1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌM HIỂU VỀ BẢO HỘ CÔNG DÂN TRONG BỐI CẢNH COVID 19

24 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 331,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI TÊN ĐỀ TÀI TÌM HIỂU VỀ BẢO HỘ CÔNG DÂN TRONG BỐI CẢNH COVID 19 BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN Học phần Luật quốc tế Mã phách Hà Nội – 2021 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT BHCD Bảo hộ công dân QLNN Quản lý nhà nước MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT MỤC LỤC 1MỞ ĐẦU 11 Lý do chọn đề tài 12 kết cấu bài tập lớn 2NỘI DUNG 2I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HỘ CÔNG DÂN 21 1 Mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân 21 1 1 Khái niệm công dân, quyền công dân 31 1 2 Khái niệm bảo.

Trang 1

BỘ NỘI VỤ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

TÊN ĐỀ TÀI : TÌM HIỂU VỀ BẢO HỘ CÔNG DÂN TRONG BỐI CẢNH

Trang 2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 kết cấu bài tập lớn 1

NỘI DUNG 2

I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HỘ CÔNG DÂN 2

1.1 Mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân 2

1.1.1 Khái niệm công dân, quyền công dân 2

1.1.2 Khái niệm bảo hộ công dân 3

1.2 Thẩm quyền bảo hộ công dân 5

1.2.1 Hoạt động bảo hộ công dân của các cơ quan có thẩm quyền ở trong nước 6

1.2.2 Cơ quan có thẩm quyền bảo hộ công dân ở nước ngoài 7

1.3 Các biện pháp bảo hộ công dân 7

1.3.1 Biện pháp ngoại giao 8

1.3.2 Biện pháp trừng phạt 8

1.3.3 Sử dụng vũ lực 9

1.4 Ý nghĩa của việc bảo hộ công dân 9

II, THỰC TRẠNG BẢO HỘ CÔNG DÂN TRONG BỐI CẢNH COVID-19 HIỆN NAY 11

2.1 Những kết quả đã đạt được về bảo hộ công dân trong bối cảnh Covid 19 hiện nay 11

2.2 Một số hạn chế còn tồn tại về bảo hộ công dân trong bối cảnh Covid-19 hiện nay 14

III MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO HỘ CÔNG DÂN TRONG BỐI CẢNH COVID-19 HIỆN NAY 16

3.1 Quan điểm của Đảng về công tác với người Việt Nam ở nước ngoài16 3.2 một số giải pháp nâng cao hiệu quả bảo hộ công dân trong bối cảnh Covid-19 hiện nay 17

KẾT LUẬN 19

TÀI LIỆU THAM KHẢO 20

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Những năm qua, người Việt Nam ra nước ngoài không ngừng gia tăng về

số lượng và đa dạng về thành phần đã đặt ra những vấn đề khó khăn, tháchthức cho công tác bảo hộ công dân Đặc biệt, từ khi đại dịch Covid-19 bùngphát trên toàn cầu, yêu cầu về công tác bảo hộ công dân đã được nâng lên khichúng ta triển khai giúp đỡ hàng nghìn công dân Việt Nam ở nước ngoài ổnđịnh cuộc sống, bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền, lợi ích chính đángcủa công dân Những chuyến bay đưa công dân về nước giữa lúc dịch Covid-

19 hoành hành khắp nơi trên thế giới đã thật sự làm lay động hàng triệu contim Mặc dù ngân sách hạn hẹp, khó khăn còn nhiều, nhưng Việt Nam là mộttrong số ít quốc gia tổ chức các chuyến bay đưa công dân bị mắc kẹt về nướcmột cách bài bản, chuyên nghiệp, an toàn và bảo đảm công tác phòng, chốngdịch hiệu quả Để làm rõ hơn những vấn đề về bảo hộ công dân trong bối

cảnh đại dịch covid-19 hiện nay em xin chọn đề tài: "Tìm hiểu về bảo hộ công dân trong bối cảnh Covid-19" Làm đề tài nghiên cứu cho bài tập của mình.

