Chínhnhờ hoạt động cạnh tranh sôi động mà công chúng nhận thức rõ hơn về bảohiểm nhân thọ, chất luợng dịch vụ, chất luợng khai thác đuợc nâng lên, sảnphẩm thêm đa dạng đồng thời buộc các
Trang 1NGÂN HÀNG NHÀ N ƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO C VI T NAM B GIÁO D C VÀ ĐÀO T O ỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ỤC VÀ ĐÀO TẠO ẠO
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS Nguyễn Ngô Thị Hoài Thu
Hà Nội- năm 2019
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ SỞ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM NHÂN THỌ 6
1.1 T ổng quan về hoạt động bảo hiểm nhân thọ 6
1.1.1 Bảo hiểm và các nguyên tắc của bảo hiểm 6
1.1.2 Đặc trung của bảo hiểm nhân thọ 11
1.2 Tổng quan về hiệu quả sử dụng nguồn vốn trong doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ 22
1.2.1 Sự cần thiết sử dụng nguồn vốn hiệu quả trong doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ 22
1.2.2 Nguyên tắc sử dụng nguồn vốn trong các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ 24
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng nguồn vốn kinh doanh 32
1.3.1 Các nhân tố chủ quan: 32
1.3.2 Các nhân tố khách quan: 33
1.3.3 Nhóm các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn: 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG I: 38
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM NHÂN THỌ PRUDENTIAL VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2016-2018 40
2.1 Khái quát về Công ty bảo hiểm nhân thọ PRUDENTIAL VIỆT NAM 40
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 40
2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh trong 3 năm gần đây (giai đoạn 2016-2018) 42 2.2 Thực trạng đầu tư tại thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam 51
Trang 42.2.3 Các quy định pháp lý liên quan đến đầu tư vốn 61
2.3 Thực trạng huy động và sử dụng nguồn vốn tại Prudential 68
2.3.1 Phân tích tình hình huy động vốn tại Công ty BHNT Prudential Việt Nam 68 2.3.2 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty BHNT Prudential Việt Nam75 2.3.3 Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn của công ty BHNT Prudential Việt Nam giai đoạn 2016-2018 80
CHƯƠNG III: NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM NHÂN THỌ PRUDENTIAL VIỆT NAM 90
3.1 Mục tiêu định hướng phát triển: 90
3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn tại Công ty BHNT Prudential Việt Nam 94
3.3 Các khuyến nghị với cơ quan quản lý Nhà nước 102
KẾT LUẬN CHƯƠNG III: 118
KẾT LUẬN 119
DANH MỤC TÀI LIỆUTHAM KHẢO 121
PHỤ LỤC 123
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tóm tắt báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty BHNTPrudential Việt Nam giai đoạn 2016-2018 41Bảng 2.2: Tốc độ tăng/ giảm các chỉ tiêu trong báo cáo kết quả kinh doanh
Prudential Việt Nam giai đoạn 2016-2018 43Bảng 2.3: Tổng doanh thu phí bảo hiểm thị truờng Việt Nam giai đoạn 2016-2018 45
Bảng 2.4: Tổng doanh thu phí bảo hiểm và tổng số luợng hợp đồngthị truờngViệt Nam giai đoạn 2016-2018 51Bảng 2.5: Cơ cấu sản phẩm bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam giai đoạn 2016-
2018 51
Bảng 2.6: Danh mục đầu tu nguồn vốn của các doanh nghiệp BHNT giai đoạn2016-2018 56Bảng 2.7: Nguồn vốn đầu tu trung bình của các doanh nghiệp BHNT giai
đoạn 2016-2018 57Bảng 2.8: Quy mô các nguồn vốn huy động để sử dụng cho hoạt động đầu tu
của công ty BHNT Prudential Việt Nam giai đoạn 2016-2018 66Bảng 2.9: Tốc độ tăng truởng các nguồn huy động vốn tại công ty BHNT
Prudential Việt Nam qua các năm từ 2016 đến 2018 68Bảng 2.10: Danh mục đầu tu của công ty BHNT Prudential Việt Nam giai
đoạn 2016-2018 70Bảng 2.11: Chỉ tiêu phản ánh hoạt động đầu tu tài chính của công ty
Prudential giai đoạn 2016-2018 73Bảng 2.12: Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của công ty Prudential
giai đoạn 2016-2018 74Bảng 2.13: Cơ cấu đầu tu của các doanh nghiệp BHNT tại Anh, Pháp, Nhật
Bản trong 3 năm gần đây 81
Trang 6Biểu đồ 2.2: Thị phần tổng doanh thu phí bảo hiểm giai đoạn 2016-2018 47
Biểu đồ 2.3: Tổng số luợng đại lý trên thị truờng tính đến năm 2018 53
Biểu đồ 2.4: Lợi nhuận của các công ty BHNT năm 2018 55
Biểu đồ 2.5: Cơ cấu đầu tu nguồn vốn của các doanh nghiệp BHNT giai đoạn 2016-2018 58
Biểu đồ 2.6: Quy mô các nguồn vốn huy động cho hoạt động đầu tu của công ty BHNT Prudential Việt Nam giai đoạn 2016-2018 67
Trang 7Viết tắt Nguyên văn
Chi phí QLDN Chi phí Quản lý doanh nghiệp
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết lựa chọn đề tài nghiên cứu
Bảo hiểm là một lĩnh vực kinh doanh mang tính đặc thù, có nhu cầuđầu tu cao trong các ngành dịch vụ Hoạt động kinh doanh bảo hiểm đã xuấthiện từ lâu trên thế giới nhung chỉ mới thực sự phát triển mạnh mẽ ở ViệtNam trong khoảng 10 năm trở lại đây Cùng với quá trình hội nhập kinh tế thếgiới đang diễn ra sâu rộng và toàn diện, thị truờng bảo hiểm Việt Nam năm
2018 tiếp tục có buớc tăng truởng vững chắc, với tốc độ tăng truởng doanhthu phí bảo hiểm của toàn thị truờng uớc đạt 23% so với năm 2017, đạt doanh
số 151.001 tỷ đồng (giai đoạn 2011 2015 tăng bình quân là 23%, 2016
-2018 tăng bình quân là 21%) Đây là năm thứ 8 liên tiếp thị truờng tiếp tụcduy trì mức tăng truởng trên 20% Theo lãnh đạo cơ quan quản lý bảo hiểm,trong bối cảnh kinh tế vĩ mô đuợc dự báo tiếp tục tăng truởng tích cực, thịtruờng bảo hiểm sẽ duy trì “phong độ” này trong năm 2019
Riêng thị truờng bảo hiểm nhân thọ tiếp tục tăng truởng ấn tuợng vớitổng doanh thu năm 2018 đạt 115.982 tỷ đồng Trong đó, doanh thu phí bảohiểm uớc đạt 87.960 tỷ đồng, tăng 32,8% so với năm 2017, doanh thu từ hoạtđộng đầu tu uớc đạt 28.022 tỷ đồng, tăng 29,4% Tại lễ kỷ niệm 25 năm NgàyTruyền thống thị truờng Bảo hiểm Việt Nam mới đây, quyền Chủ tịch Hiệphội Bảo hiểm Việt Nam Trần Vĩnh Đức cũng nhấn mạnh, thị truờng bảo hiểmnhân thọ đã đảm bảo hoạt động kinh doanh an toàn và hiệu quả, đáp ứng nhucầu bảo hiểm ngày càng tăng của nền kinh tế và toàn xã hội Năng lực tàichính của các doanh nghiệp bảo hiểm tính đến cuối năm 2018 tiếp tục đuợcnâng cao, với tổng tài sản uớc đạt 302.370 tỷ đồng, tăng 25% so với năm
2017 Tổng nguồn vốn chủ sở hữu uớc đạt 50.251 tỷ đồng, tăng 25% Trong
đó, vốn điều lệ đuợc tăng thêm trong năm 2018 là 19.706 tỷ đồng, tăng 136%.Bên cạnh đó, các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đã đóng góp lớn vào sự
Trang 9Tuy vậy, tổng doanh thu phí bảo hiểm trên toàn thị truờng tính đến nayuớc tính chiếm khoảng gần 2% của GDP, trong khi tỷ lệ này tại các nuớctrong khu vực là từ 4% đến 6% Tỷ lệ doanh thu phí trên GDP của Việt Namcòn thấp trong khi tốc độ tăng truởng cao cho thấy thị truờng bảo hiểm cótiềm năng lớn với nhiều cơ hội phát triển Hiện nay trên thị truờng bảo hiểmnhân thọ ngày một sôi động hơn với sự cạnh tranh gay gắt đến từ các ông lớnnhu: Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Prudential Việt Nam, Tổng công tybảo hiểm nhân thọ Bảo Việt, Công ty TNHH Manulife Việt Nam cùng với cáccông ty khác trong và ngoài nuớc nhu: Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọquốc tế Mỹ (AIA), Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Dai-ichi Việt Nam,Công ty TNHH BHNT Aviva Việt Nam, Sự cạnh tranh mạnh mẽ thể hiệntrên tất cả các khía cạnh nhu thu hút khách hàng, tuyển dụng đại lý, đua ra sảnphẩm mới, mở rộnsg địa bàn hoạt động, khuyếch truơng quảng cáo Chínhnhờ hoạt động cạnh tranh sôi động mà công chúng nhận thức rõ hơn về bảohiểm nhân thọ, chất luợng dịch vụ, chất luợng khai thác đuợc nâng lên, sảnphẩm thêm đa dạng đồng thời buộc các doanh nghiệp phải kịp thời hoàn thiệnthêm điều khoản, quy trình nghiệp vụ, bổ sung các nghiệp vụ gia tăng giá trị,hoàn thiện mô hình tổ chức và quản lý và cải tiến chế độ thù lao cho đại lýtheo huớng phù hợp hơn với đặc điểm của kinh doanh bảo hiểm nhân thọ.
