Vai trß PAGE 22 THU HOẠCH Quan điểm Vật chất và vận động trong tác phẩm “biện chứng của tự nhiên” của ph ăngghen ý nghĩa khi nghiên cứu tác phẩm đối với cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng lý luận hiện nay 1 Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm 1 1 Vài nét sơ lược về thân thế sự nghiệp của Ph Ăngghen Ph Ăngghen sinh ngày 28 tháng 11 năm 1820 ở Bácmen thuộc tỉnh Ranh của nước Phổ Năm 1834 học ở trường trung học Enbơphenđơ, ngay từ khi còn trẻ đã tỏ ra có năng khiếu đặc biệt và nghị lực nghiên cứu, học.
Trang 1phẩm “biện chứng của tự nhiên” của ph ăngghen ý nghĩa khi nghiên cứu tác phẩm đối với cuộc đấu tranh trên mặt trận tư
tưởng lý luận hiện nay
1 Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
1.1 Vài nét sơ lược về thân thế sự nghiệp của Ph Ăngghen
Ph Ăngghen sinh ngày 28 tháng 11 năm 1820 ở Bácmen thuộctỉnh Ranh của nước Phổ Năm 1834 học ở trường trung họcEnbơphenđơ, ngay từ khi còn trẻ đã tỏ ra có năng khiếu đặc biệt vànghị lực nghiên cứu, học tập phi thường; năm 1837 làm việc chohãng buôn của bố ở Bácmen Năm 1841 Ăngghen đi làm nghĩa vụquân sự ở Béclin, năm 1841 nghiên cứu tác phẩm “Bản chất đạoThiên chúa” của Phoiơbắc, năm 1842 ông bắt đầu cộng tác với tờnhật báo của tỉnh Ranh; cuối tháng 10 năm 1842 hoàn thành nghĩa
vụ quân sự trở về Bácmen Khi trở về Bác men ông bắt đầu hoạtđộng, tham gia viết bài năm 1844 ông viết “Tình cảnh nước Anh”gửi cho tạp chí “Niên giám Pháp- Đức”, khoảng tháng 8- 1844 sangPari, ở đây Ăngghen đã gặp Mác Ông đã viết rất nhiều tác phẩm,trong đó có tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” Ông cùng vớiMác đấu tranh phát triển triết học Mác và trực tiếp lãnh đạo phongtrào công nhân cho đến năm 1895 khi qua đời
Trang 2Đánh giá về tình bạn của Mác và Ăngghen Lênin viết: “Giaicấp vô sản châu Âu có thể nói rằng khoa học của mình là tác phẩmsáng tạo của hai bác học kiêm chiến sĩ mà tình bạn đã vượt xa tất cảnhững gì là cảm động nhất trong những truyền thuyết của đời xưa
1.2 Vài nét sơ lược về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
Tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” là một trong những tácphẩm chính của Ăngghen được viết sau Công xã Pari (1873- 1886)
Sự phát triển của triết học Mác thời kỳ này đòi hỏi hỏi xem xét toàndiện mọi cơ sở của nó Sự thất bại của Công xã Pari (1871), mộtmặt, giúp giai cấp vô sản rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu,mặt khác, là cơ sở thực tiễn xã hội giúp Mác và Ăngghen khái quát
và phát triển lý luận của mình
Thời kỳ này, khoa học tự nhiên có bước phát triển mới với việcxuất hiện hàng loạt các phát minh quan trọng đòi hỏi phải đánh giá
ý nghĩa triết học của chúng Hơn nữa, cuộc đấu tranh tư tuởng tronglĩnh vực khoa học tự nhiên đang diễn ra gay gắt Đa số các nhà khoahọc tự nhiên còn bị ảnh hưởng bởi thế giới quan siêu hình và khôngbiết tới phép biện chứng Đó là một trở ngại cần phải khắc phục trêncon đường của nhận thức khoa học
Cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm dưới mọi mầu sắctrong khoa học tự nhiên thời kỳ này có ý nghĩa to lớn, bảo vệ cácnguyên lý triết học cơ bản của chủ nghĩa Mác Ăngghen viết tácphẩm “Biện chứng của tự nhiên” một mặt nhằm chứng minh sự
1 V.I.Lênin, To n t p, Nxb Ti n b , M.1978, t p 2, tr 12.àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ộ, M.1978, tập 2, tr 12 ập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12.
