Vận dụng cách tiếp cận hệ thống trong quản lý giáo dục ý nghĩa đối với yêu cầu nâng cao chất lượng quản lý hoạt động thông tin THU HOẠCH Vận dụng cách tiếp cận hệ thống trong quản lý giáo dục ý nghĩa đối với yêu cầu nâng cao chất lượng quản lý hoạt động thông tin khoa học ở Học viện chính trị quân sự hiện nay Lời mở đầu Nghị quyết trung ương 2 khoá VIII đã xác định đổi mới công tác quản lý giáo dục là một trong những giải pháp chủ yếu của quá trình thực hiện các mục tiêu chiến lược phát triển gi.
Trang 1THU HOẠCH-Vận dụng cách tiếp cận hệ thống trong quản lý giáo dục-ý nghĩa đối với yêu cầu nâng cao chất lượng quản lý hoạt động thông tin khoa học ở Học viện chính trị quân sự hiện
nay
Lời mở đầu
Nghị quyết trung ương 2 khoá VIII đã xác định đổi mới công tácquản lý giáo dục là một trong những giải pháp chủ yếu của quá trìnhthực hiện các mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục đào tạo ViệtNam 2010 Đổi mới tư duy về quản lý giáo dục là một điều kiệntiền đề của đổi mới giáo dục Từ năm 1986, theo đường lối củaĐảng, đất nước ta bắt đầu chuyển từ nền kinh tế quản lý theo cơ chếtập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hộichủ nghĩa Điều này buộc giáo dục, trước hết là tư duy quản lý giáodục phải thay đổi cho phù hợp với bối cảnh và điều kiện mới
Như chúng ta đã biết, giáo dục chịu sự tác động chi phối của kinh tế
xã hội là một quy luật cơ bản Do đó, các quy luật của nền kinh tếthị trường như quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật giátrị, quy luật lợi nhuận không thể không chi phối sự phát triển giáodục Có điều, sự chi phối này không giống như sự chi phối trongkinh tế Điều này có tính hai mặt: mặt xã hội và mặt cá nhân củamục tiêu giáo dục quy định Giáo dục tồn tại, vận động và phát triển
vì xã hội và vì con người (một nhân cách trong xã hội)
Trang 2Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã đề ra: “Đẩy mạnh phong tràohọc tập trong nhân dân bằng những hình thức chính quy và khôngchính quy, thực hiện “giáo dục cho mọi người”, “cả nước trở thànhmột xã hội học tập”(1) Trên cơ sở đại hội IX, Đại hội X chỉ rõ: “Thực hiện xã hội hoá giáo dục Huy động nguồn lực vật chất và chítuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục Phối hợp chặtchẽ giữa ngành giáo dục với các ban, ngành, các tổ chức chính trị-
xã hội- nghề nghiệp…để mở mang giáo dục, tạo điều kiện học tậpcho mọi thành viên trong xã hội Tăng cường thanh tra, kiểm tra,giám sát các hoạt động giáo dục Đổi mới cơ chế quản lý giáo dục.Phân cấp, tạo động lực và sự chủ động của các cơ sở, các chủ thểtiến hành giáo dục Nhà nước tăng đầu tư tập trung cho các mục tiêu
ưu tiên, các chương trình quốc gia phát triển giáo dục, hỗ trợ cácvùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hảiđảo; thực hiện việc miễn giảm đóng góp và cấp học bổng cho họcsinh nghèo, các đối tượng chính sách, học sinh giỏi ”(2) Đây là mộtquyết định chiến lược định hướng cho sự phát triển giáo dục trongthời kỳ mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựngcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập và mở cửa Và,
“cả nước trở thành một xã hội học tập” hướng vào mục tiêu nângcao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài trở thành mục tiêu
và động lực để nước ta rút ngắn khoảng cách so với các nước tiên
(1) Đảng cộng sản Việt nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Nxb CTQG, H,2001, tr.109
(2) Đảng cộng sản Việt nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Nxb CTQG, H,2006, tr.97-98.