Hi vọng đề tài bên cạnh việc làm rõ thực trạng về bảo hộ công dân, cònđóng góp vào thực tiễn những giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả bảo hộcông dân trong bối cảnh covid-19 hiện nay

2 kết cấu bài tập lớn.

Ngoài phần mở đầu và kết luận bài tập lớn gồm 3 phần:

Phần 1: Những vấn đề lý luận về bảo hộ công dân

Phần 2: Thực trạng bảo hộ công dân trong bối cảnh Covid-19 hiện nayPhần 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả bảo hộ công dân trong bốicảnh Covid-19 hiện nay

Trang 5

NỘI DUNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HỘ CÔNG DÂN

1.1 Mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân

Trong xã hội dân chủ, Công dân và Nhà nước là hai phạm trù có mốiquan hệ gắn bó hữu cơ, không thể có công dân mà không có Nhà nước, cũngkhông thể có Nhà nước mà không có công dân Trong mối quan hệ giữa Nhà

nước và công dân, công dân - một trong hai chủ thể cơ bản, là cá nhân mang

quốc tịch của một Nhà nước nhất định Với tư cách là công dân của một quốcgia, cá nhân có các quyền được Nhà nước tôn trọng, ghi nhận, bảo đảm, bảo

vệ bằng pháp luật, ở tầm Hiến định và luật định

1.1.1 Khái niệm công dân, quyền công dân

Công dân là sự xác định một thể nhân về mặt pháp lý thuộc về một nhànước nhất định Nhờ sự xác định này con người được hưởng chủ quyền củanhà nước và được nhà nước bảo hộ quyền lợi khi ở trong nước cũng như ởnước ngoài; đồng thời cũng phải thực hiện một số nghĩa vụ nhất định đối vớinhà nước Theo khoản 1 Điều 17 Hiến Pháp 2013 thì công dân nước Cộnghoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam Như vậy,khái niệm công dân gắn liền với khái niệm quốc tịch Quốc tịch là mói liên

hệ bền vững của một thể nhân với một nhà nước nhất định Quốc tịch Việt

Nam là căn cứ duy nhất để xác định một người là công dân Việt Nam

Quyền công dân là những quyền được Nhà nước quy định trong Hiến

pháp và các văn bản luật, được quy định cho tất cả mọi công dân hoặc cho

cả mọi tầng lớp, mọi giai cấp (không quy định cho từng người trong từngđiều kiện, hoàn cảnh cụ thể) Những quyền này được xuất phát từ quyền con

người – những quyền "không ai có thể xâm phạm được": "quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc"[2]. Quyền công dân bao quátphạm vi các quan hệ pháp lý giữa một bên là cá nhân với một bên là Nhà

Trang 6

nước và bao hàm hai ý nghĩa: vừa mở ra cho cá nhân khả năng sử dụngquyền để tự bảo vệ các quyền của mình chống lại mọi sự can thiệp một cáchtrái pháp luật, vừa yêu cầu sự tác động tích cực của Nhà nước cho việc thựchiện các quyền đó.

Trong tương quan với quyền con người, có thể hiểu quyền công dân làquyền con người của cá nhân trong mối quan hệ với một Nhà nước mà côngdân đó có quốc tịch Điểm khác biệt cơ bản giữa quyền con người và quyềncông dân là quyền công dân luôn gắn liền với quốc tịch, với mối quan hệgiữa công dân với Nhà nước trong một quốc gia cụ thể Sự ghi nhận cácquyền con người trong Hiến pháp không chỉ có ý nghĩa là các quyền côngdân được Nhà nước ghi nhận, tôn trọng và bảo vệ, mà còn thể hiện sự thừanhận của Nhà nước về tính phổ biến của quyền con người Nhà nước, với ýnghĩa là một thiết chế công quyền, có trách nhiệm bằng mọi biện pháp vànguồn lực BHCD của mình

