Kinhnghiệm của các nước trên thế giới cho thấy, để đạt được mục tiêu đó, hoạt độnggiám sát của cơ quan giám sát chứng khoán đối với các chủ thể tham gia thị trường là một yêu cầu rất qua
Trang 2ĐINH THU HƯƠNG
HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2017
⅛
Trang 3ĐINH THU HƯƠNG
HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60.34.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ HOÀNG NGA
HÀ NỘI - 2017
⅛
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung luận văn này là công trình nghiên cứuđộc lập của tôi, do tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lê HoàngNga Các số liệu, tư liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trungthực và xuất phát từ tình hình hoạt động thực tiễn tại Việt Nam Kết quả nghiên cứutrong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất cứ một công trìnhnghiên cứu tương tự nào khác
Tác giả luận văn
Đinh Thu Hương
Trang 5LỜI CÁM ƠN
Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến các Quý thầy cô Khoa Sau đại học Học viện Ngân hàng, đã tận tâm giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu chotôi trong suốt thời gian tôi học tập tại trường
-Đặc biệt, tôi xin chân thành cám ơn PGS TS Lê Hoàng Nga đã tận tình chỉbảo, hướng dẫn tôi nhiệt tình trong quá trình viết và hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã rất cố gắng và nỗ lực nhưng do khả năng của tác giả có hạn nênluận văn không tránh khỏi hạn chế, thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp ýkiến của các nhà khoa học và các độc giả để luận văn được hoàn thiện hơn nữa
Xin chân thành cám ơn!
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH VẼ vii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 6
1.1. Tổng quan về công ty chứng khoán 6
1.1.1 Khái niệm công ty chứng khoán 6
1.1.2 Chức năng và vai trò của công ty chứng khoán 7
1.1.3 Nguyên tắc hoạt động của công ty chứng khoán 8
1.1.4 Phân loại các công ty chứng khoán 10
1.1.5 Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán 11
1.2. Tổng quan về hoạt động giám sát các công ty chứng khoán 14
1.2.1 Khái niệm hoạt động giám sát các công ty chứng khoán 14
1.2.2 Sự cần thiết phải giám sát các công ty chứng khoán 15
1.2.3 Nguyên tắc và chỉ tiêu giám sát các công ty chứng khoán 16
1.2.4 Nội dung giám sát các công ty chứng khoán 24
1.2.5 Phương pháp giám sát các công ty chứng khoán 24
1.2.6 Điều kiện thực hiện hoạt động giám sát các công ty chứng khoán 26
1.3 Chỉ tiêu đánh giá hiệu lực của hệ thống giám sát các công ty chứng khoán 30
1.3.1 Xét theo nhóm tiêu chí đảm bảo tuân thủ và công bằng, minh bạch trên thị trường tài chính 30
1.3.2 Xét theo nhóm các tiêu chí đảm bảo an toàn tài chính 31
Trang 7CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CÁC CÔNG TY
CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM 33
2.1 Tổng quan về công ty chứng khoán tại Việt Nam 33
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển các công ty chứng khoán tại Việt Nam 33
2.1.2 Thực trạng hoạt động của các công ty chứng khoán tại Việt Nam 34
2.2 Thực trạng hoạt động giám sát các công ty chứng khoán tại Việt Nam 37 2.2.1 Cơ sở pháp lý cho hoạt động giám sát các công ty chứng khoán tại Việt Nam 37
2.2.2 Mô hình và chủ thể giám sát các công ty chứng khoán tại Việt Nam 39
2.2.3 Hoạt động giám sát các công ty chứng khoán tại Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) 40
2.2.4 Hoạt động giám sát các công ty chứng khoán tại Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia (UBGSTCQG) 61
2.2.5 Cơ chế phối hợp về hoạt động giám sát các công ty chứng khoán giữa UBCKNN và UBGSTCQG 78
2.3 Đánh giá hoạt động giám sát các công ty chứng khoán tại Việt Nam 79
2.3.1 Kết quả đạt được 79
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 82
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM 86
3.1. Định hướng phát triển các công ty chứng khoán tại Việt Nam 86
3.1.1 Định hướng phát triển các công ty chứng khoán tại Việt Nam 86
3.1.2 Quan điểm hoàn thiện hoạt động giám sát các công ty chứng khoán tại Việt Nam 87
3.2. Giải pháp hoàn thiện hoạt động giám sát các công ty chứng khoán tại Việt Nam 88
3.2.1 Hoàn thiện quy định pháp lý về giám sát các công ty chứng khoán tại Việt Nam 88
3.2.2 Hoàn thiện mô hình và chủ thể giám sát các công ty chứng khoán tại Việt Nam 90
Trang 8ATTC An toàn tài chính
"BCTC Báo cáo tài chính
BGTLATTC Báo cáo Tỷ lệ An toàn tài chính
.CTCK Công ty chứng khoán
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
"LNST Lợi nhuận sau thuế
""NDT Nhà đầu tư
^NHTM Ngân hàng thương mại
.SGDCK Sở giao dịch chứng khoán
.TCTD Tổ chức tín dụng
.TLATTC Tỷ lệ An toàn tài chính
.TPHCM Thành phố Ho Chi Minh
.TTCK Thị trường chứng khoán
.TTGDCK Trung tâm giao dịch chứng khoán
UBCK Ủy ban chứng khoán
-UBCKNN Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
UBGSTCQG Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia
VCSH Vốn chủ sở hữu
VDL Vốn điều lệ
3.2.4 Nâng cao năng lực cán bộ giám sát các công ty chứng khoán 94
3.2.5 Tăng cường cơ chế phối hợp giữa UBCKNN và UBGSTCQG trong hoạt động giám sát các công ty chứng khoán 96
3.3. Khuyến nghị 96
3.3.1 Khuyến nghị đối với Quốc hội 96
3.3.2 Khuyến nghị đối với Chính phủ 98
KẾT LUẬN 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100 PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tình hình tài chính của các CTCK tại Việt Nam 35
Bảng 2.2: Thống kê số lượng CTCK theo tỷ lệ an toàn tài chính 72
Bảng 2.3: Cơ cấu tài sản của hệ thống các CTCK 74
Bảng 2.4: Đánh giá chất lượng tài sản theo UBGTCQG tại ngày31/12/2016 75
Bảng 2.5: Tóm tắt kết quả kinh doanh của hệ thống các CTCK 76
Bảng 2.6: Chỉ tiêu khả năng thanh khoản của hệ thống các CTCK 77
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Số lượng công ty chứng khoán tại Việt Nam từ năm 2000 đến nay 33
Biểu đồ 2.2: So sánh tỷ trọng CTCK theo vốn điều lệ 72
Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ vốn khả dụng toàn hệ thống từ tháng 12/2011đến nay 73
Biểu đồ 2.4: Tỷ lệ Nợ/Vốn chủ sở hữu của hệ thống các CTCK 73
Biểu đồ 2.5: Cơ cấu doanh thu của hệ thống các CTCK 77
DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 1.1: Chức năng của UBCK hoặc các cơ quan giám sát tài chính 14
Hình 2.1: Cấu trúc mô hình giám sát các CTCK tại Việt Nam 40
Hình 2.2: Cơ cấu tổ chức Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia 70
Hình 3.1: Cấu trúc tổ chức mô hình giám sát tài chính hợp nhất tại Việt Nam 91
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thị trường chứng khoán (TTCK) có vai trò quan trọng đối với sự phát triểncủa thị trường tài chính nói riêng và nền kinh tế nói chung Tuy nhiên vai trò đó chỉ
có thể được thực hiện khi các chủ thể tham gia thị trường hoạt động một cách hợppháp, minh bạch, từ đó tăng tính hiệu quả và giảm rủi ro của thị trường Kinhnghiệm của các nước trên thế giới cho thấy, để đạt được mục tiêu đó, hoạt độnggiám sát của cơ quan giám sát chứng khoán đối với các chủ thể tham gia thị trường
là một yêu cầu rất quan trọng
Sau 20 năm xây dựng và phát triển từ năm 1996 đến nay, TTCK Việt Nam
đã có nhiều đóng góp, đạt được nhiều thành tựu và kết quả tích cực đáng kể Trongbối cảnh hội nhập quốc tế và quy mô của thị trường chứng khoán ngày càng giatăng, sự tham gia của các trung gian tài chính trong và ngoài nước ngày càng pháttriển, đặc biệt là các công ty chứng khoán (CTCK) Hoạt động giám sát CTCK đượcthiết lập từ khi có TTCK và CTCK, ngày càng được hoàn thiện về cơ chế, chínhsách, phương pháp Tuy nhiên, hoạt động này chưa thực đáp ứng nhu cầu quản lýCTCK khi mà các hoạt động đa năng của CTCK ngày càng phát triển, nhà đầu tưnước ngoài ngày càng nhiều, Điều này đã dẫn đến nhiều bất cập như sự tuân thủcủa các CTCK khi tham gia trên thị trường chưa tốt, rủi ro toàn diện trong hoạtđộng đa năng của các CTCK tăng cao, khả năng chống đỡ với khủng hoảng kém
Với những bất cập kể trên, việc phân tích, đánh giá hoạt động giám sát cáccác CTCK tại Việt Nam nhằm tìm ra những hạn chế và đề xuất giải pháp hoàn thiệnhoạt động giám sát các CTCK trên TTCK Việt Nam thực sự là nhu cầu cấp thiết về
cả mặt lý luận lẫn thực tiễn Xuất phát từ nhận thức đó, học viên đã lựa chọn đề tài
ii Hoan thiện hoạt động giám sát các công ty chứng khoán tại Việt Nam’” để
nghiên cứu
Trang 122 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Mặc dù việc nghiên cứu về giám sát các định chế tài chính không còn mới ởViệt Nam cũng như trên thế giới, tuy nhiên, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vềhoạt động giám sát các ngân hàng thương mại Bên cạnh đó, đối với lĩnh vực chứngkhoán, chủ yếu là một số nghiên cứu tiếp cận hoạt động giám sát CTCK ở khía cạnhgiao dịch chứng khoán trên TTCK Việt Nam