Trang 3tiến trong khu vực Đây chính là tiền đề đặt ra cho giáo dục phải tựchuyển mình trước đòi hỏi của xã hội và trước thời cơ, thách thứcmới Nhưng tiền đề của sự chuyển mình này là sự đổi mới tư duy về
hệ thống giáo dục Tuy nhiên, sự thay đổi hệ thống giáo dục phảituỳ thuộc vào mục tiêu giáo dục Như trên đã nói, mục tiêu giáo dụcbao gồm mục tiêu vĩ mô- nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồidưỡng nhân tài và mục tiêu vi mô- phát triển nhân cách người họctrong các nhà trường Tóm lại là hệ thống giáo dục phải thay đổi saocho thích ứng với với kinh tế xã hội, nhằm tạo ra chất lượng người,chất lượng lao động và sức cạnh tranh trong hội nhập quốc tế Aicũng thừa nhận rằng hệ thống giáo dục thời phong kiến trước đây là
hệ thống thích hợp với tính chất của nền giáo dục ứng thí, khoa cử;
nó trở nên cứng nhắc trước thời cơ và thách thức mới; nó không mở
ra nhiều con đường thông thoáng, tạo cơ hội thuận lợi cho ngườihọc; và bó chặt người ta vào bằng cấp Đây là hệ thống đã bộc lộnhược điểm không thể chấp nhận được Năm 1986, khi Đảng takhởi xướng công cuộc đổi mới, hệ thống giáo dục của nước ta đã cónhiều thay đổi nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội, của công nghiệphoá, hiện đại hoá, hội nhập, mở cửa giao lưu quốc tế Sự thay đổinày, nhằm tập trung vào hai mục tiêu lớn: Phục vụ đắc lực cho sựphát triển kinh tế- xã hội của đất nước; tạo cơ hội cho mọi ngườiđược học, được phát triển Muốn như vậy thì đòi hỏi hệ thống giáodục phải thể hiện tính liên thông, tính phân hoá trong và giữa cácphương thức giáo dục: chính quy, không chính quy và không chínhthức hoặc không theo nghi thức mà ta quen gọi là phi chính quy
Trang 4Nhưng các phương thức đó phải tạo thành một hệ thống mang tínhchỉnh thể, trong đó các phương thức giáo dục bổ sung nhau, hỗ trợnhau để cùng phát triển và cùng phát triển và cùng hướng vào mụctiêu chung Bởi chỉ có như vậy mới tạo nên sức mạnh ưu trội hayvượt trội (tính trồi) của cả hệ thống giáo dục đối với kinh tế- xã hội.
Nội dung tiếp cận hệ thống trong quản lý giáo dục
Khoa học quản lý giáo dục phát triển nhờ dựa vào các quan điểmtiếp cận phù hợp; tiếp cận là cách, phương pháp xem xét, nghiêncứu, giải quyết một vấn đề lý luận hoặc thực tiễn Trong khoa họcquản lý giáo dục, các tiếp cận chủ yếu thường được đề cập đó là:tiếp cận hệ thống; tiếp cận phức hợp, tiếp cận chức năng, tiếp cậnđiều khiển, tiếp cận đồng bộ; trong đó tiếp cận hệ thống có vị trí vaitrò đặc biệt quan trọng của quá trình quản lý giáo dục Đòi hỏingười nghiên cứu có thể xem vấn đề đang nghiên cứu là một hệthống; có thể đặt nó vào hệ thống lớn nào; giữa chúng có sự tươngtác ra sao…Hoặc trong một nhà trường, những biện pháp quản lýcủa người quản lý nhà trường chỉ đạo thực hiện chương trình vàsách giáo khoa mới phải tạo thành một hệ thống, phải là sự kết hợpcân đối, hài hoà các biện pháp tư tưởng- tổ chức, giáo dục- hànhchính, pháp chế- kinh tế tập trung vào khâu đột phá nào đó để giảiquyết Bởi vì:
Hệ thống là tập hợp nhiều yếu tố, đơn vị cùng loại hoặc cùng chứcnăng, có quan hệ hoặc liên hệ mật thiết với nhau tạo thành mộtchỉnh thể thống nhất
Trang 5Chủ nghĩa duy vật biện chứng coi thế giới khách quan là một chỉnhthể thống nhất Các sự vật hiện tượng và các quá trình tạo thành thếgiới đó vừa tách biệt nhau vừa có liên hệ qua lại thâm nhập vàonhau, chuyển hoá cho nhau Ngay trong một quá trình, một sự vậthiện tượng cũng được tập hợp bởi nhiều yếu tố nhất định có mốiliên hệ với nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất, một cấu trúctrọn vẹn; hơn nữa, bản thân một sự vật hiện tượng lại luôn có nhữngmối quan hệ mật thiết với các sự vật hiện tượng khác Các sự vật,hiện tượng- đối tượng nghiên cứu của khoa học giáo dục là nhữngnội dung khách quan, đều có tính hệ thống- cấu trúc và có các