hiểm nhân thọ đã tạo ra nguồn vốn từ số phí thu đuợc truớc của khách hàng
Trang 10cùng với vốn điều lệ, lãi chưa sử dụng tương đối lớn Vấn đề đặt ra với doanhnghiệp bảo hiểm là làm sao sử dụng nguồn vốn này một cách hiệu quả Trướcthách thức đó, Công ty bảo hiểm nhân thọ (BHNT) Prudential Việt Nam nhậnthức được muốn tiếp tục tồn tại, đứng vững trên thị trường cạnh tranh khốcliệt, bên cạnh việc tập trung vào phát triển những sản phẩm mới có khả năngsinh lời cao, độ rủi ro thấp thì Prudential cần phải chú trọng đến việc sử dụng
có hiệu quả nguồn vốn được tạo ra từ phí bảo hiểm thu được của khách hàng,bảo đảm lựa chọn được những danh mục đầu tư thích hợp, an toàn cho nguồnvốn và mang lại hiệu quả kinh tế cao Đây là vấn đề sống còn đối với công tytrong giai đoạn hiện nay bởi kết quả kinh doanh thực tế cho thấy chính hoạtđộng đầu tư tài chính sẽ hình thành phần lớn lợi nhuận cho doanh nghiệp bảohiểm và trở thành xương sống nâng đỡ cho doanh nghiệp Chính vai trò to lớn
đó đã thôi thúc tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Hiệu quả sử dụng nguồn vốn tại Công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential Việt Nam”.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiệu quả sử dụng nguồn vốn là nội dung nghiên cứu không còn mới từtrước đến nay trên thế giới, trong đó có Việt Nam Nhưng đi sâu nghiên cứunguồn vốn trong doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, vốn là một tổ chức tàichính có đặc điểm nguồn vốn khác biệt so với các doanh nghiệp sản xuất kinhdoanh thông thường thì lại là thách thức của các công ty bảo hiểm Tại ViệtNam hiện nay, bảo hiểm nhân thọ được tiếp cận chủ yếu thông qua giáo trình,tài liệu giảng dạy của các trường đại học khối kinh tế như: Giáo trình quản trị
kinh doanh bảo hiểm (NXB ĐH Kinh Tế Quốc Dân - 2012) của PGS.TS.
Nguyễn Văn Định hay Giáo trình Phân tích tài chính doanh nghiệp bảo hiểm(NXB Tài Chính - 2010) của PGS.TS Hoàng Trần Hậu Phần lớn tài liệutham khảo đều tiếp cận vấn đề nguồn vốn trong doanh nghiệp bảo hiểm nhân
Trang 11(1) - Bài viết “Hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ:
An toàn là trên hết” - Tác giả Phùng Tuấn (2012) trình bày cái nhìn tổng quan
về hoạt động đầu tư nguồn vốn đang diễn ra tại các doanh nghiệp bảo hiểmnhân thọ: hiểu về bản chất, vai trò cũng của đầu tư cũng như quan điểm đầu
tư hiệu quả gắn liền với nguyên tắc an toàn trong kinh doanh bảo hiểm
(2) - Tiểu luận “Bàn về hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp bảo hiểmnhân thọ” - Ths Phạm Thị Định (2013) đề cập tới xu hướng phát triển cáchoạt động đầu tư tài chính trên thế giới và Việt Nam trong tương lai, vai tròcủa nguồn vốn đầu tư trong doanh nghiệp BHNT
(3) - Luận văn Thạc sĩ Kinh tế: “Biện pháp nâng cao hiệu quả hoạtđộng kinh doanh bảo hiểm nhân thọ tại Công ty TNHH Manulife Việt Nam” -ThS Ngô Thị Như Quỳnh (2015) có những nghiên cứu thực tế về hoạt độngkinh doanh BHNT tại một doanh nghiệp BHNT cụ thể
Từ đấy, có thể thấy rằng tại Việt Nam nói chung và trong lĩnh vực kinhdoanh bảo hiểm nhân thọ nói riêng, có rất ít đề tài nghiên cứu và đề xuất cácgiải pháp cụ thể nhằm nâng cao hoạt động sử dụng nguồn vốn trong lĩnh vựckinh doanh bảo hiểm nhân thọ
3 Mục đích nghiên cứu:
Luận văn cần giải quyết được các vấn đề cơ bản sau:
Hệ thống những vấn đề lý luận về việc hình thành nguồn vốn và đầu tư
Đánh giá thực trạng hình thành và sử dụng nguồn vốn tại Công ty bảohiểm nhân thọ Prudential Việt Nam trong những năm gần đây (giai đoạn2015-2018)
Trang 12Đề xuất các giải pháp và đưa ra một số kiến nghị nâng cao hiệu quả sửdụng nguồn vốn tại Công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential Việt Nam đến năm2022.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nguồn vốn của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọPhạm vi nghiên cứu: Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Namgiai đoạn 2016-2018
5 Phương pháp nghiên cứu:
Học viên sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp tổng hợp, thống kê để phân tích các vấn đề lý luận vàthực tiễn về nguồn vốn trong doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
Sử dụng hệ thống số liệu, biểu đồ và bảng biểu để đối chiếu, so sánh,đưa ra các nhận xét, đánh giá
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, các danh mục bảng biểu, phụ lục và tàiliệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương Trong đó:
các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
BHNT Prudential Việt Nam
BHNT Prudential
Trang 13CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ SỞ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM NHÂN THỌ
1.1 Tổng quan về hoạt động bảo hiểm nhân thọ
1.1.1 Bảo hiểm và các nguyên tắc của bảo hiểm
Bảo hiểm là lĩnh vực kinh doanh xuất hiện khá sớm trên thế giới so vớicác ngành nghề khác, theo đó một trong những đơn bảo hiểm đầu tiên đã xuấthiện vào năm 1347 tại Genoa, Italia Tuy nhiên đến nay vẫn chua có một kháiniệm thống nhất về bảo hiểm Các nhà nghiên cứu đã đua ra các khái niệmdựa trên các giác độ nghiên cứu khác nhau về bảo hiểm Sau đây là một sốkhái niệm về bảo hiểm mang tính phổ biến:
Duới góc độ tài chính bảo hiểm đuợc định nghĩa là “Bảo hiểm là mộthoạt động dịch vụ tài chính nhằm phân phối lại những chi phí mất mát khôngmong đợi”
Duới góc độ pháp lý giáo su Monique Gaullier đua ra khái niệm: “Bảohiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là nguời đuợc bảo hiểm cam đoan trảmột khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc
để cho nguời thứ ba trong truờng hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận đuợc một khoảnđền bù các tổn thất đuợc trả bởi một bên khác: đó là nguời bảo hiểm Nguờibảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theocác phuơng pháp của thống kê.”
Duới góc độ kinh doanh bảo hiểm, các công ty, tập đoàn bảo hiểmthuơng mại trên thế giới đua ra khái niệm: “Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơchế này một nguời, hay một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhuợngrủi ro cho các công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thuờng cho nguời đuợc bảohiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữatất cả những nguời đuợc bảo hiểm”
Trang 14Theo Luật Kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (2000): “Kinh doanhbảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi,theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm,trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trảtiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểmkhi xảy ra sự kiện bảo hiểm”.