- Trong luận văn thạc sĩ với đề tài: “Giải pháp hoàn thiện hoạt động thanhtra, giám sát đối với giao dịch chứng khoán trên TTCK Việt Nam” (2002), tác giả
Vũ Thị Chân Phương đã nghiên cứu hoạt động thanh tra, giám sát giao dịch chứngkhoán Đề tài “Giám sát giao dịch chứng khoán trên thị trường chứng khoán ViệtNam” (2010) - Luận án Tiến sĩ của tác giả Lê Trung Thành đã nghiên cứu sâu vềcác vấn đề lý thuyết và thực trạng của hoạt động giám sát giao dịch chứng khoántrên TTCK Việt Nam Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu của hai tác giả trên khác vớiđối tượng nghiên cứu của luận văn này và đều là một trong 2 nội dung chính củagiám sát TTCK Việt Nam
- Luận án Tiến sĩ “Hoàn thiện phân tích tình hình tài chính của các CTCKtại Việt Nam” (2013) của tác giả Nguyễn Thị Cẩm Thúy đã nêu lên thực trạng vàđưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện phân tích tình hình tài chính các CTCK tạiViệt Nam
- Luận văn Thạc sĩ “Giải pháp hoàn thiện và phát triển các công ty chứngkhoán tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” (2011) của tác giả Nguyễn Việt Hưnglại tiếp cận CTCK ở khía cạnh phát triển hoạt động Luận văn đánh giá thực trạngphát triển hoạt động và các nguyên nhân làm hạn chế sự phát triển hoạt động củacác CTCK ở Việt Nam, những nguyên nhân này cũng là cơ sở tham khảo để hoànthiện hoạt động giám sát của luận văn
UBCKNN cũng có khá nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp ủy ban về lĩnhvực giám sát chứng khoán Việt Nam như:
Trang 13- “Hoàn thiện hệ thống giám sát giao dịch cho TTCK Việt Nam giai đoạn
2016 - 2020” (2016) của Thạc sĩ Nguyễn Thanh Tùng, Vụ Giám sát
- “Một số giải pháp thúc đẩy thanh tra - điều tra xuyên biên giới củaUBCKNN” (2015) của Thạc sĩ Lê Cồng Điền, Thanh tra UBCKNN
- “Công tác giám sát giao dịch trên thị trường chứng khoán phái sinh - Một số
đề xuất cho Việt Nam” (2015) của Thạc sĩ Nguyễn Công Minh, Vụ Giám sát thị trường
- “Quản trị rủi ro thanh khoản đối với thị trường chứng khoán Việt Nam”(2015) của Thạc sĩ Hoàng Phú Cường, Vụ quản trị Kinh doanh chứng khoán
- “Hoàn thiện phương pháp phân tích giao dịch chứng khoán trong công tácgiám sát giao dịch thao túng và nội gián” (2014) của Tiến sĩ Nguyễn Thế Thọ, VụGiám sát
- “Hoàn thiện giải pháp giám sát giao dịch chứng khoán trên TTCK ViệtNam giai đoạn 2010 - 2020” (2010), Chủ nhiệm đề tài: Dương Thị Phượng
Như vậy có thể nói hoạt động giám sát các CTCK tại Việt Nam là một trong
số ít những khoảng trống trong nghiên cứu lý luận và thực tiễn về giám sát TTCK ởViệt Nam Đáng chú ý, ít có công trình nghiên cứu một cách tổng thể về giám sátcác CTCK tại Việt Nam, nhất là các CTCK trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.Luận văn này phần nào giải quyết vấn đề trên
3 Mục đích nghiên cứu
Luận văn hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về giám sát hoạt độngcủa các CTCK, như: tổng quan về CTCK và hoạt động giám sát các CTCK; các chỉtiêu đánh giá hiệu lực hoạt động của hệ thống giám sát các CTCK
Trên cơ sở đó, luận văn phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động giám sát cácCTCK trên TTCK tại Việt Nam Cụ thể, luận văn phân tích tổng quan về các CTCKtại Việt Nam; làm rõ, đánh giá thực trạng hoạt động giám sát các CTCK tại ViệtNam qua 2 thực thể giám sát chủ yếu là Ủy ban Chứng khoán Nhà nước(UBCKNN) và Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia (UBGSTCQG); đánh giá kếtquả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của hoạt động giám sát này
Trang 14Từ đó, đề xuất các giải pháp đối với các cơ quan giám sát, các CTCK và cáckhuyến nghị đối với Quốc hội, Chính phủ nhằm hoàn thiện hoạt động giám sát cácCTCK tại Việt Nam phù hợp với định hướng phát triển các CTCK tại Việt Nam vàquan điểm hoàn thiện hoạt động giám sát các CTCK tại Việt Nam.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: hoạt động giám sát các CTCK trên TTCK
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: giám sát tính lành mạnh tài chính và sự tuân thủ các quyđịnh pháp luật của CTCK trong quá trình hoạt động Luận văn không đề cập đếngiám sát các giao dịch của các CTCK trên thị trường thứ cấp Luận văn không đisâu vào nghiệp vụ chuyên môn giám sát, mà chỉ đi sâu vào cách thức giám sát
+ Về thời gian: tập trung vào giai đoạn 2012-2016
+ Về không gian: góc độ nghiên cứu là hoạt động giám sát của UBCKNN và
UBGSTCQG đối với các CTCK
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau:
- Phương pháp mô tả và khái quát: nhằm đưa ra cái nhìn tổng quan về tìnhhình hoạt động của các CTCK và thực trạng giám sát các CTCK tại Việt Nam
- Phương pháp thu thập thông tin: qua các báo cáo tài chính của các CTCK,qua trang chủ của UBCKNN, SGDCK HN và TP.HCM; tham khảo các báo cáogiám sát của UBGSTCQG
- Phương pháp thống kê, tổng hợp: nhằm thống kê, tổng hợp số liệu và tìnhhình thực trạng
- Phương pháp so sánh: Để làm rõ thực trạng hoạt động giám sát các CTCKtại Việt Nam, tác giả tiến hành so sánh với hoạt động thanh tra các CTCK tại ViệtNam, qua đó thêm cơ sở nhằm đưa ra giải pháp thực dụng nhằm hoàn thiện hoạtđộng giám sát các CTCK tại Việt Nam
Trang 15- Phương pháp phân tích: Đi sâu chỉ rõ thực trạng, những kết quả đạt được,chỉ rõ hạn chế và nguyên nhân của hoạt động giám sát các CTCK, từ đó đưa ranhững giải pháp phù hợp.
6 Đóng góp của luận văn
Ve mặt lý luận, luận văn hệ thống hóa các lý thuyết về CTCK, giám sát
CTCK, nguyên tắc giám sát, phương pháp giám sát và các chỉ tiêu giám sát CTCK
về mặt nghiên cứu thực tiễn, luận văn phân tích thực trạng tình hình giámsát các CTCK tại Việt Nam, chỉ ra những mặt đạt được và những vấn đề còn tồn tại
về tính ứng dụng vào thực tiễn, luận văn đã đưa ra các giải pháp phù hợpvới đặc điểm và định hướng phát triển hệ thống các CTCK tại Việt Nam nhằm hoànthiện hoạt động giám sát các CTCK
7 Ket cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, hình vẽ, phụ lục và danhmục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động giám sát các công ty chứng khoán.
Chương 2: Thực trạng hoạt động giám sát các công ty chứng khoán tại Việt Nam Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động giám sát các công ty chứng
khoán tại Việt Nam
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT
CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1 Tổng quan về công ty chứng khoán
1.1.1. Khái niệm công ty chứng khoán
Khái niệm Công ty chứng khoán có thể tiếp cận theo nhiều cách khác nhau
Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian thực hiện cácnghiệp vụ trên thị trường chứng khoán [10]
Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian chuyên kinh doanhchứng khoán, là đơn vị có tư cách pháp nhân, có vốn riêng và hạch toán độc lập [9]
Công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trung gian ở thị trường chứngkhoán, thực hiện trung gian tài chính thông qua các hoạt động chủ yếu như mua bánchứng khoán, môi giới chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng, phát hành
và bảo lãnh chứng khoán, tư vấn đầu tư và quản lý quỹ đầu tư Công ty chứngkhoán có thể tham gia quá trình trao đổi cổ phiếu trong thị trường với vai trò trung
gian [Wikipedia].
Công ty chứng khoán là công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phầnđược Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) cấp giấy phép thành lập và hoạtđộng để thực hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ kinh doanh sau đây: môi giớichứng khoán; tự doanh chứng khoán; bảo lãnh phát hành chứng khoán; và tư vấnđầu tư chứng khoán Ngoài ra, công ty chứng khoán được nhận ủy thác quản lý tàikhoản giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân, cung cấp dịch vụ tư vấn tài
chính và các dịch vụ tài chính khác theo quy định của Bộ Tài chính [Văn bản số
27/VBHN-VPQH hợp nhất Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11 và Luật Chứng khoán số 62/2010/QH12].
Các khái niệm trên đều nêu bật được vị trí, chức năng và hoạt động chính của
công ty chứng khoán Tóm lại, công ty chứng khoán là một định chế tài chính
trung gian trên thị trường chứng khoán, có thể thực hiện một, một số hoặc toàn
bộ các nghiệp vụ chính là: môi giới, tự doanh, tư vấn, bảo lãnh phát hành chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư và tư vấn đầu tư chứng khoán Để thực hiện được mỗi
Trang 17nghiệp vụ trên, các công ty chứng khoán phải đảm bảo mức vốn nhất định và phảiđược cấp phép của các cơ quan có thẩm quyền Tại Việt Nam, công ty chứng khoánkhông thực hiện nghiệp vụ quản lý quỹ đầu tư.
