LỜI MỞ ĐẦU Giáo trình TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DỰNG NƯỚC ĐI ĐÔI VỚI GIỮ NƯỚC LỜI MỞ ĐẦU Cuốn sách Tư tưởng Hồ Chí Minh về dựng nước đi đôi với giữ nước bao gồm những nội dung sau I Nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh về dựng nước đi đôi với giữ nước II Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về dựng nước đi đôi với giữ nước III Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về dựng nước đi đôi với giữ nước trong giai đoạn mới của cách mạng (Nxb Quân Đội Nhân Dân) TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DỰNG NƯỚC ĐI ĐÔI.
Trang 1Giáo trình-TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DỰNG NƯỚC ĐI
ĐÔI VỚI GIỮ NƯỚC
LỜI MỞ ĐẦU
Cuốn sách "Tư tưởng Hồ Chí Minh về dựng nước đi đôi với giữ nước" bao gồm những nội dung sau:I Nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh về dựng nước đi đôi với giữ nước.II Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về dựng nước đi đôi với giữ nước.III Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về dựng nước đi đôi với giữ nước trong giai đoạn mới của cách mạng (Nxb Quân Đội Nhân Dân)
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DỰNG NƯỚC ĐI ĐÔI VỚI
GIỮ NƯỚC
Nó gồm hệ thống những luận điểm, nguyên tắc, phương pháp, biện pháp nhằm thực hiện sự gắn bó chặt chẽ giữa nhiệm vụ chiến lược dựng nước và nhiệm vụ chiến lược giữ nước trong sự nghiệp đấu tranh
vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xãhội chủ nghĩa Từ quan điểm và phương pháp tiếp cận trên, tập thể tác
giả đã bố cục cuốn sách " Tư tưởng Hồ Chí Minh về dựng nước đi đôi với giữ nước" gồm những nội dung sau:
Trang 2I Nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh về dựng nước đi đôi với giữ nước.
II Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về dựng nước đi đôi với giữ nước.
III Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về dựng nước đi đôi với giữ nước trong giai đoạn mới của cách mạng.
Chương 1
NGUỒN GỐC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DỰNG NƯỚC
ĐI ĐÔI VỚI GIỮ NƯỚC
Những nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cáchmạng Việt Nam, trong đó có tư tưởng về dựng nước đi đôi với giữnước, đều có nguồn gốc lịch sử - xã hội, nguồn gốc từ cuộc đời vànhân cách của Người Đó là lịch sử dựng nước và giữ nước của dântộc, là lý luận và kinh nghiệm thực tiễn của cách mạng thế giới, đặcbiệt là chủ nghĩa Mác - Lênin, là nhân cách cao quý và trải nghiệmcuộc đời hoạt động cách mạng phong phú của Hồ Chí Minh
1.1 Truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc là nguồn gốc sâu xa của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trang 3Tư tưởng Hồ Chí Minh về dựng nước đi đôi với giữ nước bắt nguồntrước hết từ sự nhận thức và vận dụng quy luật dựng nước đi đôi vớigiữ nước của lịch sử dân tộc.
Cách đây bốn, năm nghìn năm, nhân loại có một bước chuyển mình
vĩ đại từ thời đại "dã man" bước sang thời đại "văn minh", một số nhànước đầu tiên ra đời Vào thời điểm mất còn ấy, trên đất nước ta, mộtvùng lưỡng hợp những thuận lợi và khó khăn của thiên nhiên, tổ tiên
ta đã trải qua cuộc rèn luyện thử thách khắc nghiệt, mở rộng chinhphục trung du, đồng bằng Bắc Bộ, bắc Trung Bộ, khai thác đất hoang,rừng rậm, chống hạn hán, mưa nguồn, thác lũ, từng bước dựng nênnhà nước Văn Lang - Âu Lạc Quá trình lịch sử liên tục của dân tộc làquá trình lao động sáng tạo, biết tận dụng những thuận lợi, chế ngự và
"thích nghi", "chung sống" với những thách thức của thiên nhiên đểtồn tại và phát triển Bước sơ khởi đặc sắc đó đã mở đường và lưu lạidấu ấn sâu đậm trong mỗi chặng đường dựng nước của dân tộc ta.Mặt khác, khi tổ tiên ta vừa bước vào công cuộc dựng nước thì cũng
là lúc phải đặt ra nhiệm vụ chống ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập củamình ở vị trí địa - chính trị xung yếu trong khu vực, có nguồn tàinguyên thiên nhiên phong phú, lại là vùng đất phát triển sớm, nên
Trang 4trong suốt chiều dài lịch sử, nước ta luôn là đối tượng của nhiều thếlực bành trướng, xâm lược Có thể thấy rằng hiếm có một quốc gia,dân tộc nào lại bị nhiều kẻ thù lớn mạnh tiến công xâm lược như nước
ta và cũng hiếm có dân tộc nào lại chống ngoại xâm bền bỉ, dẻo dainhư dân tộc Việt Nam
Chỉ tính từ khi có sử liệu thành văn rõ ràng, thì từ cuộc kháng chiếnchống quân Tần xâm lược nước Âu Lạc vào thế kỷ III trước côngnguyên đến nay, hơn 20 thế kỷ, nhân dân ta đã phải trực tiếp cầm vũkhí kháng chiến suốt 13 thế kỷ, trong đó có khoảng 100 cuộc khởinghĩa quy mô lớn và hơn 10 cuộc kháng chiến toàn quốc để giữ nước.Thời gian không có chiến tranh thì cũng phải thường xuyên cảnh giác,
sử dụng nhiều phương thức linh hoạt chống lại mọi âm mưu, thủ đoạnnhòm ngó, xâm lấn, chèn ép của kẻ thù Một đất nước sinh ra và pháttriển trong cuộc vật lộn không cân sức, trải nhiều biến cố như vậy, chonên mọi hoạt động vật chất, tinh thần của dân tộc ta luôn phải tuân
theo quy luật: Dựng nước đi đôi với giữ nước.
Dựng nước là nguồn sức mạnh để giữ nước Giữ nước là điều kiện
để dựng nước Dựng nước và giữ nước là hai mặt hoạt động đồng thời,gắn bó với nhau trong suốt quá trình lịch sử của dân tộc ta Khi nói
Trang 5đến trách nhiệm của thế hệ Việt Nam mới đối với lịch sử, Bác Hồ đã
chỉ rõ: "Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng
nhau giữ lấy nước".
Quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước đã được tổ tiên ta nhận thứcsâu sắc và vận dụng sáng tạo trong hoạt động thực tiễn với những nộidung chủ yếu sau:
Thường xuyên chăm lo "quốc phú, binh cường"
Mục đích cao nhất của dân tộc ta từ trước đến nay là đất nước được
"thái bình thịnh trị" hay "thái bình an quốc" (tuy mỗi thời đại, nộidung này có khác nhau) Thời xưa, tổ tiên ta quan niệm "thái bình anquốc" là dân no đủ, sống yên bình, không lo đói rét; phép nướcnghiêm, không lo quan lại nhiễu sách, trộm cướp quấy phá; quân binhmạnh, không lo cương vực bị đụng chạm; đời sống thanh thản, đàn háthoan hỉ, lễ cưới chu tất; trên dưới thuận hoà, trong nhà ấm cúng, tíchcốc phòng cơ như thế thì cơ nghiệp nước nhà truyền lâu mãi mãi1
Đó là một nước phát triển toàn diện, mạnh về chính trị, kinh tế, vănhoá, xã hội, quốc phòng và đối ngoại Muốn có được một đất nướcthịnh trị như thế thì đồng thời phải chăm lo "quốc phú, binh cường"
Trang 6Nước ta vừa dựng nước, nền độc lập chưa củng cố, đã rơi vào cơnđại họa Phong kiến Trung Quốc với sức mạnh áp đảo, cùng với thủđoạn ngoại giao gián điệp thâm độc, ly gián nội bộ, làm cho nhữngngười lãnh đạo triều Âu Lạc mất cảnh giác, không lo phòng bị đấtnước, đã xâm lược và đặt được ách thống trị trên đất nước ta Kẻ thùlớn mạnh, có nền văn minh phát triển rực rỡ với các thủ đoạn thống trịtàn bạo, xảo quyệt, nham hiểm để chẳng những duy trì ách áp bức, bóclột lâu dài mà còn đồng hoá dân tộc ta Đó là một thử thách tưởng nhưkhông thể vượt qua như số phận nhiều tộc người Việt anh em lánggiềng khác Nhưng điểm đặc sắc là cái mạch nguồn tự chủ, tự cườngtrong nhân dân ta không bị mai một, vẫn âm thầm tồn tại, phát triển,
có dịp lại bùng phát như lẽ tự nhiên: ý chí "lập lại nghiệp Hùng" từkhởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40) tiếp tục phát triển đến khởi nghĩa
Lý Bí giành độc lập dựng nước Vạn Xuân, tự xưng Hoàng đế (năm544) và cuối cùng bằng chiến thắng Bạch Đằng (năm 938) Ngô Quyềnkhôi phục nền độc lập
Đất nước thoát khỏi vòng nô lệ, nền độc lập được khẳng định vàcủng cố qua những chiến công rực rỡ, càng cổ vũ nhân dân quyết tâmxây dựng đất nước giàu đẹp, giữ vững nền độc lập quý báu vừa giànhđược
Trang 7Đến thế kỷ XI, nền Văn minh Đại Việt bước vào thời kỳ phát triển
rực rỡ với nội dung nổi bật là xây dựng một quốc gia "quốc phú, binhcường" sánh ngang hàng với các quốc gia tiên tiến lúc đó và giữ vữngnền độc lập
Năm 1010, Lý Thái Tổ quyết định dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình
-kinh đô nhà Đinh và Tiền Lê) ra Đại La (Hà Nội nay) Chiếu dời đô của Lý Thái Tổ nêu rõ yêu cầu mới của kinh đô là "đóng nơi trung tâm,
mưu toan nghiệp lớn, tính kế lâu dài cho con cháu đời sau" Hoa Lư
có địa thế núi non hiểm trở, xa biên giới phía Bắc, có lợi phòng giữ vềmặt quân sự, nhưng không thể phát triển thành trung tâm chính trị,kinh tế, văn hoá của cả nước Thành Đại La đáp ứng yêu cầu là kinh
đô của một quốc gia độc lập, phú cường: "ở trung tâm bờ cõi đất nước,
được cái thế rồng cuộn hổ ngồi; vị trí ở giữa bốn phương đông, tây, nam, bắc; tiện hình thế núi sông sau trước ở đó, địa thế rộng mà bằng phẳng, vùng đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ về ngập lụt, muôn vật rất phong phú tốt tươi Xem khắp nước Việt ta, chỗ ấy là nơi hơn cả, thật là chỗ hội họp của bốn phương, là nơi đô thành bậc nhất của đế vương muôn đời" 2 Kinh đô mới được đổi tên là Thăng Long(rồng bay lên - rồng tượng trưng cho dân tộc - theo truyền thuyết, ông
tổ dân tộc ta là Lạc Long Quân) Thăng Long thực sự là đắc địa, vừa
Trang 8là trung tâm phát triển kinh tế, văn hoá cả nước, vừa là nơi sông baotrước mặt, núi tựa sau lưng có thể phòng giữ với quân xâm lượcphương Bắc.
Hơn bốn thế kỷ, từ khi đất nước giành độc lập đến thế kỷ XV, nướcĐại Việt đã phát triển vượt bậc về kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá.Trình độ phát triển của nước ta lúc đó không thua kém các nước tiêntiến trong khu vực cũng như trên thế giới Nhà Trần khuyến khích việckhẩn hoang, mở rộng diện tích canh tác, đào đắp công trình thuỷ lợi.Đến giữa thế kỷ XIII, hệ thống đê dọc sông Hồng và các sông lớn ởBắc Bộ và bắc Trung Bộ về cơ bản đã được xây dựng và hàng nămđều tu bổ; một số kênh mương tưới, tiêu được đào đắp Nhờ vậy nôngnghiệp đã đạt đến trình độ thâm canh tăng vụ khá cao, "mỗi năm, lúachín bốn lần" Công thương nghiệp cũng có bước phát triển, kinhthành Thăng Long được mở rộng Khu vực dân cư ngoài hoàng thànhchia thành 61 phường, có chợ và các phường thủ công vừa sản xuấtvừa buôn bán Việc giao lưu kinh tế với các nước láng giềng cũng mởrộng qua các cửa khẩu và cảng biển, cảng sông
Trang 9Bước phát triển mới về kinh tế cùng các lĩnh vực khác, khôngnhững tăng thêm tiềm lực vật chất của quốc gia, ổn định đời sốngnhân dân mà còn tạo cơ sở để nâng cao sức mạnh quốc phòng.
Cùng với việc chăm lo phát triển toàn diện đất nước, tổ tiên ta thời
kỳ này cũng hết sức chăm lo việc binh - việc quốc phòng Vua LýNhân Tông trước khi qua đời còn dặn lại: "Nên sửa sang giáo mác, đềphòng việc không ngờ, chớ làm sai mệnh ta"3 Đời Trần, sau ba lầnkháng chiến và nhiều năm đấu tranh hoà hoãn, Thái sư Trần QuangKhải tổng kết:
"Thái bình tu trí lực,
Vạn cổ thử giang san".
