Vấn đề xác định quan hệ họ hàng của tiếng Việt hay thực chất là xác định nguồn gốc của nó đã được đề xuất và thảo luận trong khoảng gần 200 năm. Trong khoảng thời gian dài đó, chắc chắn đã có nhiều ý kiến khác nhau dựa trên những tư liệu và cách nhìn nhận khác nhau. Tuy nhiên, về cơ bản có hai khuynh hướng tiêu biểu và phổ biến đó là: khuynh hướng không xếp tiếng Việt vào họ ngôn ngữ Nam Á và khuynh hướng xếp tiếng Việt vào họ ngôn ngữ Nam Á.
Trang 1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VIỆT NAM HỌC & TIẾNG VIỆT
- -
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
Môn học: LỊCH SỬ TIẾNG VIỆT
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Nguyễn Văn Hiệu
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Công Toại
Mã số sinh viên : 16031507
Hà Nội, ngày 18 tháng 04 năm 2019
Trang 2Câu 1: Trình bày các quan điểm khác nhau về nguồn gốc tiếng Việt
Trong lịch sử, có những ngôn ngữ mà vì một lí do nào đó đã bị chia tách ra thành nhiều ngôn ngữ khác nhau Ngôn ngữ bị chia tách đó thường được gọi là ngôn ngữ mẹ hay ngôn ngữ cơ sở Như vậy, về nguyên tắc, có thể tìm tòi ngược dòng thời gian lịch
sử của những ngôn ngữ được giả định là vốn cùng “sinh ra” từ một ngôn ngữ mẹ, để quy chúng vào những nhóm, những chi, những ngành, những dòng… khác nhau, tuỳ theo mức độ thân thuộc nhiều hay ít Để phát hiện ra sự thân thuộc giữa các ngôn ngữ người ta dùng phương pháp so sánh – lịch sử Nội dung của phương pháp này là so sánh các từ và dạng thức của từ tương tự nhau về ý nghĩa và âm thanh trong các ngôn ngữ khác nhau dựa vào tài liệu ngôn ngữ sống cũng như những sự kiện, hiện tượng được ghi trên văn bia và thư tịch cổ Phương pháp so sánh lịch sử cũng rất chú trọng so sánh các hiện tượng ngữ âm, nhưng tất nhiên các hiện tượng ngữ âm được tìm hiểu thông qua việc so sánh các từ và dạng thức từ Nội dung của phương pháp so sánh – lịch sử là qua việc so sánh tìm ra các quy luật tương ứng về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp rồi qua đấy xác định quan hệ thân thuộc giữa các ngôn ngữ
Vấn đề xác định quan hệ họ hàng của tiếng Việt hay thực chất là xác định nguồn gốc của nó đã được đề xuất và thảo luận trong khoảng gần 200 năm Trong khoảng thời gian dài đó, chắc chắn đã có nhiều ý kiến khác nhau dựa trên những tư liệu và cách nhìn nhận khác nhau Tuy nhiên, về cơ bản có hai khuynh hướng tiêu biểu và phổ biến đó là: khuynh hướng không xếp tiếng Việt vào họ ngôn ngữ Nam Á và khuynh hướng xếp tiếng Việt vào họ ngôn ngữ Nam Á
Trước tiên là về hướng khuynh hướng không xếp tiếng Việt vào họ ngôn ngữ Nam Á Trong khuynh hướng này, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ có rất nhiều các quan điểm và ý kiến khác nhau
Thứ nhất, có ý kiến cho rằng “tiếng Việt chỉ là nhánh bị thoái hoá” của tiếng Hán Đây là cách nhìn nhận của một số ít người nhưng thuộc vào những người quan tâm tới vấn đề nguồn gốc tiếng Việt sớm nhất Đại diện cho luồng ý kiến này đó chính là L.Taberd (1838) Sở dĩ các học giả theo ý kiến này cho rằng tiếng Việt là một nhánh
