuy có một số lượng câu chữ ít hơn nhưng lại mang một ý nghĩa sâu xa về những bài học nhân thế của cuộc đời Truyện ngụ ngôn là một thể loại dễ tiếp nhận và được khá nhiều người quan tâm Nhiều lúc truyện ngụ ngôn mang sắc thái châm biếm trào phúng tạo nên tiếng cười mỉa mai đối với những nhân vật ích kỉ, keo kiệt, hà tiện, ngu dốt… nhưng cuối cùng ý nghĩa thật sự của truyện ngụ ngôn

vẫn là một lời khuyên dạy kín đáo Với Tam đại con gà, tác giả dân gian tỏ thái độ mỉa

mai, châm biếm những kẻ ngu dốt nhưng lại tỏ ra là hiểu biết Anh thầy đồ trong câu chuyện ngụ ngôn trên là một trò cười cho mọi người vì thói sĩ diện hão Đáng trách hơn

là lão nhà giàu keo kiệt trong truyện Thà chết còn hơn Vì tiết kiệm mấy đồng bạc lão ta

thà chết chứ không chịu để ai cứu mình Đây là hậu quả đau đớn của thói keo kiệt bủn

xỉn Không lớn tiếng chê trách, ở Lợn cưới áo mới lại là một nụ cười châm biếm nhẹ

nhàng về thói khoe khoang của hai nhân vật Trên đây là một số bài học từ những câu chuyện ngụ ngôn mà cha ông để lại cho chúng ta Còn rất nhiều câu truyện khác với vô vàn bài học khác mà ở đây do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, người viết không thể liệt kê hết được Nhưng rõ ràng, văn học dân gian có vai trò vô cùng quan trọng Nhờ nó, những triết lí, tư tưởng, tình cảm, kinh nghiệm sống… của cha ông ta vẫn còn lưu truyền và được gìn giữ cho đến tận ngày nay Cho nên hiện tại ta vẫn có thể hiểu

và cảm nhận được những suy nghĩ tâm tư và nguyện vọng của tổ tiên, từ đó có sự kế thừa và phát huy đúng hướng

Tóm lại, những câu thành ngữ, tục ngữ, những câu chuyện cổ tích, ngụ ngôn là một phương tiện để con người biểu hiện triết lí của bản thân về cuộc đời để răn dạy, để

xử thế Từ nhiều triết lí riêng lẻ của mỗi cá nhân, cha ông ta đã tập trung lại và hợp thành một hệ thống, tạo nên kho tàng quí báu truyền lại cho thế hệ sau Đây là những triết lí đúng đắn có giá trị mang tính khuôn mẫu Có thể nói đây là một thứ tài sản vô giá

mà tổ tiên đã để lại cho chúng ta

Đến thời kì văn học trung đại, yếu tố triết lí vẫn còn tồn tại và tiếp tục xuất hiện trong các sáng tác của các tác gia lớn như: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trãi… Các ông hay triết lí những vấn đề về nhân cách, về sự chi phối của thế lực đồng tiền, qua đó

đề cao khí tiết của bản thân, của người quân tử, của đạo làm người Đến thời thực dân nửa phong kiến, nhiều vấn đề xã hội đã nảy sinh là tiền đề tạo nên triết lí trong nhiều tác phẩm của các nhà văn ở giai đoạn văn học hiện thực 1930-1945 Trong cái xã hội đầy rẫy sự bất công áp bức, nhiều nhà văn, nhà thơ đã đưa ra những triết lí sống có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc Mỗi người có một phong cách, một cách giải quyết vấn đề xã hội khác nhau khi cùng đứng trước một tình huống Bên cạnh những triết lí của Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan… thì những vấn đề do Nam Cao đặt ra thật sự gợi biết bao suy nghĩ, trăn trở trong lòng người đọc về nhiều điều rất đỗi bình thường trong cuộc sống Từ những cái hết sức đời thường, Nam Cao đã đưa vào trong trang văn của mình

và biến nó thành những vấn đề có ý nghĩa mang đầy cá tính sáng tạo của bản thân ông Ông đã tiếp thu, kế thừa trọn vẹn những tư tưởng, triết lí, quan niệm sống của các tôn giáo, của truyền thống dân gian và phát huy những giá trị vốn có của nó, tập hợp thành một hệ thống triết lí toàn diện trong các sáng tác của mình Nam Cao đã làm thành một

nét phong cách sáng tác “hiện lên lừng lững, không lẫn vào đâu được và dường như trở

thành một trong những đầu nguồn của những dòng phong cách truyện ngắn sau Cách mạng tháng Tám” (Bùi Công Thuấn, 1997:16)

Trang 18

Nhà văn là những người lăn lộn, trải nghiệm cuộc sống, rút ra những vấn đề có

ý nghĩa nhân sinh sâu sắc và phản ánh nó vào trong tác phẩm văn học Như vậy tác phẩm văn học là nơi thể hiện quan điểm, cách nhìn, suy nghĩ của nhà văn về cuộc đời

Để đưa vào tác phẩm tất cả những tư tưởng, tình cảm,… nhà văn dùng phương tiện chủ yếu là ngôn ngữ tác động trực tiếp vào bạn đọc Trong đời sống, ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy, là kí hiệu của tư duy Mọi suy nghĩ, tư tưởng của mỗi người đều thông qua ngôn ngữ thì người khác mới có thể hiểu và biết được Trong văn học, ngôn ngữ là chất liệu chủ yếu và duy nhất Ngôn ngữ giúp chuyển tải tất cả những gì nhà văn cần nói đến với mọi người Trong đó, triết lí là vấn đề dễ bộc lộ trực tiếp nhất

Trong văn học có sự hiện diện và tồn tại của hai loại ngôn ngữ, đó là ngôn ngữ người dẫn chuyện (tác giả) và ngôn ngữ nhân vật Hai ngôn ngữ này có lúc tách bạch rõ ràng, có lúc đan xen vào nhau tạo nên lời văn nửa trực tiếp Triết lí sống bộc lộ chủ yếu qua ngôn ngữ của hai đối tượng trên Nam Cao là một nhà văn thích triết lí và hay triết

lí Trong các tác phẩm của Nam Cao, tính triết lí là một yếu tố nổi bậc và dễ cảm nhận