Dịch là: Thái bình nên gắng sức,
Non nước vững nghìn thu
Thời Lý - Trần, quân chủ lực không đông nhưng tinh nhuệ; quân địaphương, quân vương hầu, dân binh thì đông đảo, rộng khắp, đã đượchuấn luyện; vũ khí, quân lương luôn tích trữ sẵn Những vương hầu,quý tộc đều phải học ở Giảng Võ Đường và sau đó trực tiếp chỉ huyquân đội Những người tài giỏi về quân sự trong dân gian cũng đượctuyển dụng vào quân ngũ Đó là nền quốc phòng vững mạnh, sẵn sàng
Trang 10và chủ động khi bước vào kháng chiến Có thể thấy rằng các triều đình
Lý - Trần, nhất là triều Trần, vào nửa cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV
đã giải quyết hài hoà, có hiệu quả mối quan hệ "quốc phú, binhcường", tạo nên sức mạnh của đất nước để Lý Thường Kiệt "tiên phátchế nhân" trong kháng chiến, để thời Trần ba lần đánh thắng quânNguyên hung bạo cùng các thế lực quấy phá từ phía Nam, bảo vệ toànvẹn và phát triển đất nước
Tuy nhiên, nước nào cũng vậy, có lúc mạnh, lúc yếu, khi biến, khithường Đầu thế kỷ XV, nước ta rơi vào ách thống trị của nhà Minh,nhưng chỉ hai chục năm sau (1407 - 1427), cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
đã khôi phục nền độc lập Đất nước lại bước vào cuộc chấn hưng mới.Thế kỷ XV, đặc biệt dưới triều Lê Thánh Tông (1460 - 1497), chế độphong kiến Việt Nam đã phát triển đến giai đoạn cực thịnh Đất nướccũng có bước phát triển mới: kinh tế phục hồi và phát triển, quốc giathống nhất được củng cố, quan hệ bang giao với các nước tăng cường,địa vị nước Đại Việt được nâng cao Tuy vừa thắng lợi vẻ vang trongcuộc chiến tranh giải phóng và nhà Minh chưa dám phát động chiếntranh xâm lược lần nữa nhưng triều Lê cũng không xem nhẹ côngcuộc phòng thủ đất nước Lê Thái Tổ nhắc nhở "Lo giữ nước từ lúc
Trang 11nước chưa nguy" Ông cho khắc vào núi đá lời nhắn nhủ hậu thế:
"Biên phòng cần có phương lược tốt; xã tắc nên có kế lâu dài"
Trên cơ sở đất nước phát triển về mọi mặt, lực lượng quốc phòngđời Lê được xây dựng mạnh, dựa trên quân đội thường trực đông hơn,
tổ chức chặt chẽ hơn và trang bị vũ khí mới hơn cùng với lực lượng
dự bị đông đảo Quân đội hùng hậu của nhà Lê là công cụ chủ yếu răn
đe các nước phía Nam quấy phá, ngăn chặn âm mưu xâm lược củaphong kiến phương Bắc, giữ gìn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia
Vào thời Lê mạt, khi đất nước đã có dấu hiệu suy vi, mùa màng sasút, dân tình đói khổ, chính trị nhiễu nhương, quốc phòng yếu kém, kẻngoại bang nhòm ngó , năm 1731, quan đại thần Bùi Sĩ Tiêm dângkhải lên vua Lê, đệ trình 10 việc thiết yếu quốc gia, đó là chiến lượctổng thể xây dựng và bảo vệ đất nước:
1 Gắng tôn phù để tiêu tan biến dị;
2 Dứt hẳn cầu cạnh để cho đúng đắn tiêu chuẩn;
3 Chăm đời sống của dân để bền mệnh mạch;
4 Thận trọng chính sách dùng binh để mạnh nanh vuốt;
6 Bỏ nhũng lại để bớt nạn chài dân;
Trang 127 Chấn chỉnh thể văn để khích lệ người hiền tài;
8 Làm rõ lệ xét xử để cho thanh thỏa việc từ tụng;
9 Liêm phỏng tường tận để phân biệt người hiền kẻ gian;
10 Phân biệt nòi giống để chặn sự nhòm ngó
Ông giải thích tường tận từng việc, trong đó nổi lên là phải "chăm
lo đời sống của dân để bền mệnh mạch", "Lính là nanh vuốt quốc gia",phải có chính sách rõ ràng đối với binh lính và gia đình họ, đồng thời
kỷ luật trong quân ngũ phải nghiêm, "quân gắng binh cường là cái thế
vô địch Như vậy gọi là thận trọng chính sách dùng lính để mạnh nanhvuốt vậy"4
"Quốc phú, binh cường" là tiêu chí xây dựng quốc gia, cũng là lýtưởng của tất cả những ai có trách nhiệm với vận mệnh đất nước Trần
Quốc Tuấn trong bài Hịch tướng sĩ bất hủ, đã phân tích mối quan hệ
giữa những ham muốn đời thường trong thời bình với việc chuẩn bịsẵn sàng chống ngoại xâm Ông khuyên tướng sĩ đừng "lấy việc chọi
gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển, hoặc vui thúvườn ruộng, hoặc quyến luyến vợ con, hoặc lo làm giàu mà quên việcnước, hoặc ham săn bắn mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon,hoặc mê tiếng hát"; nên nhớ câu "đặt mồi lửa vào dưới đống củi "làm
Trang 13nguy cơ, nên lấy điều "kiềng canh nóng mà thổi rau nguội" làm răn sợ,huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho người người giỏi nhưBàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ; có thể bêu được đầu Hốt TấtLiệt ở cửa Khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai "5.
Bài Hịch là những lời tâm huyết tràn đầy lòng yêu nước, chí cămthù giặc, tinh thần cảnh giác, sẵn sàng xả thân chiến đấu của vị Tổngchỉ huy đã thức tỉnh, khích lệ tướng sĩ chăm lo việc quân, chuẩn bịcho cuộc kháng chiến vì nền độc lập của dân tộc, vì hạnh phúc củamuôn dân
Từ bậc hiền tài đến kẻ tiện dân, dù hành trang vào đời và vị thế xãhội khác nhau nhưng đã đứng trong trời đất, là con dân nước Việt thìđều phải luôn nghĩ đến sự mạnh yếu, mất còn của đất nước
Nguyễn Trãi lúc nào cũng đau đáu tâm trạng
"Quốc phú binh cường chăng có chước
Bằng tôi nào thủa ích chưng dân" 6
(Nếu không có kế sách gì làm cho nước giàu, binh mạnh thì mìnhnào có ích gì cho dân)
Trang 14Người thường dân cũng xác định "quốc gia hưng vong, thất phu hữu
trách" (đất nước thịnh hay suy, người dân thường đều có trách nhiệm).
Kinh nghiệm lịch sử dân tộc cho thấy, khi thế nước thịnh, có tiềmlực tinh thần - vật chất, kinh tế - quốc phòng mạnh thì dù có bị hạnchế về quân số, trang bị, ta vẫn chiến thắng kẻ thù hung bạo Thời Lý,thời Trần là lúc thế nước mạnh, xã tắc (chế độ) vững như bàn thạchnên ta thắng Nhà sử học Ngô Sĩ Liên nhận xét: "Thế nước không đờinào mạnh bằng thời Lý" Phan Huy Chú cũng viết: "Thế nước ta thờiTrần cũng tỏ ra cường thịnh lắm" Thế nước suy là lúc mà bên ngoàikhông yên, bên trong không ổn, kinh tế tiêu điều, quân binh yếu kém.Hoặc cũng có khi quân đông, vũ khí tốt nhưng tinh thần bạc nhược,lòng người phân ly thì vẫn không phải là "binh cường" Đó là cơ mấtnước Vào cuối triều Lý, tăng phó Nguyễn Thường đã chỉ trích LýCao Tông như sau:
"Nay dân loạn, nước nguy, chúa thượng thì rong chơi vô độ, triềuchính rối loạn, lòng dân trái lìa, đó là triệu bại vong"7
Thời Hồ Quý Ly, tuy có quân đông, súng thần cơ tốt, có xích sắtkhóa cửa biển, có hệ thống thành lũy quy mô lớn, nhưng chế độ nhà
Hồ "thuế má phiền, dao dịch nặng, pháp luật ngặt, hình phạt nghiêm,
Trang 15chỉ vụ ích kỷ phì gia, chẳng nghĩ khổ dân hại nước Yêu người gần, vịtình riêng Họ hàng thì người thấp cũng tôn quí, tiểu nhân mà ngườinịnh cũng tin dùng Nhân mừng mà thưởng khen, nhân giận mà phạtgiết Người trung trực phải khóa miệng, kẻ lương thiện thì ngậmoan"8 Một chế độ như vậy tránh sao khỏi mất nước.
