1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÓM tắt bản án (1122018DSPT NGÀY 22082018 tại tòa án nhân dân tỉnh đắk lắk)

21 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 30,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho đến thời điểm bà L có yêu cầu bà C giao cà phê thì bà Lmới biết về việc này và hoàn toàn không đề cập đến sự tồn tại của tờ phiếu gửitại đại lí do anh N đứng tên giùm bà.. => Ở lời k

Trang 1

https://thuvienphapluat.vn/banan/ban-an/ban-an-1122018dspt-ngay-22082018-ve-I TÓM TẮT BẢN ÁN (112/2018/DSPT NGÀY 22/08/2018 tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk

Lắk)

1 Thông tin các bên liên quan

1.1 Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L

1.2 Bị đơn: Bà Nguyễn Thị C

Người đại diện theo ủy quyền của bà C: Ông Phạm Ngọc T

1.3 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Trần Văn N - có mặt

- Bà Vũ Thị D - vắng mặt

1.4 Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị C

2 Nội dung vụ việc

2.1 Nguyên đơn bà L trình bày

- 07/01/2015, bà L mua của bà C 350 kg cà phê nhân đã quy chuẩn với giá41.700đ/kg Sau khi viết giấy mua bán thì bà L đã giao cho bà C tổng số tiền là

14.595.000 đồng Hai bên thỏa thuận, khi nào bà L có nhu cầu thì sẽ đến gặp bà C để

nhận cà phê

- 05/09/2016, bà L đến gặp bà C để yêu cầu giao cà phê, thì bà C và con trai là N

đã gửi 350kg cà phê nhân tại đại lý cà phê H - D Đồng thời bà C hứa là bà C và anh

N sẽ ra đại lý cà phê H – D để rút lại cà phê trả lại cho bà L

- Khoảng 02/2017, do cần tiền để lo cho gia đình nên bà L có đến gặp bà C đểyêu cầu giao 350kg cà phê, nhưng bà C và anh N liên tục trốn tránh, không chịu trả lại

số cà phê nói trên

Yêu cầu của nguyên đơn bà L: Buộc bà Nguyễn Thị C phải giao trả cho bà

Nguyễn Thị L 350 kg cà phê nhân đã quy chuẩn

Trang 2

- (bà C thừa nhận) 07/01/2015 bà C bán cho bà L 350kg cà phê nhân đã quychuẩn, bà L đã giao đủ tiền Tuy nhiên, vì cà phê phơi chưa khô nên hai người thỏathuận khi nào bà C phơi cà phê khô thì bà L đến lấy.

- Sau khi xay xát cà phê xong, con trai của bà C là N gọi điện cho bà L đến lấy

cà phê về nhưng bà L bảo bà đang đi Sài Gòn nên chưa lấy cà phê được và xin gửithêm ít hôm nữa khi nào bà về bà tới lấy sau

- Khi bà L về mà chưa đến lấy cà phê thì N lại gọi điện thoại bảo bà L đến lấy càphê về thì bà L lại bảo ở nhà một mình sợ mất cứ để đó cho bà gửi thêm ít hôm

- Khi gia đình bà C cần bán hết số cà phê ở trong kho để lo việc gia đình thì N lạigọi điện cho bà L tới lấy cà phê về tiếp, thì bà L lại nói bà lấy về nhà không ai trôngcho sợ mất nên bà bảo khi đi bán cà phê thì mang số cà phê đó bán luôn rồi đưa tiền

về cho bà Nên bà C bảo N chở cà phê của gia đình bà và của bà L đi bán

- Tại thời điểm N đem cà phê đi bán thì giá cà phê chỉ có 36.000đ/kg nên bà Lbảo N là gửi cà phê của bà L tại đại lý cà phê H-D cho bà L, nên N đã gửi cà phê của

bà L theo yêu cầu của bà L và đã giao phiếu gửi cà phê đứng tên là N cho bà L từngày 27/01/2015 đến nay

- (bà C cho biết thêm) 05/09/2016 bà L có đem phiếu (do N đứng tên dùm) đến đại lý cà phê H - D ứng số tiền là 500.000đ nên phía sau phiếu bà D có ghi “chị Nguyễn Thị L ứng 500.000đ tiền mặt vào ngày 05/09/2016”.

