1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đảng bộ các tỉnh ven biển nam trung bộ lãnh đạo tổng khởi nghĩa tháng tám 1945 tại địa phương

203 692 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đảng Bộ Các Tỉnh Ven Biển Nam Trung Bộ Lãnh Đạo Tổng Khởi Nghĩa Tháng Tám 1945 Tại Địa Phương
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Thể loại Luận Văn
Định dạng
Số trang 203
Dung lượng 798,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

mạnh tính chủ động, linh hoạt, sáng tạo của đảng bộ các tỉnh VBNTB trongviệc vận dụng đờng lối chung của Trung ơng vào tình hình cụ thể của địaphơng, nhận định về một số vấn đề cụ thể nh

Trang 1

ý nghĩa của cuộc vận động cách mạng 1939 - 1945 hết sức to lớn,nội dung của nó rất phong phú nên dù đã có nhiều tác giả nghiên cứu, song

đến nay vẫn cha thể nói đã tìm hiểu hết mọi phơng diện của sự kiện lịch sửtrọng đại này Trong đó, nhiều vấn đề thuộc về cao trào này ở các địa phơngcần tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống

1.2 Trong quá trình vận động cách mạng 1939 - 1945 có sự đóng

góp to lớn của đảng bộ và nhân dân các tỉnh VBNTB Với tinh thần chủ

động, sáng tạo các đảng bộ ở đây đã phát động và lãnh đạo các tầng lớpnhân dân vợt qua thủ đoạn khủng bố phát xít của kẻ thù, chuẩn bị mọi mặtcho khởi nghĩa, cùng cả nớc thành lập chính quyền cách mạng trớc khiquân Đồng minh kéo vào Đông Dơng

Nghiên cứu sâu sắc và toàn diện nhằm dựng lại một cách có hệthống quá trình vận động cách mạng tại các tỉnh VBNTB, và để cùng vớicao trào chung cả nớc khẳng định tầm vóc của quá trình vận động cáchmạng 1939 - 1945, sự lãnh đạo và chỉ đạo sáng suốt của Trung ơng Đảng,

Trang 2

sự vận dụng sáng tạo, linh hoạt đờng lối của Trung ơng của các đảng bộ địaphơng, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, những nhận định sai lầm về ýnghĩa thắng lợi của cuộc vận động cách mạng này là việc làm cần thiết.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đây không phải là một vấn đề mới Nó đã đợc đề cập ở những mức

độ khác nhau qua các công trình nghiên cứu lịch sử ở trong và ngoài nớctrong hơn 50 năm qua Có thể nêu lên một số công trình viết về Cách mạngTháng Tám (cũng chính là nội dung của thời kỳ vận động cách mạng 1939 -1945):

2.1 Ngay sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công đã có tác

phẩm "Cách mạng Tháng Tám" [27] viết tháng 9-1946 của cố Tổng Bí th

Trờng Chinh (tác phẩm đợc tái bản nhiều lần) Đến tháng 4-1963 đồng chíTrờng Chinh có thêm bài giải đáp về Cách mạng Tháng Tám tại TrờngNguyễn ái Quốc Trung ơng [25] Đây là nguồn tài liệu lý luận mang tính

đúc kết những vấn đề then chốt của Cách mạng Tháng Tám

2.2 Những công trình nghiên cứu cơ bản của Ban nghiên cứu Lịch

sử Đảng Trung ơng (nay là Viện Lịch sử Đảng) và ủy ban khoa học xã hội

Việt Nam về thời kỳ 1920-1945 nh Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam (sơ thảo) (tập 1) của Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ơng [11] và Lịch sử

Việt Nam (tập 2) của ủy ban khoa học xã hội Việt Nam [124]

Đặc biệt, đối với loại sách chuyên khảo, về phía Ban nghiên cứu lịch

sử Đảng Trung ơng, với những cuộc hội thảo khoa học mà tiêu biểu nhất làcuộc tọa đàm từ ngày 29-3 đến 2-4-1963 tập họp đông đảo những nhànghiên cứu sử học ở các cơ quan nghiên cứu Trung ơng, đại biểu của cáctỉnh miền Bắc và các Hội đồng hơng miền Nam (trong đó có nhiều đồng chí

là những ngời tham gia lãnh đạo quá trình vận động cách mạng 1939 - 1945tại các địa phơng) và có 6 đồng chí ủy viên Trung ơng Đảng tham gia thảoluận, nâng tổng số đại biểu lên 178 ngời, do Ban nghiên cứu lịch sử Đảng

Trang 3

trực thuộc Trung ơng chủ trì Cuộc hội thảo này đã thảo luận hàng loạt vấn đềthuộc về phơng pháp luận nh: Định phạm vi và chia giai đoạn Cách mạngTháng Tám, tính chất và đặc điểm Cách mạng Tháng Tám, sự thay đổi chỉ

đạo chiến lợc và chủ trơng của Đảng đối với giai cấp địa chủ, t sản ,Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám [30].Sau hội nghị, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng trực thuộc Trung ơng đã cho ra đời

hai cuốn sách chuyên khảo tiêu biểu: "Tìm hiểu tính chất và đặc điểm của

Cách mạng Tháng Tám" [13] và Tìm hiểu Cách mạng Tháng Tám [12] Kỷ

niệm lần thứ 40 Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 Viện Lịch sử

Đảng phối hợp với Ban nghiên cứu lịch sử Đảng các tỉnh, thành phố trong

cả nớc xuất bản cuốn "Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945" [130] và gần đây nhất là cuốn "Lịch sử Cách mạng Tháng Tám 1945" [129] công bố thêm

những t liệu và nhận định mới về cuộc cách mạng này

Ngay từ năm 1960 Tổ Lịch sử Cách mạng Tháng Tám của Viện Sử

học Việt Nam đã xuất bản cuốn "Cách mạng Tháng Tám - Tổng khởi nghĩa

ở Hà Nội và các địa phơng" [132].

Các nhà sử học có những công trình chuyên khảo riêng nh: "Cách

mạng cận đại Việt Nam - Tổng khởi nghĩa Tháng Tám" của Trần Huy Liệu

và Văn Tạo [74], "Lịch sử Cách mạng Tháng Tám" của Văn Tạo, Thành Thế Vỹ, Nguyễn Công Bình [103]; "Lịch sử tám mơi năm chống Pháp" (quyển 2) của Trần Huy Liệu [73], "Nghệ thuật chỉ đạo khởi nghĩa vũ trang

trong Cách mạng Tháng Tám" của Nguyễn Anh Dũng [36], và "Cách mạng Tháng Tám - một số vấn đề lịch sử" [101] do giáo s Văn Tạo chủ biên đề

cập thêm nhiều khía cạnh mới về những hoạt động của công nhân, thanhniên, các tín đồ tôn giáo trong Cách mạng Tháng Tám, cùng hàng trămbài nghiên cứu khác đăng tải trên các tạp chí

Những công trình trên tuy mang tính lý luận cao song chỉ đề cập tớinhững sự kiện tiêu biểu và những vấn đề phơng pháp luận về Cách mạng

Trang 4

2.3 Trong hơn 50 năm qua, cuộc vận động giải phóng dân tộc 1939

-1945 của Việt Nam đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà sửhọc trên thế giới nh: Charles Fourniau [56], Masaya Shiraishi [141], MotooFuruta [141], [102] và gần đây là những chuyên khảo của SteinTnnesson [143] và David G.Marr [142]

Nhìn chung, các tác giả nớc ngoài đã nhận thấy tầm quan trọng của

sự kiện cách mạng này và đã có một số nhận định hợp lý Ví nh, CharlesFourniau xem đây là "điểm tập trung của phong trào dân tộc và dân chủ, haitrào lu lớn xuyên qua toàn bộ lịch sử nớc Việt Nam" [56], Stein Tnnessonnhận định: "Tuyên bố độc lập của Việt Nam năm 1945 mở ra thời kỳ phi thựcdân hóa ở châu á, tiếp đến là châu Phi" [143, 426], còn David G.Marr thìcho rằng: "Mặc dù nhỏ hơn nhiều về phạm vi, cuộc cách mạng của ngời ViệtNam xứng đáng đặt ngang hàng các cuộc Cách mạng Pháp, Nga và TrungQuốc về các kết quả của sự phê bình, so sánh Nó là một hình mẫu đầu tiêncủa cách mạng cấp tiến nổi lên trong một khung cảnh thuộc địa" [142, 10]

Tuy nhiên, do thiếu nguồn tài liệu và nhất là do lập trờng, quan điểmnên những tác giả nớc ngoài không thể có một cái nhìn toàn diện về quátrình vận động cách mạng 1939 - 1945 của Việt Nam Hơn nữa, có những tácgiả đa ra những nhận định sai lệch và gây tranh luận về những vấn đề quanyếu của cuộc cách mạng này Chẳng hạn, cũng trong tác phẩm chuyên khảo

của mình: "The Vietnamese revolution of 1945 - Roosevelt, HoChiMinh and

De Gaulle in a world at war" S.Tnnesson đa ra luận điểm "khoảng trống

quyền lực" (power vaccuum) trong tháng 8-1945 ở Việt Nam [143, 5-6] và

Trang 5

xem Chính phủ Trần Trọng Kim nh là một chính phủ tiền cách mạng

(pre-revolutionary) [143, 2] Trong tác phẩm chuyên khảo "Vietnam 1945 The quest

for power" David G.Marr lại cho rằng: "Sau ngày 9-3-1945 các sự kiện diễn

ra theo một cái đà tự phát, không có bàn tay điều khiển nào Những đảng viêncộng sản và những ngời tham gia Việt Minh ở địa phơng đã giành nhiều thắnglợi do sự ứng phó nhanh chóng của họ trớc những thay đổi đột ngột hơn là dotheo một kế hoạch điều khiển nào" [142, 6] và "Việt Nam đã kinh qua một cuộckhởi nghĩa quy mô toàn quốc, nhng cha phải một cuộc cách mạng" [142, 4]

Đó là những nhận định đã [88, 68-70], [105, 11-16], [100, 42-46] và cần tiếp tụcthảo luận trên cơ sở khách quan, khoa học, bằng chính những sử liệu phongphú và t duy khoa học

Các nhà sử học trên càng không có điều kiện với tới các sự kiện lịch

sử của các tỉnh VBNTB Riêng D G Marr tuy có dành 27 trang trong tổng

số 602 trang tác phẩm của mình [142, 431-457] để viết về khu vực này

nh-ng cũnh-ng chỉ điểm qua, khônh-ng hệ thốnh-ng

2.4 Từ sau năm 1975 Tiểu ban Lịch sử Đảng thuộc Ban Tuyên giáo

các tỉnh VBNTB có điều kiện thuận lợi để nghiên cứu sâu về quá trình vận

động cách mạng 1939 - 1945 tại địa phơng mình Đến nay tất cả 8 tỉnhthành trong khu vực đã xuất bản sách Lịch sử đảng bộ tỉnh và trên 2/3 sốhuyện có sách Lịch sử đảng bộ huyện thời kỳ 1930 - 1945 Viện Lịch sử

Đảng cũng đã phối hợp với Hội đồng biên soạn Lịch sử Nam Trung Bộ

kháng chiến xuất bản sách "Nam Trung Bộ kháng chiến (1945 - 1975)" [64].

Sách chuyên đề có "Cuộc khởi nghĩa Ba Tơ và đội du kích Ba Tơ" [16]

và các sách hồi ký nh: "Từ núi rừng Ba Tơ" [65], "Bình minh Ba Tơ" [55],

"Bớc qua đầu thù" [37], "Lên đờng thắng lợi" [89], "Những ngày tháng

Tám" [82] có đề cập đến phong trào cách mạng các tỉnh VBNTB.

