1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG VIỆN TRỢ PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY, TỪ ĐÓ ANHCHỊ HÃY NÊU NHỮNG KIẾN NGHỊ ĐỂ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG VIỆN TRỢ CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ TẠI VIỆT NAM

22 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 191,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI TÊN ĐỀ TÀI THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG VIỆN TRỢ PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY, TỪ ĐÓ ANHCHỊ HÃY NÊU NHỮNG KIẾN NGHỊ ĐỂ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG VIỆN TRỢ CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ TẠI VIỆT NAM BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN Học phần Quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ Mã phách Hà Nội – 2021 BẢNG DANH MỤC KÝ TỰ VIẾT TẮT PCP Phi chính phủ PCPNN Phi chính phủ nước ngoài QLNN Quản lí Nhà nước MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨ.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

TÊN ĐỀ TÀI THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG VIỆN TRỢ PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY, TỪ ĐÓ ANH/CHỊ HÃY NÊU NHỮNG KIẾN NGHỊ ĐỂ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG VIỆN TRỢ CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ TẠI VIỆT NAM

BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN Học phần: Quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ

Mã phách: ………

Hà Nội – 2021

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ VÀ QUẢN LÝ VIỆN TRỢ CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ 2

1.1 Khái niệm về tổ chức phi chính phủ và viện trợ PCPNN 2

1.1.1 Khái niệm về tổ chức phi chính phủ 2

1.1.2 Khái niệm về viện trợ PCPNN 3

1.2 Khái niệm, đặc điểm QLNN đối với hoạt động viện trợ PCPNN 3

1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước 3

1.2.2 Đặc điểm QLNN đối với hoạt động viện trợ PCPNN 4

2 THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG VIỆN TRỢ PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 4

2.1 Khái quát về hoạt động viện trợ của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam 4

2.2 Thực trạng công tác QLNN đối với hoạt động viện trợ PCPNN tại Việt Nam 8 2.3 một số tồn tại, hạn chế về công tác QLNN đối với hoạt động viện trợ PCPNN tại Việt Nam 11

3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỚI HOẠT ĐỘNG VIỆN TRỢ CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ TẠI VIỆT NAM 12

3.1 Một số kiến nghị để quản lý hoạt động viện trợ của các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam 12

KẾT LUẬN 17

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18

Trang 4

MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh thế giới hiện nay, xu hướng phát triển mạnh mẽ của xã hội dân

sự và đóng góp của xã hội dân sự vào sự phát triển của xã hội ngày càng lớn và có ýnghĩa Hơn nữa, một hiện tượng có tính quy luật là Nhà nước ngày càng tìm cách vàtạo điều kiện chuyển giao cho xã hội tự đảm nhận, tự cân đối nhiều lĩnh vực của đờisống xã hội Vì thế, vai trò của các tổ chức xã hội - dân sự, trong đó có tổ chức phichính phủ được gọi bằng khái niệm NGO (Non Governmental Organization) ngàycàng được mở rộng và coi trọng trong phạm vi quốc gia và toàn thế giới

Việt Nam là một trong những nước đang phát triển, từng chịu hậu quả chiến tranhrất nặng nề, do đó nhu cầu giải quyết các vấn đề xã hội như: chất độc da cam/dioxin, xóađói giảm nghèo, an sinh xã hội, y tế, giáo dục,phát triển kinh tế là rất lớn Các tổ chứcphi chính phủ nước ngoài là một lực lượng có vai trò quan trọng để giải quyết các nhucầu đó Tuy nhiên về mặt lý luận cũng như thực tiễn còn tồn tại nhiều vấn đề cầnnghiên cứu, hoàn thiện Chính vì vậy, việc cần phải nghiên cứu cơ sở lý luận vềQLNN đối với hoạt động này, kết hợp với việc đánh giá thực trạng công tác quản lýhoạt động các tổ chức PCP hiện nay và từ đó đề ra biện pháp nhằm nâng cao hiệu quảcông tác QLNN đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN là rất cần thiết và mangtính thời sự

Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, Học viên chọn đề tài: "Thực trạng

về hoạt động viện trợ phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam hiện nay Từ đó anh/chị hãy nêu những kiến nghị để quản lý hoạt động viện trợ của các tổ chức phi chính phủ

tại Việt Nam" làm đề tài bài tập lớn của mình, nhằm mục đích nghiên cứu thực trạng

công tác QLNN đối với các tổ chức PCPNN đang hoạt động tại Việt Nam và từ đó đềxuất các giải pháp để nâng cao hiệu lực QLNN đối với các tổ chức PCP

