TIỂU LUẬN KẾT THÚC BỘ MÔN NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU DO KHÔNG TUÂN THỦ QUY ĐỊNH VỀ HÌNH THỨC Sinh viên thực hiện MSSV Lớp Giảng viên Hồ Chí Minh, 102021 MỤC LỤC PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1 PHẦN 2 NỘI DUNG 2 Chương 1 Tổng quát về giao dịch dân sự và hình thức giao dịch dân sự 2 1 Khái niệm Giao dịch dân sự 2 2 Khái niệm và ý nghĩa của Hình thức giao dịch dân sự 2 Chương 2 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự và Giao dịch dân sự vô hiệu 3 1 Quy định về Điều kiện có hiệu.
Trang 1GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU
DO KHÔNG TUÂN THỦ QUY ĐỊNH
VỀ HÌNH THỨC
Sinh viên thực hiện:
MSSV:
Lớp:
Giảng viên:
Hồ Chí Minh, 10/2021
Trang 3PHẦN 1: MỞ ĐẦU
Giao dịch dân sự, có thể được hiểu một cách cơ bản là một sự kiện pháp lý mà qua đó các bên tham gia vào sự kiện pháp lý này sẽ đạt được một/những lợi ích hợp pháp nhất định mà mình mong muốn Trên thực tế, cùng với việc phát triển xã hội thì các giao dịch dân sự cũng trở nên đa dạng với nhiều hình thức khác nhau, có thể bằng lời nói, bằng hành vi cụ thể hay bằng văn bản Việc xác định và tuân thủ đúng quy định của pháp luật về hình thức giao dịch chính là để bảo vệ tốt lợi ích cho các chủ thể tham gia giao dịch dân sự cũng như để thuận tiện cho các cơ quan nhà nước trong việc quản lý các hoạt động kinh tế - xã hội So sánh với những Bộ Luật Dân sự (Sau đây sẽ được viết tắt là “BLDS”) trước đây, quy định về ‘Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức’ trong BLDS 2015 được quy định rõ ràng và có nhiều điểm cải tiến hơn Tuy nhiên, trên thực tế, việc áp dụng vẫn còn gặp nhiều bất cập và gây ra những tranh chấp, thiệt hại đối với các bên tham gia giao dịch dân sự Bài nghiên cứu này được thực hiện dựa trên phân tích các quy định và tham khảo những bản án cụ thể
để có thể đưa ra cái nhìn cụ thể hơn về quy định ‘Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức’
Trang 4PHẦN 2: NỘI DUNG
Chương 1: Tổng quát về giao dịch dân sự và hình thức giao dịch dân sự
1 Khái niệm Giao dịch dân sự
- Theo quy định tại Điều 116 BLDS 2015, “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành
vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Ngoài ra, theo quy định tại Điều 118 BLDS 2015 thì “Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích mà chủ thể mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó”
- Qua khái niệm này, có thể thấy trong cuộc sống hàng ngày, mỗi chúng ta đang xác lập rất nhiều giao dịch dân sự, từ việc mua thực phẩm, đồ tiêu dùng, cho đến buôn bán, đầu tư (hợp đồng) hay lập di chúc, hưởng thừa kế… (hành vi pháp vi đơn phương) để đạt được một mục đích cụ thể
2 Khái niệm và ý nghĩa của Hình thức giao dịch dân sự
- Hình thức của một giao dịch dân sự chính là phương tiện để thể hiện nội dung của giao dịch đó Theo quy định tại điều 119 của BLDS 2015 thì:
“- Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi
cụ thể Giao dịch dân sự thông qua phương tiện tiện tử dưới hình thức thông điệp
dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản
- Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.”