Trang 3đúng đắn của quan niệm duy vật biện chứng và dựa trên cơ sở chủnghĩa duy vật biện chứng để khái quát những thành tựu quan trọngnhất của khoa học tự nhiên thế kỷ XIX; phê phán những quan niệmsiêu hình, CNDV tầm thường, CNDV cơ giới; đấu tranh chống cácquan điểm sai lầm của chủ nghĩa Đácuyn xã hội, chủ nghĩa cơ hộiĐức, chủ nghĩa duy tâm sinh lý học, chủ nghĩa tiên nghiệm trongtoán học, “thuyết cơ giới về nhiệt” và tình trạng mê tín dị đoan đanglan tràn lúc đó, v.v Mặt khác, chống lại sự phản kích của kẻ thù đốivới chủ nghĩa Mác sau thất bại của Công xã Pari.
Quá trình viết tác phẩm được chia thành hai thời kỳ:
Thời kỳ thứ nhất (từ tháng 5/1873 đến tháng 5/1876): Ăngghenchủ yếu tập hợp tư liệu, viết các bài báo riêng và “Lời nói đầu”;
Từ tháng 5/1876 đến tháng 5/1878: theo đề nghị của Mác,Ăngghen tạm dừng lại để viết tác phẩm “Chống Đuyrinh”;
Thời kỳ thứ hai (từ tháng 7/1878 đến tháng 3/1883): Ăngghenhoàn thiện đề cương cụ thể của tác phẩm và viết tác phẩm
Sau khi Mác mất (ngày 24/03/1883), Ăngghen dừng hẳn côngtrình này để chuyển sang hoàn thành việc xuất bản tập I và tập IIcủa bộ “Tư bản” mà Mác viết còn dang dở, và lãnh đạo phong tràocông nhân quốc tế
Vì thế, “Biện chứng của tự nhiên” viết kéo dài, gián đoạn và chưathực sự hoàn chỉnh, nhiều phần vẫn còn là những đoạn ngắn mới tậphợp lại
2 Kết cấu và tư tưởng chính của tác phẩm
Trang 4Tác phẩm được kết cấu gồm 4 phần: Những sơ thảo đề cương;Các chương; Bút ký và đoạn ngắn; Tên và mục lục các xấp bảnthảo
Tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” gồm 10 bài và chương,
169 bút ký và đoạn ngắn và 2 sơ thảo đề cương Tổng cộng gồm
hệ thống hoá các hình thức vận động; khẳng định quan điểm duy vậtbiện chứng trong giải thích các quan hệ xã hội và chứng minh tínhtất yếu sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản
Năm 1925, sau 30 năm, kể từ khi Ph Ăngghen qua đời, lần đầutiên “Biện chứng của tự nhiên” được xuất bản ở Liên Xô bằng tiếngĐức và tiếng Nga
Tác phẩm " Biện chứng của tự nhiên" Đức được in trong bộ C Mác và Ph Ănghen, Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
1995 (tr 451- tr 826).
Trong tác phẩm Ăngghen đề cập tới các lĩnh vực của triết họcnhư: tư tưởng về tính thống nhất vật chất của thế giới; học thuyết về
Trang 5vận động và các hình thức của vận động; về sự phát triển của giới tựnhiên, nguồn gốc sự sống, con người và ý thức; phép biện chứngduy vật- phương pháp luận của khoa học tự nhiên.v.v Phạm vi bàithu hoạch đi sâu nghiên cứu quan điểm của Ăngghen về vật chất vàvận động của vật chất trong tác phẩm.