Là một người từng trải nghiệm, có hiểu biết sâu sắc, Nam Cao đã đi sâu vào ngõ ngách tâm hồn của mỗi nhân vật trong các tác phẩm của ông Đặc biệt, Nam Cao thường tập trung viết về cuộc đời đau khổ, khốn cùng của những người nông dân chân lấm tay bùn cũng như có sự cảm thông đối với cuộc sống “bị áo cơm ghì sát đất” của tầng lớp trí thức tiểu tư sản nghèo thành thị Từ đó, ông đã khái quát những vấn đề trong cuộc sống hàng ngày thành những triết lí sống có ý nghĩa sâu sắc và có giá trị

Nội dung triết lí trong những truyện ngắn của Nam Cao khá phong phú và đa dạng Ông triết lí về rất nhiều vấn đề được khá nhiều người quan tâm: về sự sống và cái chết, về Đời và Kiếp con người, về sự sướng khổ ở đời, về cái lương thiện và cái ác, cái xấu… Tất cả những vấn đề đó đã được Nam Cao thể hiện bằng một giọng điệu rất riêng mang đậm dấu ấn cá tính sáng tạo của nhà văn, tạo nên một phong cách riêng không lẫn vào đâu được

Trang 19

1.Triết lí về sự sống- cái chết

Bất cứ một người nào tồn tại trên cõi đời này đều phải trải qua vòng luân hồi của sinh lão bệnh tử Đây là một qui luật đã được đề cập đến trong triết lí của đạo Phật Như vạn vật tự nhiên, con người được sinh ra, tồn tại, phát triển vào sau đó lại trở về với cát bụi Những tưởng đây là một vấn đề hiển nhiên theo đúng qui luật khách quan, không có gì phải tranh luận, bàn cãi hay mở rộng thêm Thế nhưng đến Nam Cao, với những tư tưởng, những triết lí trong các tác phẩm của mình, ông đã cho mọi người thấy được xoay quanh sự sống chết còn rất nhiều vấn đề cần được nhân loại quan tâm Những triết lí ông đưa ra mang ý nghĩa sâu xa và rộng lớn Dù đó là những vấn đề không phải

là hoàn toàn mới mẻ, đó là sự kế thừa những triết lí đã có từ trước về vấn đề sinh tử, thế nhưng Nam Cao đã đặt chúng trong một ngữ cảnh thích hợp và khái quát, đúc rút ra những chân lí xoay quanh việc sống như thế nào và chết như thế nào cho có ý nghĩa

Cuộc đời này tươi đẹp và đáng sống biết bao, vì vậy Nam Cao đã rút ra triết lí

“sống khổ đến đâu cũng còn hơn chết” và khẳng định “cái tâm lí chung của người đời

như vậy” (Điếu văn) Nhân vật tôi khi phát ngôn câu nói này mang một tâm trạng đau

đớn khôn nguôi khi nhận được tin bạn mình –anh Phúc đã chết Cả cuộc đời anh Phúc,

từ thuở ấu thơ đến lúc trưởng thành là một chuỗi ngày khốn khổ, gian truân, không được một giờ nào sung sướng Nếu lúc nhỏ anh phải cố gắng làm lụng vất vả cho một bà chủ khó tính để mưu cầu miếng ăn thì đến khi lập gia đình anh phải cung phụng cho một người vợ không chung tình Đó có lẽ là những nguyên nhân đau thương dẫn đến cái chết của anh Phúc Mỗi người khi chứng kiến hoàn cảnh, cuộc đời của anh đều không khỏi chạnh lòng, xót xa Sự tàn nhẫn của người chủ và cuộc hôn nhân không tình yêu đã dần phá hoại cuộc đời của anh Anh đã chết khi tuổi đời còn quá trẻ, anh lại còn bỏ lại hai

đứa con “ẻo lả như một cái lá úa và buồn như một tiếng thở dài” Sự xót thương của

nhân vật tôi cũng là của Nam Cao đối với số phận một con người Nam Cao tỏ ra tiếc nuối về cuộc đời của anh Phúc, nó quá ngắn ngủi Nam Cao đã đặt sự sống và cái chết lên bàn cân để cân đo, tính toán và kết luận: sự sống, dù là khổ cực, vất vả vẫn hơn là chết Triết lí của ông mang nặng tình yêu đời và khát khao cuộc sống

Cái chết quả là đáng sợ, nó là một lực lượng siêu hình có sức mạnh vạn năng

“Chao ôi! Cái chết còn hung bạo hơn những thằng hung bạo Những kẻ hung bạo chết

cũng đáng lòng thương hại Những kẻ hung bạo chết cũng là người chết, nạn nhân của một sức mạnh mù quáng và khốc liệt” Ngay cả Trương Rự -một kẻ cướp, một tên đồ tể

khát máu cũng phải khuất phục trước sức mạnh này Từ ngoại hình đến tính cách, hắn khiến ai cũng phải ghê sợ Thế nhưng một cái chết đến đột ngột đã đặt dấu chấm hết cho cuộc đời Trương Rự Trương Rự, nỗi kinh hoàng của cả làng cuối cùng cũng trở nên

hoàn toàn yên lặng Với một tinh thần nhân đạo sâu sắc, Nam Cao đưa ra triết lí “Những

người chết đều đáng kính bởi những người chết không còn đủ sức mà hại ai” Phải

chăng ông muốn khuyên mọi người nên bỏ qua tất cả mọi lỗi lầm của Trương Rự, bởi

“chết là hết”, những linh hồn có làm hại bất kì ai nữa đâu? Con người không nên cứ dựa vào cái quá khứ bất lương của một người chết để xét đoán, đánh giá những người còn lại đang tồn tại trên đời Đây còn là một triết lí về sự khoan dung độ lượng, lòng vị tha

Trang 20

Ở tác phẩm Mua nhà, Nam Cao nói về cái chết nhưng lại hàm ý về cuộc sống Ông quan niệm “Trước sau thì cũng chết Ai cũng chết Mà ai cũng chỉ chết một lần mà

thôi Sống sẻn so làm gì?” Một vấn đề đơn giản thế nhưng không phải bất cứ người nào

cũng nhận ra Một câu chuyện cổ tích thời xưa đã chứng minh cho điều này Trong truyện, nhân vật chính là lão nhà giàu thà chịu chết đuối trên sông chứ không bỏ thêm đồng nào để người ta cứu mình