Yêu cầu của bị đơn bà C: Bà C cho rằng đã giao phiếu gửi cà phê do con trai

là N đứng tên dùm cho bà L từ năm 2015 đến nay như vậy đã hoàn thành nghĩa vụgiao cà phê cho bà L từ thời điểm giao phiếu gửi cà phê cho bà L Vì vậy không chấpnhận trả lại số cà phê nhân như bà L khởi kiện

2.3 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh N trình bày :

- 07/01/2015 bà C (mẹ của N) có bán cho bà L 350 kg cà phê nhân đã quy chuẩn.Tuy nhiên, tại thời điểm bà L giao tiền cho bà C thì cà phê chưa khô nên chưa giao càphê cho bà L

Trang 3

- Sau khi phơi xong cà phê thì N có gọi điện báo bà L đến lấy cà phê nhưng bà Lkhông đến nhận Mấy ngày sau N lại gọi điện thoại bảo bà L ra nhận lại cà phê nhưng

bà L vẫn không nhận cà phê

- Khi gia đình N cần bán hết số cà phê ở trong kho để lo việc gia đình thì N lạigọi điện báo cho bà L tới lấy cà phê nhưng bà L cho rằng lấy cà phê về không cóngười trông sợ mất nên bà L bảo N đi bán cà phê thì bán cho bà L luôn rồi đưa tiền vềcho bà Do đó, N chở cà phê của gia đình N và cả cà phê của bà L đi bán luôn Sau khichở cà phê đến đại lý cà phê, khi hỏi giá xong N gọi điện báo giá cho bà L thì bà Lcho rằng giá thấp chưa bán Đồng thời bà L bảo N đứng tên gửi dùm cà phê của bà Ltại đại lý H- D N tin tưởng bà L nên đã làm theo, cùng ngày hôm đó N giao phiếu gửi

cà cho bà L giữ đến nay (N đúng tên bên người gửi).

Yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh N: Quan điểm của

N là bà L đã nhận phiếu gửi cà của bà C từ năm 2015 đến nay Vì vậy, N đề nghị Tòa

án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật

3 Phiên tòa án sơ thẩm

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của khởi kiện của bà Nguyễn Thị L Buộc

bà Nguyễn Thị C phải giao trả cho bà Nguyễn Thị L 350kg (ba trăm năm mươi) càphê nhân đã quy chuẩn

Kháng cáo: Ngày 07/5/2018 bị đơn bà C có đơn kháng cáo, yêu cầu Tòa án

cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyênđơn

4 Phiên toà phúc thẩm:

4 1 Nhận định Toà án

Xét thấy quá trình tham gia tố tụng bà Nguyễn Thị C thừa nhận có bán cho bà L350kg cà phê nhân xô đã quy chuẩn và bà L đã giao đủ tiền mua cà phê cho bà C Bà

C cũng thừa nhận chữ ký bên người bán trong giấy mua bán mà bà L cung cấp là do

bà ký tên bên phía người bán Đến ngày 27/01/2015 anh N con bà C mang 350kg càphê đi gửi tại đại lý thu mua cà phê nông sản H–D cho bà L Sau đó tại nhà bà C anh

Trang 4

N đã đưa phiếu gửi cà phê của đại lý thu mua cà phê nông sản H–D cho bà L và bà L cất giữ phiếu cho đến nay Hiện tại đại lý thu mua cà phê nông sản H–D đã vỡ nợ.