- Dựa theo quy định như trên, có thể hiểu, hình thức của giao dịch dân sự bao gồm:
• Thể hiện bằng lời nói: Phổ biến nhất nhưng độ xác thực thấp (vì các bên có thể thay đổi nội dung giao dịch hoặc hiểu nhầm dẫn đến tranh chấp) Do đó, hình thức lời nói thường được áp dụng đối với các giao dịch có giá trị thấp, được thực hiện và chấm dứt ngay sau khi hoàn thành (như mua bán hàng hóa trao tay) hoặc các chủ thể tham gia giao dịch có quan hệ thân quen, tin tưởng lẫn nhau (như gười thân, bạn bè cho mượn, cho vay…)
• Thể hiện bằng văn bản: Có thể bằng văn bản thường hoặc văn bản có chứng nhận, công chứng Luật cũng chấp nhận những giao dịch điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật là 1 hình thức giao dịch bằng văn bản Hình thức này có độ xác nhận cao vì có xác nhận của các bên tham gia tại văn bản hoặc có chứng nhận, chứng thực của các cơ quan có thẩm quyền Hình thức này thường được áp dụng đối với các giao dịch có giá trị cao và có thể xảy
Trang 5ra tranh chấp (như chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng mua bán linh kiện, hợp đồng sản xuất…) Trong trường hợp xảy ra tranh chấp, các giao dịch được thể hiện bằng văn bản là bằng chứng quan trọng thể hiện ý chí của các bên tại thời điểm giao dịch, tạo sự thuận lợi cho các cơ quan quản lý kiểm soát, giải quyết tranh chấp
• Thể hiện bằng hành vi cụ thể: Được xác lập qua những hành vi nhất định theo quy ước định trước, là một hình thức giản tiện và cũng thường áp dụng cho những giao dịch được thực hiện và chấm dứt ngay sau khi hoàn thành tương tự như hình thức lời nói Trong thời điểm xã hội ngày càng phát triển, hình thức này trở nên phổ biến trong những giao dịch không nhất thiết phải có sự hiện diện đồng thời của các bên như dùng đồng xu mua hàng từ máy bán hàng tự động, rút tiền tại trạm ATM
- Hình thức của giao dịch dân sự có ý nghĩa rất quan trọng, là chứng cứ để xác nhận các quan hệ dân sự giữa các bên, từ đó xác định được trách nhiệm dân sự khi xảy
ra hành vi vi phạm Thông qua hình thức giao dịch dân sự, người thứ ba không tham gia vào giao dịch hoặc các cơ quan quản lý nhà nước có thể biết về nội dung của giao dịch đã được xác lập, cũng như công bố được ý chí, mục đích của các bên tại thời điểm xảy ra giao dịch dân sự
Chương 2: Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự và Giao dịch dân sự vô hiệu
1 Quy định về Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
- Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 117 BLDS
2015, cụ thể:
a. Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
b. Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c. Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội
d. Ngoài ra, cũng theo quy định tại điều này, hình thức của giao dịch dân sự là
điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.
Như vậy, ngoài những điều kiện cơ bản như ý chí, sự tự nguyện của chủ thể, không
vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, thì Hình thức của một giao dịch dân sự cũng là môt yếu tố để xác nhận điều kiện có hiệu lực của một giao dịch dân sự, kèm theo điều kiện “trong trường hợp luật có quy định”
Trang 6- Theo nguyên tắc chung thì các chủ thể được tùy chọn hình thức đối với giao dịch dân sự mình tham gia Chỉ những giao dịch pháp luật quy định bắt buộc phải thể hiện bằng văn bản, hoặc phải có chứng nhận, chứng thực, đăng ký hoặc xin phép
mà các bên không tuân thủ quy định này thì mới bị vô hiệu
2 Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý
2.1. Giao dịch dân sự vô hiệu
Giao dịch dân sự vô hiệu là khi không có một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự (các điều kiện như đã nêu tại mục 1 – Chương 2), trừ trường hợp BLDS 2015 có quy định khác đối với giao dịch dân sự đó
2.2. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu (tại điều 131 BLDS 2015)
• Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa
vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập
• Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận
• Trường hợp không thể hoàn trả bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả
• Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó
• Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường
• Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do BLDS và các luật khác có liên quan quy định
Chương 3: Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức
1. Quy định của BLDS 2015 về Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức
- Đối với một số giao dịch dân sự đặc biệt (có thể là giá trị lớn, dễ xảy ra tranh chấp), Pháp luật có quy định một hoặc những hình thức nhất định mà loại hình giao dịch dân sự đặc biệt đó cần phải tuân thủ Nếu chủ thể tham gia giao dịch dân sự không tuân thủ những quy định đó về mặt hình thức thì giao dịch dân sự đó xem như là vô hiệu do không tuân thủ về hình thức
- BLDS 2015 quy định tại điều 129 về Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức như sau:
“Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:
1. Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai
Trang 7phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa
án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.
2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc
về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần
ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.”
- Và thời hiệu để yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức là 02 năm kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập (Theo quy định tại Điều 132 BLDS 2015)
2. So sánh với quy định của BLDS 2005 về Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức
- So sánh với BLDS 2005, khi pháp luật quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do
không tuân thủ quy định về hình thức, chỉ đề cập “Trong trường hợp pháp luật quy
định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Toà án, cơ quan nhà nước
có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu.”