Mặc dù có sự khác biệt trong các khái niệm về bảo hiểm, nhưng nhìnchung các khái niệm đều mô tả được tính chất san sẻ rủi ro của bảo hiểm,chuyển giao rủi ro thông qua cơ chế phí bảo hiểm Tóm lại: “Bảo hiểm làmột dịch vụ tài chính, thông qua đó một cá nhân hay tổ chức có quyền đượchưởng bồi thường hoặc được chi trả tiền bảo hiểm nếu rủi ro hay sự kiện bảohiểm xảy ra nhờ vào khoản đóng phí bảo hiểm cho mình hay cho người thứ bakhác thông qua hợp đồng bảo hiểm Khoản tiền bồi thường này do một tổchức (thường là công ty bảo hiểm) đảm nhận, tổ chức này có trách nhiệmtrước rủi ro hay sự kiện bảo hiểm và bù trừ chúng theo quy luật thống kê”
Bản chất của bảo hiểm và các nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm
Bản chất của bảo hiểm là việc phân chia tổn thất của một hoặc một sốngười cho tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu Bảo hiểm hoạtđộng dựa trên Quy luật số đông (the law of large numbers) Thực chất củahoạt động bảo hiểm là quá trình phân phối lại tổng sản phẩn trong nước giữanhững người tham gia bảo hiểm, nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính phát sinhkhi tai nạn, rủi ro bất ngờ xảy ra gây nên tổn thất Phân phối trong bảo hiểm làphân phối không đều, không bằng nhau, nghĩa là không phải ai tham gia bảohiểm cũng được phân phối và với cùng số tiền như nhau Việc phân phốitrong bảo hiểm dựa trên cơ sở phân phối cho số ít người tham gia bảo hiểmkhông may gặp tai nạn rủi ro bất ngờ gây nên thiệt hại, được căn cứ trên mứcthiệt hại thực tế và điều kiện bảo hiểm Như vậy, phân phối trong bảo hiểm
Trang 15không mang tính bồi hoàn, nghĩa là dù có tham gia đóng góp vào quỹ bảohiểm nhưng nếu không xảy ra sự kiện bảo hiểm cũng không được phân phối(trừ một số sản phẩn bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm nhân thọ, )
Sản phẩm bảo hiểm là một dịch vụ đặc biệt, mang những đặc trưng
> Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm có “hiệu quả xê dịch”: Bảo hiểmkhông chỉ là sản phẩm không thể động chạm được mà lợi ích của nó vớikhách hàng- đó là việc bồi thường hay chi trả tiền bảo hiểm- cũng bấp bênh
và xê dịch theo thời gian Khách hàng không thể nhận được lợi ích tức thì củasản phẩm bảo hiểm Từ thời điểm mua cho đến thời điểm thức sự biết được
“giá trị sử dụng” của sản phẩm bảo hiểm là một thời gian không xác địnhhoặc là một khoảng thời gian khá dài Tính đặc thù này được xuất phát từ việckhách hàng mua bảo hiểm những bảo vệ khi không xảy ra sự cố đối với mình.Điều này đã gây khó khăn cho quá trình thực hiện các bước marketing, nhất làkhi thăm dò sự trông đợi của khách hàng cũng như khi truyền thông về sảnphẩm và bán sản phẩm
> Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm của “chu trình sản xuất ngược”: Đặcđiểm này được thể hiện thông qua việc các doanh nghiệp bảo hiểm không
Trang 16phải bỏ vốn trươc mà nhận phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm đónggóp trước và thực hiện nghĩa vụ sau với bên được bảo hiểm, khi có sự kiệnbảo hiểm xảy ra Do vậy không thể tính chính xác hiệu quả của một sản phẩmbảo hiểm vào thời điểm bán sản phẩm Khả năng sinh lời của bảo hiểm chỉđược đánh giá trong một thời hạn trung bình và tốt nhất thường trong một thờigian dài Đặc thù này đã gây cản trở cho việc đổi mới sản phẩm bảo hiểm Bởi
vì nếu doanh nghiệp muốn tiến hành việc sửa đổi một sản phẩm vảo hiểmhoặc thay đổi biểu phí để đáp ứng tốt hơn với nhu cầu của khách hàng thìcàng khó khăn hơn trước
hiểm dù là bản gốc cũng không được cấp bằng phát minh, sáng chế và khôngđược bảo hộ bản quyền Về lý thuyết mọi công ty có thể bán hợp pháp mộtsản phẩm bảo hiểm giống nhau về quyền lợi với công ty cạnh tranh ngoại trừtên và các tuyên truyền quảng cáo Trong thực tế, các sản phẩm bảo hiểmnhân thọ đều phải xây dựng dựa trên khung quy định của Bộ Tài Chính
Như vậy, mục đích chủ yếu của bảo hiểm chính là góp phần ổn địnhkinh tế cho người tham gia bảo hiểm khi không may xảy ra rủi ro, sự kiện bảohiểm, để khôi phục cuộc sống Đồng thời, bảo hiểm là một trong các kênh tạovốn cho phát triển kinh tế xã hội đất nước
Các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm:
Nguyên tắc chỉ bảo hiểm sự rủi ro, không bảo hiểm sự chắc chắn(Fortuity not certainty): Chỉ bảo hiểm một rủi ro xảy ra bất ngờ, ngẫu nhiên,ngoài ý muốn của con người chứ không bảo hiểm một cái chắc chắn xảy ra
Nguyên tắc trung thực tuyệt đối (utmost good faith): Tất cả các giaodịch kinh doanh cần được thực hiện trên cơ sở tin cậy lẫn nhau, trung thựctuyệt đối Cả người được bảo hiểm và người bảo hiểm đều phải trung thựctrong tất cả các vấn đề
Trang 17Nguyên tắc quyền lợi có thể đuợc bảo hiểm (insurable interest): Quyền
lợi có thể đuợc bảo hiểm là lợi ích hoặc quyền lợi liên quan đến, gắn liền với,hay phụ thuộc vào sự an toàn hay không an toàn của đối tuợng bảo hiểm.Nguyên tắc này chỉ ra rằng nguời đuợc bảo hiểm muốn mua bảo hiểm phải cólợi ích bảo hiểm Quyền lợi có thể đuợc bảo hiểm có thể là quyền lợi đã cóhoặc sẽ có trong đối tuợng bảo hiểm
Nguyên tắc bồi thuờng (indemnity): Theo nguyên tắc bồi thuờng, khi
có tổn thất xảy ra, nguời bảo hiểm phải bồi thuờng nhu thế nào đó để đảmbảo cho nguời đuợc bảo hiểm có vị trí tái chính nhu truớc khi có tổn thất xảy
ra, không hơn không kém Các bên không đuợc lợi dụng bảo hiểm để trục lợi
Nguyên tắc thế quyền (subrobgation): Theo nguyên tắc thế quyền,nguời bảo hiểm sau khi bồi thuờng cho nguời đuợc bảo hiểm, có quyền thaymặt nguời đuợc bảo hiểm để đòi nguời thứ ba trách nhiệm bồi thuờng chomình
Vai trò của bảo hiểm
Với tu cách là một loại hình dịch vụ tài chính và là một trong những cơchế đảm bảo an sinh xã hội trong nền kinh tế quốc dân, vai trò quan trọng củabảo hiểm có thể đuợc kể đến nhu sau:
> Chuyển giao rủi ro: Bảo hiểm vận hành giống nhu một cơ chếchuyển giao rủi ro Cùng với việc đóng phí bảo hiểm, nguời đuợc bảo hiểm
đã chuyển giao những hậu quả rủi ro về tài chính sang công ty bảo hiểm
> San sẻ tổn thất: Bảo hiểm có tác dụng san sẻ tổn thất tài chính củamột số ít nguời cho số đông nhiều nguời Tác dụng này đã thể hiện rõ nguyêntắc lấy số đông bù số ít và nguyên tắc tuơng hỗ
> Giảm thiểu tổn thất, thiệt hại: Trong quá trình thực hiện các nghiệp
vụ, các công ty bảo hiểm luôn chú ý đến việc tăng cuờng áp dụng các biện
Trang 18pháp phòng tránh cần thiết để bảo vệ đối tượng bảo hiểm, góp phần đảm bảo
an toàn cho tính mạng, sức khỏe con người, của cải và vật chất của xã hội
> Ổn định chi phí: Khi tham gia bảo hiểm, khách hàng có thể chủ động
về mặt chi phí Bằng việc đóng những khoản phí bảo hiểm (rất nhỏ so vớinhững thiệt hại, tổn thất khi rủi ro xảy ra), khách hàng sẽ được đảm bảo antoàn bởi các công ty bảo hiểm
> An tâm về mặt tinh thần: Tham gia bảo hiểm, người được bảo hiểm
đã chuyển phần rủi ro của mình sang công ty bảo hiểm nên đã giải toả đượcnỗi sợ hãi và lo lắng về những tổn thất có thể xảy ra
> Kích thích tiết kiệm: Bảo hiểm ra đời đã tạo ra một hình thức tiếtkiệm linh hoạt, tác động đến tư duy của các cá nhân, hộ gia đình, chủ doanhnghiệp, góp phần hình thành nên một ý thức, thói quen về tiết kiệm một phầnthu nhập để có một tương lai an toàn hơn
> Đầu tư phát triển kinh tế: Một trong những đặc điểm của hoạt độngkinh doanh bảo hiểm là phí nộp trước, việc bồi thường, chi trả tiền bảo hiểmchỉ được thực hiện khi có sự kiện quy định trong hợp đồng xảy ra Do vậy,các công ty bảo hiểm có một quỹ tiền tệ tập trung khá lớn Lượng vốn này sẽđược các công ty bảo hiểm tính toán đầu tư sao cho có hiệu quả bởi lẽ khảnăng cạnh tranh của mỗi công ty bảo hiểm phụ thuộc rất lớn vào hiệu quảhoạt động đầu tư Trên cơ sở của kết quả đầu tư, các công ty sẽ có điều kiệngiảm phí để từ đó thu hút khách hàng, đóng góp vào sự phát triển của nềnkinh tế Các tổ chức bảo hiểm đầu tư vào nền kinh tế theo nhiều kênh khácnhau, trong đó có thị trường bất động sản, thị trường vốn và đặc biệt là thịtrường chứng khoán
1.1.2 Đặc trưng của bảo hiểm nhân thọ
Theo quy định tại khoản 12 Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm năm
2000 quy định: “Bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường
hợp người được bảo hiểm sống hay chết ”
Trang 19Bảo hiểm nhân thọ là sự cam kết giữa công ty bảo hiểm với người thamgia bảo hiểm mà trong đó công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả số tiền bảohiểm (số tiền bảo hiểm) cho người tham gia khi người tham gia có những sựkiện đã định trước còn người tham gia bảo hiểm có trách nhiệm nộp phí bảohiểm đầy đủ và đúng thời hạn
Bảo hiểm nhân thọ là một loại nghiệp vụ bảo hiểm cho người được bảohiểm sống hoặc chết Chính vì vậy mà bảo hiểm nhân thọ mang những đặcđiểm cơ bản sau:
> Thứ nhất, tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe con người không xác địnhđược giá trị