mốiquan hệ phổ biến biện chứng Với cách tiếp cận hệ thống trên, tronglĩnh vực khoa học quản lý giáo dục nó là yêu cầu hết sức cần thiết,bởi nó trang bị những hiểu biết mang tầm thế giới quan- quyết địnhcách tiếp cận tổng quát các vấn đề của hiện thực quản lý và nhữngquan điểm phương pháp luận hướng vào quá trình nhận thức và cảitạo thực tiễn quản lý chung, bao quát chi phối phương pháp quản lýgiáo dục cụ thể Đúng như Lênin đã nói: “ Người nào bắt tay vàogiải quyết các vấn đề riêng, trước khi giải quyết các vấn đề chung,thì người đó trong mỗi bước đi sẽ không tránh khỏi “vấp phải”những vấn đề chung đó một cách không tự giác Mù quáng vấp phảinhững vấn đề chung đó trong trường hợp riêng thì có nghĩa là đưachính sách của mình đến chỗ có những người dao động tồi tệ nhất
mà mất hẳn tính nguyên tắc”( 2)
( 2) V I Lênin Toàn tập, tập 5 Nxb Sự thật, Hà nội, tr.368
Trang 6Khi nghiên cứu quan điểm tiếp cận hệ thống cần chú ý xem xét cácthành tố cấu thành sau:
Phần tử: là tế bào của hệ thống, nó có tính chất riêng và có tính độclập tương đối Trong giáo dục, khái niệm “phần tử” được hiểu mộtcách linh hoạt, nó có thể là một lớp trong một trường học, một cấphọc hoặc một ngành học trong hệ thống giáo dục quốc dân, một bộphận trong cơ cấu của một cơ quan quản lý giáo dục (ví dụ một vụchỉ đạo trong cơ quan Bộ giáo dục và đào tạo), cũng có thể là mộtmặt hoạt động của quá trình giáo dục tổng thể (ví dụ hoạt động dạy
“tính trồi” của hệ thống Đặc tính vượt trội (tính trồi) của hệ thống
là đặc tính của một chỉnh thể chứ không phải của bộ phận và nó làsản phẩm của những tương tác mà không phải là tổng số những tácđộng của các bộ phận Một đội bóng gồm những cầu thủ trung bìnhbiết chơi một cách ăn ý sẽ thắng đội bóng gồm những cầu thủ haynhưng lại chơi một cách rời rạc Ta có thể hình dung tác động (tíchcực) của giáo dục đối với kinh tế- xã hội chính là thể hiện “tính trồi”của toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân Nói rằng chỉ có giáo dụcđại học mới có ảnh hưởng đến kinh tế- xã hội thì hoàn toàn sai; và
Trang 7cũng tương tự như vậy, khi nói thành tựu của một nhà trường chỉ làđóng góp của ban giám hiệu, cho dù người hiệu trưởng tài giỏi đếnmấy chăng nữa Như vậy “tính trồi” của hệ thống chứa đựng bảnchất của tổ chức, quản lý Không có nhân tố này thì không có cáigọi là hệ thống, các phần tử sẽ đứng tách riêng, rời rạc, ô hợp Vớimột tổ chức(*) thì điều này đồng nghĩa với sự suy thoái.
“ Tính trồi” của hệ thống giáo dục quốc dân được hiểu là chất lượng
và hiệu quả giáo dục đem lại cho xã hội; là chất lượng con ngườiđáp ứng yêu cầu phát triển của bản thân người học và của toàn xãhội, góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước, phát triển nền kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập quốc
tế Để được như vậy thì các ngành học, cấp, bậc học tạo thành hệthống giáo dục quốc dân phải liên hệ và tương tác với nhau theonhững quy luật, nguyên tắc nhất định (chẳng hạn nguyên tắc liênthông, kế thừa, phát triển…) Từ quan niệm này, có thể rút ra mộtđiều là nếu thành công là một đặc tính vượt trội thì nó cần đượcquản lý thông qua những tác động qua lại chứ không phải những tácđộng riêng rẽ Đồng thời, cần tránh tình trạng chỉ chú trọng quản lýriêng rẽ từng bộ phận, ví dụ như quản lý một một ngành học trongthế cô lập, riêng rẽ với các ngành học khác, mà ít chú ý đến việc tạodựng các tương tác qua lại giữa các ngành học nhằm tạo thành hệthống giáo dục quốc dân với tư cách là một chỉnh thể Nhưng mặtkhác cũng cần nhớ rằng tính tương hợp giữa các bộ phận với cáctương tác khiến cho các bộ phận được cùng nhau phát triển, sản sinh(*) Tổ chức (chỉ nói đến tổ chức xã hội) được hiểu là một tập hợp người được sắp xếp theo cơ cấu nhất định
để hoạt động vì lợi ích chung, chẳng hạn như một tổ chức nhà trường.
