1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

VẤN đề 1 HÌNH THỨC của DI CHÚC

22 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 44,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu di chúc của Ông Này là di chúc phải có người làm chứng thì những người đã làm chứng di chúc của Ông Này có là người làm chứng hợp pháp không?. Nếu di chúc của Ông Này là di chúc phải

Trang 3

1.1 Điều kiện về hình thức để di chúc tự viết tay có giá trị pháp lý? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời ? 2 1.2 Nếu di chúc của Ông Này là di chúc phải có người làm chứng thì những người đã làm chứng di chúc của Ông Này có là người làm chứng hợp pháp không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 2 1.3 Di chúc của Ông Này có là di chúc do Ông Này tự viết tay không? Vì sao? 3 1.4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến hình thức di chúc của Ông Này khi đây là di chúc do Ông Này tự viết tay 3 1.5 Di chúc của cụ Hựu đã được lập như thế nào? 3 1.6 Cụ Hựu có biết chữ không? Đoạn nào của Quyết định số 874 cho câu trả lời? 3 1.7 Di chúc của người không biết chữ phải thỏa mãn các điều kiện nào để có hình thức phù hợp với quy định của pháp luật? 4 1.8 Các điều kiện nào nêu trên đã được đáp ứng đối với di chúc của ông Hựu? 4 1.9 Các điều kiện nào nêu trên đã không được đáp ứng đối với di chúc của ông Hựu? 4 1.10 Theo anh/chị, di chúc nêu trên có thỏa mãn điều kiện về hình thức không? Vì sao? 4 1.11 Suy nghĩ của anh/chị về các quy định trong Bộ luật dân sự liên quan đến hình thức di chúc của người không biết chữ 5

VẤN ĐỀ 2: TÀI SẢN ĐƯỢC ĐỊNH ĐOẠT THEO DI CHÚC 6

2.1 Cụ Hương đã định đoạt tài sản nào? Đoạn nào của Quyết định số 359 cho câu trả lời? 6 2.2 Đoạn nào của Quyết định số 359 cho thấy tài sản cụ Hương định đoạt trong di chúc là tài sản chung của vợ chồng cụ Hương? 7 2.3 Tòa án đã công nhận phần nào của di chúc? Đoạn nào của Quyết định

số 359 cho câu trả lời? 7 2.4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm 7 2.5 Nếu cụ Quý chết trước cụ Hương, phần nào của di chúc có giá trị pháp lý? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 8 2.6 Nếu tài sản được định đoạt trong di chúc chỉ thuộc sở hữu của cụ Hương vào đầu tháng 4/2009 thì di chúc của cụ Hương có giá trị pháp lý không? Vì sao? 9

Trang 4

2.8 Đoạn nào của Quyết định số 58 cho thấy Tòa giám đốc thẩm xác định di sản của cụ C và cụ D là quyền sử dụng đất? Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định vừa nêu của Tòa giám đốc thẩm? 10 2.9 Đoạn nào của Quyết định số 58 cho thấy Tòa giám đốc thẩm theo hướng cụ C và cụ D được định đoạt theo di chúc giá trị quyền sử dụng đất bị Nhà nước thu hồi? Suy nghĩ của anh/chị về hướng vừa nêu của Tòa giám đốc thẩm 10

VẤN ĐỀ 3: DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ CHỒNG 12

3.1 Đoạn nào của bản án số 14/2017/DSST cho thấy di chúc có tranh chấp

là di chúc chung của vợ chồng 12 3.2 Theo Tòa án, di chúc chung của vợ chồng có giá trị pháp lý khi áp dụng BLDS 2015 không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời 12 3.3 Suy nghĩ của anh chị về hướng giải quyết trên của Tòa án về di chúc chung của vợ chồng trong mối quan hệ với BLDS 2015 12