1.1.2. Chức năng và vai trò của công ty chứng khoán
1.1.2.1 Chức năng của công ty chứng khoán
CTCK là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nóichung và của TTCK nói riêng Nhờ các CTCK mà chứng khoán được lưu thông từnhà phát hành tới người đầu tư và có tính thanh khoản, qua đó huy động nguồn vốn
từ nơi nhàn rỗi để phân bổ vào những nơi sử dụng có hiệu quả Chức năng cơ bảncủa công ty chứng khoán là:
- Tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt giữa người có tiền nhàn rỗi đếnngười sử dụng vốn (thông qua cơ chế phát hành và bảo lãnh phát hành)
- Cung cấp cơ chế giá cả cho giao dịch (thông qua hệ thống khớp giá hoặckhớp lệnh)
- Tạo ra tính thanh khoản cho chứng khoán (khả năng chuyển đổi từ chứngkhoán ra tiền mặt, và ngược lại từ tiền mặt ra chứng khoán một cách dễ dàng)
- Góp phần điều tiết và bình ổn thị trường (thông qua hoạt động tự doanhhoặc vai trò nhà tạo lập thị trường)
1.1.2.2 Vai trò của công ty chứng khoán
Với những chức năng cơ bản trên, CTCK có vai trò quan trọng đối với nhữngchủ thể khác nhau trên TTCK
- Đối với các tổ chức phát hành: Mục tiêu khi tham gia vào TTCK của các
tổ chức phát hành là huy động vốn thông qua việc phát hành các chứng khoán Quahoạt động đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành, các CTCK có vai trò tạo ra cơ chếhuy động vốn phục vụ các nhà phát hành, đồng thời thực hiện vai trò trung giangiữa nhà đầu tư và nhà phát hành
- Đối với các nhà đầu tư: Qua các hoạt động môi giới, tư vấn đầu tư, quản lý
danh mục đầu tư, CTCK có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch, do đónâng cao hiệu quả các khoản đầu tư Sự biến động thường xuyên của giá cả chứngkhoán cũng như mức độ rủi ro cao sẽ làm cho các nhà đầu tư tốn kém chi phí, công
Trang 18sức và thời gian tìm hiểu thông tin trước khi quyết định đầu tư Nhưng qua cácCTCK, với trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp sẽ giúp các nhà đầu tưthực hiện các khoản đầu tư một cách hiệu quả.
- Đối với thị trường chứng khoán: Thứ nhất, CTCK góp phần tạo lập giá cả
và điều tiết thị trường Giá cả chứng khoán là do thị trường quyết định Tuy nhiên,
để đưa ra mức giá cuối cùng, người mua và người bán phải thông qua các CTCK.Trên thị trường sơ cấp, các CTCK cùng với các nhà phát hành đưa ra mức giá đầutiên thông qua hoạt động đấu giá Các CTCK còn thể hiện vai trò lớn hơn khi thamgia điều tiết thị trường khi dành một tỷ lệ nhất định các giao dịch để thực hiện vai
trò bình ổn thị trường Thứ hai, CTCK góp phần làm tăng tính thanh khoản của các
tài sản tài chính TTCK có vai trò là môi trường làm tăng tính thanh khoản của các
tài sản tài chính Nhưng các CTCK mới là người thực hiện tốt vai trò đó vì CTCKtạo ra cơ chế giao dịch trên thị trường Cụ thể, CTCK thực hiện bảo lãnh phát hành,
tư vấn phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp và thực hiện các giao dịch muabán chứng khoán trên thị trường thứ cấp Như vậy, các CTCK giúp người đầu tưchuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại
- Đối với hệ thống ngân hàng: Khi CTCK xuất hiện cùng với TTCK với tư
cách là tổ chức trung gian tài chính đã góp phần làm cho kênh huy động vốn trung
và dài hạn trở nên thông suốt hơn, dễ dàng hơn, san sẻ bớt gánh nặng cho hệ thốngngân hàng thương mại
- Đối với các cơ quan quản lý thị trường: CTCK có vai trò cung cấp thông
tin về TTCK cho các cơ quan quản lý thị trường Một trong những yêu cầu củaTTCK là các thông tin cần phải được công khai hoá dưới sự giám sát của các cơquan quản lý thị trường Việc cung cấp thông tin vừa là quy định của hệ thốngluật pháp, vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của các CTCK Các thông tin CTCK cóthể cung cấp bao gồm thông tin về các giao dịch mua, bán trên thị trường; thông tin
về các cổ phiếu, trái phiếu và tổ chức phát hành; thông tin về các nhà đầu tư
1.1.3. Nguyên tắc hoạt động của công ty chứng khoán
CTCK hoạt động theo 2 nhóm nguyên tắc cơ bản đó là nhóm nguyên tắcmang tính đạo đức và nhóm nguyên tắc mang tính tài chính
Trang 19Nhóm nguyên tắc đạo đức:
- CTCK phải đảm bảo giao dịch trung thực và công bằng vì lợi ích củakhách hàng
- Kinh doanh có kỹ năng, tận tuỵ, có tinh thần trách nhiệm
- Ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh của công ty
- Có nghĩa vụ bảo mật cho khách hàng, không được tiết lộ các thông tin vềtài khoản khách hàng khi chưa được khách hàng đồng ý bằng văn bản trừ khi cóyêu cầu của các cơ quan quản lý nhà nước
- CTCK khi thực hiện nghiệp vụ tư vấn phải cung cấp thông tin đầy đủ chokhách hàng và giải thích rõ ràng về các rủi ro mà khách hàng có thể phải gánh chịu,đồng thời họ không được khẳng định về lợi nhuận các khoản đầu tư mà họ tư vấn
- CTCK không được phép nhận bất cứ khoản thù lao nào ngoài các khoảnthù lao thông thường cho dịch vụ tư vấn của mình
- Ở nhiều nước, các CTCK phải đóng tiền vào quỹ bảo vệ nhà đầu tư chứngkhoán để bảo vệ lợi ích khách hàng trong trường CTCK mất khả năng thanh toán
- Nghiêm cấm thực hiện các giao dịch nội gián, các CTCK không được phép
sử dụng các thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán cho chính mình, gây thiệt hạiđến lợi ích của khách hàng
- Các CTCK không được tiến hành các hoạt động có thể khiến khách hàng
và công chúng hiểu lầm về giá cả, giá trị và bản chất của chứng khoán hoặc các hoạtđộng khác gây thiệt hại cho khách hàng
Nhóm nguyên tắc tài chính:
- Đảm bảo các yêu cầu về vốn, cơ cấu vốn và nguyên tắc hạch toán, báo cáotheo quy định của UBCKNN Đảm bảo nguồn tài chính trong cam kết kinh doanhchứng khoán với khách hàng
- CTCK không được dùng tiền của khách hàng làm nguồn tài chính để kinhdoanh, ngoại trừ trường hợp số tiền đó dùng phục vụ cho giao dịch của khách hàng
- CTCK phải tách bạch tiền và chứng khoán của khách hàng với tài sản củamình Công ty chứng khoán không được dùng chứng khoán của khách hàng làmvật thế chấp để vay vốn trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản
Trang 201.1.4. Phân loại các công ty chứng khoán
1.1.4.1 Phân loại theo tính chất sở hữu
Theo tính chất sở hữu, hiện nay có ba loại hình tổ chức CTCK cơ bản: công
ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần
a) Công ty hợp danh
CTCK hợp danh là loại hình kinh doanh từ hai chủ sở hữu trở lên, trong đóphải có ít nhất 02 thành viên hợp danh ngoài ra còn có thành viên góp vốn Do đó,CTCK sẽ có được bộ máy tổ chức gọn nhẹ, mức độ phân quyền có tính ổn định, độtin cậy cao nhưng sẽ bị hạn chế về khả năng huy động vốn Loại hình công ty hợpdanh thường phù hợp với loại hình kinh doanh tư vấn đầu tư vì hoạt động này đòihỏi nhân viên hành nghề phải có trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp cao
b) Công ty trách nhiệm hữu hạn
Công ty trách nhiệm hữu hạn là một doanh nghiệp trong đó có thể là trách nhiệmhữu hạn một thành viên hoặc từ hai thành viên trở lên cùng tham gia góp vốn, thành viên
có thể là cá nhân hoặc tổ chức Hình thức này có ưu điểm hơn hình thức hợp danh ở chỗ:(1) Các thành viên chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ của công
ty trên cơ sở số vốn góp; (2) huy động vốn đơn giản và linh hoạt hơn: và (3) đội ngũquản lý năng động hơn, không bị bó hẹp trong một số đối tác như công ty hợp danh Loạihình công ty này được thành lập phổ biến hơn loại hình công ty hợp danh
c) Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiềuphần bằng nhau gọi là cổ phần Người sở hữu cổ phần gọi là cổ đông của công ty.Giấy chứng nhận cổ phần (cổ phiếu) thể hiện quyền lợi của chủ sở hữu đối với cáctài sản của công ty Cổ đông có thể là cá nhân hoặc tổ chức, tối thiểu là ba người vàkhông hạn chế tối đa Đây là loại hình doanh nghiệp có ưu điểm nổi trội hơn hẳn haihình thái doanh nghiệp trên nhưng tính ổn định về mặt tổ chức công ty không caobằng công ty trách nhiệm hữu hạn
1.1.4.2 Phân loại theo mô hình tổ chức kinh doanh
Vì CTCK là một loại hình định chế tài chính đặc biệt nên vấn đề xác định môhình tổ chức kinh doanh của nó có nhiều điểm khác nhau ở các nước Tuy nhiên, ta
Trang 21có thể khái quát lên hai mô hình cơ bản hiện nay là mô hình CTCK đa năng (hayngân hàng đa năng) và mô hình công ty chuyên doanh chứng khoán.