Cùng trong bài khải trình Chúa Trịnh, Nguyễn Duy Thì viết: "Sinhsản suy sút, dân tình đói kém, thế nước chênh vênh, họa mất nước sờ
sờ trước mắt" Luôn luôn chăm lo dựng nước "quốc phú, binh cường",
về kinh tế, chưa hẳn đã là nước mạnh Nước mạnh phải là giàu về kinh
tế, mạnh về quốc phòng Dù đất nước không có chiến tranh hoặc chiến
Trang 16tranh chưa đến gần, vẫn phải thường xuyên chăm lo quốc phòng Sứcmạnh quốc phòng vừa để bảo vệ an ninh trong nước, vừa giữ vữngchủ quyền cương vực, răn đe, ngăn chặn âm mưu xâm lược của kẻ thù
và nếu chúng liều lĩnh gây chiến tranh thì ta không lâm vào cảnh "trở
tay không kịp" mà chủ động đánh thắng Người xưa có tổng kết "việc
binh là việc của trăm năm, chỉ dùng trong một ngày", chính là với ý
nghĩa như vậy
Trong hoàn cảnh nước ta, đất không rộng, người không đông, tiềmlực kinh tế, quốc phòng hạn chế, lại phải chống với ngoại xâm lớnmạnh, cho nên lúc nào ta cũng phải gắng sức vừa dựng nước vừa giữnước Thời bình thì dồn sức cho phát triển kinh tế, nhưng vẫn thườngxuyên chăm lo đến quốc phòng Công cuộc dựng nước đặt trong hoàncảnh đó thì nhà nước phải trọng nông, khuyến nông; mỗi người dânvừa phải lao động cần cù, thông minh sáng tạo, vừa phải kiệm ướctrong tiêu dùng (vừa cần, vừa kiệm) Thời Trần, kinh tế khá phát đạt,một năm hai vụ lúa, tám lứa tầm tang, kho tàng nhà nước dự trữ đủdùng trong nhiều năm, nhưng nhân dân sống rất giản dị Sứ nhàNguyên là Trần Phu có thuật lại trong bài An Nam tức sự: "Không cócác thứ phấn sáp gì cả, người giàu đeo khuyên bằng đồi mồi, còn
Trang 17những người khác thì đeo khuyên bằng xương hoặc bằng sừng Vàngngọc thì tuyệt đối không dùng".
Nền tảng của công cuộc giữ nước chính là từ thành tựu dựng nước.Những võ công lẫy lừng đều vào lúc quốc gia cực thịnh
Văn bia chùa Linh Xứng ca ngợi Lý Thường Kiệt: "Thái úy trong
thì sáng suốt khoan hòa, ngoài thì nhân từ giản dị Những sự đổi hayphong tục nào có quản công Làm việc thì siêng năng, sai bảo dân thìđôn hậu, cho nên dân được nhờ cậy Khoan hòa giúp đỡ trăm họ, nhân
từ yêu mến mọi người, cho nên nhân dân kính trọng Dùng uy vũ đểtrừ gian ác, đem minh chính để giải quyết ngục tụng, cho nên hìnhngục không quá lạm Thái úy biết rằng dân lấy sự no ấm làm đầu,nước lấy nghề nông làm gốc, cho nên không để lỡ thời vụ, tài giỏi màkhông khoe khoang Nuôi dưỡng cả đến người già ở nơi thôn dã, chonên người già nhờ thế mà được yên thân Phép tắc như vậy có thể làcái gốc trị nước, cái thuật yên dân, sự tốt đẹp đều ở đấy cả"9
Trần Quốc Tuấn trong lời di chúc có tổng kết nguyên nhân căn bản
ba lần đại phá quân Nguyên là "Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận,
cả nước ra sức" và ông dặn lại "Nới sức dân làm kế rễ sâu gốc vững,
đó là thượng sách để giữ nước" Dựng nước là nền tảng để giữ nước,
Trang 18nhưng chỉ chăm lo dựng nước, không lo lắng việc phòng thủ quốc giathì cũng không giữ được nước Làm thế nào để vừa phát triển kinh tế,vừa có quân binh mạnh, đáp ứng yêu cầu dựng nước và giữ nước thờibình, lại có thể chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc chiến tranh chốngngoại xâm thắng lợi? có thể coi quốc sách "ngụ binh ư nông" làphương sách tối ưu để giải bài toán trên.
"Ngụ binh ư nông" (gửi binh lính ở nhà nông) được thực hiện rõnhất từ thời Lý, thời Trần đến thời Lê sơ
Để quản lý dân cư, từ nhà Lý, hằng năm, vào đầu mùa xuân, các xãquan phải lập hộ tịch xã mình, kê khai dân số, xếp thành từng hạngtheo tuổi tác, sức khỏe, địa vị xã hội , trong đó nhà nước quản chặtnhất là loại đinh tráng (nam giới khỏe mạnh từ 18 tuổi đến 40 tuổi).Nhà nước dựa vào tình hình đó để điều lực lượng sai dịch và tuyểnsung quân ngũ Loại đinh tráng, trừ một số đối tượng như họ hàng nhàvua, con quan còn tất cả được đăng ký vào sổ quân Định kỳ hằngnăm hoặc vài ba năm, nhà nước tuyển chọn một số đinh tráng đủ tiêuchuẩn sung vào quân chủ lực (số này thường là rất ít), số còn lại sẽđược chính quyền địa phương chia thành các phiên, thường là 5 phiên
Cứ luân phiên theo định kỳ gọi là "đến canh" thì tập trung về huyện,
Trang 19lộ Thời gian tập trung thường là một vài tháng trong năm Lúc này,những người vốn đang là nông dân trở thành quân địa phương, vừahuấn luyện quân sự, vừa làm nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự, phòngchống thiên tai , vừa sẵn sàng theo lệnh điều binh của triều đình Đốivới số quân này, khi tập trung phải mang theo quần áo, lương thực, tựtúc ăn mặc, nhà nước chỉ cấp phát một phần nhỏ để động viên nhữngngày lễ, tết Hết một canh thì phiên cũ về thành người nông dân, sảnxuất, sinh hoạt ở gia đình, phiên mới lại lên thay Lúc có chiến tranh,cần huy động quân, nhà nước cứ chiểu theo số quân gọi nhập ngũ, mởkho cấp phát quần áo, vũ khí, biên chế thành đội ngũ, có thể đánh giặcđược ngay Số quân này đông hàng mấy chục vạn.