Những cuốn lịch sử đảng bộ tuy đã nêu lên đợc những sự kiện cụthể, sinh động về quá trình vận động cách mạng 1939 - 1945 của địa phơng

Trang 6

nhng chỉ ở phạm vi từng tỉnh, cha đề cập đến phong trào chung có tính liênkết tiêu biểu của khu vực Mặt khác, vẫn có một vài cuốn cha phản ánh đầy

đủ các mặt của cao trào cách mạng này tại địa phơng mình Có những vấn

đề quan trọng còn bỏ ngỏ, cha giải quyết thấu đáo hoặc còn đang tranhluận Chẳng hạn, nguyên do dẫn đến tình trạng thiếu đoàn kết, nhất trí trongnội bộ những ngời cộng sản tại một số tỉnh thời gian đầu sau ngày 9-3-

1945, việc vận động tầng lớp trung gian ở các địa phơng tuy có đề cập đếnnhng vẫn còn hạn chế

Sách "Nam Trung Bộ kháng chiến (1945 - 1975)" tuy mang tính khu

vực nhng trọng tâm của sách là hai cuộc kháng chiến 1945 - 1975, quá trìnhvận động cách mạng 1939 - 1945 chỉ đợc điểm lớt qua, cha khảo cứu tổ chứccơ sở Đảng, đảng viên, Mặt trận Việt Minh, quần chúng, lực lợng vũ trang

và vũ khí của cả khu vực

Nh vậy, cho đến nay vẫn cha có công trình nghiên cứu riêng về sựlãnh đạo quá trình vận động cách mạng 1939 - 1945 của đảng bộ các tỉnhVBNTB một cách có hệ thống và có tính khái quát cao

Tuy mức độ liên quan đến đề tài luận án có khác nhau, song nhữngcông trình đã nêu trên là cơ sở quan trọng để tác giả tham khảo và kế thừatrong việc tiếp xúc các sự kiện lịch sử, nguồn t liệu và phơng pháp luận vàoquá trình thực hiện đề tài

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án

3.1 Mục đích

Phản ánh một cách toàn diện, hệ thống, toàn bộ hoạt động của đảng

bộ các tỉnh VBNTB từ 1939 - 1945 và toàn bộ phong trào cách mạng củaquần chúng dới sự lãnh đạo trực tiếp của các đảng bộ này

3.2 Nhiệm vụ

Làm rõ quá trình đảng bộ các tỉnh VBNTB chuẩn bị về mọi mặt đểtiến tới khởi nghĩa giành chính quyền: Xây dựng đảng bộ về tổ chức và t t-

Trang 7

ởng; xây dựng lực lợng chính trị của quần chúng và lãnh đạo quần chúng

đấu tranh; xây dựng lực lợng vũ trang, căn cứ địa và khả năng chớp thời cơkhởi nghĩa

Phân tích những u điểm và hạn chế của các đảng bộ trong lãnh đạoquá trình vận động cách mạng 1939 - 1945 tại địa phơng và nêu lên nhữngkinh nghiệm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của luận án

4.1 Đối tợng nghiên cứu của luận án là sự lãnh đạo của Đảng, trực

tiếp là đảng bộ các tỉnh VBNTB

4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận án:

Luận án trình bày ở mức độ hợp lý phong trào cách mạng tại các địaphơng trớc khi có sự chuyển hớng chỉ đạo chiến lợc của Đảng và có đề cậptới những nét chính của phong trào ở cả khu vực miền Trung cũng nh cả n-

ớc trong cùng thời kỳ, nhng trọng tâm của luận án là tập trung trình bày quátrình vận động cách mạng 1939 - 1945 tại một khu vực cụ thể là các tỉnhVBNTB

5 Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Tác giả luận án dựa vào quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vềphép biện chứng về khởi nghĩa vũ trang, t tởng Hồ Chí Minh và những quan

điểm của Đảng về xây dựng Đảng, vận động quần chúng, xây dựng lực lợng

vũ trang trong cách mạng dân tộc dân chủ, đặc biệt là khởi nghĩa giànhchính quyền làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu

5.2 Nguồn tài liệu

Thực hiện đề tài luận án, chúng tôi chủ yếu sử dụng t liệu trong cácsách lịch sử đảng bộ các tỉnh, huyện trong khu vực VBNTB kết hợp với cácNghị quyết, Chỉ thị của Trung ơng Đảng, Xứ ủy Trung Kỳ đã công bố trongcác cuốn văn kiện Đảng

Trang 8

Đặc biệt, để bổ sung thêm những nguồn t liệu mới cha đợc công bố,chúng tôi đã tập trung khai thác một số t liệu thu thập đợc tại các trung tâm

lu trữ ở Trung ơng: Cục lu trữ văn phòng Trung ơng Đảng, Trung tâm lu trữTrung ơng I, Trung tâm lu trữ Trung ơng III, Viện Bảo tàng Cách mạng ViệtNam, Phòng t liệu Viện Lịch sử Đảng và các phòng t liệu Tiểu ban lịch sử

Đảng thuộc các Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy từ Đà Nẵng đến Bình Thuận Kếtquả công tác su tầm này đã đem lại cho chúng tôi một khối lợng các loại tàiliệu: Nghị quyết, Chỉ thị, cả biên bản kiểm thảo về Cách mạng Tháng Tám

ở một số tỉnh, một số lớn hồi ký cha công bố, khai thác hết, một số tài liệucủa mật thám Pháp liên quan đến phong trào cách mạng các tỉnh VBNTB Tuy nhiên, đối với loại hồi ký và tài liệu của mật thám Pháp chúng tôi rấtthận trọng trong việc sử dụng

Trong luận án, chúng tôi đã trích dẫn trực tiếp 81 đầu sách, 54 đơn

vị tài liệu còn ở dạng lu trữ, 8 hồi ký cha công bố

Chúng tôi cũng thực hiện các cuộc phỏng vấn các nhân chứng lịch

sử để tìm hiểu, xác minh các sự kiện: đồng chí Đặng Thí nguyên Bí th tổchức cộng sản tại nhà đày Buôn Ma Thuột trong hai năm 1944 - 1945, Trungtớng Nguyễn Đôn, nguyên tỉnh ủy viên Quảng Ngãi năm 1945, các đồngchí Nguyễn Thúy, nguyên tỉnh ủy viên Quảng Nam năm 1945, Đoàn Bá Từ,cán bộ tiền khởi nghĩa thành phố Đà Nẵng, đồng chí Tố Hữu phụ trách Banvận động thống nhất đảng bộ Trung Kỳ năm 1945

Đồng thời, chúng tôi cũng trực tiếp trao đổi với các đồng chí trởngtiểu ban nghiên cứu lịch sử Đảng thuộc Ban Tuyên giáo các tỉnh thànhtrong khu vực về những vấn đề lịch sử từ 1939 - 1945 tại địa phơng: Các

đồng chí Ngô Gia Lầu (Quảng Nam - Đà Nẵng), Tạ Thanh (Quảng Ngãi),Trần Minh ảnh, Nguyễn Đỗ Quyên (Bình Định), Nguyễn Niên (Phú Yên),

Lê Văn Thỉnh (Khánh Hòa), Trần Ngọc Quế (Ninh Thuận), Trần Mạnh Tờng(Bình Thuận)

Trang 9

5.3 Phơng pháp nghiên cứu

Trong luận án chúng tôi kết hợp phơng pháp lịch sử và phơng pháplôgic để tái hiện lại phong trào Đồng thời, chúng tôi sử dụng phơng phápthống kê để thống kê, định lợng các tổ chức Đảng, quần chúng, số lợng tùchính trị ở các địa phơng và phơng pháp so sánh để so sánh phong trào giữacác tỉnh trong khu vực VBNTB và giữa các tỉnh này so với cả nớc

6 Đóng góp khoa học của đề tài

ớc khi bớc vào tổng khởi nghĩa

- Làm rõ thêm quá trình xây dựng Đảng về tổ chức tại các tỉnh từ

1930 - 1945 và quá trình xây dựng Đảng về t tởng trớc khi bớc vào tổngkhởi nghĩa

- Làm rõ hơn hoạt động của các đảng bộ trong công tác vận độngcác giới cứu quốc thời kỳ tiền khởi nghĩa tại các địa phơng Vấn đề vận

động những tầng lớp trung gian trong thời gian này và vai trò của các chiến

sĩ tù chính trị cộng sản khi trở về địa phơng

- Đa ra một số nhận định chung về phong trào cách mạng ở các tỉnhqua các thời kỳ (1930-1931, 1932-1935, 1936-1939, 1939-1945), nhấn

Trang 10

mạnh tính chủ động, linh hoạt, sáng tạo của đảng bộ các tỉnh VBNTB trongviệc vận dụng đờng lối chung của Trung ơng vào tình hình cụ thể của địaphơng, nhận định về một số vấn đề cụ thể nh hoạt động của đội du kích BaTơ, nguyên do mất đoàn kết trong nội bộ những ngời cách mạng ở một sốtỉnh, về khả năng chớp thời cơ khởi nghĩa ở từng tỉnh.

7 ý nghĩa thực tiễn của đề tài

7.1 Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần quan trọng vào

công tác giáo dục truyền thống cách mạng, việc nghiên cứu và giảng dạylịch sử Đảng nói chung, lịch sử Cách mạng Tháng Tám 1945 nói riêng mộtsách sinh động, phong phú

7.2 Kết quả nghiên cứu của luận án cũng sẽ gợi mở những suy nghĩ

để có thể vận dụng vào công cuộc đổi mới hiện nay, trực tiếp nhất là đối vớicác tỉnh VBNTB

8 Bố cục của luận án

Luận án đợc trình bày trong 171 trang, chia làm: Phần mở đầu,

3 chơng, gồm 8 tiết, và kết luận Ngoài ra luận án còn có 8 phụ lục, 2 bản

đồ và 1 danh mục tài liệu tham khảo (gồm 143 đơn vị tài liệu)

Trang 11

Chơng 1

Đảng bộ các tỉnh ven biển nam Trung Kỳ

thực hiện chủ trơng chuyển hớng chỉ đạo chiến lợc

Điều kiện địa lý - nhân văn

Các tỉnh VBNTK hay Nam Trung Bộ (từ 1884 đến tháng 4-1945 gọi

là kỳ Sau tháng 4-1945 Chính phủ Trần Trọng Kim gọi là bộ Trong luận

án, chúng tôi dùng tên gọi Nam Trung Kỳ hoặc Nam Trung Bộ tùy thuộcvào sự thay đổi này) nằm dọc theo ven biển, chạy dài từ đèo Hải Vân đếnhết huyện Hàm Tân tỉnh Bình Thuận (đèo Hải Vân là ranh giới địa lý nằm

đoạn giữa các tỉnh miền Trung Huyện Hàm Tân tỉnh Bình Thuận là ranhgiới chính trị quy định cực nam của xứ Trung Kỳ theo hiệp ớc Patenôtrenăm Giáp Thân 1884 ký kết giữa thực dân Pháp và triều đình Huế) bao gồmthành phố Đà Nẵng và các tỉnh Quảng Nam, Quãng Ngãi, Bình Định, PhúYên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận

Diện tích tự nhiên toàn khu vực 41.695 km2, dân số năm 1943 là3.039.100 ngời [140, 27] Dân tộc ít ngời chiếm hơn 5% dân số trong vùng,gồm có ngời Chăm, Ba Na, Cơ Tu, Ve, Gié Triêng, Cor, Rắc Lay Trong

đó dân tộc Chăm chiếm số đông hơn cả

Một phía đầu khu vực ở gần kinh đô của Nam Triều và một phía gần

đất thuộc địa Nam Kỳ của thực dân Pháp nên các tỉnh này có một vị trí địachính trị quan trọng

Trang 12

Do kề núi, sát biển, hình thái núi rừng phong phú, lại lắm sông vànhiều nhánh núi đâm ra biển làm cho đồng bằng các tỉnh nhỏ, hẹp Địa giớigiữa các tỉnh đợc xác định chủ yếu theo lu vực các sông, đèo, núi nên giaothông không đợc thuận lợi nh các tỉnh trong Nam và ngoài Bắc.