a) Công ty chứng khoán đa năng (ngân hàng đa năng)
Mô hình đa năng gồm: đa năng một phần và đa năng toàn phần
- CTCK đa năng một phần (Ngân hàng đa năng một phần): Trong mô hìnhnày, một ngân hàng muốn tham gia hoạt động kinh doanh chứng khoán phải thôngqua công ty con là pháp nhân riêng biệt
- CTCK đa năng toàn phần (Ngân hàng đa năng toàn phần): Trong mô hìnhnày, các ngân hàng thương mại được phép kinh doanh tổng hợp, tức là ngân hàng
có thể tham gia tất cả các hoạt động kinh doanh tiền tệ, chứng khoán, bảo hiểm màkhông cần thông qua những pháp nhân riêng biệt
Mô hình đa năng có ưu điểm là sự kết hợp đa năng rất cao, do đó mà giảmbớt rủi ro trong hoạt động kinh doanh chung, có khả năng chịu đựng các biến độngcủa TTCK Tuy nhiên, nếu như thị trường có biến động mạnh thì hoạt động kinhdoanh sẽ bị ảnh hưởng nếu không tách bạch rõ ràng các nghiệp vụ kinh doanh Môhình này thường được áp dụng tại các nước Châu Âu, tại Anh và Úc
b) Công ty chuyên doanh chứng khoán
Với mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do công ty độc lập,chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận, các ngân hàng không đượctham gia kinh doanh chứng khoán Mô hình này có ưu điểm là hạn chế được rủi rocho hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho TTCK phát triển Tuy nhiên, khả năngsan bằng rủi ro trong kinh doanh bị hạn chế Trong thời gian gần đây, các nước ápdụng mô hình này có xu hướng giảm dần sự hạn chế đối với ngân hàng thương mạitrong nghiệp vụ chứng khoán (có hướng chuyển sang ngân hàng đa năng một phần)
1.1.5. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán
Với việc kinh doanh một loại hàng hóa đặc biệt như chứng khoán, CTCKcàng có nguy cơ gặp nhiều loại rủi ro Có 6 loại rủi ro cơ bản mà CTCK có thể đốimặt như: rủi ro hoạt động, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh toán, rủi ro thanh khoản, rủi
ro thị trường và rủi ro tuân thủ
Trang 221.1.5.1 Rủi ro hoạt động
Rủi ro hoạt động là rủi ro xảy ra do lỗi kỹ thuật, lỗi hệ thống và quy trìnhnghiệp vụ, lỗi do con người trong quá trình tác nghiệp Rủi ro hoạt động bao gồm:
- Rủi ro liên quan đến quy trình nghiệp vụ là rủi ro do các quy trình nghiệp
vụ chưa phù hợp với các quy định nội bộ, chưa phù hợp với cấu hoạt động của công
ty gây ra sự không chính xác trong việc thiết lập hệ thống quản lý rủi ro
- Rủi ro liên quan đến đạo đức nghề nghiệp là rủi ro do các hành vi lợi dụng
sơ hở của hệ thống quản lý rủi ro để trục lợi của nhân viên hoặc nhà quản lý củacông ty
- Rủi ro liên quan đến công nghệ và an minh mạng là rủi ro xuất phát từnguyên nhân do hệ thống công nghệ thông tin không tương thích hoặc xảy ra lỗi kỹthuật gây nên việc gián đoạn hoặc không thực hiện được giao dịch, hoặc thông tincủa công ty và khách hàng bị đánh cắp dẫn tới những tổn thất
Mặc dù giao dịch ký quỹ là một công cụ tốt để cạnh tranh và hỗ trợ cho cuộcchạy đua giành thị phần nhưng cần quản trị rủi ro này tốt để đảm bảo tránh đượckhoản lỗ lớn
1.1.5.3 Rủi ro thanh toán
Rủi ro thanh toán là rủi ro khi đối tác không thể thanh toán đúng hạn hoặckhông thể chuyển giao tài sản đúng hạn như cam kết Rủi ro thanh toán phát sinhkhi đối tác không muốn hoặc không có khả năng thực hiện các cam kết trong hợpđộng, dẫn đến những tổn thất tài chính nhất định Rủi ro thanh toán có thể phát sinh
Trang 23từ các giao dịch trong và ngoài bảng cân đối, hoặc khi thực hiện các công cụ tàichính như chứng khoán phái sinh, hoặc khi đối tác không thể thanh toán đúng hạncác khoản góp vốn mua cổ phần, hoặc chuyển giao chứng khoán không đúng hạntheo cam kết Rủi ro thanh toán thường không xuất hiện một cách riêng lẻ, mà cóthể xuất hiện kèm theo cả rủi ro thị trường và các rủi ro khác có liên quan.
1.1.5.4 Rủi ro thanh khoản
Rủi ro thanh khoản là rủi ro khi công ty hoặc khách hàng ủy thác không thểbán, không thể chuyển đổi các tài sản trong danh mục thành tiền mặt với giá trị hợp
lý do thiếu hụt thanh khoản trên thị trường hoặc công ty chứng khoán gặp khó khănkhi thực hiện các nghĩa vụ nợ do không đủ khả năng tài chính
1.1.5.5 Rủi ro thị trường
Rủi ro thị trường là rủi ro do biến động giá trị thị trường của các tài sản vàcông cụ tài chính Rủi ro thị trường phát sinh do những thay đổi giá của các tài sản,công cụ tài chính trên thị trường theo chiều hướng bất lợi dưới tác động từ cácnguyên nhân khách quan của thị trường như biến động trên thị trường quốc tế, biếnđộng chỉ số thị trường, thay đổi trong chính sách vĩ mô, biến động lãi suất, lãi suấttrái phiếu, tỷ giá.; hoặc phát sinh từ những hoạt động trên thị trường, ví dụ việc kếtquả kinh doanh, tài chính của một tổ chức phát hành có thể làm giảm giá cổ phiếu của
tổ chức phát hành đó; hay giao dịch bán ra một khối lượng lớn chứng khoán của một
cổ đông trong điều kiện thị trường mất thanh khoản cục bộ cũng có thể làm sụt giảmgiá của loại chứng khoán đó Rủi ro thị trường có thể được phân chia thành:
- Rủi ro lãi suất: là rủi ro mà giá trị hợp lý hoặc các luồng tiền trong tương laicủa một công cụ tài chính biến động bất lợi theo những thay đổi của lãi suất thị trường
- Rủi ro tỷ giá hối đoái: là rủi ro mà giá trị hợp lý hoặc các luồng tiền trongtương lai của một công cụ tài chính sẽ biến động do thay đổi tỷ giá hối đoái
- Rủi ro về giá chứng khoán: là rủi ro mà giá trị thị trường của chứng khoángiảm do việc thay đổi giá trị của các chứng khoán riêng lẻ Rủi ro này phát sinh từtính không chắc chắn về những biến động của giá trị thị trường tương lai của cácchứng khoán
Trang 241.1.5.6 Rủi ro tuân thủ
Rủi ro này tính đến khía cạnh pháp lý và những văn bản pháp luật được banhành trên TTCK Các CTCK cần tuân thủ nghiêm ngặt để tránh đổ vỡ hệ thống.Hành vi một số CTCK bất chấp quy định chưa cho phép mà vẫn cho ra đời nhữngsản phẩm dịch vụ như cho vay giao dịch ký quỹ trước đây đã gây ra tổn thất nặng nề
là bài học lớn cần ghi nhớ Mặt khác, với sự phát triển của thị trường, nếu hàng langpháp lý để điều tiết được ban hành quá chậm cũng gây ra tổn thất đáng tiếc
1.2 Tổng quan về hoạt động giám sát các công ty chứng khoán
1.2.1 Khái niệm hoạt động giám sát các công ty chứng khoán
Hoạt động giám sát các CTCK là một nội dung của giám sát TTCK Giám sátTTCK là việc tiến hành theo dõi, kiểm tra các hoạt động của các chủ thể tham giathị trường và các hoạt động diễn ra trên thị trường nhằm phát hiện và xử lý kịp thờicác vi phạm, đồng thời khuyến khích các hành vi tốt đảm bảo giữ vững mục tiêuhoạt động của thị trường [10] Giám sát TTCK là một trong hai chức năng củaUBCK hoặc các cơ quan giám sát tài chính có chức năng tương đương ở các TTCKtrên thế giới, bên cạnh chức năng quản lý thị trường
Hình 1.1: Chức năng của UBCK hoặc các cơ quan giám sát tài chính
(Nguồn: UBCKNN)
Giám sát TTCK bao gồm hai nội dung sau:
Một là, giám sát giao dịch trên thị trường chứng khoán Đây là nội dung
chính của giám sát TTCK, vì thực chất, TTCK là nơi tập hợp các giao dịch muabán, chuyển nhượng chứng khoán
Hai là, giám sát các chủ thể hoạt động trên TTCK nhằm đảm bảo sự tuân thủ
luật pháp của những chủ thể này về chứng khoán và TTCK, không bao gồm sự
Trang 25tham gia của các chủ thể này trong giao dịch chứng khoán trên thị trường chứngkhoán Các nội dung giám sát đối với hoạt động của các chủ thể này có thể kể đếnnhư giám sát hoạt động phát hành ra công chúng của các công ty đại chúng, giámsát hoạt động của CTCK, công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư.
Như vậy, giám sát các CTCK thuộc nội dung thứ hai của giám sát TTCK
Trên cơ sở khái niệm chung về giám sát TTCK, khái niệm giám sát cácCTCK có thể được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau Theo nghĩa rộng, hoạt độnggiám sát các CTCK được hiểu là các hoạt động đảm bảo cho sự lành mạnh của hệthống các CTCK, bao gồm: xây dựng các quy định pháp lý, cấp phép, giám sát từ
xa, thanh tra tại chỗ, cưỡng chế thực thi các biện pháp khắc phục Theo nghĩa hẹp,hoạt động giám sát các CTCK có thể chỉ được hiểu là các hoạt động giám sát từ xa
Tóm lại, giám sát các CTCK là việc tiến hành theo dõi, kiểm tra các hoạt
động của CTCK nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm, đảm bảo CTCK hoạt động đúng vai trò và chức năng của mình.