> Thứ hai, sự kiện bảo hiểm không không hoàn toàn gắn liền với rủi
ro Sự kiện bảo hiểm là sự kiện khách quan do các bên thỏa thuận hoặc phápluật quy định mà khi sự kiện đó xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiềnbảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm
> Thứ ba, bảo hiểm nhân thọ đáp ứng được nhiều mục đích khác nhaucủa người tham gia bảo hiểm và chỉ công ty bảo hiểm nhân thọ mới đượccung cấp loại hình bảo hiểm này Bảo hiểm nhân thọ là bảo hiểm con người,đây là thuộc tính cơ bản nhất của bảo hiểm nhân thọ so với các loại bảo hiểm
khác khác Ví dụ: bạn tham gia bảo hiểm tính mạng, sức khỏe thì bạn phải
đóng phí khi tham gia bảo hiểm Trong khoản thời gian tham gia bảo hiểmnếu bạn gặp rủi ro như tai nạn thì bạn sẽ được bên bảo hiểm chi trả các chi phíphát sinh trong việc gặp rủi ro này Trong khi các nghiệp vụ bảo hiểm phinhân thọ chỉ đáp ứng duy nhất một mục đích là góp phần khắc phục hậu quảkhi đối tượng tham gia bảo hiểm gặp sự cố, từ đó góp phần ổn định tài chínhcho người tham gia bảo hiểm thì bảo hiểm nhân thọ đã đáp ứng được nhiềumục đích đa dạng hơn Mỗi mục đích thể hiện chi tiết trong từng loại hợpđồng khác nhau Chẳng hạn, hợp đồng bảo hiểm hưu trí đáp ứng nhu cầu của
Trang 20người tham gia thông qua các khoản trợ cấp đều đặn hằng tháng, từ đó ổnđịnh cuộc sống khi già yếu, bệnh tật Hợp đồng bảo hiểm tử vong lại giúpngười được bảo hiểm để lại cho gia đình một số tiền bảo hiểm khi họ tử vong,đáp ứng nhu cầu tài chính như trang trải nợ nần, giáo dục con cái, phụngdưỡng bố mẹ,
> Thứ tư, đây là loại hợp đồng dài hạn và thường mang tính tiết kiệm.Mỗi người mua bảo hiểm nhân thọ định kỳ sẽ nộp một khoản tiền gọi là phíbảo hiểm cho công ty bảo hiểm, ngược lại công ty bảo hiểm có trách nhiệmtrả một số tiền gọi là số tiền bảo hiểm cho người được hưởng quyền lợi bảohiểm như đã thoả thuận từ trước khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra Số tiềnbảo hiểm được trả khi người được bảo hiểm đạt đến một dộ tuổi nhất định vàđược ấn định từ trước trong hợp đồng Hoặc nếu không may người này quađời, số tiền bảo hiển sẽ được chi trả cho nhân thân và gia đình người được bảohiểm ngay cả khi mới tiết kiệm được một khoản rất nhỏ thông qua việc đóngphí Số tiền này giúp những người còn sống trang trải những khoản chi phícần thiết như thuốc men, mai táng hay giáo dục, nhằm đảm bảo ổn định cuộcsống ngay cả khi người thân không may qua đời Chính vì vây, bảo hiểm nhânthọ vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính bảo vệ
> Thứ năm, bảo hiểm nhân thọ là loại hợp đồng với các điều khoản
mẫu nên yêu cầu rất cao về tính linh hoạt và tính minh bạch, đồng thời cũngmang tính chất đa dạng và phức tạp Trong mỗi hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
có thể có tới 4 bên tham gia gồm: người bảo hiểm, người được bảo hiểm,người tham gia bảo hiểm và người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm Bảo hiểmnhân thọ là một loại hợp đồng dài hạn với mức phí không thay đổi trong suốtthời gian bảo hiểm Đặc điểm này hoàn toàn khác với bảo hiểm phi nhân thọ.Nếu một khách hàng tham gia bảo hiểm phi nhân thọ, họ thường chỉ ký hợpđồng trong thời hạn một năm rồi lại tái tục với mức phí sẽ thay đổi qua các
Trang 21năm Ngược lại, trong bảo hiểm nhân thọ khách hàng vừa ký kết một hợpđồng dài hạn đồng thời vừa có thể được hưởng lãi từ đầu tư cùng với công tybảo hiểm trong thời hạn đó Ngoài ra, trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ cònthể hiện: (1) mức độ rủi ro được bảo hiểm tăng theo độ tuổi của người đượcbảo hiểm, (2) khi người được bảo hiểm không may gặp rủi ro chết, hợp đồngđược giải quyết quyền lợi và đồng thời chấm dứt luôn hiệu lực Điều này khácvới bảo hiểm phi nhân thọ, trong 1 năm hợp đồng được ký kết, người đượcbảo hiểm có thể được bồi thường nhiều lần khi các rủi ro được bảo hiểm xảy
ra gây nên tổn thất thiệt hại
Như vậy, bảo hiểm nhân thọ vừa mang đặc điểm chung của bảo hiểmcòn có những đặc điểm riêng biệt, là vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tínhrủi ro Người mua bảo hiểm cũng là người gửi tiết kiệm vào doanh nghiệp bảohiểm, chỉ khác tiền gửi ngân hàng ở chỗ đầu tư tiết kiệm thông qua hợp đồngbảo hiểm Người được bảo hiểm được bảo vệ trước các rủi ro của cuộc sống.Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có thể dùng làm vật thế chấp vay vốn hoặc bảnthân người tham gia bảo hiểm đến công ty bảo hiểm vay những khoản tiềnvay thấp hơn phí dự phòng được tính toán đựa trên bản thân hợp đồng bảohiểm của khách hàng
Phân loại các hình thức bảo hiểm nhân thọ
Bảo hiểm khi tử vong đây là loại hình bảo hiểm phổ biến nhất hiện
nay và được thành 2 trường hợp:
Bảo hiểm tử vong loại một (Bảo hiểm tử kỳ) là bảo hiểm tử vong loạimột hay còn gọi là bảo hiểm tử kỳ Loại hình bảo hiểm này có thời hạn hay làkhoản thời gian định sẵn trong hợp đồng Nếu trong thời gian tham gia bảohiểm hợp đồng còn hiệu lực mà người tham gia bảo hiểm gặp rủi ro thì sẽđược doanh nghiệp bảo hiểm chi trả một số tiền bảo hiểm tương ứng Nếu
Trang 22người tham gia bảo hiểm gặp rủi ro khi thời hạn hợp đồng đã kết thúc thìngười hưởng thụ sẽ không được nhận những khoản chi trả của doanh nghiệpbảo hiểm Loại bảo hiểm này chỉ là đảm bảo các nguồn kinh phí mai tángchôn cất bảo trợ kinh tế một khoản rất nhỏ cho người thân của người tham giabảo hiểm.
Bảo hiểm tử vong loại 2 (Bảo hiểm trọn đời) là loại bảo hiểm không cóthời hạn và bảo hiểm sẽ chi trả cho người hưởng thụ khi người tham gia bảohiểm gặp rủi ro Loại hình bảo hiểm này còn chi trả cho người tham gia bảohiểm khi thọ đến 99 tuổi Bảo hiểm trọn đời có nhiều loại hình như bảo hiểmnhân thọ trọn đời đóng phí một lần, nhiều lần hay bảo hiểm nhân thọ trọn đờiphi lợi nhuận, chia lợi nhuận Đây là loại hình bảo hiểm mang tính chất tàichính hỗ trợ cho người thân sau khi người tham gia bảo hiểm qua đời
Bảo hiểm sinh kỳ đây là loại bảo hiểm mà người tham gia sẽ chi trả
bảo hiểm theo hợp đồng để đảm bảo thu nhập khi về hưu về già Tuy nhiênnếu người tham gia bảo hiểm tử vong trước thời hạn thanh toán của bảo hiểmthì không được chi trả bất cứ khoản nào
Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp là sự kết hợp giữa bảo hiểm và tiết kiệm,
số tiền bảo hiểm sẽ được trả khi người được bảo hiểm bị chết hoặc sống đếnđáo hạn hợp đồng và thời hạn bảo hiểm được xác định trước, trong đó bảo tứctrả khi đáo hạn hợp đồng và phụ thuộc vào hiệu quả mang lại do đầu tư phíbảo hiểm mà người được bảo hiểm chọn
> Phân loại theo phương thức tham gia bảo hiểm nhân thọ:
Bảo hiểm cá nhân: Là loại bảo hiểm con người thực hiện dưới hình
thức người tham gia bảo hiểm là cá nhân Thông thường loại bảo hiểm tựnguyện đều do cá nhân tham gia bảo hiểm Theo đó cá nhân tự nguyện thamgia một hay nhiều hợp đồng bảo hiểm Với loại hình bảo hiểm này, người
Trang 23được bảo hiểm chính có thể mua thêm các sản phẩm bổ sung cho người thântrong gia đình trên cùng 1 hợp đồng
Bảo hiểm nhóm: Là loại bảo hiểm con người theo hình thức tập thể có
kèm theo danh sách cá nhân được bảo hiểm Ví dụ tập thể cán bộ, công nhânviên của doanh nghiệp đều được mua bảo hiểm sức khoẻ và tai nạn lao động,
có kèm theo danh sách các cá nhân được bảo hiểm rủi ro chết hoặc bảo hiểmtai nạn bất ngờ nhằm đảm bảo an toàn sản xuất, lao động
> Phân loại theo lợi ích của khách hàng:
Bảo hiểm rủi ro đơn thuần: Loại bảo hiểm này có khoản phí thấp, đượcbảo vệ ở mức cao
Sản phẩm rủi ro kết hợp với tích luỹ: loại bảo hiểm này thì khoản phíbảo hiểm còn mang tính chất của tiền gửi định giá
> Phân loại theo thời hạn hợp đồng:
Trong bảo hiểm con người thì bảo hiểm nhân thọ được sử dụng để chỉloại hình bảo hiểm con người có tính chất dài hạn
Ngoài các loại hình bảo hiểm nhân thọ nêu trên, còn có những sảnphẩm đi kèm cho sản phẩm chính là sản phẩm bổ sung Có những sản phẩm
có thời hạn chỉ 1 năm, sau 1 năm lại tái tục hợp đồng, ví dụ như: trợ cấp nằmviện, chi phí phẫu thuật, bảo hiểm thương tật bộ phận vĩnh viễn do tai nạn,
Phí bảo hiểm và căn cứ tính phí
> Khái niệm phí bảo hiểm:
Phí bảo hiểm là số tiền cần phải thu của công ty bảo hiểm để công tybảo hiểm đảm bảo trách nhiệm của mình khi có các sự kiện bảo hiểm đượcxảy ra đối với người tham gia bảo hiểm như: chết, hết hạn hợp đồng bảohiểm, thương tật và đảm bảo cho hoạt động của công ty Đây cũng là sự thểhiện trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm với công ty nhằm nhận được
sự bảo đảm trước những rủi ro đã được công ty bảo hiểm nhận bảo hiểm
Trang 24Phí bảo hiểm có thể nộp một lần ngay sau khi ký hợp đồng bảohiểm hoặc có thể nộp định kỳ trong năm Phí nộp một lần sẽ phải đóng góp íthơn so với tổng số chi phí đóng góp hàng kỳ do hiệu quả đầu tư của việc đóngphí một lần cao hơn và chi phí quản lý thấp hơn.