VẤN ĐỀ 4: DI SẢN DÙNG VÀO VIỆC THỜ CÚNG 14

4.1 Trong điều kiện nào di sản dùng vào việc thờ cúng có giá trị pháp lý? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 14 4.2 Đoạn nào của bản án cho thấy di sản có tranh chấp được di chúc dùng vào việc thờ cúng? 14 4.3 Các điều kiện để di sản dùng vào việc thờ cúng một cách hợp pháp có được thỏa mãn trong vụ việc đang nghiên cứu không? 14 4.4 Ai đồng ý và ai không đồng ý chia di sản dùng vào việc thờ cúng trong

vụ tranh chấp này? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời? 15 4.5 Cuối cùng Tòa án có chấp nhận chia di sản đã được di chúc dùng vào việc thờ cúng không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời? 15 4.6 Suy nghĩ của anh/chị về chế định di sản dùng vào việc thờ cúng trong BLDS và giải pháp của Tòa án trong vụ việc đang được nghiên cứu 15

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

VẤN ĐỀ 1: HÌNH THỨC CỦA DI CHÚC

Di chúc phải đc tự viết tự ký hoặc đc điểm chỉ

* Tóm tắt bản án số 83/2009/DSPT về vấn đề tranh chấp tài sản thừa kế:

Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh Hiếu kiện bị đơn bà Đặng Thị Trọng

Ngày 19/12/2007 Ông Nguyễn Này có lập di chúc cho Ông Hiếu được toànquyền thừa kế sử dụng lô đất đứng tên Ông Này, Bà Trọng Ngày 16/11/2008,Ông Này qua đời nhưng Bà Trọng không cho Ông Hiếu tiếp tục hành nghề màđuổi ra khỏi nhà Ông Hiếu đã khởi kiện, xin nhận 1/2 lô đất, xin nhận nhà vàthối lại tài sản chênh lệnh cho Bà Trọng

Xét thấy: di chúc của Ông Này là di chúc viết tay, không được chính quyền địaphương chứng thực nhưng được lập trong lúc Ông Này còn minh mẫn, không

bị cưỡng ép, lừa dối và có nhiều người làm chứng nên được coi là di chúc hợppháp Bên cạnh đó di chúc của Ông Này giao toàn quyền sử dụng đất của hai

vợ chồng cho Ông Hiếu khi không được sự đồng ý của Bà Trọng là không hợppháp, vậy nên chỉ có giá trị một phần tức là chỉ hợp pháp phần của Ông Này.Vậy nên tòa giao đất cho Bà Trọng và Bà Trọng trả lại cho Ông Hiếu78.795.000 đ

Án sơ thẩm quyết định giao nhà cho Bà Trọng được sở hữu nhà, đất là có căn

cứ và thanh toán cho Ông Hiếu 1/2 là có căn cứ

* Tóm tắt: Quyết định giám đốc thẩm số 874/2011/DS-GĐT Ngày

22-11-2011 Vụ án: “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.

Nguyên đơn là ông Đỗ Văn Quang khởi kiện yêu cầu hủy di chúc của cụ ĐỗThị Hựu và yêu cầu chia thừa kế đối với di sản của cụ Hựu Nguồn gốc nhà đấttranh chấp là tài sản của cụ Hằng và cụ Hựu được thừa hưởng của tổ tiên cụHằng để lại Năm 2005, bà Ngâm là bị đơn người đại diện quản lý, sử dụng vàđược cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với nhà đất trên Ông Vũ làtrưởng họ đại diện dòng họ Đỗ cũng cho rằng tài sản trên đều là của dòng họ

