Việc đưa ra các nghiên cứu Hiệp định nông nghiệp cũng như các đáng giá thực hiện Hiệp định này trong nước đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc ban hành chính sách pháp luật nông n
Trang 1WTO là một tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh, gồm các Hiệp định và quy tắc về kinh tế, thương mại v.v , trong đó các quy định về tổ chức và thực hiện các quan hệ kinh tế quốc tế chiếm một số lượng lớn Đặc biệt các quy tắc về nông nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử phát triển của WTO, có thế nói rằng, nông nghiệp là một trong các trụ cột chính của WTO do tích phức tạp ảnh hưởng đến hàng tỷ nông dân và người tiêu dùng trên toàn thế giới Việc đưa ra các nghiên cứu Hiệp định nông nghiệp cũng như các đáng giá thực hiện Hiệp định này trong nước đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc ban hành chính sách pháp luật nông nghiệp quốc gia.
Để thực hiện được Hiệp định và các nguyên tắc này, nhằm đem lại hiệu quả cao cho sự phát triển của quốc gia, rất cần có một nghiên cứu về Hiệp định và nguyên tắc về nông nghiệp của WTO, nhằm:
1 Tìm hiểu thực tiễn áp dụng các quy định về nông nghiệp của Hiệp định nông nghiệp trong WTO ở một số quốc gia
2 Nhằm hiểu biết sâu sắc các quy định trong Hiệp định nông nghiệp;
3 Trên cơ sở đó vận dụng vào thực tiễn quản lý đối với nền kinh tế trong nước và các hoạt động chuyên ngành;
Trang 24 Đưa ra các giải pháp về sửa đổi, bổ sung những thiếu sót trong hệ thống pháp luật.
Với các mục đích trên, đề tài "Chính sách và pháp luật nông
nghiệp Việt Nam và Hiệp định nông nghiệp của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)" sẽ giải quyết được một số vấn đề cơ bản như:
1 Các kiến thức cơ bản về WTO
2 Đưa ra các nghiên cứu, phân tích về Hiệp định nông nghiệp của WTO
3 Hệ thống chính sách, pháp luật hiện tại về nông nghiệp của Việt Nam
4 Các đề xuất nhằm nội địa hóa Hiệp định này, thông qua việc xây dựng các chính sách, pháp luật phù hợp với sự phát triển của Việt Nam
Về mặt thực tiễn
Hợp tác kinh tế quốc tế hiện nay đang là một vấn đề đã được Đảng
và Nhà nước Việt Nam quan tâm sâu sắc Kể từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), Đảng và Nhà nước ta đã coi hợp tác kinh tế quốc tế là nhiệm vụ hàng đầu Nhưng mãi gần 10 năm sau, năm 1995, Nhà nước Việt Nam mới chính thức nộp đơn gia nhập WTO Năm 1997, Việt Nam đã trở thành nước thành viên của ASEAN-Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, năm 1998 trở thành thành viên của APEC (Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương), và đến nay, qua hơn 10 năm đàm phán gia nhập WTO, Việt Nam đang đứng trước vận hội mới trở thành quốc gia thành viên của tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh này
WTO là một tổ chức thương mại lớn nhất thế giới, với sự góp mặt của 149 quốc gia và lãnh thổ trên toàn cầu, tiền thân của WTO là GATT - một hiệp định về thương mại và thuế quan được các quốc gia thiết lập năm
Trang 31947 nhằm thúc đầy thương mại kinh tế giữa các quốc gia sau thế chiến thế giới thứ II Sau này, do GATT không đủ khả năng điều chỉnh sự phát triển kinh tế của các quốc gia, WTO đã được thành lập với phạm vi và mục đích rộng hơn rất nhiều Tham gia vào WTO sẽ tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội thông qua các hình thức đầu tư, thuế quan, tài chính, ngân hàng v.v tạo điều kiện cho pháp luật quốc gia hội nhập vào pháp luật quốc tế.
Việt Nam là một trong các quốc gia đang phát triển với nền kinh tế chuyển đổi sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với dân
số trên 80 triệu dân, trong đó hơn 80% dân số sống ở khu vực nông thôn và hơn 70% lực lượng lao động làm việc trong các lĩnh vực liên quan đến sản xuất nông nghiệp Do đó, sản xuất nông nghiệp có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia Tuy nhiên, nông nghiệp là một lĩnh vực rất nhậy cảm đối với các tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Vào năm 2010, khi các rào cản thuế quan và phi quan thuế bị loại bỏ, nền nông nghiệp Việt Nam, với quy mô sản xuất nhỏ lẻ và tư liệu sản xuất lạc hậu sẽ phải đối mặt với cạnh tranh tự do gay gắt của nền kinh tế thị trường quốc tế
Một trong các hiệp định chính của WTO là Hiệp định nông nghiệp Hiệp định nông nghiệp điều chỉnh các vấn đề liên quan đến các chính sách, luật pháp của các quốc gia thành viên như: Các quy định về tiếp cận thị trường, hỗ trợ trong nước, và trợ cấp xuất khẩu Các quy định trong Hiệp định này tương đối phức tạp và cũng rất khó trong việc thực hiện vì nó liên quan trực tiếp đến việc sửa đổi luật pháp trong nước trong lĩnh vực nông nghiệp Chính vì thế, các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam đang tiến hành nhiều nghiên cứu, và đưa ra các biện pháp, giải pháp để làm hài hoà chính sách, luật pháp trong nước phù hợp với Hiệp định này Tuy nhiên, đây là vấn đề không đơn giản không chỉ với các quốc gia đang phát
Trang 4triển mà ngay cả đối với các quốc gia phát triển, làm thế nào để thực hiện được Hiệp định này cũng là điều hết sức phức tạp Phức tạp ở chỗ phải tiến hành sửa đổi luật pháp trong nước theo hướng phù hợp với các quy định trong Hiệp định, nhưng ngược lại, việc sửa đổi này cũng nhằm bảo vệ thị trường nông sản trong nước, đảm bảo an ninh lương thực, đồng thời cũng đảm bảo quyền lợi của người nông dân trong quá trình hội nhập
Cơ hội đối với ngành nông nghiệp khi tham gia WTO
Minh bạch hoá chính sách pháp luật: Trước hết phải nói rằng việc
tham gia vào Hiệp định Nông nghiệp buộc các nước thành viên phải tiến hành cải cách chính sách pháp luật trong nước của mình phù hợp với các quy định của Hiệp định Các vấn đề cải cách chính sách pháp luật tập trung vào chính sách luật pháp về thuế quan, phi thuế quan, bảo hộ, cạnh tranh v.v… do đó, pháp luật về nông nghiệp Việt Nam có cơ hội lớn đối với việc sửa đổi chính sách phù hợp với quốc tế và trong nước
Khả năng mở rộng thị trường: Gia nhập WTO, Việt Nam sẽ được
các nước thành viên khác dành cho quy chế tối huệ quốc quy chế không phân biệt đối xử có mức thuế nhập khẩu ưu đãi hơn Việc cắt giảm thuế nhập khẩu nông sản, mở rộng hạn ngạch thuế quan, giảm dần thuế đối với hàng nông sản chế biến và xoá bỏ các rào cản phi thuế khác sẽ tạo điều kiện cho hàng nông sản của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam thâm nhập vào thị trường các nước phát triển Thị trường tiêu thụ được mở rộng không những trong khu vực mà cả trên thế giới
Về đầu tư: Môi trường kinh tế - xã hội ổn định, kết hợp với triển
vọng hội nhập quốc tế đã có tác động tích cực tới đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp Nhiều nước đã đầu tư lớn vào Việt Nam như: Đài Loan, Hồng Kông, Pháp, Trung Quốc Gia nhập WTO, hệ thống pháp lý sẽ được điều chỉnh theo hướng phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo ra môi trường
Trang 5kinh doanh trong nước bình đẳng, khuyến khích được mọi thành phần kinh
tế, nhất là các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ tham gia đầu tư vào ngành nông nghiệp Thị trường tiêu thụ nông sản được mở rộng cũng là điều kiện hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam hơn
Về khoa học công nghệ: Hoạt động hợp tác khoa học kỹ thuật, công
nghệ và xây dựng năng lực là nội dung bao trùm tất cả các lĩnh vực của WTO Các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam hy vọng được tham gia nhiều hơn các chương trình hợp tác về khoa học công nghệ cũng như tăng thêm các nguồn hỗ trợ kỹ thuật, tăng cường năng lực khi gia nhập WTO Nông nghiệp Việt Nam sẽ có cơ hội tiếp cận nhiều nguồn công nghệ mới, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản hàng hoá và khả năng cạng tranh của hàng nông sản
Nâng cao khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước:
Gia nhập WTO, Việt Nam không những được hưởng quyền lợi mà các nước thành viên dành cho nhau, ngược lại, Việt Nam cũng phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ dành ưu đãi cho các nước thành viên khác Việt Nam cũng phải
mở cửa thị trường hàng nông sản nhiều hơn, chính sách pháp luật minh bạch
và bình đẳng hơn, các chính sách, pháp luật trợ cấp hoặc hỗ trợ cho nông nghiệp không phù hợp với WTO phải dần bị loại bỏ Như vậy, các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là các doanh nghiệp Nhà nước không còn ỷ lại vào sự
hỗ trợ của nhà nước được nữa Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải chấp nhận cạnh tranh Áp lực này buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải tự vươn lên nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm và các doanh nghiệp
Thách thức
Xuất phát điểm khi gia nhập WTO của Việt Nam nói chung và nền nông nghiệp nói riêng là quá thấp, lại thêm những quy định của WTO đòi
Trang 6hỏi ngày càng khắt khe hơn, chắc chắn sẽ đem lại cho nông nghiệp Việt Nam những thách thức lớn, cụ thể:
- Khả năng cạnh tranh của một số mặt hàng nông sản nước ta còn thấp do năng suất, chất lượng thấp, thiết bị và công nghệ chế biến lạc hậu nên giá thành sản phẩm cao như mía đường, ngô, đậu tương… khi giảm thuế nhập khẩu và bỏ các rào cản phi thuế sẽ phải cạnh tranh nhiều hơn với hàng nông sản nhập khẩu