Một tác phẩm của Nam Cao đã đề cập đến một vấn đề có ý nghĩa lớn lao về

cách sống Bề ngoài tuy nói về cái chết nhưng thật ra đó là một triết lí về sự sống “Chết

vì bệnh không đáng sợ Ta nên sợ cái chết trong lúc sống Cái chết đáng buồn của những người sống sờ sờ ra đấy nhưng chẳng dùng sự sống của mình vào việc gì” Trong

tiểu thuyết Sống mòn, với một giọng điệu buồn thương, chua chát, pha lẫn uất ức và chứa đây căm phẫn, vấn đề đó đã được Nam Cao đề cập đến “Chết là thường Chết ngay

trong lúc sống mới thật là nhục”

Ở đây, Nam Cao đã thể hiện một tấm lòng nhân đạo cao cả, ông như muốn lên tiếng kêu cứu về nhân cách con người đang ngày càng tuột dốc một cách thảm hại Cái

mà Nam Cao muốn nói đến là “cái chết trong lúc sống” Cái chết này còn khó chịu hơn

so với cái chết thật sự Khi chết, thể xác của chúng ta đều tan biến và linh hồn đi vào cõi

hư vô, không còn biết gì nữa cả Còn đối với chết trong lúc sống, đó là khi thể xác chúng

ta vẫn còn tồn tại, ta vẫn còn hiện diện trên cõi đời này nhưng thực ra cái tâm hồn đã không còn nhận biết được những giá trị đích thực của cuộc sống Chúng ta không nên sợ cái chết thật sự sẽ đến với mọi người, đó là qui luật của cuộc đời Thật đáng sợ đối với cuộc đời mỗi con người khi trông vẻ bề ngoài thì sự sống vẫn còn hiện diện nhưng tâm hồn thì đã cằn cỗi, khô héo, đã “chết” từ lâu Với một đầu óc nhạy bén, một cái nhìn có khả năng bao trùm thực tại xã hội, Nam Cao đã nhận ra một vấn đề tuy đơn giản nhưng lại mang một ý nghĩa triết lí sâu xa, thâm thúy Vấn đề chủ yếu mà ông muốn nói đến ở đây là mỗi con người cần sống như thế nào cho có ý nghĩa

Đồng thời với việc chỉ ra hiện tượng chết trong lúc sống, Nam Cao đã đưa ra một quan niệm sống hết sức tiến bộ cho nhân loại Nam Cao lớn tiếng dứt khoát không chấp nhận một cuộc sống không linh hồn, không tư tưởng Sống, đúng với ý nghĩa của

nó là một cuộc sống có ước mơ, có lí tưởng, có hoài bão… có sự phấn đấu để đạt được những hoài bão, khát vọng đó, hơn hết là phải biết vượt qua những khó khăn thử thách, sóng gió trong cuộc đời để thực hiện trong lí tưởng Sống không nên hiểu chỉ là hưởng thụ, cũng không phải là những con người hèn mọn chỉ vì vật chất tầm thường mà đánh mất cả nhân cách và phẩm giá Nếu hằng ngày, con người cứ bị gánh nặng áo cơm ghì sát đất, có thể người ta sẽ trở thành nạn nhân của chính bản thân họ Quan trọng là con người phải biết phấn đấu vượt qua để chiến thắng hoàn cảnh, nếu như buông xuôi và dừng lại, phó mặc cuộc đời trôi theo những giá trị tầm thường thì khác chi người ta đã tự giết mình Đó chính là cái chết trong lúc sống, cái này còn đáng sợ hơn cái chết thật sự, đây là cái chết trong tâm hồn Tất cả những người có nhận thức, có cái nhìn bao quát, rộng lớn đều không thể nào chịu đựng và chấp nhận một cuộc sống như thế

Nhưng riêng Tự Lãng trong truyện ngắn Chí Phèo lại có một triết lí sống khác,

rất riêng và độc đáo Đối với lão thì sống là một chuỗi ngày say sưa trong men rượu vì

“Ai chết cũng thành cái mả, say sưa chết cũng thành cái mả, lo gì? Cứ say!” Xét cho

cùng, cuộc đời Lão Tự quả thật rất buồn đau: vợ chết, con gái thì chửa hoang phải bỏ

Trang 21

làng đi, chỉ còn lại một mình lão trơ trọi trên cõi đời này Lão đâu còn gì để mất nữa, không còn vướng bận chi, lão uống rượu thỏa thích Gặp được Chí Phèo như là vừa tìm được một bạn tri âm, Lão Tự cứ xách thêm rượu cho Chí, dù cho có uống hết cũng chả sao, không có gì phải ngại Giàu có chết rồi cũng thành mả, nghèo đói rồi cũng thành

mả, say sưa cũng thành mả Lão Tự đã chiêm nghiệm ra lúc sống dù như thế nào thì cuối

cùng con người vẫn phải chết, đều “thành cái mả” cả Đây là triết lí của một kẻ bất cần

Tự Lãng đã cổ vũ Chí Phèo uống rượu bằng cái giọng triết lí của một kẻ chán đời

Nam Cao thường dùng một đề tài nhỏ, qua đó phản ánh một vấn đề có ý nghĩa

xã hội rộng lớn Qua câu triết lí “Không dễ mà chết được Nếu chết mà dễ thì ai cũng

chết Giời đất này, còn có ai muốn sống? Chẳng qua không chết được thì phải sống”

(Tình già), Nam Cao đã lớn tiếng phủ định cái xã hội thực dân nửa phong kiến đương

thời Cái xã hội tuy không giết người ta một cách trực tiếp bằng gươm đao mà đáng sợ hơn, nó đã gián tiếp hủy hoại cuộc sống của con người Trong cái không gian ngột ngạt của xã hội tối tăm đầy rẫy những bất công ấy, chẳng ai tha thiết với cuộc sống Các nhân vật của Nam Cao cứ sống trong tình trạng mòn mỏi, chán chường, nhiều khi chết mòn về nhân cách Qua câu triết lí này, Nam Cao muốn đề cập đến vấn đề mỗi con người cần phải sống như thế nào cho có ý nghĩa Câu triết lí thấp thoáng một giọng cười mỉa mai,

châm biếm pha lẫn sự chua xót về kiếp người Con người phải sống, chỉ là do “không dễ

mà chết được”, chứ không một ai yêu cuộc sống này Như vậy, con người sống mà

không có lí tưởng, không ước mơ khát vọng, đây cũng có khác gì là cái chết trong lúc sống? Câu triết lí trên đã thể hiện sự bi quan, bế tắc của Nam Cao đối với xã hội lúc bấy giờ Qua đó, ông nhấn mạnh nếu như còn tồn tại cái xã hội ấy thì cuộc sống con người sẽ không bao giờ có ánh sáng của hy vọng, của ngày mai