Trách nhiệm của người được bảo hiểm tại thời điểm ký hợp đồng bằngtrách nhiệm của công ty bảo hiểm tại thời điểm ký hợp đồng
Nguyên tắc tính phí được dựa trên biểu thức cân bằng giữa trách nhiệmcủa công ty bảo hiểm và trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm tính theogiá trị tại thời điểm ký kết hợp đồng Phí bảo hiểm gồm hai phần: phí thuần
và phụ phí
Phí thuần là những khoản phí dùng để chi trả cho người được bảohiểm Có rất nhiều yếu tố tác động lên phí nhưng cơ bản vẫn là:
- Tuổi thọ của người được bảo hiểm cụ thể là bảng tỉ lệ tử vong
- Lãi suất kỹ thuật: lãi suất tiền gửi tính trong cơ sở tính phí
- Ngoài ra, còn có các nhân tố khác tác động như thời hạn bảo hiểm,
số tiền bảo hiểm, cách thức nộp phí, tỉ lệ huỷ bỏ hợp đồng trước thờihạn
Phụ phí gồm:
- Chi phí khai thác như: chi cho tuyên truyền, quảng cáo, môi giới,
chi cho đại lý
- Chi phí quản lý hợp đồng trong thời hạn hợp đồng đang thu phí, kể
cả chi phí thu phí bảo hiểm
- Chi phí quản lý liên quan đến các khoản chi trả bồi thường
Trên cơ sở phí thuần, nhà bảo hiểm căn cứ vào các khoản phụ phí đểtính ra khoản phí mà người tham gia bảo hiểm phải nộp cho công ty bảohiểm
Trang 25Phí toàn phần = Phí thuần + Phụ phí
Thông thường các công ty bảo hiểm sẽ thu phí chiếm khoảng 5% phụphí, trong đó: 3% là chi phí quản lí và 2% chi phí khai thác hợp đồng.Mức phí không thay đổi trong suốt thời hạn hợp đồng bảo hiểm nhân thọ vàngười tham gia bảo hiểm có thể nộp theo tháng, quý, năm hoặc theo 2 kì trongnăm
Sự hình thành nguồn vốn trong các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ Nguồn vốn hình thành từ các hợp đồng bảo hiểm: Hợp đồng bảo hiểm
nhân thọ là sự thoả thuận bằng văn bản giữa người mua bảo hiểm và doanhnghiệp bảo hiểm (hay người bảo hiểm) Người mua bảo hiểm sẽ phải đóng phícho người bảo hiểm, còn người bảo hiểm có nghĩa vụ bồi thường hoặc chi trảtiền bảo hiểm khi xảy ra các sự kiện bảo hiểm đã được qui định trước tronghợp đồng Tính chất may rủi thể hiện ở chỗ hợp đồng bảo hiểm chỉ dược thiếtlập để bảo hiểm cho những sự kiện không chắc chắn Doanh nghiệp bảo hiểm(DNBH) có thể sẽ phải chi trả nếu rủi ro xảy ra hoặc không phải chi trả nếurủi ro không xảy ra Chính đặc trưng này của hợp đồng bảo hiểm đã làm chothời điểm thực hiện nghĩa vụ của hai bên không đồng thời xảy ra Người muabảo hiểm khi hợp đồng được ký kết sẽ phải đóng ngay khoản phí bảo hiểm,còn doanh nghiệp bảo hiểm chỉ thực hiện việc chi trả tiền khi nào rủi ro xuấthiện Chu trình tài chính của bảo hiểm là doanh nghiệp bảo hiểm thu tiềntrước trả tiền sau, gọi là chu trình sản xuất nghịch đảo
Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là hợp đồng bảo hiểm không chỉ nhằmmục đích chống lại các sự cố không may mà còn là một hợp đồng tiết kiệm,Khi một hợp đồng được ký kết sẽ tạo ra nguồn phí bảo hiểm cho doanhnghiệp bảo hiểm Nhưng do đặc thù của chu trình sản xuất nghịch đảo đã tạo
ra tính chất nhàn rỗi của nguồn thu này Do đó, doanh nghiệp bảo hiểm nhânthọ thu phí rồi tiến hành đầu tư chúng và thực hiện việc chi trả tiền khi xảy ra
Trang 26sự cố bảo hiểm hoặc đến kỳ hạn chi trả tiền tiết kiệm đã được thoả thuận Nhưvậy, nếu không xảy ra sự cố bảo hiểm thì khoản tiền mà doanh nghiệp bảohiểm trả cho họ chính là khoản tiền gửi, còn nếu xảy ra sự cố thì các khoảntiền mà doanh nghiệp bảo hiểm chi trả chính là khoản tiền bảo hiểm Trong sựvận hành của bảo hiểm nhân thọ, cam kết bảo đảm của doanh nghiệp bảohiểm luôn luôn bao gồm 2 nghiệp vụ là bảo hiểm và đầu tư tài chính.
Ta xét đến phí bảo hiểm nhân thọ mà doanh nghiệp bảo hiểm thu đượchằng năm, được chia làm 2 phần:
Phí rủi ro dành để đảm bảo cho việc chi trả bảo hiểm hàng năm
Phí tiết kiệm dành để đưa vào dự trữ và đầu tư tài chính Nó sẽ được trảlại cho người được bảo hiểm cả vốn lẫn lãi theo lãi suất kỹ thuật của doanhnghiệp BHNT
Như vậy, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thực hiện chức năng tích luỹ tàichính, nhờ đó mà các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ trở thành tổ chức thuhút nguồn vốn tiết kiệm quan trọng và cạnh tranh với các trung gian tài chínhkhác trong nền kinh tế Ngoài ra, do các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là loạihợp đồng dài hạn nên đã tạo ra nguồn vốn dài hạn cho doanh nghiệp bảo hiểmđầu tư vào nền kinh tế Tóm lại, nguồn vốn của các doanh nghiệp bảo hiểmđược hình thành thông qua việc ký kết các hợp đồng bảo hiểm
Nguồn vốn hình thành từ quỹ dự phòng nghiệp vụ của chính doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ: Do sự lệch pha giữa thời điểm thu phí bảo hiểm
và thời điểm chi trả khiếu nại nên doanh nghiệp bảo hiểm phải luôn duy trìcác khoản dự phòng để thực hiện cam kết với người đóng bảo hiểm vào bất cứthời điểm nào Khi kết thúc năm tài chính hằng năm, từ các hợp đồng màdoanh nghiệp bảo hiểm đã ký kết có thể xảy ra các sự kiện không thể biếttrước chính xác như:
Trang 27Chu trình kinh doanh nghịch đảo của bảo hiểm đã buộc doanh nghiệpbảo hiểm phải trích dự phòng từ các khoản phí bảo hiểm thu được qua cáchợp đồng bảo hiểm để đảm bảo thực hiện các cam kết trong tương lai vớingười đóng bảo hiểm Các khoản trích phòng bảo hiểm này được gọi là cácquỹ dự phòng nghiệp vụ.
Theo quy định hiện hành thì các khoản dự phòng nghiệp vụ là bắt buộcdoanh nghiệp bảo hiểm phải lập để thực hiện cam kết với khách hàng theohợp đồng bảo hiểm trong mọi tình huống Ngoài ra, các quỹ dự phòng nghiệp
vụ còn đóng vai trò "van điều chỉnh" thu, chi lợi nhuận của doanh nghiệp,đảm bảo doanh nghiệp luôn trong tình trạng phát triển và ổn định
Cuối mỗi năm tài chính, doanh nghiệp bảo hiểm trích lập các quỹ dựphòng nghiệp vụ từ quỹ tài chính bảo hiểm cho từng nghiệp vụ bảo hiểm vàcho phần trách nhiệm còn lại của hợp đồng bảo hiểm Trong năm tài chínhtiếp theo, các quỹ dự phòng nghiệp vụ thường không phải sử dụng để chi trả,bồi thường hết ngay Doanh nghiệp bảo hiểm có thể lấy từ tiền phí thu đượctrong năm để chi trả bồi thường cho phần trách nhiệm phát sinh từ những hợpđồng ký từ những năm trước Do vậy doanh nghiệp bảo hiểm sẽ luôn có một
Trang 28phần quỹ dự phòng nghiệp vụ chưa sử dụng ngay là "nhàn rỗi " có thể đem điđầu tư để sinh lời.