4.2 Các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án như sau:

- Bà Nguyễn Thị C phải giao trả cho bà Nguyễn Thị L 175 kg cà phê nhân xô đã quy chuẩn Thời hạn trả chậm nhất đến ngày 03/9/2018

- Mỗi bên đương sự chịu một ½ tiền án phí

II PHÂN TÍCH BẢN ÁN

1 Sơ lược nội dung chính

1.1 Yêu cầu của nguyên đơn: Buộc bà Nguyễn Thị C phải giao trả cho bà

Nguyễn Thị L 350 kg cà phê nhân đã quy chuẩn

1.2 Đối tượng tranh chấp: 350 kg cà phê nhân đã quy chuẩn.

1.3 Quan hệ tranh chấp: mua bán tài sản (Trong lời khai, các bên xác nhận

có thoả thuận mua bán cà phê vào ngày 07/01/2015) → Áp dụng BLDS để giảiquyết tranh chấp

1.4 Các chủ thể liên quan trong quan hệ tranh chấp: Bà L, bà C, anh N,

chủ đại lí H-D

1.5 Nghĩa vụ liên quan tranh chấp (Điều 428 BLDS 2005)

- Nghĩa vụ của bà L: nhận hàng (chưa nhận) và thanh toán (đã thanh toán)

- Nghĩa vụ của bà C: giao hàng và nhận thanh toán (đã nhận)

2 Hợp đồng mua bán cà phê giữa bà L và bà C có giá trị pháp lý không?

- Điều kiện để hợp đồng có hiệu lực: (Điều 117 BLDS 2015 / Điều 122 BLDS 2005)

+ Hai bên đương sự (bà L, bà C) và những người có quyền lợi, nghĩa vụliên quan đều có, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch; (nếu theo BLDS

2005 thì các bên đều có năng lực hành vi dân sự)

+ Các bên đều tự nguyện tham gia vào giao dịch;

Trang 5

+ Mục đích, nội dung giao dịch là mua bán tài sản (cụ thể là cà phê), không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội;

+ Hình thức giao dịch: bằng văn bản (Theo lời khai của nguyên đơn, giữa hai bên có viết giấy mua bán)

- Đối tượng hợp đồng mua bán là 350kg cà phê, không thuộc những trường hợptài sản bị cấm hoặc bị hạn chế chuyển nhượng theo quy định của luật và thuộc quyền

sở hữu của bà C nên được phép giao dịch (Điều 431 BLDS 2015 / Điều 429 BLDS

2005 cà phê là tài sản được phép giao dịch)

=> Hợp đồng mua bán cà phê giữa bà L và bà C có giá trị pháp lý.

3 Mâu thuẫn lời khai giữa hai bên đương sự

Trong lời khai của cả hai bên nguyên đơn và bị đơn, đáng chú ý là lời khai vào

ngày 5/9/2016 tồn tại những điểm mâu thuẫn với nhau, cụ thể:

- Phía nguyên đơn (bà Nguyễn Thị L) khai: vào ngày 5/9/2016 bà L có đến gặp

bà C để yêu cầu bà C giao cà phê, thì bà L được bà C cho biết, bà C và con trai là TrầnVăn N đã gửi 350kg cà phê nhân tại đại lý cà phê H - D Đồng thời bà C hứa với bà L

là bà C và ông N sẽ ra đại lý cà phê H – D để rút lại cà phê trả lại cho bà L

=> Ở đây, có thể thấy nếu dựa vào lời khai của bà L thì trước ngày 5/9/2016 bà

L không hề biết đến việc 350kg cà phê của mình đã được anh N ký gửi tại đại

lý cà phê H - D Cho đến thời điểm bà L có yêu cầu bà C giao cà phê thì bà Lmới biết về việc này và hoàn toàn không đề cập đến sự tồn tại của tờ phiếu gửitại đại lí do anh N đứng tên giùm bà

- Phía bị đơn (bà Nguyễn Thị C) khai:

+ Bà L vì lý do lấy cà phê về nhà không ai trông cho sợ mất nên đã bảo bà

C là đi bán cà phê thì bán cho bà L luôn rồi đưa tiền về cho bà, sau đó anh N đã chở

tất cả số cà phê đi bán Nhưng vì giá thị trường lúc đó thấp nên đã bảo anh N là gửi cà phê của bà L tại đại lý cà phê H-D cho bà

Trang 6

L, nên anh N đã gửi cà phê của bà L theo yêu cầu của bà L và giao

phiếu gửi cà phê đứng tên anh N cho bà L từ ngày 27/01/2015 đến nay.