Đỗ do tổ tiên để lại và chưa chia thừa kế lần nào Dòng họ đã nhất trí giao khốitài sản này cho bà Ngân quản lý và sử dụng nên đề nghị bác yêu cầu của ôngQuang Nhưng trên thực tế dòng họ Đỗ cũng không kê khai, đăng ký quyền sửdụng đất đối với diện tích đất tranh chấp Do đó, có căn cứ xác định nhà và đấttranh chấp nêu trên là di sản của cụ Hằng và cụ Hựu Di chúc ngày 25-11-1998của cụ Hựu là do cụ Hựu đọc cho ông Vũ viết, cụ Hựu điểm chỉ, cụ Qúy ký tênlàm chứng Sau đó, vào ngày 04-01-1999 được ông Thưởng (là Trưởng thôn)

và Uỷ ban nhân dân xã Mai Lâm xác nhận Tuy nhiên, ông Thưởng khôngchứng kiến cụ Hựu lập di chúc và Uỷ ban nhân dân xã Mai Lâm chỉ xác nhậnchữ ký của ông Thưởng chứ không xác nhận nội dung của di chúc Mặt khác,qua giám định dấu vân tay của cụ Hựu tại bản di chúc thì Viện khoa học hình

sự Tổng cục cảnh sát kết luận: dấu vân tay mờ không thể hiện rõ các đặc điểmriêng nên không đủ yếu tố giám định Do đó, chưa đủ căn cứ xác định di chúcnêu trên thể hiện đúng ý chí của cụ Hựu Giám đốc thẩm xét thấy, Tòa sơ thẩm

và Tòa phúc thẩm công nhận di chúc ngày 25-11-1998 của cụ Hựu là hợp pháp

là chưa đủ căn cứ Quyết định giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyệnĐông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định pháp luật

Trang 6

1.1 Điều kiện về hình thức để di chúc tự viết tay có giá trị pháp lý? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời ?

Trả lời:

Điều kiện để di chúc viết tay có giá trị pháp lý: căn cứ vào khoản 1 Điều 630 vàĐiều 631, Điều 633 của BLDS năm 2015:

Điều 630 Di chúc hợp pháp:

1 Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừadối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức

xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật

Nội dung của di chúc phải đảm bảo có các nội dung cơ bản sau:

Điều 631 Nội dung của di chúc

1 Di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau:

a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;

b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

d) Di sản để lại và nơi có di sản

Điều 633 Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng

Người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc

Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân theo quyđịnh tại Điều 631 của Bộ luật này

1.2 Nếu di chúc của Ông Này là di chúc phải có người làm chứng thì những người đã làm chứng di chúc của Ông Này có là người làm chứng hợp pháp không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời

Trả lời:

Xét trong trường hợp của Ông Này, thì nếu di chúc của Ông Này là di chúcphải có người làm chứng thì những người làm chứng cho di chúc của Ông Nàychỉ em gái, em trai, cha Ông Này là người làm chứng không hợp pháp, vì theođiểm a, điểm b khoản 1 Điều 651 BLDS 2015 quy định về thừa kế theo phápluật như sau:

Điều 651 Người thừa kế theo pháp luật

1 Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi,con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột,chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ôngnội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại

Những người làm chứng cho di chúc của Ông Này là em gái, em trai, cha ÔngNày

Vậy đã vi phạm khoản 1 Điều 632 BLDS 2015

Quy định về việc làm chứng cho người lập di chúc:

1 Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sauđây:

Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc

Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc

Trang 7

Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăntrong nhận thức, làm chủ hành vi.

1.3 Di chúc của Ông Này có là di chúc do Ông Này tự viết tay không? Vì sao?

Trả lời:

Di chúc của Ông Này là di chúc do Ông Này tự viết tay Vì

Trong bản án có đoạn “Để tránh tranh chấp về sau nên ông Này viết giấy này

để nhà và đất đai cho cháu Hiếu thừa hưởng sau này của Ông Này có mất thìcháu Hiếu có chỗ ở và thờ cúng cho Ông Này”

Trong phần xét thấy có đoạn : “Xét thấy, giấy thừa kế do Ông Nguyễn Này viếtkhông được chính quyền địa phương công chứng, chứng thực nhưng đươc xáclập lúc Ông Này còn minh mẫn ,sáng suốt ”