Nguồn vốn tự có, quỹ dự trữ, lợi nhuận sau thuế và lãi thu được từ các hoạt động kinh doanh
> Nguồn vốn tự có: Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ thường phải ký
một phần vốn điều lệ của mình theo quy định của pháp luật Vốn điều lệ củadoanh nghiệp bảo hiểm là vốn đầu tư cho sự phát triển của doanh nghiệp; là
sự cam kết mức trách nhiệm bằng vật chất của các thành viên với khách hàng,đối tác, cũng như đối với doanh nghiệp; là cơ sở để phân chia lợi nhuận cũngnhư rủi ro trong kinh doanh đối với các thành viên góp vốn Vốn điều lệ càngcao thể hiện tiềm lực tài chính mạnh mẽ của doanh nghiệp so với các doanhnghiệp khác trên thị trường, qua đó ngày càng thu hút thêm nhiều nguồn vốnđầu tư vào doanh nghiệp
Ở Việt Nam hiện nay quy định vốn điều lệ bằng 5% vốn pháp định,phần còn lại doanh nghiệp bảo hiểm có thể đem đi đầu tư sinh lời Trongdoanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, nguồn vốn này chưa phải là chiếm tỷ trọnglớn nhưng có vai trò khá quan trọng Nó là nguồn vốn tự có của doanh nghiệpnên không chịu sự kiểm soát và quy định chặt chẽ của pháp luật, do đó doanhnghiệp bảo hiểm có thể đem đầu tư vào những khoản mục có tỷ suất lợi nhuậncao nhằm thực hiện các chiến lược và mục tiêu kinh doanh
> Quỹ dự trữ: Trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp bảo hiểm
cũng như mọi doanh nghiệp khác, đều có thể gặp phải những rủi ro gây ảnhhưởng đến khả năng thanh toán, từ đó ảnh hưởng đến khách hàng.Vì vậy Nhànước yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm phải trích lập các quỹ dự trữ bắt buộc đểkhông những đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp mà còn bảo vệquyền lợi cho người tham gia bảo hiểm Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Namquy định các doanh nghiệp bảo hiểm phải trích 5% lợi nhuận sau thuế hàng
Trang 29năm để lập quỹ dự trữ bắt buộc, mức tối đa của quỹ này là 10% vốn điều lệcủa doanh nghiệp bảo hiểm
Ngoài quỹ dự trữ bắt buộc, doanh nghiệp bảo hiểm có thể thành lập quỹ
dự trữ tự nguyện Quỹ này đuợc lấy từ lợi nhuận sau thuế chua phân phối củadoanh nghiệp Doanh nghiệp bảo hiểm thành lập thêm quỹ này nhằm tăng khảnăng thanh toán của mình, thực hiện tốt các cam kết với khách hàng Các quỹ
dự trữ bắt buộc và tự nguyện của doanh nghiệp bảo hiểm thuờng chiếm tỷtrọng không lớn trong nguồn vốn đầu tu của doanh nghiệp nhung có vai tròquan trọng, góp phần tăng doanh thu và đảm bảo khả năng thanh toán củadoanh nghiệp bảo hiểm
Vào cuối mỗi năm tài chính, lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp bảo hiểmđuợc sử dụng để chia cổ tức cho cổ đông đối với công ty cổ phần, trích lậpcác quỹ đầu tu phát triển, quỹ khen thuởng phúc lợi, phần còn lại sẽ đuợc
bổ sung vào nguồn vốn đầu tu của doanh nghiệp Trong kinh doanh bảo hiểmnhân thọ, doanh nghiệp bảo hiểm còn có các quỹ đầu tu hình thành từ lợi tức
để lại và các khoản lãi của những năm truớc chua sử dụng, cũng là một trongnhững nguồn hình thành vốn đầu tu của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
1.2 Tổng quan về hiệu quả sử dụng nguồn vốn trong doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
1.2.1 Sự cần thiết sử dụng nguồn vốn hiệu quả trong doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
Đầu tu của công ty bảo hiểm là việc các doanh nghiệp sử dụng mọinguồn vốn của mình để đầu tu vào các lĩnh vực đuợc pháp luật cho phép.Doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh mặt hàng đặc biệt so với các doanhnghiệp khác, đó là “kinh doanh rủi ro” Chính vì vậy, công ty bảo hiểm là tổchức trung gian tài chính với chức năng chủ yếu là huy động luợng tiền nhỏ
Trang 30từ các khách hàng của mình (phí bảo hiểm) để lập ra một quỹ vốn rất lớn dochính họ quản lý, đây là nguồn vốn được sử dụng để đầu tư tài chính Nhưvậy, nguồn thu của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ từ phí bảo hiểm là rấtlớn, nhưng trách nhiệm bồi thường của công ty lại không phát sinh ngay màthường là trong thời gian dài (ví dụ như trong các hợp đồng Niên kim nhânthọ lên đến mấy chục năm) Do đó việc sử dụng nguồn thu này như thế nào làvấn đề rất quan trọng, ảnh hưởng đến sự phát triển của công ty bảo hiểm nhânthọ và của cả nền kinh tế nói chung.
Bên cạnh đó, mục đích của sự thiết lập các dự phòng nghiệp vụ là nhằmđảm bảo khả năng thanh toán tiền bảo hiểm trong tương lai dài Do tính chấtcủa hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là một hợp đồng tiết kiệm nên doanh nghiệpbảo hiểm cam kết sẽ trả cho người đóng bảo hiểm các khoản tiền với lãi suất
dự kiến khi tính phí bảo hiểm, được gọi là lãi suất kỹ thuật Nếu doanh nghiệpbảo hiểm không đầu tư nguồn phí bảo hiểm thu được với kết quả bằng hoặccao hơn lãi suất kỹ thuật thì doanh nghiệp bảo hiểm sẽ bị lỗ, có thể dẫn tớiphá sản Do đó yêu cầu kỹ thuật bắt buộc các doanh nghiệp bảo hiểm nhânthọ phải đầu tư quỹ dự phòng nghiệp vụ với hiệu quả đạt được ít nhất ngangbằng với lãi suất mà doanh nghiệp bảo hiểm đã cam kết thực hiện với ngườiđóng bảo hiểm Nếu kết quả đầu tư tốt hơn mong đợi, doanh nghiệp bảo hiểm
sẽ có điều kiện thực hiện đầy đủ các cam kết với người mua bảo hiểm, đồngthời có thể chia lãi cho người đóng bảo hiểm thông qua các điều khoản lãichia thêm trên hợp đồng bảo hiểm Điều này sẽ tăng tính hấp dẫn cho sảnphẩm bảo hiểm của doanh nghiệp
Đối với nền kinh tế, vốn luôn là nhu cầu cần thiết cho các doanh nghiệptrong giai đoạn phát triển kinh tế Chính các hoạt động đầu tư vốn của cácdoanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ sẽ tạo ra kênh huy động vốn quan trọng đểphát triển kinh tế xã hội Vai trò này càng quan trọng hơn đối với những nước
Trang 31hiện đang ở trong giai đoạn cần vốn như nước ta, nhất là khi nguồn vốn đượchuy động từ nội bộ nền kinh tế Ý nghĩa của hoạt động đầu tư nguồn vốntrong doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ thể hiện ở 2 mặt sau:
> Với bản thân công ty bảo hiểm nhân thọ:
Toàn bộ lợi nhuận mà công ty bảo hiểm nhân thọ thu được đều đến từhoạt động đầu tư Đầu tư gắn với các hoạt động của công ty bảo hiểm nhânthọ, từ thiết kế sản phẩm, tính phí, công bố lợi tức cho cổ đông, Doanh thu
từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm gần như chỉ đủ chi trả phí bồi hường vàhợp đồng bảo hiểm đến ngày đáo hạn Chính tỷ suất lợi nhuận từ hoạt độngđầu tư giúp công ty có điều kiện giảm phí bảo hiểm, thu hút khách hàng Nhưvậy, lợi nhuận thu được từ hoạt động đầu tư tác động đến các sản phẩm bảohiểm của công ty, ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực tài chính và khả năngcạnh tranh của công ty trên thị trường Đầu tư nguồn vốn có hiệu quả chính làphát triển quỹ tài chính của công ty bảo hiểm nhân thọ
> Với nền kinh tế:
Công ty bảo hiểm nhân thọ có quỹ tài chính lớn nhưng trách nhiệm bồithường kéo dài mà không phát sinh ngay lập tức Do vậy, các công ty bảohiểm nhân thọ đóng vai trò là một trong các tổ chức tài chính cung cấp vốnđầu tư dài hạn cho nền kinh tế, điều tiết nền kinh tế vĩ mô cũng như thúc đẩykinh tế phát triển
1.2.2 Nguyên tắc sử dụng nguồn vốn trong các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
Tại Việt Nam, theo Nghị định Chính Phủ số 43/2001/NĐ_CP ngày 01tháng 08 năm 2001 quy định chế độ tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm
và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm:
“Nguồn vốn đầu tư của công ty bảo hiểm bao gồm:
Trang 32Vốn chủ sở hửu bao gồm: Vốn điều lệ, quỹ dự trữ bắt buộc, quỹ dự trữ
tự nguyện, các khoản lãi chua sử dụng của những năm trước và các quỹ được
sử dụng để đầu tư hình thành từ lợi tức để lại của công ty
Nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm
Đối với các dự án có đầu tư rủi ro cao, công ty dùng nguồn vốn chủ sởhữu, các dự án có rủi ro ít hơn, công ty dùng nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòngnghiệp vụ bảo hiểm”
Theo điều 98 Khoản 1 của Luật Kinh doanh Bảo hiểm ban hành ngày09/12/2000 quy định rõ nguyên tắc sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp bảohiểm nhân thọ là:
“Việc đầu tư vốn của doanh nghiệp bảo hiểm phải đảm bảo an toàn,hiệu quả và đáp ứng được yêu cầu chi trả thường xuyên cho các cam kết theohợp đồng bảo hiểm”
Như vậy, để đảm bảo đầu tư an toàn và hiệu quả, doanh nghiệp bảohiểm nhân thọ cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:
Nguyên tắc an toàn là nguyên tắc hàng đầu trong việc sử dụng quỹ dựphòng nghiệp vụ đối với doanh nghiệp bảo hiểm Nó yêu cầu doanh nghiệpbảo hiểm phải đầu tư vốn một cách thận trọng nhằm hạn chế tối đa rủi rotrong đầu tư, để luôn thực hiện được cam kết với người đóng bảo hiểm khicác sự kiện bảo hiểm xảy ra
Hoạt động đầu tư luôn đứng trước những rủi ro như: Rủi ro về lãi suất;Rủi ro tín dụng; Rủi ro thị trường; Rủi ro tiền tệ; Rủi ro biến động giá trongđầu tư chứng khoán Khi tiến hành hoạt động đầu tư, các doanh nghiệp bảohiểm cần chú ý đến tất cả những rủi ro trên để hoạt động đầu tư được hiệu quảhơn