Trang 8hiện tượng cộng hưởng để cùng nhau tạo nên sức mạnh có cường độlớn hơn hẳn so với tổng số sức mạnh tạo ra bởi các bộ phận riêng rẽ.Môi trường của hệ thống: là tập hợp các phần tử, các phân hệ, các
hệ thống khác không thuộc hệ thống đang xét, nhưng có quan hệtương tác(*)với hệ thống bị hệ thống tác động hoặc tác động lên hệthống Chẳng hạn đối với hệ thống giáo dục quốc dân, các tổ chứchữu quan như hệ thống tài chính, hệ thống văn hoá, hệ thống y tế…tạo thành môi trường liên quan và có quan hệ tương tác với hệ thốnggiáo dục Trong điều kiện mở cửa, hội nhập như ngày nay, đối vớinền giáo dục nước ta, môi trường còn được mở rộng ra thế giới Do
đó, quan hệ đối ngoại để giáo dục nước ta hội nhập với thế giới lànhân tố rất quan trọng và cần thiết cho sự phát triển giáo dục nướcta
Trong phạm vi hẹp, chẳng hạn như đối với trường học cụ thể, cácyếu tố(ví như truyền thống địa phương), các tổ chức xã hội, thậmchí các cá nhân tạo thành môi trường giáo dục tác động đến nhàtrường, ngược lại nhà trường cũng tác động đến cộng đồng xungquanh, góp phần làm thay đổi bộ mặt xã hội Các yếu tố của môitrường tác động bất lợi đến hệ thống được gọi là nhiễu của hệ thống(ví dụ các tệ nạn xã hội khu vực xung quanh nhà trường)
Nhà trường là thiết chế cơ bản của nền giáo dục có bản chất xã hội,nhưng không phải bản chất này “tự nhiên” đến với nhà trường, màtrong quá trình giáo dục, nhà trường phải chủ động, tích cực kết hợpvới gia đình và xã hội (môi trường giáo dục của nhà trường) để giáo(*) cả khía cạnh tích cực lẫn tiêu cực.
Trang 9dục học sinh Kiểu nhà trường đóng kín trong bốn bức tường là nhàtrường thuộc chế độ phong kiến, nặng khoa cử, không còn phù hợpvới yêu cầu của xã hội Chính vì vậy, chủ trương xã hội hoá giáodục là chủ trương có tính nguyên tắc của Đảng và Nhà nước ta.Thực hiện chủ trương này, mọi người dân đều có trách nhiệm vànghĩa vụ tham gia xây dựng giáo dục cũng như được giáo dục;ngược lại, mọi học sinh trong nhà trường đều được sống, hoà nhậpvới xã hội, tức là quá trình xã hội hoá cá nhân Đây là quá trình haimặt: một mặt, cá nhân tiếp nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâmnhập vào môi trường xã hội, vào hệ thống các quan hệ xã hội Mặtkhác, cá nhân tái sản xuất một cách chủ động các mối quan hệ xãhội thông qua việc họ tham gia vào các hoạt động và thâm nhập vàocác mối quan hệ xã hội Kết quả cho thấy là, hai thực thể cùng tồntại và phát triển: nhà trường, cá nhân người học phát triển vì cộngđồng, trong cộng đồng, bởi cộng đồng; ngược lại, xã hội phát triểnnhờ nhà trường và những con người được nhà trrường đào tạo.