Ngoài thuận lợi về đờng biển, các tỉnh VBNTK còn có quốc lộ 1 và

đờng sắt xuyên Việt chạy dọc Từ quốc lộ 1 có nhiều tuyến đờng ngangchạy lên các tỉnh Tây Nguyên

Nhân dân các tỉnh VBNTK đã xây dựng đợc cho mình một đời sốngvăn hóa có những sắc thái riêng trong lối ứng xử, trong dân ca và nhạc vũ

Do khác hẳn với ngoài Bắc là địa bàn tụ c và khai thác lâu đời của ngờiViệt, cũng khác với trong Nam đợc khai phá muộn hơn, lối sống ngời nôngdân vùng này chất phác, cần kiệm, không quá câu nệ, lễ nghi, nhng cũngkhông quá phóng khoáng Nhìn chung, ngoài tinh thần yêu nớc và tính năng

động cách mạng, con ngời ở đây cứng cỏi, trực tính, thiên về biện bác lý sự,trọng việc nghĩa, có ý thức cộng đồng, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau lúc khókhăn hoạn nạn Những đức tính này ít nhiều tác động trực tiếp hoặc gián tiếp

đến nét riêng trong quá trình đấu tranh cách mạng của địa phơng Tính năng

động cách mạng không chỉ thể hiện trong những lần đi đầu các phong tràoyêu nớc của những giai đoạn trớc (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX) mà cònthể hiện trong suốt các thời kỳ cách mạng từ 1930 - 1945 Đó là thái độ chủ

động đến với Đảng, tự đi tìm Đảng, đấu tranh theo đờng lối của Đảng; quyết

đoán, chủ động, sáng tạo trớc những thời điểm có tính bớc ngoặt của lịch sử,thẳng thắn, dứt khoát trong đấu tranh t tởng đối với các lập trờng chính trị cảilơng, đế quốc Tuy nhiên, cũng do trực tính, nhiều khi đến nóng nảy, thái quátrong hoạt động cách mạng, dẫn đến có quá "tả" hoặc gay gắt trong đấutranh t tởng nội bộ mà sự kiện Tuy Hòa - Phú Yên và vụ xử tử oan đồng chí

Võ Xán ở Bình Định trong Cách mạng tháng Tám mà luận án sẽ đề cậptrong chơng 3 là một dẫn chứng

Trang 13

Chính sách thống trị của thực dân Pháp và Nam triều.

Cũng nh nhân dân toàn khu vực miền Trung, nhân dân các tỉnhVBNTK phải chịu trực tiếp cả ách áp bức của phong kiến và thực dân

Về chính trị, khác với Nam Kỳ là đất thuộc địa, Bắc Kỳ là đất "nửabảo hộ", các tỉnh từ Quảng Nam đến Bình Thuận nằm trong xứ Trung Kỳ là

đất "bảo hộ" của thực dân Pháp (trừ Đà Nẵng là đất "nhợng địa" của Pháp

từ 1888 với tên gọi Tourane) Triều đình Huế vẫn còn đợc duy trì nhngquyền hành thực sự đều nằm trong tay viên khâm sứ Pháp

Thực dân Pháp tăng cờng bộ máy quân sự, cảnh sát, tòa án và nhà

tù Ngoài trại giam ở mỗi phủ huyện và nhà tù tỉnh (có tỉnh đến 2 nhà tù)còn có nhà tù cho toàn xứ và hàng loạt căng an trí để trấn áp mọi hoạt độngyêu nớc của nhân dân

Về kinh tế, hàng loạt chi nhánh công ty t bản Pháp đợc lập nên để vơvét các nguồn lợi kinh tế và độc quyền kinh doanh Đà Nẵng là nơi tậptrung nhiều nhất các công ty của Pháp, tiếp đến là Quy Nhơn Chỉ riêng tỉnhBình Định từ 1887 - 1925 đã có hơn 40 công ty và hãng buôn của t bản Pháp

T bản Pháp và cố đạo Nhà Chung đua nhau chiếm đất lập đồn điền,khai thác nguyên vật liệu ở các tỉnh Tại Quảng Nam t sản Pháp chiếm gần7% diện tích đất canh tác để lập đồn điền ở Bình Định bình quân số ruộng

đất của một ngời Pháp trong năm 1930 gấp 160 lần bình quân số ruộng đấtcủa dân trong tỉnh ở Quảng ngãi cố đạo Nhà Chung chiếm đến 8.266 ha đất

Thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân về mặt giáo dục, đầu

độc về mặt văn hóa Kết quả "khai hóa" của thực dân Pháp chỉ là "90%nhân dân Nam Trung Bộ mù chữ, 10.000 dân mới có 60 ngời học tiểu học,

1 ngời học trung học, mỗi tỉnh ở đồng bằng chỉ có 1 đến 3 trờng tiểu học, từQuảng Nam đến Bình Thuận chỉ có 1 trờng trung học quốc lập, ở Quy Nhơnmỗi năm thu nhận 30 - 40 học sinh" [64, 113]

Trang 14

Các tệ nạn xã hội đợc bọn thực dân khuyến khích để đầu độc đờisống tinh thần nhân dân Năm 1933 riêng dân Bình Định đã phải "tiêu thụ"1.200 kg thuốc phiện bằng tiền 10.000 tấn thóc [44, 17] Theo thống kê củaPháp, trong năm 1929 tại khu vực thị trấn Tam kỳ (Quảng Nam) trong1.500 dân đã có đến 472 ngời nghiện thuốc phiện [49, 11] Trong khi đó, ởmỗi tỉnh chỉ có một bệnh viện vài mơi giờng, mỗi huyện chỉ có một trạm xá,thuốc men chủ yếu chỉ là aspirine và quinin.

Cùng với chính sách thực dân xâm lợc của thực dân Pháp là chínhsách phản động của Nam triều Chế độ phong kiến triều Nguyễn sử dụngluật Gia Long (đến 1943 có luật sửa đổi đôi chút của Bảo Đại) làm "phép n-ớc" khống chế mọi quyền tự do dân chủ của nhân dân Dới "phép nớc" là

"lệ làng" do cờng hào địa phơng lũng đoạn, ràng buộc áp chế ngời dân

Giai cấp địa chủ bóc lột nông dân bằng cách cớp đoạt ruộng đất, phátcanh thu tô, cho vay nặng lãi Địa chủ ở Quảng Nam chiếm đến 85.220 haruộng đất, bằng nửa số ruộng đất trong tỉnh Số địa chủ ở Quảng Ngãi tuy

có ít hơn nhng vẫn chiếm tới 56% ruộng đất (38.000/67.800 ha) [8, 19] ởBình Định bình quân chiếm hữu ruộng đất của một địa chủ gấp 12 lần so vớimột nhân khẩu bần nông, hơn 4 lần so với một nhân khẩu trung nông [44, 21].Bằng lối bóc lột cho vay nặng lãi địa chủ ở đây có nơi cho vay tiền lấy lãimột năm từ 13-15%

Nhìn một cách tổng quát, xu hớng chính trị của địa chủ ở các tỉnhVBNTK không giống nhau, lại thờng phân hóa qua các phong trào yêu nớc

và cách mạng Nhất là trong thời kỳ 1941 - 1945 trừ một số lừng chừng cònphần đông biết tỏ ra thức thời, có xu hớng ngả theo cách mạng ở các tỉnhcực Nam Trung Kỳ tính chất trên của địa chủ càng rõ

Đại bộ phận nông dân bị cớp đoạt ruộng đất phải đi cày rẻ cho địachủ, chịu địa tô cao, phải đi vay trả lãi nặng Họ còn bị nộp thuế nặng nề

Đời sống của nông dân đã khốn khổ, đời sống công nhân càng khốn khổ

Trang 15

hơn Qua con số nắm đợc ở một số ngành, số lợng công nhân ở các tỉnhVBNTK không thể dới 20.000 ngời Họ phải làm việc trong điều kiện antoàn lao động hết sức tồi tệ, đồng lơng quá thấp kém

Nhìn chung, dới ách áp bức của thực dân - phong kiến, đời sống củamọi tầng lớp nhân dân lao động đều khó khăn Nguyện vọng độc lập, tự do,hạnh phúc trở thành nhu cầu bức thiết của tất cả mọi ngời

Các phong trào yêu nớc chống Pháp trớc khi có Đảng lãnh đạo:

Từ khi thực dân Pháp nổ súng xâm lợc nớc ta đến trớc ngày Đảng ra

đời, nhân dân các tỉnh VBNTB liên tiếp dấy lên nhiều phong trào yêu nớcchống Pháp Mở đầu là cuộc chiến tranh vệ quốc từ tháng 9-1858 đến tháng3-1860 của nhân dân Quảng Nam sát cánh cùng quân đội dới sự chỉ huycủa Nguyễn Tri Phơng chặn đứng âm mu đánh nhanh thắng nhanh để tiến rakinh thành Huế của quân xâm lợc Pháp Những năm 1885 - 1888, cùng vớiquân dân cả nớc, nhân dân các tỉnh VBNTK tích cực hởng ứng phong tràoCần Vơng Mặc dù thực dân Pháp có sự tiếp tay đắc lực của ngụy NamTriều (ngụy quyền Đồng Khánh) đàn áp mạnh vào cuối năm 1887 đầu năm

1888 nhng phong trào vẫn còn kéo dài ở Phú Yên mãi đến năm 1900.Những năm đầu thế kỷ XX, tại các tỉnh này dấy lên phong trào Duy Tân vàhởng ứng phong trào Đông Du, tiếp đến là phong trào chống thuế trong năm

1908 và vụ mu khởi nghĩa do Thái Phiên và Trần Cao Vân lãnh đạo trongnăm 1916 ở vùng đồng bào các dân tộc ít ngời cũng liên tiếp nổ ra nhữngcuộc vũ trang chống Pháp

Những phong trào yêu nớc trên tuy thất bại do thiếu một đờng lối

đúng đắn, thiếu một đảng tiên phong lãnh đạo song nó đã thể hiện đợc tinhthần quật khởi của nhân dân và có ảnh hởng đến phong trào cách mạng về sau

Đặc biệt, nhân dân các tỉnh VBNTK có sự cố kết với nhau để chống

kẻ thù chung Đây là một truyền thống tốt đẹp hình thành nên tinh thần

đoàn kết, giúp đỡ, phối hợp hành động giữa các tỉnh trong cao trào vận

động giải phóng dân tộc

Trang 16

1.1.2 Các phong trào đấu tranh cách mạng dới sự lãnh đạo của các đảng bộ

Sự ra đời của các đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam

Nửa cuối những năm 20 của thế kỷ XX tình hình chính trị chungtrong nớc có những chuyển biến mới Ba tổ chức cách mạng ra đời: HộiViệt Nam cách mạng thanh niên, Tân Việt cách mạng đảng, Việt Nam quốcdân đảng Cả ba tổ chức đều đa chơng trình chính trị của mình ra tranh thủquần chúng nhng chỉ có Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và Tân Việtcách mạng đảng phát triển đợc ở các tỉnh VBNTK ở Phú Yên Việt Namquốc dân đảng tuy có gây đợc cơ sở nhng rất ít đảng viên, chỉ hoạt độngthời gian ngắn Sau đó, một số đảng viên của đảng này chuyển sang gianhập Tân Việt và Thanh Niên

Hội Việt Nam cách mạng thanh niên phát triển mạnh ở các tỉnhQuảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên Năm 1926 Quảng Ngãithành lập tỉnh bộ, tiếp đến Quảng Nam đầu năm 1928 Tại các tỉnh nàyThanh Niên phát triển đợc cơ sở ra các phủ huyện và vận động đợc một sốcuộc đấu tranh lớn