=> Ở lời khai của phía bị đơn, có thể thấy bà L thực sự đã biết đến việc

ký gửi cà phê tại đại lý H - D và đó hoàn toàn là sự thoả thuận giữa bà

và bà C Đồng thời bà L cũng là người giữ phiếu gửi cà phê từ ngày

27/01/2015 (trước ngày 5/9/2016) cho đến nay.

+ Phía bị đơn khai ngày 5/9/2016 bà L có đem phiếu của mình (do anh N đứng tên dùm) đến đại lý cà phê H - D ứng số tiền là 500.000đ nên phần phía sau

phiếu bà D có ghi “chị Nguyễn Thị L ứng 500.000đ tiền mặt vào ngày 05/09/2016”.

=> Điều này liệu có mâu thuẫn với lời khai của bà L phía trên vì vào ngày này,

bà L thực sự đã công nhận việc ký gửi cà phê tại đại lý H – D nên mới tới đại

lý để ứng tiền Trong khi đó, ngày 5/9/2016 cũng là ngày mà bà L cho rằngmình yêu cầu bà C giao hàng thì biết được số cà phê đã được kí gửi tại đại lí.-> Vấn đề đặt ra ở đây là liệu Tòa đã xác thực tờ giấy ký gửi cà phê đó chưa?-> Bà D là người quan trọng trong việc xác thực mâu thuẫn trong lời khai củahai bên đương sự Liệu Tòa đã làm rõ vấn đề chưa? Tòa xét xử phúc thẩm vụ

án mà thiếu sự hiện diện của bà D liệu có đảm bảo công bằng cho hai bên vàảnh hưởng đến kết quả vụ án không?

Trang 7

này đã gián tiếp thể hiện việc bà không biết gì về tờ phiếu gửi Còntrong lời khai của phía bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liênquan thì lại thể hiện rằng bà L đã nhờ anh N kí gửi cà phê và đứng têndùm, sau đó bà L là người đã giữ tờ giấy gửi cho đến thời điểm hiện tại.

Thứ hai, theo lời khai của bị đơn là bà C thì vào ngày 5/9/2016 bà

L đã từng đến ứng tiền tại đại lý, cụ thể là 500.000đ nên phần phía sau

phiếu bà D có ghi “chị Nguyễn Thị L ứng 500.000đ tiền mặt vào ngày 05/09/2016” Nhưng cũng chính vào ngày 5/9/2016 là ngày mà bà L cho

rằng mình yêu cầu bà C giao số cà phê và biết rằng số cà phê đó đã được

kí gửi tại đại lí H-D

Chính sự mâu thuẫn trong lời khai của hai bên nên vấn đề đặt ra ở

đây là tờ phiếu gửi này là có tồn tại trên thực tế hay không Việc tòa sơ thẩm ra quyết định rằng bà C phải trả bà L 350kg cà phê sẽ là một thiếu sót, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của bà C nếu thực sự

tờ phiếu gửi là có thật và bà L hoàn toàn tự nguyện thoả thuận với phía

bị đơn về việc gửi cà phê tại đại lý H-D (vì lời khai mâu thuẫn 2 trường hợp)

TH1: Bà L khai đúng => Bà L không biết số cà phê của bà được

ký gửi => Bà C và anh N tự ý ký gửi => Lúc này Bà C, anh N mới phảichịu trách nhiệm hoàn trả số cà phê đó cho bà L Căn cứ theo Điều 356BLDS 2015: Trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ giao vật (Khoản

2 Điều 303 BLDS 2005) Đồng thời bà C phải chịu thiệt hại đối với350kg cà phê gửi tại đại lí H-D khi đại lí này vỡ nợ

TH2: Bà C khai đúng:

Nếu như theo lời của bà C thì bà L là người yêu cầu anh N đem

số cà phê của bà ra đại lý H-D để gửi bán, nhưng chưa được giá nên gửilại đó, và tờ phiếu gửi có tồn tại trên thực tế Lúc này ta sẽ dựa trên luật

để xét xem bà L đã là chủ sở hữu của số cà phê này hay chưa và bà cóphải chịu rủi ro đối với số cà phê này hay không?