- Mặc dù nước ta đã đạt được khá nhiều thành tựu về nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi, nhưng do quy mô sản xuất quá nhỏ bé (bình quân cả nước là 0,8 ha đất nông nghiệp/hộ gia đình) nên năng suất lao động rất thấp Thu nhập của hộ gia đình nông dân thấp dẫn đến nông dân không có vốn tái đầu tư mở rộng và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất Chất lượng nông sản hàng hoá nhìn chung còn thấp và không đồng đều cũng là một thách thức rất lớn đối với cả thị trường trong nước và xuất khẩu
- Song song với quá trình đàm phán gia nhập WTO, nước ta cũng đang tham gia tích cực vào quá trình tự do hoá thương mại khu vực như Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN- Trung Quốc (AC-FTA) v.v… Các cam kết về mở cửa thị trường trong nước
sẽ đem lại nhiều thách thức cho nông lâm sản nói chung, nhất là đối với ngành hàng có khả năng cạnh tranh yếu như ngành chăn nuôi (thịt, trứng, sữa), mía đường, ngô, bông vv… Kể cả trong những ngành hàng có khả năng cạnh tranh khá thì cũng có nhiều doanh nghiệp yếu kém, làm ăn thua lỗ triền miên Đây cũng là thách thức không nhỏ đối với ngành nông nghiệp
Như đã đề cập ở trên, Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp, từ chỗ
là một nước thiếu đói triền miên, Việt Nam đã trở thành quốc gia hàng đầu trong khu vực về xuất khẩu các mặt hàng nông nghiệp như: gạo, cà phê, chè,
hồ tiêu cao su Đứng trước bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, ngành nông
Trang 7nghiệp cũng đang tích cực triển khai thực hiện đường lối đổi mới phù hợp với quá trình hội nhập chung của đất nước
Xuất phát từ nhu cầu trên, cần thiết phải có các nghiên cứu, đề tài
về vấn đề thực hiện Hiệp định này, làm thế nào có thể hài hoà các chính sách, luật pháp trong nông nghiệp với các quy định của Hiệp định theo hướng có lợi cho Việt Nam, làm thế nào để điều tiết nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam đem lại nhiều lợi ích hơn cho nông dân, và các giải pháp đưa ra nhằm giúp cho các nhà làm chính sách luật pháp tham khảo và áp
dụng, đề tài "Chính sách và pháp luật nông nghiệp Việt Nam và Hiệp định
nông nghiệp của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)" về cơ bản sẽ góp
phần giải quyết được vấn đề này
2 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Mục đích của đề tài
1.Cung cấp các khái niệm cơ bản trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Các tác động của quá trình này đối với lĩnh vực nông nghiệp
2 Nghiên cứu các nội dung chính của hiệp định nông nghiệp WTO
và việc thực hiện hiệp định này
3 Nghiên cứu chính sách pháp luật nông nghiệp của Việt Nam trong quá trình thực hiện Hiệp định này và đưa ra một số định hướng chính sách xây dựng pháp luật nông nghiệp Việt Nam
Trang 82 Áp dụng, thực hiện Hiệp định nông nghiệp.
3 Chính sách, pháp luật nông nghiệp của Việt Nam trong thực hiện,
áp dụng Hiệp định này và các giải pháp
3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện dựa trên một số tài liệu tham khảo của các Bộ, ngành như Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Ngoại giao, Bộ Thương mại, Ủy ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế, Trường Đại học Ngoại thương, Đại học Quốc gia Hà Nội…, đồng thời trong quá trình nghiên cứu, hệ thống pháp luật quốc gia về lĩnh vực hợp tác kinh tế quốc tế nói chung, về chính sách pháp luật nông nghiệp nói riêng đã được sử dụng theo phương pháp thông kê, phân tích, tổng hợp nhằm đưa ra những nhận xét cụ thể về từng lĩnh vực
Dựa trên những tài liệu có được từ việc thông kê, những nhận định
từ việc phân tích, tổng hợp, và thực tế của Việt Nam, đề tài đã đưa ra một số khuyến nghị về việc xây dựng chính sách pháp luật nông nghiệp cho phù hợp với các quy định trong Hiệp định nông nghiệp của Tổ chức thương mại thế giới (WTO)
4 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về nông nghiệp trong Tổ chức thương mại thế giới WTO.
Chương 2: Hiệp định nông nghiệp và việc thực thi tại một số nước Chương 3: Thực trạng bảo hộ nông nghiệp Việt Nam, định hướng chính sách xây dựng pháp luật nông nghiệp trong khuôn khổ WTO.
Trang 10Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NÔNG NGHIỆP TRONG TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO
1.1 LỊCH SỬ RA ĐỜI, HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN CỦA WTO
1.1.1 WTO có nguồn gốc từ sự ra đời của GATT
WTO ra đời dựa trên sự kế thừa GATT và tiếp tục phát triển ở mức cao hơn với hàng loạt các quy định mới và tiên tiến hơn [15]
Sau hơn 8 năm đàm phán, ngày 15/4/1994, tại Marrakesh, các Bộ trưởng đại diện cho tất cả các bên ký hiệp định chung về thuế quan và thương mại - gọi tắt là GATT 1947, đã nhất trí ký kết văn kiện cuối cùng với
500 trang văn bản và 26.000 trang danh mục, cam kết thừa nhận kết quả của vòng đàm phán Urugoay Đó là Hiệp định thành lập WTO WTO chính thức hoạt động từ ngày 1/1/1995 [17]
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc với nhiều tàn dư nặng nề đề lại cho nền kinh tế - thương mại của các nước trên thế giới, để khắc phục hậu quả chiến tranh, các nước đã có sáng kiến về việc tạo ra cơ chế hợp tác đa phương, nhằm kết hợp và phát huy tối đa các nguồn lực, cũng như khả năng của các nước trong những vấn đề đòi hỏi có sự hợp tác chung của các quốc gia Ý tưởng ban đầu là các nước muốn thành lập một tổ chức thương mại quốc tế (ITO) làm cột trụ thứ ba trong hệ thống "Bretton Wood" cùng với hai thiết chế tài chính khác là Ngân hàng thế giới (WB) và quỹ tiền tệ quốc
tế (IMF) Hơn 50 nước tham dự hội nghị của Ủy ban kinh tế - Xã hội Liên hợp quốc vào tháng 6/1946 đã đề ra Dự thảo Hiến chương ITO bao trùm không chỉ các nguyên tắc thương mại mà còn cả những lĩnh vực khác như lao động, thực tiễn hạn chế kinh doanh, đầu tư quốc tế và dịch vụ
Trang 11Ngay trước khi Hiến chương này được phê chuẩn, 23 trong số 50 nước trên vào năm 1947 đã quyết định cùng đàm phán để cắt giảm hàng rào thuế quan, nhằm nhanh chóng thúc đẩy tự do hoá mậu dịch và điều chỉnh lại những biện pháp bảo hộ được duy trì từ đầu những năm 1930 Kết quả của vòng đàm phán đầu tiên này là 45.000 nhượng bộ về thuế quan ảnh hưởng đến thương mại trị giá 10 tỷ USD, tức là gần 1/5 tổng thương mại trên toàn thế giới Tổng hợp những quy định và cam kết đã thoả thuận được đưa vào một văn kiện pháp lý quốc tế có giá trị ràng buộc đối với các nước Văn kiện pháp lý đó chính là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) GATT đã được 23 nước chính thức ký vào ngày 23/10/1947 và có hiệu lực vào ngày 1/1/1948, trong khi Hiến chương của ITO vẫn đang được các nước đàm phán 23 nước ký GATT sau này đã trở thành những thành viên sáng lập của WTO, vì GATT không phải là một tổ chức mà chỉ là một Hiệp định, nên các nước lúc đó tham gia GATT được gọi là các bên ký kết (Contracting parties) [17].
Mặc dầu, ITO cuối cùng được thông qua tại Hội nghị Liên hợp quốc
về thương mại và làm việc tại Havana tháng 3/1948, Quốc hội một số nước, đặc biệt là Quốc hội Mỹ đã không thông qua Hiến chương này, và vì vậy, tổ chức ITO đã không tồn tại GATT, mặc dù chỉ mang tính tạm thời đã trở thành công cụ pháp lý duy nhất mang tính đa biên, điều tiết thương mại thế giới kể từ năm 1948 cho đến khi WTO được thành lập vào năm 1945
Đặc điểm nổi bật của GATT: Trải qua 48 năm tồn tại, GATT đã tổ chức được 8 vòng đàm phán Nội dung chủ yếu của các vòng đàm phán là vấn đề thuế Ở 6 vòng đầu, giảm thuế là vòng đàm phán duy nhất, sở dĩ như vậy là do thuế là công cụ trực tiếp nhất để nhà nước tác động lên hoạt động trao đổi thương mại với bên ngoài, là rào cản đáng kể nhất đối với tiến trình
Trang 12tự do hoỏ và ổn định mụi trường thương mại quốc tế Nội dung của cỏc vũng đàm phỏn này cú thể túm tắt được như sau [17]:
Cỏc vũng đàm phỏn của GATT
quốc gia
Hạng mục giảm thuế Cỏc kết quả khỏc
1947 Geneve 23 45.000 Ảnh hởng đến 10 tỉ USD hàng hoá
buôn bán, bằng 1/5 giá trị thơng mại thế giới
1949 Annecy 32 5.000 Thuế suất giảm trung bình 35%, số
hàng đợc giảm thuế chiếm 5,6% giá trị hàng hoá buôn bán của thế giới 1950-1951 Torquay 38 8.700 Thuế suất giảm trung bình 26%
1956 Geneve 26 3.000 Thuế suất giảm trung bình 15%, ảnh
hởng tới 2,5 tỉ USD kim ngạch thơng mại thế giới
1960-1961 Geneve
(vũng Dillon)
26 4.400 Thuế suất giảm trung bình 20%, ảnh
hởng tới 4,5 tỉ USD kim ngạch thơng mại thế giới
1964-1967 Geneve
(vũng Kennedy) 62 30.300
Giảm trung bình 35%, ảnh hởng tới
40 tỉ USD kim ngạch thơng mại thế giới 1973-1979 Geneve
(vũng Tokyo)
102 33.000 Thuế suất bình quân sản phẩm chế
biến giảm xuống còn 4,7% (so với mức 40% khi thành lập GATT) 1986-1994 Geneve
(vũng Urugoay)
123 Các nớc phát triển đa số hạng mục
hàng hoá cam kết giảm thuế từ 78% lên 99%, các nớc đang phát triển: từ 21% lên 73%
Nguồn: Tài liệu Ban Thư ký WTO chuẩn bị cho chương trỡnh đào tạo
về WTO ở cỏc nước thuộc khu vực Chõu Á - Thỏi Bỡnh Dương (4/1997).