Trang 3thoái hóa của tiếng Hán vì họ cho rằng: trong tiếng Việt có nhiều từ gốc tiếng Hán Về ngữ âm, cũng có những chuyển đổi có tính quy luật giữa tiếng Việt và tiếng Hán (tiếng Việt hiện nay gần tương ứng với hệ thống tứ thanh của tiếng Hán đời Đường) Tuy nhiên, khi phân tích kỹ lưỡng những từ có trong tiếng Việt tương ứng với tiếng Hán, những người có kinh nghiệm trong nghiên cứu so sánh - lịch sử rất dễ nhận thấy những
từ tương ứng ấy trong tiếng Việt chỉ là những từ vay mượn Những từ này thuộc vào lớp từ vựng văn hóa chứ không phải là những từ thuộc lớp từ vựng cơ bản Chúng ta có thể liệt kê những từ để làm ví dụ như: bệnh, buồng, bến, mùi gan, gần, vốn, ván, được cho là có cách dùng như từ thuần Việt, rõ ràng đó vẫn là những từ chỉ xuất hiện khi xã hội con người đã phát triển chứ không phải thuộc nhóm cội nguồn Hoặc thậm chí thi thoang có một từ tương ứng nào đó thuộc lớp từ vựng cơ bản thì chắc chắn số lượng của chúng không đủ nhiều và điều quan trọng hơn cả là sự tương ứng của những từ như thế không mang tính hệ thống
Ví dụ: Người ta có thể nói đến từ đầu trong tiếng Việt là một trường hợp tương ứng
với từ 頭 tiếng Hán Và đây rõ ràng là một từ thuộc lớp từ rất cơ bản Nhưng tìm đi tìm lại, chúng ta vẫn không thể coi những từ tiếng Việt khác cùng hệ thống chỉ các khái
niệm cơ thể cơ bản như từ đầu (chẳng hạn như: mũi, tóc, tai, mắt, răng, mặt, da (lốt), xương, chân, tay, ) là những từ tương ứng với tiếng Hán được Vì thế cách nhìn nhận dựa vào số lượng từ tương ứng với Hán kiểu như từ đầu trong tiếng Việt là chưa đú sức
thuyết phục và do đó không mang đầy đủ tính khoa học để xác định nguồn gốc cùa ngôn ngữ
Còn về mặt ngữ âm, như trong công trình cùa GS Nguyễn Tài Cẩn đã chỉ rõ, những quy tắc ngữ âm thể hiện cách đọc Hán - Việt mặc dù mang tính quy luật nhưng người
ta vẫn nhận biết chúng bắt nguồn chỉ từ giai đoạn trung cổ (tương ứng với thời nhà Đường) của tiếng Hán Riêng về sự tương ứng của cơ chế thanh điệu, tình hình lại càng
rõ ràng hơn Bởi vì, theo chứng minh của A.G Haudricourt và hiện đã được đa số người nghiên cứu chấp nhận, ở giai đoạn tiền Việt - Mường, tiếng Việt là một ngôn ngữ không
có thanh điệu giống như các ngôn ngữ Môn - Khmer hiện nay Cho nên, mặc dù giữa hai ngôn ngữ có sự tương ứng về cơ chế thanh điệu, điều đó vẫn không phản ánh mổi quan hệ nguồn gốc chung nào giữa chúng Như vậy, trong vốn từ tiếng Việt cho dù
Trang 4những từ tương ứng với tiếng Hán có số lượng áp đảo, lại có cả sự tương ứng về quy luật ngữ âm và cả về cơ chế thanh điệu, điều đó vẫn không có nghĩa chúng phản ánh cội nguồn chung giữa hai ngôn ngữ này Hay nói một cách khác việc coi tiếng Việt như một nhánh của tiếng Hán là chưa thể chứng minh được theo thao tác và yêu cầu của ngôn ngữ học so sánh - lịch sử
Loại ý kiến thứ hai là những ý kiến xếp tiếng Việt vào họ ngôn ngữ Nam Đảo Đó
là ý kiến của Bình Nguyên Lộc với hai cuốn Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam (Sài Gòn, 1972) và Lột trần Việt ngữ (Sài Gòn, 1973), và gần đây là ý kiến của tác giả