Trang 8

- Thứ nhất, bà L đã chủ động yêu cầu bà C gửi 350kg cà phê tại đại lý H-D, hành động này của bà L đã thể hiện rằng bà có quyền định đoạt đối với số cà phê nói trên, mà quyền định đoạt là 1 trong 3 quyền của quyền sở hữu (quy định tại Điều 158 BLDS 2015 / Điều 164 BLDS 2005) Đồng thời, việc bà L sử dụng

tờ phiếu gửi để ứng số tiền 500.000 VNĐ tại đại lý H-D đã khẳng định rằng bà là

chủ sở hữu của số cà phê này

→Từ đây ta có thể nhận định rằng: thời điểm phía bà C giao càphê cho đại lý H-D theo yêu cầu của chính bà L thì quyền sở hữu số càphê này đã được chuyển sang cho bà L và bà L đã trở thành chủ sở hữuđối với số cà phê này

- Thứ hai, theo điều 166 BLDS 2005 quy định“ Chủ sở hữu phải chịu rủi ro khi tài sản bị tiêu hủy hoặc bị hư hỏng do sự kiện bất khả kháng, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác ” Lúc này, bà L đã

trở thành chủ sở hữu đối với số cà phê này, bà C chỉ làm theo đúng thỏa thuận, sau

khi gửi xong số cà phê thì thỏa thuận đó coi như xong, kể từ thời điểm này, rủi ro đã được chuyển sang cho bà L Khi xác định được bà L là chủ sở hữu số cà phê tại thời

điểm bà C giao cho đại lí H-D thì rủi ro xảy ra sau đó đối với số cà phê trên bà L phảichịu, cụ thể là trong trường hợp đại lí vỡ nợ không hoàn trả được cà phê hay số tiềntương đương

Căn cứ theo 2 vấn đề trên thì trong trường hợp lời khai của bà C

là chính xác thì bà C không phải chịu trách nhiệm gì đối với số cà phê

của bà L nữa

Việc tòa sơ thẩm tuyên bà C phải hoàn trả 350kg cho bà L theo nhóm tụi

mình là không chính xác vì cần phải xác minh tính trung thực trong

lời khai của các bên và sự tồn tại của tờ phiếu gửi cà phê như tụi mình

đã đề cập

2 Phía đại lý cà phê H-D có trách nhiệm gì trong vụ việc này? Việc đại

lý vỡ nợ thì thiệt hại số cà phê ai là người phải chịu?

Trang 9

Giữa đại lí H-D và anh N đã gián tiếp thực hiện giao kết một hợpđồng, mà theo đó anh N gửi 350kg cà phê và đại lí sẽ thực hiện việc báncho bên mua với mức giá bên gửi hàng chấp nhận, sau khi bên muathanh toán tiền sẽ được hoàn trả cho bên gửi và đại lí sẽ nhận được mộtkhoản tiền từ bên bán tương ứng với việc cung cấp dịch vụ Đại lý đượccoi là trung gian nhằm gắn kết giữa bên bán và nhu cầu bên mua.