Ta có thể kết luận rằng di chúc này là do Ông Này tự tay viết

1.4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến hình thức di chúc của Ông Này khi đây là di chúc do Ông Này tự viết tay

Trả lời:

Theo Điều 633 BLDS 2015, điều kiện về hình thức duy nhất đối với di chúc tựviết tay là người lập phải tự ký vào văn bản di chúc Ngoài ra không có quyđịnh nào về việc phải công chứng, chứng thực hay có người làm chứng

Xét thấy trường hợp của Ông Này, ông đã tự viết tay di chúc, tự ký và đượclàm chứng bởi 3 người: em trai, em gái, cha Ông Này Việc làm chứng của dichúc Ông Này làm tăng tính xác thực của bản di chúc, không phải là điều kiện

để được công nhận là hợp pháp Do thỏa mãn những điều kiện mà luật đã quyđịnh ở Điều 633, 634 BLDS 2015 nên việc Tòa án công nhận di chúc của ÔngNày là hợp lí

1.5 Di chúc của cụ Hựu đã được lập như thế nào?

Trả lời:

Di chúc ngày 25-11-1998 của cụ Hựu là do cụ Hựu đọc cho ông Vũ viết, cụHựu điểm chỉ, cụ Quý ký tên làm chứng Sau đó, vào ngày 04-01-1999 đượcông Thưởng (là Trưởng thôn) và Uỷ ban nhân dân xã Mai Lâm xác nhận Tuynhiên, ông Thưởng không chứng kiến cụ Hựu lập di chúc và Uỷ ban nhân dân

xã Mai Lâm chỉ xác nhận chữ ký của ông Thưởng chứ không xác nhận nộidung của di chúc Mặt khác, qua giám định dấu vân tay của cụ Hựu tại bản dichúc thì Viện khoa học hình sự Tổng cục cảnh sát kết luận: dấu vân tay mờkhông thể hiện rõ các đặc điểm riêng nên không đủ yếu tố giám định Do đó,chưa đủ căn cứ xác định di chúc nêu trên thể hiện đúng ý chí của cụ Hựu Giámđốc thẩm xét thấy, Tòa sơ thẩm và Tòa phúc thẩm công nhận di chúc ngày 25-11-1998 của cụ Hựu là hợp pháp là chưa đủ căn cứ Quyết định giao hồ sơ vụ

án cho Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm lạitheo đúng quy định pháp luật

1.6 Cụ Hựu có biết chữ không? Đoạn nào của Quyết định số 874 cho câu trả lời?

Trả lời:

- Cụ Hựu không biết chữ

- Đoạn của Quyết định số 874 cho câu trả lời trên là: “Ông Quang xác định cụHựu là người không biết chữ”

Trang 8

1.7 Di chúc của người không biết chữ phải thỏa mãn các điều kiện nào để có hình thức phù hợp với quy định của pháp luật?

Và áp dụng khoản 2 Điều 636 BLDS 2015: “Trường hợp người lập di chúckhông đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc khôngđiểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhậntrước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy bannhân dân cấp xã Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của

Ủy ban nhân dân cấp xã chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc

và người làm chứng.”

Thì khi đó, di chúc sẽ hợp pháp

1.8 Các điều kiện nào nêu trên đã được đáp ứng đối với di chúc của ông Hựu?

Trả lời:

- Di chúc được người làm chứng lập thành văn bản

- Di chúc có công chứng và làm chứng (có 02 người là ông Đỗ Văn Vũ và cụ

Đỗ Thị Quý ký tên làm chứng, có sự xác nhận của ông Hoàng Văn Thưởng –trưởng thôn và Ủy ban nhân dân xã Mai Lâm.)