1.1.2 Khái niệm bảo hộ công dân

Như đã đề cập, xuất phát từ yêu cầu về tính chính đáng của Nhà nước,trách nhiệm của Nhà nước trong bảo hộ quyền và lợi ích của công dân cả ởtrong và ngoài nước là một trong ba nội dung cơ bản thể hiện mối quan hệchính trị - pháp lý giữa Nhà nước và công dân Ở đó, Nhà nước, với tínhcách là người được nhân dân bầu ra để đại diện cho ý chí, nguyện vọngcủa mình phải có trách nhiệm chăm lo, bảo vệ người dân thông qua những

cơ chế hiệu quả nhất Trách nhiệm này mang tính chính trị - pháp lý Tức là

nó thể hiện sự cam kết, ràng buộc, một khế ước xã hội giữa Nhà nước vànhân dân, theo đó, vai trò và trách nhiệm của Nhà nước đối với người dânmang tính nguyên tắc, chủ động và toàn diện

Về mặt ngữ nghĩa, "bảo hộ" là thuật ngữ có gốc từ Hán Việt "Bảo" nghĩa là giữ gìn, "hộ" nghĩa là che chở Như vậy, "bảo hộ" nghĩa là giữ gìn,

Trang 7

che chở Theo Từ điển Tiếng Việt: "Bảo hộ" là "che chở, không để bị tổn

thất"[10] Bảo hộ theo nghĩa như vậy được sử dụng trong nhiều tình huống,hoàn cảnh khác nhau

Trong các tài liệu khoa học pháp lý của Việt Nam hiện nay, thuật ngữ

"bảo hộ" được sử dụng trong mối quan hệ giữa cơ quan đại diện nhà nước ở

nước ngoài và công dân của nước mình đang sinh sống ở nước sở tại Mặc

dù nghĩa "bảo hộ" này chỉ giới hạn trong lĩnh vực ngoại giao, nhưng nó

cũng bao quát toàn bộ những nội dung thể hiện trách nhiệm của nhà nướcđối với công dân của mình không phụ thuộc vào không gian địa lý nơi côngdân đó sinh sống và công tác, học tập

Trong Luật Quốc tế, bảo hộ công dân có thể được hiểu theo hai nghĩa

Theo nghĩa rộng, BHCD là việc nhà nước tiến hành hỗ trợ, giúp đỡ, tạo

điều kiện thuận lợi cho công dân mình ở nước ngoài thực hiện các quyền vànghĩa vụ ở nước sở tại một cách tốt nhất hoặc hỗ trợ, giúp đỡ công dân khicông dân gặp phải điều kiện, hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà họ không thể

tự mình khắc phục, không có khả năng tài chính nếu không có sự giúp đỡcủa cơ quan nhà nước có thẩm quyền Như vậy, bảo hộ công dân theo nghĩarộng chính là hoạt động bảo đảm, bảo vệ quyền và lợi ích của công dân, diễn

ra ngay khi không có sự xâm hại, cản trở hay đe doạ đến các quyền và lợiích đó

Theo nghĩa hẹp, bảo hộ công dân được hiểu là hành vi của cơ quan nhà

nước có thẩm quyền thực hiện, phù hợp với pháp luật quốc tế và pháp luậtnước sở tại nhằm bảo vệ công dân mình ở nước ngoài khi các quyền và lợiích hợp pháp của họ bị xâm phạm Như vậy, bảo hộ công dân theo nghĩa hẹpchỉ diễn ra khi sự xâm hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

mình Với cách tiếp cận như vậy, bảo hộ công dân theo nghĩa hẹp có nội

dung khá gần gũi với khái niệm bảo vệ quyền trong quan niệm hiện hành

Trang 8

Từ những phân tích trên, một cách chung nhất, có thể đưa ra định nghĩa

về khái niệm bảo hộ công dân theo nghĩa rộng như sau: bảo hộ công dân là

trách nhiệm chính trị - pháp lý của Nhà nước trong việc thúc đẩy, giúp đỡ, tạo điều kiện cho công dân thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời tiến hành bảo vệ khi có sự đe doạ, cản trở hoặc xâm hại đến các quyền và lợi ích đó.

Theo nghĩa hẹp, bảo hộ công dân được hiểu là trách nhiệm chính trị pháp lý của Nhà nước trong việc tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thúc đẩy, giúp đỡ và bảo vệ công dân khi các quyền và lợi ích hợp pháp của

-họ bị đe doạ, cản trở hoặc xâm hại.

