CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC THANHTRA, KIỂM TRA THUẾ 1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ 1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, nội dung cơ bản thanh tra, kiểm tra thuế 1.1.1
Trang 2TRẦN THỊ MỸ LINH
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ
QUẬN HAI BÀ TRƯNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Hà Nội - 2014
Trang 3Ì1 ⅛
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
TRẦN THỊ MỸ LINH
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM
TRA ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ
QUẬN HAI BÀ TRƯNG
Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM THANH BÌNH
Hà Nội - 2014
Ì1 4
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và thông tin sử dụng trong luận văn đều có nguồn gốc trung thực và được phép công bố Những kết luận và giải pháp kiến nghị của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trần Thị Mỹ Linh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ 3
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ 3
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, nội dung cơ bản thanh tra, kiểm tra thuế 3
1.1.2 Mục tiêu của thanh tra, kiểm tra thuế 6
1.1.3 Nguyên tắc thanh tra, kiểm tra thuế 7
1.1.4 Phương pháp thanh tra, kiểm tra thuế 8
1.1.5 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế 9
1.1.6 Vi phạm pháp luật thuế 12
1.2 NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ 14
1.2.1 Điều kiện kinh tế xã hội và trình độ dân trí 14
1.2.2 Trình độ của cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra thuế 15
1.2.3 Trình độ hiện đại hóa công tác thanh tra, kiểm tra thuế 15
1.2.4 Các yêu cầu về quy trình và tiêu thức đánh giá rủi ro 17
1.3 KINH NGHIỆM VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ Ở MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 19
1.3.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới 19
1.3.2 Bài học kinh nghiệm rút ra từ các nước trên thế giới về công tác thanh tra, kiểm tra thuế 22
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 23
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN HAI BÀ TRƯNG 24
2.1 KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI QUẬN HAI BÀ TRƯNG TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 24
2.2 GIỚI THIỆU VỀ CHI CỤC THUẾ QUẬN HAI BÀ TRƯNG 27
2.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển .27
Trang 62.2.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Chi cục Thuế Quận
Hai Bà Trưng 28
2.2.3 Mô hình, cơ cấu tổ chức bộ phận thanh tra, kiểm tra của Chi cục thuế Quận Hai Bà Trưng 32
2.3 THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN HAI BÀ TRƯNG 36
2.3.1 Xây dựng thông tin về người nộp thuế 36
2.3.2 Phân loại đối tượng quản lý .39
2.3.3 Lập kế hoạch Thanh tra, kiểm tra .40
2.3.4 Tổ chức thực hiện thanh tra, kiểm tra thuế và kết quả đạt được .54
2.3.5 Đánh giá hoạt động công tác thanh tra, kiểm tra thuế .66
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 74
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN HAI BÀ TRƯNG 75
3.1 ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN HAI BÀ TRƯNG 75
3.1.1 Nhiệm vụ thu thuế năm 2014 của Chi cục thuế Quận Hai Bà Trưng 75
3.1.2 Giải pháp thực hiện 77
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN HAI BÀ TRƯNG 78
3.2.1 Giải pháp về tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực 78
3.2.2 Giải pháp về công tác chuyên môn 80
3.2.3 Một số giải pháp khác 85
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 87
3.3.1 Kiến nghị với Quốc hội và Chính phủ .87
3.3.2 Kiến nghị với Bộ Tài chính và Tổng cục thuế .92
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang 7Bảng 2.3 Bảng tông kết kế hoạch thanh tra, kiểm tra năm 2011
Bảng 2.4 Bảng tông kết kế hoạch thanh tra, kiểm tra năm 2012
Bảng 2.5 Bảng tông kết kế hoạch thanh tra, kiểm tra năm 2013
Bảng 2.6 Bảng so sánh số liệu báo cáo của đơn vị vê thuế GTGT, TNDN và
số liệu kiểm tra của cơ quan thuế kỳ 2011Bảng 2.7 Bảng so sánh số liệu báo cáo của đơn vị vê phân bô chi phí và số
liệu kiểm tra của cơ quan thuế kỳ 2011Bảng 2.8 Tình hình thực hiện nghĩa vụ với NSNN năm 2011
Bảng 3.1 Dự toán pháp lệnh năm 2014 của Chi cục thuế Quận Hai Bà Trưng
Trang 8"DN Doanh nghiệp
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Như chúng ta đã biết, thuế luôn là mối quan tâm hàng đầu của mọi Nhànước Thuế là một công cụ tài chính quan trọng không chỉ thể hịên ở việc tạonguồn thu chủ yếu cho ngân sách Nhà nước mà thuế còn là một công cụ hữuhiệu để Nhà nước tiến hành điều tiết vĩ mô nền kinh tế, góp phần điều hoà thunhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối và lưu thông
Cùng với sự phát triển không ngừng của đất nước; các tổ chức, doanhnghiệp, hộ kinh doanh đang ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và qui
mô, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước Tính chất hoạt độngcủa các đối tượng nộp thuế ngày càng diễn biến phức tạp
Thực tế đó đòi hỏi công tác thanh tra, kiểm tra thuế phải được hoàn thiệnthêm; Riêng tại Quận Hai Bà Trưng - Thành phố Hà Nội là một địa bàn rộng, có
số lượng đối tượng nộp thuế nhiều, đa dạng thì việc làm đó càng có ý nghĩa thiếtthực Xuất phát từ thực tiễn trên em xin mạnh dạn đề xuất đề tài: “Hoàn thiệncông tác thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế tại Chi cục thuế Quận Hai BàTrưng”
2 Mục đích của đề tài
Đề tài đi sâu tìm hiểu đặc thù công tác thanh tra, kiểm tra thuế trên địabàn Quận Hai Bà Trưng, khái quát thực trạng của công tác thanh tra, kiểm trathuế và đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại, khó khăn, hoànthiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế trên địa bàn Quận Hai Bà Trưng
Trang 11Đề tài sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp phân tích và tổnghợp, các phương pháp định tính và định lượng kết hợp với phương pháp chuyêngia
5 Bố cục của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về công tác thanh tra, kiểm tra thuế
Chương 2: Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Chi cục thuế
Quận Hai Bà Trưng
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Chi
cục thuế Quận Hai Bà Trưng
Trang 12CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC THANH
TRA, KIỂM TRA THUẾ 1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, nội dung cơ bản thanh tra, kiểm tra thuế
1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của công tác thanh tra, kiểm tra thuế
Để đảm bảo nguồn thu của Ngân sách Nhà nước, cũng như góp phần đảmbảo sự công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của các tổ chức và cánhân khi kinh doanh thì công tác quản lý thuế là vô cùng quan trọng và cần thiết
ở bất cứ một Nhà nước nào
Công tác quản lý thuế bao gồm: Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấnđịnh thuế; thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; xoá nợ tiền thuế, tiền phạt;quản lý thông tin về người nộp thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế; cưỡng chế thihành quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật về thuế; giải quyếtkhiếu nại, tố cáo về thuế [1]
Trong đó, công tác kiểm tra thuế, thanh tra thuế là một trong những nộidung quan trọng của công tác quản lý thuế
Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có các nhận xét đánh giá [3],
Thanh tra thuế là hoạt động của tổ chức chuyên trách làm công tác kiểm tra của cơ quan thuế đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện ngăn chặn và
xử lý những hành vi trái pháp luật [3].