Qua bảng cú thể thấy, tại 2 vũng đàm phỏn sau này do sự hỡnh thành của cỏc nước đang phỏt triển và cũng với mong muốn phỏt triển thương mại quốc tế, nhiều nước đang phỏt triển đó gia nhập GATT, nõng số lượng GATT lờn 102 (năm 1979) và 123 nước (1994), cỏc nước đang phỏt triển với
tư cỏch là cỏc nước tham gia GATT, cũng đó cam kết đưa hạng mục hàng
Trang 13hoá cam kết giảm thuế từ 21-73% Tại Vòng đàm phán Tokyo, (1973-1979),
do tình hình thương mại thế giới có nhiều thay đổi, nên một số lĩnh vực mới được bổ sung và đưa vào chương trình nghị sự của các cuộc đàm phán tại vòng Tokyo rồi tiếp đến là vòng Urugoay diễn ra trong bối cảnh của các cuộc khủng hoảng, khủng hoảng chu kỳ gắn liền hoặc liên tiếp xen kẽ khủng hoảng cơ cấu, đưa nền kinh tế vào suy thoái trầm trọng Trong tình hình khó khăn như vậy, xung đột thương mại giữa các trung tâm kinh tế lớn trở nên gay gắt, rồi bùng nổ dưới hình thức các cuộc chiến tranh thương mại nhằm tranh dành những khoản lợi nhuận đang càng trở nên khan hiếm Các biện pháp cạnh tranh không lành mạnh và các hàng rào phi thuế được dựng lên để bảo hộ thị trường trong nước làm cho thương mại quốc tế xấu đi trông thấy Tình hình đó đặt ra cho các thành viên của GATT yêu cầu khách quan là phải đưa những vấn đề liên quan đến phi thuế vào thương lượng để tìm ra các lợi ích dung hoà cho nhau [17]
Bởi vậy, tại vòng đàm phán thứ 7, vòng Tokyo, với nỗ lực đầu tiên nhằm cải tổ hệ thống, các nước đã đưa ra một loạt các Hiệp định mới với hệ thống quy tắc về hàng rào phi thuế quan Tuy nhiên, trong phần lớn trường hợp chỉ có một số ít các thành viên của GATT (chủ yếu là các nước công nghiệp phát triển) tham gia vào các hiệp định này Cho đến vòng đàm phán Urugoay, một số Hiệp định đã được điều chỉnh lại và trở thành các cam kết mang tính nhiều bên Đó là các Hiệp định về mua sắm chính phủ, về thịt bò,
về sản phẩm sữa và về máy bay dân dụng
Các hệ thống quy tắc của vòng WTO
Trợ cấp và các biện pháp đối kháng (Điều 6, 16 và 23)
Các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại
Các thủ tục cấp phép nhập khẩu
Mua sắm chính phủ
Định giá hải quan
Trang 14Chống phá giá
Thoả thuận về sản phẩm thịt bò
Thoả thuận về các sản phẩm sữa quốc tế
Thoả thuận về mua bán máy bay dân dụng
Nguồn: Đại học Melbourne, Luật Quốc tế - Chương 7, tr 7.
Tiếp tục phát huy các thành tựu đó, vòng đàm phán cuối cùng trong khuôn khổ hiệp định GATT, vòng Urugoay đã đem đến một bước tiến dài trong nỗ lực của các nước, nhằm cải tổ và mở rộng hệ thống thương mại đa biên Phạm vi các vấn đề thuộc chương trình nghị sự này rất lớn, bao trùm tới 15 lĩnh vực khác nhau của thương mại quốc tế Và đặc biệt hơn, chúng mang tính cả gói, theo đó các nước thoả thuận rằng, nếu việc đàm phán trong một lĩnh vực nào đó bị thất bại thì kết quả của tất cả các cuộc đàm phán khác cũng sẽ bị huỷ bỏ Điều này thể hiện quyết tâm của các nước là muốn đi đến cùng trong việc thương lượng về những lĩnh vực đặc biệt nhạy cảm như nông sản và hàng vải sợi may mặc, dù biết trước là sẽ có khó khăn
Với phạm vi chương trình Nghị sự rộng lớn như vậy, việc nảy sinh rất nhiều các mâu thuẫn giữa các bên trong quá trình đàm phán là tất yếu Để giàn xếp những bất đồng đó, các nước tham gia GATT đã mất gần 8 năm Trong thời gian đó, các nước đã phải lần lượt tháo gỡ những điểm khúc mắc nghiêm trọng nhất như thương mại nông sản, thương mại dịch vụ, các quy tắc chống bán phá giá và việc thành lập một tổ chức mới Kết quả là vòng đàm phán có quy mô lớn nhất lịch sử thương mại thế giới này cũng kết thúc thắng lợi, với 28 văn kiện pháp lý được ký kết liên quan đến hầu hết các khía cạnh pháp lý của lĩnh vực thương mại và đặc biệt WTO đã ra đời Tuy nhiên ghi nhận lại kết quả của 8 vòng đàm phán đều có những khó khăn trong tự
do hoá thương mại Những kết quả của 8 vòng đàm phán cũng là những nội dung mà WTO phải điều chỉnh [17]
Chủ đề đàm phán tại vòng Urugoay
Trang 151 Thuế quan
2 Hàng rào phi thuế quan
3 Sản phẩm tài nguyên thiên nhiên
4 Hàng dệt may
5 Nông sản
6 Sản phẩm nhiệt đới
7 Các điều khoản của GATT
8 Các hệ thống quy định của vòng đàm phán Tokyo
9 Chống phá giá
10 Trợ cấp
11 Sở hữu trí tuệ
12 Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại
13 Giải quyết tranh chấp
14 Thương mại dịch vụ
15 Thế chế hoá hệ thống hợp tác thương mại toàn cầu
1.1.2 Sự khác nhau giữa GATT và WTO
Từ GATT đến WTO là một bước tiến dài của xu hướng quốc tế hoá
và toàn cầu hoá nền thương mại thế giới do đó, WTO không phải là sự thay thế giản đơn của GATT mà là sự kế thừa và hoàn thiện ở một trình độ cao hơn, có sự biến đổi về chất Sự khác biệt giữa hai hệ thống này có thể tóm tắt như sau:
Thứ nhất: Sự biến đổi về chất trong mục tiêu hoạt động của WTO
Như đã nêu ở những dòng đầu tiên của Hiệp định thành lập, WTO sẽ kế thừa tôn chỉ mục đích của GATT đó là "nâng cao mức sống, đảm bảo đầy đủ công ăn việc làm, thúc đẩy tăng thu nhập thực tế và nhu cầu thực sự của người dân, mở rộng sản xuất và trao đổi hàng hoá, dịch vụ, tận dụng được
Trang 16các nguồn tài nguyên của thế giới sao cho phù hợp với mục tiêu tăng trưởng bền vững và cuối cùng là bảo vệ môi trường đi đôi với phát triển kinh tế" Hơn thế nữa, WTO còn phát triển ở mức cao hơn bằng việc đưa vào phương hướng hành động của mình những điểm rất tiến bộ mà trước đây GATT chưa chính thức tuyên bố, đó là "nỗ lực tích cực để đảm bảo rằng các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là các quốc gia kém phát triển nhất duy trì được
tỷ phần tăng trưởng trong thương mại quốc tế tương xứng với nhu cầu phát triển của quốc gia đó Đây là những thành tựu đặc biệt có ý nghĩa là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài của các quốc gia nhỏ và yếu thuộc thế giới thứ ba trong việc xây dựng từng bước một "Trật tự kinh tế thế giới mới-New World Order" dân chủ và công bằng hơn, đảm bảo quyền lợi cho những nước đang phát triển [17]
Thứ hai: GATT chỉ là tập hợp các nguyên tắc được thực hiện bởi các
bên ký kết hoặc có thể được sửa đổi để hoạt động như một tổ chức nếu tổ chức đó ra đời Trong khi đó, WTO và các hiệp định của nó mang tính thường trực lâu dài Với tư cách là một tổ chức quốc tế, WTO có nền tảng vững chắc bởi vì muốn gia nhập WTO, các thành viên phải thông qua cả gói Hiệp định, hàm chứa các nguyên tắc vừa có tính thể chế, vừa có tính cụ thể tạo thành một cơ chế pháp lý đặc thù của WTO và chính các cơ chế pháp lý này đã quy định phương thức vận hành, hoạt động và phát triển của tồ chức này
Thứ ba: WTO là một tổ chức chặt chẽ có các nước thành viên
(members) còn GATT chỉ có các bên ký kết tham gia (contracting parties) WTO có tư cách pháp nhân Điều này có nghĩa WTO có các quyền, nghĩa vụ
và năng lực pháp lý đầy đủ khi tham gia vào các mối quan hệ pháp lý thương mại quốc tế
Thứ tư: GATT chỉ giải quyết các vấn đề của thương mại hàng hoá,
còn lĩnh vực thuộc diện điều chỉnh của WTO rộng hơn nhiều, bao gồm cả
Trang 17thương mại dịch vụ, thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, thương mại trong đầu tư
Thứ năm: cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO, về mặt pháp lý
mang tính chặt chẽ, tự động và nhanh hơn so với cơ chế của GATT, do vậy
mà giảm nguy cơ bế tắc so với hệ thống của GATT Các phán quyết của WTO cũng có giá trị hiệu lực cao hơn và việc thi hành được đảm bảo hơn
Tóm lại, sự khác nhau cơ bản giữa GATT và WTO chính là tính hoàn thiện của hệ thống pháp lý hàm chứa trong WTO nhằm điều chỉnh thương mại trong phạm vi toàn cầu GATT mang tính chất là những thoả thuận tự nguyện giữa các quốc gia, còn WTO là thiết chế pháp lý của hệ thống thương mại thế giới với mục tiêu là thiết lập cơ chế pháp lý, ở quy mô toàn cầu, cho lĩnh vực thương mại quốc tế, trong đó có những ràng buộc liên quan đến trách nhiệm và cả việc xử lý vi phạm của các nước thành viên WTO
1.1.3 Chức năng, nhiệm vụ các nguyên tắc cơ bản của WTO
Nhiệm vụ của WTO là từng bước xây dựng một môi trường thương mại thế giới tự do và lành mạnh, tạo điều kiện tối đa cho các hoạt động thương mại phát triển, đóng góp vào sự tăng trưởng và thịnh vượng chung của kinh tế toàn cầu Đồng thời phối hợp với các tổ chức quốc tế khác thúc đẩy nhanh hơn quá trình tự do hoá thương mại và hội nhập toàn diện của nền kinh tế thế giới Để thực hiện được nhiệm vụ này, WTO có 6 chức năng sau [15]:
1 Tổ chức các cuộc đàm phán đa biên
2 Xây dựng mới, sửa đổi các nguyên tắc, quy tắc pháp lý quốc tế
3 Giải quyết các tranh chấp về thương mại quốc tế
4 Đánh giá định kỳ về chính sách thương mại của các nước nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường
Trang 185 Giám sát việc thực hiện các Hiệp định đa phương của WTO.