Như vậy, bảo hộ công dân theo nghĩa rộng khác với bảo hộ công dântheo nghĩa hẹp ở chỗ: theo nghĩa rộng, trách nhiệm của Nhà nước đối vớicông dân được tiến hành ngay cả khi không có sự đe doạ, cản trở, xâm hạiđến các quyền và lợi ích, mà còn nhằm thúc đẩy, giúp đỡ và bảo vệ công dântrong việc thực thi các quyền và lợi ích hợp pháp của họ

Bảo hộ công dân có thể bao gồm các hoạt động có tính công vụ nhưcấp phát hộ chiếu, giấy tờ hành chính hoặc các hoạt động có tính giúp đỡ,như trợ cấp tài chính cho công dân khi họ gặp khó khăn, phổ biến các thôngtin cần thiết cho công dân nước mình tìm hiểu về nước mà họ có dự định tới

vì nguyện vọng cá nhân cho đến các hoạt động có tính phức tạp hơn nhưthăm hỏi lãnh sự công dân bị bắt, bị giam hoặc tiến hành các hoạt động bảo

vệ và đảm bảo cho công dân nước mình được hưởng những quyền lợi và lợiích tối thiểu theo quy định của nước sở tại hoặc luật quốc tế

1.2 Thẩm quyền bảo hộ công dân

Dựa trên cơ sở cơ cấu tổ chức, chức năng và phạm vi hoạt động của các

cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo hộ công dân, có thể chia các cơ quan

Trang 9

này ra hai loại: - Cơ quan có thẩm quyền trong nước - Cơ quan có thẩmquyền ở nước ngoài.

1.2.1 Hoạt động bảo hộ công dân của các cơ quan có thẩm quyền ở

trong nước

Việc quy định cơ quan nhà nước nào có thẩm quyền bảo hộ công dân làhoàn toàn do luật quốc gia của nước hữu quan quy định Hầu hết các quốc giađều giao nhiệm vụ theo dõi, thực hiện bảo hộ công dân cho bộ ngoại giao Bộngoại giao quan giám sát các hoạt động bảo hộ công dân của các cơ quan đạidiện của nước mình ở nước ngoài đồng thời là cơ quan trực tiếp thực hiện cácbiện pháp nhằm đảm bảo việc sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành các quy địnhpháp luật mới về bảo hộ ngoại giao, đảm bảo việc bảo hộ ngoại giao luônđược thực hiện có hiệu quả Bộ ngoại giao chịu trách nhiệm trước chính phủ

về các hoạt động bảo hộ công dân trong nước cũng như ngoài nước Trongtrường hợp vấn đề bảo hộ ngoại giao cần giải quyết có liên quan tới các bộ,các ngành khác trong chính phủ thì bộ ngoại giao có trách nhiệm phối hợphoạt động với các bộ, ngành có liên quan để giải quyết và báo cáo lại quốchội Ngoài ra, trong thực tiễn hoạt động bảo hộ công dân, có quốc gia quyđịnh thẩm quyền này không chỉ thuộc về bộ ngoại giao mà còn thuộc về các

cơ quan đặc trách khác nhau của nước mình hoặc vào các thời điểm khácnhau, thẩm quyền bảo hộ công dân ở nước ngoài lại do các cơ quan khác nhauthực hiện Như theo Luật cơ bản của đặc khu hành chính Hồng Kông - TrungQuốc, Cục nhập cư của đặc khu Hồng Kông là cơ quan chức năng có thẩmquyền đầu tiên và rộng nhất về bảo hộ công dân, là cơ quan chính ở đặc khuphối hợp với các cơ quan đại diện Trung Quốc ở nước ngoài thực hiện côngtác bảo hộ công dân

Trang 10

1.2.2 Cơ quan có thẩm quyền bảo hộ công dân ở nước ngoài

Theo nguyên tắc chung, thẩm quyền bảo hộ công dân nước mình ở nướcngoài thuộc về các cơ quan đại diện ngoại giao - lãnh sự của nước cử đại diệntại nước nhận đại diện Việc bảo hộ công dân do các cơ quan đại diện thựchiện được ghi nhận trong các Công ước Viên 1961 về quan hệ ngoại giao,Công ước Viên 1963 về quan hệ lãnh sự Các cơ quan đại diện này của cácnước đều thực hiện chức năng và thẩm quyền bảo hộ công dân Canada có