Đầu vào và đầu ra của hệ thống: Các loại tác động có thể có từ môitrường lên hệ thống được coi là đầu vào, còn đầu ra là những gì mà
hệ thống tác động vào môi trường
Đối với giáo dục, đầu vào có thể kể như: chủ trương chính sách củaĐảng và Nhà nước về giáo dục, nguồn tài chính, những thành tựukhoa học-công nghệ, trang thiết bị, cơ sở vật chất, trình độ quản lý,thậm chí cả nhân cách của nhà quản lý, thông tin, nhu cầu thị trườnglao động, chất lượng của môi trường xã hội (trong đó có giáo dục xãhội và giáo dục gia đình), trình độ đào tạo và nghiệp vụ của đội ngũ
Trang 10giáo viên, trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý, nhân cách của trẻ emtrước khi đến trường…
Đầu ra của giáo dục trước hết phải kể đến sản phẩm của nhà trường(tức là con người với nhân cách được hình thành và phát triển theomục tiêu giáo dục) Đây là sản phẩm mà vì nó nhà trường tồn tại.Nhưng, còn khía cạnh khác về đầu ra của giáo dục được hiểu là đầu
ra của cả nền giáo dục hay của hệ thống giáo dục quốc dân, đó là tácđộng của nền giáo dục góp phần phát triển kinh tế, xã hội Nghịquyết Trung ương 4 (khoá VII) của Đảng xác định: “ Phát triển giáodục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhântài…”(3) Đây chính là mục tiêu của hệ thống giáo dục quốc dân vàcũng chính là đầu ra của giáo dục xét trên bình diện vĩ mô
Liên quan đến đầu vào và đầu ra của hệ thống là hiệu quả hoạt độngcủa hệ thống Điều này phụ thuộc vào:
- Việc xác định hợp lý đầu vào và đầu ra của hệ thống trong nhữngđiều kiện cụ thể Ví dụ nguồn tài chính cho giáo dục trong thời
kỳ bao cấp lấy từ ngân sách của Nhà nước; nhưng trong thời kỳphát triển kinh tế thị trường thì nguồn tài chính đó, ngoài ngânsách Nhà nước, còn có phần của các thành phần kinh tế khác
- Khả năng biến đổi nhanh hay chậm các yếu tố đầu vào thành yếu
tố đầu ra, chẳng hạn như sự tăng trưởng nhanh chóng về trình độnghiệp vụ của đội ngũ giáo viên sau một thời gian nhất định
- Các hình thức biến đổi những yếu tố đầu vào cho các yếu tố đầu
ra, ví dụ như xác định trong số những hình thức bồi dưỡng giáo(3) Đảng cộng sản Việt nam Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khoá VII, H 1993, tr.61
Trang 11viên thì tối ưu là việc bồi dưỡng tại chỗ thông qua hoạt độnggiảng dạy và giáo dục thực tiễn hàng ngày của họ.
Hành vi của hệ thống, là tập hợp các đầu ra có thể có của hệ thốngtrong một khoảng thời gian xác định Về thực chất, hành vi của hệthống chính là cách xử sự tất yếu mà trong mỗi giai đoạn phát triểncủa mình hệ thống sẽ chọn để thực hiện đối với hệ thống giáo dụcquốc dân, đầu ra tất yếu của nó phải là chất lượng giáo dục đáp ứngyêu cầu của xã hội; phù hợp với từng thời điểm lịch sử Thời kỳchống Mỹ cứu nước, chất lượng giáo dục được hiểu là chất lượngcon người được đào tạo, thể hiện là nhân cách- chiến sỹ nhằm vàomục tiêu: tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâmlược thời kỳ CNH,HĐH đất nước, chất lượng giáo dục là: “Nhữngcon người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc vàchủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xâydựng và bảo vệ Tổ quốc; công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước;giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc, có năng lực pháthuy tinh hoa văn hoá nhân loại; phát huy tiềm năng của dân tộc vàcon người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cựccủa cá nhân, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tácphong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật; có sức khoẻ, lànhững người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa
“chuyên” như lời dặn của Bác Hồ”(4) Đây chính là mục tiêu củagiáo dục và đồng thời, theo thuyết hệ thống, cũng là hành vi đầu racủa hệ thống
(4) Đảng công sản Việt nam Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khoá VII Nxb CTQG,
H 1997, tr.28-29.
Trang 12Trạng thái của hệ thống: là khả năng kết hợp và biến đổi giữa đầuvào và đầu ra của hệ thống tại những thời điểm nhất định Trạngthái giáo dục, còn gọi là thực trạng giáo dục; khi xem xét, đánh giáthực trạng giáo dục phải gắn nó vào từng thời kỳ, điều kiện, hoàncảnh cụ thể Ngay trong phạm vi hẹp, đánh giá một nhà trường, mộtlớp cũng phải đặt trong quan hệ giữa đầu vào, đầu ra và hệ thốngđiều kiện cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định Thành tựugiáo dục của một tỉnh có nhiều khó khăn, có khi còn được đánh giátốt hơn so với một tỉnh có nhiều thuận lợi.