- Như vậy, tại Luật cũ, chỉ cần trong thời hiệu 2 năm kể từ ngày giao dịch được xác lập, khi nhận được yêu cầu từ một hoặc các bên, bất kỳ một giao dịch dân sự nào không tuân thủ quy định của pháp luật về hình thức sẽ bị Tòa án buộc thực hiện đúng quy định về hình thức trong một thời hạn cụ thể, khi quá thời hạn đó mà không thực hiện thì xem như là vô hiệu
- Thay vì cho một thời hạn để các bên thực hiện đúng quy định về hình thức giao dịch, tại BLDS 2015, Luật quy định rõ rằng Những giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu Song, BLDS 2015 linh động trong việc cho phép công nhận hiệu lực của các giao dịch dân sự đã được xác lập nhưng không tuân thủ đúng quy định về hình thức (văn bản không đúng quy định hoặc không thực hiện công chứng, chứng thực theo quy định) với điều kiện một
hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch.
Đây là một điểm mới rất đáng quan tâm và vô cùng cần thiết để tránh xảy ra những trường hợp giao dịch đã thực hiện được một phần lớn hoặc đã xong nhưng một/ các bên viện lý do vi phạm hình thức để yêu cầu vô hiệu hóa giao
Trang 8dịch, tiềm ẩn tổn thất và thiệt hại cho một/các bên còn lại của giao dịch; cũng như để đảm bảo lợi ích cho các bên thứ ba ngay tình Điều này tạo nên một môi trường giao dịch lành mạnh, đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia, đặc biệt là bên yếu thế hơn
Ngoài ra, quy định này cũng góp phần làm đơn giản và thuận tiện hóa cho việc
xử lý, giải quyết tranh chấp của cơ quan nhà nước; cũng như để khuyến khích các giao dịch dân sự hợp lý được diễn ra suôn sẻ và phổ biến trong giai đoạn phát triển kinh tế xã hội mạnh mẽ như hiện tại
Tuy nhiên, không vì thế mà việc tuân thủ quy định về hình thức của giao dịch dân sự bị xem nhẹ Ngược lại, việc tuân thủ quy định về hình thức giao dịch dân
sự là vô cùng quan trọng, cụ thể như sau:
3. Tầm quan trọng của việc tuân thủ quy định về hình thức giao dịch dân sự
- Hình thức giao dịch dân sự là một bằng chứng quan trọng trong pháp lý cho dù có xảy ra tranh chấp hay không Một khi đảm bảo về hình thức giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật thì giao dịch đảm bảo được tính an toàn pháp lý cao
- Tuân thủ quy định về hình thức giao dịch dân sự sẽ đảm bảo được quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia vào giao dịch dân sự đó, và cả những bên thứ ba ngay tình liên quan đến giao dịch dân sự đó Trong trường hợp xảy ra tranh chấp, giao dịch dân sự sẽ không bị tuyên vô hiệu vì lý do hình thức
- Hạn chế được các rủi ro không đáng có khi giao dịch chưa thực hiện xong mà một/các bên thay đổi, không duy trì ý chí ban đầu tại thời điểm giao dịch
- Tiêu chuẩn pháp lý xã hội được nâng cao khi các giao dịch dân sự tuân thủ đúng quy định về hình thức của nó
- Thuận tiện hóa cho công tác xử lý, giải quyết tranh chấp của Tòa án và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi xảy ra tranh chấp
Chương 4: Thực tiễn áp dụng và tham khảo trong một số vụ án thực tế
1. Thực tiễn áp dụng
- Mặc dù luật đã có quy định khá cụ thể về hình thức giao dịch dân sự đối với một số loại hình giao dịch đặc thù, phức tạp, giá trị giao dịch cao, ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của nhiều người Tuy nhiên, trên thực tế, phần lớn người dân vẫn chưa tự tìm hiểu và trang bị cho mình đầy đủ kiến thức về pháp luật, dẫn đến việc vô tình không tuân thủ đúng quy định pháp luật và dẫn đến giao dịch dân sự vô hiệu vẫn thường xuyên xảy ra Nguyên nhân có thể từ sự thiếu hiểu biết, hoặc cũng có thể
Trang 9một số người lợi dụng sự thiếu hiểu biết của người khác để cố tình thực hiện những giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức, dẫn đến các tranh chấp, gây ảnh hưởng và thiệt hại đến quyền lợi, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia
2. Ví dụ 1 – Bản án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tham khảo dự thảo án lệ số 10/2021/AL
- Vụ việc xảy ra tại quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập trước ngày 1/1/2017 (ngày hiệu lực của BLDS 2015), chưa được công chứng, chứng thực theo quy định của Pháp luật nhưng bên nhận chuyển nhượng đã thanh toán đủ tiền và nhận đất