Trang 33Trước những rủi ro đó việc đảm bảo an toàn vốn là rất quan trọng, liênquan đến việc đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm, tạolòng tin cho khách hàng từ đó tăng thêm uy tín cho doanh nghiệp Nguyên tắcnày yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm phải đa dạng hoá danh mục đầu tư củamình nhằm phân tán và giảm thiểu những rủi ro có thể gặp phải, bảo đảm antoàn nguồn vốn sử dụng
Nguyên tắc an toàn được pháp luật thể chế bằng việc quy định danhmục đầu tư với những lĩnh vực có mức độ rủi ro đầu tư thấp Cụ thể, Điều 98Luật kinh doanh bảo hiểm ban hành ngày 09/12/2000 quy định doanh nghiệpbảo hiểm được đầu tư vào những lĩnh vực sau:
- Mua trái phiếu chính phủ;
- Mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp;
- Kinh doanh bất động sản;
- Góp vốn vào các doanh nghiệp khác;
- Cho vay theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng;
- Gửi tiền tại các tổ chức tín dụng
Một trong những mục tiêu quan trọng của hoạt động đầu tư là tạo ra lợinhuận Lợi nhuận cao là mục tiêu của tất cả mọi doanh nghiệp khi tham giakinh doanh trên thị trường Với doanh nghiệp bảo hiểm, lợi nhuận là rất cầnthiết giúp doanh nghiệp tăng cường sức mạnh tài chính, đứng vững trong cạnhtranh và thực hiện các chiến lược của mình Lợi nhuận tạo ra từ hoạt động đầu
tư sẽ giúp doanh nghiệp bảo hiểm có điều kiện giảm phí và mở rộng phạm vibảo hiểm
Nguyên tắc sinh lời yêu cầu đầu tư vốn của doanh nghiệp bảo hiểmphải mang lại lợi nhuận tối đa Lợi nhuận thu được từ hoạt động đầu tư sẽ chophép doanh nghiệp bảo hiểm bù đắp các khoản chi phí lớn trong kinh doanh
Trang 34trực tiếp, có điều kiện để giảm phí bảo hiểm Đối với kinh doanh bảo hiểmnhân thọ, thu nhập đầu tư là một sự bắt buộc để đáp ứng yêu cầu trả lợi tứctrên các khoản tiết kiệm của người đóng bảo hiểm.
Tóm lại, sinh lời là kết quả cuối cùng mà doanh nghiệp bảo hiểm theođuổi Tuy nhiên, muốn thu được tỷ suất lợi nhuận cao thì rủi ro khi đầu tưcũng tăng theo Vì vậy nhà quản lý đầu tư cần nghiên cứu sao cho hoạt độngđầu tư vừa đảm bảo nguyên tắc an toàn lại vừa đem lại mức lợi nhuận nhưmong muốn
Khả năng thanh toán là khả năng mà doanh nghiệp bảo hiểm có thể sửdụng các tài sản của mình để đáp ứng các trách nhiệm thanh toán đã đến hạn
Do các khiếu nại của các doanh nghiệp bảo hiểm rất khó dự đoán nên họ phảigiữ một tỷ lệ đầu tư nhất định vào các hạng mục đầu tư có tính thanh khoảncao để đảm bảo thanh toán ngay khi cần thiết Nguyên tắc đảm bảo khả năngthanh toán thường xuyên đòi hỏi doanh nghiệp bảo hiểm phải thanh toán tiềnchi trả cho người được bảo hiểm ở bất cứ thời điểm nào Muốn thế, các doanhnghiệp bảo hiểm nhân thọ phải đầu tư vào những tài sản có khả năng chuyểnthành tiền một cách dễ dàng Song song với mục tiêu lợi nhuận là mục tiêuđảm bảo khả năng thanh toán Thực tế hai mục tiêu này thường có sự đánhđổi lẫn nhau: Khi doanh nghiệp bảo hiểm muốn tăng lợi nhuận thì phải chấpnhận tăng khả năng rủi ro, nếu rủi ro thực tế xảy ra thì khả năng thanh toáncủa doanh nghiệp sẽ bị đe doạ Do đó việc đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểmphải đảm bảo có tính thanh khoản hợp lý vì doanh nghiệp bảo hiểm có thểphải thanh toán cho khách hàng bất kỳ lúc nào khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra
Tóm lại, đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ từ các nguồn vốn
nợ (như các quĩ dự phòng nghiệp vụ) phải tuân thủ hết sức nghiêm ngặt cácnguyên tắc đầu tư trên Bởi vì đây không phải là tiền của doanh nghiệp bảo
Trang 35Danh mục đầu tư Tỷ trọng đầu tư tối đa
Trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp có
bảo lãnh, tiền gửi tại các tô chức tín dụng
Không hạn chế
Cô phiếu, trái phiếu doanh nghiệp không có bảo
lãnh, góp vốn
50%
Kinh doanh bất động sản, cho vay, uỷ thác đầu tư
qua các tô chức tài chính tín dụng
40%
28
hiểm mà là khoản nợ của doanh nghiệp đối với khách hàng Tất cả các nguyêntắc đầu tư cần được áp dụng một cách linh hoạt tuỳ thuộc vốn đầu tư đượchình thành từ nguồn nào Các nguyên tắc trên đòi hỏi các doanh nghiệp bảohiểm nhân thọ cần đa dạng hoá các hạng mục đầu tư của mình, có chiến lượcđầu tư thích hợp với quy mô của doanh nghiệp cũng như phù hợp với điềukiện thị trường
Danh mục đầu tư trong các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
Nguồn vốn của công ty bảo hiểm nhân thọ có đặc điểm là thời hạn dài,nên việc phân bố nguồn vốn cũng có sự khác biệt với các ngành nghề kinhdoanh khác Theo nghị định 43/2001/NĐ-CP, ban hành ngày 01/08/2001, tỷtrọng đầu tư của công ty bảo hiểm nhân thọ có mức giới hạn như sau:
Sau đây là một số hạng mục đầu tư phô biến của các công ty bảo hiểm nhânthọ:
Đây là kênh đầu tư quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong hạng mục đầu
tư Nguyên do đây là hình thức đầu tư ngắn hạn và đơn giản nhất, an toàn lạimang tính thanh khoản cao Việc các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ ký thácnguồn ngân quỹ của mình vào các tô chức tín dụng và hưởng lãi suất có ưuđiểm là doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ có thể tính toán chính xác được cáckhoản thu nhập trong tương lai Tuy nhiên lãi suất tiền gửi trên thị trường
Trang 36luôn biến động, không ổn định do phải chịu sự điều chỉnh của nền kinh tế vĩ
mô bằng chính sách tiền tệ của ngân hàng thuơng mại Vì vậy, tiền gửi tại các
tổ chức tín dụng có kỳ hạn ngắn hoặc không kỳ hạn, do đó thời gian đầu tucũng ngắn
Đây là kênh đầu tu tài chính quan trọng của công ty bảo hiểm nhân thọ,bao gồm:
Trái phiếu công ty; do các công ty phát hành, bản chất là hình thức vay
nợ để tài trợ cho nhu vốn Tại Việt Nam, duới sự điều chỉnh của luật kinhdoanh bảo hiểm, đầu tu trái phiếu công ty có bảo lãnh của các công ty bảohiểm luôn chiếm tỷ trọng rất lớn, là nguồn doanh thu chính trong các công tybảo hiểm nhân thọ
Trái phiếu chính phủ và các cơ quan chính phủ phát hành: có mức rủi
ro thấp, cũng là thành phần quan trọng trong danh mục đầu tu
Kênh đầu tu trên có uu điểm là thu nhập thuờng xuyên và đuợc đảmbảo do tỉ lệ lãi suất thuờng đuợc ấn định bới nhà đầu tu nên có khả năng nắmđuợc dòng thu nhập dự kiến trong tuơng lai Trái phiếu thuờng do chính phủ
và các công ty lớn có uy tín phát hành nên việc thanh toán trái tức và vốn khiđáo hạn có sự đảm bảo tuơng đối chắc chắn so với các loại hình cho vay khác,đảm bảo độ an toàn vốn cao
Bên cạnh những uu điểm, kênh đầu tu trên còn bộc lộ nhuơc điểm làgiá trái phiếu biến động và chịu sự tác động rất lớn của lãi suất Điều này làmcho việc đầu tu vốn gặp khó khăn Nếu sau khi mua trái phiếu lãi suất tăng thìdoanh nghiệp bảo hiểm sẽ bị lỗ Hơn nữa, thu nhập từ trái phiếu chịu thuế chứkhông đuợc miễn nhu thu nhập từ cổ tức Đối với nguời đi vay, việc trả tráitức đuợc tính vào chi phí sử dụng vốn và chua nộp thuế thu nhập Thêm vào
đó, nếu tỉ lệ lạm phát diễn ra không theo dự kiến cũng có thể làm cho việc đầu
tu trái phiếu bị thiệt hại về giá trị vốn do lãi suất thực âm
Trang 37Như vây, đầu tư vào trái phiếu là đầu tư vào tài sản chính sinh lờithường xuyên, ổn định, mức độ rủi ro thấp, tính thanh khoản cao nên phù hợpvới nguồn vốn dài hạn hay các nguồn vốn huy động của các khoản tiết kiệm
từ các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
> Cổ phiếu
Cổ phiếu là do các công ty cổ phần phát hành, mang lại thu nhập dướidạng cổ tức, có thể tái đầu tư để tối đa hoá lợi nhuận Cổ phiếu cho phép nhàđầu tư tăng vốn tỏng dài hạn để chống lại lạm phát Đồng thời, do các cổ phẩn
đã nộp thuế thu nhập trước khi chia lợi tức nên khi các doanh nghiệp bảohiểm đầu tư vào cổ phiếu sẽ không chịu ảnh hưởng của thuế
Tuy nhiên, do sự bất ổn và dễ biến động của giá cổ phiếu làm cho việcđầu tư vào lĩnh vực này không phải là giải pháp tối ưu đối với việc sử dụngnguồn vốn của những tổ chức cần lợi suất chắc chắn như các doanh nghiệpbảo hiểm nhân thọ Việc đầu tư vào cổ phiếu ảnh hưởng đến nguyên tắc antoàn, do thu nhập cổ phiếu mang lại không ổn định Nó có thể không đượcthanh toán nếu công ty làm ăn không có lãi Vì vậy, để giảm thiểu rủi ro khiđầu tư vào cổ phiếu, nhà đầu tư sẽ mất chi phí tìm hiểu về tình hình hoạt độngcủa công ty phát hành cổ phiếu (nhất là những công ty mới thành lập vànhững công ty nhỏ) làm phát sinh chi phí thông tin cao, giảm lợi suất kỳ vọngcủa cổ phiếu
Như vậy, cổ phiếu có tính chất đặc thù là không ổn định về giá, thanhkhoản biến động và rất khó dự đoán Đầu tư cổ phiếu rủi ro cao hơn đầu tưvào các sản phẩm có lãi suất cố định
> Bất động sản
Bất động sản tạo ra các khoản thu nhập thường xuyên mang tính chấtdài hạn, như các khoản thu nhập tiền cho thuê nhà ở hoặc cho thuê văn phòng.Đối với các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ ít chịu sức ép về tiền mặt trong
Trang 38ngắn hạn thì đầu tư vào bất động sản có thể làm tăng vốn, có khả năng chốnglại lạm phát do việc tăng giá bất động sản.