Bên cạnh các nội dung nêu trên, còn các thành tố của hệ thống nhưmục tiêu của hệ thống; cơ cấu của hệ thống; động lực của hệ thống
Do vậy, khi tiếp cận hệ thống trong quản lý giáo dục cần chú ý đếnkhía cạnh phương pháp luận của tiếp cận hệ thống sau:
Một là, Tiếp cận hệ thống đòi hỏi khi xem xét, nghiên cứu, giải
quyết vấn đề quản lý giáo dục phải có quan điểm toàn thể, nghĩa là
có căn cứ khoa học, hiệu quả và hiện thực Quản lý giáo dục thựcchất là quản lý con người; do đó, quan hệ giữa con người với conngười là nét nổi bật Để mối quan hệ này tốt đẹp, người cán bộ quản
lý không chỉ có kinh nghiệm mà còn phải am hiểu về khoa học quản
lý, đặc biệt là khoa học quản lý giáo dục Ngoài ra còn phải nắmvững một số kiến thức về tâm lý học quản lý, xã hội học quản lý,kinh tế học quản lý…
Quan điểm toàn thể thể hiện ở chỗ tôn trọng quan hệ giữa vật chất
và ý thức (vật chất có trước, ý thức có sau) Điều này có nghĩa là khinghiên cứu quản lý phải tôn trọng thực tế, xuất phát từ thực tế để
Trang 13xem xét, phân tích, khái quát nhằm tìm ra những giá trị đích thựccho lý luận và thực tiễn quản lý Quan điểm toàn thể còn thể hiện ởchỗ các sự vật, hiện tượng luôn luôn vận động, tồn tại trong mốiquan hệ qua lại với nhau, có tác động chi phối lẫn nhau Điều nàyđúng cả ở tầm vĩ mô và vi mô Chẳng hạn các cơ quan trực thuộc
Bộ giáo dục và đào tạo có thể chia ra làm ba nhóm: nghiên cứu; chỉđạo và kinh doanh Ba nhóm này phải có quan hệ gắn bó với nhau,tương tác, hỗ trợ lẫn nhau để tạo thành hiệu lực thực sự cho công tácquản lý của Bộ Quan niệm tương tự cũng thể hiện trong công tácquản lý ở nhà trường, tế bào cơ bản trong hệ thống giáo dục quốcdân Cuối cùng, quan điểm toàn diện thể hiện ở chỗ coi động lựcphát triển hệ thống là động lực bên trong của hệ thống
Hai là, Khi nghiên cứu hệ thống càn có cách tiếp cận vĩ mô và vi
mô
Tiếp cận vĩ mô, chức năng, chiến lược; là tiếp cận nghiên cứu hệthống trên cái chung nhất, cái quy luật chi phối hoạt động của hệthống và nhằm trả lời các câu hỏi sau về hệ thống: mục tiêu, chứcnăng của hệ là gì? Môi trường của hệ là gì? đầu ra, đầu vào của hệ
là gì? Đây là cách tiếp cận nghiên cứu hệ thống của các cơ quanquản lý vĩ mô của chủ thể quản lý
Tiếp cận vi mô, cơ cấu, tác nghiệp: là tiếp cận nghiên cứu hệ thốngtrong tương quan giữa các phần tử và cơ cấu hoạt động của hệ thốngnhằm trả lời các câu hỏi sau về hệ thống: Phần tử của hệ thống làgì? Hệ thống có bao nhiêu phần tử? Giữa những phần tử tồn tại các
Trang 14mối quan hệ nào? Đây là cách tiếp cận nghiên cứu của các đốitượng bị quản lý tầm vi mô.