1.2.2 Sự cần thiết phải giám sát các công ty chứng khoán
TTCK là một loại thị trường đặc biệt, một sản phẩm cao cấp của nền kinh tếthị trường Tính phức tạp của TTCK được thể hiện ở cấu trúc và các hoạt động giaodịch trên thị trường Vì vậy, TTCK đòi hỏi một trình độ tổ chức cao, có sự quản lý
và giám sát chặt chẽ trên cơ sở một hệ thống pháp lý hoàn chỉnh và đồng bộ CTCK
là một chủ thể quan trọng trên thị trường chứng khoán, thực hiện các nghiệp vụ chủyếu của TTCK
Sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan quản lý và các chủ thể khác đối vớiCTCK là rất cần thiết, lý do là:
Thứ nhất, CTCK là một trung gian tài chính trên TTCK, nơi diễn ra các hoạt
động phát hành, giao dịch mua bán một loại hàng hóa đặc biệt, đó là các loại chứngkhoán CTCK thực hiện các nghiệp vụ môi giới, tư vấn đầu tư chứng khoán, bảolãnh phát hành chứng khoán và lưu ký chứng khoán; góp phần hỗ trợ cho hoạt độngcủa TTCK Khi tiến hành giao dịch mua chứng khoán, nhà đầu tư đã giao phó tiềncủa mình cho nhà phát hành, nhà tư vấn và môi giới Nhưng không phải giao dịch
Trang 26nào của nhà đầu tư cũng thuận lợi và sinh lời, một phần vì thông tin bất cân xứng,
độ chính xác của những thông tin do người phát hành, người môi giới cung cấp chonhà đầu tư không đảm bảo, dễ dẫn đến các hành vi thao túng, gian lận trên thịtrường Do vậy, cần thiết có sự quản lý, giám sát của Nhà nước nhằm đảm bảo tínhhiệu quả, công bằng và minh bạch trong giao dịch chứng khoán, đảm bảo quyền vàlợi ích hợp pháp của nhà đầu tư
Thứ hai, bản thân các CTCK tiềm ẩn nhiều rủi ro trong hoạt động kinh doanh
dẫn tới việc có thể mất khả năng, hay phá sản Với tư cách vừa là nhà kinh doanhchứng khoán, vừa là nhà phát hành chứng khoán, trường hợp CTCK phá sản sẽ gâytổn hại đến lợi ích của các nhà đầu tư, cổ đông và các bên liên quan Đặc biệt, nếuCTCK đó niêm yết trên TTCK sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của thịtrường Do đó, đòi hỏi cần phải có cơ quan quản lý, giám sát CTCK nhằm đảm bảo
sự phát triển ổn định và bền vững của TTCK
Thứ ba, mối quan hệ giữa các tổ chức tài chính ngày càng phức tạp khi thị
trường tài chính ngày càng phát triển Cùng với đó là các sản phẩm tài chính ngàycàng đa dạng, liên kết với nhiều lĩnh vực khác nhau Nếu các chủ thể tham gia thịtrường không theo kịp tốc độ phát triển sản phẩm mới; không tìm hiểu, biết rõ cácsản phẩm thì dễ bị nhiều tổn thất lớn Vì vậy, quản lý và giám sát hoạt động của cácCTCK nhằm hạn chế hành vi gian lận, trục lợi nhằm đảm bảo lành mạnh cho hệthống tài chính Ngoài ra, việc quản lý, giám sát hiệu quả cũng hạn chế, phòng tránhnhững đổ vỡ hệ thống xuất phát từ các CTCK
1.2.3. Nguyên tắc và chỉ tiêu giám sát các công ty chứng khoán
1.2.3.1 Nguyên tắc giám sát các công ty chứng khoán
Các mục tiêu và nguyên tắc giám sát chứng khoán đã được Tổ chức Quốc tếcác UBCK (International Organization of Securities Commissions - IOSCO) banhành vào năm 1998 và được sửa đổi bổ sung mới nhất vào năm 2010 (bao gồm 38nguyên tắc) IOSCO chỉ rõ giám sát các trung gian tài chính trên TTCK bao gồmquy định về các điều kiện tham gia thị trường, các yêu cầu về an toàn vốn, thanh trathường xuyên, đảm bảo việc tuân thủ luật pháp và giải quyết vấn đề phá sản Theo
Trang 27đó, các nguyên tắc về điều kiện thành lập, quản lý an toàn tài chính, các chỉ tiêucảnh báo của các trung gian chứng khoán được quy định từ nguyên tắc số 29-30-31-
32 trong phần Các nguyên tắc quản lý giám sát đối với các định chế trung gian
(IOSCO, 2010) Cụ thể:
a) Nguyên tắc số 29: Cơ quan quản lý cần quy định các điều kiện gia nhập
tiêu chuẩn tối thiểu đối với các trung gian thị trường.
Theo nguyên tắc này, nên thiết lập các tiêu chuẩn tối thiểu để được cấp phép
và các tiêu chuẩn này cần được áp dụng cho tất cả các trung gian thị trường Điềunày cũng làm giảm rủi ro cho các nhà đầu tư do công ty thiếu vốn hay vì chạy theomục tiêu lợi nhuận mà bỏ qua các điều kiện về quản trị rủi ro và cơ sở vật chất Nênxác định rõ các dịch vụ hoặc các hoạt động được cấp phép IOSCO cũng đề xuấtquyền hạn của cơ quan quản lý đối với việc cấp phép:
- Trong quá trình xem xét hồ sơ, cơ quan quản lý được phép tiếp cận đầy đủcác thông tin của công ty nộp hồ sơ và của tất cả các đối tượng có thể kiểm soát hayảnh hưởng tài chính tới công ty đó;
- Có quyền không chấp thuận hồ sơ cấp phép;
- Có quyền thu hồi giấy phép hoặc chấm dứt hoạt động hay đưa ra các biệnpháp trừng phạt đối với công ty được cấp phép;
- Các thay đổi liên quan đến việc kiểm soát hay những thay đổi về tài chính phảiđược thông báo cho cơ quan quản lý để xem xét sự phù hợp với các điều kiện theo quyđịnh và cơ quan quản lý có quyền thu hồi giấy phép hoặc những biện pháp cần thiếttrong trường hợp công ty được cấp phép không đáp ứng các điều kiện cần thiết
Một số nội dung cần được xem xét tại thời điểm cấp phép:
- Cơ quan quản lý phải xác định công ty nộp hồ sơ phải có đủ kiến thức,nguồn lực, kỹ năng và đạo đức (xét từ các hành vi trong quá khứ) phù hợp;
- Cần phải có yêu cầu về vốn tối thiểu đối với công ty chứng khoán như mộtđiều kiện tham gia thị trường
- Để đảm bảo việc tổ chức được cấp phép tuân thủ các điều kiện cần có, yêucầu có báo cáo định kỳ đối với những thông tin tương ứng, thông báo về những thayđổi về tình hình tài chính, quản trị có thể ảnh hưởng tới điều kiện cấp phép
Trang 28- Bên cạnh đó, để bảo vệ nhà đầu tư, cơ quan quản lý cần đảm bảo côngchúng có thể truy cập thông tin liên quan đến tổ chức được cấp phép, loại giấy phép,lĩnh vực hoạt động được cấp phép, thông tin về Ban lãnh đạo cũng như người đạidiện theo pháp luật của tổ chức trung gian tài chính.
b) Nguyên tắc số 30: Phải có quy định về vốn ban đầu và vốn trong quá
trình hoạt động kinh doanh, cũng như các quy định an toàn tài chính khác phản ánh đúng các rủi ro mà các tổ chức trung gian tài chính có thể gặp phải.
Một số nội dung chính của nguyên tắc:
- Yêu cầu về vốn ban đầu như một điều kiện cấp phép là cần thiết Yêu cầu
về vốn ban đầu thể hiện số vốn khả dụng tối thiểu, được tính toán trên cơ sở khốilượng và loại hình kinh doanh dự kiến thực hiện;
- Yêu cầu về vốn khả dụng trong quá trình hoạt động kinh doanh được tínhtrên cơ sở khối lượng và loại hình hoạt động kinh doanh trên thực tế của tổ chứctrung gian tài chính Tổ chức trung gian tài chính phải luôn đảm bảo về vốn tối thiểutrong quá trình hoạt động kinh doanh và phải báo cáo định kỳ với UBCK, bên cạnh
đó phải có thông báo cảnh báo sớm khi có nguy cơ không đáp ứng yêu cầu về vốn;
- Các tiêu chuẩn về an toàn tài chính, hay về vốn khả dụng, phải đảm bảorằng tổ chức trung gian tài chính chấp nhận được các mất mát trong trường hợp thịtrường có những biến động lớn nhất, và đảm bảo công ty có khả năng thực hiện việcgiải thể trong một thời gian ngắn, không gây ra tổn thất đối với khách hàng củamình và của công ty khác, cũng như không gây ra xáo trộn trên thị trường tài chính;
- Tổ chức trung gian tài chính phải thực hiện kiểm toán độc lập và chịu sựthanh tra định kỳ hay bất thường bởi UBCK hoặc cơ quan quản lý để đánh giá việctuân thủ các điều kiện cấp phép;
- UBCK có quyền đưa ra các hạn chế trong hoạt động kinh doanh hoặc tăngcường giám sát, yêu cầu báo cáo đối với tổ chức trung gian tài chính, khi tổ chứcnày có sự mất mát về vốn hoặc không đáp ứng quy định về vốn tối thiểu;
- Các rủi ro lớn xuất phát từ hoạt động kinh doanh của đơn vị khác trongcùng tập đoàn với tổ chức trung gian tài chính cũng cần được xem xét, ngoài ra cần
Trang 29có thông tin từ hoạt động của các công ty con không có giấy phép, cũng như là cáchoạt động ngoại bảng.
c) Nguyên tắc số 31: Cần yêu cầu các tổ chức trung gian tài chính phải thực
hiện việc tuân thủ các tiêu chuẩn về kiểm soát nội bộ, thực hiện nghiệp vụ nhằm bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư và tài sản của họ, đảm bảo quản trị rủi ro hợp lý và ban lãnh đạo của tổ chức trung gian tài chính phải chịu trách nhiệm chính đối với các vấn đề này.