Trang 5

NỘI DUNG

1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ VÀ QUẢN LÝ VIỆN TRỢ CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ

1.1 Khái niệm về tổ chức phi chính phủ và viện trợ PCPNN

1.1.1 Khái niệm về tổ chức phi chính phủ

Tổ chức phi chính phủ nước ngoài (Non-Governmental Organizations, gọi tắt làNGO) đã tồn tại hàng trăm năm trên thế giới dưới nhiều dạng khác nhau Nguồn gốc

xa xưa của PCPNN vốn là những nhóm nhỏ làm từ thiện Tiêu chí hoạt động của các tổchức này là cứu trợ nhân đạo đối với nạn nhân chiến tranh, thiên tai và nghèo đói,không phân biệt chính kiến và địa giới Cho tới nay trên thế giới, các nước có quanđiểm khác nhau về phân loại và định nghĩa về phi chính phủ nước ngoài Do pháp luậtquốc tế vẫn chưa đưa ra định nghĩa chính thức về "tổ chức phi chính phủ" nên chưa có

sự đồng thuận chung về khái niệm này Mỗi nước, tổ chức tùy thuộc vào mục đích hoạtđộng của mình mà đưa ra các định nghĩa khác nhau Tuy nhiên, khi đề cập tới nhữngthực thể phi chính phủ, hoạt động không vì lợi nhuận, tham gia vào các hoạt động pháttriển hay các hoạt động vận động, thực hiện các khát vọng, giới học giả nhận diện như

sau:"Tổ chức phi chính phủ là các nhóm cá nhân thành lập với nhiều mục đích khác nhau nhằm tham gia các hoạt động để thực hiện những ý tưởng và khát vọng chung".

Tại Việt Nam, thuật ngữ "tổ chức phi chính phủ" về mặt pháp lý lần đầu tiênđược sử dụng trong Luật tổ chức Chính phủ năm 1992, sau đó là Luật Hợp tác xã năm

1996 và một số văn bản pháp quy khác Theo pháp luật Việt Nam, tổ chức phi chínhphủ được hiểu là một pháp nhân được thành lập theo pháp luật bởi các chủ thể ngoàinhà nước, mang tính độc lập tương đối với nhà nước Đây là dạng tổ chức tự nguyệncủa những cá nhân có cùng đặc điểm, ngành nghề, sở thích, nhu cầu… hoạt độnghướng tới mục tiêu chung, không nhằm mục đích lợi nhuận [5]

Trang 6

1.1.2 Khái niệm về viện trợ PCPNN

Tại Việt Nam, căn cứ quy chế Quản lý và sử dụng viện trợ PCPNN của Chínhphủ khái niệm về viện trợ PCPNN như sau: Viện trợ PCPNN được hiểu là viện trợ củacác tổ chức PCPNN, các tổ chức, các cá nhân nước ngoài khác, người Việt Nam định

cư ở nước ngoài có thiện chí cung cấp viện trợ không hoàn lại, không vì mục đích lợinhuận nhằm hỗ trợ các mục tiêu nhân đạo và hỗ trợ các dự án xã hội, xây dựng kinh tếtại Việt Nam.[4]

Viện trợ PCPNN được thể hiện dưới ba hình thức chủ yếu là viện trợ thông quacác chương trình, dự án (viện trợ để thực hiện các chương trình/dự án), viện trợ phi dự

án (viện trợ bằng tiền hay hiện vật) và viện trợ khẩn cấp trong trường hợp có thiên taihoặc tai hoạ khác Khác với nguồn viện trợ chính thức (ODA), viện trợ PCPNN là loạiviện trợ không hoàn lại, mang tính nhân đạo và phát triển, có thủ tục nhanh gọn và đơngiản Quy mô dự án thường không lớn (từ vài nghìn đến vài trăm nghìn đô la Mỹ, thờigian thực hiện không dài (từ vài tháng đến 1-2 năm) nhưng thường đáp ứng kịp thời,sát với nhu cầu và phù hợp với khả năng quản lý, sử dụng của nơi nhận viện trợ.[4]