Ba là, hệ thống được cấu tạo bởi nhiều phần tử mà mỗi phần tử có
thể coi là một phân hệ Việc xác định một tổ chức hoặc một bộphận, một sự kiện, hay một hiện tượng…là hệ thống hay phần tử tuỳthuộc quan hệ của tổ chức, bộ phận hay sự kiện đang xét với các tổchức, bộ phận, sự kiện…khác Ví dụ, xét hệ thống giáo dục của mộttỉnh trong quan hệ với toàn quốc thì nó là phần tử trong hệ thốnggiáo dục quốc dân; nhưng, nếu xét trong phạm vi tỉnh thì giáo dụccủa các quận- huyện lại là phần tử nằm trong hệ thống giáo dục cấptỉnh Mỗi phần tử có một chức năng riêng, nhưng mục tiêu củachúng phải thống nhất với mục tiêu chung của hệ thống toàn thể
Bốn là, để cho một tổ chức, hay bộ phận hoặc sự kiện được xem
như một hệ thống cần đảm bảo hai yêu cầu cơ bản: xác định cácphần tử, thiết lập các quan hệ tương tác Phần tử có tính độc lậptương đối của nó, mang một chức năng riêng; không có chức năngriêng thì không cần sự tồn tại của nó trong hệ thống Như vậy, đã làphần tử phải có một chức trách riêng, chức trách đó phải mang tínhchất cơ hữu, cần thiết và hợp lý Trong quản lý nói chung và quản lýgiáo dục nói riêng, trước đây người ta chỉ chú ý cơ chế quản lý từtrên xuống, hiện nay theo xu thế hiện đại phải chú ý cơ chế quản lý
từ dưới lên Hai cơ chế này vừa đảm bảo tính tập trung, vừa bảođảm tính dân chủ trong hoạt động quản lý Do đó cần kết hợp chúngmột cách hài hoà
Trang 15Năm là, Tiếp cận hệ thống đòi hỏi có phương pháp nghiên cứu phù
hợp Phương pháp nghiên cứu theo tiếp cận hệ thống là phươngpháp phù hợp với quan điểm hệ thống được sử dụng để tìm ra quyluật vận động của đối tượng Có ba phương pháp: phương pháp môhình hoá; phương pháp hộp đen; phương pháp phân tích hệ thống
_ phương pháp mô hình hoá là phương pháp nghiên cứu qua các mô
hình Mô hình là một sự vật được tạo ra bởi một chủ thể trên cơ sở
sự tương tự, giống nhau về cấu trúc, chức năng hoặc hành vi so vớinguyên mẫu tương ứng, được sử dụng để có thể giải quyết nhữngnhiệm vụ mà việc thực hiện chúng bằng các thao tác trực tiếp lênnguyên mẫu là khó khăn hoặc hoàn toàn không thể được hay quátốn kém trong điều kiện đã cho
Ta có thể mô tả hệ thống qua các đặc trưng của hệ nhờ kinh nghiệm
và nhận thức của con người Khi sử dụng phương pháp này đòi hỏiphải biết rõ được ba yếu tố: đầu vào, đầu ra và cơ cấu của hệ thống
Ví dụ, trong quản lý giáo dục, để tổ chức thực hiện có hiệu quả một
dự án, phải chỉ ra đầu vào như: nguồn tài chính, nguồn nhân lực, cơ
sở vật chất cần cho việc triển khai dự án; trình độ người điều hành
dự án…, đầu ra- những kết quả mong đợi…và cơ cấu dự án- nhữngchương trình, kế hoạch triển khai dự án, sự hợp tác, đánh giá,… Cóthể nói phương pháp mô hình hoá được áp dụng có hiệu quả khinghiên cứu tổng kết các đơn vị tiên tiến trong ngành giáo dục để từ
đó đề xuất mô hình phát triển của nó trong tương lai Việc áp dụngphương pháp mô hình hoá phải theo các bước sau: Xây dựng môhình; phân tích trên mô hình lý thuyết thu được ở trên; đối chiếu kết
Trang 16luận rút ra từ mô hình với kết quả thực tế để đối chứng xem kết luậnrút ra từ mô hình lý thuyết có chuẩn xác hay không; chỉnh lý lại kếtquả của mô hình lý thuyết, sau đó đem sử dụng trong thực tế.
Tuy nhiên, phải kể đến nhược điểm của phương pháp mô hình hoá
là dễ gây ngộ nhận, dễ lẫn lộn giữa cái bản chất và cái hình thức;trong nghiên cứu, dễ bảo thủ, cố chấp Do đó, khi áp dụng mô hìnhcần phải tính đến những điều kiện cụ thể, tránh dập khuôn máy móc
_ Phương pháp hộp đen: phương pháp này được sử dụng khi biết
đầu vào, đầu ra nhưng không biết cơ cấu bên trong của hệ thống Do
đó, việc nghiên cứu phải xác định mối quan hệ giữa đầu ra và đầuvào của hệ thống để từ đó tìm ra quy luật hay cấu trúc hành vi của
hệ thống Điều cần chú ý là, việc nghiên cứu hộp đen chú trọng vàoquan sát hành vi: người nghiên cứu tác động đến hộp đen thông quacác lối vào và nhận thức được thông tin từ các lối ra Người nghiêncứu phải xác định một tập hợp hữu hạn các lối vào và các lối ra củahộp đen, song quan trọng là xác định đơn trị một hệ thống đóng “trạng thái vào - trạng thái ra”