Công tác thanh tra thuế, kiểm tra thuế có những điểm giống nhau như sau:
- về mục đích: Thanh tra, kiểm tra thuế đều là một nội dung quan trọng
của quản lý thuế Đều có một mục đích là phát hiện, ngăn ngừa, xử lý những viphạm pháp luật thuế, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý thuế, tăng cường pháp
Trang 13chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm công bằng cho các đối tượng tham gia kinhdoanh
- về chủ thể: Chủ thể thanh tra, kiểm tra thuế là cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền theo quy định của pháp luật thường là cơ quan thuế
- về đối tượng: Đối tượng thanh tra, kiểm tra thuế là cơ quan, tổ chức, cá
nhân có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước và các đơn vị trong nội bộ ngành thuế
- về nội dung: Nội dung thanh tra, kiểm tra thuế là việc chấp hành pháp
luật thuế
- về phương pháp: Thanh tra, kiểm tra thuế đều phải xem xét hoạt động
thực tế của đối tượng để pháp hiện, phân tích, đánh giá thực trạng đối tượng mộtcách chính xác, khách quan, làm rõ đúng, sai, chỉ rõ nguyên nhân để có biệnpháp khắc phục và xử lý vi phạm [1]
Bên cạnh đó, giữa thanh tra, kiểm tra thuế còn có sự khác biệt, cụ thể:
- Chủ thể của thanh tra thuế không đồng nhất với đối tượng thanh tra thuế
nhưng chủ thể của kiểm tra thuế có thể đồng nhất hoặc không đồng nhất với đốitượng kiểm tra, chẳng hạn tự kiểm tra nội bộ thì chủ thể và đối tượng kiểm tra làđồng nhất
- Thanh tra áp dụng cho các đối tượng có ngành nghề kinh doanh đa dạng,
phạm vi kinh doanh rộng, cơ cấu tổ chức phức tạp, hoặc khi có dấu hiệu vi phạmpháp luật về thuế, hoặc để giải quyết khiếu nại tố cáo hoặc theo yêu cầu của Thủtrưởng cơ quan quản lý thuế các cấp
- Thanh tra thường là nội dung rộng, phức tạp, có thể liên quan đến nhiều
đối tượng, lĩnh vực khác nhau Tính chất của thanh tra thuế là một hoạt động dựavào quyền lực của cơ quan quản lý Nhà nước Còn kiểm tra là hoạt động trungtính, có thể là hoạt động quyền lực của cơ quan quản lý Nhà nước cũng có thểchỉ là hoạt động quản lý đơn thuần
Trang 14- Thanh tra thường áp dụng các biện pháp mạnh hơn khi thực hiện như:
tạm giữ tang vật, tài liệu; khám nơi cất giấu tang vật, tài liệu theo quy định củaLuật Quản lý thuế
- Mục đích của thanh tra thuế là phát hiện, ngăn chặn những hành vi trái
pháp luật, xử lý các vi phạm đó Mục đích của kiểm tra thuế là phát hiện nhữngsai lệch của đối tượng kiểm tra để ngăn chặn và điều chỉnh các sai lệch đó
- Do mức độ nghiệm trọng của sự việc cần thanh tra, nên thời gian để tiến
hành một cuộc thanh tra thuế thường dài hơn một cuộc kiểm tra thuế Cụ thể,thanh tra thuế thường không quá 30 ngày, kiểm tra thuế thường không quá 5ngày [1]
1.1.1.2 Nội dung cơ bản của công tác thanh tra, kiểm tra thuế
* Thanh tra, kiểm tra đăng ký thuế
Đăng ký thuế là quyền và nghĩa vụ của đối tượng kinh doanh Thông quaviệc đăng ký thuế, Nhà nước quản lý được mọi mặt hoạt động sản xuất kinhdoanh của cơ sở ngay từ khi bắt đầu hoạt động, tạo điều kiện thuận lợi cho côngtác kế hoạch hoá nguồn thu Ngân sách
Nội dung Thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực này bao gồm những vấn đề
cơ bản sau:
- Đối với từng địa bàn: Xem xét trong từng loại ngành nghề, số lượng cơ
sở kinh doanh thực tế kinh doanh so với số cơ sở kinh doanh đã đăng ký và chưađăng ký thuế
- Đối với từng cơ sở kinh doanh: Kiểm tra các nội dung liên quan đến
đăng ký thuế như tính pháp lý của đăng ký thuế, kiểm tra tính trung thực của cáctài liệu kê khai trong đăng ký so với thực tế về vốn kinh doanh, ngành nghề kinhdoanh, đặc điểm kinh doanh, hình thức kế toán áp dụng, tài khoản kế toán giaodịch
Việc thanh tra, kiểm tra đăng ký thuế có ý nghĩa đảm bảo công bằng trongthực hiện nghĩa vụ thuế, chống thất thu về NSNN
Trang 15- Việc chấp hành luật kế toán: Việc mở sổ sách kế toán, việc quản lý và
sử dụng các loại hoá đơn, chứng từ
- Việc lập các loại hoá đơn, chứng từ có liên quan đến việc tính thuế: Xác
định tính hợp pháp, hợp lý, trung thực của từng loại chứng từ, hoá đơn có liênquan như: hoá đơn bán hàng, phiếu xuất kho
Nội dung này giúp cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế nắm được mức độ chấphành pháp luật của cơ sở kinh doanh, nắm khái quát được tình hình kinh doanhcủa cơ sở, phát hiện các hành vi gian lận từ sổ sách kế toán và chứng từ gốc
* Thanh tra, kiểm tra việc kê khai, tính thuế và nộp thuế
Việc kê khai tính và nộp thuế là nghĩa vụ của các doanh nghiệp, tổ chức,
cá nhân kinh doanh đối với Nhà nước Những vấn đề cơ bản của nội dung nàybao gồm:
- Kiểm tra căn cứ tính thuế: Được tiến hành thông qua việc so sánh, đối
chiếu số liệu kế toán với số liệu kê khai thuế, so sánh đối chiếu số liệu kê khai và
số liệu kế toán thực tế kinh doanh
- Kiểm tra việc chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của cơ sở kinh doanh: xem
xét việc cơ sở kinh doanh chấp hành thời hạn nộp thuế, có nợ đọng không?