1.2 Khái niệm, đặc điểm QLNN đối với hoạt động viện trợ PCPNN

1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước

QLNN được hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ mọi hoạt động của Nhà nước nóichung, mọi hoạt động mang tính chất nhà nước nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm

vụ của Nhà nước Chủ thể của QLNN theo nghĩa rộng là tất cả các cơ quan nhà nướccủa bộ máy nhà nước: lập pháp, hành pháp, tư pháp QLNN được hiểu theo nghĩa hẹp

là hoạt động chấp hành, điều hành do cơ quan hành pháp thực hiện, được bảo đảm

bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động thực

hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện cácchức năng đối nội, đối ngoại của Nhà nước trên cơ sở các quy định của pháp luật nhằmtạo lập sự ổn định và phát triển đất nước

Trang 7

1.2.2 Đặc điểm QLNN đối với hoạt động viện trợ PCPNN

QLNN về viện trợ PCPNN là một bộ phận trong tổng thể hoạt động QLNN, nócũng mang những đặc điểm chung của hoạt động QLNN và có những đặc điểm riêng

của mình, cụ thể, quản lý nhà nước về viện trợ PCPNN là việc dùng quyền lực nhà

nước để điều chỉnh hoạt động tiếp nhận, quản lý và sử dụng các khoản viện trợPCPNN và hoạt động của các tổ chức PCPNN Nói cách khác, nhà nước dùng cácphương thức quản lý để tác động, điều chỉnh hoạt động của các tổ chức PCPNN, việctiếp nhận, quản lý và sử dụng các khoản viện trợ PCPNN diễn ra theo ý chí nhà nước(được thể chế hóa bằng luật pháp)

2 THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG VIỆN TRỢ PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC

NGOÀI TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Khái quát về hoạt động viện trợ của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam

Cùng với những thành tựu của công cuộc đổi mới, tiến trình hội nhập quốc tếdiễn ra ngày càng sâu rộng, quan hệ và hoạt động đối ngoại được mở rộng cả về đốitác, nội dung, lĩnh vực, phương thức ở tất cả các ngành, các cấp; vấn đề đối ngoạingày càng gắn kết chặt chẽ với đối nội, tác động ngày càng lớn và trực tiếp vào cácmặt đời sống của xã hội Trong xu thế đó, hoạt động viện trợ PCPNN ngày càng được

mở rộng và có bước phát triển mạnh trong 5 năm trở lại đây Tính riêng trong giai đoạn

5 năm (2014- 2020), tổng số viện trợ của các tổ chức PCPNN là 1,596.9 tỉ USD Sốvốn giải ngân thực tế hàng năm gần 300 triệu USD Nguồn vốn tập trung vào nhiềulĩnh vực khác nhau

Đến thời điểm 2020, viện trợ PCPNN chủ yếu tập trung vào một số lĩnh vực gồm

y tế, giáo dục đào tạo, phát triển kinh tế xã hội, giải quyết các vấn đề xã hội, tàinguyên môi trường, các lĩnh vực khác như nâng cao năng lực tổ chức, hỗ trợ tư pháp

Cụ thể theo từng lĩnh vực, viện trợ PCPNN cho y tế chiếm 33,64%; giải quyết các vấn

đề xã hội chiếm 21,37%; phát triển kinh tế xã hội chiếm 18,83%; giáo dục đào tạo

Trang 8

chiếm 14,82%; tài nguyên môi trường chiếm 6,82% và các lĩnh vực khác chiếm 4,53%.[11]

Các tổ chức PCPNN hoạt động tại Việt Nam có tôn chỉ, mục đích hoạt động, quy

mô huy động vốn, quy mô giải ngân, phạm vi, phương thức và lĩnh vực hoạt động rất

đa dạng Hầu hết các tổ chức PCPNN khi vào hoạt động tại Việt Nam đều được cấpphép, đăng ký hoạt động Về cơ bản, các tổ chức PCPNN được cấp phép hoạt động tạiViệt Nam có thiện chí, có quan hệ hợp tác tốt với các cơ quan, tổ chức đối tác vàchấp hành các quy định của pháp luật Việt Nam Các lĩnh vực hoạt động chủ yếu củacác tổ chức PCPNN đăng ký và hoạt động tại Việt Nam là: các hoạt động hỗ trợ xóađói giảm nghèo, y tế, giáo dục, môi trường, các dự án hỗ trợ nâng cao năng lực của cáccộng đồng dân cư yếu thế (phụ nữ, trẻ em nghèo, các cộng đồng dân tộc thiểu số, cácnhóm mắc bệnh xã hội, mại dâm, ma túy)