Hồ Lê (1996) Cơ sở của những ý kiến này là sự tương ứng từ vựng giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ khác nhau trong họ Nam Đảo Tuy nhiên, phải nói ngay rằng, đây là những tương ứng chưa phải là những tương ứng mang tính hệ thống và do đó khả năng vay mượn là rất lớn Khả năng này còn được đẩy lên cao hơn nữa khi mà, như chúng ta
đã biết, sự cư trú đan xen giữa những cư dân Nam Á và cư dân Nam Đảo là có thực và diễn ra trong một khoảng thời gian dài Cần phải nói thêm rằng, tác giả Bình Nguyên Lộc đã cho rằng “có 40% từ Mã Lai trong vốn từ của tiếng Việt”, tuy nhiên “trong hai cuốn sách của ông chỉ thấy kể có khoảng dăm chục từ” … Do vậy, có thể nói, việc nêu vấn đề tiếng Việt có quan hệ họ hàng với các ngôn ngữ Nam Đảo chỉ mang tính giả thiết và trong tình hình như vậy có thể nói giả thiết ấy chưa được chứng minh
Ý kiến thứ ba, đáng chú ý hơn cả, cho rằng tiếng Việt là một ngôn ngữ thuộc họ ngôn ngữ Thái Cần phải nói ngay rằng, trong số những ý kiến không xếp tiếng Việt vào họ ngôn ngữ Nam Á thì cách lí giải cho ý kiến này có vai trò quan trọng nhất Ý kiến này được Henry Maspéro đề xuất vào đầu thế kỉ XX, và trong một thời gian dài,
nó đã chi phối quan niệm về phân loại nguồn gốc ngôn ngữ của các nhà ngôn ngữ trên thế giới Bằng phương pháp so sánh – lịch sử, với lập luận chặt chẽ, tỉ mỉ về các khía cạnh từ vựng cơ bản, ngữ pháp và thanh điệu, Maspéro đã làm những nhà nghiên cứu đương thời không có cách gì bác bỏ được Cụ thể là:
Về từ vựng: giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ Thái cũng như với các ngôn ngữ Môn - Khmer đều có sự tương ứng
Trang 5Về ngữ pháp: tiếng Việt gần với tiếng Thái và khác rất xa với các ngôn ngữ Môn - Khmer hiện nay bởi các tiếng Môn - Khmer có cơ sở sơ sài về hình thái học trong khi đó tiếng Việt là một ngôn ngữ không có giá trị hình thái học
Về thanh điệu: với Maspéro, thanh điệu tiếng Việt là một vấn đề quan trọng vì tiếng Việt hiện nay là một ngôn ngữ cũng có thanh điệu như các ngôn ngữ Thái và Hán Trong khi đó, cho đến nay, các ngôn ngữ Môn - Khmer vẫn là các ngôn ngữ không có thanh điệu
Tuy nhiên, những luận điểm của Maspéro không phải là không có hạn chế và những hạn chế đó sau này đã được A.G Haudricourt chỉ ra một cách thuyết phục
Về khuynh hướng xếp tiếng Việt vào họ ngôn ngữ Nam Á Sau một thời gian dài giới ngôn ngữ học hoàn toàn chấp nhận và phổ biến những kết luận do H Maspéro đưa
ra, vào năm 1953 một nhà bác học rất nổi tiếng người Pháp khác, giáo sư A.G Haudricourt, đã trình bày một ý kiến phản bác hết sức thuyết phục cho rằng, tiếng Việt
là một ngôn ngữ Môn - Khmer của họ Nam Á chứ không phải là một ngôn ngữ thuộc
họ Thái Sau khi có ý kiến cùa A.G Haudricourt lần lượt một số tác giả khác như R Shafer (1956), N.D Andreev (1958), s Wilson (1966) và đặc biệt là S.E Yakhontov (1973) và gần đây là M Ferlus (1974, 1979, 1995 ), G Diffloth (1975, 1991, ) cùng nhiều nhà ngôn ngữ học Việt Nam như giáo sư Nguyễn Tài cẩn đã đồng ý với những chứng minh và lập luận cùa học giả Pháp nổi tiếng này