Nội dung thanh tra, kiểm tra thuế này giúp cán bộ thuế nắm tổng thể mức
độ chấp hành pháp luật của cơ sở kinh doanh: kê khai có trung thực không, cótrốn lậu thuế không, có nộp thuế đúng hạn không?[25],[26]
1.1.2 Mục tiêu của thanh tra, kiểm tra thuế
Trang 16- Hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế nhằm giúp các đối tượng nộp thuế và
cơ quan thuế thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản pháp luật về công tác quản lýthu ngân sách, đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của ngành
- Thông qua công tác thanh tra, kiểm tra thuế nhằm đánh giá việc chấp
hành các luật thuế của các đối tượng nộp thuế và người thu thuế, qua đó nhằmphát huy nhân tố tích cực, đấu tranh ngăn ngừa và xử lý những mặt tiêu cực
- Căn cứ vào những kiến nghị của kết quả thanh tra, kiểm tra thuế; cơ
quan thuế các cấp có thể đề ra các giải pháp cụ thể để thực hiện, đưa Luật thuếvào cuộc sống thực tế, đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện Luật thuế,đồng thời cải cách được các quy trình quản lý thu thuế ngày càng hợp lý hơn
- Thông qua công tác thanh tra, kiểm tra thuế nhằm hướng dẫn, giúp đỡ
các đối tượng nộp thuế nắm được các nghĩa vụ và quyền hạn của đơn vị khi thựchiện Luật thuế; đồng thời nâng cao trách nhiệm của Công chức ngành thuế khithi hành công vụ
- Thông qua công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ nhằm kịp thời ngăn chặn,
phòng ngừa những hành vi tiêu cực, tham nhũng tiêu cực, tham nhũng phát sinh,
để xây dựng cơ quan thuế trong sạch vững mạnh với đội ngũ cán bộ thuế vềphẩm chất đạo đức, giỏi về nghiệp vụ chuyên môn[19], [20]
1.1.3 Nguyên tắc thanh tra, kiểm tra thuế
- Thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến người
nộp thuế, đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế, xác minh và thuthập chứng cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế
- Không cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
- Tuân thủ quy định của Luật Quản lý thuế và các quy định khác của pháp
luật có liên quan [21, tr24]
Như vậy để công tác kiểm tra, thanh tra thuế đạt hiệu quả cao, ta cần đảmbảo một số nguyên tắc nhất định:
Trang 17- Chủ thể thanh tra, kiểm tra thuế phải nhận thức đúng vấn đề, nội dung
thanh tra, kiểm tra phải đánh giá chính xác bản chất của sự việc để kết luận thanhtra, kiểm tra thuế được chính xác; phải thông báo đầy đủ, công khai từ nội dung,
kế hoạch, quyết định thanh tra, kiểm tra thuế đến kết luận thanh tra, kiểm tra để
cá nhân, tổ chức có liên quan biết và giám sát việc thực hiện
- Chủ thể thanh tra, kiểm tra thuế phải phản ánh đúng sự vật, hiện tượng
như nó vốn có, không được lồng ý kiến chủ quan khi mô tả sự vật, hiện tượng
- Chủ thể thanh tra, kiểm tra thuế phải tuân theo các quy tắc đạo đức nghề
nghiệp, các quy định của pháp luật Hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế phải diễn
ra đúng trật tự, đúng quy trình do ngành đã quy định tránh trường hợp làm cảntrở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là người nộp thuế
1.1.4 Phương pháp thanh tra, kiểm tra thuế
1.1.4.1 Phương pháp vận dụng kỹ thuật quản lý rủi ro
Theo phương pháp này, từ hệ thống thông tin được thu thập, lưu giữ vềđối tượng nộp thuế (ĐTNT), cơ quan thuế tiến hành phân tích, đánh giá mức độrủi ro, xếp hạng rủi ro làm cơ sở để quyết định kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế,lựa chọn đối tượng, thời điểm, quy mô thanh tra, kiểm tra Với những ĐTNT xếphạng rủi ro thấp (thường xuyên chấp hành tốt pháp luật thuế, không nợ thuế quáhạn, số thuế thường xuyên cao và ổn định) thì ít tiến hành thanh tra, kiểm tra vàngược lại
1.1.4.2 Phương pháp đối chiếu, so sánh
Đây là phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình thanh tra, kiểmtra thuế Nội dung của phương pháp này là thực hiện so sánh, đối chiếu nội dungcần thanh tra, kiểm tra với các nguồn thông tin khác nhau để đánh giá xem xétnội dung cần thanh tra, kiểm tra
1.1.4.3 Phương pháp kiểm tra từ tổng hợp đến chi tiết
Đây là phương pháp tối ưu để kiểm tra số liệu kế toán Theo phương phápnày, trước hết kiểm tra số liệu tổng hợp sau mới kiểm tra số liệu chi tiết Việc
Trang 18kiểm tra tổng hợp nhằm rút ra những nhận xét tổng quát để từ đó định hướngnhững nội dung cần đi sâu kiểm tra.
1.1.4.4 Phương pháp kiểm tra chứng từ gốc
Kiểm tra chứng từ gốc có ý nghĩa rất quan trọng vì chúng là cơ sở pháp lýghi nhận nghiệp vụ kinh tế phát sinh và thực sự hoàn thành, là cơ sở của mọi sốliệu kế toán
Có ba phương pháp kiểm tra chứng từ gốc:
- Kiểm tra theo trình tự thời gian là việc thực hiện kiểm tra chứng từ gốc
đã được sắp xếp theo trình tự thời gian phát sinh Phương pháp này mất nhiềuthời gian mà hiệu quả thấp nên ít được sử dụng
- Kiểm tra theo loại nghiêp vụ là việc thực hiện kiểm tra chứng từ gốc đã
được phân loại, sắp xếp theo một nghiệp vụ nhất định, như chứng từ thu chi, tiềnmặt, nhập kho .Phương pháp này được áp dụng khi cần rút ra kết luận đầy đủ
về một loại nghiệp vụ theo yêu cầu của nội dung thanh tra, kiểm tra thuế.Phương pháp này tiết kiệm thời gian và cho hiệu quả cao
- Kiểm tra điển hình là việc kiểm tra ngẫu nhiên một số chứng từ của một
loại nghiệp vụ để rút ra kết luận chung Phương pháp này tiết kiệm thời giannhưng độ tin cậy của kết luận không cao
1.1.4.5 Phương pháp kiểm tra bổ trợ
- Phương pháp phỏng vấn: Phương pháp này được sử dụng khi cần thu
thập thông tin từ những người có quan hệ trực tiếp, gián tiếp đến nội dung thanhtra, kiểm tra
- Ngoài ra, còn có một số phương pháp khác như: Phương pháp thẩm tra
và xác nhận từng phần, Phương pháp quan sát
Các phương pháp thanh tra, kiểm tra thuế nêu trên có thể sử dụng riêngbiệt hoặc sử dụng kết hợp tuỳ theo yêu cầu của từng cuộc thanh tra, kiểm trathuế cụ thể [1]
1.1.5 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế
Trang 19Hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế không chỉ được xem xét, đánhgiá đơn thuần ở khía cạnh vật chất (hiệu quả kinh tế) mà còn được xem xét đánhgiá dưới mức độ hiệu quả kinh tế - xã hội Vì vậy, các tiêu chí đánh giá hiệu quảcông tác thanh tra, kiểm tra thuế được chia làm hai nhóm là:
- Tình hình thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế về từng chỉ tiêu
định lượng của kế hoạch; Đánh giá tiêu chí này thường dựa trên các tiêu chí như:
Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch về số đối tượng thanh tra, kiểm tra thuế so với kếhoạch năm; Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch về số thời gian thanh tra, kiểm tra thuếvới kế hoạch năm; Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch, vụ việc khiếu nại tố cáo giải quyếtđược so với kế hoạch năm; Tỷ lệ thanh tra, kiểm tra thuế hàng năm so với tổng
số đối tượng thanh tra, kiểm tra thuế
- Tình hình vi phạm pháp luật thuế đã phát hiện qua thanh tra, kiểm tra
thuế, đánh giá tiêu chí này dựa trên các chỉ tiêu như:
+ Tỷ lệ vi phạm pháp luật thuế / tổng số đối tượng thanh tra, kiểm tra thuế
+ Tổng số tiền thuế truy thu qua thanh tra, kiểm tra thuế
+ Số tiền thuế truy thu bình quân / đối tượng thanh tra, kiểm tra thuế
- Chi phí vật chất và thời gian cho thanh tra, kiểm tra thuế, đánh giá tiêu
chí này thường dựa vào các chỉ tiêu như:
+ Thời gian bình quân của một cuộc thanh tra, kiểm tra thuế
+ Số đối tượng thanh tra, kiểm tra thuế bình quân / 1 thanh tra viên hàngnăm
+ Chi phí bằng tiền trực tiếp cho thanh tra, kiểm tra thuế
Trang 20- Hiệu quả trực tiếp của thanh tra, kiểm tra, đánh giá tiêu chí này thường
dựa vào các chỉ tiêu như sau:
+ Chi phí thanh tra, kiểm tra thuế so với số thuế truy thu được đã nộpNSNN
+ Tỷ lệ giữ nguyên, sửa đổi hoặc huỷ bỏ quyết định truy thu theo biên bảnthanh tra, kiểm tra thuế khi giải quyết khiếu nại của đối tượng thanh tra, kiểm trathuế
+ Tỷ lệ các trường hợp đối tượng thanh tra, kiểm tra thuế chấp nhận hoàntoàn kết luận thanh tra, kiểm tra thuế
+ Tỷ lệ số thuế truy thu được nộp vào NSNN / Tổng số thuế truy thu
Mặc dù có thể tính toán cụ thể được một số chỉ tiêu cụ thể trên song thực