1.9 Các điều kiện nào nêu trên đã không được đáp ứng đối với di chúc của ông Hựu?

Trả lời:

- Ông Thưởng không chứng kiến cụ Hựu lập di chúc

- Không phải tự tay cụ Hựu đem di chúc đi xác thực mà Bà Lựu mang di chúcđến Ủy ban nhân dân xã Mai Lâm xác nhận

- Ủy ban nhân dân xã Mai Lâm chỉ xác nhận chữ ký của ông Thưởng chứkhông xác nhận nội dung của di chúc

- Dấu vân tay của cụ Hựu bị mờ, không thể hiện rõ được các đặc điểm riêngnên không đủ yếu tố giám định ý chí của cụ Hựu trước khi mất

1.10 Theo anh/chị, di chúc nêu trên có thỏa mãn điều kiện về hình thức không? Vì sao?

Trả lời:

- Theo quan điểm cá nhân, di chúc nêu trên không thỏa mãn điều kiện về hìnhthức Căn cứ theo khoản 3 Điều 652 BLDS năm 2005: “Di chúc của người bịhạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứnglập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.” Mặc dù di chúc của

Trang 9

ông Hựu đã được lập thành văn bản, có người làm chứng nhưng về phần côngchứng hoặc chứng thực thì chưa thỏa mãn yêu cầu.

- Ngoài ra, theo khoản 1 Điều 658 BLDS năm 2005: “Công chứng viên hoặcngười có thẩm quyền chứng thực phải ghi chép lại nội dung mà người lập dichúc đã tuyên bố Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khixác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí củamình.” Trong trường hợp này, ông Hựu đọc cho ông Vũ viết (không phải côngchứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực), cụ Đỗ Thị Quý ký tên làmchứng, bà Lựu mang di chúc đến Ủy ban nhân dân xã Mai Lâm xác nhận vàdấu vân tay của ông Hựu bị mờ nhòe, không thể hiện đúng ý chí của ông Hựu

Do đó, điều này không phù hợp với quy định của pháp luật

- Bên cạnh đó, ông Hựu không thuộc trường hợp ở khoản 2 Điều 658 BLDSnăm 2005 Ta cần phân biệt di chúc được viết hộ với di chúc được lập bởingười không thể tự lập di chúc do mù chữ hoặc khiếm khuyết “Khi người đểlại di sản không thể tự mình viết di chúc (do bị khiếm khuyết thể chất hoặcngười “mù chữ”) thì pháp luật quy định người này phải lập di chúc bằng vănbản theo thủ tục công chứng, chứng thực, đồng thời việc công chứng, chứngthực di chúc phải có người làm chứng thì di chúc mới có hiệu lực.”

(giáo trình trường tr.469-470)

Di chúc trọng về hình thức Trong 5 ngày kể từ khi thành lập di chúc phải đem

ra công chứng và làm chứng Di chúc chỉ cần tự viết và tự ký đã có hiệu lựckhông cần phải có người làm chứng Những người mà cần lập di chúc miệngthì phải có ng làm chứng và những người này k đc hưởng thừa kế theo pl và dichúc

1.11 Suy nghĩ của anh/chị về các quy định trong Bộ luật dân sự liên quan đến hình thức di chúc của người không biết chữ.

Trả lời:

- Trong BLDS năm 2005 có những quy định liên quan đến hình thức di chúccủa người không biết chữ như khoản 3 Điều 652: “Di chúc của người bị hạnchế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lậpthành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.” Và Điều 658 BLDS năm2005: “Việc lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc ủy ban nhân dân xã,phường, thị trấn phải tuân theo thủ tục sau đây:

1 Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặcngười có thẩm quyền chứng thực của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực phải ghi chép lại nộidung mà người lập di chúc đã tuyên bố Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉvào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác vàthể hiện đúng ý chí của mình Công chứng viên hoặc người có thẩm quyềnchứng thực của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn ký vào bản di chúc;

2 Trong trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe đượcbản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng

và người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩmquyền chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn Công chứng viên,người có thẩm quyền chứng thực của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấnchứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng.”