Lập luận của A.G Haudricourt trong việc chứng minh nguồn gốc Nam Á của tiếng Việt được thể hiện rõ trong hai năm 1953 và 1954, khi A.G Haudricourt đã lần lượt công bố hai bài báo quan trọng:
– Về nguồn gốc Nam Á của tiếng Việt
– Về nguồn gốc các thanh trong tiếng Việt
Với hai bài báo này, ông đề nghị phải xếp tiếng Việt vào họ ngôn ngữ Nam Á, chứ không phải là họ Thái như H Maspéro đã đề nghị Cần phải nói ngay rằng, A.G Haudricourt không phải là người đầu tiên nêu ra quan điểm xếp tiếng Việt vào họ ngôn ngữ Nam Á Mà, như đã trình bày ở trên, quan điểm này đã được đề xuất từ năm 1856,
Trang 6và hiện nay, đây là quan điểm nhận được nhiều sự đồng tình nhất bởi cơ sở khoa học của nó Trong số những ý kiến ủng hộ đó, có thể coi lập luận của Haudricourt là đầy đủ nhất và là những lí lẽ đại diện cho cách phân loại này Hơn thế nữa, qua lập luận của Haudricourt chúng ta còn có thể rút ra được những cơ sở để xác định nguồn gốc tiếng Việt
Thứ nhất, về vấn đề từ vựng Sau khi tiến hành khảo sát lại nhóm từ chỉ các bộ phận
cơ thể trong tiếng Việt mà Maspéro đã dẫn ra để làm chứng cứ trong công trình so sánh của ông, Haudricourt đã chỉ ra rằng nhóm từ ấy về cơ bản là những từ thuộc về Mon - Khmer, chứ không phải là vừa gốc Thái vừa gốc Mon - Khmer như Maspéro đã chỉ ra
Vì vậy, trên phương diện từ vựng, quan hệ giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ Thái là quan
hệ vay mượn
Thứ hai, về vấn đề ngữ pháp, cụ thể là vấn đề cấu tạo từ bằng phương thức phụ tố Hiện nay người ta vẫn nhận thấy dấu vết của phương thức này Ví dụ điển hình là cặp
từ giết – chết:
kchết -> (xát hóa) giết Ngoài ra, còn có một số cặp từ khác: cọc - nọc, kẹp - nẹp, con - non…
Qua những cặp từ như vậy, chúng ta có thể chứng minh chúng là hệ quả của phương thức cấu tạo từ bằng phụ tố còn lưu giữ trong các ngôn ngữ Mon - Khmer Tuy nhiên, điểm lập luận này, đối với Haudricourt, không phải là quan trọng nhất
Điểm quan trọng ở đây chính là vấn đề thanh điệu Haudricourt cho rằng, việc hiện nay tiếng Việt có hệ thống thanh điệu giống như tiếng Thái còn các ngôn ngữ Mon-Khmer không thanh điệu chưa nói lên điều gì về nguồn gốc Bởi hệ thống thanh điệu có thể xuất hiện, có thể mất đi trong lịch sử của một ngôn ngữ Hơn nữa, theo V.B Kasevich, ở một số ngôn ngữ ở Đông Nam Á và Tây Phi tuy chúng đều có thanh điệu
và thậm chí có những điểm giống nhau đến kì lạ về ngữ pháp nhưng “tuyệt đối rõ ràng
là những ngôn ngữ này không phải là họ hàng”
Theo Haudricourt, thanh điệu tiếng Việt là một hiện tượng mới có, nói cách khác, trước đây tiếng Việt cũng là một ngôn ngữ không có thanh điệu và hiện nay nó là một
Trang 7ngôn ngữ có thanh điệu giống như các ngôn ngữ Thái Chính vì điều này mà Haudricourt
đã chứng minh được rằng, về nguồn gốc, tiếng Việt tương tự như các ngôn ngữ Mon -Khmer:
Giữa thanh điệu và phụ âm đầu có liên quan chặt chẽ đến nhau theo hướng các phụ
âm đầu tắc vô thanh tương ứng với một thanh có âm vực cao, còn những phụ âm đầu hữu thanh thì tương ứng với thanh điệu có âm vực thấp
Thanh điệu tiếng Việt có sự tương ứng với cách kết thúc âm tiết:
+ Hai thanh ngang - huyền: âm tiết mở