Một số nội dung chính:
- Cơ quan quản lý cần yêu cầu tổ chức trung gian tài chính có các quy trình đảmbảo việc tuân thủ các quy định, thực hiện kiểm soát nội bộ, quản lý rủi ro Cơ quan quảnlý
không thể thực hiện giám sát hàng ngày tình hình thực hiện các quy trình này, do đótrách
nhiệm chính đối với việc thực thi quy định này áp dụng đối với ban lãnh đạo CTCK
Các quy định này cần thực hiện như sau:
- Ban lãnh đạo phải hiểu rõ bản chất của hoạt động kinh doanh của chínhcông ty mình, từ đó có các chính sách, quy trình kiểm soát nội bộ và quản lý rủi rophù hợp trên cơ sở giám sát hàng ngày, và ban kiểm soát phải được tiếp cận cácthông tin kịp thời và sẵn sàng cho truy cập Việc xem xét và đánh giá các quy trìnhnày phải được thực hiện định kỳ, và tốt hơn hết là do một bên thứ ba thực hiện, ví
dụ như SGDCK có thể hỗ trợ trong việc kiểm toán lại các quy trình này;
- Phải đảm bảo nguyên tắc bảo vệ khách hàng, theo đó phải có quy trình giảiquyết các khiếu nại của khách hàng, cũng như tuân thủ các nguyên tắc: (i) đảm bảođối xử công bằng và đúng mực; (ii) đảm bảo tính chuyên nghiệp và quan tâm tốinhất tới khách hàng; (iii) thực hiện các nghiệp vụ thị trường tốt nhất; không đượcđưa quyền lợi của mình lên trên quyền lợi của khách hàng, và đối xử tương đươngvới các khách hàng khác nhau trong những trường hợp như nhau; (iv) phải tuân thủtất cả các quy định, tiêu chuẩn của luật pháp áp dụng cho công ty
Trong giao dịch với khách hàng phải đảm bảo:
+ Có hợp đồng bằng văn bản ký kết với khách hàng, trong đó nêu rõ các điềukiện chung và điều kiện cụ thể đối với từng loại giao dịch khách hàng thực hiện
Trang 30+ CTCK phải tìm hiểu các thông tin về hoàn cảnh, mục đích đầu tư củakhách hàng trước khi thực hiện cung cấp dịch vụ để khi thực hiện việc tư vấn chokhách hàng thì việc tư vấn phải dựa trên sự hiểu biết về hoàn cảnh, nhu cầu và mụcđích đầu tư của khách hàng;
+ Phải cung cấp kịp thời và đầy đủ thông tin cho khách hàng trước khi kháchhàng đưa ra quyết định đầu tư Cơ quan quản lý có thể đưa ra biểu mẫu cung cấpthông tin, đề phòng những trường hợp sản phẩm đầu tư có những rủi ro mà nhà đầu
tư nhỏ lẻ có thể không nhận ra ngay; công ty chứng khoán phải cung cấp kịp thời vàtrong những khoảng thời gian nhất định tình hình tài khoản của khách hàng, cáckhoản giao dịch và phí liên quan;
+ Trong trường hợp CTCK nắm giữ tài sản của khách hàng, hoặc thực hiệnlưu ký chúng, thì phải thực hiện việc tách rời và xác định chủ sở hữu của chúng mộtcách rõ ràng, nhằm bảo vệ tài sản của khách hàng
- Về kiểm soát nội bộ: (i) tuân thủ tất cả các quy định của pháp luật cũng nhưquy định nội bộ, quy trình của công ty, và có một đơn vị giám sát hoạt động tuânthủ này độc lập khỏi các đơn vị nghiệp vụ, báo cáo trực tiếp với ban lãnh đạo côngty; (ii) đảm bảo các chính sách, quy trình quản lý được thực hiện hàng ngày có hiệuquả, bao gồm việc trao đổi thông tin thông suốt giữa công ty với khách hàng, thốngnhất quy trình thực hiện giao dịch với khách hàng, bảo vệ tài sản của công ty cũngnhư của khách hàng khỏi việc tiếp cận hay sử dụng không có thẩm quyền, duy trìchế độ kế toán, lưu trữ sổ sách và tính xác thực của thông tin, tuân thủ tất cả các quyđịnh của pháp luật, phân quyền và trách nhiệm rành mạch trong công ty, đảm bảochế độ kiểm tra chéo và tránh việc lạm dụng ảnh hưởng tới công ty và khách hàng;Ngoài ra phải tránh tuyệt đối xung đột giữa khách hàng và công ty
d) Nguyên tắc số 32: Cần có quy trình giải quyết việc thất bại của một trung gian
tài chính nhằm giảm thiểu tổn thất cho người đầu tư và hạn chế rủi ro hệ thống.
Sự thất bại của một tổ chức tài chính trung gian có thể có tác động tiêu cựcđối với khách hàng và các đối tác, bên cạnh đó còn có thể gây hậu quả hệ thống Cơquan quản lý phải có một kế hoạch rõ ràng và linh hoạt để đối phó với các tình
Trang 31huống thất bại của định chế tài chính trung gian.
Một số nội dung chủ yếu:
- Cơ quan quản lý cần phải có một kế hoạch rõ ràng để đối phó với các tìnhhuống của sự thất bại của tổ chức tài chính trung gian Các trường hợp thất bại tàichính là không thể đoán trước nên kế hoạch này cần phải linh hoạt
- Cố gắng giảm thiểu thiệt hại cho nhà đầu tư và các hoạt động của hệ thốngtài chính Cần đảm bảo rằng tài sản được quản lý đúng cách và việc cung cấp thôngtin cho thị trường là cần thiết Cơ quan quản lý nên xác định người liên lạc nhấtđịnh tạicơ quan chức năng trong nước và nước ngoài có liên quan khác
- Cơ quan quản lý cần phải có một cơ chế, hệ thống giám sát tại chỗ để xácđịnh nguy cơ tác động hệ thống của sự thất bại của một trung gian tài chính trongmột khoảng thời gian rất ngắn
1.2.3.2 Chỉ tiêu giám sát các công ty chứng khoán
Chỉ tiêu giám sát là hệ thống các quy định nhằm lượng hóa các dấu hiệu, qua
đó, có thể nhận biết sự bất thường trong hoạt động kinh doanh của các CTCK Cácchỉ tiêu này dựa trên cơ sở dữ liệu trong quá khứ, thể hiện khuynh hướng, diễn biếnchung của thị trường trong một thời kỳ và phản ánh những mức chuẩn mà trong đóhoạt động kinh doanh của CTCK có biểu hiện biến động
Để tăng cường việc giám sát trên cơ sở rủi ro, UBCK thường hướng dẫn cácCTCK đánh giá, xếp loại theo chuẩn quốc tế CAMEL Theo đó, bộ chỉ tiêu xếphạng theo CAMEL bao gồm 29 chỉ tiêu thành phần và chấm điểm từ 0-100 Mức độquan trọng của mỗi chỉ tiêu là khác nhau thể hiện thông qua trọng số của chỉ tiêu đó.Các chỉ tiêu C, A, E, L thuộc nhóm chỉ tiêu tài chính (trọng số 80%) và yếu tố quảntrị M là yếu tố phi tài chính (trọng số 20%) UBCKNN sẽ đánh giá, xếp loại CTCKthành 5 nhóm A,B,C,D,E
Bộ chỉ tiêu này được kỳ vọng là sẽ giúp UBCKNN xếp hạng các công tychứng khoán nhằm phân loại, giúp cho hoạt động giám sát đi vào trọng tâm đối vớitừng đối tượng, đồng thời giúp cho nhà đầu tư nhận biết CTCK mình mở tài khoảnđứng ở đâu trong bảng xếp hạng hơn 100 CTCK Nhà đầu tư sẽ có một cái nhìn
Trang 32toàn diện và tổng thể về sức khỏe của CTCK, chứ không chỉ qua các chỉ tiêu tàichính đơn thuần.
Những chỉ tiêu trên đây là cốt lõi và tùy thuộc vào đặc điểm, mức độ pháttriển của từng thị trường tài chính mà cơ quan giám sát của các quốc gia khác nhau
có những chỉ tiêu khác nhau để giám sát các công ty chứng khoán Trên thế giớihiện có nhiều mô hình được sử dụng trong công tác giám sát các CTCK, tuy nhiênCAMEL là mô hình được nhiều cơ quan giám sát các nước áp dụng
C-Capital Adequacy (Mức độ an toàn vốn): Mức độ an toàn vốn thể hiện số
vốn tự có để hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của CTCK CTCK càng chấp nhậnnhiều rủi ro thì càng đòi hỏi phải có nhiều vốn tự có để hỗ trợ hoạt động của CTCK
và bù đắp tổn thất tiềm năng liên quan đến mức độ rủi ro cao hơn Chỉ tiêu cốt lõiđánh giá an toàn vốn của CTCK là tỷ lệ an toàn tài chính
Tỷ lệ an toàn tài chính được tính theo tỷ lệ phần trăm của Vốn khả dụng/tổng giá trị rủi ro của CTCK Bằng tỷ lệ này, người ta có thể xác định được khảnăng của CTCK thanh toán các khoản nợ có thời hạn và đối mặt với các loại rủi rokhác như rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành Chính vì lý do trên, các nhà quản lý ngànhCTCK các nước luôn xác định rõ và giám sát các CTCK phải duy trì một tỷ lệ antoàn tài chính tối thiểu Ở Việt Nam, theo Thông tư số 226/2010/TT-BTC ngày31/12/2010 tỉ lệ này được quy định là 180%
A-Asset Quality (Chất lượng tài sản): Đây thường có thể là một nhóm chỉ
tiêu, cho biết độ tin cậy của giá trị tài sản của công ty chứng khoán đã công bố theobáo cáo tài chính so với kết quả dự kiến thu được nếu tiến hành thanh lý tài sản
Chất lượng tài sản là nguyên nhân cơ bản dẫn đến các vụ đổ vỡ của CTCK.Thông thường điều này xuất phát từ việc quản lý không đầy đủ trong chính sách đầu
tư, cho vay từ trước đến nay Nếu thị trường biết rằng chất lượng tài sản kém thì sẽtạo áp lực lên trạng thái nguồn vốn ngắn hạn của CTCK, và điều này có thể dẫn đếnkhủng hoảng thanh khoản
Các chỉ tiêu thường được sử dụng là: Tỷ lệ giá trị tổng tài sản sau khi điềuchỉnh rủi ro/ Tổng tài sản; Tỷ lệ các khoản phải thu/Tổng tài sản; Tỷ lệ các khoản
Trang 33dự phòng/ Tổng các khoản đầu tư và phải thu.