Trong nhiều tác phẩm của Nam Cao, vấn đề về sự sống và cái chết được nêu lên như một phần sâu sắc và tâm huyết nhất Ông tập trung vào vấn đề này nhưng không chỉ đề cập đến một cách đơn thuần mà qua đó nhằm làm sáng tỏ một lẽ sống, một cách sống cao đẹp Những triết lí về sự sống và cái chết thấm nhuần tư tưởng nhân văn và tinh thần nhân đạo của Nam Cao

Trang 22

2 Triết lí về Đời, về Kiếp của con người

Trong không ít tác phẩm, Nam Cao đã đề cập đến những vấn đề được khá nhiều người quan tâm: về sự sống, cái chết, về sự bất công, về miếng ăn,… Trong đó, Nam Cao tỏ ra rất am hiểu về Đời, về Kiếp con người Nhiều khi, từ một cuộc đời của một cá nhân, Nam Cao lại khái quát lên được thành những vấn đề lớn có ý nghĩa lớn lao về Đời,

về Kiếp của nhiều người trong xã hội Nhất là đối với những kiếp người nhỏ bé, nghèo khổ, Nam Cao lại càng tỏ ra hiểu, thông cảm, đồng cảm sâu sắc hơn bao giờ hết Điều này đã chứng tỏ ông có một tinh thần nhân đạo, một tầm nhìn sâu sắc so với nhiều nhà văn đương thời

Nam Cao là người băn khoăn, trăn trở nhiều nhất về Đời, về Kiếp của con

người Giọng điệu của ông vang lên mang đầy sự buồn thương, chua chát “Chao ôi! nếu

người ta không ăn thì đời sẽ giản dị biết bao” Nam Cao tỏ ra vô cùng thương cảm, xót

xa cho thân phận của bà cái Tí trong Một bữa no Phải, đời sẽ thật giản dị khi người ta

không cần phải ăn, không bị cái đói giày vò, hành hạ, không nhất thiết vì miếng ăn mà phải chịu những cái lườm nguýt đầy khinh khi, danh dự bị đánh mất Bà cái Tí nhục nhã

vì miếng ăn, chết cũng chỉ vì miếng ăn nhưng lí do bà phó Thụ đưa ra thật vô lí “Người

ta đói một bữa cũng không sao nhưng no một bữa là đủ chết” Đây là triết lí của một kẻ

nhà giàu Tại sao lại có điều vô lí như vậy? Chỉ có đi sâu vào tác phẩm tìm hiểu một cách thấu đáo ta mới có thể nhận ra được

Theo bà phó Thụ, bà cái Tí đã đói mấy tháng qua nhưng lần hồi thì bà vẫn có

thể tồn tại được, nhưng chỉ vì “một bữa no” tại nhà bà thì bà cái Tí đã chết Đi sâu vào

nội tâm của bà phó, ta thấy câu triết lí do bà đưa ra đã thể hiện bà là một con người ích

kỉ, keo kiệt Tại sao bà lại nói như vậy, chẳng qua bà muốn “khuyên” tất cả những kẻ ăn người ở trong nhà nên ăn ít thôi để bà đỡ tốn, và bà đã dẫn chứng một cách sinh động

bằng kết cục bi thảm của bà cái Tí khi ăn “một bữa no” Những kẻ giàu trong tác phẩm

của Nam Cao thường hiện lên với một điểm chung như thế: chỉ muốn tất cả mọi người làm lợi cho mình nhưng khi phải giúp đỡ, phải cho ai một cái gì đó thì lại không muốn

Bà đâu biết được cái đói nó thật sự như thế nào? Có khi nào bà phải chịu đói đâu, nên bà xem bà cái Tí là một cái gai trước mắt chỉ muốn nhổ quách đi cho khuất mắt khi đang ngồi trong buổi cơm Bà cái Tí đã già rồi mà vẫn phải chịu đựng cái đói liên tục trong

mấy tháng, thật đáng thương Nguyên nhân trực tiếp gây ra cái chết của bà là “một bữa

no”, nhưng thực ra, xét cho đến cùng, bà chết là vì đói quá Nam Cao đã đưa vào trong

trang văn của mình một cái chết hết sức thương tâm và đau lòng, có sức gợi trong lòng người đọc, cũng như cái chết của Chí Phèo, Lão Hạc, Lang Rận, anh đĩ Chuột… Dân gian có câu “miếng ăn là miếng nhục” và vì cái nhục ấy, bà lão đã chết một cách thương tâm

Nếu ở Một bữa no, bà cái Tí chết vì miếng ăn, có lẽ bà vẫn còn đỡ khổ hơn số phận bà quản Thích trong Nửa đêm Suốt cuộc đời lương thiện của bà, bà đã vất vả làm

lụng nuôi Trương Rự và con của hắn Đây là một việc làm phúc đức Thế nhưng bà

chẳng có một tuổi già an phận “đã già nua, lại đau yếu, lại đói khát, lại bơ vơ thì khổ

hơn là chết Khốn nỗi bà cứ sống, dai dẳng như nỗi lầm than trên đời” Nam Cao đã rất

sâu sắc và thấu hiểu cuộc đời khi nhận ra nỗi lầm than như là một con quái vật cứ đeo

Trang 23

bám cuộc đời con người trong xã hội cũ, khiến họ không thể nào thoát ra được Cách so sánh như vậy đã làm nổi bậc lên hình tượng bà quản Thích với tất cả những cực khổ, nhọc nhằn của số kiếp con người

Xót xa và lòng đầy thương cảm, Nam Cao nhận ra sự bất công của ông Trời,

của cuộc đời này “Tại sao trên đời này lại có nhiều sự bất công đến thế? Tại sao ở hiền

không phải bao giờ cũng gặp lành? Tại sao những kẻ hay nhịn hay nhường thì thường thường lại chẳng được ai nhịn, nhường mình, còn những kẻ thành công thì hầu hết lại là những người rất tham lam, chẳng biết nhịn nhường ai, nhiều khi lại xảo trá, lọc lừa và tàn nhẫn, nhất là tàn nhẫn?” (Ở hiền) Vấn đề này được Nam Cao đặt ra có sức lan tỏa

rộng lớn, không chỉ đúng ở thời kỳ xã hội lúc bấy giờ, khi mà con người ta đã mất dần những giá trị nhân cách tốt đẹp, không còn tình thương và lòng nhân ái, chỉ còn lòng ganh ghét, đố kị và lừa lọc để sống, mà còn đúng ở thời đại chúng ta hiện nay đối với một số người