278 cơ quan đại diện ngoại giao - lãnh sự, Mỹ có 257 cơ quan đại diện, Liênhiệp Vương quốc Anh và Bắc Alien có 200 cơ quan đại diện nước ngoài Khitiến hành các hoạt động bảo hộ công dân, các cơ quan chức năng có thẩmquyền phải dựa trên cơ sở pháp lý là các văn bản pháp luật quốc gia về bảo hộcông dân và các điều ước quốc tế hữu quan về bảo hộ công dân Nhìn chung,hoạt động bảo hộ công dân ở nước ngoài chủ yếu do cơ quan đại diện của nhànước trong quan hệ đối ngoại ở nước ngoài thực hiện Nếu xét về công việc

cụ thể thì cán bộ, nhân viên lãnh sự là người trực tiếp thi hành các hoạt độngbảo hộ, từ những công việc không gây ảnh hưởng đến nước khác như cấp cácgiấy tờ hành chính cho đến công việc phức tạp và có ảnh hưởng trực tiếp tớicác quốc gia khác, như bảo hộ và giúp đỡ công dân nước mình trước hành vi

vi phạm pháp luật quốc tế của nước sở tại, bảo vệ quyền và lợi ích của côngdân trước hành vi xâm hại của nước ngoài khác

1.3 Các biện pháp bảo hộ công dân

Trong quá trình thực hiện bảo hộ công dân, các nước có thể thực hiệnnhiều biện pháp bảo hộ đa dạng khác nhau, từ các biện pháp đơn giản có tínhhành chính như cấp hộ chiếu, visa xuất cảnh cho tới các biện pháp bảo hộphức tạp và có ảnh hưởng tới quan hệ ngoại giao giữa các nước hữu quan,

Trang 11

như đưa vụ việc ra toà án quốc tế hoặc sử dụng các biện pháp có tính chất

"răn đe" để bảo hộ công dân

Việc bảo hộ ngoại giao được tiến hành ở mức độ nào và áp dụng các biệnpháp bảo hộ gì phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quyền lợi nào bị vi phạm, mức

độ vi phạm, thái độ của nước sở tại, khả năng ảnh hưởng tới quan hệ quốc tế,bối cảnh quốc tế… Nước thực hiện các hoạt động bảo hộ, tùy theo mức độcủa vấn đề và quyền lợi, lợi ích của mình có thể áp dụng tuần tự hoặc đồngthời hoặc lựa chọn các biện pháp bảo hộ cần thiết theo sự đánh giá của mình

1.3.1 Biện pháp ngoại giao

Biện pháp ngoại giao thường được coi là biện pháp đầu tiên để thực hiênbảo hộ công dân Cơ sở pháp lý của biện pháp này là nguyên tắc giải quyếthoà bình các tranh chấp quốc tế Biện pháp ngoại giao được thực hiện để bảo

hộ công dân có thể thông qua trung gian hoà giải, thương lượng hoặc đàmphán trực tiếp

1.3.2 Biện pháp trừng phạt

Bên cạnh biện pháp ngoại giao, các quốc gia còn sử dụng các biện pháptrừng phạt kinh tế hoặc trừng phạt về ngoại giao đối với nước vi phạm nhưthực hiện chiến dịch bao vây, cấm vận, rút cơ quan đại diện ngoại giao và toàn

bộ cán bộ của cơ quan về nước hoặc có thể đưa ra toà án quốc tế yêu cầu giảiquyết

Mặc dù các biện pháp bảo hộ rất đa dạng và phong phú nhưng phạm vicác biện pháp bảo hộ được sử dụng vẫn phải chịu sự điều chỉnh và giới hạncủa luật quốc tế Ví dụ, trong điểu ước quốc tế có thể quy định, khi có sự viphạm pháp luật thì biện pháp bảo hộ ngoại giao duy nhất được sử dụng là biệnpháp trọng tài xét xử Với trường hợp không có điều ước quốc tế thì cộngđồng quốc tế có thể hạn chế biện pháp bảo hộ bằng các tập quán quốc tế hiệnhành