+ Hai thanh hỏi - ngã: âm cuối xát
+ Hai thanh sắc - nặng: âm cuối tắc yết hầu
Và cuối cùng, dựa trên kết quả phục nguyên, Haudricourt đã đưa ra sơ đồ về nguồn gốc các thanh trong tiếng Việt như sau:
SƠ ĐỒ VỀ NGUỒN GỐC CÁC THANH TRONG TIẾNG VIỆT
Đầu công nguyên
(không thanh)
Thế kỉ thứ VI (ba thanh)
Thế kỉ XII (sáu thanh)
Ngày nay
Trang 8pax, pa? pá pá bá
Từ những lí lẽ trên, A.G Haudricourt đã khẳng định: “tốt nhất là chỉ nên xếp tiếng Việt là thành viên của nhánh Mon - Khmer thuộc họ Nam Á ở khu vực Đông Nam Á hiện nay”
Câu 2: Khái quát các giai đoạn lịch sử trong quá trình phát triển tiếng Việt
Với thời gian giả định trong hàng ngàn năm lịch sử, tiếng Việt chắc chắn đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau Theo kết qua phân định dược tiến hành trên nguyên tẳc tái lập tiền ngôn ngữ, lịch sử tiếng Việt có thể chia thành 6 giai doạn phát triển Và trước khi tách biệt trờ thành thành viên cùa nhóm Việt - Mường, tiếng Việt vẫn là một
bộ phận (cũng có thế là phương ngữ) của cộng đồng Môn - Khmer
2.1 Giai đoạn phát triển Môn - Khmer (Mon - Khmer)
Đây không phải là giai đoạn đầu tiên trong lịch sử phát triển riêng của tiếng Việt Vào thời kì này tiếng Việt cùng với các ngôn ngữ khác của nhánh Môn - Khmer đang
là một khối chung thống nhất Nhiều nhà nghiên cứu ước tính giai đoạn Môn - Khmer này của lịch sử tiếng Việt kết thúc muộn nhất là vào khoảng cách ngày nay 3000 - 4000 năm
Đặc điểm nổi bật nhất là ngôn ngữ vẫn lưu giũ những từ có từ thời tiền Nam Á hoặc tiền Môn - Khmer hoặc chung cho cả khối Đông Môn - khmer Một đặc điểm nổi bật khác là trong ngôn ngữ vẫn lưu giữ phương thức phụ tố để cấu tạo từ và trong từ song tiết Môn - Khmer âm tiết cuối luôn được nhấn mạnh, đòng thời là phần chính ổn định nhất của từ ngữ âm
Trang 9Còn đối với vấn đề cấu trúc trong cấu tạo từ, ở khối ngôn ngữ Đông Môn - Khmer
có một nét riêng là “ âm tiết cuối luôn luôn được nhấn mạnh ở từ song tiết Âm tiết cuối là phần chính, phần ổn định nhất của từ
2.2 Giai đoạn tiền Việt Mường (Proto Việt - Mường)
Đây là thời kì tiếng Việt cùng với tất cả các ngôn ngữ thuộc nhóm Việt - Mường hiện nay đang là một ngôn ngữ chung và nó được coi là vừa tách ra khỏi khối Đông Mon - Khmer để có một lịch sử riêng, khác với những ngôn ngữ khác thuộc nhánh Mon
- Khmer Giai đoạn này có thể coi là giai đoạn phát triển đầu tiên trong lịch sử tiếng Việt, tức là nó có tư cách là ngôn ngữ chung, ngôn ngữ mẹ hay tiền ngôn ngữ của cả nhóm Việt - Mường hiện nay Nói khác đi, giai đoạn TVM là thời gian đầu tiên trong lịch sử tiếng Việt với tư cách là một cá thể ngôn ngữ của họ Nam Á
Theo ước tính, thời gian tương đối của giai đoạn TVM bắt đầu khi khối ngôn ngữ Đông Mon - Khmer có sự khác biệt nội bộ để tạo thành những nhóm riêng lẻ, có thể từ hàng nghìn năm trước Công nguyên (Cn), đến những thế kỉ đầu Cn Về mặt xã hội ngôn ngữ, giai đoạn TVM tương ứng với thời kì nó được những cư dân chủ thể của giai đoạn văn minh/văn hoá Đông Sơn sử dụng, nhưng địa bàn ngôn ngữ này có thể chỉ giới hạn trong lãnh thổ Đại Việt vào thời kì độc lập sau này Vì giai đoạn TVM về sau phân chia thành những ngôn ngữ Việt - Mường khác nhau nên nó có sự khác biệt mang tính phương ngữ rõ rệt