Đặt ra triết lí, Nam Cao đã hoàn toàn phủ nhận những quan niệm mà các tôn giáo đã từng khẳng định “Ở hiền gặp lành” Nếu ngày xưa, cô Tấm với một tấm lòng nhân hậu, trung hiếu, qua bao lần hóa thân để đẩy lùi cái ác đã có được một kết cục tốt đẹp, thì ở đây, Nam Cao đã dẫn người đọc lướt qua cuộc đời của Nhu, một cô gái rất

mực hiền lành bị mọi người hà hiếp, xem thường, coi khinh Phải chăng “cái nghề đời

hiền quá hóa ngu” (Chí Phèo) Nam Cao đã rất sâu sắc khi nhận ra điều đó Khi đặt chữ

hiền và hèn ở cạnh nhau, ta thấy nó khác biệt nhau một cách không đáng kể Nam Cao

đã khuyên chúng ta muốn tồn tại và để thành công trong cuộc sống, con người cần phải khôn ngoan, khéo léo khi lựa chọn cách sống và lối sống Hiền lành là tốt, là lối sống tích cực nhưng hiền quá mức lại là một lối sống tiêu cực, đó có thể là một biểu hiện của cái chết trong lúc sống

Mặc khác, Nam Cao đã chỉ ra muốn thành công về mọi mặt trong cái xã hội thực dân nửa phong kiến, con người cần phải biết lọc lừa, toan tính, mưu mô… như

nhân vật Nhượng trong Ở hiền Cái xã hội lúc bấy giờ chỉ còn đất dụng võ cho những kẻ

như thế Trong xã hội của chúng ta ngày nay, cái hiền vẫn có thể tồn tại nhưng ít khi nó

có thể sống được trong xã hội thời ấy Nam Cao đã dẫn ra một trường hợp sinh động của Nhu, số phận đã không hề mỉm cười với cô khi cô đã hiền quá Như vậy hiền lành nhẫn nhịn qua mức chỉ chuốc lấy thất bại cho bản thân

Tính tình của con người có nhiều lúc lại là nguyên nhân của mọi bất công trên

đời “Trời thật bất công khi dựng ra cái đẹp và cái xấu, loài người thích đẹp, ghét xấu đã

phụ họa vào sự bất công của Trời” (Điếu văn) Nhận định này của Nam Cao cũng là

những lời lẽ xuất phát từ một trái tim chân tình Ông tỏ ra xót thương đối với số phận anh cu Phúc Lấy được người vợ đẹp đâu hẳn là may mắn, anh Phúc đã phải làm lụng vất vả đến nỗi hao mòn sức khỏe, người quéo quắt đi trong nỗi tuyệt vọng Chỉ vì anh thì xấu mà vợ anh thì đẹp quá! Người đời xem việc anh phải cung phụng vợ anh là điều tất nhiên Ở đây, cùng với những bất công khác, ông Trời dường như đã vào hùa với cái xã hội đương thời bóp nát dần cuộc đời của những nông dân, những người dân tuy xấu xí, quê mùa nhưng rất đỗi lương thiện Sự bất công ấy như một sợi dây siết chặt vào cuộc đời của họ, khiến họ càng vùng vẫy càng không thể thoát ra

Trang 24

Nam Cao thấy rõ sự bất công hiện ra rất rõ ở bọn nhà giàu “Cái bọn ngu dốt mà

giàu đáng ghét vô cùng Chúng chỉ biết có tiền và coi người như rác như rơm” (Sao lại thế này) Bọn nhà giàu qua con mắt của nhà văn như là một con bạch tuộc có nhiều vòi

chuyên đi bóc lột những người dân lao động nghèo khổ Chúng sống mà không hề có

tình yêu thương đồng loại, thẳng tay bóc lột một cách tàn nhẫn vô nhân đạo “Cơm nhà

giàu khó nuốt Ăn của họ mà không làm lợi cho họ được thì họ làm cho đến phải mửa ra

mà giả họ” (Một đám cưới) Anh Phúc cũng đã phải làm lụng vất vả, bệnh cũng không

dám nghỉ ngơi, hết sức trung thành trong vai trò một người ở, thế nhưng chủ lại chẳng

chút thương tình Bọn nhà giàu hầu hết đều giống nhau, Nam Cao khẳng định “Gợi lòng

thương của một người chủ tham lam còn khó lắm thay” (Điếu văn) Cái ranh giới giàu

nghèo là một bức tường kiên cố không thể nào phá vỡ nổi, tạo nên sự bất công của cuộc đời Khó có một sức mạnh nào giải quyết được vấn đề này một cách thỏa đáng Bởi chẳng có giải pháp nào cho cuộc đời, cho số phận con người nên ông buông xuôi với

một cái nhìn cam chịu trong một cuộc sống khép kín “Ông cũng vậy mà tôi cũng vậy, ít

ra chúng ta cũng còn một xó để tự do Khi cửa nhà chúng ta khép kín, ta có thể lố lăng

mà không bận vì đến ai” (Đôi móng giò)

Trong những truyện ngắn của Nam Cao, hầu hết các câu chuyện rất ít những sự kiện, biến cố Những sự kiện biến cố lại thường diễn ra theo cái nhịp điệu đều đều, buồn tủi, lặp đi lặp lại tạo nên âm điệu của cuộc sống quẩn quanh, bế tắc không lối thoát Nhân vật trước những sự kiện không bao giờ có những hành động quyết liệt để đấu tranh, phản kháng Dì Hảo trong truyện ngắn cùng tên chỉ biết làm lụng vất vả, không một lời than, một tiếng oán trách, chỉ biết nhẫn nhục chịu đựng Sự nhẫn nại ấy cứ lặp đi lặp lại như một điệp khúc buồn thảm trong cuộc đời nhân vật Khi người chồng phụ bạc

đưa về một người đàn bà trơ tráo thì dì Hảo “ngạc nhiên Rồi thì dì tức tối Sau cùng thì

dì nhẫn nại; phải, nhẫn nại là hơn: nếu hắn không về thì cũng thế” Đến khi tất cả bỏ đi

thì dì Hảo cũng “ngạc nhiên Rồi thì dì tức tối Sau cùng thì dì nhẫn nại; phải, nhẫn nại

là hơn: nếu hắn không về thì cũng thế” Nhân vật Nhu trong Ở hiền cũng sống một cuộc