3 Nội dung: Quan điểm về vật chất và vận động của Ăngghen trong tác phẩm "Biện chứng của tự nhiên".
3.1 Về phạm trù vật chất
Trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” Ăngghen, trong khiphê phán quan điểm siêu hình của Nêgơli (Nêgơli là nhà thực vật họcngười Đức, theo thuyết bất khả tri, mang quan điểm siêu hình), đãđưa ra những tư tưởng thiên tài về phạm trù vật chất và các hình thứctồn tại của nó
Theo Ăngghen, cần phải phân biệt phạm trù vật chất với vật thể
cụ thể Ăngghen viết: “Vật chất, với tính cách là vật chất, là một sựsáng tạo thuần tuý của tư duy và là một sự trừu tượng Chúng ta bỏqua những sự khác nhau về chất của những sự vật, khi chúng ta gộpchúng, với tư cách là những vật tồn tại hữu hình, vào khái niệm vậtchất Do đó, khác với những vật chất nhất định và đang tồn tại, vật
theo Ăngghen thì vật chất với tính cách là vật chất chỉ là sự sáng tạothuần tuý của tư duy, là sản phẩm của tư duy, thông qua sự khái quáthoá, trừu tượng hoá các thuộc tính chung của tất cả các sự vật hiệntượng cụ thể đang tồn tại hữu hình cảm tính mà thông qua các giác
Trang 6quan chúng ta cảm biết được Vật chất với tính cách là vật chất, nó làphạm trù triết học, nó khác với vật thể cụ thể là nó không tồn tại cảmtính, không ai nhìn thấy nó tồn tại như thế nào Ăngghen viết: “Từnhững vật hữu hình, người ta tạo nên những trừu tượng, rồi lại muốnnhận thức những trừu tượng ấy bằng cảm tính, muốn nhìn thấy thờigian và ngửi thấy không gian Chưa có ai nhìn được và cảm thấy vậtchất với tính cách là vật chất và vận động với tính cách là vận độngbằng con đường cảm tính nào khác; người ta chỉ tiếp xúc với nhữngvật thể khác nhau, và những hình thức khác nhau tồn tại thật sự của
nhìn thấy con người (với tính cách là khái niệm người), chúng ta chỉ cóthể ăn được quả táo, quả ổi chứ tuyệt nhiên không ăn được quả (vớitính cách là khái niệm quả)
Phạm trù vật chất phải bao quát được những thuộc tính chungcủa các sự vật, hiện tượng Nghĩa là phải bằng sự trừu tượng hoá rút ra
từ những sự vật cảm tính đặc tính chung nhất của chúng và đưa vàophạm trù vật chất Ông viết: “Thực thể, vật chất không phải là cái gìkhác hơn là tổng số những vật thể từ đó người ta rút ra khái niệm ấybằng con đường trừu tượng hoá; vận động với tính cách là vận độngkhông phải là cái gì khác hơn là tổng số những hình thức vận động cóthể cảm biết được bằng các giác quan; những từ như “vật chất ” và
“vận động” chỉ là những sự tóm tắt trong đó chúng ta tập hợp nhữngthuộc tính chung của chúng, rất nhiều sự vật khác nhau có thể cảm
3 C Mác v Ph nghen, To n t p, Nxb Chính tr qu c gia, H N i1994, t p 20, tr 726.àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ị quốc gia, Hà Nội1994, tập 20, tr 751 ốc gia, Hà Nội1994, tập 20, tr 751 àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ộ, M.1978, tập 2, tr 12 ập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12.
4 C Mác v Ph nghen, To n t p, Nxb Chính tr qu c gia, H N i1994, t p 20, tr 726- tr 727.àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ị quốc gia, Hà Nội1994, tập 20, tr 751 ốc gia, Hà Nội1994, tập 20, tr 751 àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ộ, M.1978, tập 2, tr 12 ập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12.