tế đa số các chỉ tiêu không phản ánh rõ hiệu quả kinh tế của công tác thanh tra,kiểm tra thuế Bên cạnh việc tính toán chỉ tiêu này trong năm, để đánh giá chínhxác hơn tính hiệu quả, cần phải so sánh với những năm cũ để đánh giá xu hướngbiến động của các chỉ tiêu
1.1.5.2 Các tiêu chí định tính
Các chỉ tiêu định tính thường là hệ quả của công tác thanh tra, kiểm trathuế mà không thể hoặc khó tính toán, đo đếm được Đó thường là những hiệuquả có tính xã hội, chính trị như:
- Sự chuyển biến về ý thức tuân thủ pháp luật thuế: Tiêu chí này có thể đo
lường được thông qua so sánh tỷ lệ tuân thủ pháp luật thuế của đối tượng thanhtra, kiểm tra thuế qua các năm, đặc biệt là những đối tượng đã được thanh tra,kiểm tra thuế (mức độ tái phạm)
- Tác dụng trong việc ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật thuế, tạo sự
công bằng giữa các đối tượng nộp thuế, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh
Có thể đánh giá tác dụng này thông qua xem xét tỷ lệ đối tượng vi phạm bị xử lýtruy thu thuế và xử phạt hành chính thuế (chia theo hình thức xử phạt)
Trang 21- Tác dụng trong việc phòng chống tham nhũng trong nội bộ cơ quan quản
lý thuế và tạo lòng tin của nhân dân trong hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế Cóthể đánh giá tác dụng này thông qua xem xét tỷ lệ cán bộ thuế vi phạm pháp luậttrong thanh tra, kiểm tra thuế; tỷ lệ cán bộ thuế vi phạm pháp luật bị xử lý (chiatheo hình thức), những vụ việc vi phạm quan trọng nhạy cảm được phát hiện và
xử lý
Hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả thanh tra, kiểm tra thuế được đánh giátheo kỳ (quý, năm) và được chia theo sắc thuế, theo hình thức thanh tra, kiểm trathuế; theo loại đối tượng nộp thuế và từng nội dung thanh tra, kiểm tra thuế
1.1.6 Vi phạm pháp luật thuế
1.1.6.1 Khái niệm
Trong khoa học pháp lí, Vi phạm pháp luật (VPPL) được hiểu là hành vitrái với quy định của pháp luật, do tổ chức hoặc cá nhân thực hiện với lỗi xácđịnh, gây thiệt hại đến lợi ích chung và do đó phải chịu trách nhiệm pháp lí vềhành vi đó của mình Từ quan niệm này, ta có thể định nghĩa về VPPL thuế nhưsau:
VPPL thuế là hành vi làm trái các quy định pháp luật về thuế, do tổ chức,
cá nhân thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước hoặc lợi ích của các tổ chức, cá nhân khác và phải chịu trách nhiệm pháp
lí về hành vi đó của mình.
Ta có thể nhận diện hành vi VPPL thuế nhờ những dấu hiệu cơ bản sau:
- về chủ thể: Là các cá nhân, tổ chức có liên quan đến hoạt động thu thuế
như người nộp thuế, cơ quan thuế hoặc công chức ngành thuế
- về khách thể: Hành vi VPPL thuế làm phương hại đến những lợi ích cụ
thể được pháp luật bảo vệ, những lợi ích đó có thể là lợi ích riêng của cá nhânhoặc lợi ích chung của toàn xã hội
Trang 22- Mặt chủ quan: Lỗi của người vi phạm là cố ý hoặc vô ý Tính chất có
lỗi của người VPPL thuế được xem là một trong số các căn cứ để xác định vàtruy cứu trách nhiệm pháp lý đối với người thực hiện hành vi
- Mặt khách quan: VPPL thuế là hành vi vi phạm những quy tắc xử sự
chung được thể hiện trong trật tự pháp luật, xâm hại đến những lợi ích chunghoặc lợi ích riêng đang được pháp luật bảo vệ
1.1.6.2 Phân loại vi phạm pháp luật thuế và các biện pháp xử lý vi phạm pháp luật thuế
- Trốn thuế, gian lận thuế[21, tr 37].
Các biện pháp xử lý VPPL thuế bao gồm:
- Phạt cảnh cáo;
- Truy thu số tiền thuế nợ, tiền thuế thiếu, tiền trốn thuế, tiền gian lận
thuế;
- Phạt chậm nộp tiền thuế, phạt về hành vi kê khai sai, kê khai thiếu, phạt
hành vi trốn thuế, gian lận thuế[21, tr 37-39]
1.1.6.3 Mối quan hệ giữa thanh tra, kiểm tra với vi phạm pháp luật thuế
Giữa thanh tra, kiểm tra thuế với xử lí VPPL thuế có mối quan hệ mậtthiết với nhau Nhờ hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế mà phát hiện được nhữngVPPL thuế và tiến tới hoạt động xử lí VPPL thuế và ngược lại, những dấu hiệucủa VPPL thuế là tiền đề để cơ quan thuế tiến hành hoạt động thanh tra, kiểm trathuế Vận dụng tốt mối quan hệ này là một nhiệm vụ quan trọng của hoạt độngquản lý thuế, nó không những góp phần phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi vi
Trang 231.2.1 Điều kiện kinh tế xã hội và trình độ dân trí
Xu thế hội nhập, liên kết kinh tế trong khu vực tiến tới toàn cầu hoá kinh
tế là tất yếu khách quan.Theo đó, hội nhập kinh tế về thuế ngày càng sâu rộng,nhằm khuyến khích đầu tư, tự do hoá thương mại trong khu vực và trên toàn thếgiới Hệ thống luật pháp sẽ dần được hoàn thiện, xây dựng hệ thống chính sáchthuế tương thích, công tác quản lý thuế phải được cải cách và hiện đại hoá theocác chuẩn mực quản lý thuế quốc tế, cơ sở trang bị vật chất kỹ thuật ngày càngđược hiện đại hoá và số lượng người nộp thuế không ngừng tăng lên nhanhchóng Tất cả những biến đổi trên đều tác động lớn đến hiệu quả công tác thanhtra, kiểm tra thuế
Hệ thống pháp luật thuế đồng bộ, hoàn thiện , phù hợp với tình hình kinh
tế - xã hội của đất nước sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng để hoạt động thanh tra,kiểm tra thuế đi vào khuôn khổ, đồng thời nó cũng giúp cho người nộp thuế hiểu
và nghiêm túc thực hiện theo quy định của pháp luật Ngoài ra, đầu tư trang bị cơ
sở vật chất kỹ thuật hiện đại cũng hỗ trợ cho công tác thanh tra, kiểm tra thuếđược tiến hành thuận lợi, có tính chính xác và hiệu quả cao hơn
Cùng với sự gia tăng về số lượng NNT sẽ là sự đa dạng hoá về loại hìnhcủa các doanh nghiệp và các hình thức kinh doanh, kèm theo đó là sự phức tạp,tinh vi hơn về thủ đoạn trốn, tránh, gian lận thuế của NNT, gây khó khăn trongviệc và xử lý kịp thời vụ gian lận, ẩn lậu thuế, gây thất thu cho NSNN Do đó, sốlượng NNT ngày càng tăng sẽ là một thách thức không nhỏ đối với công tácthanh tra, kiểm tra thuế
Trang 24Xã hội ngày càng phát triển, trình độ dân trí được nâng cao, sự hiểu biết
về pháp luật thuế cũng như ý thức tự tuân thủ của NNT ngày càng được cảithiện, bởi họ hiểu rõ quyền lợi và trách nhiệm của mình khi tham gia vào hoạtđộng sản xuất kinh doanh.Tuy nhiên, cũng vì sự hiểu biết sâu sắc về pháp luậtthuế mà khả năng, thủ đoạn trốn, tránh thuế của NNT ngày càng tinh vi, phức tạphơn, gây khó khăn cho cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế trong việc phát hiện ra cácgian lận, giảm hiệu quả thanh tra, kiểm tra thuế
1.2.2 Trình độ của cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra thuế
Trong mọi hoạt động của xã hội luôn có các nhân tố ảnh hưởng đến hiệuquả của hoạt động đó và nhân tố luôn luôn được đề cập đến với ảnh hưởng mangtính quyết định đó là nhân tố con người Trong công tác thanh tra, kiểm tra thuếcũng vậy; trình độ của cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra thuế ảnh hưởngtới hiệu quả chất lượng của các cuộc thanh tra, kiểm tra thuế
Để các cuộc thanh tra, kiểm tra thuế có chất lượng tốt thì đòi hỏi cán bộphải có sự hiểu biết, nắm rõ các quy định của luật pháp về thuế và các quy định
về xử phạt liên quan đến các hành vi trái pháp luật Không những thế, đòi hỏicán bộ phải có trình độ về công nghệ tin học - công cụ hữu hiệu trong việc đẩynhanh tiến độ thanh tra, kiểm tra thuế có hiệu quả Thêm vào đó, trình độ và kỹnăng trong giao tiếp, ứng xử với người nộp thuế cũng là yếu tố quan trọng để thuthập thông tin từ người nộp thuế Có thể nói, để nâng cao hiệu quả của công tácthanh tra, kiểm tra nói chung và thanh tra, kiểm tra thuế nói riêng thì việc đào tạo
và nâng cao trình độ của cán bộ thực hiện là yếu tố quyết định “Đầu tư cho conngười là đầu tư có lợi nhất”
1.2.3 Trình độ hiện đại hóa công tác thanh tra, kiểm tra thuế
Hiện nay chúng ta đang chứng kiến quá trình toàn cầu hoá kinh tế diễn rangày càng mạnh mẽ và sâu sắc Thúc đẩy quá trình đó chính là sự phát triểnnhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học công nghệ Một trong những đặctrưng nổi bật là sự vượt trội của công nghệ thông tin, chính trào lưu “thông tin
Trang 25Trong quá trình tiến hành cải cách và hiện đại hoá công tác thanh tra,kiểm tra thuế dựa trên mục tiêu hiện đại hoá và kỹ thuật phân tích quản lý cáckhả năng thất thu về thuế để để đổi mới nội dung, phương pháp và tổ chức hoạtđộng thanh tra, kiểm tra thuế đảm bảo sự tuân thủ pháp luật ở mức độ cao, nângcao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế.
