Chính vì vậy, việc nghiên cứu về quan điểm của chủ nghĩa Mac – lenin về sản xuất hàng hoá sẽ giúp ta hiểu sâu hơn về nguồn gốc lịch sử cũng như sự phát triển của hàng hoá để từ đó có đượ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI: QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ SẢN XUẤT HÀNG HOÁ VÀ NỀN SẢN XUẤT HÀNG HOÁ NƯỚC TA HIỆN NAY
GVHD: Bùi Xuân Dũng SVTH:Ngô Nguyễn Trung Kiên MSSV: 18143109
Mã lớp học: LLCT150105
Thành Phố Hồ Chí Minh, tháng năm
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
………
………
………
………
………
Trang 2………
………
………
………
………
………
………
………
………
Điểm: ………
KÝ TÊN
Trang 3Contents
MỞ ĐẦU 1
1.LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2.MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: 2
CHƯƠNG 1: SỰ RA ĐỜI CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VÀ HÀNG HOÁ, SẢN XUẤT HÀNG HOÁ TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI 2
1.1 Khái lược sự ra đời và phát triển của triết học Mác – Lênin 2
1.1.1 Những điều kiện, lịch sử ra đời chủ nghĩa Mác 2
CHƯƠNG 2: QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ SẢN XUẤT HÀNG HOÁ VÀ NỀN SẢN XUẤT HÀNG HOÁ NƯỚC TA HIỆN NAY 12
2.1 Lý Luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về sản xuất hàng hoá 12
2.1.1 Những điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa 12
2.1.1.1 Phân công lao động xã hội 12
2.1.1.2 Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất 12
KẾT LUẬN 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
Trang 4Sản xuất hàng hoá ra đời là một bước ngoặc của lịch sử phát triển loài người, nó giúp xoá bỏ nền kinh tế tự nhiên và dần đưa con người đến hướng phát triển mới
Ở Việt Nam trong bối cảnh đổi mới kinh tế dưới sự lãnh đạo của Đảng, vấn đề thị trường hàng hoá sức lao động không chỉ là tiêu thức kinh tế mà còn mang ý nghĩa chính trị Đặc biệt, đối với một đất nước đang phát triển, đang trong thời
kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì vấn đề này càng rất cấp thiết
Chính vì vậy, việc nghiên cứu về quan điểm của chủ nghĩa Mac – lenin về sản xuất hàng hoá sẽ giúp ta hiểu sâu hơn về nguồn gốc lịch sử cũng như sự phát triển của hàng hoá để từ đó có được cái nhìn tổng quan về tình hình kinh tế thị trường thế giới nói chung và đặc biệt với Việt Nam nói riêng Từ đó, đề tài nghiên cứu: “QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ SẢN XUẤT HÀNG HOÁ VÀ NỀN SẢN XUẤT HÀNG HOÁ NƯỚC TA HIỆN NAY” được ra đời
Trang 52 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
Nhằm mục đích có để tìm hiểu thêm và có những nhìn nhận, đánh giá trực tiếp về nền sản xuất hàng hoá ở Việt Nam ta hiện nay.Vận dụng, nắm vững triết học Mác-Lênin giúp chúng ta trau dồi các quan điểm, kiến thức về sự thay đổi phát triển của con người trong quá trình hình thành và phát triển hàng hoá và sản xuất hàng hoá
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: SỰ RA ĐỜI CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VÀ HÀNG HOÁ, SẢN XUẤT HÀNG HOÁ TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
1.1 Khái lược sự ra đời và phát triển của triết học Mác – Lênin
1.1.1 Những điều kiện, lịch sử ra đời chủ nghĩa Mác
Chủ nghĩa Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX ở Tây Âu Đó cũng là thời kỳ Chủ nghĩa Tư bản đã bước sang giai đoạn mới nhờ tác động của cách mạng công nghiệp Sự phát triển của CNTB làm cho những mâu thuẫn xã hội vốn
có của nó bộc lộ ngày càng gay gắt CNTB phát triển có nghĩa là kinh tế TBCN phát triển - đây là điều kiện vật chất quan trọng để thực hiện những lý tưởng cao đẹp của con người, trong đó có lý tưởng xã hội chủ nghĩa
Thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản nảy sinh yêu cầu khách quan phải có lý luận mới, khoa học dẫn đường Trong khi ấy, có một loạt những lý luận không khoa học đang tìm cách len lỏi vào phong trào công nhân Chẳng hạn như
“chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản” - chống CNTB, nhưng đòi thực hiện sở hữu nhỏ, tức là đi ngược lại lịch sử ; “chủ nghĩa xã hội phong kiến” - chống CNTB nhưng đòi quay trở về chủ nghĩa phong kiến ; “chủ nghĩa xã hội tư sản” - cho rằng không cần phải đập tan nhà nước tư sản, chỉ cần sửa chữa nó Trước tình hình đó đòi hỏi phải có lý luận mới khoa học ra đời để dẫn đường cho phong trào công nhân Sự
Trang 6ra đời của Chủ nghĩa Mác là sự giải đáp về mặt lý luận những vấn đề thời đại đặt
ra trên lập trường của giai cấp vô sản cách mạng
1.1.2 Nguồn gốc lý luận và những tiền đề khoa học tự nhiên
1.1.2.1 Nguồn gốc lý luận
Mác và Ăngghen kế thừa toàn bộ những tinh hoa lý luận của nhân loại từ cổ đại đến thời đại các ông nhưng trực tiếp là kinh tế - chính trị cổ điển Anh; CNXH không tưởng Pháp và triết học cổ điển Đức Với kinh tế - chính trị cổ điển Anh, Mác và Ăngghen đã kế thừa học thuyết giá trị của A.Xmít và Đ.Ricácđô và vận dụng vào phân tích kinh tế TBCN, chỉ ra nguồn gốc của giá trị thặng dư Mác và Ăngghen cũng kế thừa Xanh Ximông, Phuriê ở những luận điểm: cần và có thể đập tan nhà nước tư sản Với triết học cổ điển Đức, Mác, Ăngghen khắc phục vỏ duy tâm, thần bí của triết học Hêghen kế thừa phương pháp biện chứng của ông
ta, đặt phương pháp biện chứng này trên nền thế giới quan duy vật Đồng thời khắc phục tính siêu hình trong triết học Phoiơbắc, kế thừa CNDV nhân bản của ông và làm giàu chủ nghĩa duy vật này bằng phương pháp biện chứng Đồng thời
cả chủ nghĩa duy vật, cả phương pháp biện chứng đều được các ông nâng lên về chất Trên cớ sở đó, Mác và Ăngghen đã sáng tạo nên chủ nghĩa duy vật biện chứng
1.1.2.2 Tiền đề khoa học tự nhiên
Đó là những phát minh khoa học như định luật bảo toàn vật chất và vận động; định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng Hai phát minh khoa học này đã chứng minh tính thống nhất vật chất của thế giới, đồng thời chỉ ra rằng, mọi sự vật và hiện tượng trong thế giới luôn nằm trong mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau Thuyết tế bào; thuyết tiến hoá đã chứng minh sự thống nhất về mặt kết cấu sinh học của thế giới hữu sinh; chỉ ra rằng, sự sống và sự đa dạng phong phú của các loài sinh, động vật là kết quả tiến hoá tự nhiên, lâu dài của chính giới tự nhiên Những phát minh này tạo ra điều kiện, tiền đề cho thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng ra đời
Trang 7Như vậy triết học Mác ra đời là tất yếu lịch sử, tất nhiên phải có những điều kiện chủ quan như sự thông minh, lòng yêu thương những người lao động của chính Mác và Ăngghen
1.1.3 Quá trình hình thành và phát triển Triết học Mác
1.1.3.1 C.Mác và Ph.Ăngghen và quá trình chuyển biến tư tưởng của các ông từ CNDT và dân chủ cách mạng sang CNDV và cộng sản chủ nghĩa
C.Mác (5/5/1818 - 14/3/1883), năm 1841 C.Mác nhận bằng tiến sỹ và từ đầu 5/1842 – 3/1843 ông làm ở báo Sông Ranh Chính thời kỳ làm ở báo Sông Ranh đấu tranh cho dân chủ đã giúp ông chuyển biến bước đầu từ chủ nghĩa duy tâm và tinh thần dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật và cộng sản chủ nghĩa Khi báo Sông Ranh bị cấm (từ 1/4/1843) Mác đặt ra cho mình nhiệm vụ xem xét có phê phán triết học Hêghen về xã hội và nhà nước Trong thời gian Mác ở Croixnăc (từ tháng 5 - 10/1843) Mác đã tiến hành phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, qua đó phê phán chủ nghĩa duy tâm của Hêghen nói chung Cuối tháng 10/1843 Mác sang Pari Tại đây được tiếp xúc với không khí cách mạng Pháp và các đại biểu tiêu biểu của phong trào công nhân đã giúp Mác chuyển biến dứt khoát sang chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản Các bài báo: Bàn về vấn đề
Do Thái; Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen Lời nói đầu đăng trên tạp chí Niên giám Pháp - Đức tháng 2/1844 đánh dấu quá trình chuyển biến này
Ph.Ăngghen (28/11/1820 - 5/8/1895) trong khoảng thời gian 1842 - 1843 có điều kiện tiếp xúc đời sống và phong trào công nhân ở Anh nên đã có sự chuyển biến