Trang 7Ăngghen phê phán Nêgơli khi ông ta cho rằng con người khôngnhận thức được vật chất và vận động Trái lại Ăngghen đã khẳng địnhcon người có thể nhận thức được thế giới vật chất thông qua sự phảnánh của giác quan về các sự vật, hiện tượng cụ thể Ăngghen viết: “Vìthế chỉ có thể nhận thức được vật chất và vận động bằng cách nghiêncứu những vật thể riêng biệt và những hình thức riêng lẻ của vậnđộng, và khi chúng ta nhận thức được những cái ấy thì chúng ta cũngnhận thức được cả vật chất và vận động với tính cách là vật chất và
Trang 8Ăngghen tiếp tục khẳng định đặc tính tồn tại khác quan vốn có củavật chất không ai có thể sáng tạo ra vật chất: vật chất có tính vô hạn,
vô cùng, vô tận và tính không thể sáng tạo, không thể tiêu diệt được.Ăngghen viết: “Khi chúng ta nói rằng vật chất và vận động là khôngthể sáng tạo ra được và không thể bị tiêu diệt được tức là chúng ta nóirằng thế giới như một sự tiến lên vô hạn, xem những chu trình ấy có
Nguyên lý về sự thống nhất vật chất của thế giới Tiếp nối tư tưởng
về tính thống nhất vật chất của thế giới trong “Chống Đuyrinh”,Ăngghen đã khẳng định vai trò của khoa học tự nhiên trong việcchứng minh cho nguyên lý về sự thống nhất vật chất của thế giới.Những phát minh của khoa học tự nhiên của con người đã đem lại chocon người quan niệm tổng quát về thế giới như là một chỉnh thể toànvẹn
6 C Mác v Ph nghen, To n t p, Nxb Chính tr qu c gia, H N i1994, t p 20, tr 728.àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ị quốc gia, Hà Nội1994, tập 20, tr 751 ốc gia, Hà Nội1994, tập 20, tr 751 àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ộ, M.1978, tập 2, tr 12 ập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12.
Trang 9Sự thống nhất của thế giới không phải là sự thống nhất tuyệt đối,
mà là sự thống nhất bao hàm cái khác biệt, cái đa dạng về chất lượng.Ăngghen viết: “Tất cả những sự khác nhau về chất trong giới tự nhiênđều dựa hoặc là trên thành phần hoá học khác nhau, hoặc là trênnhững số lượng hay hình thức vận động (năng lượng) khác nhau, hoặcnhư trong hầu hết mọi trường hợp, đều dựa trên cả hai cái đó Như thếnếu không thêm vào hoặc bớt đi một số vật chất hay vận động, nghĩa
là nếu không thay đổi một vật thể về mặt số lượng, thì không thể thay
hợp ấy, Ăngghen chú ý nhiều đến sự khác biệt cơ bản giữa các dạngvật chất cụ thể là do sự khác nhau của các hình thức vận động của vậtchất quy định Quan niệm siêu hình không thừa nhận điều này, nên đãđồng nhất sự đa dạng chất lượng của các hình thức vận động với vậnđộng cơ giới Đó là do hạn chế của sự nhận thức khoa học thế kỷXVIII
Mặc dù Ăngghen chưa đưa ra một định nghĩa đầy đủ về vật chất,nhưng ông đã có những kết luận, lý giải tương đối rõ ràng về phạm trùvật chất đó là:
Ông đã chỉ ra vật chất với tính cách là vật chất, là khái niệm đượcrút ra từ những sự vật cụ thể cảm tính bằng con đường khái quáthóa, trừu tượng hoá, là sản phẩm của tư duy, bao quát được đặc tínhchung nhất của các sự vật;
Ông cũng chỉ ra được đặc tính chung nhất của các sự vật cụ thểcủa vật chất là tồn tại khách quan;
Trang 10Ông cũng khẳng định con người có thể nhận thức được vật chấtthông qua sự phản ánh của các giác quan về các vật thể riêng biệt Những vấn đề đó là các kết luận quan trọng có tính chất nền tảng,
là cơ sở trực tiếp để Lênin phát triển và đưa ra định nghĩa một cáchhoàn chỉnh về phạm trù vật chất, mà cho tới nay nó vẫn còn nguyêngiá trị Lênin đã định nghĩa: “Vật chất là một phạm trù triết họcdùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trongcảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh,
3.2 Về vận động và các hình thức cơ bản của vận động
Như chúng ta đã biết phạm trù vận động xuất hiện từ rất sớmtrong lịch sử triết học Phạm trù này không ngừng được bổ sunghoàn thiện trong sự phát triển của tư tưởng triết học, nhờ vào sựphát triển của khoa học tự nhiên
Ăngghen đã phê phán quan điểm siêu hình đã quy mọi vận độngvào hình thức vận động cơ giới Ông đã khẳng định đối tượngnghiên cứu của khoa học tự nhiên chính là vật chất đang vận động
và các hình thức vận động của nó
Theo Ăngghen, vận động và vật chất không tách rời nhau, vậnđộng là mọi sự biến đổi nói chung, vận động là phương thức tồn tại
và là thuộc tính cố hữu của vật chất
Ông viết: “Vận động đem ứng dụng vào vật chất, thì có nghĩa là
vận động: “Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất,- tức được hiểu là
8 V.I.Lênin, To n t p, Nxb Ti n b , M.1980, t p 18, tr 151.àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ộ, M.1978, tập 2, tr 12 ập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12.