6 Phối hợp với các tổ chức quốc tế khác trong việc tham gia hoạch định những chính sách thương mại toàn cầu
Sáu chức năng này cũng đã được quy định rất rõ tại Hiệp định Marrakesh về thành lập WTO
Các nguyên tắc cơ bản của WTO
WTO hoạt động và vận hành theo 6 nguyên tắc cơ bản sau đây:
Nguyên tắc không phân biệt đối xử
Đây là nguyên tắc quan trọng nhất của WTO kế thừa từ GATT Nguyên tắc này sử dụng hai công cụ pháp lý song song để điều chỉnh mối quan hệ thương mại giữa các thành viên là chế độ Đãi ngộ tối hệ quốc (MFN) và chế độ đãi ngộ quốc gia (NT)
Nguyên tắc Đãi ngộ tối huệ quốc (MFN)
Theo chế độ này, mỗi thành viên của WTO phải dành, ngay lập tức
và không điều kiện cho hàng hoá, dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ hay nhà đầu
tư của các nước thành viên khác sự đãi ngộ không kém phần thuận lợi hơn
sự đãi ngộ mà mỗi nước thành viên đó đã dành cho hàng hoá, dịch vụ có xuất xứ từ hay được giao tới bất kỳ một nước thành viên nào khác Nói cách khác, chế độ này dẫn đến kết quả là hàng hoá có xuất xứ từ các nước thành viên được đãi ngộ như nhau trên thị trường tất cả các thành viên khác của WTO Chế độ MFN là chế độ pháp lý quốc tế hướng vào mục tiêu tạo sự bình đẳng giữa tất cả các nước thành viên của WTtO trong thương mại quốc tế
Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT)
Theo chế độ này, mỗi thành viên của WTO phải dành cho hàng hoá, dịch vụ hay quyền sở hữu trí tuệ, nhà đầu tư… của các nước thành viên khác
Trang 19sự đãi ngộ trên thị trường nội địa nước mình (tức là không có những quy định bảo hộ đối với sản phẩm, dịch vụ của nước nhập khẩu so với dịch vụ, sản phẩm của nước xuất khẩu) sau khi hàng đã được nhập khẩu, không kém phần thuận lợi hơn sự đãi ngộ đã được dành cho hàng hoá, dịch vụ hay quyền sở hữu trí tuệ, hay nhà đầu tư …của chính nước mình.
Nếu như chế độ MFN hướng về sự không phân biệt đối xử giữa hàng hoá, dịch vụ của một thành viên của WTO với hàng hoá, dịch vụ …của tất
cả các thành viên khác của WTO thì chế độ NT hướng về sự không phân biệt đối xử giữa sản phẩm, dịch vụ của nước nhập khẩu …
Nguyên tắc tự do hoá thương mại
Tất cả các nước, kể cả nước nghèo nhất đều có lợi khi tham gia vào thương mại quốc tế vì mỗi nước đều có lợi thế so sánh tương đối trong việc sản xuất một số loại hàng hoá, dịch vụ Đó chính là thuyết lợi thế so sánh do nhà kinh tế học Keynes tìm ra từ thế kỷ 19 nền tảng cơ bản của kinh tế học hiện đại WTO phát triển tư tưởng này lên, không chỉ khuyến khích tham gia mà còn tìm cách tối đa hoá hiệu quả của việc tham gia này thông qua tự do hoá thương mại
Để tự do hoá thương mại, Chính phủ các nước có thể sử dụng thuế quan để làm công cụ bảo hộ thị trường trong nước, nhưng đòi hỏi phải cắt giảm các hàng rào thuế quan theo một khuôn khổ đã quy định tại GATT
1994 và họ cũng cần xoá bỏ các biện pháp phi thuế quan như cấm nhập khẩu, ấn định hạn ngạch hoặc các chính sách đối ngoại hỗ trợ xuất khẩu…
Nguyên tắc cạnh tranh
Trên thương trường, các yếu tố nội tại của hàng hoá là điều kiện quyết định khả năng và sức sống của nó Cơ chế cạnh tranh cho phép nhà sản xuất có được đầu vào đáp ứng đúng yêu cầu của sản xuất, với giá cạnh
Trang 20tranh, người tiêu dùng được hưởng những sản phẩm giá thấp nhất, qua đó nâng cao đời sống nhân dân và nền sản xuất phân bổ nguồn lực một cách có hiệu quả WTO có định chế điều chỉnh các biện pháp chống bán phá giá hay đánh thuế đối kháng nhằm triệt tiêu tác dụng của việc hàng hoá bị bán phá giá hay được trợ cấp trực tiếp nhằm mục đích hoặc có tác dụng cạnh tranh không lành mạnh Tuy nhiên để tránh những sự thực hành thương mại không lành mạnh, cá lớn nuốc cá bé qua bán phá giá và trợ cấp hoặc ngược lại lạm dụng các quy định chống bán phá giá và thuế đối kháng để gây trở ngại trá hình cho thương mại, WTO đã thoả thuận về những quy tắc chặt chẽ điều chỉnh lĩnh vực này.
Nguyên tắc công nhận đa biên về tiêu chuẩn chất lượng
Các nước được khuyến khích công nhận đa biên về tiêu chuẩn chất lượng Có nghĩa là khi doanh nghiệp chứng minh được hàng hoá, dịch vụ họ đạt được những tiêu chuẩn nội địa tương đương với tiêu chuẩn của nước nhập khẩu thì nước này phải chấp nhận hàng hoá, dịch vụ đó Tuy nhiên WTO vẫn cho phép các nước được đưa ra những nguyên tắc riêng của mình với điều kiện những nguyên tắc đó phải: Dựa trên cơ sở khoa học, không được gây cản trở lớn cho hoạt động thương mại và không được phân biệt đối xử
Nguyên tắc minh bạch hoá chính sách
Để thuận lợi hoá cho các cá nhân, tổ chức nước ngoài hoạt động thương mại, các nước thành viên phải thực hiện minh bạch hoá chính sách WTO yêu cầu các nước thành viên phải thiết lập những đầu mối cung cấp thông tin ở hai cấp: Chính phủ và doanh nghiệp Các đầu mối ở cấp chính phủ đưa ra thông tin về luật lệ, quy tắc điều chỉnh thương mại Các đầu mối
ở cấp doanh nghiệp trực tiếp liên lạc với các nhà kinh doanh, cho họ biết về những khía cạnh thương mại và kỹ thuật trong việc cung cấp hàng hoá, dịch
Trang 21vụ, tình hình thị trường, các yêu cầu về chất lượng cần có…khi thực thi các biện pháp có ảnh hưởng đến hoạt động thương mại Các chính phủ phải thông báo công khai ở trong nước và ngoài nước
Nguyên tắc khuyến khích cải cách hội nhập
Mục tiêu của WTO là đem lại sự phát triển kinh tế cho các nước thành viên Tuy nhiên nếu tất cả các nước đều tiến hành mở cửa thị trường, cho phép tự do cạnh tranh ngay thì kết quả tất yếu sẽ là sự sụp đổ của các nền kinh tế còn yếu kém Vì vậy, với các nước đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển cần có sự bảo hộ hợp lý và WTO đưa ra những quy định ưu đãi đáng kể đối với những nước này Ví dụ miễn giảm bớt nghĩa vụ trong việc thực hiện TRIMS, TRIPS và GATS, thu hẹp phạm vi thực hiện các thoả thuận về thuế quan, được phép áp dụng nguyên tắc về trợ cấp xuất khẩu bị cấm, cho phép áp dụng dài hơn; được phép giới hạn hàng nhập khẩu; đưa ra tổng hạn ngạch cho phép nhập khẩu với từng nước
1.2 LỊCH SỬ RA ĐỜI HIỆP ĐỊNH NÔNG NGHIỆP TRONG WTO
1.2.1 Vòng đàm phán Uruguay (1986-1994)
Nông nghiệp là một lĩnh vực quan trọng và gây ra nhiều tranh cãi trong vòng đàm phán Uruguay Trong lĩnh vực tồn tại ba quan điểm của ba nhóm nước gồm nhóm các nước xuất khẩu, nhóm các nước nhập khẩu và nhóm trung gian là những nước tự túc được lương thực và tuỳ theo từng hoàn cảnh có thể trở thành nước xuất khẩu hoặc nhập khẩu đối với một loại nông sản nhất định Hàng nông sản trong phần này tập trung vào bốn nhóm chính: ngũ cốc gồm lúa mạch, mỳ, gạo, hạt thô (ngô); hạt có dầu và sản phẩm từ hạt có dầu; sữa và các sản phẩm của sữa; thịt và các sản phẩm thịt; và đường Đây cũng
là những mặt hàng nông sản có khối lượng thương mại lớn trên thế giới Hầu hết các nước đang phát triển đều thuộc nhóm nước nhập khẩu nông sản hoặc
Trang 22thuộc nhóm thứ ba là những nước tự túc được lương thực và tham gia xuất khẩu một vài mặt hàng nông sản nhất định Có rất ít các nước đang phát triển là nước xuất khẩu chính tất cả 4 nhóm hàng nông sản trên Mặc dù ít nước đang phát triển có thể là những nước xuất khẩu chính về tất cả bốn nhóm hàng nông sản nói trên, những mặt hàng nông sản có thế mạnh của từng nước đang phát triển được xuất khẩu đều là những mặt hàng có tính sống còn với họ [8].