đời buồn thảm, nhàm chán, không hề có ánh sáng niềm vui và cũng nhẫn nhục chịu

đựng giống hệt như dì Hảo “cả đời chỉ biết cúi đầu cúi cổ nai lưng ra làm” Cuộc đời

của nhân vật cứ như cánh bèo trôi nổi bị dòng đời xua đẩy, cứ khô héo và tàn lụi dần Cứ như thế nhân vật buông xuôi phó thác cuộc đời cho số phận, một cuộc đời bế tắc, nhẫn nhục, mỏi mòn

Qua từng câu truyện của Nam Cao, ta thấy vang lên một giọng điệu buồn

thương da diết Ông chua chát thốt lên “Chao ôi! Ở trên đời này có cái gì bền vững mãi

đâu (Làm tổ) Từ một hiện tượng khách quan: thời tiết, đời sống… bây giờ đã khác xưa,

Nam Cao đã đúc rút ra một qui luật của cuộc đời: cuộc đời này quá đỗi mong manh, sức mạnh hữu hạn của con người chẳng thể nào kéo giữ nỗi sự tuần hoàn, biến đổi của cuộc

đời Chính vì vậy, Nam Cao đã đưa ra một sự thật chua xót: “Đời bực lắm!” (Lang Rận)

Cuộc đời chỉ đem lại cho con người những trớ trêu không thể nào lường trước được, nhất là những con người bần cùng dưới đáy xã hội

Là hai con người xấu xí, mụ Lợi và Lang Rận dường như đã bị mọi người bỏ

rơi trong khinh rẻ Mụ Lợi thì “béo trục, béo tròn, mặt mũi như tổ ông bầu, mắt trắng

môi thâm, mà đen như thằng quỷ”, còn Lang Rận thì có gì hơn, ngoại hình anh là một trò

trêu ngươi của tạo hóa “mặt gì mà nặng chình chĩnh như mặt người phù, da như da con

Trang 25

tằm bủng, lại lấm tấm đầy những tàn nhang Cái trán ngắn ngủn, ngắn ngùn, lại gồ lên Đôi mắt thì híp lại như mắt lợn sề…” Với một cái nhìn nhân đạo mang đậm tính nhân

văn, Nam Cao đã nhận ra đằng sau những gương mặt xấu xí ấy là một tâm hồn nhạy cảm

và khao khát yêu thương Hai người gần như bị mọi người ruồng bỏ đã đến với nhau Thế nhưng sự đời không đơn giản và diễn ra không suôn sẻ như họ mong muốn Vì một trò đùa quái ác, bà Cựu và cô Đính đã phá hủy tất cả, họ đã giết chết một mạng người

Nam Cao đã đưa ra một triết lí rất đúng, ít nhất là trong trường hợp này “Khi hai người

con gái lớn ở với nhau cùng một nhà thì họ thành tinh” Qua cái chết của Lang Rận,

Nam Cao dường như muốn nhắn nhủ với tất cả mọi người: đừng nên vì thỏa mãn thú vui bản thân mà đùa quá trớn, nó có thể gây tổn thương cho rất nhiều người khác Và hãy nên có thái độ trân trọng đối với từng con người ở xung quanh ta

Trong Lão Hạc, triết lí về Đời về Kiếp con người vang lên bằng một giọng buồn thương, ngậm ngùi, tiếc nuối: “Ấy! Sự đời lại cứ thường như vậy đấy Người ta

định ra chẳng bao giờ người ta làm được” Trong truyện ngắn này, Lão Hạc là một

người cha rất mực thương con và giàu lòng tự trọng, đây là một nhân vật đẹp mang tính nhân văn cao cả của Nam Cao Cuộc sống nghèo khổ khốn cùng cứ dai dẳng đeo bám, bóp chết cả ước mơ, hi vọng của gia đình Lão Hạc Chỉ có mảnh vườn là tài sản duy nhất do vợ để lại, Lão Hạc không nỡ bán đi vì nếu bán đi rồi, dù đủ tiền cưới vợ, vợ chồng con trai lão cũng chẳng biết ở đâu Tất cả dự định, mong muốn của Lão Hạc đổ

vỡ tan tành khi con trai lão phẫn chí ra đi, để lại một mình lão bơ vơ ngồi đếm tháng ngày trôi

Có một gia đình sum vầy, con cháu quây quần bên cạnh lúc tuổi già là một ước muốn tưởng chừng như đơn giản với tất cả mọi người, thế nhưng đối với Lão Hạc, đó lại

là một ước mong quá đỗi xa vời Nỗi đau khổ của Lão Hạc đâu chỉ có thế, vì “Đời người

ta không chỉ khổ một lần” Câu triết lí hoàn toàn đúng đối với từng nhân vật trong truyện

ngắn Lão Hạc của Nam Cao Cả vợ chồng ông giáo và Lão Hạc đều có một số phận hẩm hiu, một cuộc đời nghèo khổ Vì khó khăn, ông giáo phải bán cả áo quần và nhiều thứ khác, trừ những quyển sách mà ông rất quí vì nó chứa đựng tất cả những ước mơ, hoài bão, lí tưởng của tuổi trẻ Nhưng cuối cùng, túng bấn, cùng quẫn trong cuộc sống gia đình, ông giáo đã bán nốt mấy quyển sách quí

Ông giáo đã từng có ý nghĩ, sự đau xót của Lão Hạc khi mất con chó vàng không sao sánh bằng nỗi đau khi ông mất những quyển sách quí Nhưng có đi sâu vào tác phẩm, thấu hiểu hết Lão Hạc ta mới nhận ra những nỗi đau to lớn mà Lão Hạc phải chịu đựng Sau khi con trai bỏ đi vào làm ở đồn điền cao su, lão đã đau đớn khôn nguôi Với tinh thần trách nhiệm cao cả của một người làm cha, Lão Hạc như cảm thấy có lỗi với con trai Lão sống hết sức dè sẻn, tiết kiệm, mục đích là để lại một ít tài sản cho con

trai cùng với mảnh vườn Cuộc đời lão quả thật rất đáng thương “Già rồi mà ngày cũng

như đêm, chỉ thui thủi một mình thì ai mà chẳng phải buồn”

Sống cô đơn, Lão Hạc chỉ biết trò chuyện để giải khuây với ông giáo và bầu bạn với con chó Vàng mà ông rất mực quí mến, thương yêu Lão bắt rận, tắm cho nó, lão