Tại Đắk Lắk, mỗi năm có hàng chục đại lý, công ty thu mua nông sản tuyên bố phá sản Nhiều vụ vỡ nợ có dấu hiệu hình sự nhưng

cơ quan chức năng không thể khởi tố vụ án vì chủ đại lý đã bỏ trốn.Trong khi đó, nhiều vụ nạn nhân khởi kiện ra tòa dân sự và thắng kiệnnhưng sau khi thi hành án, số tiền nhận lại chẳng được bao nhiêu, có khichỉ vài chục ngàn đồng Nhiều trường hợp nạn nhân có thể thắng kiệnnhưng không thể thi hành án được do chủ nợ đã tẩu tán hết tài sản Việc

xử lý cũng gặp nhiều khó khăn khi chủ nợ trốn ra nước ngoài Muốntruy nã quốc tế thì cơ quan chức năng phải xác định được địa điểm đốitượng lẩn trốn

→ Vậy nên, nếu theo đúng Luật thì trách nhiệm hoàn trả 350kg

cà phê đã kí gửi thuộc về đại lí H-D tuy nhiên trên thực tế, việc này rất khó thực hiện

nếu như đại lí tuyên bố vỡ nợ, chủ nợ lẩn trốn Liệu rằng sự vắng mặt của bà D - đại diện cho đại lí có phải là dấu hiệu trốn tránh trách nhiệm Trong trường hợp Toà xác định được tính trung thực trong lời khai của phía nguyên đơn - bà L rằng 350kg

được kí gửi hoàn toàn không thuộc ý chí của bà thì bà khởi kiện buộc bà C trả số càphê trên là hợp lí Ngược lại, nếu lời khai của bị đơn - bà C và người có quyền lợi,

nghĩa vụ liên quan - anh N xác thực thì bà L phải khởi kiện chủ đại lí cà phê H - D theo thủ tục dân sự.

3 Nếu các đương sự không thoả thuận được cách giải quyết vụ việc như trên thì Toà án tuyên xử như thế nào là hợp lí?

Trang 10

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã thống nhất thoả thuận rằng mỗi bên sẽ chịu 1/2 trên tổng thiệt hại tương đương với 350kg

cà phê Cụ thể là bà C sẽ giao 175kg cà phê cho bà L

Câu hỏi được đặt ra là “Nếu trong trường hợp các đương sựkhông thoả thuận được như trên thì HĐXX sẽ xét xử như thế nào?”

Thứ nhất, việc xác minh tính xác thực của phiếu gửi cà phê

cùng với việc lấy thông tin từ phía người có quyền lợi, nghĩa vụ liênquan là đại diện đại lí H - D (bà D) có vai trò rất quan trọng Sự tồn tạicủa phiếu gửi này sẽ chứng minh cho sự trung thực trong lời khai củacác đương sự và đây cũng là mấu chốt của vấn đề Vậy nên nếu như Toà

sơ thẩm chưa thực hiện được việc này một cách triệt để thì Toà phúc

thẩm sẽ chấp nhận kháng cáo của bị đơn là bà C và xét xử lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Thứ hai, nếu bà L xuất trình được phiếu giữ cà phê hay có

chứng cứ liên quan từ phía đại lí H-D như lời khai của bị đơn là bà C vàngười có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh N thì việc Toà sơ thẩmbuộc bà C phải giao trả cho bà L 350 kg cà phê là không đúng HĐXXphúc thẩm sẽ chấp nhận kháng cáo của bà C đồng thời không chấp nhậnyêu cầu khởi kiện của bà L

Mở rộng: Tại phiên toà phúc thẩm, HĐXX nhận định: “Sau đó

tại nhà bà C anh N đã đưa phiếu gửi cà phê của đại lý thu mua cà phê nông sản H–D cho bà L và bà L cất giữ phiếu cho đến nay Hiện tại đại

lý thu mua cà phê nông sản H–D đã vỡ nợ.”.

→ Liệu rằng nhận định này khiến tụi mình suy nghĩ rằng Toà đã

xác minh được sự tồn tại của phiếu gửi cà phê và sự thiếu trung thực trong lời khai của bà L? Vì nhận định của Toà hoàn toàn giống với nội dung lời khai của phía

bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tuy nhiên đây chỉ là phỏng đoáncủa nhóm và Tòa phúc thẩm đã không đưa ra phán quyết cuối cùng vì các bên đã thỏathuận được với nhau nên

Ngày đăng: 23/04/2022, 07:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w