Tổ chức Tân Việt có mặt từ Đà Nẵng đến Bình Thuận Đầu năm

1928 Tỉnh bộ Tân Việt Quảng Nam thành lập Cuối năm 1928 Ban liên tỉnh

Tứ Định thành lập chỉ đạo hoạt động của Tân Việt tại các tỉnh Quảng Ngãi,Bình Định, Phú Yên, Kontum, nhng hoạt động của Tân Việt tại những tỉnhnày sớm bị bể vỡ và phân hóa, nhiều đảng viên Tân Việt chuyển sang gianhập Thanh Niên Tân Việt chỉ thật sự phát triển khá hơn ở các tỉnh cựcNam Tháng 4-1929 Ban liên tỉnh Ngũ Trang bao gồm Ninh Thuận, BìnhThuận, Khánh Hòa cùng với Lâm Viên và Kontum đợc thành lập Ban liêntỉnh này trực thuộc sự lãnh đạo của Kỳ bộ Nam Kỳ và đợc củng cố vữngmạnh hơn Ban liên tỉnh Tứ Định

Trang 17

Nhìn chung, hai tổ chức chính trị có xu hớng cộng sản dễ thâm nhậpvào các tỉnh VBNTK Việt Nam quốc dân đảng là một đảng của giai cấp tsản dân tộc không phát triển đợc Đảng Bảo Hoàng do Phạm Quỳnh vận

động thành lập hợp tác với chính phủ thực dân Pháp bị quần chúng vạchmặt phản động nên không thành ngay từ đầu Việt Nam tiến bộ dân hội vớitính chất quốc gia cải lơng do một số nhân sĩ trí thức miền Trung đứng ravận động thành lập tại Đà Nẵng tháng 6 - 1926 bị Toàn quyền Đông Dơngbuộc phải giải tán ngay sau lúc chào đời, khiến các nhà yêu nớc phải dứtkhoát từ bỏ hoạt động chính trị công khai để đi vào con đờng cách mạng bấthợp pháp chống lại chế độ thuộc địa Pháp Đây là một điều kiện để Đảngcộng sản dễ dàng phát triển ảnh hởng vào những tỉnh này

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, nửa đầu năm 1930sang đầu năm 1931 từ Quảng Nam đến Bình Thuận đều hình thành đợc hệthống đảng bộ, gồm 5 ban tỉnh ủy (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên,Khánh Hòa, Ninh Thuận), 1 thành ủy (Đà Nẵng), 11 huyện ủy, trên 169 chi

bộ với khoảng 620 đảng viên

Trang 18

Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam thành lập tại các tỉnh đánh dấu

b-ớc phát triển quan trọng của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc tại khuvực này Từ đây phong trào cách mạng các tỉnh VBNTK đã đợc đặt dới sựlãnh đạo thống nhất của Đảng cộng sản, chấm dứt sự phân tán của các tổchức cách mạng, chuyển phong trào yêu nớc của nhân dân các tỉnh này lênthành phong trào cách mạng dới ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xãhội của Đảng cộng sản Việt Nam

Phong trào đấu tranh cách mạng dới sự lãnh đạo của các đảng bộ

Phong trào cách mạng 1930 - 1931

Vừa mới ra đời các đảng bộ đã nhanh chóng phát triển tổ chức cơ sở

đảng và các tổ chức quần chúng Công hội đỏ, Nông hội đỏ, Đoàn thanhniên, Hội phụ nữ, Đoàn học sinh, Hội cứu tế đỏ làm nòng cốt cho phongtrào đấu tranh của quần chúng

Căn cứ vào đờng lối chung của Đảng đề ra trong Chánh cơng vắn

tắt, Sách lợc vắn tắt, Lời kêu gọi của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc nhân dịp thành

lập Đảng, và Luận cơng chính trị, các đảng bộ tuyên truyền trong quần chúng

về nhiệm vụ cách mạng, sứ mệnh lịch sử của Đảng, vạch trần bộ mặt của đếquốc Pháp và phong kiến tay sai Đồng thời vận động quần chúng đấu tranh đòinhững quyền lợi dân sinh, dân chủ thiết thực hàng ngày và đa ra những khẩuhiệu tuyên truyền cao hơn nh tịch ký ruộng đất của địa chủ ngoại quốc và địachủ bổn xứ chia cho bần, cố trung nông; đánh đổ đế quốc Pháp và Nam Triềuphong kiến, Việt Nam hoàn toàn độc lập, chính quyền về tay công nôngbinh

Sự phát triển mạnh mẽ của các tổ chức cơ sở đảng và các tổ chứcquần chúng đã đẩy phong trào cách mạng lên một giai đoạn mới Hàng loạtcuộc đấu tranh nổ ra và giành đợc thắng lợi Nổi bật là đợt đấu tranh kỷniệm ngày Quốc tế lao động 1-5-1930 và tiếp đến là đợt đấu tranh hởng ứngphong trào cách mạng đang lên của công nông Nghệ - Tĩnh, kỷ niệm ngày

Trang 19

Quốc tế chống chiến tranh (1-8) với các khẩu hiệu "giảm thu thuế", "ngàylàm 8 giờ và tăng lơng", "phản đối bắt lính", "phản đối quốc trái", "phản đối

đem lính An Nam đi ngoại quốc và đem lính ngoại quốc bắn giết dân AnNam", "bồi thờng cho những ngời bị nạn trong các cuộc biểu tình ở TháiBình, Nghệ An, Châu Đốc" [9, 41]

Sau đợt đấu tranh ngày 1-5-1930, các tỉnh tổ chức mít tinh biểu tìnhrầm rộ với cờ giong trống thúc công khai tuyên truyền đờng lối của Đảng và

đa yêu sách cho chính quyền Nam Triều tại địa phơng Tại các tỉnh QuảngNgãi, Khánh Hòa, Ninh Thuận, các đảng bộ tổ chức biểu tình thị uy có tự

vệ hỗ trợ

Quảng Ngãi là nơi có phong trào mạnh nhất Các cuộc đấu tranh ở

đây đã lên cao trào với hàng chục ngàn quần chúng tham gia, diễn ra dớinhiều hình thức từ hội họp mít tinh trong thôn xóm đến tuần hành thị uytrong xã, tổng cho đến lên huyện, lên tỉnh có tự vệ đỏ tổ chức thành từng

đội đi bảo vệ, tấn công huyện đờng, phá nhà lao, trừng trị bọn việt gian Bộmáy chính quyền từ thôn xã lên đến tổng của Nam Triều ở nhiều vùng nôngthôn bị tê liệt

Cũng trên đà phát triển của phong trào đấu tranh trong tỉnh, các tổchức quần chúng: Công hội đỏ, Hội thanh niên, học sinh phát triển mạnh,

tổ chức cơ sở đảng đợc củng cố và phát triển khắp các phủ, huyện, đợc tôiluyện qua quá trình lãnh đạo quần chúng đấu tranh

Đặc điểm các cuộc đấu tranh ở Quảng Ngãi là ngay từ đầu đã ở thếcao trào Về diễn biến tình hình chính trị Trung Kỳ giai đoạn này thực dânPháp nhận xét, do tác động của phong trào ở Nghệ - Tĩnh, đảng bộ QuảngNgãi đã "mở rộng phạm vi hoạt động, đốt cháy giai đoạn và tìm cách xung

đột ngay với chính quyền" [83, 29-30]

Nếu Nghệ - Tĩnh thành lập Xôviết thì Quảng Ngãi cha đặt ra việcthành lập chính quyền công nông, mặc dầu bộ máy chính quyền Nam Triều

Trang 20

từ thôn xã đến tổng ở nhiều vùng nông thôn đã bị tê liệt ở những vùng này,dới sự lãnh đạo của các chi bộ đảng hoặc Nông hội đỏ, quần chúng đã bắt

đầu giữ quyền làm chủ từng phần, công khai hội họp, tổ chức tự vệ, quản lýtrật tự thôn xã

Thực dân Pháp và Nam Triều điên cuồng khủng bố phong trào ởQuảng Ngãi Hơn 6.000 ngời bị giam giữ, hơn 1.000 ngời bị kết án

Từ tháng 6 đến tháng 8-1931 phong trào lại bùng lên ở hai tỉnh Bình

Định và Phú Yên Địch mở chiến dịch đánh phá khốc liệt Cơ quan Phân xứ

ủy Nam Trung Kỳ tại Đà Nẵng và đảng bộ các tỉnh đều bị vỡ, liên lạc giữa

Xứ ủy Trung Kỳ đóng ở Vinh với các tỉnh Nam Trung Kỳ bị đứt

Với cao trào 1930 - 1931 Đảng đã thâm nhập vào trong các tầng lớpnhân dân Sở mật thám Trung Kỳ đã thừa nhận rằng: "Lúc nào tinh thần dânchúng cũng thiên về các cuộc biểu tình chống chính phủ và do đó họ nh sẵnsàng tham gia một cách tích cực với Đảng cộng sản" [75, 71]

Thành công của các đảng bộ trong hai năm 1930 - 1931 còn ở chỗcác đảng bộ chủ động, linh hoạt khi vận dụng chủ trơng của cấp trên vàohoàn cảnh cụ thể của địa phơng

Về xây dựng lực lợng, các đảng bộ không chỉ tổ chức, xây dựng lựclợng nòng cốt trong công nông mà còn mở đợc mặt trận đoàn kết rộng rãihơn ở Quảng Ngãi, Bình Định các đảng bộ đi sâu tuyên truyền phát độngcả trong công chức, học sinh, tiểu thơng, tiểu chủ, t sản dân tộc, trung phúnông, và có đối sách cụ thể với bọn tay sai nhằm phân hóa, cô lập kẻ thù.Với chủ trơng: trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ của Xứ ủy, đảng bộQuảng Ngãi đã kiến nghị hoãn việc thi hành [8, 85]

Khác với chủ trơng của Xứ ủy, chi bộ nhà lao Hội An đã thể hiện

đ-ợc những quan điểm đúng với trí thức: phê phán tình trạng thiếu trí thứctrong đảng khiến cho "trình độ trí thức của Đảng kém thì sự tuyên truyền

Trang 21

huấn luyện cũng theo đó mà thiệt thòi", phê bình lối tranh đấu bạo độngthái quá "làm cho quần chúng sinh ra t tởng đột tiến và hiếu sát, mất hẳntính chất quần chúng" Đối với địa chủ, phú nông, tài liệu của chi bộ lu ý:

"Bọn phú nông bao giờ cũng có tính chất cách mệnh, vì đang bị mấy lần ápbức về kinh tế, chính trị, nên thấy cuộc cách mệnh bớc đầu tiên họ hăng háilắm, xúc phạm đến quyền lợi họ là họ phản ngay" [17]

Tuy nhiên, trong quá trình lãnh đạo quần chúng đấu tranh, đảng bộcác tỉnh vẫn còn bộc lộ những thiếu sót Hình thức và khẩu hiệu đấu tranhcủa các đảng bộ quá "tả" Đảng bộ Quảng Ngãi và Bình Định quá bộc lộlực lợng, lại sử dụng các hình thức đấu tranh của thời kỳ tiền khởi nghĩa nhbiểu tình, thị uy có vũ trang trừng trị bọn tay sai, phá công sở nên địch dễ

có cớ đàn áp và phong trào bể vỡ nặng Về khẩu hiệu, lẽ ra chỉ nên tậptrung vào những quyền lợi nhu yếu trớc mắt, các đảng bộ lại nêu luôn cảcác khẩu hiệu quá cao thuộc về mục tiêu tuyên truyền lâu dài trong cáccuộc đấu tranh nh "Việt Nam độc lập", "Chính quyền về tay công nôngbinh" Những thiếu sót, ấu trĩ này là một bài học cho các cấp đảng bộ vềviệc vận dụng phơng pháp đấu tranh thích hợp cho các thời kỳ sau

Thời kỳ bảo vệ và khôi phục lực lợng cách mạng 1932 - 1935

Do bị địch đàn áp khốc liệt trong hai năm 1930 - 1931, nhiều đảngviên bị bắt, trận địa cách mạng những năm 1932 - 1935 chủ yếu chuyển vàotrong các nhà tù Tại những nơi này các chiến sĩ cộng sản giữ vững ý chí,củng cố t tởng, một số nơi thành lập đợc chi bộ, tổ chức học tập văn hóa,chính trị, tuyên truyền giáo dục cho những quần chúng cách mạng cùng bị

tù, tổ chức các cuộc đấu tranh chống chế độ lao tù khắc nghiệt (chỉ riêng ởQuảng Nam trong năm 1931 đã có tới 8 cuộc)

ở bên ngoài lúc này số đảng viên và quần chúng cách mạng còn lạirất ít nhng vẫn giữ vững tinh thần, bí mật liên lạc với nhau gây dựng lại

Trang 22

phong trào, mặc dù việc hoạt động lúc này hết sức khó khăn do chính sáchkhủng bố trắng của đế quốc Pháp với sự trợ lực của Nam Triều.