9 C Mác v Ph nghen, To n t p, Nxb Chính tr qu c gia, H N i1994, t p 20, tr 724.àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ị quốc gia, Hà Nội1994, tập 20, tr 751 ốc gia, Hà Nội1994, tập 20, tr 751 àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ộ, M.1978, tập 2, tr 12 ập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12.
Trang 11một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu củavật chất,- thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra
Không có vật chất nào không vận động, cũng như không có vậnđộng nàolại không có vật chất, vật chất là tự thân vận động Nhưvậy khác với các quan niệm trước đó, Ăngghen cho rằng vận độngkhông chỉ là thay đổi vị trí trong không gian, sự thay đổi vị tríkhông gian chỉ là hình thức vận động thấp, đơn giản của vật chất.Với sự tồn tại đa dạng, phong phú của vật chất, nó còn có nhữnghình thức vận động khác phức tạp hơn nhiều
Khi nghiên cứu các hình thức vận động của vật chất, ông chỉ racác hình thức vận động cơ bản, tương ứng với các dạng cụ thể củavật chất Theo Ăngghen, có năm hình thức vận động cơ bản: Vậnđộng cơ giới (vận động cơ học, đó là sự di chuyển vị trí của các vậtthể trong không gian); Vận động vật lý (vận động của các phân tử);Vận động hoá học (vận động của các nguyên tử); Vận động sinh học(vận động của các phân tử anbumin); Vận động xã hội
Trong các hình thức vận động ấy, vận động cơ học là hình thứcvận động thấp nhất, đơn giản nhất, vận động xã hội là hình thức vậnđộng cao nhất, phức tạp nhất Việc phân chia các hình thức vậnđộng có ý nghĩa cho việc phân ngành khoa học Hiện nay cách phânloại phổ biến nhất trong khoa học vẫn là năm hình thức cơ bản nhưĂngghen đã phân chia Trong vận động xã hội, Ăngghen chú ý hoạtđộng sản xuất vật chất là hình thái hoạt động cơ bản nhất của conngười, ông đã giải quyết vấn đề nguồn gốc của ý thức
Trang 12Trên cơ sở tư tưởng về sự chuyển hoá các hình thức vận động
cơ bản, Ăngghen phê phán “Thuyết cơ giới về nhiệt” của Claudiút.Theo thuyết này, nhiệt lượng được truyền từ vật thể nóng sang vậtthể ít nóng hơn Đến một lúc nào đó nhiệt lượng sẽ đạt tới trạng tháicân bằng trong vũ trụ, làm cho các vì sao nguội lạnh và dẫn tới sựchết nhiệt của vũ trụ Theo đó, các hình thức cao của vận động,trước hết là sự sống sẽ bị tiêu diệt Và như vậy, vũ trụ là một hệthống có hạn Ăngghen cho đây là điều vô lý, vì nó trái với định luậtbảo toàn và chuyển hoá năng lượng Theo Ăngghen sự vận độngcủa vật chất là do sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố trongbản thân thế giới vật chất, vận động của vật chất là cái vốn có củavật chất, không ai có thể sáng tạo ra và không thể tiêu diệt được vậnđộng Ông viết: “vật chất đối diện với chúng ta, như một cái gì đã
có sẵn, một cái gì không thể sáng tạo ra, cũng không thể tiêu diệt điđược, thì do đó có thể kết luận rằng bản thân sự vận động cũng
Nếu thừa nhận sự tồn tại vĩnh cửu của vật chất trên thực tế cũng
có nghĩa là thừa nhận tính vô sinh, vô diệt của vận động Ăngghencòn chỉ ra rằng, vận động của vật chất được bảo toàn cả về số lượng
và chất lượng Ông viết: “Cần phải hiểu tính bất diệt của vận độngkhông chỉ đơn thuần về mặt số lượng mà cần phải hiểu cả về mặt
nhất định mất đi thì tất yếu sẽ nảy sinh một hình thức vận động khácthay thế nó Nghĩa là các hình thức vận động chỉ chuyển hoá lẫn
11 C Mác v Ph nghen, To n t p, Nxb Chính tr qu c gia, H N i1994, t p 20, tr 520.àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ị quốc gia, Hà Nội1994, tập 20, tr 751 ốc gia, Hà Nội1994, tập 20, tr 751 àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ộ, M.1978, tập 2, tr 12 ập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12.