về lập trường và thế giới quan Điều này thể hiện rõ ở những bài báo cũng đăng trên tạp chí Niên giám Pháp - Đức: Lược thảo phê phán khoa kinh tế chính trị - đứng trên lập trường duy vật phê phán A.Xmít và đ.Ricácđô; Tình cảnh nước Anh; Tômát Cáclây - vạch trần quan điểm phản động của Cáclây vì đã phê phán chủ nghĩa tư bản trên lập trường của chủ nghĩa phong kiến
1.1.3.2 Giai đoạn đề xuất những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử
Trang 8Từ 1844 - 1848 là giai đoạn C.Mác và Ph.Ănghen chuyển biến dứt khoát và từng bước hình hành tư tưởng của mình Điều này thể hiện ở một loạt tác phẩm như Bản thảo kinh tế - triết học 1844 - phê phán triết học duy tâm Hêghen, phê phán khoa kinh tế chính trị cổ điển Anh, tìm nguyên nhân tha hoá con người ở sở hữu
tư nhân; Gia đình thần thánh - phê phán phái Hêghen trẻ, đề xuất một số nguyên
lý triết học duy vật của mình; Hệ tư tưởng Đức - phê phán các hệ tư tưởng Đức bấy giờ, trình bày quan niệm duy vật về lịch sử; Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản
- đánh dấu sự hình thành chủ nghĩa Mác trên tất cả các bộ phận cấu thành (triết học, chủ nghĩa cộng sản khoa học và kinh tế chính trị học)
1.1.3.3 Giai đoạn Mác và Ăngghen bổ sung, phát triển lý luận triết học
Mác và Ăngghen luôn tổng kết thực tiễn phong trào cách mạng và bổ sung lý luận triết học của mình Các tác phẩm Đấu tranh giai cấp ở Pháp ; Ngày mười tám tháng sương mù của Lui Bônapáctơ; Nội chiến ở Pháp, v.v đã được Mác phát triển nhiều nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử, như đấu tranh giai cấp trong xã hội
có giai cấp là một trong những động lực phát triển của xã hội có giai cấp đối kháng; tính tất yếu của chuyên chính vô sản, về thái độ phải đập tan nhà nước tư sản, v.v Phê phán Cương lĩnh Gôta phát triển lý luận về hình thái kinh tế - xã hội, trình bày tư tưởng về hai giai đoạn phát triển của chủ nghĩa cộng sản Chống Đuy-rinh, Biện chứng của tự nhiên, Tư bản, v.v phát triển cụ thể nhiều vấn đề về phép biện chứng, quan hệ giữa triết học với khoa học tự nhiên, phê phán các quan điểm sai trái; phân tích xã hội tư bản chỉ ra tính tất yếu của sự ra đời nhà nước vô sản, v.v sau khi Mác mất Ăngghen đã biên tập xuất bản tập 2, 3 của bộ Tư bản, hoàn thành những tác phẩm triết học quan trọng như: Nguồn gốc của gia đình, của chế
độ tư hữu và của nhà nước; Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức
1.1.3.4 Thực chất và ý nghĩa của cuộc cách mạng trong triết học do C.Mác và
Ph.ăngghen thực hiện
Thực chất cuộc cách mạng trong triết học do Mác và Ăngghen thực hiện thể hiện
ở những điểm chủ yếu sau:
Trang 9Thứ nhất, khắc phục sự tách rời giữa thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng trong triết học trước đó, Mác và Ăngghen đã tạo ra sự thống nhất hữu cơ giữa chủ nghĩa duy vật và phương pháp biện chứng là chủ nghĩa duy vật biện chứng Đây là bước phát triển cách mạng trong triết học do Mác và Ăngghen thực hiện
Thứ hai, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cho triết học của C.Mác và Ph.Ăngghen trở nên triệt để Trước khi triết học Mác ra đời chưa có một nhà triết học nào giải thích được một cách duy vật lĩnh vực lịch sử - xã hội - tinh thần Triết học Mác ra đời đã khắc phục được những hạn chế này
Thứ ba, với sự sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác và Ăngghen đã khắc phục sự đối lập giữa triết học với hoạt động thực tiễn Triết học của hai ông trở thành công cụ nhận thức và cải tạo thế giới của nhân loại tiến bộ Triết học của hai ông đã gắn bó với phong trào cách mạng của giai cấp vô sản, còn phong trào vô sản cần đến sự chỉ đường, dẫn dắt của triết học này