Những nhân tố chính thúc đẩy đàm phán Hiệp định nông nghiệp
Gánh nặng tài chính ngày càng gia tăng đối với các chính sách hỗ trợ nông nghiệp ở các nước phát triển khiến nước này muốn thúc đẩy nhanh tiến trình hoàn thiện Hiệp định nông nghiệp Cung vượt quá cầu trong nông nghiệp đã làm cho giá cả nông sản trên thế giới sụt giảm, gây sức ép ngày càng lớn với việc tăng cường sự hỗ trợ trong nước cho nông dân các nước phát triển [2]
Về cầu: Có bốn yếu tố chính cần phải tính đến gồm: tốc độ tăng dân
số, mức độ mà các nước có thể tự túc sản xuất được lương thực, mức sống của người dân thể hiện qua thu nhập và điều kiện khí hậu tự nhiên Tốc độ tăng dân số cao, thu nhập đầu người thấp cộng với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt sẽ khiến một quốc gia không thể tự túc được lương thực và buộc phải nhập khẩu và ngược lại Đối với thị trường nhập khẩu của các nước phát triển, nếu xét theo trên cả bốn yếu tố trên sẽ thấy thị trường nhập khẩu nông sản của những nước này có xu hướng giảm Theo lý thuyết của các nước phát triển, yếu tố thu nhập có ảnh hưởng nhiều hơn tới mức cầu trong nước, hay còn gọi là quy luật biến đổi theo thu nhập Những biến động trước mắt
về thu nhập sẽ khiến cầu biến động theo một cách tương đối Tuy nhiên, trong lâu dài thì quy luật này không có tác dụng Trong nhiều trường hợp, đặc biệt là đối với các nông sản như lương thực, đồ uống và đặc biệt nông
Trang 23sản thô thì dù thu nhập của dân chúng có tăng lên đáng kể thì mức cầu cũng không tăng nhanh và thâm chí còn chậm hơn thu nhập Thêm vào đó, nhờ các yếu tố kỹ thuật tiên tiến, các nước phát triển có thể có những sản phẩm thay thế làm giảm thêm nữa lượng cầu về nông sản thô từ các nước đang phát triển Do đó, nhìn chung nhu cầu nhập khẩu của các nước đang phát triển về nông sản có xu hướng tăng chậm nếu xét theo các yếu tố trên Ngược lại, đối với thị trường nhập khẩu của các nước đang phát triển, nếu xét trên bốn yếu tố này sẽ thấy trong thời gian tới họ vẫn sẽ là nước nhập khẩu nông sản chính, đặc biệt nếu xét theo góc độ tăng trưởng dân số Với tốc độ tăng trưởng dân số nhanh hơn tốc độ sản xuất thì ngay cả các nước đang phát triển xuất khẩu lương thực hiện nay như Thái Lan, Trung Quốc,
Ấn Độ và thậm chí là Việt Nam trong mười năm tới sẽ biến thành các nước nhập khẩu lương thực [2]
Về cung: Hai yếu tố chính ảnh hưởng tới cung trong nông nghiệp là
chính sách nông nghiệp và khoa học kỹ thuật Cả hai yếu tố này đều quan trọng như nhau và các nước phát triển đều có đủ hai yếu tố này Nhờ những tiến bộ khoa học kỹ thuật, cộng với chính sách hỗ trợ nội địa và trợ cấp xuất khẩu, các nước phát triển từ chỗ là các nước nhập khẩu lương thực đã nhanh chóng trở thành các nước xuất khẩu lương thực Tuy nhiên, do lượng cầu trong nước không lớn nhưng lại có lượng cung lớn nên buộc các nước phát triển phải xuất khẩu nông sản và một phần được xuất khẩu theo hình thức viện trợ lương thực sang các nước đang phát triển Lượng cung trên thế giới lại càng lớn khi số lượng các nước đang phát triển tham gia xuất khẩu nông nghiệp ngày càng tăng dẫn đến sự mất cân đối nghiêm trọng trong lĩnh vực nông nghiệp và giá nông sản nhìn chung sụt giảm nhanh chóng Để đáp ứng với sự sụt giá nông sản, các nước phát triển ngày càng phải tăng sự hỗ trợ cho nông dân trong nước và đến lúc sự hỗ trợ này trở thành gánh nặng đối
Trang 24với họ Hơn nữa, về thực chất, gánh nặng tài chính này phần lớn lại đổ lên vai người tiêu dùng của chính các nước phát triển do phải trả giá tiêu thụ cao hơn nhiều so với giá thế giới Vì vậy, làn sóng phản đối chính sách bảo hộ nông nghiệp cũng gia tăng ở các nước phát triển [2].
Một yếu tố khác thúc đẩy quá trình đàm phán Hiệp định về nông nghiệp cũng cần phải nhắc đến là sự gia tăng của các nước đang phát triển trong suất khẩu nông sản Sự phát triển này, cộng thêm với sự bất mãn vốn
có của các nước đang phát triển về sự bất lực của GATT trong lĩnh vực nông nghiệp đã tạo ra sức ép mạnh mẽ buộc các nước phát triển phải mở cửa lĩnh vực nông nghiệp
Những vấn đề trong vòng đàm phán Uruguay
Xuất phát từ thực tế là quy luật cung cầu trong thương mại nông nghiệp
đã bị bóp méo trong suốt thời gian tồn tại của GATT, những vấn đề chính đặt ra đối với lĩnh vực nông nghiệp trong vòng đàm phán Uruguay gồm:
- Sự mất cân đối lớn giữa cung và cầu đối với các sản phẩm nông nghiệp cộng với sự chênh lệch lớn về giá cả giữa thị trường thế giới và trong nước
- Chủ nghĩa bảo hộ thông qua các chính sách hỗ trợ nội địa và trợ cấp xuất khẩu và những tác động tiêu cực của nó đối với các nước đang phát triển
- Sự thiếu hiệu quả của GATT và phản ứng của các nước đối với việc
mở của thị trường nông nghiệp
- Gánh nặng tài chính ngày càng tăng đối với các nước phát triển trong các chính sách hỗ trợ nông nghiệp khiến các nước này muốn thúc đẩy nhanh quá trình đàm phán nông nghiệp
Quan điểm của các nhóm nước trong vòng đàm phán Uruguay
Trang 25EU phản ứng tiêu cực với việc tự do hoá lĩnh vực nông nghiệp và cho rằng nguyên nhân của các vấn đề trên chính là sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật chứ không phải do chính sách hỗ trợ của chính phủ Sự gia tăng nhanh chóng của sản lượng nông sản khiến cung vượt quá cầu đi đôi với sự phát triển vượt bậc của sinh học trong việc tạo ra những giống vật nuôi và cây trồng mới và đã tăng cường khả năng tự cung, tự cấp của các quốc gia Trong hoàn cảnh đó, thương mại trong nông nghiệp không những
sẽ bị hạn chế như hiện nay mà còn tiếp tục bị hạn chế trong tương lai do lượng cung tiếp tục tăng Thậm chí không có sự hỗ trợ của nhà nước, khoa học kỹ thuật sẽ tiếp tục làm cho sản lượng nông nghiệp tăng vọt trong tương lai EU đề nghị quá trình tự do hoá trong nông nghiệp phải được tiến hàng theo giai đoạn và tuỳ theo thị trường của từng loại nông sản khác nhau Tại hội nghị bộ trưởng Brussel tháng 12/1990 EU nhận ra rằng nếu không có sự nhân nhượng với những nước đòi tự do hoá lĩnh vực nông nghiệp thì khó có thể đi đến một Hiệp định cụ thể Tuy nhiên, nếu EU nhân nhượng trước khi cải tổ chương trình nông nghiệp chung (CAP) của mình thì sẽ vấp phải sự phản kháng trong nội bộ Do đó, EU quyết định sẽ cải tổ phần nào CAP từ năm 1991 trước khi đi đến nhân nhượng cụ thể [24]
Mỹ và nhóm Cairns: ủng hộ đẩy mạnh tự do hoá trong nông nghiệp
và cho rằng các chính sách như hỗ trợ nội địa, trợ cấp xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu là những nguyên nhân chính bóp méo thương mại, gây ra sự mất cân đối giữa cung và cầu trong nông nghiệp Mỹ đề nghị xoá toàn bộ trợ cấp nông nghiệp và các chính sách nhập khẩu trong vòng 10 năm, đồng thời hoà hợp các tiêu chuẩn sức khoẻ và vệ sinh dịch tễ [24]
Các nước đang phát triển nhập khẩu nông sản cho rằng cung vượt quá cầu chỉ xảy ra đối với một số nông sản ở một số nước phát triển Xét trên toàn cầu, cung vẫn thấp hơn cầu Trong một vài trường hợp, do các chính sách trong nước, đặc biệt ở các nước phát triển đã khiến những nước
Trang 26này nhanh chóng biến thành các nước xuất khẩu nông sản lớn Tuy nhiên, vấn đề chính trên thế giới đối với thương mại trong nông nghiệp là sức mua không đủ và sự mất cân đối giữa sản xuất và tiêu thụ trên phạm vi toàn cầu Những nước này khuyến nghị việc tự do hoá thương mại nông nghiệp phải tính đến lợi ích phát triển của những nước nghèo như tăng thu nhập, việc làm, bảo đảm an toàn lương thực không để xẩy ra các hậu quả chính trị, xã hội Trong quá trình tự do hoá cần có sự hỗ trợ thêm từ các nước phát triển đối với các nước đang phát triển, ví dụ phải có những ưu đãi nhất định trong thực hiện các cam kết, bảo lưu các biện pháp trợ cấp xuất khẩu và hỗ trợ nội địa vì đối với một số nước đang phát triển nông nghiệp là lĩnh vực quan trọng hàng đầu cho sự phát triển của đất nước.