Các giai đoạn hiện đại hoá công tác thanh tra, kiểm tra thuế:
Nhìn chung các quốc gia trên thế giới đều thực hiện quá trình thanh tra,kiểm tra thuế theo 4 giai đoạn sau:
* Giai đoạn 1: Cơ quan thuế tập trung vào trang bị và sử dụng máy tính
là chủ yếu cho các chức năng xử lý dữ liệu về thuế, và thay thế việc xử lý dữ liệuthủ công
* Giai đoạn 2: Nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, xây dựng hệ thống
công nghệ đồng bộ Xây dựng phương pháp, quy trình nghiệp vụ thanh tra, kiểmtra thuế dựa trên kỹ thuật quản lý rủi ro Xây dựng và triển khai thực hiện thíđiểm các phần mềm ứng dụng hỗ trợ kỹ thuật phân tích, đánh giá rủỉ ro
* Giai đoạn 3: Hoàn thiện phương pháp, quy trình, kỹ thuật thanh tra,
kiểm tra thuế Thiết kế các ứng dụng có tính thích hợp cao, có khả năng trao đổithông tin và xử lý dữ liệu tập trung ở mức cao.Triển khai trên diện rộng mô hình
* Giai đoạn 4: Hiện đại hoá ở mức rất cao
Nội dung hiện đại hoá công tác thanh tra, kiểm tra thuế
- Cùng với việc hiện đại hoá ngành thuế, hệ thống thanh tra, kiểm tra thuếđược trang bị đồng bộ hệ thống máy tính, khai thác mạng nội bộ, kết nối
Trang 26Internet, kết nối hệ thống mạng của các cơ quan chính phủ( liên quan đến thanhtra, kiểm tra thuế).
- Xây dựng hệ thống tích hợp thông tin, dữ liệu từ doanh nghiệp (kê khai
thuế, hóa đơn VAT, báo cáo tài chính) và thông tin bên ngoài ( ngân hàng, tổchức tín dụng, cơ quan Hải quan )
- Xây dựng hệ thống tiêu chí phục vụ kỹ thuật phân tích đánh giá rủi ro.
Đồng thời xây dựng các mô hình đánh giá rủi ro theo loại hình doanh nghiệp,lĩnh vực kinh doanh và sắc thuế
- Đổi mới phương pháp, quy trình và chuẩn hoá nghiệp vụ thanh tra, kiểm
tra thuế
- Ứng dụng phần mềm hỗ trợ nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra thuế qua các
khâu thu thập dữ liệu, chuyển đổi dữ liệu, phân tích xác định rủi ro, đối chiếukiểm tra trên máy tính, lựa chọn đối tượng thanh tra, kiểm tra thuế tại đơn vị
- Bổ sung sửa đổi hệ thống pháp luật cho phù hợp với quá tình xây dựng
chính phủ điện tử nói chung và hiện đại hoá ngành thuế nói riêng
- Đổi mới tổ chức và đào tạo cán bộ
Nói chung, hiện đại hoá công tác thanh tra, kiểm tra thuế là khuynh hướngphổ biến trên thế giới Bởi nó mang lại lợi ích to lớn cho cả ĐTNT Giảm mạnhnhững chi phí tuân thủ pháp luật về thuế, cho cơ quan thuế - giảm chi phí hànhchính, chi phí nguồn lực, tăng chất lượng, hiệu quả, hiệu lực công tác thanh tra,kiểm tra thuế cho Nhà nước - đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng về thuế,phù hợp thông lệ quốc tế, nâng cao khả năng hội nhập kinh tế quốc tế và tăng thuNSNN
1.2.4 Các yêu cầu về quy trình và tiêu thức đánh giá rủi ro
1.2.4.1 Yêu cầu đối với cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra thuế
Trong điều kiện thực thi Luật quản lý thuế theo hướng NNT tự tính, tự kêkhai, tự nộp thuế thì thanh tra, kiểm tra thuế là một chức năng quan trọng nhằm
Trang 27bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra thuế chiếm tỷ lệ trên 35% tổng số cán bộ toànngành.
Bên cạnh việc tăng cường về mặt số lượng thì chất lượng cán bộ thanh tra,kiểm tra thuế cũng là vấn đề cần được quan tâm hơn nữa Để có thể kiểm tra,giám sát việc thực hiện nghĩa vụ thuế của NNT, tất yếu cán bộ thanh tra, kiểmtra thuế phải nắm vững và chắc các chính sách chế độ và thủ tục hành chính thuếhiện hành, không ngừng học tập nâng cao kỹ năng nghiệp vụ thanh tra, kiểm trathuế Không chỉ nắm vững, kiến thức kế toán và chuẩn mực kế toán vận dụng đểphân tích đánh giá tình hình tài chính của DN, mà còn nắm vững và trau dồi kiếnthức tin học và trình độ ngoại ngữ Có như vậy, cán bộ thanh tra, kiểm tra thuếmới có đủ kiến thức, năng lực, kỹ năng, kỹ sảo trong quá trình tác nghiệp thựchiện phân tích rủi ro, tiến hành thanh tra, kiểm tra thuế có trọng tâm, trọng điểm
để phát hiện ra DN có hành vi trốn thuế
Để kiểm soát sự tuân thủ pháp luật thuế của NNT ngay từ đầu, đòi hỏi cán
bộ thuế cần thực hiện kiểm tra, giám sát toàn bộ hồ sơ khai thuế mà NNT gửiđến cơ quan thuế Khi kiểm tra hồ sơ khai thuế được giao, cán bộ thuế cần phải
ký, xác nhận hồ sơ khai thuế và chịu trách nhiệm về kết quả
Kiểm tra đối với các hồ sơ khai thuế được giao Nếu việc thanh tra, kiểmtra thuế thiếu tinh thần trách nhiệm làm thất thu NSNN phải chịu trách nhiệm xử
lý kỷ luật theo pháp lệnh công chức Trường hợp gây thiệt hại cho NNT phải bồithường thiệt hại cho NNT theo quy định của pháp luật Có như vậy mới nâng caotrách nhiệm của cán bộ thanh tra, kiểm tra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ
Trang 28Đồng thời, theo quy định của Luật quản lý thuế, đòi hỏi cơ quan thuế nóichung và cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế nói riêng cần giữ bí mật thông tin đượcphản ánh trong hồ sơ khai thuế của DN, trừ trường hợp công khai thông tin viphạm pháp luật về thuế.