M-Management (Quản lý): Nhiều nhà phân tích chuyên nghiệp coi quản lý
là yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống phân tích CAMEL, bởi vì quản lý đóng vaitrò quyết định đến thành công trong hoạt động của CTCK
Các chỉ tiêu về quản lý thường bao gồm: Chỉ tiêu đánh giá năng lực lãnh đạocủa các quản lý cấp cao (Số năm làm quản lý, lãnh đạo, số năm kinh nghiệm tronglĩnh vực tài chính, chứng khoán); Chỉ tiêu về tính ổn định của các vị trí lãnh đạo chủchốt (Tổng số thay đổi nhân sự vị trí chủ chốt/ Tổng số vị trí chủ chốt); Chỉ tiêuđánh giá sự đầy đủ của các quy trình nghiệp vụ theo quy định của pháp luật; Chỉtiêu đánh giá năng lực của bộ phận kiểm soát nội bộ
E- Earnings (Lợi nhuận): Lợi nhuận là chỉ số quan trọng nhất để đánh giá
công tác quản lý và các hoạt động chiến lược của nhà quản lý thành công hay thất bại.Lợi nhuận sẽ dẫn đến hình thành thêm vốn, đây là điều hết sức cần thiết để thu hútthêm vốn và sự hỗ trợ phát triển trong tương lai từ phía các nhà đầu tư Lợi nhuận còncần thiết để bù đắp các khoản cho vay bị tổn thất và trích dự phòng đầy đủ
Các chỉ tiêu thường được sử dụng: Lợi nhuận sau thuế/Tổng doanh thu;Lợi nhuận sau thuế/ Vốn chủ sở hữu bình quân (ROE); Lợi nhuận sau thuế/Tổngtài sản (ROA)
L- Liquidity (Thanh khoản): Chỉ tiêu này đánh giá khả năng đáp ứng nhu
cầu tiền mặt ngắn hạn và bù đắp rủi ro có thể xảy ra của công ty chứng khoán Thịtrường chứng khoán là thị trường có tính thanh khoản cao, vì vậy, CTCK cần đảmbảo khả năng thanh khoản để đáp ứng tất cả các biến động hàng ngày về nhu cầuthanh toán giao dịch, vay margin một cách kịp thời và có trật tự
Các chỉ tiêu sau thường được sử dụng để đánh giá mức độ thanh khoảncủa CTCK: Chỉ tiêu khả năng thanh toán hiện hành (Tỷ lệ tài sản ngắn hạn/ Nợngắn hạn); Chỉ tiêu khả năng thanh toán tức thời (Tỷ lệ tiền và tương đương tiền/
Nợ ngắn hạn)
Mỗi cấu phần trong mô hình CAMEL sử dụng một hệ thống tính điểm từ 1tới 5, gồm: Mức 1: mức đánh giá cao nhất với kết quả thanh tra - rất tốt; Mức 2:
Trang 34mức đánh giá - hài lòng với một vài sai phạm không đáng kể; Mức 3: Đánh giá dướimức hài lòng và kết quả thanh tra đưa ra một vài lo ngại; Mức 4: Ket quả thanh trađưa ra những lo ngại nghiêm trọng mà cơ quan thanh tra sẽ theo dõi đặc biệt; Mức5: Công ty có những vấn đề rất nghiêm trọng và cần có sự khắc phục tức thời Tất
cả những điểm của những cấu phần trên sẽ được nhân với trọng số và cộng lại đểđưa ra mức điểm tổng hợp
1.2.4. Nội dung giám sát các công ty chứng khoán
1.2.4.1 Giám sát tuân thủ
Giám sát tuân thủ là việc thực hiện giám sát đối với các CTCK theo quy địnhcủa pháp luật nhằm đảm bảo hoạt động của các tổ chức này được thực hiện đúngcác quy định của pháp luật về chứng khoán và TTCK
Các cơ quan quản lý thực hiện giám sát tuân thủ trên cơ sở báo cáo của cácCTCK; phản ánh của các tổ chức, cá nhân hoạt động trên TTCK và các nguồn tintrên phương tiện thông tin đại chúng, cũng như qua các hoạt động phối hợp nghiệp
vụ giữa các cơ quan quản lý và các cơ quan khác liên quan Trên cơ sở giám sáttuân thủ hàng năm, cơ quan quản lý thực hiện kiểm tra định kỳ các CTCK và tổchức kiểm tra đột xuất khi cần thiết
Giám sát tuân thủ bao gồm 2 nội dung chính: giám sát hoạt động ban hànhvăn bản, phổ biến, tuyên truyền và giám sát hoạt động nghiệp vụ
1.2.5. Phương pháp giám sát các công ty chứng khoán
Việc tổ chức công tác giám sát các CTCK ở mỗi nước tùy thuộc vào sự hoạtđộng và sự ổn định của hệ thống tài chính, song mục tiêu thì không khác nhau, tức
là đều duy trì sự ổn định của hệ thống và bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư Mô hình
tổ chức của cơ quan giám sát có tính độc lập cao Có 2 phương pháp giám sát các
Trang 35CTCK, bao gồm: giám sát từ xa và kiểm tra tại chỗ.
1.2.5.1 Giám sát từ xa
Giám sát từ xa là việc cơ quan quản lý theo dõi thường xuyên tình trạng củatừng CTCK, cũng như tình trạng của cả hệ thống CTCK, thông qua các báo cáođịnh kỳ do CTCK gửi cho cơ quan giám sát theo quy định về thông tin báo cáo vàqua thông tin từ nhiều nguồn khác Trên cơ sở các dữ liệu có được, cơ quan giámsát tiến hành phân tích, so sánh tình hình hoạt động của CTCK theo nhóm tươngđương, xem xét xu hướng của các CTCK qua các năm, nhận biết xu hướng và sựkhác nhau về tỷ lệ trung bình của các nhóm tương đương và theo các chuẩn tắc dopháp luật quy định Đồng thời, đưa ra sự nhận biết sớm về các loại rủi ro và nhữngvấn đề tài chính khác của CTCK Từ đó cung cấp sớm phương hướng và đưa rabiện pháp sửa sai ngay trước khi các vấn đề trở nên trầm trọng
Một phần quan trọng trong giám sát từ xa là đánh giá tính lành mạnh tàichính của các CTCK dựa trên nhận định là tất cả các công ty chứng khoán đều cóthể có khả năng gặp khó khăn về tài chính Điều này đạt được bằng cách:
- Sử dụng các chỉ số rủi ro hệ thống (bao gồm cả phân tích xu hướng và so
sánh ngang bằng) để xác định các công ty lệch khỏi xu hướng hoặc mặt bằng chungcủa toàn ngành
- Thực hiện các phép thử về sức chịu đựng và độ nhạy cảm (stress test) để
xác định các công ty dễ bị tổn thương về tài chính một cách kịp thời Tăng cườnggiám sát hoạt động của các công ty này và yêu cầu thực hiện các biện pháp nhằmkhắc phục những yếu điểm và phát triển
Yêu cầu đặt ra khi thực hiện phương thức giám sát từ xa là phải giám sátthường xuyên diễn biến hoạt động của từng CTCKvà toàn hệ thống; Phải giám sátdiễn biến về mức độ và tỷ lệ tăng trưởng, phát hiện những vấn đề bất hợp lý, những
vi phạm tiêu chí an toàn trong hoạt động của CTCK; Số liệu phải được cập nhật liêntục theo từng chỉ tiêu; Kỹ năng đánh giá, phân tích, dự báo của cán bộ giám sát tốt
1.2.5.2 Kiểm tra tại chỗ
Kiểm tra tại chỗ là việc một đoàn kiểm tra tiến hành kiểm tra trực tiếp tại trụ
Trang 36sở hoạt động của các CTCK trên cơ sở xem xét các chứng cứ, tài liệu về nội dungcần
kiểm tra, do CTCK ghi chép và từ các nguồn thông tin khác nhằm xác định tínhtrung
thực của vấn đề, từ đó đề ra các biện pháp chấn chỉnh phù hợp Dựa trên nhữngthông
tin cung cấp từ bộ phận giám sát từ xa, lên kế hoạch kiểm tra định kỳ hoặc độtxuất
đối với các CTCK để tiến hành kiểm tra những vấn đề còn nghi vấn
Kiểm tra tại chỗ giúp cơ quan quản lý hiểu cặn kẽ hơn hoạt động kinh doanh,quản lý rủi ro, kiểm soát nội bộ và đánh giá được mức độ tuân thủ pháp luật và cácquy định có liên quan của một công ty
Ngoài ra, cơ quan quản lý, giám sát cũng có thể thực hiện các cuộc kiểm trakhông chính thức với mục đích chính là thu thập thông tin một cách chính xác vàsâu hơn Việc này được tiến hành bằng cách kiểm tra viên có thể đóng vai trò làkhách hàng hoặc đối tác của CTCK Các thông tin thu được có thể cho phép đánhgiá tốt hơn về mức độ tuân thủ cũng như những rủi ro của các CTCK
1.2.6. Điều kiện thực hiện hoạt động giám sát các công ty chứng khoán
1.2.6.1 Cơ sở pháp lý giám sát các công ty chứng khoán
Cơ sở pháp lý hoàn thiện luôn là điều kiện tiền đề và là công cụ để hoạt độnggiám sát đạt kết quả tốt Ở các TTCK phát triển, lịch sử phát triển hàng trăm năm đãgiúp các thị trường này hoàn thiện về mọi mặt, nhất là hệ thống pháp lý Ở các thịtrường mới nổi như Việt Nam, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn bảnquy phạm pháp luật, tạo ra khuôn khổ pháp lý cho TTCK nói chung và CTCK nóiriêng luôn được đặt ra cấp bách và song hành với sự phát triển của thị trường
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật bao gồm:
- Các văn bản luật như: hiến pháp, luật, và nghị quyết.