Tuy nhiên, do sự lên xuống của giá cả bất động sản rất thất thường, phụthuộc vào nhiều yếu tố như: lãi suất, dân số, thị trường tài chính, tâm lý dân
cư, nên đầu tư bất động sản tương đối mạo hiểm Việc mua bán cũng nhưchuyển đổi bất động sản thành tiền mặt cũng chậm hơn so với các loại tài sảntài chính khác
> Cho vay
Công ty bảo hiểm nhân thọ có thể cho các cá nhân, tổ chức vay với điềukiện khoản vay phải có tài sản thế chấp hoặc có bảo lãnh của ngân hàng, đồngthời phải có vốn tự có lớn Những đối tượng có thể cho vay là các doanhnghiệp, cá nhân và tổ chức thiếu vốn Việc cho vay được tiến hành theo hìnhthức cho vay có thế chấp bằng tài sản hoặc thế chấp bằng hợp đồng bảo hiểmnhân thọ, tức là người đi vay là chủ hợp đồng có thể thế chấp khoản tiết kiệmđược tích luỹ trên hợp đồng bảo hiểm nhân thọ để vay lại số tiền nhất định từdoanh nghiệp bảo hiểm Thông thường lãi suất cho vay bằng lãi suất cho vayngân hàng công thêm một tỉ lệ chi phí quản lý Ưu điểm của hình thức này làthu được lãi suất cao, thời gian đầu tư dài và mức độ an toàn vốn cao Nhượcđiểm là khó cạnh tranh với các ngân hàng thương mại
> Các hình thức đầu tư khác:
Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ có thể lựa chọn hình thức đầu tư vàocác quỹ đầu tư Quỹ đầu tư là một dạng công tư cổ phẩn, phát hành và bán cổphiếu để tài trợ vốn hoạt động Quỹ đầu tư đóng vai trò là tổ chức tài chínhtrung gian với hình thức hoạt động là đầu tư tài chính nhằm mục đích lợinhuận
Ngoài ra, doanh nghiệp bảo hiểm có thể đầu tư dưới hình thức chứngkhoán phái sinh: thực hiện hợp đồng quyền chọn, hợp đồng tương lai hoặchợp đồng hoán đổi để hạn chế rủi ro đầu tư
Trang 391.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng nguồn vốn kinh doanh 1.3.1 Các nhân tố chủ quan:
> Cơ cấu vốn: việc hoạch định cơ cấu vốn hợp lý sẽ mang lại hiệu quả
sử dụng vốn được nâng cao Cơ cấu vốn không phù hợp làm mất cân đối giữatài sản lưu động và tài sản cố định sẽ dẫn đến tình trạng thừa hoặc thiếu mộtloại tài sản nào đó sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn
> Khả năng huy động động vốn: Việc huy động vốn phù hợp với nhu
cầu sử dụng của doanh nghiệp bảo hiểm, không xảy ra tình trạng thừa hoặcthiếu vốn sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Mặt khác, việc sử dụng đầu tưvốn còn chịu ảnh hưởng của tỷ lệ lãi suất huy động và thời gian huy độngvốn Lựa chọn và tìm được nguồn tài trợ vốn thích hợp là nhân tố quyết địnhtrực tiếp tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp bảo hiểm
> Chi phí kinh doanh: là yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả sử
dụng vốn Chi phí tăng làm mức phí bảo hiểm tăng theo, dẫn tới khó khăntrong việc thu bút khách hàng Khi đó, nguồn vốn hình thành từ các hợp đồngbảo hiểm bị ảnh hưởng Do vậy, các doanh nghiệp bảo hiểm luôn cố gắnggiảm thiểu chi phí kinh doanh, hạ thấp mức phí bảo hiểm, tăng sức cạnh tranhvới các công ty bảo hiểm khác trên thị trường Quá trình này khiến cho nguồnvốn của doanh nghiệp tăng nhanh hơn, tăng vòng quay của vốn, nâng cao hiệuquả sử dụng vốn của doanh nghiệp
> Khả năng lựa chọn và định hướng phương án kinh doanh tối ưu:
Việc lựa chọn phương án kinh doanh mang lại hiệu quả tối đa cho doanhnghiệp có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng vốn Các phương án kinhdoanh được xây dựng trên cơ sở tiếp cận thị trường, như vậy các sản phẩmbảo hiểm mới dễ dàng được khách hàng đón nhận, vốn lưu động luân chuyểnđều đặn, tài sản cố định được tối đa hoá, hiệu quả sử dụng vốn cao Để tìnhhình tài chính của doanh nghiệp được phát triển ổn định thì các chiến lược
Trang 40kinh doanh phải đúng hướng, phải cân nhắc thiệt hơn vì các chiến lược này cóthể gây ra sự biến động lớn lượng vốn của doanh nghiệp.
> Trình độ tổ chức và quản lý, vận hành bộ máy của doanh nghiệp: đây là yếu tố then chốt đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
bảo hiểm Bộ máy quản lý tốt, nhân sự chất lượng cao sẽ giúp hoạt động củadoanh nghiệp đạt hiệu quả cao Vai trò của người lãnh đạo trong doanhnghiệp bảo hiểm là rất quan trọng Sự điều hành quản lý phải kết hợp được tối
ưu các yếu tố, vừa giảm chi phí không cần thiết, vừa nắm bắt được cơ hội đầu
tư vốn, đem lại sự phát triển cho doanh nghiệp Do đó, doanh nghiệp bảohiểm cần nâng cao trình độ quản lý của mình, đặc biệt với nhân sự mảng tàichính, sẽ đảm bảo an toàn về vốn đồng thời tối đa hoá lợi nhuận cho doanhnghiệp trong quá trình kinh doanh Đồng thời, trình độ chuyên môn của nhânviên nếu được khai thác tối đa sẽ làm tăng năng suất lao động, tạo ra chấtlượng sản phẩm cao Điều này chắc chắn đem đến sự ổn định tài chính củadoanh nghiệp
> Các mối quan hệ của doanh nghiệp: bảo hiểm là một trong những
ngành dịch vụ Vì vậy, mối quan hệ giữa doanh nghiệp bảo hiểm với kháchhàng, với các đại lý và các đối tác giữ vai trò rất quan trọng Nó ảnh hưởngtrực tiếp tới doanh thu và lợi nhuận, thông qua đó tác động lên hiệu quả sửdụng nguồn vốn của doanh nghiệp bảo hiểm
1.3.2 Các nhân tố khách quan:
> Các chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước:
Các chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước có tác động không nhỏ tớihiệu quả sử dụng vốn doanh nghiệp Vai trò điều tiết của Nhà nước trong nềnkinh tế thị trường là điều không thể thiếu Điều này được quy định trong cácNghị quyết TW Đảng Các cơ chế, chính sách này có tác động không nhỏ tớitình hình tài chính của doanh nghiệp Ví dụ như từ cơ chế giao vốn, đánh giá