ăn cái gì nó cũng có phần “Lão gọi nó là cậu Vàng như một bà hiếm hoi gọi đứa con cầu

tự” Tìm hiểu kĩ, ta có thể hiểu tại sao lão lại quí con Vàng đến như vậy Nó chính là

thằng con trai lão, là cháu nội trong tưởng tượng của lão Con chó Vàng không đơn giản chỉ là một con vật nuôi trong nhà mà đã trở thành một thành viên trong gia đình Lão

Trang 26

dồn vào con Vàng tất cả lòng thương yêu, trìu mến của một người cha đối với con, một ông nội đối với đứa cháu của mình

Và “cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn”, khi mà một trận ốm

thập tử nhất sinh đã tiêu hết số tiền mà lão dành dụm cho con trai từ hoa lợi của khu vườn Rồi cùng đường khi tìm kế sinh nhai, lại không muốn phạm vào mảnh vườn, lão

đã quyết định một việc mà tất cả chúng ta, những độc giả, kể cả ông giáo là người bạn láng giềng mà ông vẫn hay tâm sự, không hề ngờ tới Lão Hạc đã chuẩn bị chu đáo từng bước để tìm đến cái chết cho tròn phận sự người cha Dòng máu của tình phụ tử cao quí chảy trong huyết quản của lão như từ cha con Chử Cù Vân - Chử Đồng Tử đã truyền lại cho đến ngày hôm nay Sự hi sinh của lão xuất phát từ lòng thương yêu của một người cha thương con vô bờ bến, khiến mọi người không khỏi bùi ngùi, xúc động Việc bán con Vàng cũng đã khiến lão đau đớn tột cùng Triết lí của lão về số kiếp của nó, cũng

như số kiếp của những con người nghèo khổ như lão nghe thật chua chát: “Kiếp con chó

là kiếp khổ thì ta hóa kiếp cho nó làm kiếp người, may ra có sung sướng hơn một chút… kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn!”

Số kiếp con người thì không ai giống ai, nhưng số kiếp của Lão Hạc và ông giáo thì có điểm tương đồng, cả hai con người đều nghèo khổ như nhau Nhưng số phận của Lão Hạc thì thê thảm hơn nhiều, chính vì thế, Lão Hạc đã phải tự kết liễu đời mình

bằng bả chó Một cái chết thật dữ dội, đầy thương tâm “Lão Hạc vật vã trên giường, đầu

tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch, hai mắt long sòng sọc Lão tru tréo, bọt mép sùi ra, khắp người chốc lại bị giật mạnh một cái, nẩy lên Hai người đàn ông lực lưỡng, phải ngồi đè lên người lão Lão vật vã đến hai giờ đồng hồ mới chết” Chao ôi! Cuộc đời của lão có

ngày nào được sung sướng, vui vẻ trọn vẹn đâu! Nam Cao đã thật cảm thông, tâm hồn tràn đầy yêu thương khi xây dựng nhân vật này Theo khảo sát, trong nhiều tác phẩm khác, các nhân vật của Nam Cao thường đầu hàng hoàn cảnh, đánh mất nhân cách tốt đẹp Còn ở đây, Lão Hạc hiện lên là một nhân vật đẹp nhất, với những nét tính cách tốt đẹp nhất Thật đáng quí, đáng trân trọng biết bao!

Tất cả những chiêm nghiệm, triết lí của Lão Hạc hay của Nam Cao về cuộc đời không được đúc rút ra từ những luân lí khô khan của sách vở mà đó chính là sự trải nghiệm của chính tác giả Từ một hiện tượng cụ thể trong đời sống hàng ngày, Nam Cao liên hệ và đưa ra một triết lí phù hợp với từng hoàn cảnh Đây là một biệt tài của Nam Cao Qua những triết lí về Đời về Kiếp, Nam Cao đã cho chúng ta thấy sự tột độ thê thảm của con người Con người trong xã hội lúc bấy giờ phải chịu đựng một cuộc đời tối tăm, bế tắc, luẩn quẩn trong cái vòng tròn định mệnh mà chính cái xã hội bất công đã tạo

ra

Trang 27

3 Triết lí về sự sung sướng và nỗi khổ đau

Mỗi con người trong cuộc đời đều trải nghiệm qua sự sướng khổ, buồn vui với những cung bậc và âm điệu rất khác nhau Nam Cao –một nhà văn có nhiều kinh nghiệm sống với một cái nhìn sâu sắc đã đưa vào trong tác phẩm những triết lí về sự sung sướng, nỗi khổ đau của cuộc đời Đây có thể là những điều mà mỗi chúng ta có thể nhận ra và rất đỗi quen thuộc, nhưng Nam Cao đã thổi vào đó một giọng điệu mang sắc thái riêng của nhà văn khiến cho nó quen mà lạ, đơn giản mà kín đáo, sâu xa Những câu triết lí của Nam Cao về vấn đề này không hề gây cảm giác nhàm chán bởi những cái bình thường mà trái lại, nói có sức gợi, tạo sự liên tưởng sâu xa trong lòng độc giả về nhân cách, lối sống của bản thân mỗi người nói riêng và của mọi người trong xã hội nói chung

Nếu chúng ta nghĩ rằng sự sung sướng rất khó đạt được thì chúng ta đã lầm

Có nhiều lúc, sự sung sướng đến với chúng ta một cách rất đơn giản, Nam Cao đã chỉ ra

điều đó: “Cái xấu của người khác bao giờ chẳng làm ta sung sướng Ta thấy ta còn tốt

hơn chán người” (Đòn chồng) Đây hình như là cái tâm lí chung của người đời Tác

phẩm có tên Đòn chồng đã hé mở một trận đòn của một ông chồng giáng xuống đầu vợ

mình Đúng như vậy, vợ Lúng vì một nguyên nhân, chính xác hơn là vì miếng ăn, đã bị đánh một trận đòn chí tử mà bất kì ai chứng kiến cũng phải xót xa Suy cho cùng, chỉ vì đói quá nên thị mới làm liều Nhưng nhiều khi, tâm lí của người đời cũng thật ác nghiệt

Họ cảm thấy hể hả vui sướng khi chứng kiến sai phạm của người khác, bởi “ta thấy ta

còn tốt hơn chán người” Triết lí này có thể nói là đúng và không hoàn toàn phủ nhận

được, ít nhất là đối với những nhân vật đã được Nam Cao chọn để phát ngôn câu nói đó