Do những quan điểm mâu thuẫn nhau, nên vòng đàm phán Uruguay
về nông nghiệp tiến triển chậm chạp Đặc biệt cuộc cải tổ CAP của EU không đạt được nhiều kết quả khả quan để tạo động lực thúc đẩy quá trình đàm phán tiếp theo Trước tình hình đó, giám đốc của GATT đã dự thảo một Hiệp định về nông nghiệp, bao hàm những điều khoản nhân nhượng của các bên Theo dự thảo, quá trình tự do hoá trong nông nghiệp được thúc đẩy mạnh hơn với nhiều ưu đãi hơn cho các nước đang phát triển trong nhiều lĩnh vực Mỹ và nhóm Cairns tuyên bố chấp nhận dự thảo này trong khi EU phản đối mạnh mẽ, đặc biệt là Pháp, và cho rằng nó sẽ đe doạ phá hoại lợi ích của EU Ngày 20-11-1992, một dự thảo khác được soạn thảo được gọi là
dự thảo Blair house, Dự thảo này có phần thiên về các đòi hỏi của EU và được EU chấp nhận trong khi Mỹ và nhóm Cainrs không hài lòng lắm Hiệp định nông nghiệp được thông qua với phần lớn nội dung lấy từ dự thảo Blair house
1.2.2 Các yêu cầu của WTO liên quan đến nông nghiệp
Các Hiệp định liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp
Trang 27- Hiệp định nông nghiệp
- Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại
- Hiệp định về việc áp dụng các biện pháp kiểm dịch động thực vật
- Hiệp định về biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs)
- Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs)
Nông nghiệp là lĩnh vực rất nhạy cảm trong quan hệ thương mại thế giới Sau 8 năm đàm phán tại vòng đàm phán Uruguay, Hiệp định Nông nghiệp
đã được ký kết (1994) Hiệp định nông nghiệp đã tăng cường các luật lệ và các quy định điều chỉnh chính sách nông nghiệp theo ba nội dung chính như sau:
Mở cửa thị trường: Thực hiện thuế hoá các biện pháp phi thuế và
cam kết thuế, coi thuế là biện pháp duy nhất để bảo hộ sản xuất trong nước [4]
Trợ cấp trong nước: Tất cả các thành viên kê khai mức độ trợ cấp của chính phủ đối với sản xuất nông nghiệp Các chính sách thuộc diện đầu
tư phát triển, không mang tính bóp méo thương mại (nghiên cứu khoa học, đào tạo, khuyến nông, cơ sở hạ tầng…) được khuyến khích áp dụng Các hình thức trợ cấp làm bóp méo thương mại phải cam kết cắt giảm nếu vượt quá mức cho phép (mỗi mặt hàng không được vượt quá 5% đối với nước phát triển và 10% đối với các nước đang phát triển giá trị của mặt hàng đó) [4]
Trợ cấp xuất khẩu: Hiệp định quy định các nước không trợ cấp xuất
khẩu Đối với hiện đang trợ cấp xuất khẩu lớn sẽ phải cam kết cắt giảm cả về khối lượng và giá trị trợ cấp (36% về giá trị và 21% về khối lượng các mặt hàng được nhận trợ cấp xuất khẩu) [4]
Trang 28Đối với các đang đàm phán WTO như Việt Nam, phải thực hiện đàm phán với các nước thành viên cả ba lĩnh vực trên để đổi lại được hưởng quy chế ưu đãi của họ, các nước thành viên WTO thường yêu cầu nước muốn gia nhập phải cam kết các điều kiện ngặt nghèo hơn nhiều so với các nước đã là thành viên của WTO.
Bên cạnh Hiệp định nông nghiệp, Việt Nam cũng phải cam kết thực hiện hiệp định về việc áp dụng các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS), Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ, Hiệp định về các biện pháp kỹ thuật trong thương mại [4]
Nội dung Hiệp định kiểm dịch động thực vật bao gồm: Luật, pháp lệnh, điều lệ, quy định về công tác thú y và bảo vệ thực vật, các thủ tục, quy trình kiểm nghiệm, kiểm tra, đánh giá dịch hại, chứng nhận phê chuẩn, các biện pháp cách ly, xử lý và các quy định về phương pháp thống kê, bao bì, đánh dấu Vì vậy, việc áp dụng SPS là một qúa trình xây dựng một hệ thống văn bản pháp lý, chuẩn bị đội ngũ cán bộ được đào tạo với một cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của công tác kiểm dịch động thực vật từ trung ương đến địa phương
Các nước đang phát triển chung và Việt Nam nói riêng đều gặp các khó khăn trong việc tuân thủ các biện pháp kiểm dịch động thực vật như quy định tại Hiệp định này, nhất là khâu đánh giá tình hình dịch bệnh trong cả nước để đề ra các tiêu chuẩn SPS phù hợp và khoa học Vì vậy, Việt Nam đang phải nhanh chóng xây dựng và hoàn thiện các biện pháp kiểm dịch trong nước cũng như tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế để tạo thuận lợi cho thương mại hàng nông sản
1.2.3 Vai trò của Hiệp định nông nghiệp
Trang 29Như đã đề cập, Hiệp định nông nghiệp của tổ chức thương mại thế giới WTO được các quốc gia đàm phán trong vòng đàm phán Uruguay từ năm 1986-1994 và đây là bước quan trọng tiến tới sự cạnh tranh lành mạnh hơn cũng như ít bóp méo hơn trong lĩnh vực nông nghiệp Hiệp định bao gồm cam kết từ phía các nước thành viên WTO nhằm cải thiện việc tiếp cận thị trường và cắt giảm những hình thức trợ cấp bóp méo thương mại nông sản Những quy định trong Hiệp định được thực hiện bắt đầu từ năm 1995 Hiệp định nông nghiệp có một số vai trò sau:
- Điều chỉnh một trong những vấn đề quan trọng nhất của kinh tế thế giới, đó là lĩnh vực nông nghiệp: Tại rất nhiều quốc gia, gồm cả các nước phát triển lẫn các nước đang phát triển, thương mại nông sản là một trong những thành phần quan trọng trong nền kinh tế và có vai trò to lớn trong sản xuất nông nghiệp quốc gia cũng như việc làm
- Hiệp định nông nghiệp loại bỏ những quy định bóp méo thương mại cũng như những thiệt hại gây ra bởi cơ chế theo hướng phi thị trường, là nguyên nhân dẫn tới việc sử dụng không hiệu quả nguồn lực
- Có vai trò giảm đói nghèo: Ngân hàng thế giới đã tính toán rằng: việc loại bỏ những bóp méo thương mại nông sản trong trợ cấp và thuế quan
có thể giúp tăng cường thương mại thế giới ít nhất là 0,5 nghìn tỷ USD và giúp khoảng 159 triệu người thoát khỏi đói nghèo vào năm 2015
- Giải quyết các vấn đề liên quan đến an ninh lương thực: hệ thống thương mại cũng có những vai trò quan trọng trong an ninh lương thực toàn cầu Hiệp định đưa ra các cơ chế bảo đảm đáp ứng được sự thiếu hụt về lương thực tại bất cứ quốc gia, khu vực bị ảnh hưởng thiên tai Đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, các điều khoản trong Hiệp định đưa
ra những cơ hội nhằm cải thiện tốc độ tăng trưởng thông qua thương mại hàng hoá, nơi mà các quốc gia này có những lợi thế cạnh tranh hơn nếu như
Trang 30những điều kiện thương mại ít bị bóp méo Bên cạnh đó, sẽ loại bỏ được việc trồng những loại cây gây nghiện
Trong điều kiện hiện nay, toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và
xây dựng nền kinh tế mở đã thực sự trở thành những xu hướng có tính khách
quan Nền kinh tế của mỗi nước trở thành một bộ phận cùa nền kinh tế
toàn cầu và chịu ảnh hưởng trực tiếp của những động thái kinh tế tòan cầu
Nhận thức rõ bối cảnh đó, Đại hội lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ "Phát huy cao độ nội lực, tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài và chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền
2 "Giai đoạn thực hiện" có nghĩa là giai đoạn 6 năm kể từ năm 1995 đối với các quốc gia phát triển Ngoài ra, thời hạn này được áp dụng dài hơn đối với các thành viên là các quốc gia đang phát triển (9 năm)
3 "Chi tiêu ngân sách" hoặc "chi tiêu" bao gồm cả phần thu ngân sách bị bỏ qua
Trang 314 "Diện sản phẩm" là các sản phẩm nông sản được đưa ra tại Phụ lục 1 của Hiệp định nông nghiệp.