Nét đặc trưng ngôn ngữ chính của giai đoạn TVM là như sau Trước hết, nó lưu giữ đầy đủ thành phần từ vựng cội nguồn Nam Á, Mon - Khmer và Đông Mon - Khmer Điều này thể hiện rất rõ khi so sánh những từ cơ bản của nhóm Việt - Mường với các ngôn ngữ Nam Á Tuy nhiên, cũng đã có dấu hiện ở giai đoạn này chứng tỏ có sự tiếp xúc với những ngôn ngữ Nam Đảo Sau đó là tính đồng thời lưu giữ dạng thức cấu tạo
từ đơn tiết và song tiết, trong đó dạng thứ hai có số lượng nhiều hơn Cuối cùng, như
đã được chứng minh, tiếng TVM chưa có thanh điệu, nó vẫn giữ thế đối lập vô thanh/hữu thanh trong các âm đầu xát lẫn tắc và thế đối lập tắc/xát/mũi ở cuối âm tiết
2.3 Giai đoạn Việt - Mường cổ (pré Việt Mường)
Trang 10Đây là thời kì mà tiếng TVM trước đây đã có sự phân hoá để tách một phần thành những ngôn ngữ bảo thủ song tiết và phần khác là những ngôn ngữ đơn tiết trong nhóm Việt - Mường hiện nay Giai đoạn này có thời gian tương đối từ khoảng thế kỉ I sau Cn cho đến những thế kỉ VIII - IX Về lịch sử, nước Việt Nam lúc giờ bị đô hộ của phong kiến phương Bắc và tiếng Việt chịu tác động sâu sắc của sự đô hộ này Cho nên về mặt
xã hội ngôn ngữ, lúc này tiếng Việt chỉ là ngôn ngữ bình dân và trong cộng đồng xã hội
đã có sử dụng tiếng Hán và chữ Hán Đây chính là nguyên nhân tác động rất nhiều đến
sự phát triển sau này của tiếng Việt
Có thể nói những đặc điểm chính về ngôn ngữ của giai đoạn này như sau Thứ nhất, bên cạnh việc lưu giữ lớp từ vốn có từ giai đoạn trước, tiếng VMc đã có sự vay mượn lẫn nhau với các ngôn ngữ Thái - Kađai (Tai - Kađai) và Hán Những từ tương ứng với tiếng Thái thuộc thời kì này cũng thuộc lớp từ cơ bản, còn những từ gốc Hán lúc này là những từ cổ Hán Việt Thứ hai, ở giai đoạn này tiếng VMc đã chịu ảnh hưởng của xu thế đơn tiết hoá theo hướng rụng đi các tiền âm tiết theo kiểu CvCVC > CVC (C: phụ âm, v: nguyên âm lướt, V: nguyên âm) Đồng thời, phương thức cấu tạo từ bằng phụ tố hầu như không còn hoạt động trong tiếng VMc nữa Thứ ba, về mặt ngữ âm tiếng VMc là một ngôn ngữ có ba thanh điệu và đã xuất hiện dãy âm xát trong hệ thống âm đầu Sự xuất hiện thanh điệu ở thời kì này đã làm mất đi đặc trưng xát ở cuối âm tiết
2.4 Giai đoạn Việt - Mường chung (Việt - Mường commun)
Sau một thời gian phát triển, tiếng VMc đã phân hoá thành những bộ phận khác nhau Một phần do tính biệt lập về địa lí chịu sự biến đổi ít hơn, còn phần khác dường như do chịu ảnh hưởng của tiếng Hán biến đổi nhiều hơn Tiếng VMC trong lịch sử có thể coi là hệ quả của sự phát triển khác nhau đó
Về mặt thời gian tương đối, tiếng VMC là giai đoạn ước chứng từ thế kỉ thứ X cho đến khoảng thế kỉ XIV Vào thời kì này, Việt Nam là quốc gia độc lập Về mặt xã hội ngôn ngữ, tiếng Việt trở thành ngôn ngữ toàn dân nhưng văn ngôn Hán và chữ Hán dường như vẫn giữ vai trò giáo dục, hành chính và văn học Tuy nhiên, vào thời gian này chữ Nôm – loại chữ đầu tiên ghi âm tiếng Việt – đã xuất hiện