Đây là sự vui sướng theo đúng qui luật tâm lí của con người nhưng lại theo

chiều hướng tiêu cực Sự vui sướng này hoàn toàn khác với cái vui trong Tình già Sau

khi chồng thị Yên về quê với một số tài sản kếch xù, ít nhất là đối với thị, bố thị và những người dân nghèo nơi đây, nỗi vui sướng của thị không gì diễn tả hết Và cứ thế, như tâm lí của mọi người, thị đem niềm vui sướng ấy để chia sẻ, nói đúng hơn là đi khoe

với mọi người, bởi lẽ “Khi người ta sung sướng, người ta không thể ngồi yên một chổ

Người ta cần gào nỗi vui sướng của mình cho mọi người hay” (Tình già) Nam Cao tỏ ra

rất am hiểu những suy nghĩ, diễn biến tâm lí của mỗi con người

Cũng nói về sự sung sướng, nhưng ở đây, Nam Cao lại ví nó như một món ăn ngon cần phải dùng khi còn nóng mới có thể cảm nhận được hết mùi vị tuyệt vời của nó,

cho nên “không bao giờ nên hoãn sự sung sướng lại” (Lão Hạc) Cái sự sung sướng của

người nghèo như Lão Hạc và ông giáo rất là đơn giản, đó có thể là những thú vui bình thường nhất

“Lão cười và ho sòng sọc Tôi nắm lấy cái vai gầy của lão, ôn tồn bảo:

- Chẳng có kiếp gì sung sướng thật, nhưng có cái này là sung sướng: Bây giờ cụ ngồi xuống phản này chơi tôi đi luộc mấy củ khoai lang, nấu một ấm chè tươi thật đặc; ông con mình ăn khoai, uống nước chè, rồi hút thuốc lào…Thế là sướng!

- Vâng ! ông giáo dạy phải! Đối với chúng mình thì đó là sung sướng”

Trang 28

So với kẻ giàu, cái khoảnh khắc có được sự sung sướng của người nghèo thật bình dị nhưng đáng quí, đáng trân trọng biết bao!

Trong một hoàn cảnh khác, với những nhân vật khác cùng những cá tính đặc

biệt, quan niệm về sự sung sướng lại hoàn toàn khác Trạch Văn Đoành trong Đôi móng

giò thì sung sướng theo kiểu của một thằng say rượu: “Khi người ta say, người ta quên

cả những lầm than của kiếp người, nghĩa là người ta sướng lắm!” Cũng là một thằng

say rượu, nhưng Chí Phèo lại có một triết lí khác: “Ở tù sướng quá! Đi ở tù còn cơm để

mà ăn, bây giờ về làng về nước, một thước cắm dùi không có, chả làm gì nên ăn”

Trường hợp của Chí Phèo và Trạch Văn Đoành là những trường hợp hiếm hoi trong trang văn của Nam Cao Đây là cuộc đấu tranh quật khởi của hai con người muốn lăm

le, hăm dọa cái xã hội đương thời, là mầm mống của một sự phản kháng quyết liệt để giành lấy quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc

Trạch Văn Đoành là con của một lão đi câu Cuộc sống nghèo khổ của hai cha con diễn ra bên bờ sông với niềm vui nhỏ nhoi là tìm sự vui sướng trong men rượu, bởi theo họ, khi người ta say là quên hết sự đời, quên cả nỗi cực nhọc khổ đau đang đeo bám Nhưng sau đó, từ cái chết của cha và sau mấy năm bỏ làng ra đi, Trạch Văn Đoành

“đột nhiên trở về nhảy tót lên bao lơn ngồi làm một ông kì mục”, rồi đùng một cái “ hắn

đưa bốn ông lên huyện về việc bao chiếm công điền Đùng một cái nữa, hắn đưa mấy ông khác lên huyện vì việc lạm tiền công quỹ Rồi đùng một cái nữa… và cái nữa … luôn năm, sáu cái đùng như vậy hắn làm các ông thua liểng xiểng Bởi tội các ông nhiều như

lá trên rừng… các ông đâm hoảng”.Thế là Trạch Văn Đoành sống ung dung Nếu lúc

xưa hắn phải tìm sự sung sướng trong men rượu thì hiện tại, sự sung sướng đến với hắn một cách đường hoàng do chính hắn tạo lập nên Đây là sự đấu tranh đi tìm sự sung sướng cho bản thân và đã kết thúc thắng lợi

Còn Chí Phèo khi đã hết đường mưu sinh, hắn nhận ra một điều: “Ở tù sướng

quá!” Nhìn bề ngoài đây là cách nói của một thằng du côn, nói như vậy có vẻ hắn thích

đi ở tù thật! Nhưng xét kỹ, Chí Phèo chỉ muốn tìm một nơi yên ổn, bình an, cố định Đối với hắn, được như vậy đã là sung sướng, chứ thật sự không phải hắn muốn đi ở tù Câu đối đáp của Chí Phèo với Bá kiến cũng là lời thách thức cái xã hội thực dân nửa phong kiến lúc bấy giờ Câu nói của Chí Phèo mang chút gì đó thật chua chát cho số phận của những người nông dân nhỏ bé, nghèo khổ đang ngày càng bị dồn vào bức tường không

có lối thoát

Trong tình yêu, một địa hạt tưởng chừng như chỉ tồn tại niềm vui sướng như

Nam Cao đã từng khẳng định: “Sung sướng thay là những người yêu” (Truyện tình) cũng xuất hiện cả sự đau khổ Anh lính, một nhân vật trong truyện ngắn Đui mù đã từng

sống trong tình yêu hạnh phúc vô bờ Nhưng sau khi phát hiện ra sự thật, một sự thật hết sức đau lòng: người yêu phản bội anh đau đớn khôn nguôi và hoàn toàn thất vọng về

tình yêu Nam Cao thốt lên chua chát: “Thà rằng cứ đui mù như anh lính nọ lại được

hoàn toàn sung sướng hơn là tìm đến sự thật để thất vọng vì sự thật” Bất kỳ ai cũng

muốn tìm đến với sự thật và không muốn bị lừa dối Ngược lại qua câu truyện này Nam Cao chấp nhận việc không cần biết đến sự thật Biết làm gì! Nếu nó phá vỡ tất cả niềm vui sướng của con người chúng ta và chỉ đem lại sự buồn tủi, khổ đau Trong tình yêu,

sự phản bội là điều khiến mọi người đau lòng nhất

Ngày đăng: 19/02/2014, 14:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w