1.2.4.2 Yêu cầu về quy trình và tiêu thức giá rủi ro
Công tác thanh tra, kiểm tra thuế sử dụng tiêu thức phân tích rủi ro, tậptung thanh tra, kiểm tra thuế có trọng tâm trọng điểm.Vì vậy, tiêu thức đánh giárủi ro đóng vai trò rất quan trọng Tuy nhiên, do có quá nhiều các tiêu thức đánhgiá rủi ro nên đôi khi dẫn đến các kết luận khác nhau Do đó, ngành thuế cầnphải tiếp tục rà soát, xây dựng các tiêu thức một cách khoa học và hoàn chỉnhhơn
1.3 KINH NGHIỆM VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ Ở MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
1.3.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới
Việt Nam, Indonexia và Malayxia cùng là các nước đang phát triển ở khuvực Đông Nam Á, tuy nhiên Indonexia và Malayxia lại có bộ máy quản lý thuếtiên tiến và hiện đại hơn hẳn Việt Nam Bên cạnh đó, Hàn Quốc là một quốc gianằm trong khu vực Đông Bắc Á thuộc vào hàng các nước phát triển với bộ máyngành thuế đạt hiệu quả cao trong việc thanh tra, kiểm tra NNT
1.3.1.1 Kinh nghiệm thanh tra, kiểm tra thuế của Hàn Quốc
Tại Hàn Quốc, công tác thanh tra thuế được xây dựng xuyên suốt từ Tổngcục thuế đến các cơ quan thuế quận, huyện Tại cơ quan thuế vùng đã xây dựngcác phòng thanh tra, kiểm tra với các chức năng chuyên biệt như sau: Phòngthanh tra và quản lý chịu trách nhiệm về kế hoạch thanh tra, thu thập, xử lý vàphân tích những thông tin liên quan đến việc trốn thuế; Phòng thanh tra chịutrách nhiệm tiến hành thanh tra và xác định thuế; Phòng các cán bộ thanh tra đặc
Trang 29biệt chịu trách nghiệm về phân tích những thông tin liên quan đến việc trốn thuế
và điều tra tội phạm
Để nâng cao khả năng thanh tra, kiểm tra và đấu tranh với các DN TMĐT
vi phạm pháp luật, Hàn Quốc có Trung tâm chống trốn thuế công nghệ cao thuộcCục Thuế vùng Seoul, để điều tra các trường hợp trốn thuế đối với hoạt độngTMĐT Trung tâm này gồm có 30 cán bộ, trong đó 15 cán bộ công nghệ thôngtin trình độ cao Các Cục Thuế vùng còn lại có 8 cán bộ công nghệ thông tinchuyên trách, hỗ trợ Trung tâm chống trốn thuế công nghệ cao có nhiệm vụ pháthiện các trường hợp trốn thuế, thu thập chứng cứ để đấu tranh thông qua việc tìmkiếm, phát hiện các power blog thực hiện mua bán đối với đa số các cư dânmạng trên các trang điện tử hay phát hiện các đơn vị bán các món đồ sử dụngtrong trò chơi điện tử, với giá trị từ 10 nghìn đến 10 triệu Won (đơn vị tiền tệ củaHàn Quốc) tùy theo mức độ và tính hiếm của món đồ
Về phương pháp điều tra, cơ quan thuế sẽ nắm bắt và thu thập từ máy chủ
cơ sở dữ liệu các giao dịch TMĐT bao gồm tất cả các dữ liệu liên quan đến hoạtđộng kinh doanh như thông tin người sử dụng, thực tế mua bán sản phẩm, thôngtin liên quan đến thanh toán thẻ tín dụng, hàng tồn, nội dung chuyển hàng Quytrình điều tra thuế đối với giao dịch TMĐT được áp dụng đồng nhất như với các
DN kinh doanh các loại hình thương mại khác Trong quá trình điều tra thuế đốivới giao dịch TMĐT, Tổng cục Thuế Hàn Quốc được hỗ trợ đắc lực bởi nhữngcán bộ công nghệ thông tin trong việc nắm bắt, thu thập dữ liệu điện toán, sửdụng phương pháp điều tra tội phạm kỹ thuật số; phục hồi các tệp tin bị xóatrong máy tính công, đọc các file đặt mã, thu thập email; thu thập cơ sở dữ liệucủa hệ thống quản lý kế toán, cơ sở dữ liệu kinh doanh và phân tích sự thay đổicủa dữ liệu (dữ liệu đăng nhập theo từng hội viên, dữ liệu mua bán trực tuyến;những thông tin về cơ sở dữ liệu liên quan đến máy chủ, trang chủ như đặt trước,bán và thanh toán điện tử) Chính việc thiết lập hạ tầng công nghệ thông tin hiệnđại cho công tác quản lý thuế TMĐT đã góp phần xây dựng nền tảng để thực thi
Trang 30chính sách thuế chặt chẽ, công bằng và minh bạch, qua đó phòng ngừa trốn thuếhiệu quả, đồng thời tạo thuận tiện cho người nộp thuế nhờ các dịch vụ đa dạng.