Bên cạnh tinh thần chủ động công tác của các đảng viên phải kể đếnlòng trung thành với Đảng của quần chúng cách mạng vốn đợc Đảng tuyêntruyền giáo dục trong những năm 1930 - 1931 Mặc dù tổ chức đảng bị bể

vỡ, thiếu vắng ngời lãnh đạo, nhng quần chúng vẫn hớng về Đảng Điều

đáng lu ý là có nơi quần chúng cách mạng tự động thành lập tổ chức tìm bắtliên lạc với Đảng Trờng hợp nhóm thanh niên cách mạng làng An Hòahuyện Tam Kỳ (Quảng Nam) là một điển hình Nhóm thanh niên này không

bị bắt trong phong trào 1930 - 1931 đã tự duy trì hoạt động và chuyển lênthành tổ cứu tế đỏ hoạt động theo Điều lệ và Chánh cơng của Đảng Tổ chứccứu tế đỏ này còn giúp các xã lân cận lập thêm 14 tổ cứu tế đỏ thu hút trên

70 hội viên Một số hội viên vận động đợc một số cuộc đấu tranh của côngnhân làm đờng sắt tại Tam Kỳ, có cuộc thu hút đến 500 công nhân thamgia Tổ chức cứu tế đỏ An Hòa phái ngời vào Quảng Ngãi tìm tổ chức Đảng,nhờ thế đợc kết nạp và chuyển thành chi bộ đảng vào cuối năm 1932 Đây

là chi bộ đầu tiên ở Quảng nam sau thời kỳ 1930 - 1931 Cũng từ chi bộ này,Phủ ủy Tam Kỳ và Tỉnh ủy lâm thời Quảng Nam lần thứ hai đợc lập lại

Từ giữa năm 1932 một số tù chính trị mãn hạn trở về cùng vớinhững đảng viên còn lại ở địa phơng từng bớc khôi phục phong trào Cuốinăm 1932 sang giữa năm 1933 đã có một số tỉnh lập lại đợc cơ quan lãnh

đạo Tỉnh ủy Quảng Ngãi lập lại đầu năm 1933 Tỉnh ủy lâm thời QuảngNam lập lại giữa năm 1933 Ban cán sự tỉnh Khánh Hòa lập năm 1932 Từcuối năm 1933 mối liên hệ giữa các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình

Định, Phú Yên, Khánh Hòa đã nối lại thông suốt

Đầu năm 1934 đại biểu 5 tỉnh trên chủ động mở hội nghị tại huyệnSơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi lập ra Ban địa phơng chấp ủy Trung Trung Kỳ

do đồng chí Phạm Xuân Hòa bí th Tỉnh ủy Quảng Ngãi làm bí th

Trang 23

Tháng 4-1935 Thờng vụ Trung ơng Đảng cử đồng chí Tống VănTrân về giúp các tỉnh Nam Trung Kỳ chính đốn lại tổ chức, chuyển Ban địaphơng chấp ủy Trung Trung Kỳ thành Ban cán sự Trung Nam của Xứ ủyTrung Kỳ Trong lúc cha lập lại đợc Xứ ủy Trung Kỳ, Ban cán sự này tạmthời chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ơng Đảng

Mặc dù trong thời kỳ khủng bố trắng của kẻ thù, nhiều cuộc đấutranh vẫn liên tiếp nổ ra

Nông dân liên tiếp đấu tranh chống cờng hào, su cao, thuế nặng, đòichia lại công điền và các quyền lợi dân sinh, dân chủ khác Phần lớn cáccuộc đấu tranh này do đảng viên ở cơ sở hớng dẫn

Công nhân cũng có nhiều cuộc đấu tranh với hàng trăm ngời thamgia Chỉ riêng ở Quảng nam từ 1932 - 1935 đã có hàng chục cuộc: ngày 14-2-1933 nổ ra cuộc đấu tranh của 150 công nhân làm đờng xe lửa đoạnTrà Lý - Bích Ngô do một quần chúng cứu tế đỏ vận động đòi phát lơng

đúng kỳ hạn và giảm giờ làm, đợc sự hởng ứng của công nhân trong ngành

từ Phú Vang (Thừa Thiên) đến Bình Sơn (Quảng Ngãi), nâng số ngời thamgia lên đến gần 1.000 Trong 2 ngày 20 và 21-2-1933, 250 công nhân mỏvàng Bông Miêu đấu tranh đòi phụ cấp đắt đỏ và bảo hiểm xã hội thắng lợi.Ngày 24-2-1933 công nhân bốc vác bến tàu Đà Nẵng đấu tranh thắng lợi.Tiếp đến, 500 công nhân làm ga xe lửa Trờng Xuân (ga Tam Kỳ) đợc mộtquần chúng cảm tình cách mạng vận động đấu tranh, bắt cai thầu, đòi tănglơng, chống đánh đập

ở miền núi, xuất hiện các cuộc đấu tranh quyết liệt của đồng bàodân tộc thiểu số, trong đó có hai lần đồng bào dân tộc ở Trà My (QuảngNam) đánh vào đồn lính có tiếng vang lớn Trung ơng Đảng ghi nhận:

"Nhiều phần tử dân chúng hậu tiến đã bị lôi cuốn vào làn sóng cách mạng,

đặc sắc nhất là những cuộc vũ trang tranh đấu rất dũng cảm của dân Mọi ởQuảng Nam, Quảng Ngãi và Kontum chống đế quốc Pháp và tụi quan lại

địa chủ phú hào An Nam" [52, 17]

Trang 24

Nhiều tổ chức quần chúng đợc hình thành, hoạt động dới sự lãnh

đạo của các tổ chức cơ sở đảng Song, trong lúc phong trào đang trên đàkhôi phục lại bị thực dân Pháp đánh phá Đồng chí Tống Văn Trân và các

đồng chí trong Ban cán sự Trung Nam của Xứ ủy Trung Kỳ lần lợt bị địchbắt Đến cuối năm 1935, tổ chức Đảng từ Quảng Nam đến Khánh Hòa lầnlợt bị vỡ, mất liên lạc với Trung ơng

Tuy vậy, sự hồi phục của phong trào những năm 1932 - 1935 đãchứng tỏ sức phát triển bền bỉ, liên tục của các tổ chức đảng và quần chúng,tạo ra những nhân tố tích cực làm tiền đề cho việc phát triển lực lợng cáchmạng những năm 1936 - 1939

Thời kỳ vận động dân chủ 1936 - 1939

Tháng 7-1936 Hội nghị một số cán bộ lãnh đạo Đảng họp ở ThợngHải (Trung Quốc) định ra mục tiêu trớc mắt là đấu tranh chống chế độ phản

động thuộc địa; chống phát xít và chiến tranh; đòi tự do dân chủ, cơm áo vàhòa bình Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế

Đông Dơng (sau chuyển thành Mặt trận dân chủ Đông Dơng) và chủ trơngchuyển hình thức hoạt động bí mật sang công khai hợp pháp và nửa hợp phápnhằm tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân bớc vào thời kỳ đấu tranh mới

Xứ ủy lâm thời Trung Kỳ lập lại, đề ra nhiệm vụ phát động phongtrào đấu tranh theo chủ trơng chung của Đảng Cuối năm 1935 đến giữa năm

1936 Tỉnh ủy lâm thời các tỉnh Quảng Ngãi và Phú Yên lập lại Bình Định lậplại Tỉnh ủy cuối năm 1937 Sau đó, các tỉnh này tiến đến thành lập Ban cán sựliên tỉnh Quảng Nam - Quảng Ngãi - Bình Định - Phú Yên do đồng chíNguyễn Trí làm bí th (tiếp sau là đồng chí Nguyễn Chánh) Khánh Hòa đếntháng 8-1938 mới lập đợc Tỉnh ủy lâm thời Ninh Thuận, Bình Thuận vẫn chalập lại đợc Tỉnh ủy Cuối năm 1938 Xứ ủy Trung Kỳ phân công đồng chí TrầnCông Xứng triệu tập hội nghị thành lập Ban cán sự liên tỉnh Ninh Thuận - BìnhThuận - Lâm Viên, phân công cán bộ phụ trách từng tỉnh

Trang 25

Đợc các tổ chức cơ sở đảng vận động, nhiều tổ chức quần chúng vàcác hội ái hữu, biến tớng ra đời đem lại những kết quả tích cực trong việctập họp quần chúng, gây ý thức đoàn kết trong những ngời cùng ngànhnghề, cùng sở thích, từ đó tuyên truyền hớng dẫn họ đấu tranh Nhất là ởnông thôn, hình thức biến tớng với những hoạt động thiết thực đợc đông đảonhân dân tham gia Chỉ riêng trong 4 huyện của Phú Yên đã có đến 59 hội

ái hữu và tổ chức biến tớng Một số nơi tổ chức cứu tế đỏ đợc duy trì, củng

cố, phát triển thêm hội viên Lúc này các loại sách báo công khai, kể cảsách báo của Đảng đợc phát hành rộng rãi Các đảng bộ tận dụng thuận lợinày để tuyên truyền phát động quần chúng, đẩy mạnh phong trào đấu tranhtheo các khẩu hiệu: Hoan hô mặt trận bình dân Pháp, Ban hành các quyền

tự do dân chủ, cải thiện đời sống nhân dân, toàn xá chính trị phạm, chốngphát xít, chống chiến tranh

Thời kỳ này đảng viên tuy không nhiều nhng chỗ mạnh của tổ chức

đảng là đã nắm đợc một lực lợng chính trị đông đảo trong quần chúng thôngqua các tổ chức quần chúng và các hội ái hữu, hội biến tớng Có nơi chỉ quatuyên truyền giáo dục của đảng viên hoặc qua sách báo công khai, quần chúng

đã tự giác lập thành tổ chức Tại Hội An, một quần chúng nhờ đọc đợc sáchbáo công khai đã đem những hiểu biết ra vận động bạn bè lập Ban vận độngcách mạng Ban này làm nhiệm vụ tuyên truyền cộng sản và bí mật tổ chứcnhững nhóm cốt cán gọi là "chi bộ" Tại Đà Nẵng, một quần chúng Cônghội đỏ sau khi bị địch bắt giam, nhờ vốn liếng học hỏi trong tù lúc trở về xemmình đã là đảng viên tự thành lập chi bộ, hớng dẫn quần chúng đấu tranh

Phong trào đấu tranh ở các tỉnh chuyển sang một giai đoạn phát triểnmới Mở đầu là phong trào vận động tổ chức Đông Dơng đại hội theo chủtrơng chung của Đảng Dới sự chỉ đạo của các tổ chức cơ sở đảng và các

đảng viên, nhân dân các tỉnh hăng hái tham gia phong trào Các cuộc hộihọp thảo luận những yêu cầu dân sinh, dân chủ diễn ra công khai khắp nơi

Trang 26

Hoảng sợ phong trào đang lên mạnh ở Nam Kỳ, tại Trung Kỳ,Khâm sứ Graffeuil ra lệnh cấm Đông Dơng đại hội trên toàn xứ Trung Kỳ.Mặc dầu vậy, với cuộc vận động này các đảng viên đã bớc đầu hình thành

đợc một Mặt trận dân chủ lấy công nông làm nòng cốt, do Đảng lãnh đạo,phát huy đợc ảnh hởng của Đảng

Tiếp theo phong trào Đông Dơng đại hội là cuộc đón tiếp J.Godardphái viên của chính phủ Mặt trận bình dân Pháp sang điều tra tình hình sinhsống của nhân dân Đông Dơng