5 "Tiếp cận thị trường" là khả năng một quốc gia cho phép các nước thành viên khác trong tổ chức thương mại thế giới WTO tiếp cận với thị trường nước mình, thông qua các biện pháp thuế quan và phi thuế quan Nếu hàng rào thuế quan/phi thuế quan cao - khả năng tiếp cận thấp; ngược lại, nếu các thành viên hạ mức thuế quan/ phi thuế quan thấp thì cơ hội tiếp cận thị trường cao hơn
6 "Trợ cấp xuất khẩu" là những trợ cấp dựa trên kết quả thực hiện xuất khẩu, kể cả các loại trợ cấp xuất khẩu trong danh mục tại Điều 9 của Hiệp định Là những trợ cấp từ phía nhà nước tạo điều kiện tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu
7 "Hỗ trợ trong nước" là những chính sách tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tới sản xuất nông nghiệp trong nước Các chính sách này theo hướng dẫn của ban thư ký WTO được chia làm ba loại chính: "gồm các chính sách cho phép áp dụng tự do-Green box", "các chính sách áp dụng hạn chế theo chương trình áp dụng-Blue box" và "các chính sách không được phép áp dụng-Amber box"
Trong toàn bộ nội dung phân tích Hiệp định dưới đây chúng tôi sẽ phân tích Hiệp định theo ba nội dung chính gồm: Tiếp cận thị trường, hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu
Trang 32Chương 2
HIỆP ĐỊNH NÔNG NGHIỆP
VÀ VIỆC THỰC THI TẠI MỘT SỐ NƯỚC
2.1 CÁC NỘI DUNG CHÍNH CỦA HIỆP ĐỊNH NÔNG NGHIỆP
2.1.1 Mục tiêu của hiệp định nông nghiệp
Mục tiêu đầu tiên của Hiệp định nông nghiệp là nhằm cải cách những nguyên tắc, quy định của chính sách nông nghiệp cũng như nhằm giảm bớt các bóp méo thương mại hàng nông sản gây ra bởi chủ nghĩa bảo
hộ nông nghiệp và hỗ trợ trong nước Xu hướng này đã trở nên rất mạnh mẽ trong những năm gần đây Đặc biệt là tại các nước phát triển đã cố gắng tìm kiếm các biện pháp, công cụ nhằm bảo vệ ngành nông nghiệp trong nước trong việc mở cửa thị trường
Do đó, mục đích của Hiệp định nông nghiệp là kiềm chế những chính sách, trên khía cạnh toàn cầu, tạo ra những bóp méo trong sản xuất và thương mại hàng nông sản Những chính sách này được chia làm các danh mục như: hạn chế tiếp cận thị trường, hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu Mỗi một loại danh mục chính sách luật pháp được điều chỉnh bởi các điều khoản và phụ lục khác nhau trong khuôn khổ hiệp định gồm:
- Tiếp cận thị trường (Market access-Điều 4);
- Cam kết hỗ trợ thị trường (Domestic support-Điều 6);
- Cam kết trợ cấp xuất khẩu (Export-Subsidy-Điều 9)
Các điều khoản này và các quy định, phụ lục liên quan xác định những chính sách, quy định nào của hệ thống pháp luật trong nước nằm trong danh mục nào của Hiệp định, đồng thời đưa ra các nguyên tắc liên quan đến việc xây dựng pháp luật trong danh mục đó Cần nhấn mạnh rằng: Hiệp định nông nghiệp là một văn bản pháp luật, và nó có tính rằng buộc
Trang 33pháp lý cao với sự đồng thuận của các thành viên tham gia trong quá trình đàm phán Tại lời nói đầu của Hiệp định nông nghiệp đã chỉ ra mục tiêu là:
Thiết lập một hệ thống thương mại nông sản công bằng và theo định hướng thị trường" Đây là mục tiêu quan trọng nhất của Hiệp định nông nghiệp Để đạt được mục tiêu này, phải được thực hiện thông qua đàm phán cam kết về trợ cấp và bảo hộ, thông qua việc thiết lập những luật lệ và quy tắc chặt chẽ và có hiệu quả hơn [20]
2.1.2 Các nội dung chính của Hiệp định
Hiện nay, Hiệp định nông nghiệp mới chỉ điều chỉnh việc sử dụng một số biện pháp bảo hộ nhất định Theo phân tích Hiệp định, cũng như các hướng dẫn của ban thư ký WTO, Hiệp định này nông nghiệp gồm có 13 phần,
21 điều và 5 phụ lục Có thể tóm tắt nội dung như sau:
Phần 1: Gồm Điều 1,2: quy định về định nghĩa các thuật ngữ và diện sản phẩm áp dụng tại Hiệp định
Phần 2: Gồm Điều 3: quy định việc xây dựng những nhượng bộ và cam kết-đưa ra các cam kết của các nước thành viên trong việc đàm phán thực hiện Hiệp định nông nghiệp
Phần 3: Gồm Điều 4,5: Tiếp cận thị trường và Tự vệ đặc biệt
Phần này được ban thư ký WTO hướng dẫn tương đối chi tiết đối với các quốc gia đang gia nhập WTO như Việt Nam Vấn đề này sẽ được đề cập chi tiết hơn ở các phần sau
Phần 4: Gồm Điều 6, 7: Cam kết hỗ trợ trong nước, Quy tắc chung
về hỗ trợ trong nước: phần này chủ yếu liệt kê các biện pháp hỗ trợ trong nước
Trang 34Theo hướng dẫn của Ban Thư ký WTO cam kết hỗ trợ trong nước được quy định tương đối rõ ràng theo các chính sách như: Chính sách được phép áp dụng, chính sách được áp dụng hạn chế theo các chương trình và chính sách không được phép áp dụng Vấn đề này cũng sẽ được đề cập chi tiết hơn ở các phần sau.
Phần 5: Gồm Điều 8, 9, 10, 11, 12: quy định về các cam kết trợ cấp xuất khẩu; theo đó Hiệp định liệt kê các các hình thức trợ cấp xuất khẩu phải được các quốc gia thành viên cam kết cắt giảm Vấn đề này sẽ được đề cập chi tiết hơn ở các phần sau
Các phần 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13: Gồm các điều 13-21 quy định về các quy tắc hạn chế và cấm xuất khẩu (Điều 12), kềm chế cần thiết (điều 13), các biện pháp kiểm dịch động thực vật (Điều 14), đối xử đặc biệt và khác biệt (Điều 15), các nước chậm phát triển nhất và các nước đang phát triển nhập siêu lương thực (Điều 16), Ủy ban nông nghiệp (Điều 17), rà soát thực hiện cam kết (Điều 18), tham vấn và giải quyết tranh chấp (Điều 19),
tiếp tục quá trình cải cách (Điều 20) và điều khoản cuối cùng (Điều 21) là các phần cam kết chung của các quốc gia thành viên, do đó không ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng chính sách pháp luật nông nghiệp của Việt Nam
Theo hướng dẫn của Ban Thư ký WTO về thực hiện Hiệp định nông nghiệp, các nước đang tiếp cận với WTO sẽ phải cam kết thực hiện Hiệp định theo ba nội dung: đưa ra ba lĩnh vực cam kết chính đó là: Tiếp cận thị trường, hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu
Trên cơ sở thực tiễn thực hiện Hiệp định nông nghiệp của các quốc gia thành viên WTO, hướng dẫn thực hiện Hiệp định nông nghiệp và thực trạng chính sách pháp luật nông nghiệp của đang được xây dựng nhằm thực
Trang 35hiện Hiệp định nông nghiệp, đề tài "Chính sách và pháp luật nông nghiệp
Việt Nam và Hiệp định nông nghiệp của Tồ chức thương mại thế giới (WTO)" sẽ tập trung vào các nội dung này Hiệp định nông nghiệp quy định các nước thành viên phải dỡ bỏ ngay lập tức các hàng rào phi thuế trong lĩnh vực nông nghiệp và chuyển thành các biện pháp thuế quan Tuy nhiên, có ba ngoại lệ đối với việc chuyển đổi này, đó là:
- Các biện pháp được áp dụng nhằm điều chỉnh cán cân thanh toán
- Các biện pháp được tiến hành theo các điều khoản chung của GATT 1994 (ví dụ như các biện pháp tự vệ, các biện pháp thuộc ngoại lệ chung (Điều XX-GATT 1994);
- Các nước lựa chọn không áp dụng biện pháp thuế hoá đối với một số mặt hàng và dành cho một lượng nhập khẩu nhất định mặt hàng này
cơ hội tiếp cận tối thiểu đặc biệt
Mức tương đương thuế quan của các NTM được tính dựa theo số liệu của năm 1986-1988 Mức tương đương thuế quan này cộng với mức thuế quan sẵn có tạo thành tổng mức thuế quan Lịch trình và tổng mức thuế quan được quy định theo bảng dưới đây:
Nước Giai đoạn thực hiện Tỷ lệ cắt giảm
Phát triển 1995-2000 Cắt giảm trung bình 36% (giảm tối
thiểu 15% với mỗi dòng thuế)Đang phát triển 1995-2004 Cắt giảm trung bình 24% (giảm tối
thiểu 10% với mỗi dòng thuế)
2.1.2.1 Cơ hội tiếp cận thị trường
Tiếp cận thị trường theo cách hiểu của các nước thành viên trong WTO là việc hàng hoá, dịch vụ của một quốc gia xâm nhập vào thị trường