1.3.1.2 Kinh nghiệm thanh tra, kiểm tra thuế ở Malaysia
Để công tác thanh tra, kiểm tra thuế có hiệu quả, tại Malaysia tổ chứctrung tâm thanh tra - điều tra thuế được phân bổ theo vùng Các trung tâm khôngchỉ dừng lại theo chức năng kiểm tra thuế thông thường mà chủ yếu tập trungvào công tác điều tra phát hiện và xử lý các trường hợp trốn lậu thuế có tính chấtnghiêm trọng, truy thu thuế vào ngân sách Nhà nước Trung tâm điều tra, thanhtra có nhiệm vụ tổ chức, thu thập thông tin từ nội bộ ngành thuế, người tố giác,người khai báo, báo chí để phát hiện các trường hợp, các khả năng trốn thuế
Tổ chức công tác điều tra nghiệp vụ có sự phối hợp trên toàn quốc hoặc quy môquốc tế Tổ chức lưu giữ tài liệu, bằng chứng liên quan đến hành vi trốn thuế Tổchức kiểm tra, đối chứng để quy phạm hành vi trốn thuế Khởi tố, truy tố, phạthành chính, kiến nghị phạt hình sự đối với các hành vi trốn thuế; bắt giữ tài sản,phong tỏa tài sản, truy thu cho ngân sách
1.3.1.3 Kinh nghiệm thanh tra, kiểm tra thuế của Indonexia
Thanh tra, điều tra thuế là một chức năng cơ bản của cơ quan thuếIndonexia, nó giữ vai trò quan trọng để đảm bảo quá trình áp dụng thành công cơchế tự tính, tự khai, tự nộp thuế Công tác thanh tra, chính sách thanh tra đượcquy định bởi Cục thanh tra và điều tra thuộc Tổng cục thuế, chỉ được thực hiệnsau khi đã thu thập tất cả các thông tin và xử lý các dữ liệu về người nộp thuế đểđánh giá mức độ tuân thủ nghĩa vụ thi hành về thuế và sự thi hành của các quyđịnh về thuế Do vậy mà tiết kiệm được thời gian thanh tra, kiểm tra cũng nhưcuộc thanh tra, kiểm tra đạt hiệu quả cao
Công tác thanh tra thuế được thực hiện trên nguyên tắc: Người nộp thuếkhông bao giờ bị thanh tra lại trong cùng một năm Nhằm tránh việc thanh tranhiều lần đối với người nộp thuế trong cùng năm thì cần phải tiến hành thanh trađối với mọi loại thuế cùng một lúc Trường hợp trong năm phải tiến hành thanh
Trang 31tra quá một lần chỉ khi có các lý do như: Người nộp thuế có hành vi vi phạm tộihình sự, có chứng cứ mới hoặc chứng cứ chưa bộc lộ có thể làm tăng số thuếphải nộp hoặc có lý do theo chỉ thị của Tổng cục trưởng Tổng cục thuế
1.3.2 Bài học kinh nghiệm rút ra từ các nước trên thế giới về công tác thanh tra, kiểm tra thuế
- Nề mô hình tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra, kiểm tra thuế:
Hầu hết các nước đều có hệ thống thanh tra thuế được tổ chức theo hệthống dọc gắn với mô hình tổ chức cơ quan thuế Tại các quốc gia có tổ chức bộphận thanh tra cấp Trung ương thì chủ yếu là thực hiện công tác chỉ đạo, hỗ trợthanh tra, kiểm tra
Hoạt động thanh tra, kiểm tra người nộp thuế được chuyên môn hóa cao
Cơ quan thuế tại các nước đều có thẩm quyền phân tích những thông tin liênquan đến điều tra tội phạm trốn thuế, điều tra liên đới trách nhiệm với các tổchức liên quan
- Về công tác tuyển chọn và đào tạo cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế:
Các nước đều có yêu cầu cao đối với việc tuyển chọn thanh tra viên.Người được tuyển chọn thường phải đào tạo qua Đại học
Những tiêu chuẩn cơ bản thanh tra viên cần có gồm:
+ Có kiến thức chuyên sâu về thuế;
+ Có kiến thức về kế toán theo chuẩn mực trong nước và quốc tế và mốiliên kết giữa các yêu cầu về kế toán tài chính và kế toán cho mục đích thuế;
+ Có kỹ năng thanh tra, phân tích kinh tế;
+ Có tính nhạy bén, làm việc độc lập và chịu được áp lực công việc;
+ Có kiến thức thành thạo về sử dụng máy tính (bao gồm kiến thức cơ bản
về hệ điều hành, mô hình lưu trữ dữ liệu, các ứng dụng cơ sở và ứng dụng
chuyên ngành sử dụng cho thanh tra, kiểm tra);
Trang 32T
hiện năm 2011
Thực hiện năm 2012
Thực hiện năm 2013
So sánh
2012 với 2011 (%)
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong thanh tra thuế:
Các nước trên đều có ứng dụng công nghệ thông tin trong thanh tra thuếcao Thanh tra thuế được thực hiện thông qua hệ thống ứng dụng tin học hỗ trợcông tác thanh tra và quyền truy cập, khai thác, sử dụng hệ thống dữ liệu củangười nộp thuế để xác định rõ số liệu thực về sổ sách kế toán và các giao dịchđiện tử Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong thanh tra, kiểm tra đảm bảoviệc thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế triệt để, nhanh gọn, tiết kiệm thờigian và chi phí
- Quản lý công tác thanh tra, kiểm tra thuế:
Việc thanh tra, kiểm tra thuế được tiến hành một cách toàn diện và theoquy củ; người nộp thuế không bao giờ bị thanh tra, kiểm tra lại trong cùng mộtnăm để tránh việc thanh tra, kiểm tra chồng chéo, hao tốn về chi phí và thời giancủa cả cơ quan thuế và người nộp thuế cũng như để lọt các đối tượng cần thanhtra, kiểm tra khác
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương 1 đề tài đã hệ thống hóa một số vấn đề cơ bản về thanh tra,kiểm tra đối tượng nộp thuế như khái niệm về thanh tra, kiểm tra thuế, nội dungcủa thanh tra, kiểm tra thuế và đặc biệt là chương 1 đề tài đã đưa ra các nhân tốảnh hưởng đến hiệu quả thanh tra, kiểm tra thuế
Đây là những vấn đề lí luận cần thiết để tác giả đi vào phân tích thực trạngcông tác thanh tra, kiểm tra thuế trong chương 2
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA
THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN HAI BÀ TRƯNG
2.1 KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI QUẬN HAI BÀ TRƯNG TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
Quận Hai Bà Trưng là một quận trung tâm trên địa bàn Thành phố Hà Nộivới diện tích khoảng 9,62 km2 , dân số khoảng hơn 400 nghìn người Với lợi thế
về vị trí địa lý và dân số nên kinh tế của Quận Hai Bà Trưng là kinh tế nhiềuthành phần đang trên đà phát triển nhanh Hiện nay trên địa bàn quận có hơn7.922 doanh nghiệp, trong đó 70% là thương mại, dịch vụ, còn lại là hoạt độngcông nghiệp Quận Hai Bà Trưng cũng là địa bàn tập trung nhiều nhà máy, xínghiệp của Trung ương và thành phố như dệt kim Đông Xuân, cảng Hà Nội, cụmcông nghiệp Minh Khai - Vĩnh Tuy với hàng chục xí nghiệp, nhà máy chủ yếuthuộc các ngành dệt, cơ khí, chế biến thực phẩm Đây là điều kiện thuận lợigiúp Quận tăng cường phát triển kinh tế Tình hình thực thu thuế của Quận Hai
Bà Trưng trong các năm 2011, 2012, 2013 được thể hiện ở Bảng 2.1:
Bảng 2.1: Số thực thu năm 2011,2012, 2013
Đơn vị: Triệu đồng
Trang 33Thuế TNDN 1.004.811 939.473 693.874 93,50 73,86
Trang 358 Thuế Bảo vệ môi
Trang 362.981.389 triệu đồng; năm 2012 toàn Quận thu được 2.868.756 triệu đồng bằng96,22% so với cùng kỳ năm 2011 Thực trạng trên là do khủng hoảng kinh tếnăm 2012, rất nhiều các doanh nghiệp phá sản hoặc hoạt động cầm chừng dẫnđến sự sụt giảm trong số thu trong năm 2012.