12 C Mác v Ph nghen, To n t p, Nxb Chính tr qu c gia, H N i1994, t p 20, tr 479.àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ị quốc gia, Hà Nội1994, tập 20, tr 751 ốc gia, Hà Nội1994, tập 20, tr 751 àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ộ, M.1978, tập 2, tr 12 ập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12.
Trang 13nhau, chứ vận động của vật chất nói chung thì vĩnh viễn vô tận, tồntại cùng với sự tồn tại vĩnh viễn vô tận như vật chất vậy Điều đó đãđược định luật bảo toàn chuyển hoá năng lượng chứng minh Cáchình thức vận động tuy khác nhau nhưng có thể chuyển hoá lẫnnhau Trong những điều kiện nhất định chúng có thể chuyển hoá từmột hình thái này sang một hình thái khác Ăngghen viết: “Vậnđộng cơ giới của các khối lượng chuyển hoá thành nhiệt, thành điện,thành từ, nhiệt và điện chuyển hoá thành phân giải hoá học; vàngược lại, quá trình hoá hợp hoá học lại sinh ra nhiệt và điện vàthông qua điện mà sinh ra từ; cuối cùng nhiệt và điện lại sinh ra vậnđộng cơ giới của các khối lượng Và sự chuyển hoá đó diễn ra nhưsau: một số lượng nhất định của một hình thái vận động bao giờcũng tương ứng với một lượng nhất định của một hình thái vận động
nghĩa; bất diệt cả về mặt số lượng, lẫn về mặt chất lượng Vật chấtvận động theo quy luật và có chu trình Thuộc tính của các vật thểchỉ bộc lộ ra thông qua vận động Hình thức vận động như thế nào
là do bản chất của vật thể đang vận động sinh ra
Khi phân tích Ăngghen cũng chỉ ra mối quan hệ biện chứnggiữa các hình thức vận động Hình thức vận động cao không thểtách rời hình thức vận động thấp, nhưng giữa chúng lại khác nhau
về chất Vận động thấp không thể bao quát được bản chất của vậnđộng chủ yếu của sự vật Giữa các hình thức vận động đó có thểchuyển hoá cho nhau trong điều kiện nhất định Việc phân biệt cáchình thức vận động- theo Ăngghen là vạch ra mối liên hệ lẫn nhau
Trang 14giữa chúng và là cơ sở để phân loại các ngành khoa học cũng nhưvạch ra mối quan hệ lẫn nhau giữa các ngành khoa học.