Căn cứ chủ trơng của Trung ơng Đảng, tổ chức đảng các tỉnh mộtmặt vận động nhân dân làm bản dân nguyện lấy chữ ký, tổ chức đónGodard để biểu dơng thực lực và ý chí của quần chúng lao động, mặt kháccũng giải thích cho nhân dân không đặt hy vọng vào "lòng tốt" của Godard

Bọn thống trị ở địa phơng tìm cách hớng Godard không đến nhữngnơi nhân dân tập họp Tuy vậy, tại nhiều nơi nhân dân vẫn đón đợc để đadân nguyện Phong trào đón Godard trở thành một cuộc biểu dơng lực lợng

to lớn cha từng thấy ở các tỉnh từ Quảng Nam đến Bình Định (các tỉnhQuảng Ngãi, Bình Định huy động đến hàng vạn quần chúng) khiến bọn cầmquyền lo sợ phải đa Godard từ Quy Nhơn lên thẳng Đà Lạt rồi vào Sài Gòn,

bỏ kế hoạch đi các tỉnh còn lại của Nam Trung Kỳ Các tổ chức cơ sở đảng

ở những tình này vẫn lãnh đạo nhân dân viết dân nguyện cử đại biểu mangvào Sài Gòn trao cho Godard

Cùng với hình thức tổ chức quần chúng đa dân nguyện đón Godard,các đảng bộ còn mở các hiệu sách báo và các cơ sở làm tài chính cho Đảng,

đồng thời chủ trơng đa một bộ phận cán bộ tham gia vào Đảng Xã hội Pháp,tiếp xúc với nhóm 1884 của Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Khôi nhằm thựchiện chính sách mặt trận và liên hiệp tạm thời của Đảng

Tiếp sau hai cuộc vận động quần chúng kể trên, đảng bộ các tỉnhhai lần vận động bầu cử, tranh cử thắng lợi cho các ứng cử viên của Mặt

Trang 27

trận dân chủ vào Viện dân biểu Trung Kỳ và cuộc vận động đấu tranh thắnglợi chống thực dân Pháp tăng thuế trong năm 1938, đòi miễn thuế cho dânnghèo, giảm thuế môn bài cho tiểu thơng, tiểu chủ và xóa nợ, bỏ hẳn thuế

điền thổ cho nông dân những vùng bị thiên tai

Những năm 1936 - 1939 tại các tỉnh VBNTK còn liên tiếp nổ rahàng loạt cuộc đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ khác Công nhân đấu tranh

đòi tăng lơng giảm giờ làm, chống cúp phạt, đánh đập, đòi tự do lập nghiệp

đoàn Trong nông dân nổi lên các cuộc đấu tranh đòi chia lại công điền,công thổ, chống phù thu, lạm bổ (thu thêm, phân bổ thêm thuế), chống cớpruộng đất; tiểu thơng đấu tranh đòi giảm thuế môn bài; công chức đấu tranh

đòi tăng lơng; đồng bào dân tộc đấu tranh chống cớp đất lập đồn điền, bấthợp tác với thực dân Pháp

Nổi nhất trong số các cuộc đấu tranh của công nhân có cuộc đấutranh phối hợp toàn ngành của công nhân đờng sắt từ Đà Nẵng đến NhaTrang ngày 10-7-1937 làm cho toàn bộ tuyến đờng sắt Đà Nẵng, Nha Tranggần nh bị tê liệt Tiếp đến, 950 công nhân khuân vác các hãng buôn ở ĐàNẵng bãi công làm đình đốn hoàn toàn việc vận chuyển hàng hóa buộc cácchủ hãng buôn phải nhợng bộ Tháng 7-1937 lại nổ ra cuộc đấu tranh của1.000 công nhân đồn điền mía phối hợp với 300 công nhân nhà máy đờng

Đồng Bò ở Phú Yên làm chủ nhà máy thiệt hại nặng vì thiếu nguyên liệu,sản xuất đình đốn Phần lớn các cuộc đấu tranh của công nhân nổ ra không

do các đảng bộ trực tiếp chỉ đạo mà do chịu ảnh hởng của phong trào chung

do Đảng vận động

Các cuộc đấu tranh của nông dân cũng diễn ra mạnh mẽ Nhiều cuộc

có sự phối hợp nhiều làng nh cuộc đấu tranh ngày 8-4-1938 của nông dâncác làng An Thái, Phớc Lộc (Tam Quan), Tân Thạnh, Phụng Du, Cự Lễ, ChợCát (Hoài Nhơn) tỉnh Bình Định vây đánh bọn thuế đoan; nông dân cáclàng An Hòa, An Xuân, Đắc Nhơn nhất loạt đấu tranh chống chủ đồn điềnPháp và lý hơng cớp ruộng đất kéo dài trong hai năm 1937 - 1938 ở Quảng

Trang 28

Nam nông dân làng Bình An, Tích Phớc (Tiên Phớc) chống chủ đồn điền

c-ớp đất, chống lý hơng nhũng lạm kéo dài trong hai năm 1938 - 1939

Nổi bật hơn cả trong số các cuộc đấu tranh của đồng bào dân tộcmiền Tây các tỉnh VBNTK thời kỳ này là phong trào Săm Brăm khởi đầu từPhú Yên Khi phong trào lan ra các tỉnh thì chịu ảnh hởng của những chiến sĩcộng sản bị tù tại các nhà tù, căng an trí các tỉnh tuyên truyền, hớng dẫn[29] Đồng bào dân tộc tham gia phong trào này không nạp thuế, không đixâu, không hợp tác với Pháp Nhiều nơi hình thành những vùng vũ trang đánhPháp kéo dài cuộc chiến đấu đến những năm 1940 Có nơi nh Minh Long, BaTơ (Quảng Ngãi) đồng bào dân tộc Hơ Rê, Cơ Dong giữ đợc phong trào đếntận Cách mạng Tháng Tám 1945 Hàng chục đồn Pháp và châu lỵ miền Tâycác tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên bị tấn công

Không chỉ có các cuộc đấu tranh vũ trang quyết liệt, thời kỳ này cònxuất hiện hai cuộc đấu tranh bằng hình thức nhờ ngời viết đơn kêu kiện của

đồng bào dân tộc ở Phớc Sơn (Quảng Nam) Đây là một nét mới của phongtrào đấu tranh ở miền núi

Đảng bộ các tỉnh còn tổ chức các cuộc mít tinh nhân những ngày lễthành lập Đảng, 1-5, 14-7 để tuyên truyền đờng lối của Đảng và biểu dơnglực lợng Lớn nhất là cuộc mít tinh của gần 2.000 đảng viên và quần chúngcách mạng do phủ ủy Tam Kỳ tổ chức ngày 14-7-1939

Nhìn lại thời kỳ 1936 - 1939, đảng bộ các tỉnh VBNTK biết tranhthủ những điều kiện hợp pháp, thông qua việc hình thành các tổ chức biến t-ớng, các hội quần chúng để mở rộng việc giáo dục và tập họp lực lợng, hoặctùy từng lúc từng nơi kết hợp các hình thức đấu tranh với nhau Đặc biệt,các đảng bộ đã phối hợp đợc cả hai trận địa tranh đấu trong và ngoài nghịtrờng, vừa liên minh bên trên, vừa liên minh bên dới, cô lập bọn phản động,tranh thủ những ngời tiến bộ và lng chừng, tranh thủ cả số quần chúng trong

Trang 29

các đảng phái cải lơng để có thêm lực lợng đồng minh, miễn là có lợi chophong trào mặt trận dân chủ rộng rãi do công nhân làm nòng cốt.

So với thời kỳ 1930 - 1931 và 1932 - 1935, đặc điểm phong trào thời

kỳ 1936 - 1939 là có nhiều cuộc đấu tranh hơn, số ngời tham gia đông hơn,

có nhiều cuộc nổ ra dài ngày có tính dây chuyền liên tỉnh, phối hợp toànngành và phong trào phát triển rầm rộ cả trong công nhân, nông dân, trong

đồng bào dân tộc thiểu số Trong lúc các cuộc đấu tranh ở đồng bằng cótính ôn hòa hơn thì ở miền núi các cuộc đấu tranh tự phát của đồng bào dântộc chủ yếu là bạo động vũ trang quyết liệt Phơng pháp và khẩu hiệu đấutranh do các đảng bộ đa ra mềm dẻo, vừa phải, nhờ đó phát triển đợc phongtrào đúng hớng, và đấu tranh giành đợc một số quyền lợi thiết thân về dânsinh, dân chủ mà địch khó có cớ đàn áp

Đảng bộ các tỉnh đều thành công trong việc khôi phục lại hệ thống

tổ chức cơ sở đảng Đến giữa năm 1939 trong 8 tỉnh thành (Thành ủy ĐàNẵng trực thuộc Xứ ủy) VBNTK đã có 74 chi bộ, 355 đảng viên (trong tổng

số hơn 600 đảng viên của Xứ ủy Trung Kỳ [135]) nhng cơ sở đảng và số ợng đảng viên phát triển không đều

l-Tỉnh/

Thành phố Tỉnh ủy Huyện ủy Chi bộ SL đảng viên

Trang 30

Bên cạnh những thành công, đảng bộ các tỉnh còn bộc lộ những

nh-ợc điểm:

Một mặt, các đảng bộ cha nắm vững nguyên tắc về tổ chức lãnh đạocủa Đảng theo phơng châm lấy hoạt động công khai che dấu hoạt động bímật, lấy hoạt động bí mật lãnh đạo hoạt động công khai, lấy hoạt động kinh

tế che dấu hoạt động chính trị, lấy hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp chedấu hoạt động không hợp pháp Hầu hết các đảng bộ chỉ lo tận dụng điềukiện thuận lợi để hoạt động công khai, không chú ý việc xây dựng bộ phận

tổ chức đảng hoạt động bí mật, cha tính đến phơng án chuyển sang hoạt

động bất hợp pháp một khi tình hình đã thay đổi

Mặt khác, các đảng bộ cũng cha quan tâm đúng mức công tác pháttriển đảng trong các phần tử trung kiên xuất hiện từ phong trào quần chúngnên nhìn chung cơ sở đảng vẫn còn bị bó hẹp, số lợng đảng viên ít Cả côngtác xây dựng Đảng về chính trị cũng không đợc chú ý đúng mức Cả mộtthời gian dài các đảng bộ không có chơng trình huấn luyện bài bản về lý luậncơ bản, về công tác đảng và công tác quần chúng cho tất cả các đảng viên

Do những thiếu sót chủ yếu nêu trên nên khi chiến tranh thế giới thứhai nổ ra, thực dân Pháp ở Đông Dơng thực hiện chế độ phát xít thì hầu hết

đảng viên ở các tỉnh lúng túng trong việc chuyển hớng hoạt động Thực tiễnlãnh đạo quần chúng đấu tranh những năm 1930 - 1939 đã để lại cho đảng bộcác tỉnh những kinh nghiệm quý báu về việc vận dụng thích hợp các phơngpháp hoạt động, về tinh thần liên kết hành động giữa đảng bộ các tỉnh, về khaithác những khả năng cách mạng của quần chúng để đa quần chúng vào tổ chức

và từng bớc hớng quần chúng đấu tranh vì mục tiêu chung do Đảng đề ra

1.2 Sự chuyển hớng chỉ đạo chiến lợc của Đảng

1.2.1 Tình hình chính trị trong nớc và tại các tỉnh ven biển Nam Trung Kỳ sau ngày chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ

Trang 31

Sự bùng nổ của chiến tranh thế giới thứ hai và việc dựng lên mộtchính phủ phản động ở Pháp cùng với việc quân Nhật vào Đông Dơng đãlàm đảo lộn mọi mặt đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của nớc ta.