Năm 2013, tình hình thu trên địa bàn Quận có nhiều biến động, đặc biệt làkhối các Doanh nghiệp do Cục quản lý nằm trên địa bàn Quận có sự sụt giảmmạnh, do Tập đoàn Vingroup chuyển địa bàn hoạt động sang Quận Long Biên.Tuy nhiên, số thu toàn Quận năm 2013 đã đạt 100% so với năm 2012 do khốicác doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân trên địa bàn Quận do Chi cục quản lý đạt130,5% so với năm 2012 do các biện pháp quyết liệt tăng thu của Ban lãnh đạoChi cục thuế Quận Hai Bà Trưng
Về công tác xã hội: Trong 3 năm qua Quận đã hỗ trợ sửa chữa và xâydựng 193 nhà đại đoàn kết, hỗ trợ cho 973 hộ gia đình thoát nghèo, trên 25.000lao động được giới thiệu việc làm Đến nay, số hộ nghèo trong toàn quận còn1.102 hộ (chiếm 1%)
Trang 37Có thể nói, cùng với biến động chung của nền kinh tế đất nước, Quận Hai
Bà Trưng đã có những biện pháp tích cực trong quản lý, khuyến khích đối tượngnộp thuế Phấn đấu cao nhất hoàn thành kế hoạch thu do UBND Thành phố, Cụcthuế Thành phố Hà Nội đề ra
2.2 GIỚI THIỆU VỀ CHI CỤC THUẾ QUẬN HAI BÀ TRƯNG
Tên giao dịch:CHI CỤC THUẾ QUẬN HAI BÀ TRƯNG
Trụ sở chính: 14 Đoàn Trần Nghiệp - Phường Bùi Thị Xuân - Quận Hai
Bà Trưng - Hà Nội
Điện thoại: 04-3.9783.155, Fax : 04-3.9743.644
Lĩnh vực hoạt động: Quản lý - Thu thuế
2.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Sau ngày tiếp quản thủ đô (10/10/1945) phòng Thuế vụ Hai Bà Trưng rađời Năm 1960 thuế vụ nằm trong phòng Tài Chính khu Hai Bà Trưng, Năm
1983 tách ra thành phòng thuế Công thương nghiệp quận Hai Bà Trưng
Tháng 10/1990, Chi cục thuế Quận Hai Bà Trưng được thành lập trựcthuộc Cục Thuế TP Hà Nội theo Quyết định số 315/TC-QĐ-TCCB ngày21/08/1990 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính
Chi cục thuế Quận Hai Bà Trưng có chức năng quản lý thu thuế, phí, lệphí và các khoản thu khác của NSNN trên địa bàn Quận Hai Bà Trưng
Là một Quận nằm ở trung tâm Thủ đô Hà Nội, với các hoạt động kinhdoanh đa dạng và phức tạp, chủ yếu là thương mại và dịch vụ
Chi cục thuế Quận Hai Bà Trưng hiện quản lý 20 phường: Nguyễn Du, LêĐại Hành, Bùi Thị Xuân, Phố Huế, Ngô Thì Nhậm, Phạm Đình Hổ, Đồng Nhân,Đống Mác, Bạch Đằng, Thanh Lương, Thanh Nhàn, Cầu Dền, Bách Khoa,Quỳnh Lôi, Bạch Mai, Quỳnh Mai, Vĩnh Tuy, Minh Khai, Trương Định, ĐồngTâm và 4 chợ : chợ Hôm Đức Viên, chợ Đồng Tâm, chợ Mơ và chợ Hòa Bình
Trang 38Mô hình, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Chi cục thuế Quận Hai
Bà Trưng tuân theo Quyết định 503/QĐ-TCT ngày 29 tháng 03 năm 2010 củaTổng cục trưởng Tổng cục thuế
2.2.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Chi cục Thuế Quận Hai Bà Trưng
- Vị trí, chức năng
Chi cục thuế Quận Hai Bà Trưng là tổ chức trực thuộc Cục Thuế Thànhphố Hà Nội, có chức năng tổ chức thực hiện công tác quản lý thuế, phí, lệ phí,các khoản thu khác của ngân sách Nhà nước (sau đây gọi chung là thuế) thuộcphạm vi nhiệm vụ của ngành thuế trên địa bàn Quận Hai Bà Trưng theo quy địnhcủa pháp luật
Chi cục Thuế có tư cách pháp nhân, con dấu riêng, có tài khoản tại Khobạc Nhà nước Quận Hai Bà Trưng theo quy định của pháp luật
- Nhiệm vụ và quyền hạn
Chi cục thuế Quận Hai Bà Trưng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, tráchnhiệm theo qui định của Luật Quản lý thuế, các luật thuế, các qui định pháp luậtkhác có liên quan và các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau đây:
+ Tổ chức triển khai thực hiện thống nhất các văn bản qui phạm pháp luật
về thuế; quy trình, biện pháp nghiệp vụ quản lý thuế trên địa bàn Quận Hai BàTrưng;
+ Tổ chức thực hiện dự toán thu thuế hàng năm được giao; tổng hợp, phântích, đánh giá công tác quản lý thuế; tham mưu với cấp uỷ, chính quyền QuậnHai Bà Trưng về công tác lập và chấp hành dự toán thu ngân sách Nhà nước, vềcông tác quản lý thuế trên địa bàn Quận Hai Bà Trưng; phối hợp chặt chẽ với cácngành, cơ quan, đơn vị liên quan để thực hiện nhiệm vụ được giao;
Trang 39+ Tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, hướng dẫn, giải thích chínhsách thuế của Nhà nước; hỗ trợ người nộp thuế trên địa bàn Quận Hai Bà Trưngthực hiện nghĩa vụ nộp thuế theo đúng quy định của pháp luật
+ Kiến nghị với Cục trưởng Cục Thuế Thành phố Hà Nội những vấn đềvướng mắc cần sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về thuế, cácquy trình chuyên môn nghiệp vụ, các quy định quản lý nội bộ và những vấn đềvượt quá thẩm quyền giải quyết của Chi cục Thuế
+ Tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý thuế đối với người nộp thuế thuộcphạm vi quản lý của Chi cục Thuế Quận Hai Bà Trưng: đăng ký thuế, cấp mã sốthuế, xử lý hồ sơ khai thuế, tính thuế, nộp thuế, miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế,xoá nợ thuế, tiền phạt, lập sổ thuế, thông báo thuế, phát hành các lệnh thu thuế
và thu khác theo qui định của pháp luật thuế và các quy định, quy trình, biệnpháp nghiệp vụ của ngành; đôn đốc người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ nộp thuếđầy đủ, kịp thời vào ngân sách Nhà nước
+ Quản lý thông tin về người nộp thuế; xây dựng hệ thống dữ liệu thôngtin về người nộp thuế trên địa bàn Quận Hai Bà Trưng;
+ Thanh tra, kiểm tra, giám sát việc kê khai thuế, hoàn thuế, miễn thuế,giảm thuế, nộp thuế, quyết toán thuế và chấp hành chính sách, pháp luật thuế đốivới người nộp thuế và các tổ chức, cá nhân được uỷ nhiệm thu thuế theo phâncấp và thẩm quyền quản lý của Chi cục trưởng Chi cục Thuế Quận Hai BàTrưng;
+ Quyết định hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền quyết định miễn, giảm,hoàn thuế, gia hạn thời hạn khai thuế, gia hạn thời hạn nộp tiền thuế, truy thutiền thuế, xoá nợ tiền thuế, miễn xử phạt tiền thuế theo quy định của pháp luật;
+ Được quyền yêu cầu người nộp thuế, các cơ quan Nhà nước, các tổchức, cá nhân có liên quan cung cấp kịp thời các thông tin cần thiết phục vụ chocông tác quản lý thu thuế; đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý các tổ chức, cá
Trang 40nhân không thực hiện trách nhiệm trong việc phối hợp với cơ quan thuế để thựchiện nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước;
+ Được quyền ấn định thuế, thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hànhquyết định hành chính thuế theo quy định của pháp luật; thông báo trên cácphương tiện thông tin đại chúng về hành vi vi phạm pháp luật thuế của ngườinộp thuế;
+ Bồi thường thiệt hại cho người nộp thuế do lỗi của cơ quan thuế, theoquy định của pháp luật; giữ bí mật thông tin của người nộp thuế; xác nhận việcthực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế theo quy định của pháp luật;
+ Tổ chức thực hiện thống kê, kế toán thuế, quản lý biên lai, ấn chỉ thuế;lập báo cáo về tình hình kết quả thu thuế và báo cáo khác phục vụ cho việc chỉđạo, điều hành của cơ quan cấp trên, của Uỷ ban nhân dân Quận Hai Bà Trưng
và các cơ quan có liên quan; tổng kết, đánh giá tình hình và kết quả công tác củaChi cục Thuế Quận Hai Bà Trưng
+ Tổ chức thực hiện kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế vàkhiếu nại, tố cáo liên quan đến việc thi hành công vụ của công chức, viên chứcthuế thuộc thẩm quyền quản lý của Chi cục trưởng Chi cục Thuế theo quy địnhcủa pháp luật
+ Xử lý vi phạm hành chính về thuế, lập hồ sơ đề nghị cơ quan có thẩmquyền khởi tố các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật thuế theo quy định củaLuật quản lý thuế và pháp luật khác có liên quan
+ Giám định để xác định số thuế phải nộp của người nộp thuế theo yêucầu của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
+ Thực hiện nhiệm vụ cải cách hệ thống thuế theo mục tiêu nâng cao chấtlượng hoạt động, công khai hoá thủ tục, cải tiến quy trình nghiệp vụ quản lý thuế
và cung cấp thông tin để tạo thuận lợi phục vụ cho người nộp thuế thực hiệnchính sách, pháp luật về thuế