- Các văn bản dưới luật như: pháp lệnh, nghị quyết; lệnh, quyết định; nghị
định; quyết định; nghị quyết, thông tư
Một hệ thống pháp lý hoàn thiện sẽ là cơ sở để xác định các hành vi vi phạm,các nguyên tắc ứng xử giữa các chủ thể giám sát, giữa chủ thể giám sát với đốitượng giám sát, trên cơ sở đó, xử lý và cưỡng chế thực thi Bên cạnh đó, khi hệthống pháp lý hoàn thiện hơn, bản thân các đối tượng giám sát sẽ phải có ý thức
Trang 37tuân thủ pháp luật tốt hơn hoặc hạn chế cơ hội “lách luật” về mặt hành vi, tất yếuđối tượng giám sát sẽ vi phạm pháp luật khi họ thấy có cơ hội kiếm lời mà khả năng
bị phát hiện là thấp Ngược lại, nếu khả năng vi phạm bị phát hiện là cao thì hoạtđộng giám sát sẽ đạt được mục tiêu đặt ra
Cơ sở pháp lý tạo khuôn khổ cho giám sát CTCK không chỉ giới hạn trongLuật Chứng khoán mà còn được quy định tại nhiều đạo luật chuyên ngành khác
1.2.6.2 Mô hình và chủ thể giám sát các công ty chứng khoán
a) Mô hình giám sát các công ty chứng khoán
Các nước trên thế giới có những lựa chọn mô hình giám sát khác nhau Việclựa chọn mô hình giám sát nào còn tùy thuộc vào bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội,đặc biệt là cấu trúc và trình độ phát triển của hệ thống tài chính của mỗi quốc gia.Tuy nhiên với mô hình nào, các cơ quan giám sát chứng khoán cũng đều hướng tớimục tiêu chung là an toàn và ổn định tài chính, công khai minh bạch và bảo vệ nhàđầu tư trên TTCK Việc xây dựng được mô hình giám sát phù hợp sẽ giúp việc giámsát có hiệu quả tốt nhất
Hiện nay trên thế giới tồn tại bốn mô hình giám sát đó là: mô hình giám sáttheo thể chế, mô hình giám sát theo chức năng, mô hình giám sát lưỡng đỉnh và môhình giám sát hợp nhất để giám sát thị trường tài chính nói chung và thị trườngchứng khoán nói riêng (trong đó có các công ty chứng khoán)
Mô hình giám sát theo thể chế: Mô hình giám sát theo thể chế dựa trên cách
tiếp cận truyền thống, theo đó tình trạng pháp lý của tổ chức tài chính sẽ quyết định
cơ quan quản lý nào có nhiệm vụ giám sát hoạt động của nó Một khi được đăng ký,
tổ chức đã trở thành chủ thể cho một cơ quan giám sát nhất định, ngay cả khi nó mởrộng hoạt động ra ngoài giới hạn được xác định ban đầu Một công ty kinh doanhdịch vụ chứng khoán sẽ được đăng ký trở thành công ty chứng khoán và chịu sựgiám sát của cơ quan giám sát chứng khoán, ngay cả khi nó mở rộng hoạt động sangcác lĩnh vực khác
Mô hình giám sát theo chức năng: Mô hình giám sát theo chức năng là mô
hình trong đó việc xác định chủ thể giám sát phụ thuộc vào hoạt động kinh doanh
Trang 38của tổ chức tài chính mà không quan tâm tới hình thức pháp lý của tổ chức tài chính
đó Như vậy, nếu một tổ chức tài chính cung cấp dịch vụ trên nhiều lĩnh vực thì nó
sẽ chịu sự giám sát từ nhiều cơ quan khác nhau
Mô hình giám sát lưỡng đỉnh: Mô hình giám sát lưỡng đỉnh dựa trên nguyên
tắc giám sát theo mục tiêu, dẫn đến sự phân chia chức năng giám sát đối với hai cơquan: một cơ quan giám sát cẩn trọng với chức năng giám sát an toàn (prudent) vàmột cơ quan tập trung vào giám sát hoạt động kinh doanh (conduct-of-business)nhằm bảo vệ lợi ích cho khách hàng
Mô hình giám sát hợp nhất: Khác với ba mô hình giám sát tài chính trên, mô
hình giám sát hợp nhất chỉ bao gồm một cơ quan giám sát duy nhất chịu tráchnhiệm giám sát toàn bộ các trung gian và thị trường thuộc lĩnh vực ngân hàng,chứng khoán, bảo hiểm
b) Chủ thể giám sát các công ty chứng khoán
Chủ thể giám sát các CTCK là tổ chức thực hiện chức năng giám sát, gồmnhiều bộ phận, có chức năng giám sát việc thành lập và hoạt động của các đối tượnggiám sát trên TTCK, từ đó, có những biện pháp xử lý hoặc kiến nghị các cơ quanchức năng xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật Tùy vào mô hình giám sátcủa từng nước, chủ thể giám sát có thể có những đặc thù riêng nhưng tại hầu hết cácTTCK phát triển, chủ thể giám sát là UBCK hoặc các cơ quan giám sát tài chính cóchức năng tương đương
Chủ thể giám sát cùng với các quy định của pháp luật, quy chế của các tổchức tự quản tham gia giám sát, các chỉ tiêu giám sát và các công cụ hỗ trợ tạothành hệ thống giám sát Để nghiên cứu giám sát các CTCK trên TTCK, cần tìmhiểu mô hình của hệ thống giám sát
1.2.6.3 Thông tin giám sát các công ty chứng khoán
a) Hệ thống chỉ tiêu giám sát và phần mềm giám sát
Hệ thống chỉ tiêu giám sát là công cụ hỗ trợ cho việc giám sát các CTCK.Hoạt động giám sát sẽ càng hiệu quả và phát triển khi có một hệ thống chỉ tiêu giámsát hoàn thiện và được ứng dụng tốt Hệ thống chỉ tiêu là các quy định nhằm định
Trang 39lượng được các dấu hiệu, qua đó có thể nhận biết được những dấu hiệu bất ổn đốivới các CTCK.
Để việc giám sát có hiệu quả cao cũng cần có một phần mềm giám sát hiệnđại, trong đó các chỉ tiêu giám sát đã được cài đặt sẵn và tự động đưa ra các cảnhbáo khi các chỉ tiêu phản ánh dưới mức quy định
b) Hệ thống quản lý thông tin của các CTCK
Hệ thống quản lý thông tin của các CTCK đảm bảo chất lượng và hiệu quả sẽ
là một yếu tố tác động tích cực đến chất lượng hoạt động giám sát của cơ quan giámsát Thông tin do các CTCK cung cấp đòi hỏi phải đầy đủ, kịp thời và chính xác vìđây là cơ sở để cơ quan giám sát có những đánh giá ban đầu đúng đắn Sự che dấuthông tin, làm sai lệch nguồn thông tin sẽ dẫn đến các nguy cơ về mất an toàn vàthiếu lành mạnh trong hoạt động của các CTCK, có thể dẫn đến đổ vỡ gây ra nhữngảnh hưởng xấu đến niềm tin của nhà đầu tư đối với hệ thống các CTCK nói riêng vàhoạt động của TTCK nói chung
1.2.6.4 Trình độ của cán bộ giám sát
Cơ quan giám sát là bộ máy thực hiện chức năng giám sát, trong đó cốt lõicủa bộ máy là con người Trong điều kiện TTCK phát triển, hệ thống pháp lý kháđồng bộ, mô hình giám sát được xác lập và hoàn thiện, sự phát triển và hiệu quảgiám sát TTCK phụ thuộc vào năng lực của cơ quan giám sát trong đó chủ yếu làtrình độ của cán bộ giám sát Trình độ của cán bộ giám sát được thể hiện không chỉ
là trình độ của từng cán bộ riêng lẻ, mà đó là trình độ chung của toàn bộ đội ngũ cán
bộ giám sát trong hoạt động giám sát của cơ quan giám sát đối với các CTCK, đồngthời là sự phối hợp, đào tạo và hỗ trợ lẫn nhau giữa các cán bộ giám sát
1.2.6.5 Cơ chế tài chính cho hoạt động giám sát công ty chứng khoán
Với mục tiêu về hiệu quả giám sát và yêu cầu về năng lực của chủ thể giámsát, kinh phí để đáp ứng những mục tiêu và yêu cầu trên cũng đòi hỏi phải tươngứng Nếu không có nguồn kinh phí đủ lớn thì tất cả các yếu tố trên không thể thựchiện được, tức là sẽ không có nguồn nhân lực tốt, không có hệ thống hỗ trợ và công
cụ để giám sát
Trang 40Kinh phí cho giám sát là bài toán về vấn đề chi phí - lợi ích Neu chỉ xem xét
số tiền thu được từ xử phạt vi phạm thì lợi ích của giám sát công ty chứng khoánkhông đáng kể Tuy nhiên, nếu nhìn xa hơn, lợi ích của giám sát là rất lớn, đứng cảtrên giác độ lợi ích của cơ quan quản lý và lợi ích của mọi đối tượng tham gia thịtrường, đó là một TTCK công bằng, công khai, hiệu quả, bảo vệ lợi ích nhà đầu tư
1.2.6.6 Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan tổ chức có liên quan trong hoạt động giám sát các công ty chứng khoán
Điều kiện cuối cùng nhưng rất quan trọng, đó là cơ chế phối hợp giữa các cơquan tổ chức liên quan Mặc dù các CTCK chịu sự giám sát của cơ quan giám sátchứng khoán, tuy nhiên đối với các tập đoàn tài chính bao gồm cả công ty chứngkhoán, NHTM và công ty bảo hiểm do đó thực chất còn chịu giám sát từ Ngân hàngTrung ương và Cơ quan giám sát bảo hiểm Như vậy việc đưa ra cơ chế phối hợpgiữa các cơ quan tổ chức có liên quan trong hoạt động giám sát các CTCK sẽ giúpcho cơ quan giám sát trực tiếp tận dụng được các nguồn thông tin đa chiều cho hoạtđộng giám sát
1.3 Chỉ tiêu đánh giá hiệu lực của hệ thống giám sát các công ty chứng khoán
1.3.1 Xét theo nhóm tiêu chí đảm bảo tuân thủ và công bằng, minh bạch
trên thị trường tài chính
1.3.1.1 Tiêu chí về khả năng phát hiện và xử lý vi phạm của chủ thể giám sát
Hiệu lực của hệ thống giám sát các CTCK trước hết cần được nhận diện từ góc
độ khả năng của các chủ thể giám sát trong phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm vàlạm dụng thị trường Cụ thể, hệ thống giám sát các CTCK cần phát hiện được cáchành vi vi phạm và lạm dụng thị trường mặc dù số lượng vi phạm được phát hiện và
xử lý còn hạn chế; đồng thời cần đảm bảo việc xử phạt đúng người, đúng tội, đúngquy định và thẩm quyền nhưng chưa thực sự triệt để
1.3.1.2 Tiêu chí về khả năng của chủ thể giám sát trong ngăn ngừa và phòng tránh các hành vi vi phạm và lạm dụng thị trường
Hiệu lực hệ thống giám sát các CTCK có thể được nhận diện từ góc độ ngănngừa và phòng tránh các hành vi vi phạm và lạm dụng thị trường Có thể nhận thấy