Ngay sau ngày chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, ở Đông Dơng đếquốc Pháp thực hiện phát xít hóa về chính trị Chúng ra lệnh tổng động viên

và ban bố hàng loạt sắc lệnh, nghị định nhằm khủng bố phong trào cáchmạng của nhân dân, tập trung tiêu diệt Đảng cộng sản Ngày 28-9-1939 Toànquyền Catroux ban hành sắc lệnh ký ngày 26-9-1939 của Hội đồng Bộ tr-ởng Pháp đặt các tổ chức cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, giải tán các hội

ái hữu, nghiệp đoàn do Đảng cộng sản và những ngời tiến bộ thành lập.Ngoài các nhà lao có sẵn, chúng còn cho lập thêm hàng loạt căng an trí kéodài thời gian giam cầm những ngời tù chính trị

Thực dân Pháp thực hiện chính sách "kinh tế chiến tranh" rồi "kinh

tế chỉ huy" triệt để vơ vét tài nguyên nớc ta cung cấp cho cuộc chiến tranhbên nớc Pháp Mọi thứ thuế cũ đều tăng, hàng loạt thứ thuế mới ban hành

Đồng bạc Đông Dơng mất giá, công nhân bị tăng giờ làm

Tháng 9-1940, lợi dụng Chính phủ Pháp đầu hàng Đức, Nhật nhảyvào Đông Dơng Đối với phát xít Nhật, chính sách thống trị của chúng ở

Đông Dơng là một chính sách thực dân phát xít giấu mặt Thời gian nàychúng thực hiện chính sách "duy trì hiện trạng" ở Đông Dơng, không gạt

mà sử dụng bọn thực dân Pháp Đây là một trờng hợp ngoại lệ Nhật áp dụng

ở Đông Nam á, nh tiến sĩ sử học Nhật Bản Masaya Shiraishi nhận xét:chính sách của Nhật Bản từ tháng 9-1940 đến tháng 3-1945 là "kiên trì đòihỏi việc duy trì sự điều hành của ngời Pháp ở Đông Dơng, một chính sách

đợc xem nh là "Seihitsu hojo" (duy trì sự yên tĩnh)" Đông Dơng đợc xem làvùng duy nhất thuộc Đông Nam á đặt dới sự điều khiển quân sự của NhậtBản mà ở đó chính quyền thuộc địa của ngời da trắng còn đợc giữ nguyên[141, 114] Chính sách này là một sự tính toán của phát xít Nhật bởi nó đem

Trang 32

lại cho Nhật nhiều điều lợi Một mặt, Nhật không phải đơng đầu với Pháp,lại thông qua Pháp giữ trị an và nắm đợc kinh tế Đông Dơng phục vụ chocuộc chiến tranh xâm lợc các nớc Đông Nam á của Nhật Mặt khác, Nhậtlại thực hiện chính sách mỵ dân, tránh tiếng bóc lột nhân dân Đông Dơng

để qua đó tuyên truyền cho chủ trơng xây dựng "khu vực Đông Nam áthịnh vợng"

Ngay từ đầu chính sách thực dân phát xít giấu mặt của Nhật đã bị

Đảng ta vạch trần: "Chính sách của giặc Nhật ở Đông Dơng có thể tóm tắttrong một câu này: dùng phơng pháp lừa dối và thủ đoạn tàn ngợc để cớpbóc về kinh tế, chia rẽ về chính trị và tấn công về quân sự" [59, 193-194] Giáo

s sử học Nhật Bản Motoo Furuta cũng bóc trần: "Cái gọi vùng thịnh vợngchung Đại Đông á thật ra là vùng suy vong chung" [102, 30]

Nấp sau lng hai đế quốc Pháp - Nhật là hàng loạt đảng phái phản

động tuyên truyền cho Pétain hoặc tung hô cho Đại Nhật Bản, cho đến bọnphản động khoác áo giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo

Ngay sau khi chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, ngày 15-9-1939 Bảo

Đại ra một bản thông báo tỏ rõ thái độ giúp đế quốc Pháp tham chiến: "Bổnphận của chúng ta đã đợc vạch rõ rằng: chúng ta xiết chặt hàng ngũ bêncạnh nớc Pháp để đem tới cho nó sự giúp đỡ của tất cả các năng lực củachúng ta trong cuộc chiến đấu vĩ đại này" [38]

Ngày 5-10-1939 Bảo Đại tiếp tục hởng ứng sắc lệnh phát xít củathực dân Pháp bằng đạo dụ cấm tất cả các cuộc hội họp tuyên truyền cộngsản ở Trung Kỳ và tịch thu các loại sách báo tiến bộ

Sau hiệp ớc đầu hàng quân Nhật của toàn quyền Decoux ngày 23-7-1941 (Hiệp ớc phòng thủ chung), quân Nhật bắt đầu đa quân vào cáctỉnh VBNTK, đóng tại các thành phố, sân bay, hải cảng và các đầu mối giaothông chính Đà Nẵng và Khánh Hòa trở thành những căn cứ quân sự quantrọng của Nhật Trong đó Đà Nẵng đợc Nhật xây dựng thành căn cứ hậu

Trang 33

cần lớn tiếp tế cho miền Nam Trung Kỳ, vịnh Cam Ranh (Khánh Hòa) trởthành một trong những bàn đạp quan trọng để quân Nhật đánh chiếm cácthuộc địa của Anh, Mỹ ở Thái Bình Dơng.

Thấy Nhật đa quân vào các tỉnh, một số tổ chức thân Nhật đẩymạnh hoạt động ráo riết, nhất là nhóm Ngô Đình Diệm Một mặt Ngô ĐìnhDiệm cử Phạm Thúc Ngộ sang Nhật gặp Cờng Để, mặt khác giao Đỗ Mậuthảo một kế hoạch hoạt động chi tiết để phối hợp với quân Nhật làm đảochính tấn công quân Pháp và một dự án dài hạn khác về việc tái tổ chứcquân đội bảo an chuẩn bị cho Cờng Để về nớc lập chính phủ thân Nhật.Cũng theo sự phân công của Ngô Đình Diệm, Đỗ Mậu đến các tỉnh bí mật

tổ chức lực lợng quân sự riêng trong lính khố xanh thuộc các cơ binh từ ĐàNẵng đến Bình Thuận, lên Tây Nguyên, ra tận Thanh Hóa, đồng thời bắtliên lạc với những phần tử thân Nhật ở các tỉnh nh Lê Khắc Quyến ở QuyNhơn, Trần Tiêu ở Bình Thuận để gây dựng phe cánh [77, 26]

Ngoài nhóm Ngô Đình Diệm còn có những phần tử thân Nhật trong

đạo Cao Đài, chúng cũng ra sức tuyên truyền cho cái gọi là thiện chí củaNhật Bản và ngày trở về của Kỳ Ngoại hầu Cờng Để

Không chỉ những phần tử thân Nhật, cả những phần tử nhẹ dạ cả tincũng ra sức tuyên truyền cho chiêu bài "xây dựng khu vực thịnh vợngchung", "phòng thủ chung" của Nhật

Thực dân Pháp tiếp tục câu kết với Nam Triều tấn công vào các cơ sở

đảng cộng sản và phong trào cách mạng của quần chúng do Đảng lãnh đạo,

ra sức tuyên truyền cho Pétain và chính sách "Pháp - Việt phục hng", lập ra

tổ chức "Quốc Anh Đoàn", cổ động phong trào "Thanh niên Pháp quốc hảingoại", giăng lới mật thám khắp nơi, bí mật bắt một số phần tử thân Nhậttrong đạo Cao Đài, xây dựng căn cứ riêng ở miền núi chuẩn bị chống Nhật

Thực dân Pháp vẫn giữ độc quyền thu vét thóc gạo, bông vải, dầuthực vật, bắt dân lấy đất trồng đậu phụng, thầu dầu Chỉ riêng năm 1942

Trang 34

chúng đã vơ vét của nông dân Quảng Nam 18 tấn dầu phụng đa ra HảiPhòng nộp cho Nhật Các loại thuế cũ ngày càng tăng, thuế mới ngày càngnhiều Trong đó thuế phụ thu tăng từ 15-20%, thuế lợi tức tăng 6% Ngoài

ra, chúng còn mở quốc trái, lạc quyên bòn rút tiền trong nhân dân

Nhân dân phải chịu ba tầng áp chế của Pháp, Nhật và Nam Triều

Đời sống của nông dân hết sức khó khăn bởi giá cả đắt đỏ, giá gạo lênnhanh, giá hàng thiết yếu tăng vọt ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãinông dân phải bán từ 13-18kg lúa mới mua đợc 1 mét vải Khi chiến tranhThái Bình Dơng nổ ra (12-1941) giá gạo từ 148đ/tạ trong tháng 8 vọt lên240,5đ/tạ Đến tháng 2-1945 tăng đến 280 đ/tạ [98], cao gấp 12 lần so vớigiá gạo chung toàn xứ Đông Dơng bấy giờ (23,98đ/tạ) Nông dân còn bị bắt

đi lính, đi phu làm các con đờng quốc lộ 14, đờng Giá Vụt đi Komplong vàcác công trình quân sự cho Nhật Đời sống công nhân lại càng khó khăn

Họ bị bắt làm tăng giờ, bị đánh đập hành hạ Đời sống của tiểu t sản, t sản,trung, tiểu, địa chủ cũng sa sút

Tuyệt đại bộ phận dân chúng căm thù Pháp, Nhật Một bộ phậntrong số quan lại, địa chủ, trí thức, học sinh lúc đầu có phần sợ Nhật, phụcNhật nhng dần về sau cũng tỏ ra nghi ngờ về những lời tuyên truyền củachúng Sở mật thám Pháp tại Đà Nẵng thừa nhận rằng: "Các giới An Nambắt đầu lo ngại hiện nay về sự "hợp tác" Nhật Bản trong công thức thịnh v-ợng chung của Đại Nam á" [90] Trong năm 1942 Tỉnh ủy Quảng Namnhận xét thái độ chính trị của dân chúng 70% cảm tình cách mạng, 27%trung lập, 3% phản động [114]

1.2.2 Chủ trơng của Đảng

Ngay trớc khi chiến tranh thế giới thứ hai sắp nổ ra, Trung ơng

Đảng đã kịp thời chỉ thị cho các cấp ủy đảng phải chuyển dần trọng tâmhoạt động về nông thôn

Trang 35

Ngày 29-9-1939 Trung ơng Đảng gửi thông cáo khẩn cấp đến các

đảng bộ xác định "hoàn cảnh Đông Dơng sẽ tiến bớc đến vấn đề dân tộcgiải phóng" và hớng dẫn về phơng hớng, biện pháp chuyển hớng hoạt độngcho phù hợp với tình hình mới

Tháng 11-1939 Trung ơng Đảng họp Hội nghị lần thứ 6 trực tiếpbàn một loạt vấn đề quan trọng nhằm bớc đầu nêu lên những nội dung cơbản của chuyển hớng chỉ đạo chiến lợc

Từ giữa năm 1940 tình hình thế giới diễn biến ngày một mau lẹ ởPháp, Chính phủ Pháp đầu hàng phát xít Đức (6-1940) ở Đông Dơng phátxít Nhật đa quân vào miền Bắc nớc ta Đông Dơng từ một thuộc địa củaPháp trở thành thuộc địa của cả Pháp lẫn Nhật Ngày 27-9-1940 nổ ra cuộckhởi nghĩa Bắc Sơn báo hiệu cao trào giải phóng dân tộc bằng hình thức đấutranh vũ trang của nhân dân Việt Nam Trớc những diễn biến dồn dập này,

từ ngày 6 đến ngày 9-11-1940 Trung ơng Đảng họp hội nghị lần thứ 7 tiếptục bàn một số vấn đề mới về đờng lối chỉ đạo chiến lợc và quyết định haivấn đề nóng hổi trớc mắt là phát triển ảnh hởng của cuộc khởi nghĩa BắcSơn và hoãn cuộc khởi nghĩa vũ trang của Xứ ủy Nam Kỳ, nhng Xứ ủyNam Kỳ đã ra quyết định khởi nghĩa vũ trang trớc khi nhận đợc chỉ thị củaTrung ơng

Đầu năm 1941 lãnh tụ Nguyễn ái Quốc về nớc hoạt động Từ ngày

10 đến 19-5-1941 Hội nghị Trung ơng Đảng lần thứ 8 do Ngời chủ trì tiếptục bổ sung những điểm quan trọng vào sự chuyển hớng chỉ đạo chiến lợc

và xây dựng lực lợng cách mạng của Đảng

Với ba hội nghị Trung ơng 6, 7, 8, Trung ơng Đảng đã hoàn chỉnh

sự chuyển hớng chỉ đạo chiến lợc trong tình hình mới với những nội dungquan trọng sau:

Một là, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết Việc giải

quyết vấn đề cách mạng ruộng đất phải rải ra thực hiện từng bớc và phải

Trang 36

xoay quanh vấn đề cốt lõi này Đây là sự chuyển hớng quan trọng nhất vềchỉ đạo chiến lợc của Đảng.