Chính sách "ngụ binh ư nông" bảo đảm duy trì sức lao động chủ yếutrong sản xuất nông nghiệp (người đàn ông), bảo đảm sinh hoạt giađình, làng xã bình thường; nhà nước không phải chi phí nuôi quânnhiều mà lại có sẵn đội quân dự bị
Các nhà sử học xưa đã có những đánh giá xác đáng về tính ưu việtcủa chính sách này
Ngô Thì Sĩ trong Việt sử tiêu án viết: "Chế độ binh lính của nhà
Lý mỗi tháng lên cơ ngũ một lần, gọi là đi canh, hết canh lại về quê
Trang 20làm ruộng, quân không phải cấp lương không có phí tổn nuôi lính,
mà có công hiệu dùng sức lính, cũng là chế độ hay "10
Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí, Lời mở đầu
Binh chế chí viết: "Đời xưa binh lấy ở nghề nông là có ý phục việc
nguy hiểm vào nơi thuận tiện Trong thành, vua có quân Túc vệ, độingũ đông nghiêm Còn quân ở ngoài thì vẫn theo ý nghĩa đời xưa, lúc
vô sự thì về làm ruộng, khi có động thì chiếu sổ gọi ra hết Cho nênbinh vẫn đủ mà không phải tiêu phí nhiều, càng thêm hăng hái chốngthù Cái chiến công dẹp quân Chiêm, phá quân Tống, cái oai hùng balần đánh bại quân Nguyên cũng đủ cho biết binh lực hai đời cường
thịnh là thế nào" Phần Lệ nuôi binh và cấp tuất trong Binh chế chí,
Ông viết: "Đời Lý ngoại binh thì không có lương, cứ luân phiên đếncanh, hết phiên canh cho về nhà cày cấy trồng trọt để tự cấp Nhà Trầntheo phép nhà Lý binh các đạo thì đều chia phiên về làm ruộng cho
đỡ tốn lương Phép nuôi binh đời Lê sơ đại để theo phép ngụ binh ưnông của các đời Lý, Trần, không phải cấp lương bổng Thời HồngĐức trở về sau, cứ theo phép ấy không đổi"11
Chính sách "ngụ binh ư nông" của tổ tiên ta trong nhiều thế kỷ thờiphong kiến thịnh đạt là một cơ chế quản lý, động viên và sử dụng
Trang 21nhân lực trong nước kết hợp kinh tế với quốc phòng, vừa dựng nước,vừa giữ nước Thời bình thì quân thường trực ít, chủ yếu bảo vệ triềuđình, bảo vệ kinh thành, chi phí cho quốc phòng được giảm nhẹ, dân
đỡ phải đóng góp, nguồn lực dự trữ quốc phòng đầy đủ nhưng mỗi địaphương vẫn thường xuyên có quân địa phương phòng giữ và một lựclượng quân dự bị to lớn Điều quan trọng hơn là sức lao động chonông nghiệp và các hoạt động xã hội khác vẫn dồi dào bảo đảm ổnđịnh đời sống nhân dân và phát triển kinh tế - xã hội Thời chiến thìnhà nước có thể nhanh chóng huy động được quân số đông đảo "tậndân vi binh", cùng các kho tàng dự trữ, đáp ứng kịp thời nhu cầu chiếntranh Đặt ra và thực hiện chính sách "ngụ binh ư nông", ông cha ta cótham chước binh chế các triều đại Trung Quốc, trong đó có chính sách
"ngụ binh ư nông" thời nhà Đường, nhưng về nội dung thì "ngụ binh ưnông" của nước ta có những điểm khác căn bản với binh chế của nhànước phong kiến Trung Quốc ở Trung Quốc thời ấy, "sương quân"được chia phiên, thay nhau về sản xuất, nhưng số quân này khôngnhiều và không phải trở về làm dân, sinh sống với gia đình, mà vẫn làquân, chủ yếu sản xuất ở các đồn điền quân đội Chính triều Tốngcũng phải khen và có những điều học theo binh chế "của An Nam"
Trang 22Chính sách "ngụ binh ư nông" là một sáng tạo độc đáo, phù hợp vớihoàn cảnh nước ta, đáp ứng yêu cầu kết hợp chặt chẽ dựng nước vớigiữ nước Chính sách này đem lại hiệu quả lớn: quốc phú, binh cường,bảo vệ chủ quyền quốc gia và đánh thắng chiến tranh xâm lược của kẻthù.
Cùng với chính sách căn bản "ngụ binh ư nông", các nhà nướcphong kiến còn có chính sách "chăm lo vùng phên giậu", ổn định dântình, lập các cơ sở sản xuất của quân đội vùng biên giới, di dân vàođịnh cư ở các vùng đất mới mở ở phía Nam, để giữ vững biêncương
Kết hợp phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng là nguyên nhâncăn bản dẫn tới thành công sự nghiệp dựng nước và giữ nước, một bàihọc lớn trong lãnh đạo đất nước của tổ tiên ta
Xây dựng lực lượng vũ trang phù hợp yêu cầu kết hợp dựng nước và giữ nước
Xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của nước ta, từ tính chất chính nghĩa
và yêu cầu của công cuộc giữ nước, trong xây dựng lực lượng vũtrang, ông cha ta luôn có quan điểm nhất quán kết hợp chặt chẽ dựng
Trang 23nước với giữ nước, thể hiện ở tư tưởng chỉ đạo đặc sắc: "cả nước đánh
giặc, toàn dân là lính", "quân cốt tinh, không cốt nhiều".
Quy luật của tất cả các cuộc chiến tranh từ xưa đến nay là mạnhđược yếu thua trong so sánh lực lượng tổng hợp của các bên tham giachiến tranh Ông cha ta nhận thức rất rõ điều này Trần Quốc Tuấncũng nhất trí với Tôn Tử rằng: "Chiến tranh thắng lợi là do lực lượng
so sánh có ưu thế tuyệt đối như dật đối với thù Chiến tranh thất bại là
do lực lượng so sánh ở trong thế yếu tuyệt đối như thù đối với dật"12.Nguyễn Trãi cũng so sánh lực lượng thắng, thua giữa ta và địch: "Kểlấy sức nặng ngàn cân đè lên trứng chim, thì chưa hề có trứng nàokhông vỡ nát"13
Từ nhận thức đó, các triều đại phong kiến trước đây luôn chú trọngxây dựng lực lượng vũ trang mạnh, đủ sức đáp ứng yêu cầu thời bìnhcũng như khi chiến tranh xảy ra
Trong cách tổ chức bộ máy nhà nước thời phong kiến, lực lượng vũtrang - quân đội và dân binh - vừa làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, vừa
có nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự xã hội Trần Quốc Tuấn nói: "Nước
lấy binh làm gốc", Lê Hiển Tông nói: "Coi binh như nanh vuốt của quốc gia" là với ý nghĩa trên Nước ta, không kể khi có chiến tranh hay chiến
Trang 24tranh sắp xảy ra, mà cả thời bình thì kẻ thù cũng luôn rình rập nhòmngó, lấn chiếm, phá hoại Đất nước luôn phải đề phòng "việc bấtngờ" và lực lượng vũ trang phải thường xuyên cảnh giác, đánh bại mọi
âm mưu, thủ đoạn của giặc ngoài, thù trong, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ,bảo vệ triều đình, bảo vệ cuộc sống yên bình của nhân dân Do đó,thời bình cũng không thể sao nhãng chăm lo xây dựng lực lượng vũtrang
Khi có chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, thì đây là những cuộc chiếntranh tự vệ hoặc giải phóng, diễn ra ngay trên đất nước ta Hầu như tất
cả các cuộc chiến tranh đó, giặc ngoại xâm có quân số đông hơn gấpbội quân đội thường trực nước ta
Nếu chủ trương đánh địch chỉ bằng quân đội chủ lực của triều đình,thì thường xuyên phải có quân số thường trực đến mấy chục vạn.Thậm chí như thời Đinh, Đinh Bộ Lĩnh định xây dựng đội quân 100vạn người; Hồ Quý Ly nói: "Ta làm sao có được 100 vạn quân để đốiđịch với giặc Bắc" Trong khi đó thời Đinh dân số nước ta chỉ khoảng
ba, bốn triệu người, thời Hồ khoảng 6 triệu và thời Lê cũng chỉ đến 8triệu, làm sao có thể xây dựng và duy trì quân số đông đến như vậy?
Trang 25Thông thường trước đây, thời bình, quân thường trực chỉ khoảng1% dân số Trong những thế kỷ XI đến XV, quân số của các triều Lý,Trần, Lê thời bình thường chỉ bốn, năm vạn, chưa bao giờ đến 10 vạn.Như vậy, nền kinh tế có khả năng đáp ứng nuôi dưỡng, trang bị choquân đội Nếu quân số quá đông thì ảnh hưởng ngay đến sự phát triểnsản xuất do thiếu nhân lực và nền kinh tế không thể đảm bảo chi phíquốc phòng Như thế, kinh tế sẽ sa sút và quốc phòng cũng yếu kém.Sau này Ngô Ngọ Phong có bàn về việc lập đội quân 100 vạn: "Sốcơm áo 100 vạn người ấy tất phải phiền đến mấy ức vạn người cungcấp thì dân lực trong nước lấy gì mà cung cấp đủ cho được, dân khổquá sẽ làm giặc, dân làm giặc thì nước tất biến"14.