Trong khi khẳng định thế giới vật chất tồn tại trong sự vận độngvĩnh cửu của nó, Ăngghen còn chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữavận động và đứng im- sự đứng im tương đối của vật chất, đó là hiệntượng cân bằng xác định của vật chất Ông viết: “Cân bằng khôngthể tách khỏi vận động Trong vận động của các thiên thể, có vânđộng trong cân bằng và có cân bằng trong vận động (một cáchtương đối) Nhưng bất kỳ vận động tương đối riêng biệt nào, ở đâytức là bất kỳ vận động riêng biệt nào của những vật riêng biệt trênmột thiên thể đang vận động, cũng đều có xu hướng khôi phục lại
sự đứng im tương đối, sự cân bằng Khả năng đứng yên tương đốicủa các vật thể, khả năng cân bằng tạm thời là những điều kiện chủ
bằng không tách rời nhau Có vận động trong cân bằng và có cânbằng trong vận động Ăngghen còn chỉ ra rằng vận động riêng biệt
có xu hướng chuyển thành cân bằng, ngược lại vận động toàn bộ lạiphá hoại sự cân bằng Ông viết: “Vận động riêng biệt có xu hướngchuyển thành cân bằng, vận động toàn bộ lại phá hoại sự cân bằng
của thế giới vật chất Kết luận này hiện nay vẫn còn nguyên giá trịcủa nó Thực tế cho thấy, hiện tượng đứng im tương đối hay là trạng
14 C Mác v Ph nghen, To n t p, Nxb Chính tr qu c gia, H N i1994, t p 20, tr 740.àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ị quốc gia, Hà Nội1994, tập 20, tr 751 ốc gia, Hà Nội1994, tập 20, tr 751 àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ộ, M.1978, tập 2, tr 12 ập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12.
15 C Mác v Ph nghen, To n t p, Nxb Chính tr qu c gia, H N i1994, t p 20, tr 740.àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ị quốc gia, Hà Nội1994, tập 20, tr 751 ốc gia, Hà Nội1994, tập 20, tr 751 àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ộ, M.1978, tập 2, tr 12 ập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12.
16 C Mác v Ph nghen, To n t p, Nxb Chính tr qu c gia, H N i1994, t p 20, tr 741.àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ị quốc gia, Hà Nội1994, tập 20, tr 751 ốc gia, Hà Nội1994, tập 20, tr 751 àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ộ, M.1978, tập 2, tr 12 ập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12.
Trang 15thái cân bằng tạm thời của sự vật trong quá trình vận động của nóchỉ xảy ra khi được xem xét trong một quan hệ xác định nào đó.
Về không gian, thời gian
Khi nghiên cứu về không gian và thời gian, Ăngghen đã phêphán Nêgơli quan niệm về không gian và thời gian Thông qua kháiquát hoá, trừu tượng hoá, ông khẳng định rằng: “Chúng ta biết thếnào là một giờ, một mét, nhưng không biết thế nào là thời gian vàkhông gian! Làm như thể là thời gian là cái gì khác chứ không phải
là tổng số những giờ, còn không gian là cái gì chứ không phải làtổng số những mét khối! Tất nhiên là không có vật chất thì cả haihình thức tồn tại đó của vật chất đều chẳng là cái gì cả, đều chỉ lànhững khái niệm rỗng tuếch, những sự trừu tượng, chỉ tồn tại trong
gian là hai hình thức tồn tại của vật chất; không gian và thời giancũng chỉ là những phạm trù đặc trưng cho phương thức tồn tại củavật chất, không có vật chất tồn tại ngoài không gian và thời gian.Sau này khi bàn đến không gian và thời gian, Lênin đã nhận xétrằng: “Trong thế giới, không có gì ngoài vật chất đang vận động vàvật chất đang vận động không thể vận động ở đâu ngoài không gian
Ăngghen còn chỉ ra tính vô cùng, vô tận của không gian và thờigian, ông viết: “Sự kế tiếp nhau lặp đi lặp lại mãi mãi của các thếgiới trong thời gian vô tận chỉ là cái bổ sung lôgích cho sự đồng thờitồn tại bên cạnh nhau của hằng hà sa số thế giới trong không gian vô
àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ị quốc gia, Hà Nội1994, tập 20, tr 751 ốc gia, Hà Nội1994, tập 20, tr 751 àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ộ, M.1978, tập 2, tr 12 ập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12.