Đảng chỉ rõ "Bớc đờng sinh tồn của các dân tộc Đông Dơng khôngcòn có con đờng nào khác hơn là con đờng đánh đổ đế quốc Pháp, chống tấtcả ách ngoại xâm vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng độclập" [52, 536] Mọi giai tầng trong nớc phải đứng trên lập trờng giải phóngdân tộc, lấy quyền lợi dân tộc làm tối cao Đặt vấn đề giải phóng dân tộclên hàng đầu, Hội nghị chủ trơng tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đấtthay bằng khẩu hiệu tịch ký ruộng đất của những địa chủ phản bội quyềnlợi dân tộc, đòi giảm tô, giảm tức và thay khẩu hiệu lập chính phủ xô viếtcông nông binh bằng khẩu hiệu lập chính quyền cách mạng của nớc dânchủ mới, một chính quyền "của chung cả toàn thể dân tộc" trừ bọn tay sai[53, 114] So với Luận cơng chính trị năm 1930 thì đây là một bớc pháttriển nhận thức của Đảng về lý luận cách mạng dân chủ t sản tại một nớcthuộc địa nửa phong kiến, xem "cuộc cách mạng Đông Dơng trong giai

đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng" [53, 119] - một bớccủa cuộc cách mạng dân chủ t sản kiểu mới tuy vẫn xác định hai tính chấtcơ bản của cuộc cách mạng này là phản đế và phản phong nhng không chủ tr-

ơng giải quyết ngang nhau, chỉ đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng

đầu, vì khi kẻ thù đã chuyển sang thời kỳ phát xít, lại là "một thứ phát xítquân nhân thuộc địa nên lại càng tham tàn độc ác bội phần" [52, 517] Do

đó, "nếu không giải quyết đợc vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi đợc độclập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc cònchịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn nămcũng không đòi lại đợc" [111, 113] (riêng Nghị quyết Trung ơng 7 có sự thụtlùi về giải quyết mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ này) Lý luận về cách mạngdân chủ t sản có nhiệm vụ chống đế quốc, phát xít và nhiệm vụ chống phong

Trang 37

kiến Nhng trong giai cấp địa chủ phong kiến lại có những thành phần yêunớc Do đó, với chủ trơng nâng cao nhiệm vụ phản đế so với nhiệm vụ phảnphong trong thời kỳ cách mạng trớc mắt Đảng sẽ thu hút đợc những thànhphần phong kiến yêu nớc nhằm tập trung chĩa mũi nhọn đấu tranh vào kẻthù chung là đế quốc phát xít xâm lợc và bè lũ tay sai.

Hai là, Đảng chủ trơng lập Mặt trận thống nhất dân tộc rộng rãi để

phát huy sức mạnh toàn dân thực hiện công cuộc giải phóng dân tộc nhằm

"liên hiệp hết thảy các tầng lớp nhân dân không phân biệt tôn giáo, xu hớng

đảng phái chính trị nào, giai cấp nào, đoàn kết chiến đấu để đánh đuổi Pháp

- Nhật giành quyền độc lập cho xứ sở" [53, 224] Đây là sự tiếp thu t tởngMặt trận đúng đắn trong Chánh cơng vắn tắt và Sách lợc vắn tắt của Đảng

do lãnh tụ Nguyễn ái Quốc soạn thảo và thông qua tại Hội nghị thành lập

Đảng (2-1930) Nhờ đó mới có thể phát huy đợc sức mạnh của toàn thể dântộc vào mục tiêu giành độc lập

Ba là, Đảng đặt mạnh vấn đề vũ trang cho nhân dân, thành lập quân

đội cách mạng, xem việc xúc tiến công tác chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụtrung tâm, từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa, đồng thời nêulên những điều kiện thuận lợi để khi thời cơ đến chủ động lãnh đạo nhândân tổng khởi nghĩa giành chính quyền

Bốn là, chủ trơng giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng

n-ớc Việt Nam, Lào, Cămpuchia nhằm phát huy cao độ tinh thần yêu nn-ớc củamỗi dân tộc

Năm là, về công tác Đảng, Trung ơng Đảng đặc biệt nhấn mạnh

phải xây dựng Đảng vững mạnh trên tất cả các mặt chính trị, t tởng, tổchức Phải nhanh chóng khôi phục và phát triển hệ thống tổ chức Đảng,tăng cờng sự thống nhất ý chí và hành động từ Trung ơng đến chi bộ để làmtròn sứ mệnh lãnh đạo quần chúng đấu tranh giành thắng lợi

Trang 38

Tháng 6-1941 lãnh tụ Nguyễn ái Quốc chỉ rõ vai trò của đại đoànkết đối với thắng lợi của cách mạng: "Hiện thời muốn đánh Pháp, Nhật, ta

chỉ cần một điều: Toàn dân đoàn kết" [53, 167]

Những t tởng trên là ánh sáng soi đờng cho toàn Đảng nói chung vàcác tỉnh VBNTK nói riêng tiến lên giành chính quyền

Khôi phục cơ sở cách mạng sau đợt khủng bố lần thứ nhất:

Trớc khi chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, từ tháng 8-1939 Xứ ủyTrung Kỳ đã họp bàn kế hoạch chuyển vùng hoạt động cho một số đồng chí

Xứ ủy và chuyển hoạt động vào bí mật, nắm lại lực lợng cốt cán trong các

đoàn thể quần chúng, chuyển khẩu hiệu và hình thức đấu tranh cho phù hợpvới tình hình mới

Mặc dù đã có chủ trơng chuyển hớng hoạt động bớc đầu của Xứ ủynhng do khủng bố khốc liệt của bọn phản động thuộc địa, có sự cấu kếtchặt chẽ của chính quyền Nam Triều và phá hoại của bọn A.B đoàn nêncuối năm 1939 cơ quan Xứ ủy bị vỡ, hầu hết các đồng chí trong Xứ ủy bịbắt

ở Quảng Nam khi đợc đồng chí Lê Duẩn phổ biến tình hình mới,Tỉnh ủy có chỉ thị cho một số đồng chí thoát ly nhng do các đồng chí nàycòn do dự, thiếu khẩn trơng nên bị sa vào tay địch, còn lại hầu hết đảngviên do bị lộ qua phong trào công khai hợp pháp những năm 1936 - 1939nên rất lúng túng khi phải chuyển phơng thức hoạt động Vì thế phong trào

ở tỉnh này bị vỡ nặng ngay từ cuối năm 1939 Toàn bộ Ban tỉnh ủy bị bắt

Trang 39

Cả tỉnh chỉ còn một số huyện ủy viên và 2 chi bộ ở Tam Kỳ, một số ít đảngviên ở Duy Xuyên [47, 95].

Đảng bộ Quảng Ngãi vừa kịp nhận chỉ thị của Xứ ủy đã bị địchkhủng bố bể vỡ 85 trong tổng số 93 đảng viên bị bắt [50, 3]

ở Bình Định trong đợt khủng bố đầu của địch tháng 10 và 12-1939

đã có 37 đảng viên, cán bộ và cốt cán quần chúng bị bắt Toàn tỉnh chỉ cònmột chi bộ công nhân đềpô Diêu Trì [113, 49]

ở Phú Yên địch bắt trên 60 đảng viên và quần chúng cách mạng.Tỉnh ủy bị vỡ Cơ quan Liên tỉnh ủy Quảng Nam - Quảng Ngãi - Bình Định -Phú Yên cũng bị vỡ

Tình hình cũng diễn ra tơng tự tại các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận,Bình Thuận Ban cán sự cực Nam Trung Kỳ bị đánh phá Đồng chí Trần CôngXứng và các đồng chí trong Ban cán sự liên tỉnh bị bắt Tỉnh ủy lâm thờiKhánh Hòa và các tổ chức cơ sở Đảng ở Ninh Thuận, Bình Thuận bị vỡ

Quán triệt nghị quyết hội nghị Trung ơng 6 của Đảng, Xứ ủy Trung

Kỳ họp ngày 15-2-1940 tại Thuận An (Huế) đề ra nhiều biện pháp khôiphục lại tổ chức Đảng và các tổ chức quần chúng, lãnh đạo phong trào đấutranh trong tình hình mới

Tại Đà Nẵng, các đồng chí Lê Chởng, Hồ Tỵ cùng đồng chí Nguyễn

Nh Đãi phối hợp gây dựng lại đợc 3 chi bộ, củng cố các tổ chức biến tớng,

Trang 40

lập một số tổ chức phản đế nhng cũng chỉ mở rộng phạm vi hoạt động ramột vài xã của huyện Hòa Vang, cha bắt đợc liên lạc với Tỉnh ủy Quảng Nam và Tỉnh ủy Quảng Ngãi.

Đảng bộ hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi phải mất gần một năm

tự xoay xở hoạt động Tại Quảng Nam, trong trờng hợp đứt liên lạc với

Đảng một số quần chúng thanh niên tự đi tìm Đảng Khi cha bắt đợc mối,những thanh niên này tự tổ chức những hoạt động nuôi dỡng lòng yêu nớc

và tinh thần đoàn kết Một số đảng viên cha bị bắt và chi bộ không bị vỡ tiếptục hoạt động, tìm cách bắt liên lạc với những đồng chí cốt cán đang còn ởtrong nhà lao tỉnh và lao Hội An gây dựng lại phong trào

Tháng 1-1940 Phủ ủy Tam Kỳ lập lại Trên cơ sở những hiểu biếtban đầu về sự chuyển hớng hoạt động của Đảng do một cán bộ Quảng Trịthoát ly vào cung cấp, Phủ ủy Tam Kỳ vạch ra phơng hớng hoạt động: tiếptục củng cố các chi bộ đã có, chuyển hết các tổ chức quần chúng cũ sang tổchức phản đế, duy trì các tổ chức biến tớng vì nhận thấy các tổ chức nàycòn thiết thực, cử cán bộ bắt mối liên lạc với các phủ huyện trong tỉnh và

Xứ ủy Nhờ hoạt động tích cực của Phủ ủy Tam Kỳ, Tỉnh ủy lâm thờiQuảng Nam lập lại tháng 3-1940 Mãi đến tháng 10-1940 Tỉnh ủy lâm thờiQuảng Nam mới chính thức liên lạc đợc với phái viên Xứ ủy Trung Kỳ vàchính thức nhận đợc Nghị quyết Trung ơng 6 của Đảng

Có đợc đờng lối của Đảng Tỉnh ủy Quảng Nam đẩy mạnh hơn côngtác củng cố đảng và phát triển các hội phản đế, ra báo "Khởi Nghĩa" làm tàiliệu tuyên truyền chuyển hớng t tởng, nhận thức cho cán bộ, quần chúng, quántriệt nhiệm vụ trớc mắt là đánh đuổi giặc ngoại xâm giải phóng dân tộc Hệthống tổ chức đảng và quần chúng bị bể vỡ cuối năm 1939 đợc khôi phục ởcác phủ huyện đồng bằng, gồm 3 phủ ủy, 24 chi bộ, 120 đảng viên Các tổchức quần chúng tăng nhanh Chỉ riêng huyện Quế Sơn trong năm 1941 đã

Ngày đăng: 19/02/2014, 14:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w