Trang 36nước khác.Điều 4 -Tiếp cận thị trường của Hiệp định nông nghiệp gồm các nội dung sau:
Nhân nhượng tiếp cận thị trường có trong các danh mục là các cam kết ràng buộc và cắt giảm thuế quan, và các cam kết tiếp cận thị trường khác được nêu tại đó
Các thành viên sẽ không duy trì, viện đến, hoặc áp dụng lại bất kỳ các biện pháp phi thuế thuộc loại đã được yêu cầu chuyển sang thuế quan thông thường", ngoại trừ có quy định khác tại Điều
5 và Phụ lục 5 [20]
Theo hướng dẫn thực hiện Hiệp định nông nghiệp, thấy rằng:
Để khắc phục tình trạng mức thuế nhập khẩu thực tế rất cao sau khi thuế hoá, trong Hiệp định nông nghiệp có 03 khái niệm cụ thể quy định các nước phải dành cho hàng nông sản nhập khẩu các cơ hội tiếp cận thị trường-theo
đó phần giá trị nhập khẩu nằm trong giới hạn này sẽ được hưởng mức thuế thấp
Cơ hội tiếp cận hiện tại: ít nhất là bằng với mức trung bình của 03 năm giai đoạn cơ sở 1986-1988
Cơ hội tiếp cận tối thiểu: cơ hội tiếp cận thị trường tối thiểu trong năm 1995 phải ở mức không ít hơn 3% mức tiêu dùng hàng năm trong giai đoạn 1986-1988 Tỷ lệ này sẽ được tăng lên 5% vào cuối năm 2000 đối với các nước phát triển và vào cuối năm 2004 đối với các nước đang phát triển
Cơ hội tiếp cận tối thiểu đặc biệt (áp dụng đối với các mặt hàng không tiến hành thuế hoá): đối với các nước phát triển, cơ hội tiếp cận tối thiểu đặc biệt là 4% mức tiêu dùng trung bình trong giai đoạn 1986-1988 và tăng dần 0,8% mỗi năm cho đến cuối năm 2000 Với các nước đang phát
Trang 37triển, tỷ lệ quy định tương ứng là 1% mức tiêu dùng hàng năm, 2% vào năm
1999 và lên đến 4% vào năm 2004
Sở dĩ lấy giai đoạn cơ sở là 1986-1988 vì đây là khoảng thời gian 3 năm đầu của vòng đàm phán Urugoay kéo dài 9 năm từ năm 1986-1994 Giai đoạn cơ sở này có thể thay đổi với các nước đàm phán gia nhập sau
Tuy nhiên, nếu như hàng hoá và dịch vụ của một quốc gia thành viên WTO bị đe doạ ảnh hưởng đến sản xuất trong nước, Điều 5 - Các điều khoản
tự vệ đặc biệt đã quy định như sau: Hiệp định nông nghiệp cho phép các nước thành viên áp dụung biện pháp đặc biệt mà không cần bất kỳ biểu hiện nào của việc gây ra (hoặc đe doạ gây ra) ảnh hưởng đối với sản xuất trong nước, miễn là nông sản đó đã được thuế hoá và trong biểu cam kết của thành viên có ký hiệu SSG ở bên cạnh sản phẩm đó Biện pháp tự vệ trong nông nghiệp sẽ được áp dụng khi:
Giá nhập khẩu giảm xuống dưới mức giá lẫy và hoặc
Lượng nhập khẩu vượt trên lượng nhập khẩu lẫy
Mức giá lẫy là giá CIF nhập khẩu trung bình sản phẩm đó trong giai đoạn 1986-1988 sẽ được các nước thành viên trình lên Uỷ ban nông nghiệp
và công bố công khai Lượng nhập khẩu lẫy sẽ tỷ lệ nghịch với tỷ lệ khối lượng nhập khẩu trên tổng tiêu dùng trong nước của mặt hàng đó
Tỷ lệ nhập khẩu/tổng tiêu dùng
< 10% 125% lượng nhập khẩu trung bình
trong giai đoạn cơ sở
<10%<30% 110% lượng nhập khẩu trung bình
trong giai đoạn cơ sở
>30% 105% lượng nhập khẩu trung bình
trong giai đoạn cơ sở
Trang 382.1.2.2 Hỗ trợ trong nước
Hỗ trợ trong nước được hiểu là các chính sách, biện pháp được một quốc gia ban hành ra nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho ngành nông nghiệp phát triển, tăng tính cạnh tranh cho ngành/sản phẩm đó Tại Điều 6, Điều 7, Phụ lục 2, Phụ lục 3, Phụ lục 4: Cam kết về hỗ trợ trong nước, quy tắc chung
về hỗ trợ trong nước được hiểu như sau:
Theo hướng dẫn thực hiện Hiệp định nông nghiệp, Hiệp định nông nghiệp chia các chính sách, quy định có tác dụng hỗ hỗ trợ trong nước thành
ba nhóm lớn: dạng chính sách hỗ trợ hổ phách không được áp dụng (Amber box hay còn gọi là hộp hổ phách), chính sách được hỗ trợ hộp xanh da trờiáp dụng theo các chương trình hạn chế (Blue box-còn gọi là hộp xanh lơ) và chính sách được phép hỗ trợ xanh lá câyáp dụng tự do (Green box- còn gọi
là hộp xanh lá cây) căn cứ vào mức độ ảnh hưởng của các biện pháp này đối với thương mại trong nông nghiệp
Trong toàn bộ phân tích Hiệp định nông nghiệp tới đây sẽ phân tích việc thực hiện Hiệp định trên cơ sở các chính sách Amber box, Blue box và Green box trong nhóm chính sách "Hỗ trợ trong nước"
- Hỗ trợ hộp mầu hổ phách(Amber box)
Đây là các chính sách, quy định, biện pháp không được miễn trừ và phải bị cắt giảm Theo đó, các biện pháp hỗ trợ này được lượng hoá trong tổng AMS
Tổng AMS sẽ tính cả phần chi tiêu ngân sách Chính phủ bỏ ra và phần ngân sách đáng lẽ phải thu được nhưng bỏ qua không thu Các nước thành viên cam kết tổng AMS cho từng năm, tỷ lệ cắt giảm và mức cam kết trần cuối cùng trong giai đoạn thực hiện
Trang 39Phát triển 1995-2000 Giảm 20% tổng AMS
Mức hỗ trợ cho phép (de minimis): Các nước được duy trì mức độ
hỗ trợ dạng hộp hổ phách nhất định nếu tổng giá trị hỗ trợ này chiếm một
tỷ lệ nhỏ (5% đối với các nước phát triển và 10% đối với các nước phát triển) trong giá trị sản xuất các sản phẩm cụ thể hoặc trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp
- Hỗ trợ dạng hộp xanh lá cây (Green box)
Đây là những chính sách hỗ trợ chung cho ngành nông nghiệp, không hoặc rất ít bóp méo giá trị thương mại và thường được xây dựng thành các chương trình của Chính phủ Các nước được tự do áp dụng và các biện pháp phi thuế quan (Non-tariff measure-NTM) dạng này và không phải cam kết cắt giảm với điều kiện các NTM này được cấp thông qua 1 chương trình do chính phủ tài trợ và không liên quan tới các khoản thu từ người tiêu dùng và không có tác dụng trợ giá cho người sản xuất
Theo phụ lục II - Hiệp định nông nghiệp của WTO quy định các dạng NTM thuộc nhóm này như sau:
Dịch vụ chung: các NTM thuộc loại này liên quan đến các chương trình cung cấp dịch vụ phúc lợi cho nông nghiệp hoặc cộng đồng nông thôn,
cụ thể là các chương trình nghiên cứu, kiểm soát dịch bệnh và côn trùng, dịch vụ đào tạo, dịch vụ tư vấn, dịch vụ kiểm tra, dịch vụ tiếp thị và xúc tiến thương mại, cơ sở hạ tầng
Dự trữ công vì mục đích an ninh lương thực
Viện trợ lương thực trong nước
Thanh toán trực tiếp cho người sản xuất gồm:
Trang 40Trợ cấp thu nhập dựa trên một số tiêu chí khách quan về thu nhập, nhà sản xuất, mức sản xuất.
Sự tham gia của chính phủ trong các chương trình bảo hiểm thu nhậpThanh toán trực tiếp hoặc thực hiện bằng sự tham gia tài chính của chính phủ trong các chương trình bảo hiểm mùa màng, nhằm giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra
Trợ cấp điều chỉnh cơ cấu thông qua các chương trình hỗ trợ người sản xuất ngừng hoặc từ bỏ sản xuất nông nghiệp
Hỗ trợ điều chỉnh cơ cấu thông qua các chương trình giải phóng nguồn lực khỏi hoạt động giải phóng nông nghiệp
Trợ cấp đầu tư để người sản xuất cơ cấu lại hoạt động sản xuất
Thanh toán theo các chương trình môi trường
Thanh toán các chương trình hỗ trợ vùng
- Hỗ trợ dạng hộp xanh da trời(Blue box)
Đây là các biện pháp hỗ trợ không bị cam kết cắt giảm, được thanh toán trực tiếp theo các chương trình hạn chế sản xuất và thoả mãn một trong các điều kiện sau:
- Các khoản chi đó dựa trên diện tích hoặc sản lượng cố định
- Các khoản chi trả đó tính cho 85% hoặc dưới 85% mức sản lượng
cơ sở
- Các khoản chi trả đó tính trên số đầu gia súc/gia cầm cố định
Các đãi ngộ đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang phát triển: Hiệp định nông nghiệp quy định rằng các nước đang phát triển sẽ không phải cắt giảm các biện pháp trợ cấp sau:
- Trợ cấp đầu tư của Chính phủ