Trang 16tận”19 Rõ ràng theo Ăngghen không gian vô tận tức là không có tậncùng về phía nào cả, cả phía trước lẫn phía sau, cả bên trên và bêndưới, cả bên phải và bên trái
Như vậy bằng việc phê phán các nhà tư tưởng triết học, với tưduy biện chứng duy vật, Ăngghen đã chứng minh và đưa ra các kếtluận thiên tài về phạm trù vật chất, vận động, không gian và thời gian
là hình thức tồn tại của vật chất; mặc dù ông chưa đưa ra được mộtđịnh nghĩa hoàn chỉnh về phạm trù vật chất
3.3 Một số nội dung triết học khác như: sự phát triển của giới tự nhiên, nguồn gốc sự sống, con người, ý thức; phép biện chứng duy vật
Về sự phát triển của giới tự nhiên
Ăngghen chống lại quan điểm siêu hình về tính chất bất di bấtdịch của giới tự nhiên Ông đã dẫn các ví dụ của khoa học tự nhiên
để bác bỏ tính chất vô căn cứ của quan điểm siêu hình, và khẳngđịnh thế giới tự nhiên luôn luôn biến đổi, bản thân nó cũng có mộtlịch sử Ăng ghen viết: “Mục đích luận cũ đã đi đời nhà ma rồi, vàbây giờ người ta đã xác định vững vàng rằng vật chất, trong vòngtuần hoàn vĩnh viễn của nó, vận động theo những quy luật, nhữngquy luật này đến một giai đoạn nhất định- hoặc ở chỗ này, hoặc ởchỗ kia- tất nhiên sinh ra tinh thần có tư duy trong các vật hữu
phát minh khoa học vĩ đại lúc đó, đã chỉ rõ tính chất biện chứng củathế giới, là cơ sở để phác hoạ ra bức tranh tiến hoá của thế giới vật
19 C Mác v Ph nghen, To n t p, Nxb Chính tr qu c gia, H N i1994, t p 20, tr 482.àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ị quốc gia, Hà Nội1994, tập 20, tr 751 ốc gia, Hà Nội1994, tập 20, tr 751 àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ộ, M.1978, tập 2, tr 12 ập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12.
20 C Mác v Ph nghen, To n t p, Nxb Chính tr qu c gia, H N i1994, t p 20, tr 673.àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ị quốc gia, Hà Nội1994, tập 20, tr 751 ốc gia, Hà Nội1994, tập 20, tr 751 àn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12 ộ, M.1978, tập 2, tr 12 ập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 2, tr 12.
Trang 17chất Ông viết: “Nhờ ba phát minh vĩ đại ấy, người ta đã giải thíchđược những quá trình chủ yếu của giới tự nhiên, tìm ra được những
ở thời đại của Ăng ghen, tuy khoa học tự nhiên đã có nhữngbước tiến vượt bậc, nhưng ông cũng nhận thấy còn nhiều vấn đềkhoa học tự nhiên chưa giải đáp đựơc Chẳng hạn, giải thích sự phátsinh ra sự sống từ giới vô cơ
Từ thời đó cho đến nay, mặc dù bức tranh chung về sự pháttriển của giới tự nhiên đã được khoa học tự nhiên làm rõ hơn về chitiết, song về cơ bản bức tranh tiến hoá tổng quát của Ăng ghen vẫnđược bảo toàn
Về nguồn gốc sự sống, nguồn gốc loài người
Ăng ghen nhấn mạnh đến điều kiện trái đất và nguồn gốc hoáhọc của quá trình hình thành sự sống Trên cơ sở đó, ông bác bỏquan điểm duy tâm, tôn giáo đã phủ định sự khác nhau về chất giữa
sự sống và không sống, nhằm chứng minh vai trò của Thượng đếsáng tạo ra sự sống Ăngghen đã sử dụng phát minh mới nhất củaPaxtơ để bác bỏ quan niệm của thuyết tự sinh và khẳng định nguồngốc hoá học của quá trình hình thành sự sống trên trái đất Đồngthời, Ăng ghen cũng phê phán thuyết du nhập sự sống từ không gian
vũ trụ của Licbic, Hemhôntxơ Theo ông, ngoài không gian vũ trụkhông thể có các điều kiện cần thiết cho thể abumin tồn tại và hoạtđộng Ông hy vọng hoá học hữu cơ sẽ tổng hợp được chất abumin
và từ đó tạo nên tế bào và cơ thể sống Trên cơ sở đó, Ăng ghen