Năm 1733, Tham tụng Nguyễn Hiệu tâu với Lê Thuần Tông:
"Việc binh cốt ở biết phép không cốt ở số nhiều Nếu cứ tăng sốlượng mãi thì các khoản tốn phí mỗi năm nuôi binh thêm nhiều chỉ hạicho dân"15
Ngay cả thời chiến tranh, với tinh thần toàn dân đánh giặc, nhưngkhông phải tất cả trai tráng đều vào quân ngũ Tùy từng thời điểmchiến tranh, tùy từng chiến trường cụ thể mà huy động lực lượng cầnthiết Các cuộc kháng chiến của ta phổ biến là "tránh cái thế mạnh lúc
Trang 26ban mai" để "đánh cái thế tàn lúc buổi chiều" của kẻ thù, nên thườngtheo phương châm đánh lâu dài Vừa đánh giặc, vừa phải duy trì cuộcsống của dân, phải lo cung cấp cho binh lính trong quá trình chiếnđấu, dự trữ kho tàng dù nhiều vẫn bị vơi dần do chi dùng, do địchcướp phá Vì vậy, vẫn phải có lực lượng tiếp tục sản xuất Chưa kểcần có lực lượng dân binh đánh địch tại chỗ giữ làng, giữ bản, bảo vệ
và chăm lo cho dân, cần có lực lượng dự trữ để khi cần thì tiếp tục gọinhập ngũ Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên, có lúc triều đình vàquân chủ lực phải rút lui, địch mở rộng chiếm đóng, tình hình rất khókhăn, nhưng ta vẫn giành một lực lượng dự bị lớn chưa huy động ởvùng hậu phương Vua Trần nói với quan tướng:
"Cối Kê cựu sự quân tu ký,
Hoan Diễn do tồn thập vạn binh".
(Các ngươi nên nhớ chuyện Cối Kê cũ,
vùng Hoan Diễn ta vẫn còn 10 vạn quân)
Dù trong chiến tranh, nhà nước có huy động nhập ngũ đông "tậndân vi binh", nhưng nhiều khi quân ta vẫn ít hơn quân địch Quân takhông nhiều nhưng đánh thắng được quân địch vừa đông hơn, vừa làđội quân chủ lực thiện chiến Đó là vì ông cha ta chủ trương "quân cốt
Trang 27tinh, không cốt nhiều" (lời Trần Quốc Tuấn), Nguyễn Trãi cũng nhậnđịnh: "Binh mạnh hay yếu không cứ nhiều hay ít", Quang Trung cũngkhẳng định: "Quân lính cốt hòa thuận, không cốt đông, cốt tinh nhuệ,không cốt nhiều".
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhận định: "Quan điểm chú trọngchất lượng vốn là một nội dung quan trọng trong truyền thống quân sựcủa dân tộc ta"16 Tuy nhiên, tùy thời bình hay thời chiến, tùy từngcuộc chiến tranh, tùy đối tượng tác chiến cụ thể mà tổ tiên ta tổ chứcmột quân đội có số lượng thích hợp Một quân đội số lượng khôngđông, chất lượng cao phải dựa trên cái nền là cả nước đánh giặc, toàndân là lính, nghĩa là phải đánh giặc bằng sức mạnh tổng hợp cả nước,
cả dân tộc, đánh giặc bằng lực lượng vũ trang đông đảo gồm cả quânchủ lực của triều đình, quân các địa phương và cả nhân dân vũ trang.Quân cốt tinh hay chất lượng cao là một quân đội có giác ngộ dân tộc,
có ý chí quyết tâm đánh giặc, có tinh thần xả thân, mưu trí, sáng tạotrong chiến đấu, đoàn kết, hiệp đồng với đồng đội, với nhân dân trongsinh hoạt cũng như trong tác chiến, có kỹ thuật, chiến thuật thànhthục, có tính kỷ luật cao
Trang 28Từ quan điểm trên, tổ tiên ta có cách tuyển dụng, tổ chức, biên chế,
quân đội độc đáo, bảo đảm kết hợp dựng nước và giữ nước trong thời
bình, vừa đánh giặc vừa cầy ruộng trong thời chiến
Tổ chức lực lượng vũ trang thời phong kiến cũng dựa theo kế sách
"ngụ binh ư nông", lực lượng vũ trang chia làm ba thứ quân:
Quân chủ lực của triều đình gọi là cấm quân, cấm vệ, túc vệ, thân quân , được tuyển lựa từ các đinh tráng khỏe mạnh, trừ con quan,
nhà con một thường ba năm tuyển bổ sung một lần, thay thế nhữngbinh lính già, yếu cho xuất ngũ về nhà Số quân này được huấn luyệnchu đáo, thường trực quanh năm, được nhà nước nuôi dưỡng, thườngđóng ở kinh thành, một số được chọn, biên chế riêng trong hoàngthành, làm nhiệm vụ bảo vệ, phục vụ vua và triều đình Số đông cònlại dưới sự chỉ huy của các tướng, làm nhiệm vụ bảo vệ kinh thành,trấn áp phản loạn, sẵn sàng cơ động theo lệnh triều đình chống ngoạixâm hoặc chinh phạt nước khác Số quân này không đông, chỉ bốn,năm vạn người
Năm 1075, Lý Thường Kiệt đem phần lớn quân chủ lực đánh sangđất Tống, huy động cả quân địa phương vùng núi, cả dân binh đi theo
Trang 29để vận chuyển lương thực, quân trang, quân dụng cho quân đội, tổngcộng cũng chỉ 10 vạn người.
Quân địa phương gọi là quân các lộ, sương quân, ngoại quân Đây
là số quân gọi tập trung theo từng phiên, căn cứ sổ quân các địa
phương Số quân này được tập trung huấn luyện và sử dụng ở địaphương, cũng có khi triều đình điều động đi đắp đường, đi tuần tiễu ở
vùng xung quanh Mỗi phiên thường trực theo từng canh khoảng một, hai tháng mỗi năm Theo sổ quân thì đông, nhưng thời bình huy động
ở địa phương không cố định, lúc nhiều, lúc ít tùy theo nhu cầu của địaphương Thời chiến cần huy động thì nhà nước theo sổ quân gọi nhậpngũ theo sự chỉ huy thống nhất của triều đình, có thể đóng ở địaphương hoặc cơ động theo lệnh chung Nhiều lần, chỉ với lực lượng
vũ trang địa phương đã đánh bại được các cuộc tấn công cướp phá củaquân Chiêm Thành ở các phủ phía Nam
Theo sổ quân thì quân địa phương rất đông, gồm hầu hết đinh tráng.Lúc có chiến tranh có thể huy động hàng chục vạn Trong cuộc khángchiến chống Nguyên, có lúc triều Trần huy động riêng vùng đồngbằng Bắc Bộ đã đến 20 vạn quân, ở vùng Hoan Diễn (Thanh Hóa,Nghệ An nay) cũng đến 10 vạn Đây là lực lượng hết sức quan trọng,
Trang 30cùng quân triều đình làm nòng cốt trong các cuộc chiến tranh giữnước.