Thứ tư, với sự ra đời của triết học Mác, Mác và Ăngghen đã khắc phục sự đối lập giữa triết học với các khoa học cụ thể Trước khi triết học Mác ra đời thì triết học hoặc là đối lập với các khoa học cụ thể, hoặc là hoà tan vào nó Từ khi triết học Mác ra đời thì quan hệ giữa triết học Mác với các khoa học cụ thể là quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau Các khoa học cụ thể cung cấp cho triết học Mác các thông số, dữ liệu khoa học, tài liệu khoa học để triết học Mác khái quát, còn triết học Mác đóng vai trò thế giới quan, phương pháp luận chung nhất cho các khoa học cụ thể
Ý nghĩa của cuộc cách mạng trong triết học do C.Mác và Ph.ăngghen thực hiện Cuộc cách mạng trong triết học do Mác và Ăngghen thực hiện có ý nghĩa hết sức
Trang 10- Làm cho triết học Mác trở thành công cụ nhận thức và cải tạo thế giới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
1.1.3.5 Giai đoạn Lênin trong sự phát triển triết học Mác
V.I.Lênin (1870 - 1924) - người đã vận dụng sáng tạo và phát triển triết học Mác vào thời đại đế quốc chủ nghĩa và bắt đầu xây dựng CNXH hiện thực Ông đã có những đóng góp to lớn vào việc phát triển chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng
Khi chống lại những người dân tuý Nga, Lênin đã phát triển lý luận hình thái kinh tế - xã hội của Mác, bảo vệ sự trong sáng của triết học Mác trước sự xuyên tác của phái dân tuý Nga; phát triển quan niệm duy vật về lịch sử Điều này thể hiện rõ trong các tác phẩm: “Những "người bạn dân" là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ - xã hội ra sao?”; “Nội dung kinh tế của chủ nghĩa dân tuý và sự phê phán trong cuốn sách của ông Xtơruvê về nội dung đó”
Khi chống lại chủ nghĩa duy tâm chủ quan của phái Makhơ, Lênin đã khái quát được những thành tựu khoa học đương thời, đưa ra định nghĩa nổi tiếng về vật chất, khắc phục được cuộc khủng hoảng về thế giới quan trong vật lý học; bổ sung nhiều vấn đề quan trọng cho lý luận nhận thức duy vật biện chứng Điều này được Lênin trình bày trong “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghia xkinh nghiệm phê phán” v.v
Lênin có nhiều đóng góp vào việc phát triển phép biện chứng, lý luận nhận thức, vấn đề nhà nước và cách mạng, vấn đề chuyên chính vô sản, vấn đề xây dựng Đảng kiểu mới v.vCó thể nói, Lênin đã tạo ra một giai đoạn mới trong sự phát triển triết học Mác Nhưng cần lưu ý rằng, về bản chất triết học của Lênin là triết học Mác
1.2 Khái quát về hàng hoá và sản xuất hàng hoá
1.2.1 Khái niệm hàng hoá
Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người
và đi vào tiêu dùng thông qua trao đổi mua bán
Trang 11Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế, đó là sản xuất tự cung tự cấp và sản xuất hàng hóa Sản xuất tự cung tự cấp là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm do lao động tạo ra nhằm để thỏa mãn trực tiếp nhu cầu của người sản xuất Sản xuất hàng hóa là sản xuất ra sản phẩm để bán Hay nói cách khác, sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức sản xuất mà trong đó, sản phẩm làm ra không phải để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó mà để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác thông qua trao đổi, mua bán
Sản xuất hàng hóa ra đời là bước ngoặt căn bản trong lịch sử phát triển của loài người Sản xuất hàng hóa làm xóa bỏ nền kinh tế tự nhiên, phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất và làm nâng cao hiệu quả kinh tế của xã hội
Hàng hóa có thể tồn tại dưới dạng vật thể hoặc phi vật thể Từ khái niệm này, ta
có thể rút ra kết luận một đồ vật muốn trở thành hàng hoá cần phải thỏa mãn 3 yếu tố:
• Hàng hóa là sản phẩm của lao động
• Hàng hóa có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người
• Thông qua trao đổi, mua bán
1.2.2 Các thuộc tính của hàng hoá
– Giá trị sử dụng: Giá trị sử dụng là công dụng của vật phẩm có thể thỏa mãn nhu
cầu nào đó của con người Ví dụ: Giá trị sử dụng của cơm là để ăn, của áo là để mặc, của máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu là để sản xuất… Và ngay mỗi một vật cũng có thể có nhiều thuộc tính tự nhiên khác nhau, do đó nó có nhiều giá trị sử dụng hay công dụng khác nhau: gạo có thể dùng nấu cơm, nhưng gạo cũng