Trang 12

đã được sử dụng hết mà không mang lại kết quả khả quan trong tiến hành bảo

hộ công dân nước mình Các quốc gia theo quan điểm này đã biện hộ chocách bảo hộ bằng vũ lực, coi việc sử dụng vũ lực trong bảo hộ công dân như

là biện pháp cuối cùng nên đã gây nhiều mâu thuẫn và xung đột đáng tiếctrong quan hệ giữa các nước hữu quan, làm mất uy tín của quốc gia thực hiệnbảo hộ ngoại giao bằng vũ lực

Mặt khác, thực tiễn bảo hộ ngoại giao cũng cần phải chú ý tới mục đíchthực sự của hoạt động này và không thể dùng bảo hộ công dân là nguyên cổphục vụ cho ý đồ và mục đích chính trị của quốc gia bảo hộ, làm ảnh hưởngtới quan hệ của các bên liên quan và hình ảnh của quốc gia trên chính trườngquốc tế

1.4 Ý nghĩa của việc bảo hộ công dân

Việc bảo hộ công dân có rất nhiều ý nghĩa thiết thực trong thực tế, đặcbiệt là trong bối cảnh đại dịch Covid-19 hiện nay Tuy nhiên, có thể tóm gọnmột số ý nghĩa như sau

Thứ nhất, thiết lập nền tảng pháp lý để bảo hộ quyền công dân một

cách hữu hiệu, qua đó, thúc đẩy mối quan hệ bình đẳng, hợp tác, tích cựcgiữa Nhà nước và công dân Do việc bảo hộ xuất phát từ quyền con người,tính chính đáng của Nhà nước, nên mục tiêu của bảo hộ công dân là nhằmphát huy tính tích cực của người dân, cung cấp cho người dân nhữngphương tiện hữu hiệu để có thể chủ động tự bảo vệ quyền của mình Vì vậy,

Ngày đăng: 22/04/2022, 14:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chính phủ (2020), Báo cáo công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo năm 2020 của Chính phủ số 394/BC-CP (ngày 14/10/2020) – Quốc hội khóa XIV. HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác giải quyết khiếu nại, tố cáonăm 2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2020
2. Đại học Quốc gia Hà Nội - Khoa Luật (2010), Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Chính trị quốc gia, HN, tr.104 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận vàpháp luật về quyền con người
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội - Khoa Luật
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
3. Đại học Quốc gia Hà Nội - Khoa Luật, Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, NXB ĐHQG HN,HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hiến phápViệt Nam
Nhà XB: NXB ĐHQG HN
5. Đại học Quốc gia Hà Nội - Khoa Luật. Giới thiệu Công ước quốc tế về các quyền kinh tế - xã hội – văn hóa (ICESCR, 1966), NXB Hồng Đức, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu Công ước quốc tếvề các quyền kinh tế - xã hội – văn hóa (ICESCR, 1966)
Nhà XB: NXB Hồng Đức
9. Trương Thị Thùy Dung (2014), Luận văn “Vai trò của Tư pháp trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam”, Người hướng dẫn: GS.TS. Nguyễn Đăng Dung, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của Tư pháp trongviệc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam”
Tác giả: Trương Thị Thùy Dung
Năm: 2014
10. Vũ Minh Chi (2011), Xây dựng cơ quan chuyên trách về bảo vệ quyền con người nhằm hoàn thiện cơ chế bảo trợ quyền con người ở Việt Nam (trong cuốn “Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người”. Sách Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng cơ quan chuyên trách về bảo vệquyền con người nhằm hoàn thiện cơ chế bảo trợ quyền con người ở ViệtNam "(trong cuốn “"Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người
Tác giả: Vũ Minh Chi
Năm: 2011
6. Kết luận số 14-KL/TW của Ban Bí thư về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài Khác
7. Nghị quyết số 25-NQ/TW của BCH TW Đảng về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới Khác
8. Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w