Viện trợ PCPNN theo địa phương và vùng kinh tế: Hoạt động viện trợ của cácTCPCP được triển khai tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và ở hầu hết các

bộ, ban ngành, tổ chức nhân dân Tuy ở mức độ khác nhau, tất cả các tỉnh, thành phố

và các bộ, ban ngành và tổ chức nhân dân, các tổ chức hội Trung ương đều đã có quan

hệ viện trợ với các TCPCP thuộc các quốc tịch khác nhau Những năm gần đây, một sốtỉnh/thành phố như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị,Khánh Hòa, Thái Nguyên… tiếp nhận được từ 10 đến trên 35 triệu USD/năm từ nguồnviện trợ phi chính phủ Một số cơ quan trung ương như Bộ Lao động, Thương binh và

xã hội, Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hội Liên hiệp Phụ nữ ViệtNam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam… tiếp nhận được từ 5 triệuđến trên 20 triệu USD/năm

Tuy nhiên viện trợ của các tổ chức PCPNN tại các vùng kinh tế - xã hội đượcphân bố không đều Trong giai đoạn 2014-2020, các địa phương trên cả nước đã tiếpnhận xấp xỉ 3.983 dự án/khoản viện trợ PCPNN, trong đó các tỉnh đồng bằng SôngHồng tiếp nhận với tổng giá trị viện trợ PCPNN giải ngân đạt trên 511 triệu USD Mỹ,

Trang 9

chiếm 18,4% tổng giá trị viện trợ PCPNN Các tỉnh miền núi phía Bắc tiếp nhận vớigiá trị viện trợ giải ngân là trên 335 triệu USD Mỹ, chiếm 12% tổng giá trị viện trợPCPNN giải ngân Trong khi đó, các tỉnh Tây Nguyên chỉ tiếp nhận tổng giá trị việntrợ giải ngân là 77,5 triệu USD Mỹ, chiếm chưa đến 3% tổng giá trị viện trợ PCPNNgiải ngân trong giai đoạn này Đáng lưu ý là các dự án được triển khai tại nhiều vùngkinh tế xã hội (do không phân chia cụ thể ngân sách được theo tỉnh hay theo vùng) lênđến trên 768 triệu USD Mỹ, chiếm gần 28% tổng giá trị viện trợ PCPNN.[11]

Theo tỉnh, mức độ các địa phương tiếp nhận viện trợ PCPNN cũng chênhlệch lớn Chẳng hạn, trong cả giai đoạn 2014-2020, trong khi Hà Nội tiếp nhận trên

294 triệu USD Mỹ, chiếm gần 11% tổng giá trị viện trợ PCPNN, thì Bạc Liêu chỉ tiếpnhận được 1,54 triệu USD Mỹ, tương đương với 0,06% tổng giá trị viện trợ PCPNN(gấp khoảng 191 lần) Trong khi có 9 địa phương tiếp nhận giá trị viện trợ khá cao,

từ 40 triệu đến trên 290 triệu USD Mỹ (thành phố Hồ Chí Minh, Thừa Thiên Huế,

Đà Nẵng, Thanh Hóa, Quảng Trị, Quảng Nam, Thái Nguyên, Đắk Lắk, Hải Phòng),thì có 10 địa phương tiếp nhận chỉ từ 1-5 triệu USD Mỹ cho cả giai đoạn (Bắc Ninh,Cần Thơ, Bình Dương, Bình Phước, Đắk Nông, Gia Lai, Tuyên Quang, Hậu Giang,Tây Ninh, Bạc Liêu)

Về viện trợ PCPNN tính theo đầu người, năm 2011, chỉ số cả nước là 1,15 USD

Mỹ, đến 31/12/2020 là 3,5 USD/người/năm, Chỉ số này tại các vùng kinh tế - xã hội rấtkhác nhau, cụ thể tại các tỉnh đồng bằng sông hồng là 0,46; miền núi và trung du phíaBắc là 0,58; Bắc Trung bộ là 1,25; duyên hải miền Trung là 0,63; đồng bằng Sông CửuLong là 0,21 và Tây Nguyên là 0,14 Trong khi đó năm 2013, giá trị viện trợ trungbình của cả nước đạt 3,37 USD Mỹ/người; một số vùng có chỉ số thấp hơn nhiều, ví dụnhư Tây Nguyên (1,46 USD Mỹ/người), Đông Nam bộ (1,55 USD Mỹ/người), hayĐồng bằng sông Cửu Long (2,02 USD Mỹ/người) Cùng năm này, một số khu vực cóchỉ số này cao hơn trung bình chung của cả nước, như Bắc Trung bộ (4,16 USDMỹ/người), Trung du và miền núi phía Bắc (3,98 USD Mỹ/người) và Nam trung bộ