có thể dùng làm nguyên liệu trong ngành rượu, bia hay chế biến cồn y tế
Số lượng giá trị sử dụng của một vật không phải ngay một lúc đã phát hiện ra được hết, mà nó được phát hiện dần dần trong quá trình phát triển của khoa học –
kỹ thuật
Trang 12Giá trị sử dụng hay công dụng của hàng hóa là do thuộc tính tự nhiên của vật thể hàng hóa quyết định Với ý nghĩa như vậy, giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn
Giá trị sử dụng chỉ thể hiện khi con người sử dụng hay tiêu dùng, nó là nội dung vật chất của của cải, không kể hình thức xã hội của của cái đó như thế nào Các Mác chỉ rõ: Chỉ có trong việc sử dụng hay tiêu dùng, thì giá trị sử dụng mới được thể hiện
Một vật khi đã là hàng hóa thì nhất thiết nó phải có giá trị sử dụng Nhưng không phải bất cứ vật gì có giá trị sử dụng cũng đều là hàng hóa Chẳng hạn, không khí rất cần cho cuộc sống con người nhưng không phải là hàng hóa Nước suối, quả dại cũng có giá trị sử dụng, nhưng cũng không phải là hàng hóa Như vậy, một vật muốn trở thành hàng hóa thì giá trị sử dụng của nó phải là vật được sản xuất
ra để bán, để trao đổi, cũng có nghĩa là vật đó phải có giá trị trao đổi Trong kinh
tế hàng hóa, giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi
– Giá trị: Muốn hiểu được giá trị hàng hóa phải đi từ giá trị trao đổi Các Mác
viết: “Giá trị trao đổi trước hết biểu hiện ra như là một quan hệ về số lượng, là một tỷ lệ theo đó những giá trị sử dụng loại này được trao đổi với những giá trị sử dụng loại khác”
Hàng hóa là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị, nhưng đây
là sự thống nhất của hai mặt đối lập
Sự đối lập và mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị thể hiện ở chỗ: người làm
ra hàng hóa đem bán chỉ quan tâm đến giá trị hàng hóa do mình làm ra, nếu họ có chú ý đến giá trị sử dụng cũng chính là để có được giá trị Ngược lại, người mua hàng hóa lại chỉ chú ý đến giá trị sử dụng của hàng hóa, nhưng muốn tiêu dùng giá trị sử dụng đó người mua phải trả giá trị của nó cho người bán Nghĩa là quá
Trang 13trình thực hiện giá trị tách rời quá trình thực hiện giá trị sử dụng: giá trị được thực hiện trước, sau đó giá trị sử dụng mới được thực hiện
1.2.3 Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hoá
Thống nhất: Hai thuộc tính này cùng đồng thời tồn tại trong một hàng hoá Nếu
một vật có giá trị sử dụng (tức có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người, xã hội), nhưng không có giá trị (tức không do lao động tạo ra, không có kết tinh lao động) như không khí tự nhiên thì sẽ không phải là hàng hoá Ngược lại, một vật
có giá trị (tức có lao động kết tinh), nhưng không có giá trị sử dụng (tức không thể thoả mãn nhu cầu nào của con người, xã hội) cũng không trở thành hàng hoá
Đối lập: Thứ nhất, với tư cách là giá trị sử dụng thì các hàng hoá khác nhau về
chất (vải mặc, sắt thép, lúa gạo…) Nhưng ngược lại, với tư cách là giá trị thì các hàng hoá lại đồng nhất về chất, đều là “những cục kết tinh đồng nhất của lao động
mà thôi”, tức đều là sự kết tinh của lao động, hay là lao động đã được vật hoá (vải mặc, sắt thép, lúa gạo… đều do lao động tạo ra, kết tinh lao động trong đó) Thứ hai, quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng có sự tách rời nhau cả về mặt không gian và thời gian
• Giá trị được thực hiện trong lĩnh vực lưu thông và thực hiện trước
• Giá trị sử dụng được thực hiện sau, trong lĩnh vực tiêu dùng
Người sản xuất quan tâm tới giá trị, nhưng để đạt được mục đích giá trị bắt buộc
họ cũng phải chú ý đến giá trị sử dụng, ngược lại người tiêu dùng quan tâm tới giá trị sử dụng để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của mình
Nhưng muốn có giá trị sử dụng họ phải trả giá trị cho người sản xuất ra nó Nếu không thực hiện giá trị sẽ không có giá trị sử dụng Mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng
Trang 14và giá trị hàng hoá cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng sản xuất thừa