Riêng thời Trần còn có quân Vương hầu Đây thực chất là một loại
quân địa phương do các vương hầu tuyển mộ, tổ chức trong thái ấpcủa mình như là gia binh Thời bình thì quân vương hầu canh phòngbảo vệ điền trang thái ấp Lúc có chiến tranh có thể được tăng thêm,như Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản tự lập đội quân hơn 1000 người,làm nhiệm vụ đánh địch ở địa phương hoặc theo lệnh điều động củatriều đình
Dân binh gọi là hương binh (ở miền xuôi) hay thổ binh (ở miền
núi) Cách tổ chức dân binh thường lấy từ trong sổ quân, 5 hoặc 3 đinhlấy 1 người Tổ chức 4 hoặc 5 xã thành 1 đoàn, cử viên chức ở huyệnchỉ huy Những dân binh tự sắm vũ khí, được ở nhà làm nhiệm vụ bảo
vệ địa phương Khi có chiến tranh cũng có thể được đôn lên thànhquân địa phương hoặc theo quân phục vụ chiến đấu Nếu ở nhà thìphối hợp cùng quân đội chống ngoại xâm, bảo vệ làng, bản, tổ chứccho dân bản tránh vào rừng núi
Cách tổ chức lực lượng vũ trang ba cấp như thế khiến cho số quân
thường trực không đông, chi phí quốc phòng không lớn, kết hợp được
Trang 31"binh" với "nông", phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, mà binhlực lại mạnh, đảm bảo nhu cầu thời bình và đáp ứng yêu cầu cao trongthời chiến.
Nhà sử học Phan Huy Chú đã hệ thống cách tổ chức quân đội thời
Lý, Trần và nhận xét:
Về thời Lý, "Cấm vệ có 10 quân , lại có 9 quân để sai khiến mọiviệc, mỗi tháng đến phiên một lần, gọi là đến canh, hết canh cho vềnhà cầy cấy hoặc làm công nghệ, tự cấp lấy chứ không được cấplương Khi có chiến tranh thì gọi ra cho lệ thuộc vào các tướng Nếu
số quân này không đủ thì chiếu sổ gọi dân ra tòng ngũ Xong việc lạicho về làm ruộng Đó là đúng với ý nghĩa "ngụ binh ư nông"17
Về thời Trần, "số quân buổi đầu nhà Trần, mỗi quân là 2400 người.Các quân cấm vệ và các lộ đại ước không đầy 10 vạn, mà năm ThiệuBảo18, điều động được số quân nhiều như thế là vì trong lúc có việc,
cứ chiếu sổ lấy hết những đinh tráng, cũng như cách lấy vệ binh đờisau Song khi ấy, những binh lính do các thân vương đốc suất chỉ là
ở mấy lộ miền đông nam thôi đủ biết binh thế thời bấy giờ rất thịnh.Đại để, lúc vô sự thì phục binh ở nơi thuận tiện, khi có nạn thì đều hết
Trang 32sức chống cự Thế là đời Trần, nhân dân ai cũng là binh nên mới pháđược giặc dữ, làm cho thế nước được mạnh"19.
Trong khởi nghĩa Lam Sơn, đánh địch bao giờ cũng kết hợp nghĩaquân tập trung với dân chúng vũ trang địa phương Khi kháng chiếnthắng lợi tuy số quân triều Lê có đông hơn và được coi trọng hơn thời
Lý, Trần nhưng cách tổ chức cũng dựa theo phép cũ
Thời Tây Sơn, quân số cũng không nhiều Khi quân Thanh xâmlược, Quang Trung vừa tiến ra Bắc, vừa tuyển quân bổ sung, huấnluyện gấp để đại phá quân Thanh Số quân tuyển thêm ở Nghệ An,Thanh Hóa còn đông hơn số quân từ Thuận Hóa kéo ra
Tổ chức lực lượng vũ trang ba cấp gắn với nông nghiệp và nôngthôn này là một sáng tạo rất đặc sắc của tổ tiên ta Cả thời bình và thờichiến đều kết hợp được kinh tế với quốc phòng, dựng nước và giữnước
Đại tướng Võ Nguyên Giáp có tổng kết:
"Trong các cuộc khởi nghĩa dân tộc và chiến tranh dân tộc, tronglịch sử nước ta trước kia, về tổ chức quân sự mà nói, thì thường có dânchúng vũ trang tổ chức thành nghĩa quân, hoặc có quân đội dân tộc,giữa quân đội dân tộc với dân chúng vũ trang Kết hợp dân chúng vũ
Trang 33trang với quân đội dân tộc, kết hợp quân đội dân tộc với dân chúng vũtrang đã trở thành một nguyên lý về tổ chức quân sự, và cả về nghệthuật quân sự, để giành thắng lợi trong khởi nghĩa dân tộc và chiếntranh dân tộc - chiến tranh bảo vệ Tổ quốc cũng như chiến tranh giảiphóng - của dân tộc Việt Nam ta trước kia"20.
"Ngụ binh ư nông" không phải chỉ là cách tổ chức lực lượng vũtrang mà còn là sự thể hiện tư tưởng về một nền quốc phòng toàn dân,một cuộc chiến tranh nhân dân, là chính sách kết hợp phát triển kinh tếvới củng cố quốc phòng
Quán triệt mục tiêu "quốc phú, binh cường", ông cha ta luôn kếthợp chặt chẽ, hài hòa nhiệm vụ dựng nước và giữ nước Thời bình thìdựng nước là công việc chính của quốc gia, nhưng vẫn không coi nhẹviệc xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng, bảo vệ đấtnước Thời chiến thì tập trung sức mạnh cả nước đánh giặc nhưng vẫnphải "vừa kháng chiến, vừa kiến quốc" Trong nhiệm vụ dựng nước thìcoi phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân là trung tâm, nhưngđồng thời phải chăm lo các vấn đề văn hóa, xã hội, củng cố nền tảngtinh thần xã hội Giữ nước không phải chỉ là nhiệm vụ thời chiến màthời bình cũng phải thường xuyên lo quốc phòng; giữ nước không
Trang 34phải là việc riêng của quân đội, của lực lượng vũ trang mà là việcchung của toàn dân dưới sự tổ chức, điều hành của nhà nước Nhiệm
vụ quốc phòng lấy hoạt động quân sự làm chính nhưng việc nội trị,ngoại giao, bồi dưỡng lòng yêu nước cho mọi người dân, thu phục, cốkết nhân tâm cả cộng đồng dân tộc cũng đều là những công việcthiết yếu
Lịch sử dân tộc ta hàng nghìn năm đã diễn ra theo cái mạch chínhnhư thế Dựng nước đi đôi với giữ nước đã trở thành quy luật tồn tại
và phát triển của dân tộc ta
Hồ Chí Minh là người đã học nhiều, am tường lịch sử dân tộc cũngnhư lịch sử nhiều dân tộc trên thế giới và rất coi trọng vai trò củatruyền thống lịch sử Người rất tâm đắc lời V.I Lênin: "Chỉ có nhữngngười cách mạng chân chính mới thu hái được những điều hiểu biếtquý báu của các đời trước để lại"21 Khác với nhiều người Việt Namhọc Nho học, thường viện dẫn những sự tích, những bài học từ Bắc
sử, Hồ Chí Minh khuyên mọi người:
"Dân ta phải biết sử ta,
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam"
Trang 35Hiếm có nhà cách mạng nào như Hồ Chí Minh viết hẳn một tác
phẩm Lịch sử nước ta bằng văn vần làm tài liệu học tập lịch sử và
"Sử ta dạy cho ta bài học này: lúc nào dân ta đoàn kết muôn ngườinhư một thì nước ta độc lập tự do Trái lại lúc nào dân ta không đoànkết thì bị nước ngoài xâm lấn"23
Bằng phương pháp so sánh lịch sử, Hồ Chí Minh khẳng định cuộckháng chiến chống Pháp trường kỳ nhưng nhất định thắng lợi TrongLời kêu gọi nhân kỷ niệm ngày Toàn quốc kháng chiến (19 - 12 -1950), Người tổng kết:
"Trong 1000 năm lịch sử của nước ta gần đây, có ba cuộc trường kỳkháng chiến:
Trang 36- Đời Trần chống Nguyên
- Đời Lê chống quân Minh