Trang 10

(3,6 USD Mỹ/người) Như vậy có thể thấy, giá trị viện trợ PCPNN năm 2013 tính theođầu người đã tăng 3 lần so với năm 2001, năm 2020 tăng 9 lần năm 2001 Cũng tronggiai đoạn này, chỉ số này tại Tây Nguyên và Đồng bằng Sông Cửu Long tăng khoảng

10 lần, trong khi ở một số vùng khác chỉ số này có tăng nhưng ở mức độ ít hơn.[8]Như vậy, có thể thấy, viện trợ PCPNN những năm qua đã được triển khai ở ViệtNam với quy mô khá lớn Về phân bổ nguồn này, có thể khái quát như sau:

Một là, viện trợ phi chính PCPNN cơ bản được triển khai ở nhiều lĩnh vực, trong

đó có y tế, giáo dục, phát triển kinh tế (bao gồm nông nghiệp và phát triển nông thôn),giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường và tài nguyên thiên nhiên, cứu trợ khẩncấp…; đồng thời, tuy mức độ khác nhau, được triển khai ở tất cả các tỉnh thành phốtrực thuộc trung ương

Hai là, viện trợ PCPNN tập trung nhiều hơn ở một số ngành, lĩnh vực (riêng y tế,

giải quyết các vấn đề xã hội đã chiếm 55% tổng giá trị viện trợ của cả giai đoạn 2020) và địa phương (một số địa phương tiếp nhận nguồn viện trợ PCPNN với giá trịkhá lớn, như Thái Nguyên, Yên Bái, Quảng Trị, Đà Nẵng, Quảng Nam, Vĩnh Long,Kiên Giang, Cà Mau và thành phố Hồ Chí Minh) Vốn viện trợ tập trung nhiều ở các

2014-dự án hỗ trợ xã hội, qua nghiên cứu, thấy rằng có một số nguyên nhân chính sau:

- Các tổ chức PCPNN đang hoạt động tại Việt Nam chủ yếu với năng lực lõi làcác hoạt động cộng đồng, truyền thông thay đổi hành vi trong cộng đồng, văn hóa…

- Để triển khai các dự án trong các lĩnh vực như y tế, xử lý môi trường (bao gồm

cả ô nhiễm môi trường sau chiến tranh), cần các tổ chức PCPNN chuyên nghiệp tronglĩnh vực và các đối tác phía Việt Nam phải có năng lực chuyên môn để tiếp nhận, triểnkhai dự án

- Các dự án xã hội sử dụng kinh phí không nhiều, dễ huy động nguồn vốn và cácđối tác tiếp nhận phía Việt Nam thì đa dạng

Nhìn chung, các tổ chức PCPNN có đăng ký và được cấp phép hoạt động tại ViệtNam đều có các khoản viện trợ được cơ quan có thẩm quyền phía Việt Nam phê duyệt

Trang 11

tiếp nhận khoản viện trợ Hầu hết các tổ chức PCPNN đều sử dụng nhân viên là ngườiViệt Nam, tỷ lệ người Việt Nam nắm các vị trí chủ chốt trong các tổ chức PCPNN hoạtđộng tại Việt Nam ngày càng cao.

2.2 Thực trạng công tác QLNN đối với hoạt động viện trợ PCPNN tại Việt Nam

Hiện nay Việt Nam có quan hệ với trên 1200 tổ chức PCPNN, trong đó có gần

500 tổ chức đã đăng ký hoạt động thường xuyên tại Việt Nam Các tổ chức PCPNNhoạt động tại Việt Nam dưới hình thức văn phòng đại diện, văn phòng dự án hoặc không

có văn phòng mà chỉ hoạt động theo giấy phép hoạt động Hoạt động viện trợ thông quaquan hệ đối tác với các cơ quan chính quyền và tổ chức quần chúng ở các cấp, một sốkhác tự triển khai Gần đây các tổ chức PCPNN có xu hướng tài trợ thông qua các tổ chứcphi chính phủ Việt Nam (trung tâm, viện, đơn vị khoa học công nghệ, hội ) Các hoạtđộng viện trợ giữa đối tác Việt Nam với tổ chức PCPNN được triển khai ở 63 tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương và ở hầu hết các bộ, ban, ngành, tổ chức nhân dân.Các tổ chức PCPNN viện trợ thông qua các chương trình, dự án nhân đạo vàphát triển, viện trợ phi dự án và cứu trợ khẩn cấp chiếm tỷ trọng rất nhỏ Giai đoạn