Trang 10

- Những quy định nghiêm ngặt về hình thức như thế này xuất phát từ cơ sởpháp lý và cơ sở kỹ thuật của nó nhằm bảo vệ tối đa ý chí đích thực của người

để lại di sản giả mạo di chúc, đe dọa

Trang 11

VẤN ĐỀ 2: TÀI SẢN ĐƯỢC ĐỊNH ĐOẠT THEO DI CHÚC

2.1 đến 2.6 hay ra thi

* Tóm tắt Quyết định số 359/2013/DS-GĐT ngày 28/8/2013 về V/v: “Tranh chấp thừa kế”:

1 Nguyên đơn: Cụ Lê Thanh Quý

2 Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu Dũng, ông Nguyễn Hữu Lộc

Cụ Lê Thanh Quý và cụ Nguyễn Văn Hương chung sống từ năm 1955, lập hônthú năm 1962, có 12 con chung Trong thời gian chung sống, cụ Quý và cụHương có tạo lập được bất động sản Ngày 06/04/2009, cụ Nguyễn Văn Hươngchết, để lại di chúc có nội dung chia toàn bộ căn nhà cho 5 người con, di chúc

đã được công chứng Nay cụ Quý khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung hai vợchồng nhưng ông Nguyễn Hữu Dũng trình bày căn nhà là tài sản riêng của chaông trước khi cưới mẹ ông Xét thấy, nhà đất được cấp giấy chứng nhận cho cụNguyễn Văn Hương năm 1994 Về di chúc, do đã được công chứng và có giấychứng nhận sức khoẻ của Bệnh viện xác nhận cụ Hương minh mẫn nên đượcxem là hợp pháp Tuy nhiên, về nội dung thì di chúc chỉ có giá trị một phần bởinhà đất trên là tài sản chung của cụ Hương và cụ Quý Tại bản án dân sự sơthẩm quyết định: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cụ Lê Thanh Quý ÔngNguyễn Hữu Lộc khiếu nại bản án dân sự sơ thẩm Tại phiên tòa, Viện kiểm sátnhân dân tối cao quyết định: Hủy bản án dân sự sơ thẩm; Giao hồ sơ cho Tòa

án nhân dân TP HCM xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật

* Tóm tắt Quyết định giám đốc thẩm số 58/2018/DS-GĐT ngày 27-9-2018

về vụ án “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội

1 Nguyên đơn: Ông Trần Văn Y

2 Bị đơn: phòng công chứng M

3 Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Văn D1

Cụ Nguyễn Văn D và cụ Nguyễn Thị C chung sống với nhau nhưng khôngđăng ký kết hôn, hai người có thửa đất số 38 là tài sản chung Vì không có convới cụ C, cụ D chung sống với cụ N và sinh ra ông D1 và sau đó cụ N cũngmất Cụ C và cụ D lập di chúc để lại phần tài sản là bất động sản tại thửa đất số

38

cho ông D1 Tuy nhiên, ông Y cho rằng thửa đất này ông đã mua từ cụ C từnăm 1978 Việc Phòng công chứng M công chứng di chúc của cụ D, văn bảncông bố di chúc của hai cụ đã làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp củagia đình ông Y nên ông khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố các văn bản côngchứng trên vô hiệu Tuy nhiên, các tài liệu do ông Y xuất trình chỉ có cụ Cchuyển nhượng cho ông Y mà chưa có ý kiến của cụ D Ngoài ra, trước khi cụ

C và cụ D mất thì thửa đất số 38 đã bị thu hồi theo Quyết định số 1208/QĐ-Ủyban nhân dân ngày 21/7/2010

Vì các lẽ trên, Tòa án quyết định giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân thành phốVĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định pháp luật, cụthể là cần phải xem xét tính hợp pháp của hợp đồng chuyển nhượng đất, bản dichúc do cụ D và cụ C lập cũng như Văn bản công bố di chúc mới giải quyếttriệt để vụ án

Ngày đăng: 22/04/2022, 23:11

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w