- Nguyên đơn là ông Phan Q có quyền sử dụng diện tích đất trông cây hàng năm là 3.500m2 tại phường 15 quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận được cấp vào ngày 7/10/2008 Sau đó, ông ký chuyển nhượng một phần cho ông Khâu Văn S, ông Lê Sĩ T1 và ông Lê Văn D, cụ thể:
+ Ngày 3/2/2002, ký chuyển nhượng cho ông Khâu Văn S 500m2 giá 500 triệu đồng + Ngày 18/4/2009, ký chuyển nhượng cho ông Lê Sĩ T1 87m2 đất giá 435 triệu đồng + Ngày 18/4/2009, ký chuyển nhượng cho ông Lê Văn D 87m2 đất giá 435 triệu đồng
- Sau khi chuyển nhượng, ông Q thông báo giao dịch bằng giấy viết tay nên bên mua chỉ được phép xây dựng công trình sau khi ký hợp đồng công chứng, đăng bộ và chuyển mục đích quyền sử dụng đất Sau đó, ông S và ông T1 tự ý chuyển nhượng toàn bộ đất của mình cho ông D Ông Q khởi kiện và yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với các ông S, T1, D là chưa có hiệu lực và yêu cầu bị đơn (ông S, T1, D) trả lại toàn bộ diện tích đất nêu trên
- Ông D cho rằng việc chuyển nhượng đã hoàn thành và ông đã giao đủ tiền, cũng như đã và đang sử dụng diện tích đất nêu trên nên ông yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên đương sự và áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu của nguyên đơn
Quyết định của các cấp Tòa án
- Tòa án Sơ thẩm năm 2019 chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện, hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 3/2/2002, công nhận 2 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/4/2009 Do đó, buộc bị đơn trả lại 500m2 đất ở hợp đồng vô hiệu cho ông Q và ông Q trả cho ông D số tiền là hơn 5,5 tỷ đồng một lần sau khi bản án có hiệu lực
- Tòa án phúc thẩm tháng 7/2020 quyết định không công nhận việc chuyển quyền sử dụng đất giữa ông Q và ông S, D, T1 là có hiệu lực Phần đất 647m2 thuộc về ông
Trang 10Q và yêu cầu ông D trả lại phần đất này Sau khi nhận lại đất, ông Q thanh toán cho ông S 1,3 tỷ đồng, ông D và ông T1 mỗi người 835.875.000 đồng
- Nhận định của Tòa án giám đốc thẩm: Thực tế cho thấy, các bên nhận chuyển nhượng đất và thanh toán đủ tiền cho ông Q nhưng chưa thực hiện công chứng, chứng thực hợp đồng là vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực Tuy nhiên theo quy định tại khoản 2 Điều 129 BLDS 2015 thì “Giao dịch dân sự
đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực” Tóa án cấp sơ thẩm chỉ công nhận một phần diện tích là không phù hợp Tòa án phúc thẩm cho rằng đây là tranh chấp quyền sử dụng đất vì việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên không phát sinh hiệu lực pháp luật nên buộc bị đơn trả lại toàn bộ diện tích đất là sai lầm nghiêm trọng ảnh hưởng quyền lợi của các bên đương sự Do vậy, tòa án giám đốc thẩm quyết định hủy bản án phúc thẩm và sơ thẩm, giao lại hồ sơ cho Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xét xử sơ thẩm lại theo quy định
Tòa án giám đốc thẩm đã áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 129 BLDS 2015
về việc công nhận hiệu lực của giao dịch dân sự đã xác lập tuy sai về hình thức (không tuân thủ quy định về công chứng, chứng thực bắt buộc) nhưng các bên
đã hoàn thành ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch Theo quan điểm chủ quan của em, quyết định của tòa án giám đốc thẩm là phù hợp với quy định và thực tế, đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự và bên thứ ba ngay tình trong trường hợp này
3. Ví dụ 2 - Bản án tranh chấp hợp đồng cho tặng tài sản
Tham khảo quyết định giám đốc thẩm số 139/2019/DS-GĐT ngày 6/6/2019
- Nguyên đơn bà Trần Thị H.(sinh năm 1929) kiện bị đơn là ông Huỳnh Văn T, (sinh năm 1971) là con trai của bà H Cụ thể, bà H đã được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho 5.299,7 m2 đất Năm 2009, bà giao cho ông Huỳnh Văn T sử dụng tạm phần đất với điều kiện là ông phải trả nợ ngân hàng 11.500.000 đồng và phải chăm sóc vợ con, thờ cúng tổ tiên (có làm Tờ giấy cam kết viết tay ngày 18/9/2009) Tuy nhiên, sau khi bà H giao đất thì ông T không sống cùng vợ con cũng không thờ cúng tổ tiên, chỉ có trả nợ 11.500.000 đồng Thậm chí, ông T còn
đi cầm cố phần đất trên nên bà yêu cầu ông T trả lại phần đất cho bà