2014 - 2020, tổng giá trị tiếp nhận viện trợ và giải ngân đạt trên 1,5 tỉ USD, bình quânmỗi năm nước ta tiếp nhận viện trợ PCPNN trị giá 300 triệu USD Lĩnh vực chủ yếu là:chăm sóc sức khỏe (chiếm 35%); giải quyết các vấn đề xã hội (chiếm 19%); phát triểnkinh tế (chiếm 17%); lĩnh vực môi trường và tài nguyên thiên nhiên (chiếm 11%); giáodục và đào tạo (chiếm 9%); hỗ trợ tổ chức và trợ giúp pháp lý (chiếm 5%); các lĩnhvực khác chiếm 4%

Các tổ chức PCPNN hoạt động tại Việt Nam có tôn chỉ, mục đích, quy mô giảingân, phạm vi, phương thức và lĩnh vực hoạt động rất đa dạng Các tổ chức PCPNNđược cấp giấy đăng ký hoạt động có thái độ thiện chí với Việt Nam, chấp hành các quyđịnh của pháp luật Việt Nam, có các chương trình, dự án được cơ quan có thẩm quyềnphê duyệt và nhìn chung thực hiện đầy đủ cam kết với các đối tác trong nước Hầu hếtcác tổ chức PCPNN đều sử dụng nhân viên là người Việt Nam; tỷ lệ người Việt Nam

Ngày đăng: 22/04/2022, 14:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứXII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2016
7. Nguyễn Trang Thu, Hoàn thiện quản lý nhà nước về công tác phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sỹ Quản lý Hành chính công, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện quản lý nhà nước về công tác phi chính phủnước ngoài tại Việt Nam hiện nay
8. Phạm Kiên Cường (2012), Giáo trình Quản lý Nhà nước đối với tổ chức phi chính phủ nước ngoài, Nhà Xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý Nhà nước đối với tổ chức phichính phủ nước ngoài
Tác giả: Phạm Kiên Cường
Nhà XB: Nhà Xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2012
9. Trương Thị Phong Lan (2014), Quản lý nhà nước đối với tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sỹ Hành chính công, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước đối với tổ chức phi chínhphủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam hiện nay
Tác giả: Trương Thị Phong Lan
Năm: 2014
10. Thủ tướng Chính phủ (2013), Quyết định số 40/2013/QĐ-TTg về việc ban hành "Chương trình quốc gia xúc tiến vận động viện trợ phi chính phủ nước ngoài giai đoạn 2013 – 2017" nhằm tăng cường hơn nữa công tác quản lý và nâng cao hiệu quả hợp tác với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình quốc gia xúc tiến vận động viện trợ phi chính phủ nước ngoài giaiđoạn 2013 – 2017
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2013
11. Ủy ban Điều phối viện trợ nhân dân. Báo cáo thống kê về viện trợ phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam (2001 – 2020). Hà Nội, 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thống kê về viện trợ phi chínhphủ nước ngoài tại Việt Nam (2001 – 2020
1. Ban chấp hành Trung ương Đảng (2011), Chỉ thị số 04-CT/TW ngày 6-7-2011 của Ban Bí thư (khóa XI) về tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân Khác
2. Ban chấp hành Trung ương Đảng (2014), Kết luận số 98-KL/TW ngày 28-6- 2014 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 19-CT/TW ngày 24-01-2003 của Ban Bí thư (khóa IX) về công tác phi chính phủ nước ngoài Khác
3. Bộ Ngoại giao (2012), Thông tư số 05/2012/TT-BNG hướng dẫn thi hành Nghị định số 12/NĐ-CP ngày 01/03/2012 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam Khác
4. Chính phủ (2012), Nghị định số 12/NĐ-CP ngày 01/03/2012 của Chính phủ về Đăng ký và quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam Khác
5. Chính phủ (2010), Nghị định 45/2010/NĐ-CP Quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội Khác
12. Nghị định số 80/2020/NĐ-CP ngày 08/7/2020 của Chính phủ về quản lý và sử dụng viện trợ không hoàn lại theo nguồn hỗ trợ phát triển chính thức của cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài cho Việt Nam Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w