- Và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ ngàynay So sánh cuộc kháng chiến của chúng ta ngày nay với cuộc chốngquân Nguyên, quân Minh của tổ tiên ta ngày xưa, thì chúng ta thấy:
Ngày xưa quân thù ở bên cạnh nước ta và rất hùng mạnh, nước ta còn
nhỏ, người ít, nước yếu, thế mà chỉ nhờ đoàn kết và hăng hái, tổ tiên ta
đã thắng được quân giặc Ngày nay, chúng ta đánh quân thù ở xa lại,
nước ta lớn hơn, người đông hơn, sức nhiều hơn Chúng ta lại đượcnhân dân thế giới đồng tình, chúng ta cũng rất đoàn kết và hăng hái.Cho nên chúng ta chắc chắn rằng kháng chiến nhất định thắng lợi, còn
lũ thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ sẽ thất bại đau đớn như quânNguyên, quân Minh"24
Trong quan điểm cách mạng của Hồ Chí Minh, mục tiêu, nhiệm vụdựng nước và giữ nước luôn gắn bó với nhau Độc lập tự do của dântộc phải gắn liền với hạnh phúc của nhân dân; diệt giặc ngoại xâmphải từ cơ sở diệt giặc đói, diệt giặc dốt Như thế, sức mạnh chốngngoại xâm là sức mạnh cả vật chất, cả tinh thần của đất nước Đặcbiệt, từ lịch sử chống ngoại xâm đặc sắc của dân tộc, Người nhấn
Trang 37mạnh hai nhân tố có ý nghĩa quyết định là lòng yêu nước và sự đoàn
kết của nhân dân Trong Lời kêu gọi nhân dịp Cách mạng Tháng Tám
và ngày độc lập (16 - 8 - 1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết:
"Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vôcùng to lớn, không ai thắng nổi Nhờ lực lượng ấy mà tổ tiên ta đãđánh thắng quân Nguyên, quân Minh, đã giữ vững quyền tự do, tựchủ Nhờ lực lượng ấy mà chúng ta đã cách mạng thành công, giànhđược độc lập Nhờ lực lượng ấy mà sức kháng chiến của ta càng ngàycàng mạnh Nhờ lực lượng ấy mà quân và dân ta quyết chịu đựngmuôn nỗi khó khăn thiếu thốn, đói khổ, tang tóc, quyết một lòng đánhtan quân giặc cướp nước Nhờ lực lượng ấy mà với gậy tầm vông vàsúng hỏa mai lúc đầu, chúng ta đã liên tiếp thắng địch"25
Chính nhờ kế thừa truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước củadân tộc mà tư tưởng cách mạng, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh thấmđượm tính dân tộc, người chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh lại rõ ràngcốt cách một lãnh tụ dân tộc Việt Nam Tư tưởng và hoạt động thựctiễn của Người đã phát huy cao độ truyền thống dựng nước đi đôi vớigiữ nước, đem lại những thắng lợi vĩ đại của dân tộc trong thời đại
mới
Trang 381.2 Lý luận Mác - Lênin về xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đôi với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là nguồn gốc trực tiếp của tư tưởng Hồ Chí Minh về dựng nước đi đôi với giữ nước.
Khi bàn đến tư tưởng Hồ Chí Minh về dựng nước đi đôi với giữnước là nói đến sự vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin,đồng thời tiếp thu những kinh nghiệm của các quốc gia dân tộc trênthế giới nhằm giải đáp những vấn đề lý luận, thực tiễn mới về dựngnước đi đôi với giữ nước ở Việt Nam, chủ nghĩa Mác - Lênin và kinhnghiệm của các quốc gia dân tộc trên thế giới, đặc biệt là kinh nghiệmcủa Cách mạng Tháng Mười Nga đã giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh tổngkết thực tiễn và phát triển tư duy của mình để hình thành, phát triển tưtưởng về mối quan hệ dựng nước và giữ nước Điều này đã đượcNgười khẳng định: "Lúc đầu, chính là do chủ nghĩa yêu nước mà tôitin theo Lênin Rồi, từng bước một, tôi đi đến kết luận là chỉ có chủnghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị
áp bức và giai cấp công nhân toàn thế giới"26 Và, "Chính là do cốgắng vận dụng những lời dạy của Lênin, nhưng vận dụng một cáchsáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Nam ngày nay, mà chúng tôi đãchiến đấu và giành được những thắng lợi to lớn"27
Trang 39Xây dựng đất nước gắn với bảo vệ đất nước không phải là quy luậtriêng của cách mạng xã hội chủ nghĩa, cũng không phải là quy luậtriêng của dân tộc Việt Nam Dựng nước gắn với giữ nước là yêu cầukhách quan, nảy sinh trong điều kiện xã hội có giai cấp, nhà nước vàchiến tranh, trong điều kiện tồn tại các quốc gia dân tộc có chế độchính trị xã hội khác nhau, đối lập nhau Quy luật này được mọi dântộc nhận thức và vận dụng nhằm giữ vững nền độc lập và sự phát triểncủa mình.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dựng nước đi đôi với giữ nước được xâydựng trên cơ sở tổng kết những kinh nghiệm thành công và chưa thànhcông của các quốc gia dân tộc trên thế giới Những năm cuối thế kỷXIX đầu thế kỷ XX, đứng trước thực trạng cuộc khủng hoảng củaphong trào yêu nước chống Pháp, mặc dù lúc đó chưa có đủ khả năng
để lý giải thấu đáo nguyên nhân thất bại của chế độ phong kiến nhàNguyễn, của phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX,nhưng bằng tấm lòng yêu nước và sự nhạy cảm chính trị, Hồ ChíMinh đã nhận thấy ở các nhà yêu nước tiền bối còn có những hạn chế
tư tưởng trong việc phân biệt bạn, thù, trong việc tìm con đường cứunước Người muốn đi ra nước ngoài để xem nước Pháp và các nướcphương Tây làm thế nào để trở nên hùng cường, từ đó tìm con đường
Trang 40cứu nước, cứu dân Tháng 6 - 1911, Hồ Chí Minh lấy tên là Văn Baxin làm phụ bếp trên chiếc tàu viễn dương "Đô đốc LatoucheTreville" Từ đó, Hồ Chí Minh đã đến Pháp, sau đó đi nhiều nước ởchâu Âu, châu Phi và châu Mỹ Với lòng yêu nước nồng nàn, Người
đã kiên trì chịu đựng mọi khó khăn thiếu thốn, xem xét tình hình cácnước, suy nghĩ về những điều mắt thấy tai nghe, mong sao thực hiệnđược hoài bão cứu nước của mình Người đã lao động, học tập, đấutranh và tiếp xúc với mọi tầng lớp xã hội, nhất là các tầng lớp lao độngnghèo khổ Thông qua đó, Hồ Chí Minh đã tiếp nhận những tinh hoavăn hoá và kinh nghiệm dựng nước và giữ nước của các dân tộcphương Đông và phương Tây
Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng dựng nước đi đôi vớigiữ nước của Hồ Chí Minh là kết quả của sự nghiên cứu sâu sắc kinhnghiệm lịch sử của các quốc gia dân tộc, nghiên cứu các cuộc cáchmạng tư sản, đọc các tác phẩm của Môngtexkiơ, Vônte, Rútxô, Tôn
Dật Tiên, Tuyên ngôn độc lập của Cách mạng tư sản Mỹ, hiến pháp
Mỹ năm 1787, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng
tư sản Pháp Với cách nhìn sáng suốt, Hồ Chí Minh đã đánh giá xácđáng các cuộc cách mạng tư sản Mỹ và Pháp Người viết: "Trong lờituyên ngôn của Mỹ có câu rằng, giời sinh ra ai cũng có quyền tự do,