Tuy vậy, quản lý giáo dục là quản lý thuộc lĩnh vực xã hội, nênkhông phải lúc nào đầu vào cũng cho đầu ra một cách đơn trị- nghĩa
là đầu vào và đầu ra không tương ứng một- một Nhiều trường hợpđầu ra lại do kết quả của nhiều tác động đầu vào, ví dụ: một họcviên giỏi đã chắc gì chỉ là kết quả của việc đổi mới công tác quản lýcủa chỉ huy lớp; trong trường hợp này phải dùng phương pháp loạitrừ để dự đoán hành vi của hộp đen Chẳng hạn, để nghiên cứu sựtiến bộ của học sinh trong học tập (gọi là K), có thể có những tác
Trang 17động đầu vào sau: đổi mới phương pháp quản lý (gọi là Q), đổi mớiphương pháp dạy học (gọi là D), đổi mới công tác xã hội hoá giáodục (gọi là X),…Vấn đề là phải lần lượt cô lập từng tác động đầuvào đối với các tác động khác để tìm mối liên hệ thống kê; chẳnghạn giữa Q và K, giữa X và K,…thông qua kỹ thuật kiểm định sóngđôi trong phần kiểm định giả thuyết thống kê Việc so sánh kết quảliên hệ giữa các cặp này có thể rút ra kết luận về hành vi của hộpđen Sau khi tìm được liên hệ nổi bật thể hiện hành vi của hộp đen,người nghiên cứu tiến hành kiểm tra cấu trúc giả định trên thực tế
để hoàn thiện cấu trúc hành vi của hệ thống trước khi áp dụng trongthực tiễn
-Phương pháp phân tích hệ thống: nguyên tắc khi áp dụng phương
pháp này là phải phân chia nhỏ hệ thống ban đầu thành những hệthống con để xem xét mối liên hệ giữa chúng Từ đó, tìm ra quy luậtvận động cho từng phân hệ rồi khái quát thành quy luật cho cả hệthống Thực hiện phương pháp này cần chú ý các vấn đề sau:
Phải lựa chọn tiêu thức phân chia hệ thống, vì các phần tử hệ thốngcon có mối quan hệ ràng buộc nhau, do đó không được tách rờituyệt đối các phần tử trong hệ Chú ý đến tác động của từng phần tửvào hệ thống và ngược lại Chẳng hạn, trong công tác quản lý thựchiện chương trình, sách giáo khoa mới (đây là hệ thống lớn), cácphần tử tham gia vào hệ có thể tách ra như: quản lý thực hiệnchương trình; quản lý tăng cường năng lực giáo viên; quản lý việcđổi mới phương pháp học của hoc sinh; quản lý công tác xã hội hoátrong việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa; quản lý nâng cao
Trang 18hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất;…Những phần tử vừa nêu trên làkhông thể thiếu, chúng đều có tính độc lập tương đối, đều có quan
hệ tương tác, ràng buộc nhau rất chặt chẽ và đều có tác động rõ rệtđến hiệu quả của cả hệ thống Việc phân chia như vậy là hợp lý bởi
vì, mỗi phần tử có chức năng riêng, mối quan hệ giữa các chức năng
đó sẽ làm cho hệ lớn xuất hiện “tính trồi”, đó là hiệu quả của côngtác quản lý thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổthông Ngược lại, nếu việc phân chia lại ảnh hưởng đến “tính trồi”của hệ thống thì không thể chấp nhận được Ví dụ, tách riêng việcvận động nhân dân đóng góp xây dựng trường thành một nhiệm vụcủa nhà trường thì không hợp lý, vì thực chất đây không phải lànhiệm vụ của nhà trường, mà là nhiệm vụ của địa phương Mặtkhác, có thể vì thế mà việc phân phối sức lực của nhà trường bịphân tán, không tập trung vào nhiệm vụ trung tâm
Phải nghiên cứu hệ thống trong mối quan hệ với môi trường, vớiquan điểm đang xét là hệ thống mở Quan điểm này phù hợp với xuhướng nhà trường mở và với tính chất của hoạt động quản lý giáodục Tính chất mở của hệ thống quản lý giáo dục thể hiện rất rõ, ví
dụ hoạt động quản lý nhà trường không thể tách rời chủ trương củacác cấp lãnh đạo và của ngành dọc, không thể không tính đến đặcđiểm của môi trường xã hội- văn hoá, phong tục tập quán, trình độdân trí
Phải quan sát hệ thống dưới nhiều góc độ khác nhau, bởi vì hệ phứctạp luôn luôn tồn tại cấu trúc đa diện mà từ nhiều phía quan sát cóthể nhận ra những cấu trúc khác nhau tạo thành sự “chồng chất” các